Vì vậy, việc so sánh mối quan hệ tam giáo ở Việt Nam dưới thời kỳ Lý Trần với mối quan hệ Tam giáo ở Trung Quốc dưới thời kỳ Tùy - Đường góp phần làm sáng tỏ những nét tương đồng và dị b
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Đường (Trung Quốc)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong lịch sử Trung Quốc, thời kỳ Tùy - Đường không chỉ biết đến như một thời kỳ cường thịnh về kinh tế mà còn là thời kì nền văn hóa Trung Hoa phát triển vô cùng rực rỡ, đạt đỉnh cao huy hoàng đặc biệt là dưới thời Đường Còn ở Việt Nam, dưới các triều Lý - Trần, cùng với sự ổn định về chính trị, kinh tế và những chiến công chống xâm lăng hiển hách của dân tộc, đã chứng kiến giai đoạn
thịnh đạt của nền văn hóa Đại Việt, như Lê Quý Đôn đã nhận định “Nước Nam ở
hai triều Lý - Trần nổi tiếng là văn minh”
Có thể nói, đặc điểm chủ yếu của hình thái ý thức của văn hóa Việt Nam và
văn hóa Trung Quốc là sự đồng hành của “tam giáo” Nho giáo, Phật giáo và Đạo
giáo đã hình thành thế chân vạc trong đời sống tinh thần và tạo nên những bản sắc truyền thống tư tưởng riêng của mỗi dân tộc Tuy nhiên ở mỗi nước, mỗi thời kì lịch sử (nhất là thời Lý - Trần ở Việt Nam, Tùy - Đường ở Trung Quốc) quan hệ
“tam giáo” lại diễn ra khác nhau và mang những đặc trưng riêng do hoàn cảnh lịch
sử của mỗi nước quy định
Vì vậy, việc so sánh mối quan hệ tam giáo ở Việt Nam dưới thời kỳ Lý Trần với mối quan hệ Tam giáo ở Trung Quốc dưới thời kỳ Tùy - Đường góp phần làm sáng tỏ những nét tương đồng và dị biệt của hiện tượng dung hợp tam giáo ở các quốc gia trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á Qua đó còn làm sáng tỏ bản sắc văn hóa riêng của Việt Nam và Trung Quốc trên lĩnh vực tôn giáo, tư tưởng Đặc biệt là đối với Việt Nam, mặc dù chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, thế nhưng trong một tâm thế vừa hấp thu văn hóa Trung Quốc vừa không bao giờ
-quên nhấn mạnh lòng tự hào dân tộc “Đại Việt”, càng khiến văn hóa Việt Nam có
nhiều nét đặc sắc không giống văn hóa Hán Mà cụ thể là dưới thời kỳ Lý - Trần, văn hóa Đại Việt là văn hóa của hào khí Đông A, thể hiện trí tuệ, sức mạnh, bản lĩnh, vị thế và tầm vóc của dân tộc ta trên thế giới
Trang 3Đặt quan hệ tam giáo dưới thời đại Lý - Trần trong tương quan so sánh với
quan hệ tam giáo thời Tùy - Đường đã góp phần đặc biệt vào việc khẳng định “cái
tôi của dân tộc”, vạch ra “ranh giới” văn hóa giữa Việt Nam và Trung Hoa, khẳng
định sự độc lập tự chủ trong lĩnh vực tư tưởng Đồng thời nó cũng chỉ ra rằng phải dựa vào sức mạnh của văn hoá, tư tưởng, sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc
để chiến thắng kẻ thù xâm lược, chiến thắng chính bản thân mình để khẳng định vị thế, tầm vóc dân tộc Chính triết lý đó vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh thế giới và Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu về Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo ở Trung Quốc và Việt Nam là vấn đề được nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng vấn đề so sánh quan hệ tam giáo thời Lý - Trần (ở Việt Nam) và thời Tùy - Đường (ở Trung Quốc) vẫn đang còn mới mẻ và chưa có một công trình chuyên khảo nào
Với tất cả những lý do nêu trên, kế thừa nguồn tài liệu của các học giả đi
trước, chúng tôi chọn đề tài “Đối sánh mối quan hệ giữa Nho - Phật - Đạo thời
Lý - Trần (Việt Nam) và thời Tùy - Đường (Trung Quốc)” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề so sánh quan hệ tam giáo thời Lý - Trần (Việt Nam) và thời Tùy - Đường (Trung Quốc) đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến với những mức độ
khác nhau Cụ thể như sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về tôn giáo, tư tưởng phương Đông,
Việt Nam và Trung Quốc có đề cập sơ lược đến “tam giáo” thời Lý - Trần và “tam
giáo” thời Tùy - Đường như:Cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn Tài
Thư, xuất bản năm 1993; Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh của Trần Văn Giàu xuất bản năm 2003; Lịch sử triết học Trung Quốc của Lê Văn Quán xuất bản năm 1997; Đại cương triết học Trung Quốc của Doãn Chính xuất bản
năm 2002…
Thứ hai, những công trình nghiên cứu về từng tôn giáo, tư tưởng có trình
bày về tam giáo dưới hai thời kỳ Lý - Trần, Tùy - Đường
Trang 4* Về Nho giáo : Học thuyết chính trị của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt
Nam của Nguyễn Thanh Bình; Sự phát triển của Nho giáo thời Lý - Trần của
Doãn Chính, Phạm Thị Loan; Nho giáo Trung Quốc của Nguyễn Tôn Nhan…
*Về Phật giáo: Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam tập 2 của Nguyễn Khắc Thuần; Mấy vấn đề Phật giáo trong lịch sử Việt Nam của Nguyễn Đức Sự, Lê Tâm Đắc xuất bản năm 2010; Các đế vương với Phật giáo của Vương Chí Bình (2002)…
*Về Đạo giáo: Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, tập II của Nguyễn Khắc Thuần (2004); Văn hóa Trung Hoa của Đặng Đức Siêu xuất bản năm 2005…
Thứ ba, những công trình nghiên cứu trực tiếp bước đầu đề cập đến mối
quan hệ giữa Nho - Phật - Đạo ở Việt Nam, Trung Quốc và mối quan hệ tam giáo
dưới hai thời kì Lý - Trần và Tùy - Đường nói riêng: công trình nghiên cứu khoa
học: Mối quan hệ giữa Nho - Phật - Đạo ở Việt Nam (từ đầu công nguyên đến thế
kỷ XIX) của nhóm sinh viên lớp 08sls -Trường ĐHSP Đà Nẵng; Vài nét về quan
hệ giữa Phật giáo, Nho giáo, và Đạo giáo Trung Quốc trên trang website: http://old.thuvienhoasen; Phân tranh Phật giáo và Nho giáo đời Đường Trung
Quốc của Thích Giác Minh; … Những bài nghiên cứu này đã chỉ ra được các mối
quan hệ giữa Nho - Phật - Đạo dưới hai thời kỳ này Tuy nhiên vấn đề so sánh mối
quan hệ “ tam giáo” thời Tùy - Đường với thời Lý - Trần thì vẫn chưa được các
học giả đề cập đến
Như vậy, mặc dù có khá nhiều công trình nghiên cứu về tình hình phát triển
của “tam giáo” và mối quan hệ giữa “tam giáo”ở Việt Nam, Trung Quốc nhưng
chưa có một công trình chuyên khảo nào đi sâu nghiên cứu đầy đủ về vấn đề so sánh mối quan hệ Tam giáo thời Lý - Trần (ở Việt Nam) và thời Tùy - Đường (ở
Trung Quốc)
Trên cơ sở các nguồn tài liệu khác nhau, nhiều bài viết của các tác giả chúng tôi tổng hợp, khái quát và đi sâu nghiên cứu để làm rõ vấn đề so sánh mối
quan hệ Tam giáo thời Lý - Trần (Việt Nam) và thời Tùy - Đường (Trung Quốc)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 53.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của khóa luận là tình hình phát triển của các dòng tư tưởng, tôn giáo: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và những nét tương đồng, dị biệt trong mối quan hệ tam giáo thời Lý - Trần (Việt Nam) và thời Tùy - Đường (Trung Quốc)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian: Không gian nghiên cứu là tập trung đi sâu tìm hiểu mối quan
hệ tam giáo dưới thời Lý - Trần (ở Việt Nam) và dưới thời Tùy - Đường (ở Trung Quốc)
+Thời gian: Ở Việt Nam là khoảng thời gian tồn tại của hai triều đại Lý Trần (1009 - 1400), còn ở Trung Quốc là khoảng thời gian tồn tại của hai triều đại Tùy - Đường ( 581 - 907 )
-4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Vạch ra được những nét tương đồng và dị biệt về mối quan hệ Tam giáo
dưới thời Lý - Trần (Việt Nam) và Tùy - Đường (Trung Quốc)
- Làm sáng tỏ bản sắc văn hóa thể hiện trên lĩnh vực tư tưởng của từng dân tộc (cụ thể ở đây là Việt Nam và Trung Hoa)
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Khái quát về bối cảnh xã hội Việt Nam và Trung Quốc và tình hình phát triển của tam giáo dưới hai thời kì này
- Vạch ra những điểm giống nhau, khác nhau về mối quan hệ Tam giáo thời
Lý - Trần và thời Tùy - Đường
- Làm sáng tỏ vai trò, vị trí của Tam giáo đối với lịch sử tư tưởng hai nước Việt Nam và Trung Quốc
5 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành đề tài khóa luận, chúng tôi dựa vào những nguồn tư liệu sau:
Trang 6+ Những công trình nghiên cứu về các triều đại Lý - Trần (ở Việt Nam) và Tùy - Đường (ở Trung Quốc) nói chung, và về tư tưởng, tôn giáo ở hai thời kì này
dưới dạng văn bản gốc, tài liệu dịch, tài liệu chuyên khảo…
+ Tạp chí, báo thuộc chuyên ngành lịch sử, tôn giáo; các bài viết liên quan đến các hệ tư tưởng tôn giáo dưới thời Lý - Trần và Tùy - Đường trên các website
của các cá nhân, tổ chức có liên quan
6 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp luận: Chúng tôi đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp luận biện chứng của sử học mác-xít
+ Phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh là chủ yếu, kết hợp với các
kĩ năng phân tích đối chiếu, tổng hợp…
7 Đóng góp của đề tài
Đề tài khóa luận đạt được mục đích nghiên cứu sẽ có những đóng đóp sau:
- Vạch ra được những nét tương đồng và dị biệt trong mối quan hệ tam giáo dưới thời Lý - Trần và thời Tùy - Đường
- Góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ Tam giáo ở Việt Nam trong tương quan so sánh với Trung Quốc
Chương 3: Một số nhận xét, đánh giá về mối quan hệ giữa Nho - Phật - Đạo thời
Lý - Trần (Việt Nam) và thời Tùy - Đường (Trung Quốc)
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHO, PHẬT, ĐẠO Ở VIỆT NAM THỜI LÝ - TRẦN VÀ TRUNG QUỐC THỜI TÙY - ĐƯỜNG
1.1 Khái quát về Việt Nam dưới thời Lý - Trần và Trung Quốc thời Tùy - Đường
1.1.1 Tình hình chính trị - xã hội
1.1.1.1 Ở Việt Nam dưới thời Lý -Trần
