1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển du lịch tỉnh tây ninh thời kì hội nhập

194 34 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 4,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những nhu cầu cấp bách của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước về vấn đề du lịch, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TRỌNG HIẾU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2019 PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TRỌNG HIẾU

Chuyên ngành : Địa lí học

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS PHẠM XUÂN HẬU

Thành phố Hồ Chí Minh - 2019PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực Các trích dẫn khoa học và tài liệu

tham khảo đều có nguồn gốc xác thực

Tác giả luận án

Nguyễn Trọng Hiếu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Sư Phạm TPHCM, Phòng Sau Đại học, phòng khoa học công nghệ và môi trường – tạp chí khoa học cùng các thầy cô khoa Địa Lý Trường Đại học Sư Phạm TPHCM Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến thầy hướng dẫn PGS.TS Phạm Xuân Hậu - người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này Tác giả cũng chân thành gửi lời cám ơn đến các thầy cô trong và ngoài trường đã nhiệt tình góp ý giúp cho luận án được hoàn thiện

Tác giả xin được cảm ơn gia đình, đồng nghiệp cùng Trường THPT Lương Thế Vinh - Tân Biên - Tây Ninh, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở VH,TT&DL Tây Ninh cùng các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của Tây Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận

án

Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận án chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp

Xin gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công đến mọi người

TP.HCM, tháng 03 năm 2019

Tác giả

Nguyễn Trọng Hiếu

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng, hình, bản đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH THỜI KÌ HỘI NHẬP 17

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch 17

1.1.1 Một số khái niệm 17

1.1.2 Vai trò và chức năng của du lịch 24

1.1.3 Các đặc trưng cơ bản của du lịch 25

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch 25

1.1.5 Hệ thống tiêu chí đánh giá TNDL và mô hình phân tích SWOT phục vụ PTDL 32

1.1.6 Phát triển du lịch trên quan điểm phát triển bền vững 39

1.2 Phát triển du lịch trong thời kì hội nhập 40

1.2.1 Một số vấn đề liên quan đến khái niệm hội nhập 40

1.2.2 Những yêu cầu của hội nhập du lịch 41

1.2.3 Tác động của việc hội nhập đối với phát triển du lịch 44

1.2.4 Bối cảnh và cơ hội tác động đến hội nhập về du lịch 45

1.2.5 Tiêu chí đánh giá PTDL 47

1.3 Cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch 52

1.3.1 Phát triển du lịch Việt Nam trong xu thế hội nhập 52

1.3.2 Phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ trong xu thế hội nhập 56

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 60

Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY NINH 61

2.1 Tiềm năng phát triển du lịch 61

Trang 6

2.1.1 Vị trí địa lý 61

2.1.2 Tài nguyên du lịch 63

2.1.3 Cơ sở hạ tầng du lịch 78

2.1.4 Các yếu tố khác 80

2.2 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh 81

2.2.1 Phát triển du lịch theo ngành 81

2.2.2 Phát triển du lịch theo lãnh thổ 103

2.2.3 Phân tích SWOT trong PTDL 111

2.2.4 Đánh giá chung thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập 115

2.2.4.1 Kết quả đạt được 115

2.2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 120

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG CHỦ YẾU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP 126

3.1 Những căn cứ đưa ra định hướng và giải pháp 126

3.1.1 Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 126

3.1.2 Nhu cầu du lịch của xã hội 126

3.1.3 Chiến lược phát triển du lịch quốc gia 127

3.1.4 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Tây Ninh đến năm 2020 129

3.1.5 Chiến lược phát triển du lịch của tỉnh 130

3.1.6 Căn cứ từ thực trạng phát triển du lịch của tỉnh 131

3.2 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập 132

3.2.1 Định hướng chung 132

3.2.2 Định hướng cụ thể 132

3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 146

3.3.1 Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch 146

3.3.2 Giải pháp phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá du lịch trong bối cảnh hội nhập 148

Trang 7

3.3.3 Giải pháp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh hội

nhập 149

3.3.4 Giải pháp phát triển hệ thống CSHT - VCKT phục vụ du lịch 151

3.3.5 Giải pháp về đầu tư và cơ chế chính sách phát triển du lịch trong bối cảnh hội nhập 152

3.3.6 Giải pháp nâng cao nhận thức của doanh nghiệp du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế 155

3.3.7 Giải pháp tăng cường hợp tác quốc tế và liên kết vùng 157

3.3.8 Giải pháp tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài trong bối cảnh hội nhập 158

3.3.9 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế 159

3.3.10 Giải pháp bảo tồn, tôn tạo các điểm tham quan du lịch 160

3.3.11 Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương 160

3.3.12 Một số giải pháp khác 161

KẾT LUẬN 167 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEANTA Hiệp hội Du lịch Đông Nam Á

AEC Cộng đồng kinh tế ASEAN

CSHT Cơ sở hạ tầng

CSHT - VCKT Cơ sở hạ tầng - vật chất kĩ thuật

DTLSVH Di tích lịch sử văn hóa

DTLSVH-DT&DL Di tích lịch sử văn hóa – danh thắng và du lịch

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

TTBQ Tăng trưởng bình quân

TTLL Thông tin liên lạc

UBND Ủy Ban Nhân Dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả đánh giá tổng hợp TNDL 38

Bảng 1.2 Phân tích ma trận SWOT 39

Bảng 1.3 Thang điểm đánh giá các tiêu chí PTDL thời kì hội nhập 51

Bảng 2.1 Tốc độ gia tăng dân số tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2000 - 2016 67

Bảng 2.2 Cơ cấu nghề nghiệp của lực lượng lao động Tây Ninh giai đoạn 2000 – 2016 68

Bảng 2.3 Một số lễ hội dân gian và tôn giáo tiêu biểu của tỉnh Tây Ninh 72

Bảng 2.4 Bảng điểm đánh giá tổng hợp TNDL các điểm tiêu biểu trên địa bàn Tây Ninh 77

Bảng 2.5 Hiện trạng số lượt khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh giai đoạn 2000 - 2016 86

Bảng 2.6 Số lượt khách xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu biên giới tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2000 - 2016 87

Bảng 2.7 Thực trạng doanh thu du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2000 - 2016 90

Bảng 2.8 Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Tây Ninh năm 2010 và 2016 (%) 91

Bảng 2.9 Hiện trạng dự án và vốn đầu tư phát triển du lịch Tây Ninh, giai đoạn từ 2000 - 2016 101

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Hiện trạng khách du lịch đến Tây Ninh giai đoạn 2000 - 2016 82 Biểu đồ 2.2 Số lượt khách nội địa lưu trú của tỉnh Tây Ninh giai đoạn

2000 - 2016 83 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu khách du lịch nội địa đến Tây Ninh phân theo vùng năm

2016 (%) 84 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu khách du lịch nội địa đến Tây Ninh phân theo nghề

nghiệp, năm 2016 (%) 85 Biểu đồ 2.5 Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh, năm 2016 87 Biểu đồ 2.6 Số lượt khách và doanh thu du lịch Tây Ninh giai đoạn

2000 - 2016 89 Biểu đồ 2.7 Doanh thu du lịch và tỉ trọng trong tổng GDP Tây Ninh giai đoạn

2000 - 2016 90 Biểu đồ 2.8 Biểu đồ thể hiện mức độ hài lòng của du khách về mạng lưới giao

thông và chất lượng vận tải đường bộ Tây Ninh, năm 2016 (%) 92 Biểu đồ 2.9 Biểu đồ thể hiện mức độ hài lòng của khách du lịch về các dịch

vụ bưu chính – viễn thông Tây Ninh, năm 2016 (%) 93 Biểu đồ 2.10 Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch Tây Ninh giai đoạn 2000 – 2016 94 Biểu đồ 2.11 Mức độ hài lòng của khách du lịch về hệ thống cơ sở lưu trú du

lịch tỉnh Tây Ninh năm 2016 (%) 95 Biểu đồ 2.12 Mức độ hài lòng của khách du lịch đối với dịch vụ vui chơi giải trí

ở Tây Ninh, năm 2016 (%) 98 Biểu đồ 2.13 Số lao động ngành du lịch tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2000 – 2016 99 Biểu đồ 2.14 Số lượt khách và tỉ trọng khách tham quan Khu DTLSVH - DT

&DL núi Bà Đen giai đoạn 2000 - 2016 104 Biểu đồ 2.15 Số lượt khách và đoàn khách đến các khu di tích lịch sử cách

mạng tỉnh Tây Ninh, giai đoạn 2008 - 2016 106

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ

Bản đồ 1 Hành chính tỉnh Tây Ninh 62

Bản đồ 2 Tài nguyên du lịch tỉnh Tây Ninh 75

Bản đồ 3 Hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh 99

Bản đồ 4 Tuyến, điểm du lịch Tây Ninh 109

Bản đồ 5 Định hướng tổ chức không gian phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh 14143

