Với trình độ và vốn chữ Hán có hạn, người viết đến với đề tài này bằng tinh thần học hỏi, mong muốn đóng góp một chút gì nhỏ bé trong quá trình tìm hiểu về Nguyễn Du và thơ chữ Hán của ô
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngọc Ánh
THẾ GIỚI TÂM LINH QUA HÌNH ẢNH
MỘ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngọc Ánh
THẾ GIỚI TÂM LINH QUA HÌNH ẢNH
MỘ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LÊ THU YẾN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012-
Trang 3Mục Lục
Mục Lục 1
1 Lí do chọn đề tài 5
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
2.1 Đối tượng 6
2 2 Phạm vi nghiên cứu 7
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Lịch sử vấn đề 7
4.1 Về văn hóa tâm linh 8
4.2 Về thơ chữ Hán Nguyễn Du 9
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Đóng góp của luận văn 14
7 Kết cấu của luận văn 14
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 15
1.1 Tâm linh và văn hóa tâm linh 15
1.1.1 Tâm linh là gì? 15
1.1.2 Văn hóa tâm linh 22
1.2 Cơ sở hình thành văn hóa tâm linh 24
1.2.1 Từ trong tín ngưỡng dân gian 24
1.2.2 Từ sự tiếp biến tư tưởng Nho- Phật- Đạo 37
1.3 Thơ chữ Hán của Nguyễn Du 42
1.3.1 Thanh Hiên tiền hậu tập ( 1786 – 1804) 42
1.3.2 Nam trung tạp ngâm (1805 – 1812) 48
1.3.3 Bắc hành tạp lục (1813 – 1814) 51
Chương 2 MỘ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU 56
2.1 Mộ và các hình thức mộ 56
2.2 Mộ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du 61
2.2.1 Mộ cụ thể với những con người cụ thể 63
2.2.2 Mộ những kẻ vô danh 75
2.3 Tình cảm và thái độ của Nguyễn Du đối với người đã khuất 78
2.3.1 Đối với người phụ nữ 78
2.3.2 Đối với người hiền, người tài 90
2.3.3 Những kẻ ác, kẻ xấu 102
2.3.4 Đối với những người chết không lưu danh 106
Chương 3 Ý NGHĨA NHÂN SINH QUA HÌNH ẢNH MỘ TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU 109
3.1 Mộ: triết lí về lẽ sống - chết 109
3.2 Mộ: nỗi niềm bi thiết, tiếc nuối 113
3.3 Mộ: hình ảnh của kiếp đời mong manh 119
3.4 Mộ: sự khao khát khám phá thế giới tâm linh 122
KẾT LUẬN 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
Trang 4Sách 131 Tải từ Internet 134 PHỤ LỤC 136
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nguyễn Du, cây đại thụ của nền văn học Việt Nam, đã để lại một vết son chói lọi cho nền văn học dân tộc Nhắc đến ông, hầu như chúng ta chỉ nghĩ đến Truyện Kiều -một thiên tuyệt tác - với những giá trị to lớn của nó Cũng bởi giá trị có một không hai ấy mà ít người để ý đến phần còn lại trong văn nghiệp của ông Thực ra, Truyện Kiều là “diễn âm” nói theo cách của một nhà nghiên cứu, "lỡ tay" mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới đích là “sáng tác”, nên xem nó là phát ngôn chính thức của Nguyễn Du [23, tr 7]
Giáo sư Mai Quốc Liên có lần viết: "Thơ chữ Hán Nguyễn Du là những áng văn
chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa Nó mới lạ
và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa" [ 27, tr 7]
Thơ chữ Hán Nguyễn Du đã thể hiện gần như trọn vẹn tâm tình, suy nghĩ của nhà thơ trong suốt cả một chặng đường dài, trải qua bao biến cố của bản thân cũng như thời cuộc Đó là cuốn nhật ký tâm trạng mà thế hệ hậu sinh qua đó có thể hiểu
cụ thể hơn, sâu sắc hơn về Nguyễn Du, về những gì đã làm nên một nhà thơ lớn, một người nghệ sĩ vĩ đại của mọi thời đại
Tuy nhiên, giá trị của tác phẩm văn học nghệ thuật không chỉ thể hiện quan niệm độc đáo, nghệ thuật tài hoa của tác giả mà còn ở chỗ nó mang một tầm vóc văn hóa, lịch sử và truyền thống văn hóa thời đại Văn học là biểu hiện của văn hóa, cho nên văn học là tấm gương của văn hóa Tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa là một hướng nghiên cứu cần thiết Cách tiếp cận này giúp ta lí giải trọn vẹn hơn tác phẩm nghệ thuật, góp phần lí giải tâm lí sáng tác, thị hiếu độc giả và con đường phát triển nói chung của văn học Trong tác phẩm văn học, chúng ta tìm thấy hình ảnh của văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của nhà văn Bức tranh văn hóa dân gian trong thơ
Hồ Xuân Hương với những câu tục ngữ, câu đố tục giảng thanh, trò chơi dân gian, đậm đà bản sắc dân tộc Vẻ đẹp truyền thống trong truyện ngắn và tùy bút của
Trang 6Nguyễn Tuân, với lọ hoa thủy tiên ngày cuối năm, với nghệ thuật ẩm thực da dạng
và độc đáo Và văn hóa tâm linh với không khí lễ hội, với thế giới của Trời, Phật, thần, thánh, với mồ mả tha ma và những chiêm bao mộng mị bói toán trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du Trong thơ chữ Hán của ông, thế giới này hiện này ra rất
rõ Thanh Lãng nói hơi quá nhưng có cơ sở “Nguyễn Du là thi sĩ của niềm tin dị
biệt, thi sĩ của mồ mả, tha ma, nghĩa địa ” Nguyễn Du quan tâm nhiều đến ngôi
nhà của người đã khuất, phải chăng trong ông cũng lẩn khuất những ý niệm về cái chết, về cõi vĩnh hằng mà bản thân ông luôn khao khát muốn khám phá hiểu biết về
nó
Xét về vấn đề tâm linh, chúng tôi nhận thấy rằng đây là một vấn đề nhạy cảm Tâm linh vốn có một vai trò quan trọng trong đời sống con người, nhưng do sự chi phối của nhiều vấn đề nên nó chưa được nhìn nhận đúng đắn như lúc đầu và đôi khi lại còn phát triển theo khuynh hướng tiêu cực như cuồng tín, mê tín dị đoan Nghiên cứu thế giới tâm linh để thấy rằng tâm linh không phải là cái gì xa xôi ảo tưởng mà
nó là thái độ, cách hành xử của con người với cuộc sống, là tâm thế chủ động hướng
tới sự hoàn thiện vẹn toàn Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài “Thế giới tâm linh
qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” để làm luận văn tốt nghiệp cao
học Văn học Việt Nam của mình Với trình độ và vốn chữ Hán có hạn, người viết đến với đề tài này bằng tinh thần học hỏi, mong muốn đóng góp một chút gì nhỏ bé trong quá trình tìm hiểu về Nguyễn Du và thơ chữ Hán của ông, để hiểu thêm về thế giới tâm linh cũng như tình cảm của ông trước nấm mồ của những người đã khuất
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng
Khi viết về Nguyễn Du, nhiều nhà nghiên cứu đã xem Nguyễn Du như là thi sĩ của mồ mả tha ma nghĩa địa Nguyễn Du là người viết nhiều, viết hay về những người đã khuất Nguyễn Du viết về những nấm mồ cụ thể của những con người cụ thể, về những gò đống bãi hoang, nơi lưu giữ những nắm xương tàn của người những người đã khuất Chính vì vậy, trong phạm vi đề tài, chúng tôi xác định thế
Trang 7giới tâm linh qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán là đối tượng nghiên cứu chính của
đề tài
Khi viết về những người đã khuất, ngoài những ngôi mộ cụ thể mà Nguyễn Du quan tâm, thì những không gian thiêng như đình, đền, miếu, cũng bộc lộ thái độ, tâm sự của ông Cho nên, khi tìm hiểu về những người đã khuất, bên cạnh những nấm mồ chúng tôi cũng khảo sát và tìm hiểu những đình, đền, miếu để có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn về thế giới của những người đã khuất, thế giới tâm linh trong thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng như hiểu thêm về cuộc đời và con người cụ Nguyễn
2 2 Phạm vi nghiên cứu
- Về đề tài : Chúng tôi chỉ tập trung khai thác những vấn đề, những khía cạnh có
liên quan đến vấn đề tâm linh và văn hóa tâm linh, về không gian của người chết và
ý nghĩa nhân sinh thông qua những hình ảnh ấy
Mặt khác, khi khảo sát và lí giải vấn đề này, chúng tôi đã chú ý đến các vấn
đề như hoàn cảnh lịch sử, xã hội, gia đình, đất nước, con người Nguyễn Du (trong chừng mực cho phép) để có thể làm rõ hơn về con người cũng như sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Du
- Về phạm vi tư liệu : Hiện nay, có quá nhiều văn bản thơ chữ Hán của Nguyễn Du
được lưu hành Do đó, để công việc nghiên cứu được tiến hành thuận lợi, tôi xin chọn văn bản thơ chữ Hán được in trong cuốn “Nguyễn Du toàn tập”( tập 1) do Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân, Lê Thu Yến và nhiều tác giả khác biên soạn năm
1996 làm tài liệu nghiên cứu chính Ngoài ra, để có cái nhìn tổng quát hơn, khi cần, luận văn có thể đề cập thêm một số tác phẩm của một số tác giả khác
Trang 8Trong những năm gần đây, các vấn đề về tâm linh, văn hóa tâm linh cũng như mối quan hệ việc tìm hiểu văn học dưới góc nhìn văn hóa đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Như chúng ta đã biết, văn hóa chính là cội nguồn của văn học
và văn học nghệ thuật có nhiệm vụ lớn trong việc sáng tạo những giá trị văn hóa ấy, văn học nghệ thuật giúp cho những giá trị văn hóa ấy đến được với công chúng và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Nói một cách khác, giá trị văn hóa là thước đo giá trị văn học
Xoay quanh đề tài “Thế giới tâm linh qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du”, chúng tôi điểm qua một số bài báo và các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề tâm linh và thơ chữ Hán Nguyễn Du
4.1 Về văn hóa tâm linh
“Cơ sở văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm đã nêu nhiều vấn đề về văn hóa tạo nền tảng cho thế giới tâm linh hình thành và phát triển Một trong những nét tiêu biểu đó là nước ta là một nước nông nghiệp lúa nước nên người Việt coi trọng lối sống tình nghĩa Hàng xóm cố định lâu dài với nhau tạo ra một cuộc sống hòa thuận trên cơ sở lấy tình nghĩa làm đầu Con người không chỉ có tình cảm với nhau khi còn sống, mà khi đã qua đời họ vẫn dành những tình cảm tốt đẹp cho nhau Chết chỉ là tiếp theo sự luân hồi chứ chết không phải là hết Cho nên giữa người sống và người chết vẫn gắn bó với nhau qua thế giới tâm linh ấy
Công trình nghiên cứu “Văn hóa tâm linh” của Nguyễn Đăng Duy xuất bản năm 2005 đã đề xuất khái niệm tâm linh, văn hóa tâm linh khá đầy đủ Tác giả cũng điểm qua tâm linh trong mọi mặt của đời sống cá nhân, gia đình, tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan
Tâm linh cũng được Sơn Nam đề cập trong bài “Nói thêm về tâm linh trong
liên hệ với văn hóa Việt”.Trong bài viết này Sơn Nam đã cho rằng: “Tâm linh tồn tại trong mọi mặt đời sống từ xưa cho tới nay, từ trong truyền thuyết, các bài văn tế, các tác phẩm văn học, trong việc thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn cho tới những ca