Thời Lý - Trần nằm trong khoảng thời gian từ thế kỉ XI đến hết thế kỉ XIV với sự tồn tại của hai vương triều kế tiếp nhau đó là: Vương triều nhà Lý (1010-1225) và vương triều Trần (1226-1400) Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi, đặt niên hiệu là Thuận Thiên, cho dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long Từ đó, trải qua các triều vua, nhà Lý ra sức xây dựng, hoàn thiện dần bộ máy nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, xây dựng và củng cố khối đoàn kết dân tộc, lãnh đạo nhân dân chống ngoại xâm thắng lợi Chế độ nhà Lý là chế độ quân chủ tập quyền, quyền hành tập trung về triều đình trung ương đứng đầu là vua Nhưng đây chưa phải là chế độ quân chủ quan liêu chuyên chế theo mô hình Nho giáo mang tính chất nặng nề mà là chế độ quân chủ tập quyền mang tính dân tộc cao kết hợp với tinh thần Phật giáo, dựa trên sự cố kết xã hội lấy thôn xã làm cơ sở và chính sách thân dân của nhà vua Sang thời Trần, tổ chức bộ máy quan lại ở trung ương có bước hoàn thiện hơn thời Lý Khác với nhà Lý, nhà Trần đặt ra chế độ Thái thượng hoàng Các vua sớm truyền ngôi cho con trai trưởng (hoàng thái tử) nhưng
vẫn cùng với vua (con) trông coi chính sự, tự xưng là Thái thượng hoàng Nhìn
chung, bộ máy quan lại ở trung ương thời Lý - Trần cấu trúc theo ba cấp: trung ương, cấp hành chính trung gian, cấp hành chính cơ sở, và ngày càng có hệ thống, đầy đủ hơn Thời kì này, các quan lại chủ yếu đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc,
do đó có thể nói nhà nước thời Lý - Trần là nhà nước quân chủ quý tộc Về tổ chức quân đội và quốc phòng, nhà nước Đại Việt thời Lý - Trần rất chú trọng xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh Tổ chức quân đội có quy củ, chặt chẽ, đặc
Trang 8biệt chính sách “ngụ binh ư nông” có ý nghĩa tích cực trong công cuộc dựng nước
và giữ nước Về mặt pháp chế, thời Lý - Trần có bước tiến bộ, năm 1042, nhà Lý
biên soạn và cho ban hành bộ luật Hình thư, đây là bộ luật thành văn đầu tiên của
nhà nước quân chủ Việt Nam Đến thời Trần, pháp luật từng bước được đổi mới
Năm 1230, Trần Thái Tông đã cho soạn Quốc triều hình luật Về mặt xã hội thời
kì này, do sự phát triển kinh tế trong hoàn cảnh đất nước độc lập đã góp phần nâng cao đời sống nhân dân, và vừa thúc đẩy nhanh sự phân hóa xã hội Nhìn chung xã hội Đại Việt dưới các triều đại Lý, Trần tương đối ổn định Tuy nhiên, vào cuối thế kỉ XIV, vua quan quý tộc chấp chiếm ruộng đất, ăn chơi xa xỉ, không quan tâm đến cuộc sống nhân dân Do đó, nhiều cuộc đấu tranh của nông dân đã nổ ra
Còn trong công cuộc chống giặc ngoại xâm, thời đại Lý - Trần đã để lại
những trang sử hào hùng của dân tộc ta Trong thời kì này các vương triều Lý - Trần lãnh đạo nhân dân chiến đấu chống giặc ngoại xâm và giành được những chiến thắng vô cùng oanh liệt, cụ thể là: Cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi của quân dân Đại Việt (1075-1077) dưới thời Lý Sang thời Trần, trong vòng 30 năm (1258-1288) dân tộc ta đã ba lần đánh bại quân xâm lược Mông - Nguyên vào các năm 1258, 1285, 1288 Hào khí Đông A có được là nhờ âm hưởng của chiến thắng trên Có thể nói, hơn bảy thế kỉ đi qua, những chiến công của quân và dân Đại Việt thời Lý - Trần vẫn còn âm vang mãi theo dòng chảy bất tận của lịch sử
1.1.1.2 Ở Trung Quốc dưới thời Tùy - Đường
Thời Tùy - Đường nằm trong khoảng thời gian từ thế kỉ VI - đến thế kỉ X với sự tồn tại của hai vương triều kế tiếp nhau đó là: Vương triều Tùy (581-618)
và vương triều nhà Đường (618-907) Năm 581, Dương Kiên giành ngôi Bắc Chu đổi tên nước là Tùy, đóng đô ở Trường An Thời kì Tùy Văn Đế chấp chính, sử
gọi là: “Một chính quyền tốt được tôn sùng, pháp lệnh thì đơn giản trong sáng,
việc đánh nhau rất ít, thiên hạ rất hoan nghênh” [14; tr.141] Tùy Văn Đế đã trấn
áp hết các thế lực phiến loạn và bạo động, lấy việc hòa hoãn để giải quyết việc nội
Trang 9bộ của tập đoàn thống trị Mặt khác, ông cho thi hành các chính sách về chính trị,
xã hội nhằm xây dựng thể chế phong kiến nhà Tùy vững mạnh Những tài sản do nhân dân làm ra để phục vụ giai cấp thống trị thì nay nhà Tùy cũng đem phân phát bớt cho dân chúng để củng cố lòng tin vào chính quyền cai trị Do vậy xã hội tương đối ổn định Nhưng những tiến bộ trên chỉ ở triều đại Tùy Văn Đế, còn đến Tùy Dạng Đế lên kế vị thì hoàn toàn thay đổi
Năm 604, Tùy Dạng Đế Dương Quảng lên ngôi, đã thi hành một chính sách thống trị tàn bạo, ăn chơi xa xỉ, huy động hàng triệu dân xây dựng kinh đô Lạc Dương và vườn Tây Uyển, bắt dân đi phu phen tạp dịch nặng nề Tùy Dạng
Đế sống xa hoa dâm dật, ăn chơi đến quái lạ Nhân dân đương thời gọi là “Hoàng
Đế Huỳnh Quang” Để thỏa mãn thú vui, Tùy Dạng Đế bắt dân tìm hàng triệu con
đom đóm cho vào vườn Ngự uyển thay cho ánh đèn, tăng vẻ đẹp cho vườn lạ Đối với bên ngoài, Tùy Dạng Đế nhiều lần đưa quân gây chiến với các nước lân cận, đặc biệt là cuộc chiến tranh xâm lược Cao Ly Nhưng trước tinh thần chống trả quyết liệt của nhân dân Cao Ly, quân Tùy bị thất bại thảm hại Dưới thời Tùy Dạng Đế, cuộc sống của nhân dân rất cực khổ, vì thế các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống nhà Tùy liên tiếp nổ ra Năm 616, nhà Tùy diệt vong
Kế tiếp sau vương triều Tùy là sự thống trị của vương triều Đường Lợi dụng những thành quả của khởi nghĩa nông dân, lực lượng quý tộc quan liêu ở địa phương đứng đầu là Lý Uyên (Đường Cao Tổ), sau đó là Lý Thế Dân đã thu phục hầu hết cánh quân khởi nghĩa, tiêu diệt các lực lượng cát cứ, lập nên nước Đại Đường thống nhất vào năm 628 Trong thời gian 300 năm tồn tại với chính sách mềm dẻo, khôn khéo các vua nhà Đường đã xây dựng đất nước Trung Quốc hùng
mạnh, được lịch sử thừa nhận đây là thời kì “hoàng kim” trong lịch sử phong kiến
của dân tộc này
Về chính trị, nhà Đường tiếp tục củng cố chính quyền trung ương, làm cho
bộ máy cai trị phong kiến được hoàn chỉnh Các hoàng đế cử người thân tín cai
Trang 10quản các địa phương, đặc biệt giao cho các công thần hoặc người thân tộc giữ chức Tiết độ sứ, trấn ải các miền biên cương Phong trào chiến tranh nông dân cuối nhà Tùy và sự diệt vong của các triều đại trước đã cho Đường Thái Tông
những bài học kinh nghiệm quý báu Do đó, ông nhận thức được rằng: “Thuyền ví
như vua, nước ví dân như, nước có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền” [28;
tr.117] Chính nhờ nhận thức được như vậy, nên Đường Thái Tông đã thi hành nhiều chính sách có lợi cho dân Có thể nói, thời Đường Thái Tông là một trong những thời kì phát triển nhất của phong kiến Trung Quốc, chính trị được ổn định
gọi là “nền thịnh trị thời Trinh Quán” Để củng cố vững chắc nền thống trị của
mình, các vua triều đại Đường luôn ra sức duy trì sự thống nhất về chính trị, phát triển kinh tế, xã hội Sau đó, Võ Tắc Thiên cai trị (từ năm 690 - 705), đã tập trung mọi cố gắng nhằm xây dựng nền độc tài cá nhân để giữ vững quyền lực cai trị của mình Dưới sự thống trị của Võ Tắc Thiên cuộc sống của nhân dân lao động Trung Quốc càng thống khổ bởi nghĩa vụ lao dịch, binh dịch, thuế khóa ngày càng tăng Đến đời vua Đường Huyền Tông đã thi hành nhiều chính sách nhằm ổn định tình hình xã hội Về chính trị, ông chỉnh đốn lại bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương Những biện pháp trên làm cho trật tự xã hội ổn định, chính quyền nhà Đường vững vàng, kinh tế phát triển Trung Quốc bước vào thời kì phồn thịnh mà
lịch sử gọi là “nền thịnh trị thời Khai Nguyên”
Về đối ngoại, các vua Đường đã phát động nhiều cuộc chiến tranh xâm lược mở rộng lãnh thổ Nhà Đường đem quân lấn chiếm vùng Nội Mông ở phía Bắc, chinh phục Tây Vực, xâm lược bán đảo Triều Tiên, củng cố chế độ thống trị
ở “An Nam”, ép Tây Tạng phải thần phục Nhờ vậy, Trung Quốc dưới thời Đường trở thành một đế quốc phong kiến rộng lớn đương thời
Vào cuối đời Đường Huyền Tông, ông suốt ngày chìm đắm trong rượu và sắc đẹp, nhất là mê say Dương Quý Phi, không chăm lo triều chính Trong khi đó, thế lực của các tiết độ sứ ở vùng biên cương phát triển mạnh, mâu thuẫn giai cấp
Trang 11cũng như mâu thuẫn giữa trung ương và địa phương trở nên sâu sắc Trong hoàn cảnh trên, năm 755, An Lộc Sơn và Sử Tư Minh khởi binh chống lại nhà Đường gây nên một vụ phiến loạn lớn kéo dài tám năm, hậu quả trực tiếp làm cho nhân dân Trung Hoa phải chịu những tai họa thê thảm Loạn An - Sử là cái mốc đánh dấu nhà Đường từ chỗ thịnh trị bước vào thời kì suy yếu Từ đó trong triều đình bọn hoạn quan lũng đoạn quyền hành Ở địa phương các thế lực phong kiến cát cứ bành trướng và ngày càng không chịu sự khống chế của triều đình Do đời sống quá cực khổ, cuối nhà Đường, các cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tiếp bùng nổ
ở nhiều nơi Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa với quy mô lớn do Hoàng Sào lãnh đạo nổ ra vào năm 875 Mặc dù phong trào khởi nghĩa bị thất bại, không trực tiếp lật đổ được nền thống trị của nhà Đường, song nó làm cho nhà Đường lung lay đến tận gốc rễ Lợi dụng tình hình đó, các thế lực phong kiến quân phiệt địa phương nổi lên chiếm cứ các nơi trong nước Năm 907, Chu Ôn cướp ngôi nhà Đường, lập ra nhà Hậu Lương
1.1.2 Tình hình kinh tế
1.1.2.1 Ở Việt Nam dưới thời Lý - Trần
Kinh tế nông nghiệp là cơ sở của nhà nước phong kiến và của cả xã hội phong kiến Các triều đại Lý, Trần ở thời đi lên đều đặc biệt chú ý đẩy mạnh sự phát triển nông nghiệp Nhà nước không ngừng khuyến khích khai hoang, đẩy mạnh sản xuất do đó diện tích canh tác ngày càng gia tăng Mặt khác, các nhà nước Lý, Trần đều quan tâm tới việc đắp đê điều và bảo vệ sức kéo cho nông nghiệp Ngoài ra, thời kỳ này xuất hiện một loại hình kinh tế mới, đó là kinh tế điền trang, thái ấp Nhà nước bước đầu lấy một số ruộng đất thưởng cho những người có công Các vua Trần xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa, phò mã, chiêu tập những người phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn đất hoang, thành lập điền trang Chính những chính sách trên của nhà nước trung ương nhằm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp đã có tác dụng nhất định Nông
Trang 12nghiệp thời kì này khá phát triển, nhiều năm được mùa lớn, cuộc sống nhân dân khá ổn định Năm 1293, sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu sang nước ta đã viết bài
thơ An Nam tức sự, trong đó có câu: “Lúa mỗi năm chín bốn lần, tuy vào giữa