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay cuộc sống của con người đã vượt ra khỏi sự ràng buộc của nhu cầu sinh tồn, hướng đến nhu cầu hưởng thụ và phát triển Vì vậy mọi người sau thời gian làm việc và học tập, cần khôi phục thể lực, thư giãn tinh thần thông qua hoạt động nghỉ ngơi, du lịch Do đó hoạt động du lịch ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (năm

2001), đã đề ra mục tiêu “phát triển nhanh du lịch, thật sự trở thành một ngành kinh tế

mũi nhọn” [15] và Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm 2006) cũng đã

xác định: “Phát triển du lịch, một ngành kinh tế mũi nhọn”; phấn đấu sau năm 2010,

Việt Nam được xếp vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực”

[16] Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính Trị (1/2017) về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn tiếp tục khẳng định vị trí và vai trò của ngành du lịch

trong nền kinh tế của nước ta: “Đến năm 2020, ngành du lịch cơ bản trở thành ngành

kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội” [2]

Trải qua gần 50 năm hình thành và phát triển, ngành du lịch nước ta đã có những bước tiến khích lệ và hiện đã trở thành một ngành kinh tế có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân Năm 2015 lượng khách du lịch quốc tế đã đạt gần 8 triệu lượt, và năm 2016, khách du lịch quốc tế lần đầu tiên đạt cột mốc 10 triệu lượt khách Tổng thu

từ khách du lịch đạt 337,83 nghìn tỉ đồng năm 2015 [129] và đạt hơn 400 nghìn tỉ đồng năm 2016 (tương đương 18 tỉ USD) [135]; Tỉ trọng GDP du lịch trong tổng GDP trong những năm qua cũng có những bước tiến đáng kể (từ sau đổi mới đến năm 2015

đã tăng từ 3% lên 6,6%), năm 2016 đóng góp trực tiếp đạt khoảng 6,8% GDP, cả gián tiếp và lan tỏa đạt 14% GDP [2]

Hoạt động du lịch trong những năm qua tăng trưởng khá mạnh nhưng hiện còn gặp không ít khó khăn khi phải cạnh tranh gay gắt với các nước xung quanh, nhất là trong bối cảnh hội nhập với khu vực và quốc tế Vì vậy việc đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng hoạt động du lịch đối với mỗi vùng, mỗi địa phương là việc làm cần thiết, quan trọng góp phần định hướng và có những giải pháp cụ thể cho hoạt động du lịch phát triển đạt hiệu quả cao

Trang 13

Cùng với sự phát triển và định hướng chung của du lịch quốc gia, Tây Ninh cũng là một điểm đến hấp dẫn khách du lịch Tây Ninh có vị trí thuận lợi, chỉ cách thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) 99 km dọc theo quốc lộ 22 Trên trục đường Xuyên

Á, Tây Ninh có vị trí quan trọng như điểm cầu nối giữa TPHCM và thủ đô Phnôm Pênh (Cam-pu-chia), do đó việc thông thương theo tuyến này có nhiều thuận lợi, là cơ hội để phát triển du lịch (PTDL) Bên cạnh sự thuận lợi của vị trí địa lí, Tây Ninh còn

có tài nguyên du lịch (TNDL) khá phong phú, với những điểm đến có giá trị lớn về tự nhiên và nhân văn như núi Bà Đen; Tòa Thánh Cao Đài; Hồ Dầu Tiếng; Vườn Quốc gia Lò Gò - Xa Mát; Di tích đặc biệt Căn cứ Trung ương cục miền Nam… tất cả làm nên lợi thế về du lịch mà không phải địa phương nào tại Việt Nam cũng có được

Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, các thành quả đã đạt được của du lịch Tây Ninh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do những yếu tố mang tính khách quan cũng như chủ quan mang lại Trong bối cảnh nước ta đang từng bước hội nhập với khu vực

và quốc tế, sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh cũng đã có nhiều chuyển biến, đời sống nhân dân được nâng cao đang tạo ra tiềm năng và nhu cầu mới đối với ngành du lịch, do vậy việc khai thác và PTDL của tỉnh đòi hỏi mang tính chiến lược và hiệu quả hơn Vì vậy, việc nghiên cứu tiềm năng, hiện trạng PTDL là cơ sở để xây dựng định hướng nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng PTDL trong bối cảnh hội nhập là việc làm hết sức cần thiết

Xuất phát từ những nhu cầu cấp bách của thực tiễn trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước về vấn đề du lịch, tác giả

đã lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập” làm luận án

cho quá trình nghiên cứu của mình

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa lí thuyết cơ bản về PTDL trong điều kiện hội nhập quốc tế

Trang 14

- Vận dụng cơ sở lí luận, thực tiễn và kinh nghiệm PTDL trong và ngoài nước để xác lập vào việc nghiên cứu PTDL trên địa bàn Tây Ninh

- Hệ thống hóa lý thuyết về tiềm năng PTDL và vận dụng để phân tích tiềm năng PTDL trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

- Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch, đánh giá những mặt mạnh

và hạn chế trong PTDL trên địa bàn giai đoạn 2000 – 2015 (cập nhật số liệu đến năm 2016)

- Phân tích cơ hội và thách thức đối với PTDL Tây Ninh trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

- Nêu ra định hướng và đề xuất một số giải pháp cụ thể phù hợp tình hình thực tế địa phương nhằm khắc phục những bất cập, hạn chế, phát huy cao độ mọi nguồn lực nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển bền vững ngành du lịch của tỉnh trong tiến trình hội nhập quốc tế

4 Lịch sử nghiên cứu đề tài

4.1 Trên thế giới

Ngành du lịch trên thế giới xuất hiện cùng với sự phát triển của ngành thủ công nghiệp, ngành thương mại và những sinh hoạt tôn giáo trên thế giới Tuy nhiên, những công trình khoa học nghiên cứu về các khía cạnh của du lịch như tài nguyên du lịch (TNDL), quy hoạch du lịch (QHDL) chỉ mới xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX và nở rộ cùng với xu hướng kế hoạch hóa, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và phát triển của ngành du lịch từ những năm 30 của thế kỉ XX [98]

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, số lượng người đi du lịch trên thế giới ngày càng nhiều, du lịch ngày càng được quan tâm phát triển và nghiên cứu ở nhiều quốc gia Vì vậy từ đó đến nay đã có nhiều dự án quy hoạch du lịch, nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết những lý luận về tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL) và QHDL được công bố Chỉ tính đến năm 1978, theo điều tra nghiên cứu của UNWTO (Tổ chức du lịch thế giới) trên toàn thế giới đã có tới 1619 dự án về quy hoạch du lịch, trong đó có điều tra, kiểm kê, đánh giá các nguồn lực phát triển du lịch tại 210 quốc gia và vùng lãnh thổ [97] Hiện nay chưa có số liệu thống kê chính thức nhưng chắc

Trang 15

chắn con số trên sẽ lớn hơn rất nhiều khi mà du lịch đang là một trong những ngành phát triển mạnh nhất trong thời gian gần đây

Ở những nước đứng hàng đầu về số lượng khách du lịch và thu nhập du lịch cũng là những nước có nhiều công trình lý luận về QHDL, TNDL và TCLTDL Các nước như Pháp, Hoa Kì, Canada… là những nước có nhiều công trình nghiên cứu về

du lịch, trong đó có nhiều công trình có giá trị khoa học cao Các công trình nghiên

cứu của Pháp rất nhiều, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như: “Du lịch ở khu

vực nông thôn Farcy”, Gunn và Burrg, 1976; Georges Caze Robert Lanquar,

Yvesraynouard trong cuốn “Quy hoạch du lịch” (1998) cũng đề cập tới lý luận về

phân loại, thống kê, đánh giá tài nguyên, chỉ ra các phương pháp xây dựng định mức

và tiêu chuẩn trong quy hoạch du lịch để các dự án quy hoạch đạt được sự phát triển bền vững

Các nhà khoa học của Hoa Kì có các công trình “Tổ chức các vùng du lịch” của Gunn, 1972; “Quy hoạch du lịch” của Cranne Russak, 1979,… Các nhà khoa học Canada cũng có nhiều công trình nghiên cứu du lịch theo hướng này như “Tourism

carrying capacity” (Orelly A.M., 1991) Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) trong

thời gian này cũng thực hiện các công trình nghiên cứu, xây dựng hệ thống phân loại TNDL làm cơ sở cho việc nghiên cứu, sử dụng TNDL cho các nước trên thế giới Từ năm 1972, Hội đồng di sản thế giới (WHC) của UNESCO đã được thành lập và tiến hành xây dựng các tiêu chuẩn, điều kiện công nhận các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đồng thời nghiên cứu, giúp đỡ các quốc gia trong việc nghiên cứu, bảo vệ và tôn tạo các di sản thế giới