Trang 9khúc về tổ quốc và cả những hành động, mọi việc làm, nghĩa cử cao đẹp của con người bình thường trong cuộc sống” [29, tr 62]
Gần với quan niệm tâm linh của hai tác giả trên, có thể nói đến công trình
“Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ” của Nguyễn Hữu Hiếu Tác giả chú ý đến văn hóa tâm linh ở khía cạnh đời thường của người Việt Nam Bộ không theo tôn giáo Tác giả tập trung bàn về văn hoá tâm linh của người Việt ở Nam Bộ qua tín ngưỡng
thờ Mẫu và các lễ hội cổ truyền từ ảnh hưởng văn hoá Chăm “Trong cuộc sống tâm
linh đời thường niềm tin thiêng liêng phong phú, đa dạng hơn nhiều và đối tượng
mà họ đặt niềm tin có khi gần gũi và thân thiết hơn” [18, tr 9]
Nhà dân tộc học Trương Thìn, trong cuốn “tôn trọng tự do tín ngưỡng và bài trừ
mê tín dị đoan” đã giúp chúng ta xác định giá trị đích thực của văn hóa tâm linh, thế giới tâm linh, biểu hiện của đời sống tinh thần phong phú Đồng thời tác giả cho chúng ta thấy sự phức tạp, ranh giới rất ngắn giữa thế giới tâm linh, tín ngưỡng với
sự lợi dụng tâm linh, tín ngưỡng để phát triển mê tín dị đoan
4.2 Về thơ chữ Hán Nguyễn Du
Sáng tác của Nguyễn Du nói chung và thơ chữ Hán nói riêng không thật đồ sộ
về khối lượng, tuy nhiên số lượng những công trình nghiên cứu, những lời bình
luận, đánh giá về nó thì rất lớn, với nhiều cách tiếp cận khác nhau
Đánh giá chung về thơ chữ Hán Nguyễn Du, Mai Quốc Liên trong “Lời mở đầu”
cuốn sách Nguyễn Du toàn tập đã nhận định: “ Trong đó Nguyễn Du bộc lộ cái tôi
trữ tình của mình, chất trữ tình ở đây hoà quyện với chất triết học, cho nên phần lớn thơ ở đây có thể gọi là thơ trữ tình triết học” [22, tr 8] Chất trữ tình ấy được tạo
nên phần lớn bởi những tâm sự của Nguyễn Du Mai Quốc Liên cũng đánh giá rất
cao tập thơ Bắc hành tạp lục Ông xem đây là một “Thái Sơn” nữa trong sáng tác
của Nguyễn Du [24, tr9]
Vấn đề về Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán còn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Xuân Diệu với bài “Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán” (chủ
Trang 10yếu nhìn nhận qua Thanh Hiên thi tập) cho rằng: “Tập thơ chữ Hán đựng đầy cái
uất ức của Tố Như” [14, tr 50]
Khía cạnh nghệ thuật trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du cũng được khá nhiều
người quan tâm Nguyễn Huệ Chi với bài viết “Thế giới nhân vật trong thơ chữ Hán
Nguyễn Du” đã nêu lên tương đối đầy đủ những kiểu nhân vật xuất hiện trong thơ
của Tố Như: hình ảnh tự họa của tác giả, những con người có số phận không may
và các nhân vật lịch sử
Khác với những nhà nghiên cứu khác, tác giả Nguyễn Hữu Sơn lại nhìn nhận thơ
chữ Hán Nguyễn Du ở một góc độ khá thú vị: “Thơ chữ Hán Nguyễn Du - từ cõi hư
vô nhìn lại kiếp người” Đặc biệt Nguyễn Hữu Sơn đã đánh giá cao tập thơ Bắc hành tạp lục: “Tập thơ với số lượng lớn, đề tài phong phú, có ý nghĩa kết tinh các giá trị nội dung nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du” [33]
Khi nói về thơ chữ Hán của Nguyễn Du thì không thể không nhắc đến công trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ XIX của nhà nghiên cứu
Nguyễn Lộc Trong công trình này, Nguyễn Lộc đã dày công trình bày nhiều vấn đề
về đại thi hào như: “Gia thế và cuộc đời Nguyễn Du”; “Thơ chữ Hán Nguyễn Du và
tâm sự nhà thơ”; “Truyện Kiều, tập đại thành của văn học cổ Việt Nam”; “Văn chiêu hồn, một bản tổng kết”… Đối với phần “Thơ chữ Hán Nguyễn Du và tâm sự nhà thơ”, Nguyễn Lộc đã có một cái nhìn và những nhận định tương đối bao quát về
những vấn đề của thơ chữ hán của Nguyễn Du nói chung và Bắc hành tạp lục nói
riêng
Liên quan đến thế giới tâm linh qua hình ảnh mộ, chúng tôi nhận thấy có những bài viết sau:
Hoài Thanh với bài viết “Tâm tình Nguyễn Du qua một số bài thơ chữ Hán”
đăng trên tạp chí Văn nghệ tháng 3 năm 1968 Trong bài viết này Hoài Thanh có đề cập đến tấm lòng Nguyễn Du khi qua mộ Đỗ Phủ Nguyễn Du đã ứa nước mắt khóc cho nhà thi hào Trung Quốc [14, tr37]
Xuân Diệu với một loạt bài viết về nhà thơ thiên tài Nguyễn Du, trong đó có bài viết về Nguyễn Du qua thơ chữ Hán là “Con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán”
Trang 11Trong bài viết này Xuân Diệu điểm qua lộ trình đi sứ của Nguyễn Du, tác giả có
nhắc đến việc Nguyễn Du “Qua sông Hoài, cảm nhớ Hàn Tín, cảm nhớ Văn Thiên
Tường; viếng mộ Đỗ Phủ ở đời Đường; thăm mộ Âu Dương Tu, người trung trực, một trong tám nhà văn nổi tiếng đời Đường, Tống; thăm mộ Nhạc Phi; thăm mộ Chu Du, thăm mộ Tỷ Can, thăm mộ Phạm Tăng, mưu sĩ của Hạng Võ…” [14, tr51]
Mai Quốc Liên với “Thơ chữ Hán của Nguyễn Du” cũng có đề cập đến những
đình đài, miếu mộ “Trên nẻo đường ông qua, qua những ngôi mộ cổ, những phế
tích của đền đài, lầu các… dần dần hiện ra con đường của lịch sủ văn hóa Trung Hoa, và tất cả như nói với hậu thế những bài học thấm thía về quyền lực.” [14,
tr125]
Bài viết của Nguyễn Huệ Chi “Nguyễn Du và thế giới nhân vật của ông trong
thơ chữ Hán” cho chúng ta thấy Nguyễn Du không chỉ gắn bó với con người, với
cuộc sống, và nhìn sâu vào lịch sử mà Ngyễn Du còn đặc biệt xót thương cho những người có tài và có tình
Cùng viết về tâm linh trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du với những hình ảnh
đình, đài, miếu, mộ, Thanh Lãng” đã viết “Nguyễn Du thi sĩ của niềm tin dị biệt, thi
sĩ của mồ mả, tha ma, nghĩa địa…[59, tr 30]
Công trình nghiên cứu “Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du” (Lê Thu Yến, NXB Thanh niên, 1997 ) khi viết về không gian nghệ thuật tác giả có đề cập đến không gian nhỏ hẹp được biểu hiện qua một loại không gian có mái che đó
là không gian của mồ mả, đình đền , gò đống
Lê Thu Yến đưa ra cái nhìn bao quát, hệ thống những yếu tố tâm linh trong thơ Nguyễn Du với bài “Thế giới tâm linh trong sáng tác Nguyễn Du - một biểu hiện của văn hoá Việt” Bằng những con số thống kê cụ thể, chính xác những biểu hiện truyền thống văn hoá tinh thần dân tộc, tác giả đã khẳng định một giá trị văn hoá truyền thống trong sáng tác của nhà thơ lớn Nguyễn Du đó là thế giới tâm linh:
“Thế giới này biểu hiện rõ rệt trong sáng tác Nguyễn Du làm cho người đọc không thể không nhận ra Một Văn Chiêu Hồn thấm đẫm màu sắc của thế giới bên kia,
Trang 12một Truyện Kiều bàng bạc không gian của cõi âm và nhất là thơ chữ Hán nhan nhản bày ra những đình, đền, miếu, mộ ” [59, tr.29] “Cho nên những đình đền, gò đống, mồ mả thường phát ra tín hiệu lo âu về cuộc sống nhân sinh và Nguyễn Du là người luôn luôn nhanh nhạy nắm bắt tín hiệu đó và phát sóng đi, lan truyền tới mọi người.” [59, tr.31]
Thơ chữ Hán của Nguyễn Du được nghiên cứu sâu sắc trên nhiều bình diện
vì thơ chữ Hán của ông vô cùng phong phú Tuy nhiên, như nhiều thơ chữ Hán khác, thơ chữ Hán của Nguyễn Du là đối tượng luôn ẩn chứa nhiều điều mới mẻ, vì vậy khó có những công trình nghiên cứu thật trọn vẹn Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Nguyễn Du nêu trên đa phần đều chú trọng vào việc đánh giá chung
về tài năng, nhân cách cũng như tâm sự của Nguyễn Du (đặc biệt là thông qua Truyện Kiều và thơ chữ Hán) Về cơ bản, các nhà nghiên cứu đã có những nhận
xét khá sắc bén về tài nghệ, tâm sự của Nguyễn Du
Có thể tôi sưu tầm chưa đầy đủ về các công trình nghiên cứu Nhưng qua các công trình tìm được, tôi nhận thấy chưa có công trình cụ thể, chi tiết nào nghiên cứu
về thế giới tâm linh qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du Trong xu thế chung nhiều nhà nghiên cứu đang quay về tìm hiểu nghiên cứu những giá trị truyền thống quý báu của dân tộc trong đó tâm linh là khía cạnh đang được chú ý, quan tâm
Nghiên cứu thế giới tâm linh qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du để nhận thức và xử lý đúng đắn và hiệu quả, góp phần làm rõ thêm những đóng góp văn hóa dân tộc trong quá trình hội nhập hiện nay là một nhiệm vụ
có ý nghĩa vừa cơ bản, vừa cấp bách cả về lý luận và thực tiễn Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Thế giới tâm linh qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Triển khai đề tài “Thế giới tâm linh qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du”, chúng tôi vận dụng những phương pháp chủ yếu sau :
- Phương pháp thống kê phân loại : Là phương pháp chính nhằm khảo sát, thống kê những bài thơ, câu thơ có không gian mộ - ngôi nhà của người đã khuất Qua đó thấy được tâm tư, tình cảm, thái độ của Nguyễn Du với những người nằm dưới mộ
- Phương pháp phân tích: Từ kết quả thống kê, người viết sẽ đi tìm hiểu, phân tích từng bài, nhóm bài cụ thể để tìm hiểu sâu hơn giá trị của chúng
- Phương pháp tổng hợp: Sau khi phân tích, người viết sẽ đi đến những kết luận về nhân sinh quan của Nguyễn Du khi đứng trước những nấm mộ
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống : Xem xét các yếu tố tạo nên cấu trúc tác phẩm Đặt thế giới tâm linh trong thơ chữ Hán trong hệ thống hế giới tâm linh trong Truyện Kiều và Văn Chiêu hồn để hiểu thêm về văn hóa tâm linh cũng như con người Nguyễn Du
- Các phương pháp nghiên cứu tiểu sử, xã hội học và tâm phân học cũng được người viết vận dụng để lí giải mối quan hệ giữa tác phẩm và tác giả, cuộc sống, xã hội, những ảnh hưởng của xã hội, thời đại vào sáng tác của nhà văn
- Phương pháp so sánh – đối chiếu : Là phương pháp nhằm làm nổi bật nét tương đồng cũng như sự khác biệt của thế giới tâm linh trong thơ chữ Hán so với truyện Kiều và văn Chiêu hồn của Nguyễn Du, và so với các tác giả khác viết về cùng đề tài
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học và văn hóa để có cơ sở đánh giá khách quan tác dụng của văn học trong việc phản ánh văn hóa dân tộc
Những phương pháp này sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình nghiên cứu
Trang 146 Đóng góp của luận văn
Luận văn đi tìm hiểu về thế giới tâm linh qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du, người viết mong muốn đem lại những đóng góp sau:
Luận văn làm rõ vấn đề thế giới tâm linh qua hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán Nguyễn Du Từ đó giúp người đọc hiểu thêm về thái độ tình cảm của Nguyễn Du đối với người đã khuất
Trên cơ sở ấy, luận văn rút ra những ý nghĩa nhân sinh sâu sắc để có thể hiểu thêm