mùa đông mà mạ vẫn mườn mượt” [31; tr.85] Ngoài việc trồng lúa, nhân dân còn
trồng cây ăn quả, hoa màu và trồng dâu nuôi tằm, trồng bông…
Thủ công nghiệp dưới thời Lý - Trần đã phát triển nhanh chóng và có những tiến bộ lớn Lúc này ở nước ta, các nghề truyền thống như dệt lụa, gốm sứ, luyện kim, mỹ nghệ, chạm khắc, đúc đồng đều phát đạt Hàng thủ công thời kì ấy đạt chất lượng cao Gấm vóc có thể dùng để may lễ phục cho vua quan Đồ gốm vừa phong phú về loại hình, vừa đẹp và tinh xảo Nghề khai mỏ và luyện kim, chủ yếu là đồng và sắt, đã cung cấp nguyên vật liệu cho nhà nước đúc tiền, đúc chuông tượng, các binh khí trang bị cho quân đội
Dưới thời Lý - Trần, với sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp, trong hoàn cảnh đất nước độc lập, thống nhất và ngày càng mở rộng đã đẩy nhanh
sự phát triển của thương nghiệp Chợ làng, chợ huyện mọc lên ở nhiều nơi Giao lưu buôn bán các sản phẩm nông nghiệp, thủ công nghiệp ngày càng nhộn nhịp Các vua thời Lý, Trần đều cho đúc tiền để tiện cho việc trao đổi Thăng Long thời
Lý - Trần là một đô thị lớn với nhiều phố phường Về lĩnh vực ngoại thương, thời
kì này khá phát triển, nhà nước cho xây dựng nhiều bến cảng để buôn bán với nước ngoài Tại đây diễn ra cảnh buôn bán rất nhộn nhịp Năm 1149, nhà Lý cho xây dựng cảng Vân Đồn để buôn bán với nước ngoài Các thuyền buôn của Trung Quốc và các nước phương Nam đã qua lại buôn bán ở các vùng biển phía Bắc và miền Trung Đặc biệt, việc buôn bán giữa nước ta với Trung Quốc trong thời gian này rất phát đạt
Những thành tựu trên lĩnh vực kinh tế thời kì này đã tạo những cơ sở vật chất vững vàng cho sự tồn tại quốc gia độc lập tự chủ và mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền văn hóa dân tộc
Trang 131.1.2.2 Ở Trung Quốc dưới thời Tùy - Đường
Sau khi triều Tùy được thành lập, Tùy Văn Đế thi hành nhiều chính sách về kinh tế, nhằm khôi phục, phát triển sản xuất và xoa dịu mâu thuẫn giai cấp Đó là tiếp tục thi hành chế độ quân điền, giảm nhẹ tô thuế và lao dịch cho nhân dân, thống nhất tiền tệ… Triều đình đặc biệt chú ý đến đào mương, ngòi, sông lạch, nối sông Vị với sông Hoàng tạo nước tưới, đồng thời cũng tạo điều kiện cho việc thông thương Chính những chính sách đó, góp phần cho kinh tế bước đầu phát
triển Sang thời Tùy Dạng Đế hạ lệnh điều dân phu để đào “Đại vận hà xuyên suốt
bắc nam, dài tới bốn ngàn dặm” [11; tr.15] Tuy nhiên dưới thời vua Tùy Dạng Đế
cai trị, với sự xa hoa vô độ, cùng với những cuộc chiến tranh xâm lược đã làm cho kinh tế nông nghiệp bị tàn phá nặng nề, nhân dân đói khổ phải lưu tán và nổi dậy khởi nghĩa
Đến thời Đường, kinh tế phát triển cao hơn các thời đại trước về mọi mặt Nhà vua thi hành nhiều chính sách nhằm xoa dịu mâu thuẫn giai cấp và nhượng bộ đối với nông dân như thực hiện chế độ quân điền, lấy những đất đai bị bỏ hoang trong chiến tranh chia cho nông dân cày cấy Cùng với cải cách chế độ ruộng đất, Đường Thái Tông ban hành chế độ thuế khóa mới, giảm nhẹ lao dịch, hạn chế lãng phí,… làm cho nền kinh tế thực sự phát triển Ngoài ra, dưới thời Tùy - Đường,
nhà nước còn ban hành chế độ “tô, dung, điệu” Những chính sách tiến bộ của nhà
Đường, đã làm cho nông nghiệp thời kì này rất phát triển, sản lượng tăng nhiều hơn trước
Thủ công nghiệp dưới thời Tùy - Đường đạt được nhiều thành tựu đáng kể Nghề dệt tơ phát triển mạnh, ngày càng có nhiều mặt hàng mới ra đời Dưới thời Đường đã sản xuất ra được lụa in hoa và thêu kim tuyến Gốm sứ thời kì này đạt đến trình độ kĩ thuật rất cao, có loại sứ xanh như ngọc bích Nghề đóng thuyền thời Tùy và Đường rất phát đạt Ngoài ra, các nghề làm giấy, nghề in, làm đồ
Trang 14đồng, đồ sơn, dệt vải đay cũng đều phát triển Đặc biệt, do sự phát triển của nền thủ công nghiệp tư doanh, đến thời Đường tổ chức phường hội đã xuất hiện
Thời Tùy - Đường, nông nghiệp và thủ công nghiệp đều phát triển, nên thương nghiệp cũng phát đạt, nhất là ngoại thương Thời kì này Trung Quốc có quan hệ buôn bán với rất nhiều nước châu Á Dưới thời Đường, từ các tuyến
đường giao thông đã được hình thành trong các thế kỉ trước, “hai con đường tơ
lụa” trên bộ và trên biển cũng được mở rộng, do đó rất thuận lợi cho việc buôn
bán qua lại tấp nập Đặc biệt là dưới thời vua Đường Huyền Tông cai trị, đường
hàng hải phồn thịnh “Phía Nam thì thông với Inđonesia, Ấn Độ, Ba Tư Phía Bắc
thì thông với Triều Tiên, Nhật Bản” [14; tr.163] Quảng Châu là một cửa khẩu
mậu dịch lớn với người nước ngoài lớn nhất lúc bấy giờ Lái buôn nước ngoài bằng đường biển hoặc dùng lạc đà vượt sa mạc chở các thứ hàng quý như ngọc, hổ phách, mã não, ngà voi, thủy tinh, hồ tiêu… đến bán ở Trung Quốc Những thứ như vàng, bạc và sản phẩm thủ công nổi tiếng như lụa, đồ sứ, chè, đồ đồng, đồ sắt, giấy bút… của Trung Quốc được thương nhân nước ngoài mua chở về nước mình
Do công thương nghiệp của Trung Quốc phát triển sớm, nên thành thị cũng sớm trở nên đông đúc và nhộn nhịp Dưới các triều đại Tùy, Đường, thành thị phát triển rất phồn thịnh, tiêu biểu như Trường An, Lạc Dương, Quảng Châu Những người lái buôn thời kì này thường đi lại buôn bán bằng đường biển với các nước Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư
1.1.3 Tình hình văn hóa - tư tưởng
Trang 15Người ta có thể dễ dàng nhìn thấy sự phát triển văn hóa ngay từ lĩnh vực giáo dục và thi cử Sự xuất hiện ở thời Lý một nền giáo dục Nho học có tính chất thế tục do nhà nước phong kiến quản lý khác hẳn với nền giáo dục của nhà chùa trước đó, chính điều đó có một ý nghĩa to lớn đối với sinh hoạt văn hóa và tư tưởng của nước Đại Việt Vào năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu, mở khoa thi đầu tiên gọi là Minh Kinh bác học vào năm 1075, và lập Quốc Tử Giám vào năm
1076 Sang thời Trần, chế độ học tập và thi cử ngày càng chính quy hơn Nhà Trần
mở các khoa thi đều kì hơn thời Lý và còn bổ dụng các học quan để cai quản việc học hành ở các lộ phủ Ngoài ra, trong thời Lý - Trần còn có một số khoa thi Tam giáo
Bên cạnh đó, thắng lợi vĩ đại của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong thời kì này là một tác động tinh thần vô cùng to lớn đến đời sống văn hoá, nhất là văn học Văn học thời đại Lý - Trần mang âm hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa anh hùng Những thử thách lớn mang tính thời đại đã thổi vào đời sống văn hóa nói chung, văn học nói riêng cái không khí hào hùng, nó đã kết tụ tinh thần
của cả dân tộc thành những tác phẩm văn học tiêu biểu như: Chiếu dời đô, Nam
quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ Ngoài ra, còn có bộ phận văn học Phật giáo cũng
phát triển mạnh mẽ với nhiều tác phẩm đặc sắc Điều đáng chú ý là đến đời Trần, ngoài chữ Hán thì chữ Nôm được phổ biến và vận dụng rộng rãi trong văn học,
qua đó nó thể hiện tinh thần dân tộc của người Việt
Các lĩnh vực khác như nghệ thuật ca múa, kiến trúc, tạo hình, có những bước phát triển đáng kể, đậm đà tính cách dân tộc Trước hết, các ngành nghệ thuật sân khấu ca vũ nhạc xuất hiện những loại hình ca kịch như hát ả đào, hát chèo, hát tuồng Ngành kiến trúc và điêu khắc đạt được những thành tựu quan trọng Thời Lý -Trần các công trình Phật giáo được xây dựng, trong đó nổi tiếng
với “An Nam tứ đại khí ” (chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, vạc Phổ Minh,
tượng chùa Quỳnh Lâm) Bên cạnh nền văn hóa cung đình thì thời kì này còn tồn
Trang 16tại một nền văn hóa dân gian rất đa dạng và phong phú, phục vụ đời sống tinh thần của tầng lớp lao động Ở các địa phương, nhiều trò chơi trong lễ hội truyền thống thể hiện tinh thần thượng võ như bơi thuyền, đánh vật, đấu gậy, cướp cù rất thịnh hành
Cùng với những hoạt động nghệ thuật nói trên là sự xuất hiện của sử học Ngay từ thời Lý, công việc viết sử đã bắt đầu Đến thời Trần thì việc biên soạn lịch sử dân tộc được đẩy mạnh, nhiều bộ sử xuất hiện, tiêu biểu nhất là bộ Đại Việt
sử kí của Lê Văn Hưu Lúc bấy giờ, một số ngành khoa tự nhiên như thiên văn, lịch pháp, y học của dân tộc có những thành tích đáng lưu ý Cuối đời Trần có Đặng Lộ và Trần Nguyên Đán là những nhà thiên văn và lịch pháp nổi tiếng Riêng về y học, thời nhà Trần có nhà y học lỗi lạc là Tuệ Tĩnh
Về tư tưởng, tôn giáo dưới thời Lý - Trần, Nho giáo tuy đã được chấp nhận trên nguyên tắc, nhưng gặp phải một đối trọng có vai trò thế lực lớn mạnh là cơ tầng văn hóa thấm đậm tố chất Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Quần chúng bình dân làng xã vẫn gắn bó với thế giới tâm linh cổ truyền của mình bao gồm các tín ngưỡng vật linh, thần linh dị đoan và ma thuật gần gũi với phái Đạo giáo phù thủy bên Trung Quốc Phật giáo Đại Thừa có lúc được coi là quốc giáo bén rễ sâu vào tâm thức của các tầng lớp dân chúng và cả giai tầng thống trị Nhiều nhà vua và quý tộc thời Lý - Trần rất sùng Phật Nhìn chung đời sống tư tưởng thời kì này hết sức phong phú và phóng khoáng Đó là hiện tượng mà xưa nay thường được gọi là
“Tam giáo tịnh tồn” Bên cạnh đó, các tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ những
người có công với nước, với dân cũng rất phổ biến
Tóm lại, cũng như kinh tế, văn hóa thời Lý - Trần đã đạt đến một giai đoạn phát triển rực rỡ Đó là một nền văn hóa vừa mang đậm tính dân tộc, vừa biểu thị tính đa dạng, phóng khoáng, cởi mở, dung hợp mà trung tâm là văn hóa Thăng Long
Trang 171.1.3.2 Thời kì Tùy - Đường
Kế thừa những di sản văn hóa của Trung Quốc trước đó, trên cơ sở kinh tế,
xã hội phát triển và sự giao lưu văn hóa với bên ngoài, nhất là với văn hóa Ấn Độ, nhân dân Trung Hoa dưới thời Tùy - Đường đã sáng tạo ra những thành tựu văn hóa rực rỡ, độc đáo so với thế giới đương thời Nó biểu hiện trên tất cả các các lĩnh vực như văn học, nghệ thuật, tôn giáo, triết học và một số lĩnh vực kĩ thuật,
khoa học
Về khoa học, kĩ thuật với những kết quả đạt được trong các lĩnh vực luyện đúc gang thép; kĩ thuật làm giấy bằng tre, bạch đàn, rơm rạ và dùng trúc để chế tạo