Hầu hết các công trình trên đều là các công trình lý luận về các khía cạnh của

du lịch như TNDL, QHDL, TCLTDL , chỉ có một số ít các công trình nghiên cứu viết

về PTDL Các công trình nghiên cứu về PTDL tiêu biểu, có thể kể ra một số công trình

lớn như: “Cơ hội phát triển du lịch” của Văn phòng Tổng Kiến trúc sư trưởng về du

lịch, Paris, 1975; Các nhà khoa học của Hoa Kì có các công trình nghiên cứu PTDL

như: “Quy hoạch và phát triển du lịch” của Kaiser và Helber, 1978; “Du lịch và sự

phát triển sáng tạo” của Lawson và Baud Bovy, 1977 Hầu hết các công trình này

Trang 16

đều nói về thời cơ để PTDL, việc quy hoạch phải gắn với phát triển và sự sáng tạo trong PTDL trong bối cảnh thập niên 70, 80 của thế kỉ XX

Ở các nước Xã hội chủ nghĩa (XHCN) trước đây, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch, chủ yếu là các công trình nghiên cứu lý luận về phân vùng du lịch nghỉ dưỡng, kiểm kê, đánh giá tài nguyên, quy hoạch vùng KT - XH Tiêu biểu

như các công trình của các nhà địa lý Liên Xô: V.X Tauxkar, 1969, “Nghiên cứu các

chỉ tiêu đánh giá, phục vụ mục đích quy hoạch du lịch” ; L.I.Mukhina, 1973, “Những nguyên tắc và phương pháp đánh giá kĩ thuật các tổng thể tự nhiên”… Đây là các

công trình có giá trị về mặt phương pháp luận, là cơ sở khoa học cho các công trình đánh giá tài nguyên ở Liên Xô, Ba Lan và nhiều nước XHCN khác E.A.Kotliarop (1978), đã tiến hành đánh giá lãnh thổ, đưa ra những khái niệm về vùng du lịch nhằm hình thành và phát triển các tổng thể lãnh thổ du lịch; Pirojni (1985), đã tổng quan những lý luận về địa lý du lịch trên cơ sở đánh giá các thành phần của hệ thống lãnh

thổ du lịch; E.N Pertxik (1978), với công trình “Quy hoạch vùng” đã tiến hành tổng

quan những vấn đề về cơ sở khoa học của quy hoạch vùng, có thể vận dụng trong quy hoạch du lịch Nhiều nhà khoa học ở Ba Lan, Hungari, Rumani, Tiệp Khắc, CHDC Đức cũng đã tiến hành nghiên cứu, đánh giá, chỉ ra các tiêu chí về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, TNDL tự nhiên, giao thông cho một chương trình liên kết phát triển

du lịch cuối tuần giữa các nước này và cho quy hoạch phát triển du lịch

Từ những năm 1970 đến nay, ở nhiều nước đang phát triển coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn; việc nghiên cứu, điều tra, kiểm kê, đánh giá, xếp loại TNDL được quan tâm nhiều hơn để phục vụ mục đích phát triển du lịch Ở Châu Á, cũng có một số

công trình nghiên cứu về PTDL như “Phát triển và quản lý du lịch địa phương”, Ngô Tất Hổ, 2000; “Hệ thống chỉ tiêu quy hoạch” của Ngô Vi Dân, 1979 Các công trình

viết về PTDL còn ít, hầu như chỉ viết về nghiên cứu, điều tra, đánh giá và xếp loại TNDL phục vụ khai thác du lịch

Trên quan đểm phát triển bền vững, năm 2004, Tổ chức Du lịch Thế giới của

Liên Hợp Quốc (UNWTO, 2004) đã xuất bản ấn phẩm “Các chỉ tiêu về phát triển bền

vững cho các điểm đến du lịch: Sách hướng dẫn” Trong ấn phẩm này, UNWTO đã sử

Trang 17

dụng mô hình phát triển bền vững với ba nhóm chỉ tiêu: kinh tế - xã hội - môi trường

để đánh giá về điểm đến của du khách trong hoạt động du lịch

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các công trình viết về PTDL trong xu hướng hội nhập với khu vực và quốc tế còn chưa nhiều, bản thân khái niệm “Hội nhập” ở các nước cũng là một khái niệm mới, được hiểu theo nhiều cách khác nhau, chưa có sự thống nhất chung được mọi người chấp nhận Do vậy, hướng nghiên cứu về PTDL trong thời kì hội nhập cũng gặp phải nhiều khó khăn, lịch sử nghiên cứu đề tài trên thế giới còn hạn chế

4.2 Việt Nam

Việc nghiên cứu PTDL đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt ở Việt Nam quá trình này đã thật sự bùng nổ từ những năm cuối thế kỉ

XX trở lại đây

Từ năm 1989 đến nay đã có nhiều đề tài khoa học, dự án nghiên cứu về địa lý

du lịch Một số công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận và phương pháp luận có thể kể

đến như “Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên

du lịch biển Việt Nam” do Trần Cầu và Lê Thông chủ biên, 1993; “Địa lý du lịch” do

Nguyễn Minh Tuệ chủ trì, 1994 Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu có giá trị

khác như: Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh và cộng sự thực hiện, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, 1991; “Tổ chức lãnh thổ du lịch” của

Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, 1999; “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ biên, 2000; “Địa lý du lịch Việt Nam” do Nguyễn Minh Tuệ

(chủ biên) và nnk, 2010…

Từ năm 1994 đến nay, nhiều dự án quy hoạch PTDL tầm cỡ quốc gia và của nhiều tỉnh, thành về các điểm, khu du lịch đã hoàn thành, được Nhà nước và các địa

phương phê duyệt Có thể kể đến “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam

giai đoạn 1995- 2010” do Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch tiến hành, 1995; “Quy hoạch tổng thể phát triển vùng du lịch Bắc Bộ”, 2001; “Quy hoạch phát triển vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ”, 2001; “Quy hoạch phát triển vùng Đông Bắc”, 1995;

“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng trung du miền núi phía Bắc”, 2006…

Trang 18

Ngoài những quy hoạch kể trên, còn có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá điều kiện tự nhiên, khai thác tài nguyên (tự nhiên, nhân văn) phục vụ mục đích du lịch cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Một trong số những công trình ra đời sớm và

được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là của tác giả Đặng Duy Lợi (1992) “Đánh giá

và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch” Cùng hướng nghiên cứu đánh giá về tài nguyên du lịch còn

có một số công trình khác như: tác giả Trần Văn Thắng (1995), “Đánh giá khả năng

khai thác các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ mục đích du lịch”;

Phạm Văn Du (1996), “Nghiên cứu đặc điểm tài nguyên du lịch Thủ đô Hà Nội phục

vụ cho việc khai thác có hiệu quả hoạt động kinh doanh du lịch”; Nguyễn Thị Hải

(2002), “Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch cuối tuần của

Hà Nội”; Lê Văn Tin (2000), “Đánh giá tài nguyên thiên nhiên tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ phát triển du lịch”; Nguyễn Hữu Xuân (2009), “Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên thành phố Đà Lạt và phụ cận phục vụ phát triển một số loại hình du lịch”; Vũ Thị Hạnh (2012), “Đánh giá tiềm năng tự nhiên phục vụ phát triển

du lịch bền vững khu vực ven biển và các đảo tỉnh Quảng Ninh”… Các công trình nêu

trên đều là luận án tiến sĩ, phó tiến sĩ được các tác giả đầu tư nghiên cứu kĩ càng, nội dung chuyên sâu, là những tư liệu bổ ích cho hướng nghiên cứu về đánh giá điều kiện

tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển du lịch Ngoài ra còn nhiều công trình khác là các luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học cũng có cùng hướng nghiên cứu nêu trên đã được thực hiện trong thời gian qua

Ngoài các hướng nghiên cứu trên, hướng nghiên cứu về PTDL ở các địa phương cũng bùng nổ trong thời gian gần đây Có thể kể đến một số công trình như: Luận án

Tiến sĩ của Đỗ Quốc Thông (2004) “Phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh với

việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận”; Nguyễn Thị Nguyên Hồng (2004),

“Giải pháp cơ bản khai thác tiềm năng du lịch của Thủ đô Hà Nội và phụ cận nhằm

phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2010”… Ngoài các luận án trên, còn có rất nhiều

công trình nghiên cứu là các luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học được đăng trên các tạp chí của các trường đại học, viện nghiên cứu

Trang 19

Trong những năm gần đây với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành xu hướng chủ đạo trong các mối liên hệ kinh tế thì xu hướng phát triển bền vững các ngành kinh tế ngày càng trở thành xu hướng phổ biến trên thế giới Ở Việt Nam xu hướng phát triển du lịch theo hướng bền vững cũng ngày càng thu hút nhiều nhà nghiên cứu Có thể kể đến những công trình nghiên cứu về du lịch theo hướng bền vững ở một số địa phương trong

những năm gần đây, như: luận án của Đoàn Liêng Diễm (2003) “Một số giải pháp

phát triển du lịch bền vững Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010”; La Nữ Ánh Vân

