Tiềm năng du lịch của Tây Ninh khá phong phú, với những điểm đến có giá trị lớn về tự nhiên và nhân văn, với các điểm du lịch như hồ Dầu Tiếng – một trong những hồ nước lớn nhất khu vực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Trọng Hiếu
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Trọng Hiếu
Chuyên ngành : Địa Lý học (Trừ Địa lý tự nhiên)
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS PHẠM XUÂN HẬU
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin châ n thành cám ơn lãnh đạo Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, Phòng Khoa học Công nghệ & Sau Đại học, các thầy cô giáo khoa Địa Lý Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM
Tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến PGS.TS Phạm Xuân Hậu- người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này
Tôi xin được cảm ơn gia đình, đồng nghiệp cùng Trường THPT Lương Thế Vinh- Tân Biên- Tây Ninh, Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của Tây Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp
Xin gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công đến mọi người
TP HCM, tháng 10 năm 2011
Tác giả Nguyễn Trọng Hiếu
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng, hình, bản đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 8 1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Các khái niệm 8
1.1.2 Hội nhập và những yêu cầu của thời kì hội nhập 16
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch 17
1.1.4 Phát triển du lịch trong thời kì hội nhập 26
1.2 Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam 27
1.2.2 Du lịch tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ 29
Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP 36
2.1 Tiềm năng phát triển 36
2.1.1 Vị trí địa lý 36
2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 39
2.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 43
2.1.4 Cơ sở hạ tầng- vật chất kỹ thuật du lịch 52
2.1.5 Đánh giá chung về tiềm năng du lịch Tây Ninh 58
2.2 Hiện trạng phát triển 62
2.2.1 Lượng khách và nguồn khách 62
2.2.2 Doanh thu 66
2.2.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật 74
2.2.4 Lao động và sử dụng lao động du lịch 77
2.2.5 Đầu tư phát triển du lịch 78
2.2.6 Các loại hình du lịch đang hoạt động ở Tây Ninh hiện nay 82
2.2.7 Các điểm du lịch 85
2.2.8 Các tuyến du lịch chính 92
2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh 95
Trang 5Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY
NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP 102
3.1 Những căn cứ đưa ra định hướng 102
3.1.1 Chiến lược phát triển du lịch quốc gia 102
3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Tây Ninh đến năm 2020 104
3.1.3 Chiến lược phát triển du lịch của tỉnh 106
3.1.4 Thực trạng phát triển du lịch 107
3.1.5 Nhu cầu du lịch của xã hội 108
3.2 Định hướng phát triển du lịch Tây Ninh 109
3.2.1 Định hướng chung 109
3.2.2 Định hướng cụ thể 109
3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2015 và tầm nhìn năm 2020 86 3.3.1 Tổ chức, quản lí và quy hoạch các loại hình du lịch 86
3.3.2 Phát triển du lịch theo lãnh thổ 87
3.3.3 Về cơ chế chính sách 88
3.3.4 Đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật và huy động vốn đầu tư 89
3.3.5 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 90
3.3.6 Về thị trường, xúc tiến quảng bá du lịch 91
3.3.7 Tăng cường sự tham gia của cộng đồng, nâng cao chất lượng đa dạng hóa sản phẩm du lịch 92
3.3.8 Bảo vệ môi trường du lịch 93
3.3.9 Áp dụng các tiến bộ, khoa học kĩ thuật và công nghệ 93
3.4 Kiến nghị 93
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phạm vi lãnh thổ tỉnh Tây Ninh 36
Bảng 2.2 Các đơn vị hành chính tỉnh Tây Ninh 37
Bảng 2.3 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người 40
Bảng 2.4 Dân số, mật độ dân số của Tây Ninh năm 2009 44
Bảng 2.5 Cơ cấu nghề nghiệp của lực lượng lao động 45
Bảng 2.6 Cơ cấu và số lượng khách du lịch đến Tây Ninh giai đoạn 2000- 2010 62
Bảng 2.7 Cơ cấu nguồn khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh năm 2009 64
Bảng 2.8 Số lượng khách xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu biên giới Tây Ninh giai đoạn 2002- 2010 65
Bảng 2.9 GDP và tỷ trọng GDP du lịch của Tây Ninh giai đoạn 2000- 2010 68
Bảng 2.10 Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch Tây Ninh giai đoạn 2000- 2010 75
Bảng 2.11 Số việc làm từ hoạt động du lịch tại Tây Ninh giai đoạn 2000- 2009 78 Bảng 2.12 Hiện trạng khách tham quan khu DT LSVH Núi Bà giai đoạn 2003- 201085
Trang 8năm 2020 117b
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đã có khá nhiều nỗ lực trong tạo dựng và quảng bá hình ảnh ra khu vực và
trong công tác đối ngoại đã góp phần làm cho các nước trên thế giới biết đến Việt Nam như một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, chính trị ổn định, với lực lượng lao động trẻ,
đến hấp dẫn với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ, có nhiều di sản thiên nhiên, văn hóa, người dân thân thiện, mến khách, giàu truyền thống văn hóa Trong những năm đầu thế kỉ XXI, với khẩu hiệu “Việt Nam- Điểm đến của thiên niên kỷ mới”và hiện nay là “Việt Nam- Vẻ đẹp tiềm ẩn”đã tạo nên sức cuốn hút đối với khách du lịch nước ngoài
Những cố gắng này đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, lượng khách du lịch quốc
tế đã tăng gần gấp 3 lần từ năm 1998 đến năm 2008 (từ 1,5 triệu lượt năm 1998 lên 4,3 triệu lượt năm 2008 ; năm 2009 chỉ còn hơn 3,8 triệu lượt do khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng đến năm 2010 Việt Nam đã đón được 5 triệu lượt khách quốc tế); khách du lịch nội địa tăng hơn gấp đôi (từ 9,6 triệu lượt năm 1998 lên 20 triệu lượt năm 2008 và năm 2009 là khoảng
23 triệu lượt); thu nhập từ du lịch tăng gần gấp 5 lần (từ 12.700 tỉ đồng năm 1998 lên 60.000 tỉ đồng năm 2008 và năm 2009 là khoảng 64.000 tỉ đồng) ; Tỷ trọng GDP du lịch trong tổng GDP toàn quốc trong những năm qua có những bước tiến đáng kể (năm 2001 chỉ khoảng 3,46% và đến năm 2008 là 4,99%) [2]
Hoạt động du lịch cũng đã chứng minh khả năng là một ngành kinh tế mũi nhọn đem lại doanh thu lớn cho nền kinh tế đất nước như trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định Đặc biệt năm 2008, 2009 thế giới cũng như Việt Nam trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đây là một trong những nguyên nhân làm giảm lượng khách du lịch Vì vậy việc đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng hoạt động du lịch đối với mỗi vùng, mỗi địa phương là việc làm cần thiết, quan trọng góp phần định hướng và có những giải pháp cụ thể cho hoạt động phát triển du lịch đạt hiệu quả cao
Cùng với sự phát triển và định hướng chung của du lịch quốc gia, Tây Ninh là một điểm hấp dẫn khách du lịch Tây Ninh lại là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí thuận lợi cách thành phố Hồ Chí Minh 99 km dọc theo quốc lộ 22; cách thành