giấy “trúc chỉ” Đặc biệt, kĩ thuật in ấn bằng bản khắc gỗ và kĩ thuật chế tạo thuốc
súng dưới thời Đường là hai trong bốn phát minh lớn nhất của Trung Quốc thời trung đại
Thời Tùy - Đường còn phát triển quan hệ giao lưu với các nước, dẫn đến sự
chú ý về địa lý học Sách “Tây vực địa chí của Hứa Kính Tông”, “Hải nội hoa di
đồ” của Giả Đam, thu hẹp kích thước để vẽ bản đồ, dẫn đến tiến bộ về khoa địa lý
Các nhà viết sử thời Tùy - Đường rất nhiều, trước tác cũng rất nhiều Ngoài ra,
Thiên văn học và số học thời kì này cũng tiến bộ rõ rệt “Nhà thiên văn học kiêm
số học Lý Thuần Phong đã làm bộ lịch thời Đường Cao Tông trở nên tỉ mỉ tinh tế”
[14; tr.176]
Chế độ khoa cử mà nội dung chủ yếu là căn cứ vào “tài học” để lựa chọn
người làm quan chính thức bắt đầu từ đời nhà Tùy Tùy Văn Đế lập khoa thi Tú tài; Tùy Dạng Đế lập khoa thi Tiến sĩ Đời Đường, chế độ khoa cử đại khái dựa theo nhà Tùy, nhưng tổ chức hoàn bị, quy mô hơn, đặt thêm các khoa Minh pháp, Minh tự, Minh toán Trong số các khoa, hai khoa Tiến sĩ, Minh kinh là chủ yếu
Văn học Trung Quốc thời kỳ này có nhiều thể loại như thơ, từ, phú, kịch, tiểu thuyết… trong đó tiêu biểu nhất là thơ Đường Trong gần 300 năm tồn tại,
Trang 18thời Đường đã để lại tên tuổi của trên 2000 nhà thơ với gần 50.000 tác phẩm, trong đó Lý Bạch (701-762), Đỗ Phủ (702-770), Bạch Cư Dị (772-846) là ba ngôi sáng của nền thi ca Đường Có thể nói, thơ ca Trung Quốc đến đời Đường đã có một bước phát triển nhảy vọt và đạt đến đỉnh cao, tạo ra một phong cách thi ca độc
đáo gọi là “Đường thi” Còn trong lĩnh vực điêu khắc và hội họa xuất hiện một số tác giả thiên tài: “Vẽ người, nhân vật của Ngô Đạo Tử, tranh sơn thủy của Vương
Duy, điêu khắc của Dương Húc đều là những tác phẩm huy hoàng của nghệ thuật Trung Quốc” [16; tr.178]
Về tình hình tôn giáo dưới thời Tùy - Đường, do tính chất đa dạng và sôi động của đời sống xã hội đã tạo ra sự phong phú và sống động trong đời sống tinh thần Thời kì này thịnh hành nhất vẫn là Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo Bên cạnh đó đạo Islam, đạo Kitô, đạo Mani đều được truyền vào Trung Quốc Trong lĩnh vực triết học, thời Tùy - Đường, Huyền học suy thoái, không còn đóng vai trò
là hệ thống trị xã hội, triết học của Nho giáo và Đạo giáo cũng đình đốn Triết học Phật giáo với ý nghĩa đạo đức nhân sinh và trí tuệ sâu sắc của nó đã có những bước tiến sâu xa về các mặt phân tích khái niệm, suy lý lô gích cũng như chiêm
nghiệm vũ trụ, nhân sinh… Bởi vậy, “cửa Nho đạm bạc, không giữ nổi nhân tài,
họ đều quy về họ Thích ” [6; tr.428]
Có thể nói, văn hóa thời kì Tùy - Đường, đặc biệt là dưới thời nhà Đường
đã góp phần tạo nên nét đặc sắc cho văn hóa Trung Quốc, đồng thời góp phần phong phú cho văn hóa thế giới Ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc thời kì Tùy - Đường đối với các nước lân cận như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc là rất đậm nét
1.2 Khái quát quá trình phát triển của Nho, Phật, Đạo ở Việt Nam thời Lý Trần và ở Trung Quốc thời Tùy - Đường
-1.2.1 Sự phát triển của Nho - Phật - Đạo thời Lý -Trần
Trang 19Dưới thời kì Lý - Trần, Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo vốn được du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc, đến đây có điều kiện tiếp tục phát triển Cụ thể đó là:
Thời Lý - Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh Phật giáo thời kì này có những bước phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Nó được biểu hiện ở các mặt sau đây:
Thứ nhất, số tín đồ phát triển rộng rãi trong cả nước, tầng lớp tăng sĩ đóng
vai trò quan trọng trong xã hội Thời Lý - Trần từ vua quan đến nhân dân đều theo đạo Phật Hoàng đế khai mở triều Lý là Lý Công Uẩn, chẳng những có lí lịch xuất thân gắn liền với nhà chùa mà còn có nhiều mối liên quan với Phật giáo Các vị vua nhà Lý - Trần nổi tiếng với đường lối nhân đức Có nhiều vị vua vừa là Phật
tử vừa là nhà Phật học uyên bác, tham gia vào việc thành lập các tông phái thiền… Thời kì này, số tăng ni Phật tử trong cả nước tăng lên rất nhiều Đặc biệt, tầng lớp tăng ni rất được đề cao trong xã hội và có nhiều nhà sư nổi tiếng như: Vạn Hạnh,
Đa Bảo, Viên Thông, Trí Thông, Pháp Loa…
Thứ hai, tông phái ngày càng phát triển Đến thời Lý - Trần, ngoài hai phái
Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Vô Ngôn Thông ra đời từ trước thì còn thêm hai phái
đó là phái Thảo Đường và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Thứ ba, việc xây dựng chùa tháp, tạc tượng, đúc chuông Phật đặc biệt được
coi trọng Có rất nhiều chùa tháp với quy mô to lớn và kiến trúc độc đáo như: chùa Phật Tích, chùa Đại Lãm, chùa Một Cột Ngoài ra sự phát triển của đạo Phật thời
kì này còn thể hiện qua việc các vua thường tổ chức những cuộc tế lễ rất quan trọng Tuy nhiên, vào cuối triều Trần, Phật giáo bị suy giảm dần trên địa hạt chính trị nhường chỗ cho Nho giáo
Bên cạnh Phật giáo, Đạo giáo dưới thời Lý - Trần cũng rất phát triển Cụ
thể, trong guồng máy nhà nước, từ triều đình trung ương đến địa phương có một
bộ phận quan lại xuất thân là Đạo sĩ Thời kỳ này, số lượng đền miếu, Đạo quán được xây dựng ngày càng nhiều, quy mô cũng rất đa dạng
Trang 20Bên cạnh tăng quan có cả chức đạo quan Ở thời kì này, các đạo sĩ của Đạo giáo giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh Họ được triều đình mời đi trấn yểm các núi sông trong nước, vào cung làm lễ tống trừ ma quỷ đêm ba mươi tết,
làm phép cầu đảo chống hạn, giảng giải cho vua về phép tu luyện “sự kiện vua
Trần với đạo sĩ núi Yên Tử đi về kinh hỏi phép tu luyện ” [15; tr.437] Vua Trần
cũng thi hành chính sách phong chức Tả nhai cho những đạo sĩ thông thạo tôn giáo của mình Trong xã hội, số lượng các Đạo sĩ, Pháp sư, chân nhân, thầy cúng, thầy phù thủy khá đông Họ thực sự là một lực lượng gắn bó chặt chẽ với xã hội đương thời Cùng với hàng loạt những người tu hành theo Phật giáo, các đạo sĩ đã tham gia vào quá trình điều khiển đời sống tư tưởng của các tầng lớp nhân dân Trong dân gian, Đạo giáo càng thịnh Không chỉ trong cuộc sống thường
ngày, mà cả trong văn học cũng thấm đượm tinh thần của Đạo giáo, “được thể
hiện qua sách Lĩnh Nam Chích Quái, chuyện Từ Thức kết duyên với nàng tiên Giáng Hương rất phổ biến, ly kỳ” [12; tr.14] Qua đó nói lên tầm ảnh hưởng của
Đạo giáo
Còn Nho giáo dưới thời Lý - Trần có thể coi là thời kì bước đầu phát triển
của nó ở Việt Nam Điều đó được thể hiện qua việc quán triệt tư tưởng triết học,
đạo đức của Nho giáo Theo thuyết “mệnh trời” và thuyết “thiên nhân cảm ứng”,
bản thân việc nhà Lý thay thế nhà Lê được tuyên truyền là làm theo mệnh trời Hoặc sau khi lên làm vua Lý Công Uẩn đã đặt niên hiệu là Thuận Thiên cũng
muốn thể hiện rằng việc làm của mình là do vâng mệnh trời “Để đề cao trung
hiếu, Lý Thái Tông (1028 - 1054), ngay khi mới lên ngôi đã tổ chức cho các quan làm lễ tuyên thệ ở miếu Đồng Cổ Lời thề viết: “làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết” ” [12; tr.7] Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng sâu sắc
của Phật giáo, thời kì Lý - Trần việc thực hiện các quan niệm đạo đức của Nho giáo trong triều chính chưa thật chặt chẽ Nhiều triều vua Lý - Trần thi hành đường lối chính trị nhân chính, thường tỏ ra rất nhân từ trong việc trị nước Như vậy, mặc dù dưới thời Lý, Nho giáo được nhà nước chấp nhận là một thành tố của
hệ tư tưởng Nho - Phật - Đạo; mở mang nền giáo dục khoa cử Nho học và như
Trang 21Trần Văn Giàu khẳng định: “Nhà Lý ngày càng dựa vào Nho giáo”, nhưng Nho
giáo vẫn giữ một địa vị khá khiêm tốn Sự phát triển của Nho giáo thời Lý - Trần được biểu hiện rõ rệt ở mặt giáo dục và thi cử Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ hình thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế, Hoàng Thái tử được đưa đến đây để học tập Năm 1075, lần đầu tiên nhà Lý mở khoa thi Minh kinh bác học và thi Nho học Tam trường Sang thời Trần, Nho giáo phát triển hơn so với thời Lý Do nhu cầu đào tạo nhân tài cho đất nước, ở thời Trần các khoa thi được mở đều đặn hơn
Có thể thấy, đến thời Lý - Trần, Nho giáo bắt đầu có chỗ đứng trong xã hội Tuy vậy, trong thời gian này Nho giáo chủ yếu được tiếp thu trong tầng lớp cầm quyền, ở triều đình và cả lộ phủ, còn trong dân gian Phật giáo, Đạo giáo vẫn giữ vai trò chủ đạo và có ảnh hưởng sâu đậm hơn nhiều so với Nho giáo Tuy nhiên theo thời gian, mặc dù cùng tồn tại với Phật giáo, nhưng Nho giáo thời Trần lại có
xu hướng phát triển ngược lại với Phật giáo
1.2.2 Sự phát triển của Nho - Phật - Đạo thời Tùy - Đường
Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức, ra đời ở Trung Quốc thời cổ đại do Khổng Tử sáng lập Nho giáo đã phát triển qua những thời đại khác nhau, mỗi giai đoạn đều có người đại diện kế thừa, phát triển hoàn thiện học thuyết Thời Hán Vũ Đế đã cho độc tôn Nho giáo Từ đó, Nho giáo đã trở thành ý thức hệ chính thống và làm công cụ cho việc xây dựng, bảo vệ, củng cố chế độ phong kiến Trung Quốc Dưới thời Tùy - Đường, Nho giáo nhìn chung vẫn chiếm được địa vị chủ đạo Các triều đại Tùy - Đường đều dùng Nho giáo làm vũ khí văn hóa và tinh thần để cai trị Các vị vua nhà Tùy đã cho xây dựng trường học khắp nơi trên toàn quốc, Nho giáo có điều kiện phát triển Bên cạnh đó, các nhà Nho thời kì này còn tiến hành sưu tập được nhiều kinh điển cổ đại Tới đời Đường,
Nho giáo lại tiếp tục được chấn hưng “Năm thứ hai triều Đường dựng nước, Lý
Uyên xuống chiếu lệnh cho xây miếu thờ Chu Công, Khổng Tử trong trường Quốc
Trang 22tử (…) Lý Uyên tự thân đến miếu Chu Công tôn Khổng Tử làm “tiên sư” thờ phối hưởng với Chu Công” [27; tr.689-690] Vào đời Đường Thái Tông ra lệnh mỗi
tỉnh, mỗi làng phải dựng một Khổng miếu để các nhà Nho và các quan tới tế một năm Ngoài việc phát triển chế độ tế lễ Khổng miếu ra, Nho giáo thời kì này có