(2012) “Phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận trên quan điểm phát triển bền vững”…

Ngoài một số luận án trên, còn có rất nhiều công trình khoa học cũng nghiên cứu về

phát triển du lịch theo hướng bền vững

Sau gần 30 năm đất nước đổi mới với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của kinh

tế thị trường tạo động lực thúc đẩy quá trình hội nhập Hội nhập quốc tế trở thành xu thế tất yếu của thế giới đồng thời là con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa Do vậy sự phát triển các ngành kinh tế phải gắn với quá trình hội nhập, vì vậy việc nghiên cứu về sự phát triển của du lịch cũng cần đặt trong bối cảnh chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Nghiên cứu theo hướng này có thể

kể đến một số công trình như: “Kỷ yếu hội thảo quốc gia - Phát triển du lịch Việt Nam

trong bối cảnh tích cực, chủ động hội nhập quốc tế”- Hội thảo quốc gia do Tổng cục

Du lịch tổ chức (2010); Công trình “Phát triển du lịch Việt Nam trong bối cảnh hội

nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Nguyễn Văn Mạnh (2011)… Gần đây Trường Cao

đẳng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn đã phối hợp với trường Đại học Charles

De Gaulle - Lille 3 (Pháp) tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế (2015), với chủ đề toàn

cầu hóa và địa phương hóa du lịch, với sự ra đời của kỷ yếu: “Kỷ yếu hội thảo khoa

học quốc tế - Toàn cầu hóa du lịch và địa phương hóa du lịch” Ngoài ra còn có một

số luận văn thạc sĩ, các bài báo khoa học cũng nghiên cứu về sự phát triển du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhưng với số lượng còn chưa nhiều, nội dung còn đơn

Trang 20

4.3 Ở Tây Ninh

Về lĩnh vực QHDL trên địa bàn tỉnh, có thể kể đến một số công trình như:

“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì 1995 - 2010” do Viện

Nghiên cứu Phát triển Du lịch lập năm 1994 (thường gọi Quy hoạch 1995) Trải qua quá trình phát triển, quy hoạch 1995 đã bộc lộ nhiều hạn chế, được chỉnh sửa, điều

chỉnh cho phù hợp trong công trình: “Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch

tỉnh Tây Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” do Sở Văn hóa, Thể thao

và Du lịch Tây Ninh chủ trì (2009) dựa trên quy hoạch 1995 trước đây Trước những yêu cầu mới của tình hình hiện nay, UBND tỉnh Tây Ninh đã cho công bố quy hoạch

mới “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 và định

hướng đến năm 2030” vào cuối năm 2013 với sự giúp đỡ của Viện Nghiên cứu Phát

triển Du lịch, thay thế cho các quy hoạch đã có trước đó Quy hoạch này sẽ định

hướng cho sự phát triển của du lịch tỉnh Tây Ninh trong những năm tới đây

Ngoài các công trình về QHDL, trên địa bàn Tây Ninh còn có một số công trình của các học viên cao học cũng nghiên cứu về du lịch trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây Những công trình này nghiên cứu về hoạt động marketing trong du lịch, bước đầu nghiên cứu về tiềm năng cũng như định hướng phát triển một số loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đây cũng như tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về PTDL thời kì hội nhập trên địa bàn Tây Ninh, tác giả đã tiếp tục tiến hành nghiên cứu, đánh giá tiềm năng phục vụ PTDL, hiện trạng PTDL cũng như đề xuất những giải pháp phát triển hợp lí trong thời

kì hội nhập

Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu những xu hướng mới trong PTDL, tác giả tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu, đưa ra cách đánh giá khách quan về tiềm năng du lịch trên địa bàn, phân tích thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh theo hướng đáp ứng yêu cầu hội nhập, đưa ra những định hướng và giải pháp PTDL hợp lí trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tạo nên bức tranh vừa tổng quan vừa chi tiết về hoạt động du lịch ở Tây Ninh trong thời kì mới, cũng như lợi thế so sánh trong PTDL của tỉnh với các địa phương trong vùng du lịch Đông Nam Bộ Chính vì thế, với đề tài này tác giả mong rằng sẽ có những đóng góp nhất định cho sự

Trang 21

phát triển du lịch của tỉnh đáp ứng yêu cầu mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện

nay

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu, khảo sát chủ yếu trên phạm vi tỉnh

Tây Ninh, ưu tiên nghiên cứu các địa bàn trọng điểm; tuy nhiên du lịch là ngành kinh

tế tổng hợp liên vùng nên đề tài được xem xét trong mối quan hệ với các tỉnh lân cận

- Nội dung nghiên cứu: Giới hạn trong phạm vi ngành du lịch nên đề tài tập

trung nghiên cứu đánh giá tiềm năng, cơ sở hạ tầng, phân tích thực trạng phát triển, đặc biệt đánh giá sự phát triển du lịch của tỉnh theo các tiêu chí đáp ứng yêu cầu của thời kì hội nhập Trên cơ sở đó đưa ra những định hướng và đề xuất giải pháp hợp lí nhằm phát triển ngành du lịch Tây Ninh đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế Tuy nhiên, việc đánh giá PTDL theo các tiêu chí đáp ứng yêu cầu hội nhập chỉ thực hiện được ở mức độ nhất định trong khuôn khổ của một luận án

- Thời gian thực hiện: Đề tài tập trung điều tra, thu thập số liệu, nghiên cứu và

phân tích chủ yếu trong giai đoạn 2000 - 2015 (một số kết quả nghiên cứu được cập

nhật đến năm 2016), định hướng phát triển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

6 Quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Hệ thống lãnh thổ du lịch được xem là một hệ

thống lãnh thổ có đặc điểm tổng hợp, được tạo thành bởi các thành tố: tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó mật thiết với nhau Các yếu tố tự nhiên của Tây Ninh khá đa dạng; các yếu tố văn hóa lịch sử rất độc đáo, mang đặc trưng riêng Tất cả những yếu tố đó luôn được xem xét, đánh giá trong mối quan hệ tổng thể Quan điểm tổng hợp lãnh thổ giúp người nghiên cứu có cái nhìn toàn diện về

du lịch

- Quan điểm hệ thống: Khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó

trong vị trí tương quan với các vấn đề, các yếu tố trong hệ thống cao hơn và trong cấp phân vị thấp hơn Du lịch Tây Ninh là một bộ phận của du lịch vùng Đông Nam Bộ Trong vùng, du lịch Tây Ninh được xem như cửa ngõ của vùng Đông Nam Bộ, giúp kết nối du lịch của vùng với các nước láng giềng Quan điểm hệ thống cho phép phân tích, tổng hợp và xác định mối quan hệ hữu cơ giữa việc PTDL và phát triển KT - XH

Trang 22

Tây Ninh, cho thấy mối tương quan giữa lãnh thổ du lịch tỉnh Tây Ninh với lãnh thổ

du lịch ở cấp vùng, quốc gia cũng như ở cấp thấp hơn như tuyến, điểm du lịch

- Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Vận dụng quan điểm lịch sử - viễn cảnh trong

nghiên cứu du lịch Tây Ninh để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển theo không gian và thời gian trên từng địa bàn cụ thể Trong quá trình nghiên cứu, cần thấy các đối tượng địa lý đều tồn tại và phát triển theo quy luật khách quan Do vậy, khi nghiên cứu về PTDL trên địa bàn cần phải nắm vững lịch sử hình thành, khai thác, bảo tồn trong quá khứ, hiện tại cũng như nhận định về xu hướng phát triển của đối tượng trong tương lai, làm cơ sở cho những định hướng khai thác tài nguyên cũng như lãnh

thổ du lịch

- Quan điểm phát triển bền vững (PTBV): Du lịch là ngành mang lại hiệu quả

kinh tế, văn hóa, xã hội cao Tuy nhiên trong quá trình PTDL sẽ có những tác động nhất định đến môi trường xung quanh, do đó cần phải tính đến yếu tố PTBV khi sử dụng TNDL Ngày nay, PTBV là xu thế của nhân loại và du lịch Tây Ninh cũng không nằm ngoài xu thế đó Quan điểm này sẽ chi phối việc đánh giá PTDL, đề xuất định hướng và các giải pháp PTDL trên địa bàn Tây Ninh trong bối cảnh hội nhập Do vậy việc PTDL trên địa bàn phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo tài nguyên, đảm bảo môi trường sinh thái bền vững

- Quan điểm hội nhập: Theo Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020,

tầm nhìn đến năm 2030 đã đặt ra mục tiêu: “xây dựng con người Việt Nam phù hợp

với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Tiếp thu những giá trị văn hóa của nhân loại; bảo tồn, phát huy và quảng bá các giá trị văn hóa của Việt Nam; nâng cao hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam” [12] Du

lịch là một trong những ngành đi tiên phong trong việc thực hiện sứ mệnh quảng bá, nâng cao hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc

tế hiện nay Do vậy trong PTDL cần chú ý đến quan điểm hội nhập của Đảng và Nhà nước nhằm bảo tồn, phát huy và quảng bá các giá trị văn hóa, góp phần nâng cao hình ảnh của đất nước và con người Việt Nam