Trang 10phố du lịch Vũng Tàu khoảng 200 km Từ Tây Ninh còn có thể đến thành phố Buôn Ma Thuột và các tỉnh Tây Nguyên qua đường Hồ Chí Minh; đến các tỉnh Miền Tây Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh qua đường thuỷ trên sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông Về phía Tây, Tây Ninh chỉ cách Thủ đô Phnom Penh khoảng 170 km, cách Siem Reap nơi có di sản văn hoá thế giới Angkor Vat khoảng 300 km Trên trục đường xuyên Á, Tây Ninh có vị trí quan trọng như điểm cầu nối giữa TP Hồ Chí Minh và thủ đô Phnom Penh, do đó việc thông thương theo tuyến này có nhiều thuận lợi và là cơ hội để phát triển du lịch
Tiềm năng du lịch của Tây Ninh khá phong phú, với những điểm đến có giá trị lớn về
tự nhiên và nhân văn, với các điểm du lịch như hồ Dầu Tiếng – một trong những hồ nước lớn nhất khu vực Nam Bộ và Việt Nam; Núi Bà Đen với những di tích lịch sử - văn hóa, chùa chiền, các hang động hoang sơ cùng với một trong những lễ hội lớn nhất Việt Nam, năm 2009 thu hút hơn 2 triệu lượt khách; Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát với thiên nhiên phong phú, đa dạng; Các di tích lịch sử cách mạng như Căn cứ mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, căn cứ Trung ương cục Miền Nam; Các di tích văn hoá khác như Toà Thánh Cao Đài, Tháp Chóp Mạt, Tháp Bình Thạnh… tất cả làm nên lợi thế về du lịch mà không phải địa phương nào tại Việt Nam cũng có được
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, các thành quả đã đạt được của du lịch Tây Ninh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do những yếu tố mang tính khách quan cũng như chủ
GDP còn khiêm tốn, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho kinh doanh du lịch chưa đồng bộ, chưa có các loại hình kinh doanh lữ hành quốc tế Trong thời kì nước ta đang hội nhập với thế giới hiện nay, sự phát triển kinh tế địa phương đã có nhiều chuyển biến, đời sống nhân dân được nâng cao tạo ra tiềm năng và nhu cầu mới đối với ngành du lịch thì đòi hỏi việc khai thác và phát triển du lịch của tỉnh cần mang tính chiến lược và hiệu quả hơn
Xuất phát từ những nhu cầu cấp bách của thực tiễn, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước về vấn đề du lịch, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập”
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch để phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Tây Ninh, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch của tỉnh theo hướng bền vững trong tiến trình hội nhập
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 11- Xác lập cơ sở lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm phát triển du lịch của cả nước và các địa phương nước ta để vận dụng vào việc phát triển du lịch tại Tây Ninh
năm 2000 đến năm 2010
triển du lịch của tỉnh theo hướng bền vững trong thời kì hội nhập
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, ngay từ năm 1989, đặc biệt từ năm 1990 (Năm du lịch Việt Nam) đến nay
đã có nhiều đề tài khoa học, dự án nghiên cứu về địa lý du lịch, đặc biệt là cơ sở lý luận và phương pháp luận có thể kể đến như “Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu các điều kiện
tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam”do Trần Cầu và Lê Thông chủ biên, 1993;
cộng sự thực hiện, 1986; “Kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam”do tổ chức du lịch thế giới thực hiện 1992; Chương trình biển KT03 của Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, đề tài KT-03-18: “Đánh giá tài nguyên ven biển Việt Nam phục vụ cho mục đích
du lịch”, 1993; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995- 2010”do Viện nghiên cứu phát triển du lịch tiến hành, 1995; “Quy hoạch tổng thể phát triển vùng du lịch Bắc Bộ”, 2001; “Quy hoạch phát triển vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ”, 2001;
trung du miền núi phía Bắc”, 2006…
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác như: Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam”do Vũ Tuấn Cảnh và cộng sự thực hiện, 1991; Luận án PTS Đặng Duy Lợi, 1992, “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây phục vụ mục đích du lịch”; Luận án PTS Trần Đức Thanh, 1995, “Cơ sở khoa học cho việc xây dựng bản đồ phục vụ mục đích du lịch cấp tỉnh ở Việt Nam- lấy ví dụ tỉnh Ninh Bình”;
Thông, Nguyễn Minh Tuệ, 1999; “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam”do Phạm Trung Lương chủ biên, 2000;… Nhiều địa phương cũng đã xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển du lịch dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của Tổng cục du lịch như Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Phú yên,
Trang 12Khánh Hòa, TP.HCM… với sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín trong và ngoài nước
Ở Tây Ninh, đã có một số báo cáo, tổng kết ban đầu về du lịch như: Chương trình xúc tiến du lịch năm 2009; Các báo cáo hoạt động du lịch hàng năm và kế hoạch năm sau; Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Tây Ninh thời kỳ 1995 – 2010 do Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch lập năm 1994 (Quy hoạch 1995) Nổi bật nhất là công trình nghiên cứu quy hoạch về du lịch : Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh chủ trì Ngoài ra, còn có thể kể đến công trình nghiên cứu về hoạt động marketing có liên quan đến du lịch “Phát triển hoạt động marketing trong du lịch quốc tế tại tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2010-2015”(2009)
thể tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh trong thời kì nước ta đang hội nhập quốc tế và khu vực Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tạo nên bức tranh vừa tổng quan vừa chi tiết về hoạt động du lịch ở Tây Ninh, cũng như lợi thế so sánh phát triển du lịch với các tỉnh trong tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ nói riêng và vùng du lịch Nam Trung
Bộ và Nam Bộ nói chung
5 Giới hạn nghiên cứu
phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
cận
du lịch của tỉnh Tây Ninh trong tiến trình hội nhập
6 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Hệ quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống- lãnh thổ:
tổng thể của đối tượng nghiên cứu Theo quan điểm này, khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong vị trí tương quan với các vấn đề, các yếu tố trong hệ thống cao hơn
và trong cấp phân vị thấp hơn Du lịch Tây Ninh được coi là một bộ phận có ý nghĩa quan
Trang 13trọng của hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn là tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ, vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như hệ thống du lịch của cả nước nên chúng có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Mặt khác, Tây Ninh cũng là một lãnh thổ du lịch với những mối quan hệ qua lại với các hệ thống khác và vận động theo quy luật của toàn hệ thống
- Quan điểm tổng hợp- lãnh thổ:
hơn bất kì địa hệ nào, là một hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành tố: tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó mật thiết với nhau một cách hoàn chỉnh Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các nguồn lực du lịch thường được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định để đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Để mang lại hiệu quả tổ chức, kinh doanh du lịch cần tìm ra được sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố trong cùng một lãnh thổ cũng như mối quan hệ mở với các lãnh thổ khác
- Quan điểm lịch sử- viễn cảnh:
Tây Ninh vẫn giữ được những nét đặc sắc, độc đáo về tự nhiên, văn hóa của một tỉnh nằm ở biên giới tây nam của tổ quốc Sử dụng quan điểm lịch sử- viễn cảnh để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình và kết quả khai thác của các hoạt động du lịch diễn ra trên địa bàn tỉnh Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc và phát huy những thành quả đạt được để có kế hoạch phát triển du lịch bền vững và hợp lí hơn
- Quan điểm phát triển bền vững:
việc phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững Từ đó có những kế hoạch và biện pháp phù hợp để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch cũng như làm tốt công tác bảo tồn và tôn tạo Phát triển du lịch ở Tây Ninh cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường trong sạch, có những biện pháp kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh
(điều 2, chương I) luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì phát triển du lịch bền vững được quan niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn
Trang 14hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”[31]
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích tổng hợp và xử lí số liệu, tài liệu:
dựa trên cơ sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau và từ thực tế, sau đó xử lí chúng để có những kết luận cần thiết Các tư liệu có thể là những công trình nghiên cứu trước đó, các bài viết, các báo cáo kinh doanh, báo cáo tổng kết…Phương pháp này giúp tiết
bảng biểu với những số liệu tuyệt đối cũng như tương đối chính là nguồn tài liệu nói lên thực trạng hoạt động cũng như phát triển của đối tượng Số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài này được lấy từ các nguồn: Tổng cục thống kê, Cục thống kê Tây Ninh, UBND tỉnh Tây Ninh, Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Tây Ninh, các công ty du lịch trên địa bàn Tây Ninh…
- Phương pháp so sánh:
mục đích của từng phần Quá trình so sánh các yếu tố như tài nguyên, thực trạng phát triển
du lịch… sẽ rút ra được những mặt mạnh, mặt yếu nhằm mang lại cái nhìn khái quát, đầy đủ
về du lịch Tây Ninh Qua phân tích, so sánh các thông tin sẽ được chắt lọc với độ tin cậy và hiệu quả cao nhất
- Phương pháp thực địa:
thực, khắc phục hiệu quả những hạn chế của phương pháp thu thập, xử lí số liệu trong phòng Các hoạt động chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều
tài nguyên, các cơ quan quản lí chuyên ngành của địa phương…
- Phương pháp bản đồ- biểu đồ:
pháp bản đồ- biểu đồ trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu định lượng, định
Trang 15tính Đây là phương pháp quan trọng xác định sự phân bố, mức độ tập trung theo lãnh thổ của các đối tượng nghiên cứu (điểm, tuyến, cụm du lịch) trong không gian, đồng thời thể hiện mối liên hệ với các khu vực lân cận của địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia:
các kiến nghị và lựa chọn các phương án phát triển với những thông tin chính xác Với việc
có cơ hội trao đổi ý kiến với lãnh đạo các cấp địa phương nghiên cứu, các ngành, lĩnh vực
có liên quan, tác giả đã vận dụng vào đề tài nghiên cứu Từ đó đề tài góp phần đánh giá và
pháp cho việc phát triển du lịch ở tỉnh Tây Ninh
7 Cấu trúc đề tài
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1 Cơ sở lý luận
nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội và hoạt động du lịch đang phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới Song khái niệm “Du lịch”được hiểu rất khác nhau theo các cách tiếp cận và quan điểm riêng
bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách, bao gồm : du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”[12]
Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố trong du lịch:
là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất
những giá trị về mặt tự nhiên, kinh tế và văn hóa”[29]
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”(Điểm 1, điều 10) [31]
Cư dân sở tại
Du khách Nhà cung ứng dịch vụ du lịch
Chính quyền nơi đón khách du lịch
Trang 17Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề để phát triển du lịch Tài nguyên du lịch càng phong phú đặc sắc, có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao
dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch; Là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm
du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [31]
nguyên du lịch nhân văn
hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”[31]
được tạo ra một cách nhân tạo, nó có những đặc điểm khác biệt so với tài nguyên tự nhiên Những đặc tính cơ bản của tài nguyên du lịch nhân văn :
thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”[31]
khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách
Trang 18- Thành phần tham gia có sự hiện diện của khách du lịch
hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế
Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam” [31]
vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”[31]
[29]
nghỉ ngơi, giải trí; du lịch khám phá; du lịch thể thao; du lịch văn hóa; du lịch tôn giáo; du lịch hội nghị; du lịch mạo hiểm; du lịch thăm thân; du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thăm hỏi…
nội địa
lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê…
xe máy, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hỏa, du lịch bằng tàu thủy, du lịch máy bay…
niên, du lịch trung niên, du lịch cao tuổi…
ngày…
nhân…
Trang 19Luật du lịch Việt Nam (2005) đưa ra khái niệm : “Chương trình du lịch là lịch trình,
các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của du khách từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi”[31]
giải trí
nghĩa là “Chuyến đi du lịch” Tour du lịch là sản phẩm du lịch được đánh giá theo một lộ trình có sự đặt trước về thời gian, địa điểm và những dịch vụ liên quan Như vậy khái niệm tour du lịch gần nhất với khái niệm chương trình du lịch Tour du lịch cần được phân biệt rõ với tuyến du lịch, tour du lịch là chương trình du lịch (về mặt sản phẩm có quy định giá bán, lịch trình chuyến đi)
Trang 201.1.1.7 Cơ sở lưu trú du lịch
trú du lịch bao gồm : khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều và bãi cắm trại cho thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu.[29]
uống, từ vận chuyển khách du lịch và lữ hành, từ bán hàng lưu niệm, từ các dịch vụ khác như vui chơi, giải trí, dịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, giao thông công cộng… Nói cách khác, khách du lịch đến một nơi nào đó, họ chi tiêu hết bao nhiêu thì