bước phát triển mới, đó là sự ra đời của bộ “Ngũ kinh chính nghĩa” Đây là tác
phẩm chung của các nhà Nho nổi tiếng đầu thời Đường, tập trung phản ánh toàn
bộ diện mạo Nho học thời kì này Tuy nhiên vào thời kì Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên, Nho giáo dần dần giảm sút Sách “Cựu Đường thư - Nho học truyện”
mô tả giai đoạn này như sau: “Cao Tông nối ngôi, tông giáo chính trị dần dần sa
sút, xem nhẹ Nho thuật…Đến khi Tắc Thiên lên nắm quyền, dùng quyền đạo ép xuống, không tiếc gì quan tước, để mua lòng đương thời… Trong khoảng hai mươi năm, trường học lập tức bị phế bỏ ” [27; tr.700] Tiếp đó, sau khi Đường Huyền
Tông nối ngôi, ông đã cho chấn hưng Nho học Ngoài việc khôi phục trường học, tăng số người học lên nhiều, ông còn hạ chiếu cho các nhà Nho hiệu đính cổ văn
“Hiếu kinh” và “Thượng Thư” Loạn An Lộc Sơn và Sử Tư Minh không những
làm triều Đường suy yếu mà còn làm cho Nho giáo cũng suy yếu theo
Đạo giáo là một tôn giáo bản địa của Trung Quốc Đạo giáo được hình thành trong phong trào nông dân khởi nghĩa vùng Nam Trung Hoa vào thế kỉ II công nguyên, cơ sở lý luận của nó là Đạo gia - Triết thuyết do Lão Tử đề xướng và Trang Tử hoàn thiện (học thuyết Lão - Trang) Dưới thời nhà Tùy, với chính sách ủng hộ Đạo giáo của các vua nhà Tùy, Đạo giáo rất phát triển Đến đời Đường, Đạo giáo phát triển đạt đến giai đoạn đỉnh cao trong gần ba trăm năm triều đại này thống trị Các hoàng đế đời Đường đặc biệt coi trọng Đạo giáo Một số vua thời Đường tự nhận là hậu duệ của Lão Tử, coi Đạo giáo là đạo chính thống của hoàng gia, đặt Đạo giáo trên đạo Nho, đạo Phật, tôn Lão Tử làm Thái thượng Huyền
nguyên Hoàng đế “Đời Đường Huyền Tông đã có tới 1687 Đạo quán được xây
khắp nơi Bộ Đạo tạng (tổng tập kinh sách của Đạo giáo) đầu tiên cũng được hoàn thành dưới thời Đường Huyền Tông mang tên Khai Nguyên Bảo tạng gồm
Trang 233744 quyển” [32; tr.115-116] Đến đời Đường, chẳng những Lão Tử được tôn thờ,
mà thực tế “Đạo đức kinh” cũng trở thành kinh điển tối cao Thời kì này, người
thông hiểu Đạo kinh cũng giống như người thông hiểu Nho kinh đều được dự các cuộc thi quốc gia để trở thành quan lại Trong một thời gian dài, Đạo giáo luôn có nhân vật tham dự vào triều đình, giao kết với các vương hầu, tham gia quản lý quốc gia Giữa khoảng Tùy và Đường, một số đạo sĩ giảng kinh, chủ yếu viện dẫn
Lão Tử Đạo giáo đời Đường, chuyển hướng coi các sách “Lão Tử”, “Trang Tử”,
là kinh điển cơ bản, họ giải thích mới lại học thuyết thần tiên, coi “thần tiên” là trung tâm của đắc đạo, họ tiếp thu rất nhiều quan niệm và tư tưởng của Phật giáo,
để xây dựng học thuyết tâm tính của riêng mình, từ đó lý luận của Đạo giáo ngày càng trưởng thành Về phương thuật, vẫn là một bộ phận quan trọng kết hợp nên hoạt động tông giáo của Đạo giáo Được xã hội thượng tầng ủng hộ, nội dung cơ bản của phương thuật là các thuật luyên đan, phục khí đều được phát triển mau lẹ, xuất hiện rất nhiều trứ tác phục khí và đan thuật
Khác với Đạo giáo, Nho giáo là những học thuyết, tôn giáo bản địa của Trung Hoa, Phật giáo là tôn giáo ngoại lai từ Ấn Độ truyền sang Về niên đại Phật
giáo du nhập vào Trung Quốc có nhiều quan điểm khác nhau: “Trong đó có quan
điểm cho rằng Phật giáo vào Trung Quốc từ thế kỉ II trước Công nguyên Song tất
cả các học giả nghiên cứu Phật giáo Trung Quốc đều cho rằng Phật giáo từ Ấn
Độ truyền vào Trung Quốc rõ rệt nhất từ thời Hán Minh Đế, niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10, tức là vào khoảng năm 67 sau Công nguyên” [6; tr.432-433] Sự du
nhập Phật giáo từ Ấn Độ vào Trung Hoa là một quá trình lâu dài, chậm chạp với nhiều hình thức khác nhau Ban đầu, phạm vi ảnh hưởng của Phật giáo còn nhỏ hẹp thế nhưng sau một thời gian cố gắng tìm mọi cách nhằm thích ứng, hội nhập với văn hóa truyền thống bản địa, đến thời Tùy - Đường đã đạt được những bước phát triển chưa từng thấy và đã hình thành nhiều tông phái mang đậm màu sắc Trung Hoa
Trong ba mươi năm trị vì đất nước, các vua nhà Tùy đã rất quan tâm, bảo
hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc phục hưng Phật giáo Vua cho xây dựng
Trang 24hàng loạt các chùa mới ở các địa phương, trùng tu và xây dựng các trung tâm Phật giáo, hạ chiếu cho dân chúng được tự do xuất gia Vì vậy, số chùa chiền và tăng ni
tăng lên rất nhanh “Thời Tùy có bốn, năm ngàn ngôi chùa, hơn 2000 tăng ni Kinh
Phật dịch ra chữ Hán gồm 2000 bộ, hơn năm, sáu ngàn quyển Uy thế Phật giáo được phục hồi Các tổ chức giáo hội Phật giáo trở lại hoạt động bình thường ” [6;
tr.455] Phật giáo thời Tùy đã thoát khỏi sự ảnh hưởng của tư tưởng truyền thống, không lệ thuộc vào việc chú giải, phiên dịch, và nó tạo nền tảng căn bản cho sự phát triển đến đỉnh cao ở thời nhà Đường
Sang thời nhà Đường được sự bảo hộ của các nhà vua, Phật giáo hưng thịnh
và phát triển đến đỉnh cao nhất của mình trong lịch sử Trung Quốc Các vị đế vương, quan lại, các tầng lớp thượng lưu đều tin sùng Phật giáo, biến triết lý Phật giáo thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc Thời kì này còn diễn ra phong trào hành hương sang Ấn Độ của người Trung Quốc để học hỏi và tìm kiếm kinh sách với một số nhân vật tiêu biểu như ngài Huyền Trang, Nghĩa Tịnh…
Sự phát triển của Phật giáo thời kì này thể hiện trên tất cả các mặt như uy thế của nó trong xã hội, sự nghiệp phiên dịch, số lượng chùa chiền tăng ni, tổ chức
giáo đoàn và lý luận cơ bản về triết lý “Thời Đường có hơn 40.000 ngôi chùa,
300.000 tăng ni, nhà chùa chiếm hơn ngàn vạn khoảnh đất, nô lệ ở chùa là 150.000 người Tính đến đời Đường thì kinh Phật dịch ra chữ Hán đã được 2000
bộ với hơn 67000 quyển” [6; tr.457]
Từ đời Tùy đến đời Đường đã xuất hiện tám tông phái Phật giáo lớn: Tam luận tông, Thiên đài tông (thời Tùy), Pháp tướng tông, Hoa nghiêm tông, Tịnh độ tông, Luật tông, Mật tông, Thiền tông (thời Đường) Nội bộ mỗi tông phái đều có một hệ thống giáo lý và phương pháp tu tập khá hoàn chỉnh, trong đó có phần kế thừa những yếu tố thành phần vốn có của Phật giáo Ấn Độ, cũng lại có những yếu
tố thành phần du nhập từ Nho giáo, Đạo giáo và quan trọng hơn là “có những nội
dung mới hình thành qua việc dung hợp phát huy những tinh hoa của các thành
Trang 25phần yếu tố nói trên” [32; tr.132-132] Tuy nhiên, sau vụ loạn An Lộc Sơn và tiếp
sau đó là thời gian dài chiến tranh dẹp loạn, Phật giáo lại xảy ra những biến động lớn Các tông phái của Phật giáo đều suy yếu, chỉ có Thiền Tông mau chóng phát triển mạnh Chính từ đầu mối này, Phật giáo Trung Quốc hầu như đều được quy kết vào cửa của Thiền Tông Thiền Tông trở thành tông phái phổ biến nhất của Phật giáo ở xã hội Trung Quốc, nó là sản phẩm kết tinh của thiền Ấn Độ bí ẩn và cao siêu với tinh thần thực tế của người Trung Hoa
Như vậy, dưới thời Tùy - Đường, Phật giáo, Đạo giáo đều phát triển hơn so với Nho giáo Chính sự phát triển của hai tôn giáo này đã bộc lộ mâu thuẫn với lợi ích quốc gia Xử lý mối quan hệ với Phật giáo và Đạo giáo là vấn đề cần phải suy nghĩ của Nho giáo và chính quyền thời kì này
Chương 2 NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHO - PHẬT - ĐẠO THỜI LÝ - TRẦN (VIỆT NAM) VÀ THỜI TÙY - ĐƯỜNG (TRUNG QUỐC)
Trang 262.1 Những nét tương đồng trong mối quan hệ Tam giáo
2.1.1 Sự dung hợp tam giáo với nhau là chủ yếu
Đặc điểm nổi bật trong sinh hoạt văn hóa tư tưởng thời Tùy - Đường là Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đều được lưu hành và đều được nhà nước ủng hộ, không có cái nào là độc tôn Thời kì này cả Nho lẫn Đạo đều không khỏi ít nhiều
bị ảnh hưởng bởi triết lý Phật giáo và ngược lại Thời Tùy, sự thống nhất nội bộ
của giai cấp địa chủ được biểu hiện trên mặt ý thức bằng khuynh hướng “điều hòa
tam giáo” Vương Thông - một học giả tự xưng là nối chí Chu Công, Khổng Tử,
Mạnh Tử - giải thích rằng học thuyết của ba giáo đều có chỗ đáng theo, còn những cái xấu sinh ra đều không phải từ nguyên lý của các giáo ấy Tư tưởng của Vương Thông có tác dụng mở đầu cho ba trăm năm học thuật đời Đường; các công thần của Đường Thái Tông phần đông là học trò của Vương Thông Dưới thời Đường, Nho giáo không độc tôn, mà Đạo giáo và Phật giáo nhiều lúc đóng một vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cũng như trong sinh hoạt chính trị, chẳng
những ở nhân dân mà ngay ở triều đình, cung điện “Bắt đầu từ đời Đường Cao Tổ
Lý Uyên, thường thường cho tụ họp nhân sĩ Nho, Phật, Đạo giáo bàn về giáo nghĩa các tông giáo Phật giáo giảng về “Bát Nhã kinh”, Đạo giáo giảng về sách
“Lão Tử”, các học giả Nho giáo giảng “Hiếu kinh” ” [27; tr.699] Lý Cao khi
phát triển nhân tính luận của Nho gia đã viện dẫn lý luận Phật tính của Thiền tông,
đề xuất thuyết “diệt tình phục tính” cũng như các nhà Thiền học cho rằng ai ai
cũng có Phật tính, chỉ cần diệt trừ suy nghĩ xấu xa, lệch lạc là có thể thành Phật
Thời kì này tư tưởng tam giáo đồng nguyên còn thể hiện trong tư tưởng của thiền
sư Tông Mật Ông là tổ thứ 5 của phái Hoa Nghiêm Tông, không những chủ trương Thiền, Đạo nhất trí mà còn nêu Nho, Thích cùng một nguồn mà ra Ông
nói: “Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca đều là chí thánh, tùy thời đem ứng dụng vào
vật, giáo lý tuy khác đường, nhưng nội ngoại đều có thể hỗ trợ cho nhau, cùng có lợi cho quần sinh Muôn việc cần đến đều có thể dựa vào Tam giáo” (Hoa Nghiêm
Trang 27nguyên nhân luật)” [40; tr.12] Theo giáo sư Trần văn Giàu: “Thuyết “tam giáo đồng nguyên”,“tam giáo hợp nhất”của Liễu Tôn Nguyên ảnh hưởng khá lớn ở Việt Nam ta” [15; tr.80] Trong dân gian Trung Quốc, Nho giáo, Phật giáo, Đạo
giáo thường thường thống nhất thành một khối gọi là Tam giáo Người dân theo đạo Phật như một tôn giáo, nhưng khi phải cầu tài, tránh họa thì cầu đến Thái Thượng Lão Quân (Lão Tử), còn trong đời sống xã hội họ lại là học trò của Khổng
Tử
Còn ở nước ta, dưới thời Lý - Trần sự “dung hợp” Nho - Phật - Đạo được biểu
hiện rất rõ rệt Trong giai đoạn lịch sử này, văn hóa Đại Việt có sự giao lưu và hội nhập giữa ba thành tố Phật, Đạo và Nho Đây vốn là ba hệ tư tưởng, tôn giáo ngoại lai nhưng đều du nhập vào đời sống tinh thần của người Việt từ rất sớm và mặc nhiên trở thành các hệ giá trị văn hóa dân tộc Nhìn chung, các nhà nước Lý, Trần
đã chủ trương một chính sách khoan dung hòa hợp và chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng, tôn giáo Thời kì này dù Phật giáo rất được đề cao nhưng với bản chất giáo lý và cách thức truyền bá, Phật giáo chủ trương hòa đồng với các tôn giáo khác trong xã hội Do đó, có thể nói giữa Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo có
mối quan hệ hòa hợp với nhau Thời kỳ Lý - Trần, “Tam giáo tịnh hành”, hội nhập
Tam giáo trên cơ sở lấy Phật giáo làm bản vị Giai đoạn Lý -Trần, Nho giáo còn đang ra sức tạo ảnh hưởng, cố vươn lên vị trí độc tôn Bối cảnh tam giáo quân bình thời đó là sự buộc phải chấp nhận đối với Nho giáo khi mà nó chưa đủ sức để cải thiện vị trí của mình cả trên trường chính trị cũng như xã hội Như vậy, sự dung hợp tam giáo là một thực thể được hình thành trong tình cảm và việc làm của người dân Thời Lý - Trần, được chính quyền công nhận, triều đình tổ chức những
kì thi tam giáo để tìm những người thông thạo cả ba giáo lý ra giúp nước
Đặc biệt hội nhập Tam giáo ở trong thời kì này đã đi đến một hệ quả đó là hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên” Quan niệm Tam giáo đồng nguyên đã thể
hiện qua lời vua Lý Nhân Tông nói với Mãn Giác: “Bậc chí nhân thị hiện tất phải
làm việc cứu giúp chúng sinh, không hạnh nào là không cần có đủ, không việc gì
Trang 28không phải chăm lo chẳng phải chỉ sức định tuệ mà cũng có công giúp ích nên phải kính nhận nó” [25; tr.216] Lời nói trên nêu rõ về con người lý tưởng trong xã
hội Đó là con người có trí tuệ sáng suốt của bậc giác giả (tri), lại biết đem đức hạnh và tài sức ra giúp nước cứu dân (hành); con người ấy, xong việc rồi lại tự tại tiêu dao như kiểu Trang Tử Sử sách cũng cho biết rằng nhà vua tuy là người sùng
mộ đạo Phật, nhưng lại chú trọng đến Nho Còn trong tác phẩm Khóa hư lục của
Trần Thái Tông khuyến khích người ta thực hiện được sự kiến tính tại tâm theo
tinh thần hòa hợp tam giáo: “Nào biết bồ đề giác tính, ai nấy viên thành; hay đâu
trí tuệ thiện căn, người người đều đủ (…) Người chưa hiểu chia bừa tam giáo; giác ngộ rồi cùng thấu một chữ tâm” [25; tr.216] Ở bài Phổ khuyết phát bồ đề tâm, nhà vua cho rằng Khổng Tử, Thích Ca và Lão Tử đều như nhau với những tư
tưởng hoạt động gần nhau, bởi Đạo chỉ có một mà thôi: “Tuy nhiên nói thân mệnh
là đáng trọng nhưng cũng còn chưa trọng bằng cái đạo tối cao Cho nên Khổng
Tử nói: Sớm nghe đạo, chiều có thể chết được rồi Lão Tử nói: Ta sở dĩ có điều to lớn là vì ta có cái thân Đức Thế Tôn cầu đạo, quên mình cứu hổ Há chẳng phải
ba bậc thánh nhân khinh thân mình mà trọng đạo đó sao?” [25; tr.217]
Chủ trương kết hợp Phật giáo với Nho giáo và Đạo giáo còn thể hiện ở vua Trần Nhân Tông Tiêu biểu đó là khi truyền y bát cho Pháp Loa kế thừa làm tổ thứ
hai của Thiền phái Trúc Lâm, ông đã trao cho Pháp Loa “hai mươi hộp Đại Tạng
Kinh Phật giáo cùng với một trăm hộp Kinh ngoại sử ” [35; tr.60] Điều đó chứng
tỏ đến đời Trần Nhân Tông, mối quan hệ khăng khít giữa Tam giáo, lấy Phật giáo làm nền tảng đã phát triển tới đỉnh cao
Như vậy, qua việc phân tích trên ta có thể thấy rằng sự dung hợp tam giáo là chủ yếu chính là điểm tương đồng đầu tiên trong mối quan hệ tam giáo giữa hai thời kì này Và hệ quả của quá trình hội nhập Nho - Phật - Đạo ở hai thời kì này
đều đã dẫn đến sự tồn tại của hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên”
2.1.2 Sự bài xích, phê phán lẫn nhau trong Tam giáo ở giai đoạn cuối
Trong khi khẳng định Phật, Đạo, Nho cùng tồn tại và phát huy ảnh hưởng trong hai thời đại Lý - Trần và Tùy - Đường, không có nghĩa là ba hệ tư tưởng, tôn
Trang 29giáo đó trước sau vẫn chung sống hòa bình, không cạnh tranh bài xích lẫn nhau Bản thân chúng trong quá trình lâu dài thâm nhập vào đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam và Trung Hoa, từng phải vất vả gạt bỏ những trở ngại để giành chỗ đứng, cũng như phải trải qua không ít bước thăng trầm Cuộc cạnh tranh sinh tồn không những diễn ra trong giai đoạn trước đó mà vẫn còn diễn ra ngay dưới thời
Lý - Trần và Tùy - Đường Bằng nhiều hình thức ôn hòa hoặc có khi gay gắt, Phật, Đạo, Nho, mà chủ yếu là Phật và Nho, từng bày tỏ tinh thần không chấp nhận, phủ định sự hiện diện của nhau, để khẳng định chỗ đứng của mình Đặc biệt là vào giai đoạn cuối của cả hai thời kì này đều diễn ra sự bài xích, phê phán lẫn nhau giữa Tam giáo Mà cụ thể ở đây đó là Nho giáo đã phê phán, bài xích những lưu tệ của
Phật giáo
Ở Việt Nam cuộc đấu tranh giữa đạo Nho và Đạo Phật có mầm mống từ
cuối thời Lý Đàm Dĩ Mông lên án tín đồ nhà Phật như sau: “tự kết bè lũ, ngang
nhiên rượu thịt ngay nơi tịnh xá, gian dâm tại chốn tăng phòng, tịnh viện là làm bại hoại phong tục, phương hại giáo lý, nếu không cấm sẽ thành tệ ” [3; tr.526]
Tất nhiên sự phê phán này chưa phải là tiếng nói của một trào lưu chống Phật Phải đến thế kỉ XIV, sự phê phán Phật giáo mới trở thành một trào lưu phổ biến với hàng loạt các nhà Nho như Lê Văn Hưu, Lê Quát, Trương Hán Siêu… Họ phê phán nhà chùa là nơi chứa chấp những kẻ lười biếng, trốn tránh nghĩa vụ đối với
nhà nước; tín đồ nhà Phật làm những chuyện khả ố Lê Văn Hưu tỏ thái độ với đạo
Phật qua lời bàn về ông vua đầu của triều đại nhà Lý như sau: “Lý Thái Tổ lên
ngôi mới được hai năm, tôn miếu chưa dựng, xã tắc chưa lập, mà trước lo xây tám ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, lại lo sửa chữa chùa ở các lộ và cấp độ diệp cho hơn ngàn người ở kinh đô làm tăng; thế thì đã tiêu phí của cải và sức dân về việc thổ mộc biết chừng nào mà kể (…) cho nên đời sau mới xây tường cao ngất trời, tạc cột chùa bằng đá” [15; tr.63] Còn Trương Hán Siêu và Cao Bá Quát lại mượn
mặt bia của nhà chùa để bài xích đạo Phật Trong văn bia chùa Khai Nghiêm (Bắc
Giang), Trương Hán Siêu viết: “… Hiện nay, những kẻ giảo hoạt trong bọn sư sãi
Trang 30chỉ chăm lo chiếm những nơi đất tốt, cảnh đẹp, tự dát vàng nạm ngọ c cho chỗ ở của chúng rực rỡ (…) Đã là kẻ sĩ đại phu, nếu không phải đạo Nghiêu Thuấn, không bày tỏ trước vua; không phải đạo Khổng Mạnh, không trước thuật” [44;
tr.145] Lê Quát soạn trên mặt bia chùa Thiên Phúc (Bắc Giang): “Đạo Phật lấy
phúc họa cảm động người ta mà sao được lòng người sâu xa bền chặt đến thế! Trên từ vương công dưới đến dân thường hễ đối với việc Phật dẫu hết của cũng không tiếc (…) Cho nên trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ, thôn cùng ngõ hẻm, không có lệnh mà theo, không phải thề mà tin, chỗ nào có người ở là có chùa, đổ rồi lại dựng, nát rồi lại sửa ” [44; tr.145]
Cũng giống như ở Việt Nam, Trung Quốc trong cuộc đấu tranh chống lại Phật giáo thời kì Tùy - Đường, các đại sĩ phu (quan viên Nho giáo) đã phê bình những sai lầm, tệ hại của Phật giáo Mục đích việc này không phải là muốn tiêu diệt Phật giáo, mà là để ngăn chặn việc các vua chúa tiêu tốn lãng phí tài sản quốc gia vào việc xây dựng chùa tượng Họ muốn để vua quan thấy rằng làm thế nào thì mới có thể phù hợp với giáo lý nhà Phật, lại vừa có lợi cho sự thống trị quốc gia
Họ cho rằng, tài sản quốc gia cần dùng vào việc củng cố quốc phòng và nông nghiệp Trong đó, tể tướng Địch Nhân Kiệt thời Võ Tắc Thiên là một đại diện tiêu biểu Vào mùa thu năm 700, Võ Tắc Thiên tu sửa Đại Phật, chi phí dự tính đến hàng trăm vạn lạng, hoàng cung chẳng thể nào gom đủ số tiền lớn như vậy, do đó toàn dân trăm họ phải góp tiền dựng tượng Địch Nhân Kiệt bèn trình một bản tấu
“Sớ can gián dựng tượng” lên Võ Tắc Thiên Ông cho rằng: “Quy mô xây dựng tự
viện hiện nay tương đương với hoàng cung, mà chi phí xây dựng trên thực tế là đều bắt ép nhân dân đóng góp Điều này hoàn toàn trái ngược với tư tưởng “yêu quý nhân dân” của Nho giáo, và cũng không phù hợp với đạo trị quốc” [48] Đồng
thời Địch Nhân Kiệt còn lấy những hiện tượng hủ bại của bản thân các vị sư để làm lý do để phản đối việc xây dựng chùa tượng Ông cho rằng một số tăng nhân thời bấy giờ mượn danh nghĩa Phật giáo, lừa gạt tiền tài của mọi người, có tăng nhân thậm chí còn không tuân thủ giới luật, tự mình lấy vợ, có trường hợp làm hòa
Trang 31thượng nhằm trốn tránh sưu thuế Những vị sư như thế không có điểm lợi nào cho quốc gia Ngoài ra, còn có những người có cùng quan điểm trên với Địch Nhân Kiệt và đều viết các bản tấu chương can gián nhà vua không nên phung phí tiền của xây dựng chùa chiền như: Tô Khôi, Trương Đình Khuê, Vi Tự Lập, Tân Thế
Phủ, Lý Nguyên Thái…
Còn dưới đời vua Đường Hiển Tông, vào năm 803 các Phật tử tổ chức rước cốt Phật về thờ trong cung ba ngày rồi đưa ra thờ ở chùa Vương công, sĩ dân đưa nhau đến cúng tế lễ tấp nập Hàn Dũ bèn viết tờ biểu can gián vua, bài xích đạo
Phật như sau: “Nay thần nghe bệ hạ sai nhiều nhà sư lại Phượng Tường rước Phật
cốt, và bệ hạ sẽ ngự lên lầu cao coi đưa Phật cốt vô cung, lại ban lệnh cho các chùa thay phiên nghênh tiếp cho đúng lễ Nhưng bách tính ngu muội, dễ bị mê hoặc mà khó giác ngộ (…) Họ sẽ đốt đỉnh đầu, thiêu ngón tay tụ họp nhau lại, lột áo, vãi tiền ra, từ sáng đến tối ganh đua nhau chỉ sợ thua kém người Thế là già trẻ bôn ba, bỏ bê công việc; thật là thương vong bại tục, làm trò cười cho bốn phương” [46; tr.171-172] Mặt khác, thời kì này do Đạo giáo đang có địa vị chính
trị đặc biệt, nên Nho giáo không đã kích hoàn toàn mọi phương diện của Đạo giáo,
mà thường chỉ đả kích hoạt động luyện đan của các phương sĩ
Tóm lại, dưới thời Lý -Trần và Tùy - Đường tam giáo đều lưu hành, có suy,
có thịnh, có đấu tranh với nhau Đấu tranh lắm lúc cũng “to tiếng nặng lời” nhưng
chưa hề có chiến tranh tôn giáo như đã xảy ra ở nhiều nước châu Âu hay châu Á
Ở Trung Quốc và Việt Nam thời trung đại không có chiến tranh tôn giáo như cuộc
“thánh chiến thập tự quân” ở châu Âu, nó chỉ là cuộc đấu tranh chủ yếu giữa Nho
giáo và Phật giáo trong nội bộ một quốc gia, mà Phật giáo cũng không hề phải động viên một sức mạnh quân sự Sự phê phán đó không nhằm loại bỏ Phật giáo
mà chỉ hạn chế vai trò của Phật giáo và những hậu quả xã hội từ những lưu tệ mà Phật giáo gây ra
Đây là một trong những nét tương đồng trong mối quan hệ Tam giáo ở Việt Nam và Trung Hoa Cuộc đấu tranh và hòa hoãn nhau giữa Nho, Phật, Đạo vào
Trang 32thời Tùy - Đường và Lý - Trần bị trói buộc trong sự phát triển kinh tế chùa chiền (tự viện), lại có quan hệ mật thiết với chính trị
2.1.3 Thể hiện trong đường lối trị nước của các triều đại
Đối với Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo tại Việt Nam và Trung Quốc, ở mức
độ nhất định, cả ba đạo này đã đáp ứng nhu cầu cai trị và quản lý xã hội của giai cấp phong kiến Vì vậy, Nho - Phật - Đạo có thể bổ sung cho nhau và kết hợp với nhau tạo nên hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Tuy nhiên, tùy theo từng điều kiện, yêu cầu khác nhau mà ở từng triều đại đã có sự lựa chọn tư tưởng chủ đạo trong hệ tư tưởng Nho - Phật - Đạo đối với việc cai trị đất nước
Đối với Việt Nam, theo Nguyễn Tài Thư đã có nhận định như sau : “Nho -
Phật - Đạo từ học thuyết của nước ngoài chuyển thành học thuyết của dân tộc, từ công cụ của bọn xâm lược trở thành công cụ của người Việt” [39; tr.56]
Đầu thế kỷ XI, việc xác lập triều đại nhà Lý đã mở ra một thời kì phát triển mới về mọi mặt của xã hội Đại Việt Cùng với việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La,
Lý Thái Tổ đã tiến hành việc xây dựng và củng cố vương triều ngày một vững mạnh Trước những nhiệm vụ thực tiễn, cấp bách đặt ra, vấn đề không phải là sáng tạo ra một hệ tư tưởng hoàn toàn mới, mà điều cơ bản là phải lựa chọn từ những tư tưởng trực tiếp có trước mắt, do quá khứ để lại, đó là Nho, Phật, Đạo Do đó, mối quan hệ tam giáo vào thời Lý đã được nâng lên một trình độ phát triển mới về chất, phản ánh mối quan hệ giữa chính trị xã hội với đời sống tâm linh Sự phân định địa hạt hoạt động của mỗi tôn giáo nằm trong sự thống nhất với mục đích tối cao của dân tộc đó là bảo vệ nền độc lập tự chủ, xây dựng đất nước Đại Việt hùng mạnh
Đứng trước yêu cầu xây dựng một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền,
tư tưởng Nho giáo từng bước được vận dụng vào thực tiễn và phát huy tác dụng tích cực Để giữ yên thần dân dưới sự cai trị của mình, triều đình nhà Lý, Trần đều nhận thấy sự đắc lực của Nho giáo với những đạo lý tề gia, trị quốc có trật tự, chặt chẽ, rõ ràng Từ thời Lý - Trần đã cho dựng Văn Miếu, lập viện Hàn Lâm, tổ chức thi cử cho viết sử ghi chép… Tuy vậy, đáp ứng yêu cầu của các triều đại phong kiến về mặt tổ chức và quản lý cuộc sống trần gian trong xã hội phong kiến, nhưng Nho giáo đã
Trang 33không giải đáp được rất nhiều vấn đề có tính chất huyền bí hằng ngày xảy ra trong đầu óc con người hoặc trước muôn vạn hiện tượng chung quanh
Có thể nói, ở thời Lý, giữa Nho giáo và Phật giáo và cả Lão giáo có một sự hòa hợp khá dễ dàng Về phải và trái, lợi và hại trong cuộc sống trần gian thì chủ yếu dựa theo lễ giáo và đạo lý của nhà Nho nhằm giữ vững quyền thống trị của thế lực vua quan thời phong kiến Còn về đời sống tâm linh lại dựa vào giáo lý và phép tắc của Phật giáo, Đạo giáo nhiều hơn
Điều đặc biệt, thời kỳ Lý - Trần chứng kiến sự nhập thế cao độ của Phật giáo
trên vũ đài chính trị - tư tưởng Đó là “sự gắn bó huyết thống, một sự thâm nhập vào
nhau hết sức chặt chẽ giữa thế lực cầm quyền và thế lực Phật giáo… Không có thời nào mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tôn giáo lại được sự tham gia rộng khắp, hăm
hở tinh thần nhập thế đến như vậy của các thiền sư” [29; tr.71] Thực tế cho thấy,
trong thời kỳ này, nhiều nhà sư đã kết hợp tư tưởng Nho, Lão để góp phần vào sự nghiệp xây dựng và củng cố chính quyền vững mạnh
Khi trả lời vua Lý Nhân Tông hỏi về kế “hưng vong trị loạn”, quốc sư Viên Thông khuyên vua phải “hành xử đức hiếu sinh cho hợp lòng dân”, có vậy thì thiên
hạ mới được yên và nhà vua sẽ được “dân kính yêu như cha mẹ, ngưỡng mộ như mặt
trăng mặt trời” “Đức hiếu sinh” của Viên Thông là sự kết hợp tinh thần của tam
giáo: tư tưởng đức trị của Nho giáo, nguyên tắc thuận theo tự nhiên của Lão giáo và tinh thần cứu khổ cứu nạn của Phật giáo Nguyễn Thường là một nhà sư, sống ở dưới đời Lý Cao Tông, làm chức Tăng phó Ông đã trình bày với Lý Cao Tông về mối
quan hệ khăng khít giữa âm nhạc và tình hình trị hay loạn của một nước: “Tôi nghe
bài Tựa Kinh Thi có nói : “Âm nhạc của nước loạn nghe ai oán vì giận chính sự nước ấy sai trái (…).Nay chúa thượng rong chơi vô độ, chính giáo sai lìa, dân chúng buồn khổ Đến nay càng tệ Thế mà ngày ngày lại nghe âm nhạc ai oán, đó chẳng phải là điềm nước mất, nước loạn hay sao ? ” [43 ; tr.528] Như vậy, là một
nhà sư, nhưng Nguyễn Thường lại dùng chính điển tích trong Kinh Thi của Nho giáo để can gián vua đừng có chơi bời quá độ
Trang 34Tựu chung lại, các nhà sư Việt Nam thời kỳ Lý - Trần đã vận dụng một cách sáng tạo quan điểm của các học thuyết Nho, Phật, Lão, biến nó thành cái của riêng
mình để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tinh thần “Phật pháp ở thế gian, không lìa
thế gian giác” - một khuynh hướng nhập thế vốn có từ Thiền Tông Trung Quốc,
đã được nhân lên nhiều lần trong tư tưởng của các thiền sư Việt Nam thời Lý - Trần Các nhà sư sẵn sàng cởi áo cà sa, mặc áo chiến lúc Tổ quốc lâm nguy; khi đất nước hòa bình, họ lại trở về với cuộc sống tôn giáo, nhưng không bao giờ tách
rời thế sự, đó là nét đặc sắc của mối quan hệ tam giáo thời Lý - Trần
Tuy nhiên, nhìn chung đến thời Lý - Trần, Phật giáo rất phát triển, được nhà nước phong kiến suy tôn, coi trọng và giữ địa vị cao Nhưng trong bản chất
của nó, Phật giáo, Đạo giáo chủ yếu không phải là “đạo trị nước” Khi nền tảng và
cơ cấu xã hội Việt Nam thay đổi với sự thiết lập của chế độ phong kiến trung ương tập quyền mà ít nhiều chịu ảnh hưởng của thiết chế xã hội phong kiến phương Bắc thì Nho giáo lại tỏ ra thích hợp, trở thành một yêu cầu, một thứ học thuật tư tưởng
mà người trong nước cần phải tiếp thu Chính vì vậy, các triều đại Lý -Trần đã tạo điều kiện cho tam giáo, nhất là Nho giáo cùng phát triển trên cơ sở tôn vinh Phật
giáo, vì “muốn trị nước, muốn củng cố chế độ phong kiến, ở vào thế một nước
láng giềng có nhiều mối quan hệ về văn hóa và chủng tộc với Trung Quốc, nhà Lý không thể không trông cậy vào Nho giáo mỗi lúc thêm nhiều” [7; tr.14-15]
Bằng nhãn quan chính trị, các triều đại Tùy, Đường cũng tìm thấy ở Tam giáo những tư tưởng có lợi cho chính sách cai trị của mình, biến nó thành công cụ
tư tưởng để vỗ về, ru ngủ quần chúng nhân dân Trung Hoa
Trước hết, Nho giáo vẫn được nhấn mạnh trong các triều vua khác nhau của thời Tùy - Đường, bởi vì nó rất cần thiết cho chính quyền và giáo dục trên toàn quốc Dưới thời nhà Đường, các tư tưởng, tôn giáo phần lớn đã được phát huy Tuy nhiên, hệ tư tưởng của nhà nước vẫn là Nho giáo Sau khi lên ngôi, Dương Kiên vẫn coi Nho giáo là chủ đạo, đồng thời cũng cho đạo Phật được tự do tín
Trang 35ngưỡng trong một mức độ nhất định Sang thời Đường, các vị vua thời kì này cũng tiếp tục tiếp thu quan điểm trị nước của nhà Tùy dùng Nho giáo là chủ đạo phục
vụ cho việc trị nước Đường Thái Tông, một trong những vị hoàng đế xuất sắc nhất trong lịch sử Trung Quốc và là một học giả thông hiểu kinh điển Nho giáo Ông bổ nhiệm các quan thượng thư có tài năng, giữ quan hệ gần gũi với các cố vấn, coi trọng những lời can gián và sống một cuộc sống thanh đạm Chính sách cai trị của Đường Thái Tông là điển hình của lý tưởng Nho giáo Dưới thời Đường, tuy thực sự đã tôn Lão Tử lên hàng ông tổ xa đời, nhưng vì chính trị, các vua Đường vẫn coi Nho giáo là phương châm chỉ đạo, như câu mô tả của Đường
Thái Tông: “chỗ yêu thích của (đế) chỉ là đạo của Nghiêu Thuấn , Chu Khổng…
Lấy đạo Nghiêu Thuấn, Chu Khổng làm phương sách chỉ đạo, (đế) dung nạp các tôn giáo khác, đồng thời lại đưa ra hạn chế nhất định” [27; tr.729] Còn đối với
Đạo giáo dưới thời nhà Tùy, hoàng đế Dương Kiên đều tin yêu các Đạo sĩ như Trương Tân, Tiêu Tử Thuận, trong đó Tiêu Tử Thuận từng dâng “điềm lành” thiên mệnh lên cho vua Đặc biệt, vào cuối đời Tùy Văn Đế có chính sách ủng hộ Đạo
giáo: “Trong niên hiệu Đại Nghiệp, các đạo sĩ nhờ phương thuật được tiến cử lên
rất đông” [27; tr.727] Sang thời Đường thì Đạo giáo được nhà nước rất tôn sùng
Trước đó, vào năm Tùy Đại Nghiệp thứ 13 (tức năm 617), lúc Lý Uyên khởi binh
ở Tấn Dương, một số đạo sĩ đã tích cực hưởng ứng nghĩa quân và “tuyên truyền
“họ Lý hưng, Thiên đạo thay đổi”, xưng Lý Uyên là “chân chủ”, “chân quân” ”
[34; tr.185] Dưới thời Đường Duệ Tông, ông cho gọi đạo sĩ nổi tiếng là Tư Mã Thừa Trinh vào cung để hỏi dùng thuật số âm dương ra sao để trị nước Tư Mã
Thừa Trinh trả lời rằng: “trị nước giống như tu thân đều cần thanh tĩnh vô vi” [27;
tr.731] Đến đời vua Đường Huyền Tông, đã đưa tế Lão Tử vào tự điển chính thức của quốc gia Đồng thời ra lệnh cho mỗi gia đình cần có một bản “Lão Tử” và ông
lại tôn các sách “Trang Tử”, “Liệt Tử”, “Văn Tử” lên hàng Đạo kinh, liệt vào đề
mục khoa cử quốc gia
Trang 36Dưới hai triều đại Tùy, Đường, tuy các vua chúa có xu hướng gần gũi Nho giáo, Đạo giáo hơn, nhưng đối với Phật giáo - một tôn giáo đã sớm gắn sâu vào lòng người dân Trung Quốc - thì vua quan của hai triều đại này cũng cố gắng áp dụng tư tưởng Phật giáo trong việc khuyến hóa dân chúng Thời Tùy - Đường, giai cấp thống trị ra sức nâng đỡ Phật giáo, trừ Đường Vũ Tông ra, các vị hoàng đế của