Trang 23

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp thu thập và xử lí tư liệu, thông tin

Đây là phương pháp quan trọng và xuyên suốt trong quá trình thực hiện luận án Việc thu thập, phân tích, phân loại và tổng hợp tài liệu, thông tin liên quan sẽ giúp ta hiểu biết về những nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại ở phạm vi địa phương và cả nước, phát hiện ra những vấn đề đã nghiên cứu cũng như những vấn đề còn bỏ ngỏ Trong luận án, phương pháp này được tác giả sử dụng nhiều ở phần mở đầu (lịch sử nghiên cứu vấn đề) và chương 1 Các số liệu được sử dụng trong luận án chủ yếu từ Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Tổng cục du lịch, Niên giám thống kê cũng như

Sở VH,TT&DL Tây Ninh cung cấp Trên cơ sở những tài liệu phong phú đó, cần xử lí, phân tích các số liệu này để có những nhận định, đánh giá khoa học, phù hợp với thực

tế, đồng thời có thể xây dựng các bản đồ, biểu đồ và đưa ra những kết luận chân thực, chính xác Trong luận án, việc xử lí tư liệu, thông tin được tác giả sử dụng nhiều ở chương 2 (phần thực trạng PTDL)

7.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Đây là phương pháp truyền thống của Địa Lý học được sử dụng để khảo sát, điều tra thực tế, thu thập thông tin chính xác ở địa bàn nghiên cứu, đồng thời bổ sung các tài liệu còn thiếu, kiểm chứng các dữ liệu đã có và kết quả nghiên cứu Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm góp phần làm cho kết quả mang tính xác thực, khắc phục hiệu quả những hạn chế của phương pháp thu thập, xử lí số liệu trong phòng Phương pháp này giúp người nghiên cứu tiếp cận vấn đề một cách chủ động, sát sao,

có hiểu biết thật sự, tránh những ý kiến chủ quan và gắn nghiên cứu với thực tiễn Trong nhiều trường hợp, nó là phương pháp duy nhất để thu thập thông tin đáng tin cậy và xây dựng ngân hàng tư liệu cho các phương pháp nghiên cứu khác Phương pháp này được tác giả thực hiện chủ yếu ở chương 2, phần nghiên cứu về tiềm năng PTDL trên địa bàn

7.3 Phương pháp bản đồ - GIS

Việc kết hợp phương pháp bản đồ và GIS trong nghiên cứu đề tài là rất cần thiết

và mang lại hiệu quả cao Điều này giúp nắm được những thông tin quan trọng, đáp ứng cho việc đi lại, tham quan, giải trí, ăn ở của du khách Để xây dựng bản đồ cho

Trang 24

luận án, đề tài có sử dụng một số bản đồ chuyên đề như hành chính, GTVT và các số liệu nghiên cứu Với sự trợ giúp của GIS, tác giả đã xây dựng các bản đồ: Bản đồ hành chính tỉnh Tây Ninh; Bản đồ tài nguyên du lịch tỉnh Tây Ninh; Bản đồ hiện trạng PTDL tỉnh Tây Ninh; Bản đồ tuyến, điểm du lịch Tây Ninh; Bản đồ định hướng tổ chức không gian PTDL tỉnh Tây Ninh

7.4 Phương pháp điều tra xã hội học

Phương pháp này có vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu Địa lý du lịch vì tính chất xã hội của đối tượng nghiên cứu Phổ biến nhất là hỏi ý kiến, quan sát cá nhân, nghiên cứu tài liệu Để thu thập số liệu về cảm nhận và đánh giá của du khách đối với hoạt động du lịch trên địa bàn, tác giả sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi và phỏng vấn đối với du khách Mức độ cảm nhận của du khách phần lớn được ước lượng bằng thang đo 5 cấp độ: Rất tốt - Tốt - Khá - Trung bình - Kém (phụ lục 5b) Ngoài việc khảo sát đối với du khách trong và ngoài nước đến Tây Ninh, tác giả còn tiến hành khảo sát cộng đồng địa phương với tổng số phiếu 500 phiếu Nội dung khảo sát tuy đơn giản nhưng gắn liền với cộng đồng địa phương nên nhận được

7.5 Phương pháp thang điểm tổng hợp

Trong quá trình nghiên cứu về PTDL trên địa bàn Tây Ninh, tác giả đã sử dụng phương pháp thang điểm tổng hợp để đánh giá TNDL Nghiên cứu đã lựa chọn các tiêu chí phù hợp để đánh giá, xác định thang điểm cho các tiêu chí và đưa ra thang điểm tổng hợp Dựa vào phương pháp này, việc đánh giá TNDL có thể được thực hiện

Trang 25

một cách tương đối chính xác, nhanh chóng và toàn diện Phương pháp này được tác giả sử dụng ở mục 1.1.5 Hệ thống tiêu chí đánh giá TNDL và mô hình phân tích SWOT phục vụ PTDL

7.7 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia có ưu điểm lớn trong việc sử dụng để đánh giá các nội dung thiên về định tính, kiểm nghiệm lại các tính toán và những nhận định làm căn cứ cho việc đưa ra các kết luận có tính khoa học Phương pháp này góp phần quan trọng trong việc định hướng đưa ra các kết luận cần thiết, các kiến nghị và lựa chọn các phương án phát triển với những thông tin chính xác Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cố gắng trao đổi, xin ý kiến tư vấn của các chuyên gia về các nội dung liên quan đến khảo sát sự hài lòng của du khách, khảo sát cộng đồng dân cư, đánh giá TNDL Chuyên gia phần lớn là những người có nhiều kinh nghiệm, công tác ở Sở VH,TT&DL Tây Ninh cũng như Ban quản lý các di tích Phương pháp này thể hiện rõ trong phần phụ lục (khảo sát của tác giả tại các điểm TNDL)

7.8 Phương pháp phân tích SWOT

SWOT là viết tắt của S – Strengths (Điểm mạnh), W – Weaknesses (Điểm yếu),

O – Opportunities (Cơ hội) và T – Threats (Thách thức, đe dọa) Đây là phương pháp phân tích cho phép kết hợp các yếu tố bên trong (điểm mạnh, điểm yếu) và bên ngoài (cơ hội, thách thức) để đưa ra định hướng phát triển cho đối tượng nghiên cứu Phương pháp này được tác giả thực hiện ở mục 1.1.5 Hệ thống tiêu chí đánh giá TNDL và mô hình phân tích SWOT phục vụ PTDL

7.9 Phương pháp dự báo

Công tác dự báo dựa trên cơ sở thực tiễn, những tiềm năng du lịch, chiến lược phát triển KT - XH của tỉnh, phương hướng, nhiệm vụ phát triển ngành du lịch của Sở

Trang 26

VH,TT&DL Tây Ninh Các tính toán dự báo dựa trên thực tiễn phát triển và các phương án trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, luận án dự báo theo phương án trung bình, dựa trên khả năng và những giải pháp có thể thực hiện ở hiện tại cũng như tương lai Phương pháp này được thể hiện rõ trong chương 3, mục 3.2 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập

8 Đóng góp mới của đề tài

Hội nhập là xu thế tất yếu, tạo ra thời cơ và thách thức cho sự phát triển các ngành kinh tế, trong đó có du lịch Những đóng góp cụ thể của đề tài:

- Đúc kết và làm sáng tỏ những vấn đề cơ sở lí luận, thực tiễn và kinh nghiệm PTDL trong điều kiện hội nhập của Việt Nam, vận dụng vào nghiên cứu PTDL tại Tây Ninh

- Vận dụng bộ chỉ số đánh giá về mức độ thuận lợi của TNDL để xác định tiềm năng du lịch của các điểm chủ yếu trên địa bàn, từ đó đưa ra định hướng và giải pháp khai thác hợp lí

- Khai thác được kết quả khảo sát khách du lịch và cộng đồng để phân tích và đưa ra nhận định phù hợp với thực tế địa phương

- Cải tiến và phát triển bộ tiêu chí đánh giá phát triển du lịch cấp tỉnh một cách toàn diện, khách quan trong bối cảnh hội nhập quốc tế

- Phân tích chi tiết thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh Trên cơ sở đó chỉ

ra những mặt đạt được và hạn chế của du lịch Tây Ninh xét theo bộ tiêu chí đánh giá

- Đề xuất những định hướng chủ yếu và đưa ra các nhóm giải pháp cơ bản có cơ

sở khoa học nhằm thúc đẩy du lịch Tây Ninh phát triển hiệu quả, bền vững, đáp ứng được yêu cầu của thời kì hội nhập