đó chính là doanh thu du lịch [29]
quan tâm hàng đầu bởi vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt động này nếu không xem xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó
tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả
thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ Trên bản đồ các vùng du lịch, người ta thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt Tuy nhiên, trong thực tế dù quy mô rất nhỏ nhưng cũng chiếm một diện tích nhất định trong không gian Sự chênh lệch về diện tích giữa các điểm du lịch tương đối lớn
hoặc kinh tế- xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai với quy mô nhỏ Vì thế điểm du lịch có thể phân thành hai loại : điểm tài nguyên và điểm chức năng
chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp ngoại lệ (điểm du lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ cơ quan…)
Trang 21Các điểm du lịch được nối với nhau bằng tuyến du lịch Trong trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có khả năng là tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung tâm) hoặc tuyến
loại Trên lãnh thổ trung tâm du lịch tập trung nhiều điểm du lịch Nói cách khác, mật độ điểm du lịch trên lãnh thổ tương đối dày đặc Mặt khác, trung tâm du lịch gồm các điểm chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế- kĩ thuật và tổ chức Nó có khả năng và sức thu hút khách du lịch rất lớn
thể nguồn tài nguyên không thật đa dạng (về loại hình), song điều kiện cần thiết là phải tập trung và có khả năng lôi cuốn khách du lịch
khách trong một thời gian dài
lãnh thổ du lịch đặc biệt, hạt nhân của vùng du lịch Chính nó tạo dựng bộ khung cho vùng
du lịch hình thành và phát triển Theo cách nói thông thường, đây là các “cực”để thu hút các lãnh thổ lân cận vào phạm vi tác động của vùng Chẳng hạn, ở Việt Nam gắn với ba vùng du lịch có ba trung tâm du lịch : Hà Nội, Huế- Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh
và môi trường xung quanh Về độ lớn, trung tâm du lịch có thể có diện tích tương đương với diện tích của một tỉnh
động về diện tích của các tiểu vùng tương đối lớn
chủng loại Trong thực tế ở nước ta, có thể phân biệt hai loại hình tiểu vùng du lịch : tiểu vùng du lịch đã hình thành (còn gọi là tiểu vùng du lịch thực tế) và tiểu vùng du lịch đang
vùng thứ nhất : tập trung nhiều loại tài nguyên và được khai thác mạnh mẽ Loại thứ hai : có thể có tài nguyên, song do những lí do nhất định, tiềm năng chưa có điều kiện để trở thành hiện thực
Trang 22♦ Á vùng du lịch: là tập hợp các điểm, trung tâm (nếu có) và các tiểu vùng du lịch
thành một thể thống nhất với mức độ tổng hợp cao hơn, vai trò của cơ sở hạ tầng lớn hơn các thông số hoạt động và lãnh thổ du lịch rộng hơn Xét về các mối quan hệ dân cư- quần
cư và cung cấp những nhu cầu vật chất cho khách du lịch thì á vùng bao gồm cả những địa phương không có các điểm tài nguyên du lịch Các mối liên hệ bên trong lãnh thổ đa dạng hơn
môn hóa bắt đầu được thể hiện, dù có thể chưa đậm nét Sự hình thành và phát triển á vùng
du lịch phụ thuộc nhiều yếu tố Có thể trong một số vùng du lịch, sự phân hóa lãnh thổ chưa dẫn đến việc hình thành các á vùng Trong trường hợp ấy, hệ thống phân vị chỉ còn bốn cấp : Điểm du lịch- Trung tâm du lịch- Tiểu vùng du lịch- Vùng du lịch
thổ của các á vùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch có những đặc trưng riêng
về số lượng và chất lượng Nói cách khác, vùng du lịch như một tổng thể thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn và xã hội… bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch
và môi trường kinh tế- xã hội xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch
làm cho vùng này khác hẳn với vùng kia Ở nước ta, chuyên môn hóa các vùng du lịch đang
như thế nào thì cần nghiên cứu sâu hơn
cơ sở vật chất- kĩ thuật sẵn có của vùng Về phương diện lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích rất lớn, bao gồm nhiều tỉnh Ngoài ra, với hoạt động du lịch mạnh mẽ, nó còn bao chiếm cả các khu vực không du lịch (điểm dân cư, các khu vực không có tài nguyên và cơ sở du lịch nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế du lịch)
tiềm năng) và vùng du lịch đã hình thành (vùng du lịch thực tế) Ở nước ta, có thể có tiểu vùng du lịch thực tế và tiểu vùng du lịch tiềm năng Song, thực tế chúng ta chưa có vùng du lịch đã hình thành Vì vậy, vùng du lịch Việt Nam là vùng du lịch đang hình thành Quan niệm này phù hợp với thực tế khách quan đang diễn ra ở nước ta, và như vậy mới có thể cắt
Trang 23nghĩa một số hiện tượng rất khó lí giải trong thực tế sinh động và đa dạng của hoạt động du lịch
một thực tế khách quan, tồn tại ngoài ý muốn con người Nói như vậy không có nghĩa là con người không có vai trò gì trong việc hình thành và phát triển vùng Con người thông qua công tác phân vùng du lịch, có thể thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các vùng du lịch nếu như việc nghiên cứu của họ tôn trọng các quy luật và thực tế khách quan Ngược lại, nếu nghiên cứu hoàn toàn chủ quan thì họ sẽ phải trả giá đắt cho hành động của mình [29]
kỉ XIX nhưng mãi đến thập kỉ 80 của thế kỉ XX mới được phổ biến rộng rãi
vững”phải cân nhắc đến hiện tượng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động
ngữ “phát triển bền vững”trong báo cáo “tương lai của chúng ta”như sau: “phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”[13]
hoạch định chính sách và quản lí phát triển kinh tế, với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển
sự bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
đây, trên cơ sở cải thiện và nâng cấp khái niệm du lịch mềm (soft tourism), được nhiều quốc gia và hiệp hội du lịch lớn trên thế giới ủng hộ Tuy nhiên một khái niệm “du lịch bền vững”hoàn chỉnh được tất cả mọi người thống nhất sử dụng chung đến nay chưa có
việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và
Trang 24người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai
bền vững là sự đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”
niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”[31]
cầu và đi ngược lại với sự phát triển bền vững lâu dài của du lịch Việc giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng du lịch
quan du lịch là vấn đề sống còn đối với việc quản lý và kinh doanh du lịch Việc duy trì và phát triển tính đa dạng của thiên nhiên, cảnh quan du lịch là rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của du lịch, là chổ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch
trở lại đây Hội nhập (INTERGRATION) được hiểu là sự liên kết của mỗi quốc gia vào các
tổ chức khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành viên có sự ràng
buộc chung theo quy định của khối Nói cách khác : Hội nhập là quá trình chủ động gắn kết
của từng nước về một hay nhiều lĩnh vực khác nhau với khu vực và thế giới trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương.[11]