về thế giới tâm hồn của Nguyễn Du
Luận văn mong muốn góp thêm một tư liệu khi tìm hiểu về thế giới tâm linh trong thơ Nguyễn Du, góp thêm tư liệu khi giảng dạy thơ chữ Hán Nguyễn Du trong nhà trường phổ thông
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, phần kết luận, thư mục tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chương với các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Chương 1: Chương này dành để giới thiệu những vấn đề chung về tâm linh và văn
hóa tâm linh trong đời sống người Việt Giới thiệu những vấn đề cơ bản về thơ chữ Hán của Nguyễn Du nhằm chuẩn bị cơ sở vững chắc cho chương 2
Chương 2 : Chương này triển khai khảo sát thống kê phân tích nhằm tìm hiểu về
“Hình ảnh mộ trong thơ chữ Hán” của Nguyễn Du, cũng như đi sâu vào phân tích tìm hiểu thái độ của ông dành cho những người nằm dưới mộ
Chương 3: Từ những kết quả bước đầu đã đạt được ở chương hai, trong chương 3
người viết sẽ tìm hiểu những ý nghĩa nhân sinh thông qua hình ảnh mộ
Trang 15“linh” trong thần linh (khí tinh anh của khí dương gọi là thần, khí tinh anh của khí
âm gọi là linh, ý nói vật gì được khí tinh anh đúc lại hơn cả trong các con vật cùng loài với nó vậy Như người là giống linh hơn cả muôn vật.) [8, tr 744] Bói toán ứng nghiệm, thuốc thang ứng nghiệm cũng gọi là “linh”, lanh lẹ, linh hoạt không ngu ngốc, xuẩn trệ cũng gọi là “ linh”
Trong sách Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển viết “Trong đời sống
con người, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm linh Về mặt cá nhân đã như vậy, mà mặt cộng đồng (gia đình, làng xã, dân tộc ) cũng như vậy Nếu mặt hiện hữu của đời sống con người có thể nhận thức qua những tiêu chuẩn cụ thể sờ mó được, có thể đánh giá qua những cụ thể nhất định, thì về mặt tâm linh bao giờ cũng gắn với cái gì đó rất trừu tượng, rất mông lung, nhưng lại không thể thiếu được ở con người Con người sở dĩ trở thành con người một phần căn bản là do nó có đời sống tâm linh Nghĩa là tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng, cái bí ẩn, những giá trị tạo thành đời sống tâm linh của nó.” [27, tr 36]
Những giá trị tâm linh ấy hết sức bền vững và có thể nói nó là hằng số của văn hóa gia đình Không có một sự thay đổi nào về trạng thái xã hội về giá trị cấu trúc và giá trị chức năng của gia đình có thể làm cho những giá trị tâm linh ấy mất
đi Giá trị văn hóa tâm linh của văn hóa gia đình vẫn tồn tại vĩnh cửu chừng nào con người còn tồn tại
Hoàng Phê cho rằng tâm linh là “tâm hồn, tinh thần” hoặc là “khả năng biết
trước một biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm” [31,
tr.897]
Trang 16Nguyễn Hữu Hiếu cho rằng “tâm linh là niềm tin thiêng liêng cao cả trong
cuộc sống con người, nó cũng là niềm tin tôn giáo Cái niềm tin thiêng liêng đó được thể hiện qua ý niệm và biểu tượng” [18, tr.8]
Nguyễn Đăng Duy trong Văn hóa tâm linh ( NXB Văn hóa thông tin) đã có
định nghĩa khá chuẩn về tâm linh “Tâm linh là cái linh thiêng cao cả trong cuộc
sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được ngưng đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [14, tr11]
Từ khái niệm của Nguyễn Đăng Duy, chúng ta nhận thấy tâm linh trước hết phải gắn với ý thức con người Nhưng ý thức nói chung của con người hết sức rộng lớn, nên chỉ khi nào con người có ý thức về cái thiêng liêng, cái cao cả thì mới gọi
đó là ý thức tâm linh Không như các dạng ý thức khác, ý thức tâm linh tựa như mạch suối ngầm nuôi dưỡng tâm hồn con người, làm thăng hoa đời sống tâm linh con người
Tâm linh là một hình thái ý thức, tâm linh gắn liền với ý thức của con người, không có ý thức con người không có tâm linh Một người mất trí không còn khả năng suy nghĩ, thì trong đầu con người ấy chẳng có cái gì, cũng chẳng có tâm linh Tâm linh là phần linh thiêng trong ý thức con người Ý thức về tâm linh là ý thức hướng về phần linh thiêng cao cả
Ý thức tâm linh không chỉ tồn tại ở dạng ý niệm (con người phải hành động thì sự thiêng liêng mới được bộc lộ rõ) mà còn được biểu hiện ra ở những hình ảnh, biểu tượng phát ra tín hiệu thiêng liêng Cây đa, giếng nước, mái đình… là tiếng nói chung để biểu thị ước lệ tín hiệu về làng quê Việt Nam Mồ mả, bát hương là tiếng nói chung về tín hiệu thờ cúng tổ tiên… Mọi biểu tượng thiêng liêng đều chứa đựng những giá trị cao cả, giá trị thẩm mĩ nó tác động vào tâm hồn con người bằng những hoạt động cụ thể, cho nên nó có sức truyền cảm, tập hợp lớn
Bàn về tâm linh, ta không thể không bàn đến niềm tin Niềm tin là sự tín nhiệm, khâm phục ở một con người, một sự việc, một học thuyết, một tôn giáo được thể hiện ra bằng hành động theo một lẽ sống Niềm tin là hạt nhân quyết định trong việc xác lập các mối quan hệ xã hội Theo Nguyễn Đăng Duy, niềm tin được thể
Trang 17hiện ở nhiều cấp độ khác nhau “niềm tin trao đổi, niềm tin đầy đủ giữa cả hai đối tượng”, “niềm tin lý tưởng, không có sự trao đổi ngang bằng, “niềm tin tâm thức” là niềm tin thiêng liêng, hòa quyện cả tình cảm và lý trí, dẫn đến sự tự nguyện hành động theo niềm tin ấy Niềm tin tâm thức gắn liền với tâm linh Niềm tin thiêng liêng do vậy được xem là yếu tố then chốt tạo nên đời sống tâm linh, văn hóa tâm linh đúng nghĩa Một xã hội văn minh, phát triển thì niềm tin thiêng liêng càng có giá trị bền vững…
Tâm linh có trong mọi mặt đời sống của con người “Đời sống tâm linh
chẳng phải ở đâu xa lạ mà ở ngay trong niềm tin thiêng liêng của mỗi con người.”[14, tr32] Có nghĩa là không phải đời sống tâm linh lúc nào cũng dễ dàng
bộc lộ mà chỉ xuất hiện khi hoàn cảnh thiêng, thời gian thiêng xuất hiện Trong đời sống cá nhân, nếu một người không theo tôn giáo thì không phải lúc nào cũng thường trực đời sống tâm linh
Trong đời sống gia đình, ngày xưa dân ta có câu “sống về mồ về mả, ai sống
về cả bát cơm”, có nghĩa là cái cần cho sự tồn tại cuộc sống con người không phải chỉ có bát cơm mà còn có cả phần thiêng liêng nữa, đó là mồ mả, bát hương thờ cúng ông bà tổ tiên Người chết có mồ yên thì người sống mới thanh thản, kết phát Quan niệm có phần duy tâm ấy chính là một triết lí sống đậm chất tâm linh của người Việt Mồ mả, bát hương là những biểu tượng thiêng liêng, có sức mạnh tập hợp to lớn trong mỗi gia đình xưa và nay “Sống ở nhà, già ở mồ” ý nói nhà ở lúc sống, mồ mả lúc chết là những chuyện quan trọng Có thể thấy rằng, trong gia đình thì bàn thờ tổ tiên là nơi thiêng liêng liêng nhất, nơi đó chứa đựng tất cả những tình cảm của con cháu đối với ông bà, với nguồn cội Những giá trị tâm linh là hết sức bền vững, là hằng số của văn hóa gia đình
Con người không chỉ sống trong gia đình mà còn có những mối quan hệ gắn
bó mật thiết với cộng đồng, với làng xã Tâm linh trong đời sống cộng đồng được biểu hiện qua các thần tượng thiêng liêng về các anh hùng có công dựng nước, giữ nước đang được tôn thờ trong những không gian thiêng liêng, những ngôi đình, đền
“Những biểu tượng, những mối quan hệ cộng đồng thiêng liêng ấy là cơ sở , là động lực, là niềm tin để dân ta trụ vững, phát triển cho đến ngày nay” [14, tr 36]
Trang 18Để hiểu rõ hơn về tâm linh, ta xét nó trong mối tương quan với các khái niệm khác: Tâm linh với tôn giáo và tâm linh với mê tín dị đoan
Tâm linh với– tôn giáo: Theo quan niệm truyền thống, tâm linh là một phần
không thể thiếu của tôn giáo và quá trình trải nghiệm tôn giáo Bởi lẽ, để đến với tâm linh, con người phải đi theo một con đường cụ thể và thực hành những lễ thức dưới sự dẫn dắt của một hệ thống kinh điển, tư tưởng, quan điểm cụ thể, những yếu
tố hình thành nên tôn giáo Và một hiện thực là khi nghĩ về vấn đề tâm linh, con người thường nghĩ đến một tôn giáo cụ thể nào đó Đó là điều hợp lí, tuy nhiên nó
sẽ có hệ quả xấu nếu đánh đồng tôn giáo với tâm linh
Sự đánh đồng (nếu có) này sẽ bó hẹp phạm vi nghĩa của thuật ngữ “tâm linh” Dù rằng tâm linh và tôn giáo đều hướng đến cái linh thiêng cụ thể là một đấng tối cao hay thượng đế nhưng tâm linh là toàn bộ tâm thế của con người hướng về sự tối thượng, xuất hiện một cách tự nhiên trong tinh thần của con người Trong khi đó, tôn giáo là phần được vật chất hóa của tâm linh được thể hiện ra ngoài cuộc sống bao gồm hệ thống giáo lý, kinh điển được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đường, học viện có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như nhà thờ, chùa, thánh đường , nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người Nói cách khác, tôn giáo chỉ là một trong những biểu hiện của tâm linh vậy
Nhà văn hóa sử William Irwin Thompson đã phát biểu: “Tôn giáo không
đồng nhất với tâm linh, nói đúng hơn, tôn giáo chỉ là phần tâm linh được hình thái hóa trong nền văn minh mà thôi” [8] Tôn giáo là hữu hạn còn tâm linh là vô hạn
Tâm linh với mê tín dị đoan: Trong từ điển tôn giáo Mai Thanh Hải đã viết :
Mê tín là tin nhảm, tin xằng bậy, không thấy, không hiểu mà nhắm mắt tin theo mù quáng, tin theo một cách mê muội, viễn vông, quàng xiên cả những việc, những hiện tượng trái lẽ tự nhiên, không có sự suy xét theo lẽ phải thông thường; dị đoan là suy luận, suy đoán một cách nhảm nhí, bậy bạ khác thường, rồi hành động bừa bãi, không lường trước được những hậu quả xấu về sức khỏe, tài sản, thời gian,
Trang 19có khi cả tính mạng của mình…nói chung là những ý thức, hành vi mê muội, tin và dựa vào những biểu tượng trái lẽ tự nhiên, có những hành vi lễ bái, ứng xử mang tính chất cuồng tín, nhảm nhí trái với lẽ phải và hành vi thông thường của những người chung quanh, làm hại đến đời sống vật chất và tinh thần của mọi người [17,
tr107] Rất nhiều việc làm phản khoa học, chỉ là những tin đồn thất thiệt vậy mà có rất nhiều người đã tin theo dẫn đến tiền mất tật mang, thậm chí mất mạng
Có thể khẳng định rằng: tâm linh không phải là mê tín dị đoan Mê tín dị đoan tồn tại là do trình độ văn hóa khoa học còn yếu kém, con người không đủ trình
độ phân tích, lí giải đúng sai, nhảm nhí Hoặc lợi dụng tình trạng quẫn bách, mụ mẫm của con người không được kịp thời giải tỏa Hoặc trong những giây phút thăng hoa ngày hội, giây phút say sưa trào dâng thần thánh cũng dễ khiến con người mất tỉnh táo, tin vào sự nhảm nhí Một sự tin tưởng mù quáng không hề có cơ sở khách quan