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích trong nghiên cứu và giảng dạy; giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu du lịch cấp tỉnh một cách toàn diện, khách quan, hiệu quả, theo kịp sự phát triển của thời đại mới; đặc biệt giúp cho các nhà quản lí địa phương, ngành có thêm cơ sở để ra các quyết định chính xác về TCLTDL nói riêng và tổ chức lãnh thổ kinh tế nói chung ở địa phương

Trang 27

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án được thể hiện trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch thời kì hội nhập

Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh

Chương 3: Định hướng chủ yếu và một số giải pháp phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh

thời kì hội nhập

Trang 28

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN

DU LỊCH THỜI KÌ HỘI NHẬP 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khái niệm du lịch

Hoạt động du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người, đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống Du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới Song khái niệm “Du lịch” vẫn được hiểu rất

khác nhau theo các cách tiếp cận và quan điểm riêng

Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch của nhiều tác giả như Clusman (1930), Hunziker và Krapf (1951), Michael Coltman Năm 1991, tại Otawa

(Canada), Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch đưa ra định nghĩa:“Du lịch là hoạt

động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm” [dẫn lại từ 88]

Năm 1993, Hội nghị lần thứ 27 của UNWTO đã đưa ra khái niệm du lịch thay

thế cho khái niệm năm 1963: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với

môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm” [dẫn lại từ 88]

Theo Luật Du lịch Việt Nam mới nhất hiện nay (2017), “Du lịch là các hoạt

động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” (điều 3, chương I) [46]

Qua khái niệm về “du lịch” trong Luật Du lịch 2017 (so với Luật Du lịch 2005),

có thể thấy khái niệm “du lịch” không khác nhau nhiều, Luật Du lịch 2017 chỉ bổ sung

và nhấn mạnh đến thời gian không quá 1 năm liên tục và có thể kết hợp du lịch với

Trang 29

mục đích hợp pháp khác Ở Việt Nam khái niệm “du lịch” trong Luật Du lịch là được thừa nhận rộng rãi hơn cả

1.1.1.2 Khái niệm phát triển du lịch

Du lịch có tầm quan trọng trong nền kinh tế nhưng để PTDL thì khái niệm PTDL vẫn chưa có sự thống nhất cao, chưa có một khái niệm chung được mọi người chấp nhận Theo tác giả hiểu và vận dụng trong nghiên cứu này, PTDL được hiểu là sự khai thác và sử dụng hợp lí nguồn TNDL, sự gia tăng về lượng và chất du khách, doanh thu, cùng mức độ đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế, đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch

1.1.1.3 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch (TNDL) được xem là tiền đề để phát triển du lịch TNDL càng phong phú, đặc sắc, có mức độ tập trung cao, biết khai thác và sử dụng hợp lí thì càng có sức hấp dẫn với du khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao Tuy nhiên khái niệm TNDL cũng không hoàn toàn giống nhau

Theo I.I Pirojnik (1985), “TNDL là những tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và

những thành phần của chúng giúp cho việc phục hồi, phát triển thể lực, trí lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ du lịch gắn liền với nhu cầu ở thời điểm hiện tại hay tương lai và trong điều kiện kinh tế - kĩ thuật cho phép” [dẫn lại từ 88]

Theo Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010), đưa ra định nghĩa về TNDL như sau:

“TNDL là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn du khách; đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững” [88]

Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2017 quy định tại điều 3, chương I thì “TNDL

là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch TNDL bao gồm TNDL tự nhiên và TNDL văn hóa” [46]

Khái niệm TNDL trong Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 (so với Luật Du lịch 2005) không có gì khác biệt lớn, chỉ khác nhau về tên gọi trong cách phân loại TNDL

Trang 30

(TNDL văn hóa thay thế cho TNDL nhân văn), còn về bản chất thì gần như tương tự nhau

Như vậy, qua các nghiên cứu trên ta thấy có nhiều cách tiếp cận đối với khái niệm TNDL giữa các nhà nghiên cứu Trong luận án này tác giả sử dụng khái niệm trong Luật Du lịch vì nó đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của TNDL

1.1.1.4 Sản phẩm du lịch

Theo Michael M Coltman, “sản phẩm du lịch (SPDL) là một tổng thể bao gồm

các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình” [dẫn lại từ 88]

Theo Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010), “SPDL là các dịch vụ, hàng hóa cung

cấp cho du khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng”

[88]

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch

vụ trên cơ sở khai thác giá trị TNDL để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” [46]

Về cơ bản, khái niệm SPDL trong Luật Du lịch năm 2017 (so với năm 2005) tương tự nhau, khái niệm trong Luật Du lịch năm 2017 chỉ làm rõ thêm trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên Qua các khái niệm trên, có thể hiểu SPDL là sự kết hợp những dịch vụ du lịch và phương tiện vật chất cần thiết trên cơ sở khai thác các TNDL nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách

1.1.1.5 Khách du lịch

Khách du lịch là người thực hiện các chuyến đi, là đối tượng phục vụ của hoạt động du lịch Có nhiều khái niệm được đưa ra không hoàn toàn giống nhau Nhìn chung các khái niệm này đưa ra đều dựa vào 3 khía cạnh gồm mục đích chuyến đi, thời gian và không gian của chuyến đi

Theo một số nhà nghiên cứu, định nghĩa đầu tiên về khách du lịch xuất hiện vào

cuối thế kỉ XVIII tại Pháp: “Khách du lịch là những người thực hiện một cuộc hành

trình lớn” Vào đầu thế kỉ XX, nhà kinh tế học người Áo, Josef Stander định nghĩa:

“Khách du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thỏa mãn các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi các mục đích kinh tế” [dẫn lại từ 88]

Trang 31

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 quy định tại điều 3 chương I: “Khách du

lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến” [46] Cũng theo điều 10, chương II trong Luật Du lịch 2017

Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch

Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài”

Như vậy qua khái niệm “khách du lịch” trong Luật Du lịch 2017 (so với Luật Du lịch 2005), không có sự khác biệt lớn Tuy nhiên, Luật Du lịch 2017 quy định chi tiết

và rõ ràng hơn, khách du lịch bao gồm ba bộ phận: khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài

1.1.1.6 Các loại hình du lịch

Loại hình du lịch được hiểu “là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc

điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau hoặc được xếp chung theo một mức giá nào đó”

[20]

Các hoạt động du lịch rất phong phú và đa dạng Tùy theo yêu cầu và mục đích khác nhau mà các hoạt động đó có thể phân thành các loại hình khác nhau Theo

Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010), các loại hình du lịch được phân loại như sau [88]:

- Phân loại theo mục đích chuyến đi: du lịch được chia thành: du lịch thuần túy và du

lịch kết hợp

+ Du lịch thuần túy: bao gồm các loại hình sau: du lịch tham quan; du lịch nghỉ

dưỡng; du lịch giải trí; du lịch khám phá; du lịch thể thao không chuyên…

Trang 32

+ Du lịch kết hợp: ngoài mục đích du lịch thuần túy cũng có nhiều cuộc hành

trình tham quan vì các lý do khác nhau như học tập, công tác, hội nghị, tâm linh… và trong cuộc hành trình này không ít người sử dụng các dịch vụ du lịch Do vậy sẽ có một số loại hình du lịch kết hợp

- Phân loại theo tài nguyên du lịch: du lịch được phân thành hai hình thức cơ bản: du

lịch văn hóa và du lịch sinh thái

Luật Du lịch Việt Nam (năm 2017) cũng đã nêu ra một số loại hình du lịch cơ bản sau:

“Du lịch cộng đồng: là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi

Du lịch văn hóa: là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại

Du lịch sinh thái: là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường”

- Phân loại theo lãnh thổ hoạt động: du lịch được chia thành: du lịch trong nước và

du lịch quốc tế, trong đó du lịch quốc tế được chia thành 2 loại: du lịch quốc tế chủ động và du lịch quốc tế bị động

Qua các định nghĩa và phân loại trên cho thấy khái niệm loại hình du lịch có nhiều cách hiểu khác nhau, mỗi cách hiểu là sự gộp nhóm của nhiều loại hình du lịch

cụ thể Một số loại hình du lịch phổ biến hiện nay được sử dụng trong luận án: du lịch tham quan, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tâm linh, du lịch về nguồn, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch chữa bệnh

1.1.1.7 Chương trình du lịch - Tour du lịch

Tour du lịch là một thuật ngữ lấy nguyên gốc từ danh từ “tour” trong tiếng Anh,

có nghĩa là “Chuyến đi du lịch” Tour du lịch là sản phẩm du lịch được đánh giá theo một lộ trình có sự đặt trước về thời gian, địa điểm và những dịch vụ liên quan Như

vậy, khái niệm tour du lịch gần nhất với khái niệm chương trình du lịch

Trang 33

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 quy định: “Chương trình du lịch là văn

bản thể hiện lịch trình, dịch vụ và giá bán được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ điểm xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi” [47]