vực hóa đang diễn ra nhanh chóng cùng với sự tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ
được một nền kinh tế thị trường bền vững kết hợp tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng
xã hội; gìn giữ môi trường trong sạch, xây dựng một cơ cấu sản phẩm và dịch vụ giàu sức cạnh tranh, một hệ thống tài chính tiền tệ chắc chắn và linh hoạt; một mạng lưới thông tin
Trang 25đầy đủ và cập nhật cùng với một trình độ dân trí ngày càng được nâng cao [11] Để tham gia hội nhập quốc tế, cần thực hiện tốt một số việc sau:
nhập kinh tế quốc tế, đủ định tính và định lượng, đủ tầm nhìn xa, rộng và tính chất thiết thực
phát triển kinh tế- xã hội
hành pháp và tư pháp
thức đầy đủ về sự vừa hợp tác vừa đấu tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế Đối với du lịch hội nhập vừa là thời cơ để cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng quảng bá hình ảnh đẹp đẽ về thiên nhiên, văn hóa, con người của mỗi dân tộc với bạn bè thế giới, đồng thời đặt ra không ít thách thức cho sự phát triển của ngành trong quá trình hội nhập
trọng Vị trí địa lý bao gồm vị trí về mặt tự nhiên (phạm vi lãnh thổ có giới hạn và tọa độ địa
giao lưu trao đổi
nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn Khi phân tích và đánh giá vị trí địa lý, cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế (nếu có)
nhiên được sử dụng cho mục đích du lịch, bao gồm : địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên sinh vật
phẩm của các quá trình địa chất lâu dài Đối với hoạt động du lịch, bề mặt địa hình là nơi
Trang 26diễn ra các hoạt động của du khách, là nơi xây dựng các công trình phục vụ du khách Đặc điểm địa hình góp phần quy định các loại hình du lịch Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nền cho phong cảnh Các dấu hiệu bên ngoài và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn với du khách, như các dạng địa hình núi, địa hình Karst, các kiểu địa hình ven bờ… có giá trị phục vụ cho nhiều loại hình du lịch
biệt là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch…
: địa hình Karst, địa hình ven bờ cũng có giá trị rất lớn cho việc tổ chức du lịch [29]
các loại đá dễ hòa tan (đá vôi Đolomit, đá phấn, thạch cao…) Một trong các kiểu Karst có ý nghĩa rất lớn với du lịch là hang động Karst, những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của hang động Karst có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch
sông, hồ…) cũng có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Địa hình ven bờ có thể tận dụng khai thác du lịch với mục đích khác nhau : tham quan du lịch theo chuyên đề khoa học, nghỉ ngơi an dưỡng, tắm biển, thể thao nước…
với du lịch, bao gồm hai chỉ tiêu chính : nhiệt độ và độ ẩm không khí Ngoài ra còn một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lí hóa của không khí, áp suất của khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt
điểm chung của từng khu vực, cần thiết phải đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện đó tới sức khỏe con người và các loại hình du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau Để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người, các nhà nghiên cứu thường sử dụng chỉ tiêu khí hậu sinh học.(phụ lục 1)
việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch Khí hậu ảnh hưởng rõ rệt đến các hoạt động du lịch và đã tạo nên tính mùa vụ trong các hoạt động du lịch Ứng với mỗi loại hình du lịch, đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau, các vùng khác nhau
có tính mùa du lịch không như nhau
Trang 27- Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh suối khoáng, du lịch trên núi cả mùa đông và mùa hè Tuy nhiên, trong thực tế hiếm khi có sự phân phối đồng đều các dòng du lịch theo mùa vì du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân như tự nhiên, kinh tế- xã hội, kĩ thuật…
triển du lịch thể thao mùa đông và các loại hình du lịch mùa đông khác
hình du lịch biển, du lịch núi, du lịch tới những vùng đồi, đồng bằng…
nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn, bao gồm : đại dương, biển, sông, hồ, suối, thác nước…Các nguồn tài nguyên nước mặt có giá trị cho nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ dưỡng… Tùy theo thành phần lí hóa học có thể phân thành : nước ngọt và nước mặn
và nhu cầu quốc gia Giới hạn nhiệt độ lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là
dòng chảy, độ sạch của nước… Nguồn nước trên mặt không chỉ cung cấp nhu cầu sinh hoạt của khu du lịch, tạo ra các hoạt động du lịch đa dạng mà còn ảnh hưởng đến các thành phần khác của môi trường sống, điều hòa khí hậu thuận lợi cho hoạt động du lịch
khoáng thiên nhiên Đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh Nước khoáng là nước thiên nhiên có chứa một số thành phần vật chất đặc biệt hoặc có một
số tính chất lí hóa có tác dụng sinh lí đối với con người
phát triển của ngành du lịch, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, khám phá và nâng cao nhận thức cho khách du lịch Xu thế hiện nay đang xuất hiện những hình thức mới như du lịch sinh thái, du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng là các loài động- thực vật Việc tham quan du lịch trong thế giới sinh vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu cuộc sống
Để phục các mục đích du lịch khác nhau (tham quan, săn bắn thể thao, nghiên cứu khoa học…), các tài nguyên động- thực vật phải đạt được một số chỉ tiêu nhất định
♦ Tài nguyên du lịch nhân văn
Trang 28Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra có giá trị văn hóa, tinh thần và phục vụ nhu cầu du lịch Loại tài nguyên này bao gồm : dân tộc, các
di tích lịch sử- văn hóa, lễ hội và các tài nguyên du lịch nhân văn khác (làng nghề, đặc sản địa phương, các món ăn dân tộc, các sự kiện văn hóa- thể thao…)
tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định Có thể nói du lịch dân tộc học vẫn còn là những bí ẩn mà mỗi du khách đều muốn khám phá Những đặc thù của từng dân tộc, đó chính là những tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú
và xây dựng, trang phục dân tộc… vẫn luôn có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch [29]
quan trọng trong việc quy định các loại hình du lịch đa dạng như du lịch văn hóa, du lịch về cội nguồn, du lịch cộng đồng…
chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo
ra trong lịch sử để lại [29]
chia thành :
thuộc về thời kì lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại Đa số các di tích này nằm trong lòng đất, còn được gọi là di chỉ khảo cổ bao gồm di chỉ
cư trú và di chỉ mộ táng Loại di tích này có ý nghĩa với loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu khoa học
những di tích lịch sử, bao gồm : Di tích ghi dấu về dân tộc học; Di tích ghi dấu về sự kiện chính trị quan trọng; Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược; Di tích ghi dấu những kỉ niệm; Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động; Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến…có ý nghĩa rất lớn đối với loại hình du lịch về nguồn
nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật Chúng không chỉ chứa đựng các giá trị kiến trúc
Trang 29- Danh lam thắng cảnh : là những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban cho Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ, thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay, khối óc của con người tạo dựng nên và chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di tích văn hóa- lịch sử Chúng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động du lịch Ở nước ta, phần lớn các danh lam thắng cảnh đều có chùa thờ Phật [29]
thường dựa vào các chỉ tiêu quan trọng, thể hiện số lượng cũng như chất lượng của các di tích :
hoạt văn hóa tổng hợp đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được [29]
liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khổ,
cô đơn và kết đoàn, trí tuệ và bản năng”[29]
phục vụ mục đích phát triển du lịch cần chú ý những đặc điểm sau :
trong thời gian ngắn Lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân, thời gian tiến hành lễ hội thường
tới hoạt động du lịch, nhất là khả năng thu hút khách du lịch
thác có hiệu quả hơn cả di tích và lễ hội vào mục đích du lịch
văn được khai thác phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch Nghề thủ công truyền thống với
Trang 30những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người.[17]
các trung tâm khoa học, các trường đại học, thư viện lớn, bảo tàng, trung tâm tổ chức liên hoan âm nhạc, phim ảnh quốc tế, các sự kiện thể thao…đều có sức thu hút khách du lịch tới tham quan, nghiên cứu, vui chơi với nhiều mục đích khác nhau Do vậy, những thành phố
có các đối tượng văn hóa hoặc tổ chức các hoạt động văn hóa- thể thao đều trở thành trung tâm du lịch văn hóa của các quốc gia và khu vực, đồng thời là những hạt nhân của các trung
tâm du lịch
cao, chúng cũng là những tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, hấp dẫn khách du lịch
du lịch có mối quan hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch Du lịch không thể phát triển nếu thiếu tài nguyên và tách rời khung cảnh môi trường du lịch hoạt động Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ ngành du lịch, ảnh hưởng đến việc hình thành chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch
[29]
♦ Dân cư và nguồn lao động: Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội
Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Việc nắm vững
số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch Cần phải nghiên cứu, phân tích kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, vì đây là nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển
nẩy sinh nhu cầu du lịch trong xã hội, đồng thời thúc đẩy du lịch phát triển với tốc độ cao Trong nền sản xuất xã hội, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải…đều liên quan mật thiết tới việc phát triển ngành du lịch
♦ Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch: có tính chất kinh tế- xã hội, là sản phẩm của sự phát
triển xã hội, đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe, khả năng lao động, thể chất
và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống
Trang 31Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch là một hệ thống và được thể hiện ở ba mức độ : xã hội- nhóm người- cá nhân Trong các mức trên, quan trọng hàng đầu là nhu cầu nghỉ ngơi phát triển xã hội Nó được xác định như nhu cầu của xã hội về phục hồi sức khỏe và khả năng lao động, về sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần cho mỗi thành viên trong xã hội
theo nghề nghiệp, lứa tuổi…
nghỉ ngơi du lịch nhằm nâng cao sức khỏe, giảm mệt mỏi, mở rộng khả năng lao động và tầm hiểu biết cho bản thân Nhu cầu của xã hội, nhóm người và cá nhân không tách rời nhau
mà có mối liên hệ qua lại biện chứng
nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới giao thông, y tế, văn hóa, giáo dục…
thiện, then chốt là mức thu nhập thực tế của mỗi người trong xã hội Nhìn chung ở những nước kinh tế phát triển, có mức thu nhập cao thì hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ
diễn ra các hoạt động nhằm phục hồi và phát triển trí lực, thể lực và tinh thần con người Nguồn quan trọng nhất để tăng thời gian rỗi là giảm thời gian làm việc tại các công sở và các công việc nội trợ Thời gian rỗi là một trong những tiền đề quan trọng để phát triển du lịch, đặc biệt là các loại hình du lịch ngắn ngày hay du lịch cuối tuần
đẩy hay kìm hãm sự phát triển du lịch Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia Do vậy, hòa bình được coi là đòn bẩy của hoạt động du lịch Đồng thời, con người cũng muốn thể hiện ước nguyện được sống trong hòa bình, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới
hoạt động du lịch Trong CSHT, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu Đồng thời, hệ thống TTLL, mạng lưới cung cấp điện- nước sạch cũng
là những thành phần phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch
Trang 32♦ Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải (GTVT): Du lịch gắn với sự di
chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Chính vì thế, du lịch phụ thuộc vào
hấp dẫn đối với khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được khi thiếu nhân tố giao thông, việc phát triển giao thông cho phép mau chóng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch
thành hiện tượng phổ biến trong xã hội Mỗi loại giao thông có những đặc điểm riêng biệt tác động tích cực đến hoạt động du lịch Chẳng hạn, giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho
du khách dễ dàng đi theo lộ trình đã lựa chọn; giao thông đường sắt rẻ tiền; giao thông đường không tuy đắt tiền nhưng nhanh chóng và tiết kiệm được thời gian đi lại; giao thông đường thủy tuy chậm nhưng kết hợp được với tham quan, giải trí dọc sông hoặc ven biển
♦ Hệ thống TTLL: là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du lịch,
nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế Trong hoạt động du lịch, TTLL đảm nhận việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng kịp thời, góp phần thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các nước Đặc biệt trong đời sống KT- XH hiện đại nói chung cũng như ngành du lịch nói riêng, càng không thể thiếu được ngành TTLL Mạng lưới TTLL ngày càng trở nên phong phú và hiện đại hơn trước đã tạo những điều kiện tiện ích, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian, giảm giá thành sản phẩm cho du khách Đây là những điều kiện thuận lợi để hấp dẫn du khách và triển khai hoạt động kinh doanh của các công ty du lịch
♦ Mạng lưới cung cấp điện- nước sạch: Hệ thống các công trình cấp điện và nước
sạch là điều kiện cần thiết đảm bảo nhu cầu tối thiểu của khách du lịch tại các điểm đến Hệ thống điện đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên và liên tục Hệ thống thiết
bị xử lí cấp thoát nước, giảm lượng chất thải và xử lí chất thải đúng tiêu chuẩn, kĩ thuật quy định vừa tạo ra những điều kiện đáp ứng nhu cầu về nước sạch cho du khách và các hoạt động du lịch, vừa tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách Đồng thời, đó cũng là một trong những yêu cầu quan trọng để mỗi doanh nghiệp du lịch, mỗi địa phương, mỗi quốc gia phát triển du lịch bền vững [32]
Trang 33- Cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú : bao gồm các công trình đặc biệt nhằm đảm bảo
nơi ăn, ngủ và giải trí cho khách du lịch Chúng được phân hạng tùy theo tiêu chuẩn và mức
độ đồng bộ của dịch vụ có trong đó Cơ sở lưu trú được phân thành nhiều loại :
thường nằm ở các đô thị và điểm du lịch
khách, thường nằm ở các vùng nông thôn hay ngoại vi thành phố
chuẩn phân loại khách sạn, thường nằm tại vùng nông thôn và được xây dựng theo sắc thái kiến trúc địa phương
phục vụ là khách du lịch, thương nhân hay khách công vụ Vị trí thường nằm ở các đô thị hoặc các danh lam thắng cảnh
các thương gia hay khách du lịch nhiều tiền, thường nằm ở trung tâm đô thị hay các khu du lịch nổi tiếng
khách du lịch bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác Mạng lưới này gồm hai phần : một phần thuộc các trung tâm dịch vụ du lịch, phục vụ khách du lịch là chủ yếu; phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa phương với nhiệm vụ phục vụ nhân dân địa phương
trở nên tích cực hơn Cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng hay trung tâm thể thao với nhiều loại trang thiết bị khác nhau làm tăng hiệu quả sử dụng của các khách sạn và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch
lịch chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch Đó là các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, bùn, các món ăn kiêng…), các phòng luyện tập chức năng, phòng xông hơi…
những kiến thức văn hóa, xã hội cho khách du lịch, tạo điều kiện giao tiếp xã hội, tuyên truyền về truyền thống, thành tựu văn hóa của các dân tộc
Trang 34Các công trình này bao gồm : các trung tâm văn hóa, thông tin, phòng chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm…có thể bố trí tại khách sạn hoặc hoạt động một cách độc lập tại các điểm hoặc trung tâm du lịch Hoạt động của các cơ sở này giúp cho khách sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lí, làm cho chuyến đi du lịch có ý nghĩa hơn
nhu cầu sinh hoạt trong thời gian du lịch như hiệu hớt tóc, hiệu ảnh…
xu thế đó Việc phát triển du lịch, những kết quả thu được từ ngành kinh tế này được coi là biểu hiện của toàn cầu hóa [32]
nhập các tổ chức du lịch trong khu vực và quốc tế, tham gia kí kết các hiệp định về phát triển du lịch khu vực và liên quan đến khu vực, nhằm phối hợp hoạt động hợp tác, liên kết
để phát triển du lịch Ví dụ : phát triển các tuyến du lịch xuyên Á, đơn giản hóa các thủ tục xuất nhập cảnh, miễn thị thực xuất nhập cảnh, giảm giá các dịch vụ, hợp tác kinh doanh, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực…là những điều kiện hấp dẫn du khách và thuận lợi cho phát triển du lịch của các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam [32]
hiểu biết nhau hơn, các tổ chức khu vực và quốc tế hình thành nhiều hơn Khoảng cách đi lại giữa các quốc gia và châu lục trở nên gần hơn Do đó, hoạt động du lịch càng có điều
là lựa chọn đúng đắn, góp phần hưng thịnh nền kinh tế của các quốc gia có tiềm năng du lịch [14]
với các nhiệm vụ cụ thể như : quy hoạch, đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh; xây dựng các điểm, tuyến, cụm du lịch khai thác một cách hiệu quả những tiềm năng du lịch địa phương Đó là một trong những lộ trình cụ thể để du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch Tây Ninh nói riêng chủ động hội nhập sâu và toàn diện Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của các tổ chức du lịch quốc tế như: UNWTO, PATA, ASEANTA…
phương nói riêng quảng bá hình ảnh đẹp đẽ về thiên nhiên, văn hóa, con người Việt Nam
Trang 35với bạn bè thế giới, góp phần thu hút lượng khách quốc tế lớn, tăng doanh thu từ du lịch nhưng cũng vừa là thách thức không nhỏ đối với ngành du lịch trong việc tạo ra sản phẩm phong phú, độc đáo; phát triển du lịch gắn với giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ cảnh quan- môi trường du lịch trong sạch
1.2 Cơ sở thực tiễn
vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Bắc Bán Cầu, thuộc khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới: Châu Á- Thái Bình Dương, Việt Nam có vị trí thuận lợi trong giao lưu và hội nhập quốc tế, khu vực
lịch sử lâu đời, phong phú về di sản văn hóa, các làng nghề và các lễ hội truyền thống gắn với các nhóm dân tộc của cả nước Đặc biệt, Việt Nam có nhiều di sản được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên và di sản văn hóa thế giới (đến năm 2010 Việt Nam có 11 di sản được công nhận), cùng với nhiều nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn có giá trị Chính vì vậy, Việt Nam có tiềm năng dồi dào để phát triển hoạt động du lịch
Hùng, Hội Gióng… gắn với lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc đã góp phần thu hút đông đảo du khách thập phương, cho đến sự xuất hiện của những khu biệt thự, khách sạn nghỉ dưỡng tại Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo… xây dựng từ thời kì Pháp thuộc đã chứng tỏ hoạt động du lịch của nước ta đã ra đời, hình thành và phát triển từ rất sớm
tế độc lập, từ đó có những bước phát triển nhanh chóng Sau hơn 20 năm tiến hành đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, du lịch đã khẳng định vị thế là một ngành kinh tế mũi nhọn
trung bình ở mức tương đối cao (khoảng 20%/năm), thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã tăng từ 5% (năm 1995) lên trên 8% (năm 2005), thu nhập từ ngành du lịch tăng lên nhiều lần Đây là một thành công lớn góp phần giúp du lịch trở thành một trong những ngành có đóng góp lớn vào GDP
khách và thu nhập Khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 250.000 lượt (năm 1990) lên 2,05 triệu
Trang 36lượt (năm 2000); Khách nội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lượt lên 11 triệu lượt; thu nhập du lịch tăng gần 13 lần từ 1.350 tỉ đồng lên 17.400 tỉ đồng [19]
khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm nhưng do áp dụng các biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời nên lượng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con số Khách quốc tế tăng từ 2,33 triệu lượt lên gần 3,47 triệu lượt; khách nội địa tăng từ 11,7 triệu lượt lên 16,1 triệu lượt; người Việt Nam đi du lịch ở nước ngoài năm 2005 ước khoảng 900.000 lượt Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỉ trọng GDP của ngành dịch vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 5% GDP cả nước, theo cách tính của UNWTO thì con số này khoảng 10%) [19]
dù trải qua cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, khách quốc tế đến Việt Nam vẫn giữ được 4,2 triệu lượt Năm 2010, lần đầu tiên số khách quốc tế đến Việt Nam đạt 5 triệu lượt người, tăng 34,8% so với năm 2009 Như vậy, tính chung giai đoạn 2006- 2010, khách quốc tế đã tăng từ 3,58 triệu lượt (năm 2006) lên 5 triệu lượt (năm 2010), còn khách
du lịch nội địa đã tăng tương ứng từ 17,5 triệu lượt lên khoảng 25 triệu lượt [2]
năm Hơn 10 năm trước, du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất khu vực nhưng đến nay khoảng cách này đã được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt Philippin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia Theo UNWTO, hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu vực và thế giới Năm 2004, du lịch Việt Nam được Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới xếp thứ 7 thế giới về tăng trưởng lượng khách trong số 174 nước; Việt Nam được xếp vào nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế giới.[19]
càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KT- XH Từ đó, ngành du lịch Việt Nam cần chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch cả về số lượng và chất lượng; xây dựng hệ thống CSHT- CSVCKT cho hoạt động du lịch; tăng cường tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế; đa dạng hóa các sản phẩm
du lịch; tăng cường đầu tư, hội nhập quốc tế và khu vực
Trang 371.2.2 Du lịch tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ
cao nguyên đồ sộ Tây Nguyên với vùng địa hình bằng phẳng đồng bằng sông Cửu Long Vùng gồm 6 tỉnh, thành : Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa- Vũng Tàu Đông Nam Bộ có diện tích vào loại nhỏ so với các vùng
cả nước về GDP, giá trị sản lượng công nghiệp và giá trị hàng xuất khẩu
nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ phát triển hơn so với các vùng khác trong cả nước Với những ưu thế về vị trí địa lí, về nguồn lao động lành nghề, cơ sở vật chất kĩ thuật, lại có những chính sách phát triển phù hợp, thu hút được các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, Đông Nam Bộ đang sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao
khẩu quan trọng, đặc biệt là hai cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát (Tây Ninh) cùng hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch khác Với vị trí và tiềm năng của mình, đặc biệt là vùng giữ vị trí chủ đạo trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nên đây là khu vực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng của vùng
du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung
lớn diện tích là các bề mặt bán bình nguyên với các bậc thềm phù sa cổ có độ cao khoảng 100m và bề mặt phủ badan có độ cao khoảng 200m Đây là vùng có nhiều cảnh quan tự nhiên và nhân tạo đẹp như núi Bà Đen, núi Bà Rá, hồ Dầu Tiếng cùng hàng trăm km đường
bờ biển ở Vũng Tàu, trong đó có hơn 70 km có thể sử dụng làm bãi tắm…có giá trị lớn về
du lịch Vùng còn là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em như Xtieng, Tày, Nùng, Mường, Thái, Mơ Nông, Chăm, Khmer… với nhiều lễ hội, sinh hoạt văn hóa truyền thống đặc sắc, đậm đà bản sắc dân tộc
tiếng như nhà tù Côn Đảo (Bà Rịa- Vũng Tàu), chiến khu D (Bình Dương), Dinh Thống Nhất, Địa đạo Củ Chi (TP.HCM), Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh)… Vì đây vốn là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, là căn cứ địa vững chắc của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trang 38Tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ có quan hệ chặt chẽ với các tiểu vùng du lịch khác như tiểu vùng du lịch duyên hải Nam Trung Bộ, tiểu vùng du lịch Tây Nguyên, tiểu vùng du lịch Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long)…qua quốc lộ 1, 14, 20, 28… tạo nên mối quan hệ liên vùng trong phát triển du lịch của vùng
từng được mệnh danh là “hòn ngọc Viễn Đông”có thể dễ dàng giao lưu, thu hút khách du lịch từ các thị trường khác trong vùng Đông Nam Á cũng như các khu vực kế cận xung quanh Ngoài ra các trung tâm khác như Vũng Tàu cũng có sức thu hút lớn đối với du khách trong nước và quốc tế
nghị, hội chợ triển lãm; Các cảnh quan nghỉ dưỡng ven biển, hồ, vùng ngập mặn; Tham quan nghiên cứu các di tích chống Mỹ cứu nước; Tham quan nghiên cứu các vùng văn hóa
và di sản tôn giáo; Du lịch sinh thái ở biển, các vườn quốc gia… Cùng với sự phát triển và định hướng chung của du lịch quốc gia, tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ cũng là điểm đến hấp dẫn thu hút khách du lịch Mặc dù vậy, du lịch các tỉnh trong tiểu vùng chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, các sản phẩm du lịch còn đơn điệu, tương đối mờ nhạt, ít hấp dẫn về hình thức
lịch Đông Nam Bộ cần có một quy hoạch chung mang tính liên vùng, thể hiện mối liên kết giữa các địa phương trong nỗ lực phát triển du lịch, làm phong phú và tăng thêm sức hấp dẫn cùng tính khả thi cho sản phẩm du lịch của mỗi tỉnh và cả khu vực Tây Ninh với vai trò
là cầu nối giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh với thủ đô Phnompenh của Campuchia, với hệ thống di tích lịch sử cách mạng phong phú và khu du lịch núi Bà Đen nổi tiếng hứa hẹn sẽ là một địa chỉ du lịch đáng tin cậy, hấp dẫn khách du lịch về với căn cứ địa cách mạng của quân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trang 39Bản đồ 2.1 Vị trí Tây Ninh trong địa giới các tỉnh miền Đông Nam Bộ
Nguồn: Sở Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Tây Ninh, năm 2009
Trang 40Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH TỈNH TÂY NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP
2.1 Tiềm năng phát triển
2.1.1 Vị trí địa lý
11độ47’ vĩ độ Bắc và 105độ49’ đến 106độ23’ kinh độ Đông Lãnh thổ trải dài theo hướng bắc- nam khoảng 88 km, và đông- tây khoảng 50 km Ở phía đông, Tây Ninh giáp tỉnh Bình Phước và Bình Dương với ranh giới tự nhiên là sông Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng có tổng chiều dài hơn 66 km Phía đông nam giáp thành phố Hồ Chí Minh với đường ranh giới dài hơn 20 km, tiếp giáp về phía nam là tỉnh Long An với chiều dài hơn 30 km Về phía Bắc và phía tây, Tây Ninh tiếp giáp hai tỉnh Svay Riêng và Công Pông Chàm của Campuchia có đường biên giới dài 240 km với hai cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát cùng hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch
Bảng 2.1 Phạm vi lãnh thổ tỉnh Tây Ninh
Nguồn : Địa lý Tây Ninh- NXB Giáo dục, năm 1999
nước với số dân 1.075.341 người (năm 2010) bằng 1,25% dân số cả nước Nằm ở phía tây nam của tổ quốc, cách thủ đô Hà Nội 1.818 km, cách thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế của khu vực phía Nam 99 km, Tây Ninh có vị trí chiến lược quan trọng trong mối quan hệ giao thương quốc tế giữa nước ta với Campuchia và xa hơn, với các nước trong khu vực Đông Nam Á Tây Ninh lại nằm ở vị trí trung chuyển giữa hai trung tâm kinh tế lớn vào bậc nhất của bán đảo Đông Dương là thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnompenh
Mát Điều đó tạo điều kiện cho Tây Ninh trở thành đầu mối xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như thu hút khách du lịch quan trọng của nước ta với Campuchia [25]