cả hai triều đại đều lợi dụng Phật giáo để củng cố sự thống trị phong kiến Dưới triều Tùy, nếu nói về cá nhân, Tùy Văn Đế sinh ra trong một chùa Phật, được ni cô Trí Tiên nuôi dưỡng, nên sau khi lên ngôi ông rất chuộng đạo Phật Ngoài ra, Tùy Văn Đế còn có giao tình mật thiết với sư Trí Khải, người khai sáng ra Thiên Thai Tông, thậm chí ông còn nhận giới Bồ Tát do Trí Khải trao, rồi lệnh cho Sa môn Trí Quả chia lục kinh Phật ở Đông đô Lạc Dương Phật giáo dưới thời nhà Đường cũng được giai cấp thống trị sử dụng phục vụ cho các mục đích chính trị Cụ thể
như: “Cuối triều Tùy, luôn luôn có quân nổi dậy tung tin Phật Di Lặc ra đời để
hiệu triệu dấy binh chống lại nhà Tùy Trong chiến tranh giữa Tùy và Đường, võ trang tăng lữ đã giúp đỡ ít nhiều cho cha con Lý Thế Dân” [27; tr.727] Về mặt có
lợi cho quốc gia của Phật giáo, Lý Thế Dân cũng biết lợi dụng triệt để “Năm
Trịnh Quán thứ ba, đế hạ chiếu kêu gọi tăng sĩ tham dự chiến trận Chính bản thân đế cũng tham dự hoạt động Phật giáo để cầu xin phúc lộc cho thân thuộc”
[27; tr.729] Ngoài ra còn tuyên bố Phật giáo vẫn là tôn giáo được quốc gia coi trọng Bên cạnh đó, Đường Thái Tông còn có làm một việc lớn cho Phật giáo, đó
là ủng hộ pháp sư Huyền Trang dịch kinh Phật Bởi khi pháp sư Huyền Trang đem kinh điển từ Ấn Độ về, chẳng những làm vinh dự cho Tổ quốc và Phật pháp, mà còn giúp quan hệ Trung Quốc và Ấn Độ thêm phần tốt đẹp Đặc biệt, dưới thời Võ
Tắc Thiên, để tranh thủ sự ủng hộ về tư tưởng, bà đã dùng câu chú thích: ““dùng
nữ thân làm vua đất nước” trong “Đại Vân kinh” của các tăng lữ Phật giáo, tự nhận mình chính là “nữ thân” trong câu ấy nên xứng đáng làm hoàng đế và từ đó bắt đầu ưu đãi Phật giáo” [27; tr.730-731] Khi bà mới lên ngôi, lập tức tuyên bố
Phật ở trước, Đạo ở sau Sau này, Võ Tắc Thiên càng phát triển đủ mọi phương thức bênh vực Phật giáo Võ Tắc Thiên có liên hệ nhiều với tăng sĩ, bà cho vời các
Trang 37đại sư Thiền Tông là Thần Tú, Lão An vào hoàng cung bàn Phật học Tuy nhiên, các vị vua kế tiếp như Đường Trung Tông, Đường Huyền Tông đã sửa đổi chính sách của Võ Tắc Thiên Hai vị vua này một mặt chấn hưng Nho học, một mặt cũng chấn hưng Đạo giáo, còn đối với Phật giáo họ áp dụng chính sách không dung túng quá đáng Đến thời vua Đường Vũ Tông, ông đã thực hiện chính sách diệt Phật Tóm lại, trong suốt thời kì Tùy - Đường, các nhân vật cao cấp của Phật giáo luôn luôn giữ quan hệ có lúc chặt chẽ có lúc mờ nhạt với cung đình, chính quyền quốc gia, cũng thường do thời thế hoặc do lòng yêu hay ghét khác nhau của giới thống trị đưa ra có lúc khuyến khích, có lúc hạn chế Phật giáo Nhưng xét về tổng thể, Trung Quốc thời Tùy, Đường là một quốc gia Nho giáo nên họ áp dụng chính sách vừa dung nạp vừa hạn chế Phật giáo
Như vậy, dưới thời kì Tùy - Đường, Nho giáo là tư tưởng chủ đạo của giai cấp thống trị, còn Đạo giáo, Phật giáo đóng vai trò bổ sung, hỗ trợ cho các chính sách trị quốc, bình thiên hạ của chính quyền
Có thể nói, với nhãn quan chính trị dung hợp Tam giáo uyển chuyển, các vị vua Lý - Trần và Tùy - Đường, một mặt giới hạn dần vai trò của Phật giáo và Đạo giáo trên địa hạt chính trị, đưa nó về hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tôn giáo -
xã hội; Mặt khác tạo những điều kiện nền tảng cho sự phát triển Nho giáo và xây dựng vị thế của Nho giáo trong lĩnh vực chính trị Điều đó phù hợp với mặt mạnh riêng của mỗi đạo trong việc hình thành thế chân vạc về hệ tư tưởng trong thời kì này Chính sự khôn khéo trong việc xử lý mối quan hệ nhà nước với tôn giáo, sử dụng thế mạnh của tam giáo trong trị vì đất nước của các vị vua đã tạo ra thời kì bình yên và hùng mạnh lâu dài trong lịch sử của hai dân tộc trong giai đoạn này Dưới thời Lý - Trần với thời gian tồn tại gần bốn thế kỉ, độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ đã được bảo vệ một cách oai hùng và vẻ vang Sự đồng tôn tam giáo của các nhà vua là một trong những nguyên nhân thiết lập và thúc đẩy không gian tôn giáo tự do, hòa bình và tươi đẹp trong các thời kì này Còn Trung Quốc dưới
Trang 38thời kì Tùy - Đường, đặc biệt là triều đại nhà Đường đã phát triển cực thịnh về mọi mặt
2.1.4 Thể hiện trong tư tưởng của các nhân vật lịch sử
Mối quan hệ Tam giáo ở hai thời kì Lý - Trần và Tùy - Đường còn được phản ánh trong tư tưởng của các nhà tư tưởng, nhân vât lịch sử của Việt Nam và Trung Hoa Dưới đây là tư tưởng của một số nhân vật tiêu biểu:
Viên Chiếu (999-1091), là một vị thiền sư sống dưới triều Lý Khi được hỏi
về ý nghĩa của Phật và Thánh (Nho), Thiền sư đã đáp:
“Trú tắc kim ô chiếu,
Dạ lai ngọc thổ minh” [54]
(Ngày thì mặt nhật sáng soi Đêm về vằng vặc khung trời ánh sáng)
Như vậy, ngụ ý của Viên Chiếu thông qua hai câu thơ này đó là ý bảo ứng dụng của Phật và Thánh trong đời khác nhau, nhưng đều nhằm đem lại cho đời ánh sáng (giác ngộ), ví như ngày cần ánh sáng mặt trời, đêm cần ánh sáng vầng trăng
Trần Thái Tông (1218-1277), tuy là một vị vua theo đạo Phật, nhưng trong tư
tưởng của ông cũng có những biểu hiện của tư tưởng Tam giáo Trong bài Tựa sách
“Thiền tông chỉ nam”, Trần Thái Tông không chỉ đề cao vai trò của Nho giáo và Phật giáo mà còn vạch rõ vị trí, vai trò cụ thể khác nhau của mỗi đạo trên Ông viết : “
Cho nên cái phương tiện để mở lòng mê muội, cái đường lối soi rõ sống chết chính là đại giáo của đức Phật Giữ cán cân để làm mức cho hậu thế, nêu khuôn phép cho tương lai là trách nhiệm nặng nề của tiên thánh vậy Lục tổ có nói: “Tiên thánh cùng đại sư không khác nhau gì cả” Thế mới biết giáo hóa của đức Phật lại cần phải nhờ có tiên thánh mới có thể truyền về đời sau vậy.” [19; tr.82]
Theo vua Trần Thái Tông, khi chưa tỏ ngộ, người đời lầm lẫn phân biệt Tam
giáo, nhưng khi đạt chỗ gốc cội rồi thì cùng ngộ một tâm như trong bài Phổ khuyến
phát bồ đề tâm:
Trang 39“Vị minh nhân vọng phân Tam giáo
Trần Nhân Tông cũng là một ông vua mang dấu ấn của Tam giáo Đối với
quan hệ giữa Phật giáo và Nho giáo, ông đã có những kiến giải mới Theo Trần Nhân Tông, việc thực hiện giới luật của đạo Phật cần kết hợp với việc thực hiện những quy phạm đạo đức của đạo Nho và những quy phạm đạo đức truyền thống của dân tộc Chính điều này đã tạo nên con người Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm Mẫu
người Việt Nam lý tưởng đó, theo Trần Nhân Tông “không những được rèn luyện
theo tiêu chí của đạo Phật là “sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm”, mà còn phải theo tiêu chí của đạo Nho là “ Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, thi đỗ mới trượng phu trung hiếu” [35; tr.59] Hơn nữa, những quy
phạm đạo đức của đời thường mang nặng truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng là những chất liệu góp phần rèn luyện con người lý tưởng đó Một điều đáng chú ý nữa là Trần Nhân Tông còn cho rằng, một người muốn có tính sáng thì không những cần đọc kinh Phật mà còn phải đọc những kinh bổn của Nho giáo và những
sách có giá trị trong dân gian Ông viết: “Sách Dịch xem chơi, yêu tính sáng hơn
yêu châu báu” [19; tr.109] Mà sách Dịch, tức Kinh Dịch được coi là một bộ kinh
điển trong Ngũ Kinh của Nho giáo
Ngoài ra, dưới đời Trần, có một số nhà Thiền học hấp thu tư tưởng Lão
Trang, như Tuệ Trung Thượng sĩ Theo chủ thuyết “hỗn tục hoà quang” (hoà đồng vinh nhục, không phân biệt các mặt đối lập), có nguồn gốc từ sách Lão Tử: “Hoà kỳ
quang, đồng kỳ trần” (Hoà cùng ánh sáng, chung với cát bụi) để đạt tới cái “huyền đồng” [1; tr.250], tức sự thống nhất của Đạo cả
Còn ở Trung Quốc, Vương Thông (584 - 618) nhà triết học thời Tùy là
người đại biểu lúc bấy giờ tích cực đề xướng Tam giáo Nho, Phật, Đạo hợp nhất
Trang 40Thời Tùy Văn Đế, ông đã từng dâng mười hai kế sách thái bình, nhưng không được dùng lui về ở Hà Phần dạy học để sống, có danh khí rất lớn Tác phẩm của
ông có Trung thuyết còn gọi là Văn Trung Tử Trong sách Văn Trung Tử, Vương
Thông nhấn mạnh sự tất yếu của hợp nhất tam giáo Nho, Phật, Đạo Xuất phát từ
cơ sở thống nhất quyền lợi giai cấp, cho nên trong Văn Trung Tử, chương Chu
Công, ông viết: “Hiểu thông sự biến hóa, thì thiên hạ không có giáo nghĩa nào là
hay” [30; tr.253] Từ quan điểm điều hòa đó, ông đã trình bày luận thuyết tam giáo
hợp nhất “Ở chương Vấn Địch viết: “Trình Nguyên hỏi: Thuyết tam giáo là như
thế nào? - Văn Trung Tử đáp: chính trị ghét có nhiều môn phái đã lâu rồi! - Bỏ đi thì thế nào ? Đáp: không phải điều mà nhà ngươi có thể nghe kịp được Cái việc nhà vua giỏi lập nên sự nghiệp đã gây sóng gió giúp cho các làn mở rộng, buông gió dập tắt những tàn lửa Ông đọc trong chương Hồng Phạm nói chắc chắn rằng: Tam giáo khi đó có thể thống nhất rồi vậy - Trình Nguyên và Ngụy Trưng tiến lên thưa: như vậy nghĩa là gì ạ ?- Ông đáp: làm cho dân không mệt mỏi ” [30; tr.253]
Về mặt tư tưởng chính trị, ông một mặt ra sức duy trì tam cương, ngũ thường do Nho gia đề xuất Ông ca ngợi Khổng Tử hết mức Mặt khác, ông lại ca ngợi học thuyết “vô vi” của Đạo giáo Ông hy vọng trên cơ sở lễ giáo phong kiến, thông qua học thuyết “vô vi” của Đạo gia để hạn chế ràng buộc những sự xa xỉ, dục vọng
vô độ của giai cấp thống trị Từ đó giảm bớt được những sự bóc lột nặng nề đối với nhân dân, và hòa hoãn mâu thuẫn giai cấp, đạt đến mục đích củng cố nền thống trị của vương triều Tùy
Nhà thơ Bạch Cư Dị sống dưới thời Đường là một người chịu ảnh hưởng
rõ nét của tư tưởng Tam giáo Hơn ba mươi năm Bạch Cư Dị làm quan và từng làm đến chức quan can gián, nhưng chỉ có mười năm đầu là tích cực, hăng hái theo đuổi một lý tưởng chính trị tiến bộ, của một nhà Nho tích cực tự đặt cho mình
nhiệm vụ khuyến khích nhà vua thi hành “nhân chính” Nhưng giữa đời ông bị
giáng chức, thì liền sau đó ông lại dựng một mái nhà tranh bên chùa Đường Lâm để
tu tiên học Phật Là một bậc đại nho nhưng Bạch Cư Dị lại chủ trương thái độ trung