So với khái niệm chương trình du lịch trong Luật Du lịch 2005, về cơ bản chương trình du lịch trong Luật Du lịch hiện nay không có nhiều thay đổi, được mọi người hiểu theo cách gọi quen thuộc “tour du lịch”

1.1.1.8 Cơ sở lưu trú du lịch

Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 quy định: “Cơ sở lưu trú du lịch là nơi cung

cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch” [46] Cũng theo Luật Du lịch

quy định, cơ sở lưu trú du lịch gồm những loại sau: “Khách sạn, biệt thự du lịch, căn

hộ du lịch, tàu thủy lưu trú du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, bãi cắm trại du lịch và các cơ sở lưu trú du lịch khác” [46]

Như vậy qua khái niệm “cơ sở lưu trú du lịch” trong Luật Du lịch năm 2017 và

so với khái niệm trong Luật Du lịch (năm 2005) cho ta thấy về bản chất không có sự thay đổi nhưng cách định nghĩa cũng như câu từ trong Luật Du lịch 2017 ngắn gọn, hàm chứa đầy đủ nội dung

1.1.1.9 Doanh thu du lịch – Tổng thu từ khách du lịch

Doanh thu du lịch: là tổng số tiền thu được do kết quả bán hàng hóa và hoàn

thành các dịch vụ du lịch của các đơn vị, bao gồm các khoản thu do các cơ sở dịch vụ của ngành du lịch thu được từ khách du lịch

Tổng thu từ khách du lịch: là tất cả các khoản thu do du khách chi trả, đó là

doanh thu từ lưu trú và ăn uống, từ vận chuyển khách du lịch và lữ hành, từ bán hàng lưu niệm, từ các dịch vụ khác như vui chơi, giải trí, dịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, giao thông công cộng… Tóm lại, gồm tất cả những khoản thu mà

xã hội thu được từ khách du lịch

1.1.1.10 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch

Có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức lãnh thổ du lịch (TCLTDL) Theo

Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010): “Tổ chức lãnh thổ du lịch là một hệ thống liên kết

không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc

sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng và

Trang 34

các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất” [88]

TCLTDL mang tính lịch sử Cùng với sự phát triển của xã hội, trước hết của sức sản xuất xã hội đã dần xuất hiện các hình thức TCLTDL Cũng theo Nguyễn Minh Tuệ và

nnk (2010),“TCLTDL có thể chia thành 3 hình thức chủ yếu: hệ thống lãnh thổ du

lịch, cụm tương hỗ phát triển du lịch (thể tổng hợp lãnh thổ du lịch) và vùng du lịch”

[88]

1.1.1.11 Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch

Hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch rất khác nhau giữa các nước Đối với nước ta, theo Báo cáo Quy hoạch tổng thể Du lịch Việt Nam đến năm 2010, các nhà

khoa học đưa ra 5 cấp phân vị: điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á

vùng du lịch, vùng du lịch [dẫn lại từ 88] Trong chiến lược phát triển du lịch Việt

Nam giai đoạn 2011 – 2020, chỉ phân thành 4 cấp phân vị, trong đó không còn cấp á vùng du lịch

Căn cứ vào hệ thống phân vị trong phân vùng du lịch được ứng dụng ở quy mô toàn quốc, căn cứ vào thực tế phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh, để thuận tiện cho việc nghiên cứu lãnh thổ du lịch trên phạm vi cấp tỉnh, lãnh thổ du lịch tỉnh Tây Ninh chủ yếu được đề cập đến gồm: điểm du lịch, khu du lịch, cụm du lịch và tuyến du lịch

- Điểm du lịch: đây là cấp thấp nhất trong phân vị và được coi là cấp cơ sở trong

phạm vi một tỉnh Mỗi điểm du lịch đều có đặc trưng về tài nguyên và có ý nghĩa khai

thác khác nhau Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017) “Điểm du lịch là nơi có tài

nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục vụ khách du lịch” [46]

- Khu du lịch: Theo Luật du lịch Việt Nam (2017) “Khu du lịch là khu vực có ưu thế về TNDL, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia” [46]

- Cụm du lịch: được xây dựng dựa trên sự gần gũi về mặt không gian của các

điểm du lịch, phản ánh sự hấp dẫn đối với du khách thông qua mức độ kết hợp của TNDL Cụm du lịch là không gian lãnh thổ rộng, không có ranh giới pháp lí, tập trung nhiều loại tài nguyên với một nhóm các điểm du lịch đang khai thác hoặc dưới dạng tiềm năng, trong đó trung tâm của nó là một hoặc một vài điểm du lịch có sức thu hút khách cao

Trang 35

- Tuyến du lịch: Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), “Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch gắn với tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không” [45]

1.1.2 Vai trò và chức năng của du lịch

■ Vai trò

- Đối với kinh tế: Du lịch góp phần vào việc khai thác và sử dụng hợp lí nguồn

TNDL, tăng thu nhập, được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói” Chính vì vậy, PTDL là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển kinh tế, mang lại nguồn thu nội

tệ, ngoại tệ cho địa phương và đất nước

- Đối với xã hội: Du lịch có vai trò quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng thu

nhập, giữ gìn, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống cho con người

- Đối với môi trường sinh thái: Du lịch và môi trường sinh thái có quan hệ mật

thiết với nhau, du lịch góp phần thúc đẩy các biện pháp bảo vệ, tôn tạo môi trường sinh thái, còn môi trường sinh thái lại tạo điều kiện phát triển du lịch

■ Chức năng

- Chức năng xã hội: góp phần giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống

cho con người Du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao

động cho người dân; tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

- Chức năng kinh tế: du lịch góp phần làm tăng tổng sản phẩm trong nước Trên

thế giới, du lịch và những ngành có liên quan là một trong những ngành có đóng góp lớn cho nền kinh tế thế giới Ở Việt Nam, GDP du lịch và tỉ trọng ngành này trong cơ cấu kinh tế ngày càng gia tăng và có vai trò quan trọng trong những năm qua (năm

2015, chiếm 6,6% và năm 2016 chiếm 6,8% GDP)

- Chức năng chính trị - văn hóa: du lịch là nhân tố hợp tác quốc tế, có vai trò

củng cố hòa bình, thúc đẩy giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch làm con người nắm vững hơn lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán các dân tộc

- Chức năng sinh thái: Việc tham quan thắng cảnh và môi trường thiên nhiên có

ý nghĩa lớn với du khách, tạo điều kiện cho khách hiểu biết về tự nhiên và hình thành thói quen bảo vệ môi trường Du lịch và môi trường có quan hệ mật thiết với nhau, du

lịch góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, còn môi trường lại tạo điều kiện PTDL

Trang 36

1.1.3 Các đặc trưng cơ bản của du lịch

Du lịch có nhiều đặc trưng cơ bản khác nhau, thể hiện mối liên hệ với nhiều ngành khác nhau

- Tính đa ngành: thể hiện ở đối tượng được khai thác phục vụ du lịch khá đa

dạng Doanh thu từ du lịch cũng là nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông

qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, …)

- Tính đa thành phần: biểu hiện tính đa dạng qua thành phần của khách du lịch,

những người phục vụ du lịch, cộng đồng dân cư trong khu du lịch, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ tham gia các hoạt động du lịch

- Tính đa mục tiêu: biểu hiện qua những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên,

cảnh quan lịch sử văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng giao lưu văn hóa,

kinh tế và nâng cao ý thức tốt đẹp cho mọi thành viên trong xã hội

- Tính liên vùng: biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thể các

điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau

- Tính mùa vụ: được biểu hiện ở thời gian diễn ra các hoạt động du lịch tập trung

với cường độ cao trong năm Tính mùa vụ được thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch

nghỉ biển, thể thao theo mùa, du lịch cuối tuần…

- Tính chi phí: biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch của du khách là hưởng thụ các

sản phẩm du lịch chứ không phải với mục tiêu kiếm tiền

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp với đặc trưng cơ bản là tính: đa ngành, đa thành phần, đa mục tiêu, liên vùng, mùa vụ, chi phí Như vậy qua các đặc trưng cơ bản trên, ta có thể thấy một số ngành kinh tế khác cũng có một vài đặc trưng tương tự nhưng không một ngành nào có đầy đủ các đặc trưng cơ bản trên

1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch

1.1.4.1 Vị trí địa lý (VTĐL)

Trong quá trình PTDL, VTĐL được coi như một nguồn lực quan trọng VTĐL bao gồm vị trí về mặt tự nhiên, vị trí về kinh tế - xã hội và chính trị Đồng thời VTĐL còn có ý nghĩa về mặt giao thông, giao lưu trao đổi

Trang 37

Đối với các hoạt động du lịch, yếu tố quyết định của điều kiện vị trí là điểm du lịch nằm trong khu vực PTDL và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn cung khách du lịch ngắn, thuận lợi