Phân biệt giữa tâm linh và mê tín dị đoan ta thấy: tâm linh là niềm tin thiêng liêng có ở trong nhiều mặt của đời sống tinh thần của con người Họ tin vào tổ tiên, tin vào thần thánh, Phật, Chúa… có thể giải thoát về cái chết cho mình đó là tâm linh Hoặc những người không theo tôn giáo nào nhưng mà vẫn đi chùa, vẫn lễ Phật,
ăn chay… vẫn tin vào những điều thiêng liêng của Phật, thần thánh Niềm tin vào cái thiêng đã đánh thức trong tâm hồn con người ý chí, bản ngã để sống và làm việc,
xử sự tốt hơn, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của cha ông ta Còn mê tín dị đoan là dựa vào Trời, Phật, Thánh thần để kiếm chác, thương mại hóa niềm tin, hoặc đặt ra những điều kì quái khác thường để làm cho người khác tin theo một cách mê muội, hành động theo sự tin ấy không những hao tốn về tiền bạc mà còn có khi thiệt hại cho tính mạng của mình
Ranh giới giữa tâm linh và mê tín dị đoan vô cùng nhỏ hẹp Thật khó để phân biệt chính xác đâu là tâm linh đâu là mê tín dị đoan Điển hình như hiện tượng nói chuyện với người âm của các nhà ngoại cảm, trước đây cho là mê tín phù phiếm thì nay đã được khoa học thừa nhận “khả năng ngoại cảm” và bước đầu được nhà
Trang 20nước quan tâm đặc biệt Vì thế, có những trường hợp không thể qui hoàn toàn tâm linh là mê tín dị đoan, chẳng qua đấy chỉ là những vấn đề mà khoa học không hoặc chưa có cách nào chứng minh đúng hay sai mà thôi Vì vậy tâm linh luôn là một điều bí ẩn, thú vị Chúng ta cần đủ tỉnh táo và bản lĩnh để phân biệt rạch ròi giữa tâm linh và mê tín dị đoan
Tâm linh là một biểu hiện của đời sống tinh thần của con người với tất cả sự phong phú và phức tạp của nó Do đó không nên đơn giản hóa cho rằng tâm linh là
mê tín dị đoan, cũng không nên thần bí, tuyệt đối hóa khái niệm tâm linh, gán cho
nó những đặc tính cao siêu phi thường coi đó là cứu cánh của nhân loại Vì trong cuộc sống trần thế này, không chỉ có Thượng đế, có Chúa, Trời, Thần, Phật mới thiêng liêng mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật, công lý cũng thiêng liêng không kém
Tâm linh có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người Vào thời điểm con người còn bỡ ngỡ đặt chân lên nấc thang phát triển trên cùng và bắt đầu trở thành những sinh vật hữu thức trong vũ trụ thì một trong những ý thức đầu tiên của con người thu nhận là sự vĩ đại và hung hiểm của thiên nhiên đối lập với sự nhỏ bé,
lẻ loi và yếu đuối của bản thân mình Ý thức này đã gieo vào lòng con người một nỗi lo lắng, hoang mang sâu sắc Bên cạnh đó, còn nảy sinh trong họ những câu hỏi
ám ảnh như “ta là ai?”, “ta từ đâu tới?”, “mục đích tồn tại của ta là gì?” và nhiều bí
ẩn từ thế giới thiên nhiên rộng lớn khác mà con người cần phải khám phá Với những vấn đề đó, ngoài việc tự thân vận động để có thể sống sót trong cuộc đấu tranh sinh tồn khắc nghiệt, con người cũng cần phải có một điểm tựa tinh thần – một đấng tối cao- để giải tỏa phần nào nỗi lo lắng, hoang mang trên và kiếm tìm lời giải đáp cho những băn khoăn trong họ Từ đó hình thành nên định nghĩa tâm linh
Nó giúp mỗi cá nhân phát hiện ra điều cốt lõi của chính bản thân mình, tức là những giá trị sâu thẳm nhất và ý nghĩa nhất mà con người sống dựa vào Hay nói cách khác, chính là cách con người nắm bắt, hiểu rõ hơn về cái tôi và vị trí của bản thân
Trang 21trong vũ trụ Đây cũng là nguyên nhân sâu xa cho những hình thái triết học, tín ngưỡng tôn giáo ban đầu
Trong suốt quá trình tồn tại, con người lại nảy sinh nhu cầu tìm kiếm bản sắc riêng cho cộng đồng bộ tộc, tạo cơ sở phân biệt những nhóm, tộc người khác Và tâm linh đã góp phần đáp ứng nhu cầu trên với những hình thức sơ khai thể hiện qua
hệ thống thần phả trong thần thoại, sự tích về nguồn gốc tổ tiên, những tập tục, lề thói mang đặc trưng cho mỗi nhóm người, từ đó, hình thành nên cái tôi và xác định
vị thế của thị tộc, cộng đồng giữa nhân loại
Như vậy, từ thuở sơ nguyên, con người đã có cái tâm hướng thiện và tâm linh đã bắt đầu đồng thời với sự xuất hiện của con người Lịch sử của nó cũng ngang bằng với lịch sử văn minh Nó có tác dụng mang lại cho con người sự hòa dịu, an ổn trong tinh thần, đồng thời xác định vị thế của con người trong vũ trụ và ngay giữa lòng nhân loại Chẳng những vậy, nó còn đáp ứng cho khát vọng khám phá, tìm hiểu vũ trụ - tự nhiên và bản thể
Nói như vậy có nghĩa là tâm linh là một yếu tố không thể thiếu, đã hình thành nên một cá tính của con người, khiến cho họ khác biệt với những tạo vật khác trong vũ trụ Ngay cả, Karl Marx – nhà triết học sáng lập ra trường phái triết học
chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng thừa nhận một trong những thiên tính của con người là hướng về một thế giới trên cao thiêng liêng và bí ẩn Từ đó, ông đã đưa ra định nghĩa “tình cảm tôn giáo” và xem đó là một nét đặc trưng của con người Ông nói: “Nếu trong trái tim con người có một tình cảm xa lạ với tất cả số còn lại của các loài động vật, một tình cảm cứ tái sinh lại mãi, dù cho vị trì con người ở đâu, phải chăng tình cảm đó là một quy luật cơ bản của bản chất con người? Theo chúng tôi đó là tình cảm tôn giáo [61]
Tóm lại, tâm linh có thể giúp con người tiếp cận với thế giới vĩnh cửu thiêng liêng, đối thoại với những thế lực siêu nhiên, vô hình Dựa vào những đặc điểm của tâm linh, con người có thể hoàn thiện bản thân, thấy được mục đích của sự tồn tại
Trang 22của bản thân mình trong cuộc sống cũng như trong mối quan hệ với cộng đồng Hướng về thế giới tâm linh không chỉ là một nhu cầu, nhu cầu được che chở và an
ủi mà còn là một cách giúp con người sống hướng thiện, sống tốt đẹp hơn Nó không chỉ thể hiện ý chí khám phá, tìm hiểu bản thân, lí giải những bí ẩn thâm sâu của vũ trụ mà cao hơn nữa là thể hiện ước vọng được hòa hợp cùng thiên nhiên, vũ trụ, cộng đồng và sự khát khao của con người muốn đạt tới chân lí và sự hoàn mĩ
1.1.2 Văn hóa tâm linh
Văn hóa tâm linh là thuật ngữ được hiện diện trên văn đàn vào khoảng mười lăm năm gần đây, nhất là sau khi một số nhà nhân học, tâm lí học, khoa học xã hội quốc tế thừa nhận yếu tố tâm linh, một trong bốn thuộc tính của con người (con người xã hội, con người sinh học, con người tâm lí, con người tâm linh) Tâm linh
có hai nghĩa: một là khả năng đoán biết một biến cố sẽ xảy ra, hai là tinh - khí - thần của người Từ đó trở đi, một câu hỏi tưởng chừng như ẩn số “Con người là một bí ẩn” mà nhiều nhà tư tưởng lớn đặt ra ở thế kỷ XIX, được triết học văn hóa giải mã khi nghiên cứu con người: cái tự nhiên và cái phi tự nhiên, lý trí và tình cảm, trí tuệ
và bản năng, lý tưởng và tính dục, cái thiêng và cái tục, nhân vị và siêu nhân v.v… Như vậy, khi ghép tâm linh vào văn hóa, thì khái niệm văn hóa tâm linh là hình thái văn hóa của một tộc người gồm: tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian (folklore)
và một phần của sáng tạo khoa học, nghệ thuật như sự thăng hoa, phút xuất thần,
“tia chớp” cảm hứng sáng tạo, trí tuệ phát sáng của nhà khoa học và nghệ sĩ.[58]
Tâm linh là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống con người, gắn với văn hóa tâm linh có những biểu hiện cụ thể, đẹp và thiêng liêng Chẳng hạn như người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến lại trở về sum họp dưới mái ấm gia đình Nhiều người muốn được khấn vái trước bàn thờ, thăm lại ngôi mộ hay nhà thờ
tổ tiên Nhiều người cũng muốn thăm lại nơi họ đã từng sinh sống với gia đình trong thời niên thiếu Đối với những người xuất thân từ nông thôn, kỷ niệm thời niên thiếu có thể gắn liền với giếng nước, mảnh sân nhà “Về quê ăn Tết" đã trở thành thành ngữ chỉ cuộc hành hương về nơi cội nguồn Cũng có khi do điều kiện, hoàn cảnh con người không được về nơi chôn nhau cắt rốn, về với gia đình trong
Trang 23ngày thiêng liêng nhất, họ vẫn một lòng hướng về cội nguồn bằng cách lập bàn thờ
“vọng” kính cẩn dâng lên nén hương để tưởng niệm, khấn vái, cầu nguyện, tâm tình, chia sẻ với ông bà cha mẹ, những người thân yêu của mình đã qua đời Hoặc chẳng biết từ bao giờ, người dân Việt Nam chúng ta xem chuyện thắp hương trên bàn thờ tổ tiên là một nét đẹp văn hóa truyền thống không thể thiếu trong các dịp giỗ chạp, lễ Tết Nén hương như một chiếc cầu nối thiêng liêng giữa cuộc sống hiện hữu của con người với cõi tâm linh của trời đất Có thể nói, việc thắp hương có mặt
và giữ một vị trí quan trọng quan trọng trong cuộc sống của người Việt Nam nói riêng và của người châu Á nói chung Ngày cuối năm đi mua sắm các thứ chuẩn bị cho Tết, không ai không mua vài nén hương về thắp cho ông bà, tổ tiên mình Trong tâm thức, mỗi người Việt Nam chúng ta đều tin rằng ở thế giới bên kia, trong một không gian vô định, có những con người vô hình đang hướng về chúng ta, đang ở bên chúng ta hàng ngày Và khi ta thắp nén hương lên là ta có thể tâm sự với họ, sưởi ấm cả thế giới này và cả thế giới vô hình kia nữa Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta, dù thành thị hay nông thôn, mỗi khi Tết đến, xuân về những nén hương được thắp lên tạo sự ấm cúng trong gia đình, đồng thời bày tỏ lòng thành kính với ông bà, tổ tiên Một nén hương thắp lên cầu mong hạnh phúc cho mọi người trong gia đình, cầu xin bình an trong năm mới Nén hương lúc này không còn là thứ hàng hóa rẻ tiền nữa mà nó đã trở thành một sản phẩm tinh thần không thể thiếu của người dân Việt Cùng với những phong tục truyền thống khác, nén hương đã góp phần tạo nên và bảo tồn giá trị bản sắc văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam
Như vậy, có thể khẳng định rằng đời sống tâm linh là phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người Ở đó, con người tin vào cái thiêng Sống trong không gian, thời gian mang tính tâm linh ấy, con người được giải tỏa khỏi những phiền muộn lo âu hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống
Từ cách hiểu trên, chúng tôi nhận thấy, khái niệm văn hóa tâm linh của
Nguyễn Đăng Duy là tương đối đầy đủ “văn hóa tâm linh là văn hóa biểu hiện
những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [13 ,tr26.]
Trang 24Thuộc lĩnh vực tinh thần nhưng văn hóa tâm linh không chỉ gồm giá trị vô hình (nghi lễ, tập tục, ý niệm… ) mà cả những văn hóa hữu hình phát tín hiệu thiêng liêng (đình, đền, miếu, mộ….)
Nói tóm lại, với những biểu hiện phong phú, đa dạng chúng ta thấy văn hóa tâm linh là chỗ dựa về mặt tinh thần, xoa dịu những đau thương mất mát đem lại niềm tin vào những điều tốt đẹp Văn hóa tâm linh giúp con người chiến thắng nỗi
sợ hãi đem lại sự thanh thản cân bằng cho tâm hồn Văn hóa tâm linh là sợi dây cố kết cộng đồng, lưu giữ truyền thống, giáo dục lòng nhân ái và tinh thần hướng thiện, góp phần tạo nên chiều sâu và sức sống cho nền văn hóa, văn học dân tộc
1.2 Cơ sở hình thành văn hóa tâm linh
1.2.1 Từ trong tín ngưỡng dân gian
1.2.1.1 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên
Sùng bái tự nhiên là một giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người Với người Việt sống bằng nghề lúa nước thì sự gắn bó với thiên nhiên là mật thiết và thiên nhiên trở nên vô cùng quan trọng Với họ, thiên nhiên có thể là một người bạn tốt đem lại những điều may mắn, mùa màng bội thu, nhưng cũng có thể
là một người bạn xấu đem đến những rủi ro, những tổn thất nặng nề Chính vì vậy người dân rất coi trọng và sùng bái tự nhiên Đây cũng chính là một trong những cơ
sở hình thành văn hóa tâm linh
Đời sống của cư dân nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên nảy sinh tâm lí tôn sùng và mong muốn hòa hợp với thiên nhiên Trời, đất, trăng sao, mây mưa, sấm chớp đều trở thành những vị thần hộ mệnh cho cuộc sống làm ăn yên ấm của họ Trong đó, Trời là trên hết vì theo người xưa trời sinh ra mọi vật, nên cần điều gì họ cũng đều cầu trời, lạy trời:
“ Lạy trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cày, Lấy đầy bát cơm, Lấy rơm đun bếp…”
Trang 25Và khi có mưa, người ta vui sướng, cần cù lao động để tỏ lòng biết ơn:
“Ơn trời mưa nắng phải thì, Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu
Công lên chẳng quản bao lâu Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng…”
Ông Trời cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong đời sống của cư dân lúa nước đến mức tôn sùng:
“ Người ta đi cấy lấy công,
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây, Trông mưa trông nắng, trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm, Trời yên, bể lặng mới yên tấm lòng”
Tôn thờ nước như các lễ đảo vũ (cầu mưa) thường diễn ra ở các đình đền, từ vua quan cho đến dân ở các làng xã đều tiến hành cầu đảo, vẫy nước ra tứ phía cầu mưa thuận gió hòa, đất đai phì nhiêu, người yên vật thịnh, diệt trừ ma quỉ…
Là một nước nông nghiệp, nên thiên nhiên được xem là bà đỡ của nghề nông, núi sông biển cũng được cư dân lúa nước nhân cách hóa thành thần sông thần núi, thần biển Thần núi Tản Viên lúc đầu cũng chỉ đơn giản là thần núi được thờ để che chở cho con người nhưng vì thần núi cao nên uy linh hơn các thần tự nhiên khác Ở vùng đất Nam Bộ, đồng rộng mênh mông, ít khi bị núi rừng che chắn tầm nhìn, sông ngòi kênh rạch nhiều, quanh năm nước chảy lững lờ… đã hình thành tâm thức, cảm quan mới Dù thiên nhiên ở đây trù phú, ít khắc nghiệt nhưng trong buổi đầu khai hoang vẫn là vùng rừng bụi hoang vắng, đầy ma thiêng nước độc, lam sơn chướng khí, luôn dọa dẫm kẻ phương xa đặt bước đến đây Thỉnh thoảng đó đây, lưu dân phát hiện những đền miếu, tháp cổ hoang tàn đổ nát… lẩn khuất trong rừng rậm càng làm cho họ có áp lực vô hình, niềm tin về mỗi khúc đất, mỗi vuông rừng, mỗi dòng sông… đều có tiền chủ được củng cố thêm lên Để bình yên nơi xứ lạ, để được an toàn khi lên rừng xuống biển lưu dân tin có một vị thần nào đấy phù hộ họ
Trang 26và họ phải cầu cúng để gửi gắm niềm tin Đó cũng là cơ sở hình thành một số dạng sinh hoạt tâm linh trên vùng đất mới, với miễu thờ ông Tài, ông Địa, bà chúa Xứ…
Xuất phát từ quan niệm “ vạn vật hữu linh” nên trong tín ngưỡng sùng bái giới tự nhiên của người xưa còn có việc thờ động vật và thực vật
Nếu ở loại hình văn hóa gốc du mục, người ta thờ những con vật to lớn, có sức mạnh như hổ, chim ưng, đại bàng… thì ở loại hình văn hóa nông nghiệp người Việt thờ các con vật hiền lành hơn như chim, rùa, rắn… Người Việt quan niệm “ nhất điểu, nhì xà, tam ngư, tứ tượng” nên đã nâng các con vật này lên mức biểu trưng Tiên, Rồng thông qua các truyền thuyết về họ Hồng Bàng Trong đó Tiên được trừu tượng hóa từ giống chim sống ở trên cạn, còn Rồng thì được trừu tượng hóa từ hai loại bò sát rắn và cá sấu ở dưới nước Theo nguyên lí âm – dương và lối sống hòa hợp, thích nghi với thiên nhiên, cư dân nông nghiệp đã biến con vật thành chim mẹ, rồng cha làm nên cội nguồn tổ tiên người Việt Hình tượng Rồng cũng được các triều đại phong kiến Việt Nam chọn làm biểu tượng vương quyền, được đặt tên cho nhiều địa danh trong nước: Thăng Long, Hàm Rồng, Cửu Long thể hiện ý thức bảo toàn nòi giống và lòng tôn kính, tự hào dân tộc thuộc dòng dõi “ con Rồng, cháu Tiên”
Đối với cư dân nông nghiệp, lúa không thể thiếu trong đời sống của họ Họ tin “lúa” là một loại cây có hồn nên dân ta nảy sinh tín ngưỡng thờ thần “lúa” Để được mùa, hằng năm cư dân lúa nước phải làm lễ rước mạ, gọi hồn lúa, lễ nhập lúa vào kho Bên cạnh đó, các loại cây đa, cây dâu, quả bầu… cũng được nhân dân tôn thờ Dân gian thường truyền tụng “thần cây đa, ma cây gạo” hay “cây thị có ma, cây
đa có thần” Tin rằng các loài cây cỏ cũng có linh hồn, nên hễ nhà nào có đám tang thì gia chủ cũng đeo tang cho cây, vì sợ cây buồn mà héo hắt rồi chết Cây không chỉ có linh hồn mà còn là nơi ở các thần, ma Với đặc tính cộng sinh, sống hòa hợp với thiên nhiên thì dù thần hay ma người Việt cũng kính trọng, khấn vái rất trang nghiêm
Từ xa xưa, người Việt cổ nhận thức về thế giới khách quan với cái nhìn thuần hậu nguyên thủy, con người chưa phân biệt mình với giới tự nhiên, đồng nhất mình với giới tự nhiên cho rằng ông trời ở trên cao có thể nhìn thấy mọi việc ở dưới
Trang 27đất, trừng trị kẻ ác, giúp đỡ người hiền lành hay linh hồn người chết có thể tồn tại xung quanh người thân, giúp đỡ và che chở cho họ…
1.2.1.2 Tín ngưỡng sùng bái con người
Theo quan niệm của người Việt con người gồm có hai phần: thể xác và linh hồn Nguyễn Du cũng đã nói “thác là thể phách, còn là tinh anh” Hồn lại được tách
ra làm “hồn” và “vía” (người nam có ba hồn bảy vía, người nữ có ba hồn chín vía) Vía phụ thuộc nhiều vào thể xác có người vía lành, có người vía dữ, có người nhẹ vía, có người nặng vía (dân gian quan niệm rằng buôn bán mở hàng gặp người nặng bóng vía thì bán chậm nên phải đốt vía, giải vía, hoặc những người thường hay nằm mộng thấy những điều xấu, hay bị “bóng đè” thì cho rằng đó là người nhẹ bóng vía) Khi chết thì vía theo xác mà tan ra Còn “hồn” được xem như tồn tại độc lập với thể xác, người chết đi thì thể xác chết nhưng linh hồn vẫn còn lẩn khuất đâu đó Khi ngủ, hồn thường xuất ra khỏi xác để đi đây đi đó, do vậy nảy sinh hiện tượng chiêm bao, mộng mị…
Chính vì vậy mà dân gian cho rằng khi chết thì linh hồn vẫn tồn tại và nếu là người hiền lành, nhân đức thì được đến một thế giới tốt đẹp là thiên đường bằng ngược lại thì sẽ bị đày vào địa ngục Nhưng cho dù ở thiên đường hay địa ngục thì người đã chết vẫn dõi theo người sống, thấy hết những gì người sống đang làm, và
có thể giúp đỡ hay trừng phạt người sống… chính điều này đã hình thành tín ngưỡng thờ cúng người chết, khấn vái cầu nguyện người chết phù hộ Tín ngưỡng sùng bái con người được biểu hiện qua hình thức: thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng liệt sĩ, thờ tà thần…
1.2.1.3 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Trong cuộc sống, nhiều người tin rằng chết là về với tổ tiên, gặp mặt ông bà
tổ tiên nơi chín suối, tin rằng mặc dầu ở nơi chín suối nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom phù hộ cho con cháu từ đó hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Trước khi Nho giáo du nhập, người Việt Nam đã có tục thờ cúng ông
bà, tổ tiên Cúng giỗ tổ tiên không phải là biểu hiện của tôn giáo mà là biểu hiện huyết thống, huyết thống thì bao giờ cũng có nguồn gốc Vì vậy thờ cúng tổ tiên là một nét văn hóa truyền thống của người Việt, là một nhu cầu không thể thiếu trong
Trang 28đời sống tinh thần của chúng ta Đó không chỉ là đạo lí, là phong tục tốt đẹp của dân tộc mà còn nhắc nhỡ chúng ta khắc sâu ý thức cội nguồn tổ tiên trong đời sống tâm linh của mình “chim có tổ, người có tông”, “cây có gốc mới nở cành xanh ngọn, nước có nguồn mới bể rộng sông sâu” Đồng thời cũng răn dạy con cháu không được đánh mất cái mà tổ tông đã vun đắp “giấy rách phải giữ lấy lề”
Khác với người phương Tây coi trọng ngày sinh, trong tục thờ cúng tổ tiên,
người Việt Nam coi hơn cả là việc cúng giỗ vào ngày mất, bởi lẽ người ta tin rằng
đó là ngày con người đi vào cõi vĩnh hằng, ở cõi ấy người chết cũng có cuộc sống như ở trần gian “trần sao, âm vậy”, “dương sao, âm vậy”, cũng cần đến những nhu cầu sinh hoạt như ăn, mặc, ở, đi lại Chính vì vậy, ngoài mồ mả tổ tiên ở nghĩa địa, thì trong nhà gia chủ cũng dành vị trí trang trọng để lập nên bàn thờ cúng tổ tiên, có những gia đình có hẳn một phòng để thờ cúng tổ tiên Đây là nơi để người sống và người chết giao tiếp với nhau qua thế giới tâm linh Trong khi cúng giỗ, người sống khấn vái, cầu nguyện một điều gì đó mà họ mong muốn ông bà, tổ tiên phù hộ cho mình Qua thờ cúng tổ tiên, con cháu thể hiện lòng tôn kính, tri ân với tổ tiên mình đồng thời qua việc thờ cúng tổ tiên còn thể hiện nhu cầu tinh thần của con người mong muốn được sống lại với những điều tốt đẹp đã qua trong cuộc sống với tổ tiên của mình
Trong gia đình, ngoài tổ tiên, người Việt còn có tục thờ Thổ công, một vị thần trông coi gia cư, định đoạt phúc họa cho một gia đình Sống ở đâu có Thổ Công ở đó; Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá Mối quan hệ giữa Thổ Công (địa thần) với ông bà tổ tiên (nhân thần) rất thú vị: Thổ Công định đoạt phúc họa cho cả nhà nên là vị thần quan trọng nhất, nhưng ông bà sinh thành ra ta nên được tôn kính nhất Để không mất lòng ai, người Việt xếp cho tổ tiên ngự tại cái bàn thờ tôn kính nhất ở gian giữa, còn Thổ Công thì ở gian bên trái (theo Ngũ hành thì bên trái- phương đông là nơi quan trọng thứ hai sau trung tâm) Tuy địa vị kém nhân thần
nhưng quyền lực lại lớn hơn Thổ thần được coi là Đệ nhất gia chi chủ Mỗi khi giỗ
cha mẹ, đều phải khấn Thổ công trước rồi xin phép Ngài cho cha mẹ được về “ phối hưởng”
1.2.1.4 Tín ngưỡng thờ cúng các vị anh hùng có công dựng nước và giữ nước
Trang 29Nếu trong nhà thờ gia tiên, trong làng thờ Thành Hoàng thì trong nước người Việt thờ Vua Tổ và các anh hùng có công dựng nước và giữ nước Người Việt vẫn thường nhắc nhỡ nhau ý thức về tổ Hùng Vương – cội nguồn của dân tộc:“Dù ai đi
ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”, “Dù ai sinh sống gần xa, nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười”,… “dù ai đi đâu về đâu, cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ…”
Đến với lễ hội vua Hùng, người dân hân hoan trong không khí thiêng liêng
và bằng tấm lòng thành thắp những nén hương để tri ân các vị vua Hùng đã có công dựng nước, đã mở đường cho con cháu Lạc Hồng xây nên đất Việt Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn nhắc nhỡ các thế hệ con cháu sau này: “Các vua Hùng đã có công dựng
nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”
Đã có biết bao máu xương của những anh hùng, liệt sĩ đã đổ xuống, biết bao hiểm nguy, gian khổ tủi nhục đắng cay trong suốt một thời gian dài mà đất nước và con người Việt đã gánh chịu, để có một đất nước hòa bình độc lập như hôm nay Chính vì vậy, công lao của họ đời đời được đất nước, nhân dân ghi tâm, khắc cốt Máu và nước mắt của người dân đã thấm sâu vào lòng đất và đi vào lịch sử, vào cõi bất tử Để rồi với sự ngưỡng vọng và tôn kính, dân gian đã linh thiêng hóa các anh hùng tiết liệt để họ trở thành những vị thần được thờ phụng, tưởng nhớ một cách trang trọng
Người Việt còn có một tín ngưỡng đặc biệt là tục thờ Tứ bất tử: Tản Viên, Thánh Gióng, Chữ Đồng Tử, mẫu Liễu Hạnh Tục thờ cúng Tứ bất tử là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc ta Đó là tinh hoa được chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử biểu tượng cho sức mạnh liên kết của cộng đồng để làm ruộng và đánh giặc, cho khát vọng xây dựng một cuộc sống vật chất phồn vinh và tinh thần hạnh phúc
Vì thế, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên – gia đình và thờ cúng tổ tiên – đất nước là điều hết sức quan trọng và thiêng liêng không thể thiếu được trong phong tục của người Việt Nam Qua đó, khẳng định lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết của cư dân Việt
1.2.1.5 Tín ngưỡng sùng bái thiên nhiên và con người dẫn đến việc hình thành
lễ hội dân gian
Trang 30Nghề lúa nước mang tính thời vụ cao, lúc có việc thì tối tăm mặt mũi, ngay miếng ăn cũng đại khái cốt được việc thì thôi; cho nên lúc rảnh rỗi người nông nghiệp có tâm lí chơi bù, ăn bù Vì vậy mà ở Việt Nam, tết nhất đã nhiều, hội hè cũng lắm Theo thống kê của các nhà văn hóa dân gian thì Việt Nam có gần 500 lễ hội lớn nhỏ trải dài theo lịch sử dân tộc, rộng khắp ở mọi miền đất nước và suốt cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Lễ hội chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của con người
Các ngày lễ tết được phân bố theo thời gian trong năm, xen vào các khoảng trống trong lịch thời vụ (chữ “ tết” là biến âm từ chữ “tiết” mà ra) Lễ tết gồm hai phần: Lễ (cúng tổ tiên) và phần Tết (và ăn uống bù cho lúc làm lụng đầu tắt mặt tối) Dân gian cho rằng : Tết là phải ăn “ăn tết”
Mỗi lễ hội mang nét tiêu biểu và giá trị riêng Trong năm quan trọng nhất là Tết Nguyên Đán (nguyên = bắt đầu, đán= buổi sáng): buổi sáng đầu năm (tính theo
âm lịch) Đặc trưng văn hóa điển hình nhất của Tết Nguyên Đán là nếp sống cộng đồng Từ ngày 23 tháng chạp, người dân đã bắt đầu đi chợ tết, có người bắt đầu mua sắm những vật dụng cần thiết để xài trong ba ngày tết, có người chỉ đi dạo chợ, xem người ta buôn bán… Chợ tết là thước đo sự ấm no, sung túc của cộng đồng trong năm Nếp sống cộng đồng còn thể hiện ở chỗ tết là dịp duy nhất trong năm có sự sum họp đầy đủ của tập thể gia đình, gia tiên và gia thần Con cháu dù đi làm ăn xa thì ngày tết cũng cố gắng về quê ăn tết với gia đình, dòng họ
Theo quan niệm của người Việt, bữa cơm tất niên sẽ được tổ chức vào chiều ngày 30 tết, lúc đó mọi công việc chuẩn bị cho ngày tết đã cơ bản xong Ngoài ý nghĩa tiễn năm cũ, việc các gia đình sửa soạn bữa cơm tất niên còn để mời ông Công, ông Táo trở về trần thế tiếp tục cai quản việc bếp núc tư gia Đây cũng là bữa cơm để con cháu thể hiện tấm lòng tôn kính, hiếu thảo với những người đã khuất trong gia đình Ở một số nơi, chiều ngày 30, trước lúc diễn ra bữa cơm tất niên, các gia đình thường ra mộ thắp hương mời ông bà, tổ tiên về ăn tết cùng con cháu, nhưng cũng có nhiều nơi không có phong tục này mà chỉ thắp hương tại nhà Có thể nói, bữa cơm tất niên là nét văn hoá, in đậm trong tâm trí người Việt và trở thành sợi dây vô hình, liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình, cộng đồng mỗi
Trang 31khi tết đến, xuân về Thật ấm áp nếu bữa cơm chiều 30 có đủ 3 hoặc 4 thế hệ cùng ngồi ăn cơm và trò chuyện Trong khói hương trầm thơm ngát, bên mâm cơm có đủ bánh chưng xanh, dưa hành, giò mỡ… con cháu thành kính báo cáo với ông bà, cha
mẹ những việc đã làm tốt trong năm, từ chuyện học hành, làm ăn đến chuyện tình cảm, hiếu nghĩa… Ông bà cũng không quên nhắc nhở con cháu phải phát huy truyền thống quê hương, gia đình, đồng thời phân công nhiệm vụ cho từng người, trong đó có việc phải đến chúc tết, thăm hỏi những cụ cao niên trong họ Ngày 30 Tết, bỏ lại những vất vả, lo toan trong một năm, mọi người đều cố gắng nhanh chóng thu xếp công việc, trở về bên gia đình, cùng ăn bữa cơm tất niên sum vầy Cho dù cuộc sống nhiều thay đổi, nhưng những cảm xúc đầm ấm, thiêng liêng trong bữa cơm chiều 30 vẫn được các thế hệ người Việt trân trọng, gìn giữ
Lễ Thượng Nguyên vào ngày rằm tháng Giêng là một tết, lễ hội cổ truyền của Trung Quốc Tết này phần lớn tổ chức tại chùa, tục ta tin rằng trong ngày rằm tháng Giêng, đức Phật giáng lâm tại chùa để chứng tỏ lòng thành của các tín đồ Phật giáo [5, tr 86] Theo sách Trung Hoa, lễ Thượng Nguyên không phải là một ngày lễ Phật Trước đây chính là Tết Trạng Nguyên Nhân dịp này, nhà vua hội họp các ông Trạng để thết tiệc và mời vào vườn Thượng Uyển thăm hoa, ngắm cảnh, làm thơ Theo các nhà thuật số Trung Hoa, ngày rằm tháng Giêng còn là ngày vía Thiên quan Nhân ngày này, tại các đền chùa có làm lễ dâng sao, nghĩa là cúng các
vị sao để giải trừ tai ách quanh năm Rằm tháng Giêng ở Việt Nam xa dần tích nguyên thủy của Trung Hoa mà nhập vào Phật giáo Dù kinh điển nhà Phật không nói đến ngày rằm tháng Giêng nhưng trong dân chúng thì đây là dịp lên chùa cúng sao giải hạn, ước nguyện điềm lành
Bên cạnh đó, tết Thanh minh cũng mang đậm dấu ấn văn hóa tâm linh Thanh minh là tiết thứ năm trong “nhị thập tứ khí” và được người phương Đông coi
là một lễ tiết hàng năm Thanh minh, theo đúng nghĩa đen, là khí trong trẻo và sáng sủa Nhân dịp này, cũng như nhiều dân tộc Á Đông khác, dân ta có tục đi viếng mộ gia tiên và làm lễ cúng gia tiên sau tảo mộ
Lễ tảo mộ: Tảo mộ chính là sửa sang ngôi mộ cho được sạch sẽ [5, tr 98]
Nhân ngày lễ Thanh Minh người ta mang theo cuốc xẻng để đắp lại nấm mồ cho to,
Trang 32rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trèo lên mộ có thể phạm tới hài cốt của người thân đã khuất Sau đó cắm mấy nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa dâng cho vong hồn người quá vãng Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, săn sóc, còn có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng Những người có lòng nhân đức không khỏi mủi lòng thường cắm một nén hương, đốt nắm vàng mã cho những ngôi mộ này Tại các nơi tha ma mộ địa còn có lập một cái am để thờ
chung những mồ mả vô chủ gọi là Am chúng sinh và mỗi cửa am có một bà đồng
sớm tối đèn hương thờ phụng Trong ngày tảo mộ, bãi tha ma vốn vắng lặng bỗng trở nên sầm uất Mọi người đi tảo mộ đều vui vẻ và ăn vận rất chỉnh tề Các ông già
bà cả thì lo khấn vái nơi phần mộ Trẻ em cũng theo cha mẹ đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là bố mẹ muốn tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này để tảo mộ gia tiên và sum họp với đại gia đình Thường người ta
đi tảo mộ từ sáng sớm cho đến gần trưa Bãi tha ma trong ngày tảo mộ chính là nơi
tụ tập của tất cả mọi người, mọi tuổi, mọi tầng lớp trong xã hội
Tục lệ tảo mộ: Thường người ta đi tảo mộ vào tiết Thanh Minh trời quang mây tĩnh, và sau đó kính mời hương hồn tổ tiên về hưởng cỗ con cháu cúng trong dịp này Nhưng cũng có nhiều nơi người ta tảo mộ vào dịp trước và sau ngày
Tết Nhiều làng thuộc tỉnh Hà Ðông ở vào vùng đất thấp, tới vụ nước, ruộng nương
và cả bãi tha ma đều ngập nước, thì người ta đi tảo mộ vào đầu tháng chín, sau khi nước đã rút Dù đi tảo mộ vào ngày nào thì việc thăm nom mồ mả tổ tiên cũng là việc hay Nghĩ đến gia tiên tức là nghĩ đến gốc, tưởng đến nguồn [5,101]
Cúng lễ trong ngày Tết Thanh Minh: Tết Thanh Minh cũng là dịp để con
cháu sửa lễ cúng gia tiên sau khi viếng mộ về Cũng có nhà sửa lễ mang ra mộ cúng, nhưng đó chỉ là cúng riêng một ngôi mộ Còn sau đó người ta vẫn cúng ở bàn thờ tổ tiên và khấn tất cả gia tiên nội ngoại về phối hưởng Người ta thường cúng mặn trong ngày Thanh Minh, nghĩa là có làm cỗ, hoặc không làm cỗ thì cũng có đĩa xôi, con gà cùng với hương hoa, trà rượu, vàng mã, đồng thời với việc cúng tổ tiên cũng có cúng Thổ Công như trong mọi dịp [5, tr 101]
Trang 33Tết Hàn Thực vào ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch Hàn thực là ăn đồ lạnh, tết này của người Trung Hoa và được truyền sang Việt Nam đã lâu Ta ăn tết Hàn thực, nhưng ta không kiêng lửa, ta cũng không dùng đồ lạnh, ta có làm bánh trôi, bánh chay nhưng không phải làm từ hôm trước như người Trung Hoa [5, tr 92,93]
Tết Đoan ngọ (Tết Đoan Dương) vào mồng 5 tháng 5 âm lịch Đoan nghĩa là
mở đầu, ngọ là giữa trưa Sở dĩ tết này được gọi là tết Đoan Ngọ, chính vì tháng năm là lúc bắt đầu trời nắng to, khí dương đang thịnh như mặt trời vào lúc giữa trưa
Ngoài việc cúng lễ trong ngày tết Đoan Ngọ, xưa và cả nay ở một vài địa phương, người Việt ta có nhiều tục lệ được mọi người cùng theo như tục giết sâu
bọ, túc nhuộm móng chân, móng tay, tục đeo bùa tui, bùa túi, tục tắm nước lá mùi, tục khảo cây lấy quả, tục hái thuốc vào giờ Ngọ, tục treo ngải cứu để trừ tà… [5, tr 110]
Tết Trung Thu: là tết vào giữa mùa thu (15-8 âm lịch), mùa mát mẻ, đẹp đẽ với trăng trong gió mát Trong ngày tết Trung Thu để thưởng trăng có nhiều cuộc vui bày ra, có cuộc vui riêng trong gia đình, có cuộc vui chung với mọi người Trong ngày tết này, người ta bày cỗ có bánh trái hình mặt trăng, treo đèn, kết hoa, nhảy múa ca hát, rước đèn, múa lân rất tưng bừng náo nhiệt
Tết cơm mới nghĩa là lễ lấy phẩm vật đầu mùa mà tế thần hoặc biếu người trên Người dân Việt Nam nhân dịp này, dùng lúa mới làm xôi thổi cơm dâng cúng thần linh đã bảo vệ cho dân làng, cũng như ở trong nhà, con cháu có lúa mới thì nhớ đến tổ tiên và làm lễ cúng
Nếu lễ tết là một hệ thống phân bố theo thời gian thì lễ hội là hệ thống phân
bố theo không gian Vào mùa xuân và mùa thu, khi công việc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hội diễn ra liên tiếp hết chỗ này đến chỗ khác, mỗi vùng có lễ hội riêng của mình Lễ hội luôn đan xen với nhau Phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình, lễ diễn ra trong một không gian, thời gian nhất định Người tham gia lễ thường có thái độ nghiêm túc và có một ý thức lễ nghi rõ rệt
Căn cứ vào mục đích và dựa vào cấu trúc của hệ thống văn hóa có thể phân biệt ra ba loại lễ hội: Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường
Trang 34tự nhiên (lễ hội cầu mưa, hội đâm trâu, hội cơm mới, hội đua thuyền, hội đua ghe Ngo…); lễ hội liên quan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường xã hội (kỉ niệm các anh hùng dựng nước và giữ nước – hội Đền Hùng, hội Gióng, hội đền An Dương Vương, hội đền Hai Bà Trưng, Hội Đống Đa…); và lễ hội liên quan đến đời sống cộng đồng (các lễ hội tôn giáo và văn hóa- hội chùa Hương, hội chùa thầy, hội
bà chúa Xứ, hội chùa Dâu…)
Hội thường gắn với các trò chơi dân gian, gắn với những cuộc thi thố, tranh tài trong một số lĩnh vực nào đó Phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp (ước vọng cầu mưa là các trò tạo
ra tiếng nổ mô phỏng tiếng sấm như thi đất pháo, ném pháo, đánh pháo đất; ước vọng cầu cạn thì thi thả diều; ước vọng phồn thực là các trò thả lỗ, đánh đáo, nhún
đu ; ước vọng rèn luyện sức khỏe và khả năng chiến đấu là các trò đấu vật, kéo co, chọi gà…) Tính chất vui, trào tiếu trong hội là nét nổi bật Con người không chỉ sống trong cái thiêng mà còn sống trong cái vui Vì vậy lễ phải có hội mới cuốn hút, hội phải có lễ thì mới linh thiêng Lễ hội còn là một ngôn ngữ hoạt động làm phong phú, hấp dẫn hơn dễ đi sâu vào tâm thức con người hơn những triết lí giáo điều khô khan của các tôn giáo, tín ngưỡng Không có lễ hội thì cũng không còn tôn giáo và tín ngưỡng Chính vì vậy nhân dân ta rất thích lễ hội Dù con người ta có ở xa đến mấy, mỗi khi có lễ hội họ đều tìm về Lúc ấy, họ được sống trong một không gian thiêng, một khoảnh khắc thời gian thiêng Sống trong không khí linh thiêng ấy, lòng người luôn có những cảm xúc khó quên, từ đó con người càng thêm có trách nhiệm với đất nước, gắn bó với cộng đồng và những người xung quanh Lễ hội còn là dịp
để mọi người gặp gỡ, trò chuyện, kết bạn, vui chơi, hẹn hò… biểu dương sức mạnh, đoàn kết, gắn bó mọi thành viên với cộng đồng Mỗi dịp lễ hội là một dịp chuyển giao văn hóa, sáng tạo văn hóa Vì thế người Việt Nam rất cần đến lễ hội Đó là một sợi dây tâm linh kết nối tình cảm giữa con người với con người, là nhịp cầu nối quá khứ - hiện tại - tương lai Với sự kết hợp sâu sắc giữa cái thiêng (lễ) và cái phàm (Tết, hội); giữa thần thánh phi thường và con người bình thường, lễ hội luôn tồn tại mãi với thời gian và trong lòng người Tất cả chúng ta cũng như thế hệ mai sau phải
Trang 35biết trân trọng, bảo tồn di sản văn hóa thiêng liêng này, bảo tồn “ bảo tàng sống của
văn hóa dân tộc ta” ( Phùng Quý Nhâm)
1.2.1.6 Tín ngưỡng dân gian chi phối đời sống xã hội
Do có niềm tin đặc biệt vào tín ngưỡng dân gian nên người Việt tin rằng tín ngưỡng dân gian có sự chi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của họ Rất nhiều hoạt động tín ngưỡng đã ăn sâu vào cuộc sống của người dân lúa nước chẳng hạn như xem tử vi, phong thủy, coi ngày giờ làm nhà, cưới gả, tang ma Dẫu biết rằng cuộc sống có quy luật của nó sinh, lão, bệnh, tử, ai trong cuộc đời cũng có lúc vui sướng hạnh phúc, nhưng cũng có lúc đau khổ đắng cay, và rồi cuối cùng dù giàu sang hay nghèo khó thì cũng trở về với đất mẹ mà thôi Thế nhưng trong thực tế cuộc sống, tuyệt nhiên không ai lại chấp nhận chuyện ấy cả, họ tin rằng sướng khổ vui buồn là do số phận và họ muốn biết trước số phận của mình, chính những băn khoăn ấy đã thôi thúc con người đi giải mã những ẩn số bằng cách xem tử vi trọn đời của mình, xem tướng, xem tuổi, xem ngày cưới hỏi, xem ngày động thổ làm nhà, xem ngày giờ hạ huyệt… Những vấn đề này vẫn tồn tại trong cuộc sống của người dân Việt Đây là vấn đề tâm linh, xét cho cùng ranh giới giữa nó và mê tín dị đoan gần nhau gang tấc Sống trong thời đại của công nghệ thông tin, của khoa học
kĩ thuật nhưng cũng chính trong thời đại này con người lại quan tâm nhiều nhất đến vấn đề tâm linh, văn hóa tâm linh Có những hiện tượng tâm linh mà mặc dù khoa học đã tiến bộ rất nhiều vẫn không thể nào lí giải nổi, có chăng là họ chỉ tìm cách rút ngắn khoảng cách giữa tâm linh và khoa học mà thôi Cuộc sống con người càng phong phú đa dạng và phức tạp bao nhiêu thì đời sống tâm linh cũng phong phú và
đa dạng như vậy Chừng nào con người còn đau khổ, còn mong muốn được một thế lực vô hình phù trợ để vượt qua những đau khổ và bất hạnh ấy thì chừng đó tâm linh vẫn còn giá trị thiêng liêng của nó
Hóa vàng mã là nghi lễ dựa trên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có từ lâu đời của người Việt, là biểu hiện tâm linh để thấy con người ở “thế giới bên kia” sống gần với thế giới thực tại Tín ngưỡng chính là việc người ta tin vào một lực lượng siêu nhiên, như hiện tượng linh hồn chẳng hạn Người ta tìm mọi cách để liên hệ với cái
Trang 36siêu nhiên đó Vì thế, con người đốt hương và tin rằng, những lời cầu khấn sẽ theo khói hương bay lên tới linh hồn tổ tiên, thần, Phật Đồ vàng mã cũng vậy, dân gian quan niệm, chết không phải đã hết mà linh hồn tồn tại ở một thế giới siêu nhiên nào
đó nên họ tư duy “trần sao âm vậy”, có nghĩa là người sống cần có gì, người âm cũng cần có cái đó Bằng rất nhiều cách người sống cố gắng liên hệ với thế giới linh hồn Họ đốt tiền, vàng mã là để tin rằng người chết cũng có được cuộc sống đủ đầy
Vì thế, đồ vàng mã khó có thể tách rời khỏi văn hóa tín ngưỡng của người Việt Đốt vàng mã có sức lan tỏa mạnh như vậy vì nó gần với tâm linh con người, nên nếu được thực hiện đúng cách thì nó là biểu hiện của nét văn hóa tốt đẹp trong quan hệ ứng xử giữa người với người, giữa những lớp người đi sau với lớp người đi trước Đáng tiếc là cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì những gì tốt đẹp lại mất
đi hoặc dễ bị che mờ, còn những biểu hiện lệch lạc lại lên ngôi, biến việc đốt vàng
mã trở thành thói quen xấu cần xóa bỏ
Lời thề cũng là một yếu tố thuộc về tâm linh Lời thề được thể hiện giữa con người với con người trong cuộc sống hàng ngày Khi muốn chứng minh một điều gì
đó là đúng thì người Việt thường thề thốt Lời thề có khi diễn ra giữa hai người với nhau, nhất là trong tình yêu đôi lứa, họ có thể chờ đợi nhau, hy sinh cho nhau vì một
lời thề sâu nặng “Vầng trăng vằng vặc giữa trời, đinh ninh hai miệng một lời song
song” (Nguyễn Du), cũng có khi là lời thề của cả một tập thể để thể hiện sự quyết tâm Có một lễ hội tại Hải Phòng mà quan lại chức sắc làng xã tuyên thề sẽ không
tơ hào của công, nhũng nhiễu bức hại dân Người dân đến với lễ hội cũng không phải mong lấy chữ danh lợi, mà là để tự nguyện sẽ giữ lòng trung thực, ngay thẳng
Đó là lễ hội Minh Thề ở làng Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng được tổ chức vào ngày 14 tháng Giêng hàng năm Có thể khẳng định rằng lời thề chính là một khía cạnh tâm linh không thể không có ở mỗi con người
Nói tóm lại, tín ngưỡng dân gian của người Việt vô cùng phong phú và đa dạng, gồm nhiều tín ngưỡng thờ thánh thần, trời, đất ( thành hoàng làng, thánh tổ nghề, thờ các vị phúc thần, các anh hùng lịch sử, văn hóa…); tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên, tín ngưỡng thờ mẫu…; niềm tin vào tướng số, phép thuật… các tín ngưỡng
Trang 37ấy song hành tồn tại trong đời sống nhân dân và trở thành những sinh hoạt văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa truyền thống Việt Nam Điều này rất dễ thấy trong các sáng tác của Nguyễn Du, đặc biệt là trong thơ chữ Hán của ông Ta thấy cả một thế giới tâm linh ẩn hiện bàng bạc mang nhiều nét tín ngưỡng truyền thống dân tộc Đó chính là niềm tin thiêng liêng của con người đối với một số hiện tượng thiêng trong cuộc sống (thờ cúng, khấn vái, thắp nhang, viếng mộ…) mà con người có thể nương tựa vào đó để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống
1 2.2 Từ sự tiếp biến tư tưởng Nho- Phật- Đạo
Nước ta nằm ở ngã tư đường thuộc khu vực Đông Nam Á, là nơi gặp gỡ giữa các nền văn minh Bên cạnh đó, nước ta đã trải qua lịch sử ngàn năm Bắc thuộc do
đó không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc Mặc dù vậy với nền tảng là lòng yêu nước sâu sắc, với sự nhạy bén và sáng tạo, người Việt đã tiếp thu những yếu tố ngoại lai, biến đổi nó đồng hóa nó để tự xây dựng và phát triển tạo nên những nét riêng trong bản sắc văn hóa của dân tộc Biểu hiện cụ thể là việc tiếp nhận và biến đổi ba hệ tư tưởng Nho- Phật- Đạo và hòa trộn chúng theo cách của người Việt
Phật giáo: Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ thứ VI TCN,
theo đường biển các nhà sư Ấn Độ đã đến Việt Nam ngay từ đầu công nguyên, Phật giáo Giao châu lúc này mang màu sắc tiểu thừa Nam tông, sang thế kỉ thứ IV-V lại
có thêm luồng Phật giáo Đại thừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào nước ta với nhiều tông phái: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông
Phái Thiền tông đề cao cái tâm, phật tại tâm, tâm là phật, là niết bàn nên nó đòi hỏi người tu hành phải mất nhiều công phu và khả năng trí tuệ, giữ tâm tĩnh lặng
để suy nghĩ tìm ra chân lí Do vậy Thiền Tông phái chỉ phổ biến ở giới trí thức thượng lưu
Khác với Thiền tông, Tịnh độ tông chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài
để cứu chúng sinh thoát khổ Đó là việc hướng họ đến một cõi niết bàn cụ thể gọi là Tịnh Độ (yên tĩnh, trong sáng) Tịnh độ tông trở thành Phật giáo của giới bình dân
và phổ biến khắp cõi Việt Nam Đâu đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm A di đà Phật
Trang 38Riêng Mật tông chủ trương sử dụng những phép tu huyền bí như dùng linh phù, mật chú, ấn quyết… để thu hút tín đồ và mau chóng đạt đến giác ngộ và giải thoát Khi vào nước ta, Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa để trị tà ma, trị bệnh…
Đến thời Lí- Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển tới mức cực thịnh Rất nhiều chùa tháp có quy mô to lớn hoặc kiến trúc độc đáo được xây dựng trong thời gian này như: chùa Phật Tích, chùa Diên Hựu, chùa Phổ Minh, chùa Linh Xướng…
Đặc trưng của lối tư duy nông nghiệp đã làm cho Phật giáo Việt Nam mang đặc điểm nổi bật nhất chính là mang tính tổng hợp, khuynh hướng thiên về nữ tính
và có tính linh hoạt Phật giáo Việt Nam tổng hợp các tông phái với nhau Ở Việt Nam không có tông phái Phật giáo nào thuần khiết Phật giáo Việt Nam tổng hợp chặt chẽ với các tôn giáo khác, kết hợp chặt chẽ việc đạo và việc đời
Đạo giáo được hình thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng Nam
Trung Hoa vào thế kỉ II sau Công nguyên Trong khi Nho giáo chưa tìm được chỗ đứng ở Việt Nam thì Đạo giáo đã tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng có sẵn từ lâu Đạo giáo gồm có hai phái: Đạo giáo phù thủy dùng các pháp thuật trừ tà trị bệnh chủ yếu giúp cho dân thường mạnh khỏe, Đạo giáo thần tiên dạy tu luyện, luyện đan dành cho quý tộc cầu trường sinh bất tử Tu tiên có hai cách nội tu và ngoại dưỡng Nội tu là rèn luyện thân thể, dùng các phép tịch cốc (nhịn ăn), dưỡng sinh, khí công… lấy thân mình làm lò luyện, luyện tinh thành khí, luyện khí thành thần, luyện thần trở về hư (Đạo); ngoại dưỡng là dùng thuốc trường sinh, gọi là kim đan ( hay linh đan thu được trong lò bằng cách luyện từ một số khoáng chất như thần sa, hùng hoàng, từ thạch, vàng) Phái tu tiên khá thịnh hành nhưng chủ yếu dành cho giai cấp thống trị Phái phù thủy lấy bùa chú, phương thuật, nước phép và
cỏ dại chữa bệnh để thu hút mọi người, thâm nhập nhanh chóng và hòa quyện dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền tới mức không còn ranh giới
Nho giáo: Trong xã hội Trung Hoa cổ đại “Nho” là một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi Nho giáo là hệ thống giáo lí của nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả Để tổ chức xã hội, điều cốt lõi là đào tạo cho được những
Trang 39người cai trị kiểu mẫu - người quân tử Để trở thành người quân tử trước hết phải tu thân (đạt đạo, đạt đức và phải biết thi - thư- lễ - nhạc), tu thân rồi phải hành động phải tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Có hai phương châm cơ bản trong công việc cai trị là: nhân trị và chính danh Từ thế kỉ XVI về sau, chế độ phong kiến suy tàn, Nho giáo sa sút trở thành một lực cản trong sự phát triển của xã hội
Người Việt Nam ta tiếp thu tích cực ba hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo và biến đổi nó phù hợp với mục đích yêu cầu cuộc sống của dân tộc ta Từ đó nảy sinh chủ trương “tam giáo đồng nguyên” Đây là một sản phẩm văn hóa thông minh và sáng tạo, cho thấy khả năng dung hòa, linh hoạt của dân tộc ta với các hệ tư tưởng du nhập từ bên ngoài để làm giàu bản sắc dân tộc mình
Về đạo Nho, suốt giai đoạn Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã
hội Việt Nam Đến năm 1070, với sự kiện Lí Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức Đối với đạo Nho, dân tộc ta đã tiếp thu quan niệm sống tích cực nhập thế, trung quân đi liền với
ái quốc, trung quân hiếu thân Mặt khác, trung hiếu của Nho gia cũng bị chi phối bởi tư tưởng nhân đạo của dân tộc ta Chữ “trung” trong nho giáo chỉ một chiều,
“Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh là câu trau mình” (Nguyễn Đình
Chiểu), còn chữ “trung” ở Việt Nam đòi hỏi mối quan hệ hai chiều đầy tình nghĩa Người Việt rất coi trong tình nghĩa, trọng tình vốn là một truyền thống lâu đời của văn hóa phương Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt đã tâm đắc với chữ “Nhân” hơn cả Nhân là lòng thương người: “Bán mình là hiếu, cứu người là nhân” (Nguyễn Du) “Nhân” gắn liền với “nghĩa”, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Nguyễn Trãi) Đối với người bình dân “nhân” đồng nghĩa với “tình” Các từ nhân tình, nhân ngãi (biến âm của nhân nghĩa), nhân duyên trong tiếng Việt đã trở lại nói
về tình yêu trai gái
“ Đường dài ngựa chạy biệt tăm Người dưng có nghĩa trăm năm cũng chờ’ ( Ca dao)
Khả năng đồng hóa Nho giáo một cách mãnh liệt thể hiện qua bài ca dao dí dỏm:
“ Mình về ta chẳng cho về,
Trang 40Ta nắm vạt áo ta đề bài thơ
Bài thơ ba chữ rành rành, Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba
Chữ trung thì để phần cha, Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình.”
Trong Nho giáo Việt Nam, việc trọng tình được bổ sung bằng truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp Chính nhờ truyền thống ấy mà Nho giáo Việt Nam dù có giữ địa vị độc tôn cũng không loại trừ Phật giáo và hủy bỏ cái gốc của Việt Nam là đạo Mẫu Tiếp thu chữ hiếu, người Việt Nam đặt nó trong mối quan hệ bình đẳng với cả cha và mẹ
“Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”
Đối với Phật giáo: Ta tiếp thu sự bình đẳng, lòng từ bi, bác ái những điều
này phù hợp với tinh thần nhân ái dân chủ truyền thống của dân tộc:
“ Mái chùa che chở hồn dân tộc Nếp sống muôn đời của tổ tông”
Vào Việt Nam đức Phật được đồng nhất với những vị thần trong tín ngưỡng
truyền thống có khả năng cứu giúp mọi người trong cơn hoạn nạn; “Nghiêng vai
ngửa vái Phật, Trời Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân”… Vốn có đầu óc
thiết thực, người Việt coi trọng việc sống phúc đức, trung thực hơn là đi chùa: “thứ nhất thì tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”; “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người” Coi trọng truyền thống thờ ông bà hơn thờ
Phật: “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu” (ca dao); đồng nhất cha mẹ, ông bà với Phật: “Phật trong nhà không thờ đi thờ Thích Ca ngoài đường”
(tục ngữ) Người Việt tiếp nhận đạo Phật chủ yếu như một phương thức làm giàu cuộc sống tinh thần, làm đẹp thêm mối quan hệ giữa người với người theo quan niệm “ở hiền gặp lành”, “tu nhân tích đức” để đức cho con cháu mai sau Lấy triết lí nhân quả để răn mình không phạm điều sai quấy Sống tin tưởng vào lẽ phải ở đời,