1.1.4.2 Tài nguyên du lịch (TNDL)

Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt TNDL ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức lãnh thổ, đến việc hành thành chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch Xét về cơ cấu tài nguyên, theo Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010) cũng như một số tác giả khác, TNDL có thể chia thành hai bộ phận

cơ bản: TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn [88] Tuy nhiên, theo Luật Du lịch Việt Nam 2017, phân loại TNDL được chia thành: TNDL tự nhiên và TNDL văn hóa [46]

Về cơ bản, giữa hai cách phân loại này không có nhiều sự biệt, về đại thể vẫn được chia thành hai nhóm tương tự nhau

■ Tài nguyên du lịch tự nhiên

TNDL tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên được

sử dụng cho mục đích du lịch, bao gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên sinh vật…

- Tài nguyên địa hình: Đối với hoạt động du lịch, bề mặt địa hình là nơi diễn ra

các hoạt động của du khách, là nơi xây dựng các công trình phục vụ du lịch Đặc điểm địa hình góp phần quy định các loại hình du lịch Trong các loại địa hình thì địa hình miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch, đặc biệt là các khu vực thuận lợi cho việc

tổ chức thể thao mùa đông, các nhà an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch…

Ngoài dạng địa hình miền núi, các kiểu địa hình đặc biệt khác như: địa hình Karst, địa hình bờ biển… cũng có giá trị rất lớn cho việc tổ chức du lịch Trong đó, những bãi biển đẹp, trong lành cũng là những điểm đến hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước

- Tài nguyên khí hậu: Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự

nhiên có tác động lớn đối với hoạt động du lịch Khí hậu ảnh hưởng rõ rệt đến các hoạt động du lịch và đã tạo nên tính mùa vụ trong các hoạt động du lịch Hoạt động du lịch

có thể được tiến hành quanh năm hoặc theo mùa: mùa du lịch cả năm, du lịch mùa

Trang 38

đông, du lịch mùa hè… Ngoài ra, khí hậu vùng núi mát mẻ trong lành thích hợp cho các hoạt động nghỉ dưỡng, nhất là ở các nước vùng nhiệt đới

- Tài nguyên nước: Tài nguyên nước bao gồm nước trên mặt và nước ngầm

Đối với du lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn, bao gồm: đại dương, biển, sông,

hồ, suối, thác nước…Các nguồn tài nguyên nước mặt có giá trị cho nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ dưỡng…Trong tài nguyên nước, nước ngầm cũng có giá trị lớn với du lịch, đó là các nguồn nước khoáng thiên nhiên, suối nước nóng Đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh

- Tài nguyên sinh vật: Đây là một dạng tài nguyên đặc biệt có ảnh hưởng rất lớn

đến sự phát triển của ngành du lịch, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, khám phá và nâng cao nhận thức cho khách du lịch Xu thế hiện nay xuất hiện những hình thức như du lịch sinh thái, du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng là nhiều loài động - thực vật quý hiếm

■ Tài nguyên du lịch văn hóa

TNDL văn hóa là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra có giá trị văn hóa, tinh thần và phục vụ nhu cầu du lịch Loại tài nguyên này bao gồm: bản sắc văn hóa các dân tộc, các DTLSVH, lễ hội và các TNDL văn hóa khác (làng nghề, đặc sản

địa phương, các món ăn dân tộc, sự kiện văn hóa - thể thao…)

Có nhiều cách phân loại TNDL văn hóa, tuy nhiên các cách phân loại đó vẫn còn một số điều chưa thống nhất Để phù hợp với tình hình Việt Nam cũng như cách phân loại của UNESCO, trong luận án này tác giả xếp TNDL văn hóa phân thành 2 nhóm lớn: nhóm TNDL văn hóa vật thể và nhóm TNDL văn hóa phi vật thể

♦ Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể:

- Di tích lịch sử - văn hóa (DTLSVH): Đây là loại tài nguyên du lịch phổ biến, chiếm

vị trí quan trọng trong hoạt động du lịch Theo Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010) thì:

“DTLSVH là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị nhiều mặt điển hình, do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch

sử để lại” [88] Theo Luật Di sản văn hóa (2001) thì “DTLSVH là những công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc các công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [58] Để phù hợp với tình hình thực tế,

Trang 39

trong nghiên cứu này tác giả tạm chia DTLSVH thành các loại sau:

+ Di tích khảo cổ: Là những địa điểm ghi dấu sự tồn tại của tộc người cổ xưa Có

nhiều loại di tích liên quan đến yếu tố khảo cổ, trong đó quan trọng nhất là các di tích

cư trú và di tích mộ táng Loại di tích này có ý nghĩa với loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu khoa học

+ Di tích lịch sử: Là những địa điểm ghi nhận các sự kiện lịch sử điển hình hoặc

những chứng tích của tập thể, cá nhân có ảnh đến lịch sử phát triển địa phương, đất nước hoặc nhân loại Di tích lịch sử có ý nghĩa lớn đối với loại hình du lịch về nguồn

+ Di tích kiến trúc nghệ thuật: Là những công trình kiến trúc có giá trị nghệ

thuật, được xây dựng phục vụ nhu cầu cư trú hoặc là nơi tổ chức các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự,…

+ Danh lam thắng cảnh: Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên

nhiên bao la, hùng vĩ, thoáng đãng mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay, khối óc của con người tạo dựng nên và chứa đựng trong đó các giá trị văn hóa - lịch sử Chúng có

ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động du lịch

- Công trình đương đại: là những công trình kiến trúc được xây dựng trong thời kì

hiện đại, gắn với các chức năng kinh tế, văn hóa, thể thao và du lịch Chúng có sức hấp dẫn nhất định đối với du khách

♦ Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể

- Lễ hội và sự kiện đặc biệt: Lễ hội và sự kiện đặc biệt là những hoạt động nhận thức

diễn ra trong khoảng thời gian nhất định, có tính chuyên đề, được nhiều người biết đến

và tham gia

+ Lễ hội: Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2010) cho rằng lễ hội là một hình thức sinh

hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được Lễ hội gồm hai phần: phần nghi lễ và phần hội Phần nghi lễ là phần mở đầu cho các hội, phần hội diễn ra những hoạt động tiêu biểu, điển hình cho tâm lí và văn hóa cộng đồng

Tuy nhiên, với xu thế hội nhập quốc tế, quá trình giao lưu văn hóa giữa các quốc gia đã kéo theo sự xuất hiện của nhiều lễ hội mới không xuất phát từ những đặc điểm

Trang 40

như các tác giả nêu trên Do vậy, lễ hội có thể được hiểu là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, diễn ra trên một địa bàn dân cư trong khoảng thời gian và không gian xác định nhằm tưởng nhớ, tôn vinh và bảo tồn những giá trị văn hóa tốt đẹp của con người

Có nhiều tiêu chí để phân loại lễ hội, nói chung tùy mục đích nghiên cứu, mỗi tác giả

có những cách phân loại riêng về lễ hội Lễ hội là một trong những tài nguyên có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động du lịch

+ Sự kiện đặc biệt: Là hoạt động nhận thức mang tính thời sự, thu hút số lượng

lớn người tham dự và sự chú ý của các phương tiện truyền thông Điển hình như hội chợ, triển lãm, liên hoan phim, các giải thi đấu thể thao…

- Nghề và làng nghề truyền thống: Có nhiều quan niệm khác nhau về nghề và làng

nghề truyền thống Thông tư hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định 66/2006/NĐ-CP, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006) quan niệm nghề

truyền thống “là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo,

có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền” [5]

Về làng nghề truyền thống, hiện tồn tại nhiều quan niệm khác nhau Dương Bá

Phượng (được Huỳnh Đức Thiện trích lại, 2014, tr.13) cho rằng làng nghề “là những

làng ở nông thôn, có các nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và

số thu nhập nghề nông” [72] Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006) thì quan

niệm làng nghề “là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum,

sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [5]

Theo Huỳnh Đức Thiện (2014, tr.15) quan niệm làng nghề “là tập hợp các cơ sở sản

xuất ở cùng một khu vực địa lý xuất phát từ nông thôn, cùng tham gia sản xuất ngành phi nông nghiệp qua nhiều năm Ở làng nghề, có một số lượng đáng kể cơ sở sản xuất, lao động tham gia sản xuất và có thu nhập quan trọng từ sản xuất phi nông nghiệp”

[72] Như vậy, với xu hướng biến đổi của làng nghề trong quá trình đô thị hóa, khái niệm của Huỳnh Đức Thiện (2014) phù hợp hơn cả

Trong hoạt động du lịch, không phải làng nghề nào cũng hấp dẫn khách du lịch

Có giá trị nhất đối với hoạt động du lịch là các làng nghề thủ công - mĩ nghệ Đây là

Ngày đăng: 01/12/2020, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN