Tiềm năng du lịch của Tây Ninh khá phong phú, với những điểm đến có giá trị lớn về tự nhiên và nhân văn, với các điểm du lịch như hồ Dầu Tiếng – một trong những hồ nước lớn nhất khu vực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Trọng Hiếu
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Trọng Hiếu
Chuyên ngành : Địa Lý học (Trừ Địa lý tự nhiên)
Mã số : 60 31 95
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS PHẠM XUÂN HẬU
Thành phố Hồ Chí Minh - 2011
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM, Phòng Khoa học Công nghệ & Sau Đại học, các thầy cô giáo khoa Địa Lý Trường Đại học Sư Phạm TP.HCM
Tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất đến PGS.TS Phạm Xuân Hậu- người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này
Tôi xin được cảm ơn gia đình, đồng nghiệp cùng Trường THPT Lương Thế Vinh- Tân Biên- Tây Ninh, Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của Tây Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp
Xin gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công đến mọi người
TP HCM, tháng 10 năm 2011
Tác giả Nguyễn Trọng Hiếu
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng, hình, bản đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 9 1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Các khái niệm 9
1.1.2 Hội nhập và những yêu cầu của thời kì hội nhập 18
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch 19
1.1.4 Phát triển du lịch trong thời kì hội nhập 30
1.2 Cơ sở thực tiễn 31
1.2.1 Tình hình phát triển du lịch ở Việt Nam 31
1.2.2 Du lịch tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ 33
Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP 36
2.1 Tiềm năng phát triển 36
2.1.1 Vị trí địa lý 36
2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 39
2.1.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 45
2.1.4 Cơ sở hạ tầng- vật chất kỹ thuật du lịch 55
2.1.5 Đánh giá chung về tiềm năng du lịch Tây Ninh 62
2.2 Hiện trạng phát triển 66
2.2.1 Lượng khách và nguồn khách 66
2.2.2 Doanh thu 71
2.2.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật 74
2.2.4 Lao động và sử dụng lao động du lịch 77
2.2.5 Đầu tư phát triển du lịch 79
2.2.6 Các loại hình du lịch đang hoạt động ở Tây Ninh hiện nay 83
2.2.7 Các điểm du lịch 86
Trang 52.2.8 Các tuyến du lịch chính 95
2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh 98
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH TÂY NINH THỜI KÌ HỘI NHẬP 106
3.1 Những căn cứ đưa ra định hướng 106
3.1.1 Chiến lược phát triển du lịch quốc gia 106
3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Tây Ninh đến năm 2020 108
3.1.3 Chiến lược phát triển du lịch của tỉnh 110
3.1.4 Thực trạng phát triển du lịch 112
3.1.5 Nhu cầu du lịch của xã hội 113
3.2 Định hướng phát triển du lịch Tây Ninh 114
3.2.1 Định hướng chung 114
3.2.2 Định hướng cụ thể 115
3.3 Một số giải pháp phát triển du lịch Tây Ninh đến năm 2015 và tầm nhìn năm 2020 88
3.3.1 Tổ chức, quản lí và quy hoạch các loại hình du lịch 88
3.3.2 Phát triển du lịch theo lãnh thổ 89
3.3.3 Về cơ chế chính sách 90
3.3.4 Đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật và huy động vốn đầu tư 91
3.3.5 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 93
3.3.6 Về thị trường, xúc tiến quảng bá du lịch 94
3.3.7 Tăng cường sự tham gia của cộng đồng, nâng cao chất lượng đa dạng hóa sản phẩm du lịch 95
3.3.8 Bảo vệ môi trường du lịch 96
3.3.9 Áp dụng các tiến bộ, khoa học kĩ thuật và công nghệ 96
3.4 Kiến nghị 97
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Phạm vi lãnh thổ tỉnh Tây Ninh 36
Bảng 2.2 Các đơn vị hành chính tỉnh Tây Ninh 37
Bảng 2.3 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người 41
Bảng 2.4 Dân số, mật độ dân số của Tây Ninh năm 2009 46
Bảng 2.5 Cơ cấu nghề nghiệp của lực lượng lao động 46
Bảng 2.6 Cơ cấu và số lượng khách du lịch đến Tây Ninh giai đoạn 2000- 2010 67
Bảng 2.7 Cơ cấu nguồn khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh năm 2009 69
Bảng 2.8 Số lượng khách xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu biên giới Tây Ninh giai đoạn 2002- 2010 70
Bảng 2.9 GDP và tỷ trọng GDP du lịch của Tây Ninh giai đoạn 2000- 2010 73
Bảng 2.10 Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch Tây Ninh giai đoạn 2000- 2010 75
Bảng 2.11 Số việc làm từ hoạt động du lịch tại Tây Ninh giai đoạn 2000- 2009 78
Bảng 2.12 Hiện trạng khách tham quan khu DT LSVH Núi Bà giai đoạn 2003- 2010 87
Trang 8đến năm 2020 117b
Trang 9Những cố gắng này đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, lượng khách du lịch quốc tế đã tăng gần gấp 3 lần từ năm 1998 đến năm 2008 (từ 1,5 triệu lượt năm
1998 lên 4,3 triệu lượt năm 2008 ; năm 2009 chỉ còn hơn 3,8 triệu lượt do khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng đến năm 2010 Việt Nam đã đón được 5 triệu lượt khách quốc tế); khách du lịch nội địa tăng hơn gấp đôi (từ 9,6 triệu lượt năm 1998 lên 20 triệu lượt năm 2008 và năm 2009 là khoảng 23 triệu lượt); thu nhập từ du lịch tăng gần gấp 5 lần (từ 12.700 tỉ đồng năm 1998 lên 60.000 tỉ đồng năm 2008 và năm 2009 là khoảng 64.000 tỉ đồng) ; Tỷ trọng GDP du lịch trong tổng GDP toàn quốc trong những năm qua có những bước tiến đáng kể (năm 2001 chỉ khoảng 3,46% và đến năm 2008 là 4,99%) [2]
Hoạt động du lịch cũng đã chứng minh khả năng là một ngành kinh tế mũi
triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định Đặc biệt năm 2008, 2009 thế giới cũng như Việt Nam trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đây là một trong những nguyên nhân làm giảm lượng khách du lịch Vì vậy việc đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng hoạt động du lịch đối với mỗi vùng, mỗi địa phương là việc làm cần thiết, quan trọng góp phần định hướng và
Trang 102
có những giải pháp cụ thể cho hoạt động phát triển du lịch đạt hiệu quả cao
Cùng với sự phát triển và định hướng chung của du lịch quốc gia, Tây Ninh là một điểm hấp dẫn khách du lịch Tây Ninh lại là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí thuận lợi cách thành phố Hồ Chí Minh 99 km dọc theo quốc lộ 22; cách thành phố du lịch Vũng Tàu khoảng 200 km Từ Tây Ninh còn có thể đến thành phố Buôn Ma Thuột và các tỉnh Tây Nguyên qua đường Hồ Chí Minh; đến các tỉnh Miền Tây Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh qua đường thuỷ
Phnom Penh khoảng 170 km, cách Siem Reap nơi có di sản văn hoá thế giới Angkor Vat khoảng 300 km Trên trục đường xuyên Á, Tây Ninh có vị trí quan trọng như điểm cầu nối giữa TP Hồ Chí Minh và thủ đô Phnom Penh, do đó việc thông thương theo tuyến này có nhiều thuận lợi và là cơ hội để phát triển du lịch Tiềm năng du lịch của Tây Ninh khá phong phú, với những điểm đến có giá trị lớn về tự nhiên và nhân văn, với các điểm du lịch như hồ Dầu Tiếng – một trong những hồ nước lớn nhất khu vực Nam Bộ và Việt Nam; Núi Bà Đen với những di tích lịch sử - văn hóa, chùa chiền, các hang động hoang sơ cùng với một trong những lễ hội lớn nhất Việt Nam, năm 2009 thu hút hơn 2 triệu lượt khách; Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát với thiên nhiên phong phú, đa dạng; Các di tích lịch sử cách mạng như Căn cứ mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, căn cứ Trung ương cục Miền Nam; Các di tích văn hoá khác như Toà Thánh Cao Đài, Tháp Chóp Mạt,
tại Việt Nam cũng có được
Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, các thành quả đã đạt được của du lịch Tây Ninh vẫn chưa tương xứng với tiềm năng do những yếu tố mang tính khách quan cũng như chủ quan mang lại Tài nguyên du lịch khai thác gần như đơn lẻ Đóng góp của du lịch trong GDP còn khiêm tốn, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho kinh doanh du lịch chưa đồng bộ, chưa có các loại hình kinh doanh lữ hành quốc tế Trong thời kì nước ta đang hội nhập với thế giới hiện nay, sự phát triển kinh tế địa phương đã có nhiều chuyển biến, đời sống nhân dân được nâng cao tạo ra tiềm năng
Trang 11Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch để phân tích tiềm năng
và thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Tây Ninh, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch của tỉnh theo hướng bền vững trong tiến trình hội nhập
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
nước và các địa phương nước ta để vận dụng vào việc phát triển du lịch tại Tây Ninh
yếu) từ năm 2000 đến năm 2010
hướng phát triển du lịch của tỉnh theo hướng bền vững trong thời kì hội nhập
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, ngay từ năm 1989, đặc biệt từ năm 1990 (Năm du lịch Việt Nam) đến nay đã có nhiều đề tài khoa học, dự án nghiên cứu về địa lý du lịch, đặc biệt là
cơ sở lý luận và phương pháp luận có thể kể đến như “Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam”do Trần Cầu
và Lê Thông chủ biên, 1993; “Khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch Việt Nam”, do Vũ Tuấn Cảnh và các cộng sự thực hiện, 1986; “Kế hoạch chỉ đạo phát triển du lịch Việt Nam”do tổ chức du lịch thế giới thực hiện 1992; Chương trình biển KT03 của Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, đề tài KT-03-
Trang 124
nghiên cứu phát triển du lịch tiến hành, 1995; “Quy hoạch tổng thể phát triển vùng
du lịch Bắc Bộ”, 2001; “Quy hoạch phát triển vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam
Bộ”, 2001; “Quy hoạch phát triển vùng Đông Bắc”, 1995; “Quy hoạch tổng thể phát
triển du lịch vùng trung du miền núi phía Bắc”, 2006…
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khác như: Đề tài “Tổ chức
lãnh thổ du lịch Việt Nam”do Vũ Tuấn Cảnh và cộng sự thực hiện, 1991; Luận án
PTS Đặng Duy Lợi, 1992, “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên huyện Ba
Vì, tỉnh Hà Tây phục vụ mục đích du lịch”; Luận án PTS Trần Đức Thanh, 1995,
Việt Nam- lấy ví dụ tỉnh Ninh Bình”; “Địa lý du lịch”do Nguyễn Minh Tuệ chủ trì,
nguyên và môi trường du lịch Việt Nam”do Phạm Trung Lương chủ biên, 2000;…
Nhiều địa phương cũng đã xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển du lịch dưới
sự giúp đỡ và hướng dẫn của Tổng cục du lịch như Thái Nguyên, Hải Phòng, Hà
Nội, Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Phú yên, Khánh
Hòa, TP.HCM… với sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín trong và ngoài
nước
Ở Tây Ninh, đã có một số báo cáo, tổng kết ban đầu về du lịch như: Chương
trình xúc tiến du lịch năm 2009; Các báo cáo hoạt động du lịch hàng năm và kế
hoạch năm sau; Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Tây Ninh thời kỳ
1995) Nổi bật nhất là công trình nghiên cứu quy hoạch về du lịch : Điều chỉnh quy
hoạch tổng thể phát triển Du lịch tỉnh Tây Ninh đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh chủ trì Ngoài ra, còn có
thể kể đến công trình nghiên cứu về hoạt động marketing có liên quan đến du lịch
2010-2015”(2009)
Trang 135
cứu tổng thể tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh trong thời kì nước ta đang hội nhập quốc tế và khu vực Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tạo nên bức tranh vừa tổng quan vừa chi tiết về hoạt động du lịch ở Tây Ninh, cũng như lợi thế so sánh phát triển du lịch với các tỉnh trong tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ nói riêng và vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ nói chung
5 Giới hạn nghiên cứu
hướng phát triển đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020
lịch là ngành kinh tế tổng hợp liên vùng nên đề tài được xem xét trong mối quan hệ với các tỉnh lân cận
phát triển du lịch của tỉnh Tây Ninh trong tiến trình hội nhập
6 Hệ quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Hệ quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống- lãnh thổ:
tính chất tổng thể của đối tượng nghiên cứu Theo quan điểm này, khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong vị trí tương quan với các vấn đề, các yếu
tố trong hệ thống cao hơn và trong cấp phân vị thấp hơn Du lịch Tây Ninh được coi
là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng của hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn là tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ, vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ cũng như
hệ thống du lịch của cả nước nên chúng có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Mặt khác, Tây Ninh cũng là một lãnh thổ du lịch với những mối quan hệ qua lại với các hệ thống khác và vận động theo quy luật của toàn hệ thống
- Quan điểm tổng hợp- lãnh thổ:
tổng hợp hơn bất kì địa hệ nào, là một hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành
Trang 146
tố: tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó mật thiết với nhau một cách hoàn chỉnh Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các nguồn lực du lịch thường được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định
để đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Để mang lại hiệu quả tổ chức, kinh doanh du lịch cần tìm ra được sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố trong cùng một lãnh thổ cũng như mối quan hệ mở với các lãnh thổ khác
- Quan điểm lịch sử- viễn cảnh:
Đến nay Tây Ninh vẫn giữ được những nét đặc sắc, độc đáo về tự nhiên, văn hóa của một tỉnh nằm ở biên giới tây nam của tổ quốc Sử dụng quan điểm lịch sử- viễn cảnh để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình và kết quả khai thác của các hoạt động du lịch diễn ra trên địa bàn tỉnh Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc và phát huy những thành quả đạt được để có kế hoạch phát triển du lịch bền vững và hợp lí hơn
- Quan điểm phát triển bền vững:
Tuy nhiên việc phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững Từ đó có những kế hoạch và biện pháp phù hợp để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch cũng như làm tốt công tác bảo tồn
và tôn tạo Phát triển du lịch ở Tây Ninh cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường trong sạch, có những biện pháp kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh
khoản 21 (điều 2, chương I) luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì phát triển du lịch bền vững được quan niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”[31]
Trang 157
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích tổng hợp và xử lí số liệu, tài liệu:
phòng dựa trên cơ sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau và từ thực
tế, sau đó xử lí chúng để có những kết luận cần thiết Các tư liệu có thể là những công trình nghiên cứu trước đó, các bài viết, các báo cáo kinh doanh, báo cáo tổng kết…Phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian, tiền bạc mà vẫn có được một tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu
liệu Các bảng biểu với những số liệu tuyệt đối cũng như tương đối chính là nguồn tài liệu nói lên thực trạng hoạt động cũng như phát triển của đối tượng Số liệu phục
vụ nghiên cứu đề tài này được lấy từ các nguồn: Tổng cục thống kê, Cục thống kê Tây Ninh, UBND tỉnh Tây Ninh, Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Tây Ninh, các
- Phương pháp so sánh:
hợp với mục đích của từng phần Quá trình so sánh các yếu tố như tài nguyên, thực trạng phát triển du lịch… sẽ rút ra được những mặt mạnh, mặt yếu nhằm mang lại cái nhìn khái quát, đầy đủ về du lịch Tây Ninh Qua phân tích, so sánh các thông tin
sẽ được chắt lọc với độ tin cậy và hiệu quả cao nhất
- Phương pháp thực địa:
xác thực, khắc phục hiệu quả những hạn chế của phương pháp thu thập, xử lí số liệu trong phòng Các hoạt động chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh…tại các điểm nghiên cứu; gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan quản lí tài nguyên, các cơ quan quản lí chuyên ngành của địa phương…
Trang 168
- Phương pháp bản đồ- biểu đồ:
phương pháp bản đồ- biểu đồ trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu định lượng, định tính Đây là phương pháp quan trọng xác định sự phân bố, mức độ tập trung theo lãnh thổ của các đối tượng nghiên cứu (điểm, tuyến, cụm du lịch) trong không gian, đồng thời thể hiện mối liên hệ với các khu vực lân cận của địa bàn nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia:
luận, các kiến nghị và lựa chọn các phương án phát triển với những thông tin chính xác Với việc có cơ hội trao đổi ý kiến với lãnh đạo các cấp địa phương nghiên cứu, các ngành, lĩnh vực có liên quan, tác giả đã vận dụng vào đề tài nghiên cứu Từ đó
đề tài góp phần đánh giá và phân tích tiềm năng, thực trạng của hoạt động du lịch cũng như mạnh dạn đề xuất các giải pháp cho việc phát triển du lịch ở tỉnh Tây Ninh
7 Cấu trúc đề tài
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch
Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì
hội nhập Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì
hội nhập
Trang 17Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội và hoạt động du lịch đang phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới Song khái niệm “Du lịch”được hiểu rất khác nhau theo các cách tiếp cận và quan điểm riêng
tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách, bao gồm : du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”[12]
Sơ đồ mối quan hệ giữa các nhân tố trong du lịch:
chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức- văn hóa hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về mặt tự nhiên, kinh tế và văn hóa”[29]
đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp
Cư dân sở tại
Du khách Nhà cung ứng dịch vụ du lịch
Chính quyền nơi đón khách du lịch
Trang 1810
ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”(Điểm 1, điều 10) [31]
du lịch càng phong phú đặc sắc, có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao
văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác
có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch; Là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” [31]
tài nguyên du lịch nhân văn
mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc
có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”[31]
hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo, nó có những đặc điểm khác biệt so với tài nguyên tự nhiên Những đặc tính cơ bản của tài nguyên du lịch nhân văn :
vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”[31]
cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách
Trang 19hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch
quốc tế
tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam” [31]
nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”[31]
đưa ra [29]
du lịch nghỉ ngơi, giải trí; du lịch khám phá; du lịch thể thao; du lịch văn hóa; du lịch tôn giáo; du lịch hội nghị; du lịch mạo hiểm; du lịch thăm thân; du lịch công
vụ, du lịch tôn giáo, du lịch thăm hỏi…
du lịch nội địa
Trang 2012
biển, du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê…
lịch bằng xe máy, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hỏa, du lịch bằng tàu thủy, du lịch máy bay…
thanh niên, du lịch trung niên, du lịch cao tuổi…
dài ngày…
cá nhân…
lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của
du khách từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi”[31]
chơi giải trí
Anh, có nghĩa là “Chuyến đi du lịch” Tour du lịch là sản phẩm du lịch được đánh giá theo một lộ trình có sự đặt trước về thời gian, địa điểm và những dịch vụ liên quan Như vậy khái niệm tour du lịch gần nhất với khái niệm chương trình du lịch
lịch (về mặt sản phẩm có quy định giá bán, lịch trình chuyến đi)
Trang 2113
1.1.1.7 Cơ sở lưu trú du lịch
sở lưu trú du lịch bao gồm : khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều và bãi cắm trại cho thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu.[29]
và ăn uống, từ vận chuyển khách du lịch và lữ hành, từ bán hàng lưu niệm, từ các dịch vụ khác như vui chơi, giải trí, dịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, giao thông công cộng… Nói cách khác, khách du lịch đến một nơi nào
đó, họ chi tiêu hết bao nhiêu thì đó chính là doanh thu du lịch [29]
đề được quan tâm hàng đầu bởi vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt động này nếu không xem xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó
các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất Đối với phân vùng
du lịch Việt Nam có năm cấp:
mặt lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ Trên bản đồ các vùng du lịch, người ta thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt Tuy nhiên, trong thực tế dù quy mô rất nhỏ nhưng cũng chiếm một diện tích nhất định trong không gian Sự chênh lệch
về diện tích giữa các điểm du lịch tương đối lớn
lịch sử hoặc kinh tế- xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai với quy mô nhỏ Vì thế điểm du lịch có thể phân thành hai loại : điểm tài nguyên và điểm chức năng
Trang 2214
sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp ngoại lệ (điểm du lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ cơ quan…)
cụ thể, các tuyến du lịch có khả năng là tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung
hay khác loại Trên lãnh thổ trung tâm du lịch tập trung nhiều điểm du lịch Nói cách khác, mật độ điểm du lịch trên lãnh thổ tương đối dày đặc Mặt khác, trung tâm du lịch gồm các điểm chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế- kĩ thuật và tổ chức Nó có khả năng và sức thu hút khách du lịch rất lớn
cao độ Có thể nguồn tài nguyên không thật đa dạng (về loại hình), song điều kiện cần thiết là phải tập trung và có khả năng lôi cuốn khách du lịch
lưu khách trong một thời gian dài
thống lãnh thổ du lịch đặc biệt, hạt nhân của vùng du lịch Chính nó tạo dựng bộ khung cho vùng du lịch hình thành và phát triển Theo cách nói thông thường, đây
là các “cực”để thu hút các lãnh thổ lân cận vào phạm vi tác động của vùng Chẳng hạn, ở Việt Nam gắn với ba vùng du lịch có ba trung tâm du lịch : Hà Nội, Huế- Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh
điểm dân cư và môi trường xung quanh Về độ lớn, trung tâm du lịch có thể có diện tích tương đương với diện tích của một tỉnh
du lịch (nếu có) Về quy mô, tiểu vùng du lịch bao trùm lãnh thổ của một vài tỉnh Tuy vậy, sự dao động về diện tích của các tiểu vùng tương đối lớn
Trang 2315
dạng về chủng loại Trong thực tế ở nước ta, có thể phân biệt hai loại hình tiểu vùng
du lịch : tiểu vùng du lịch đã hình thành (còn gọi là tiểu vùng du lịch thực tế) và tiểu vùng du lịch đang hình thành (tiểu vùng du lịch tiềm năng)
tiểu vùng thứ nhất : tập trung nhiều loại tài nguyên và được khai thác mạnh mẽ Loại thứ hai : có thể có tài nguyên, song do những lí do nhất định, tiềm năng chưa
có điều kiện để trở thành hiện thực
du lịch thành một thể thống nhất với mức độ tổng hợp cao hơn, vai trò của cơ sở hạ tầng lớn hơn các thông số hoạt động và lãnh thổ du lịch rộng hơn Xét về các mối quan hệ dân cư- quần cư và cung cấp những nhu cầu vật chất cho khách du lịch thì á vùng bao gồm cả những địa phương không có các điểm tài nguyên du lịch Các mối liên hệ bên trong lãnh thổ đa dạng hơn
chuyên môn hóa bắt đầu được thể hiện, dù có thể chưa đậm nét Sự hình thành và phát triển á vùng du lịch phụ thuộc nhiều yếu tố Có thể trong một số vùng du lịch,
sự phân hóa lãnh thổ chưa dẫn đến việc hình thành các á vùng Trong trường hợp
ấy, hệ thống phân vị chỉ còn bốn cấp : Điểm du lịch- Trung tâm du lịch- Tiểu vùng
du lịch- Vùng du lịch
hợp lãnh thổ của các á vùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch có những đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng Nói cách khác, vùng du lịch như một tổng thể thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn và xã hội… bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường kinh tế- xã hội xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch
vùng, làm cho vùng này khác hẳn với vùng kia Ở nước ta, chuyên môn hóa các vùng du lịch đang trong quá trình hình thành Tuy nhiên, mỗi vùng chuyên môn hóa
Trang 2416
gì và xu hướng phát triển như thế nào thì cần nghiên cứu sâu hơn
tầng và cơ sở vật chất- kĩ thuật sẵn có của vùng Về phương diện lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích rất lớn, bao gồm nhiều tỉnh Ngoài ra, với hoạt động du lịch mạnh
mẽ, nó còn bao chiếm cả các khu vực không du lịch (điểm dân cư, các khu vực không có tài nguyên và cơ sở du lịch nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế du lịch)
lịch là một thực tế khách quan, tồn tại ngoài ý muốn con người Nói như vậy không
có nghĩa là con người không có vai trò gì trong việc hình thành và phát triển vùng Con người thông qua công tác phân vùng du lịch, có thể thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các vùng du lịch nếu như việc nghiên cứu của họ tôn trọng các quy luật và thực tế khách quan Ngược lại, nếu nghiên cứu hoàn toàn chủ quan thì họ sẽ phải trả giá đắt cho hành động của mình [29]
vào thế kỉ XIX nhưng mãi đến thập kỉ 80 của thế kỉ XX mới được phổ biến rộng rãi
bền vững”phải cân nhắc đến hiện tượng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các
kế hoạch hành động
Trang 2517
bố thuật ngữ “phát triển bền vững”trong báo cáo “tương lai của chúng ta”như sau:
hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”[13]
trình hoạch định chính sách và quản lí phát triển kinh tế, với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển
đứng trước sự bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn
trở lại đây, trên cơ sở cải thiện và nâng cấp khái niệm du lịch mềm (soft tourism), được nhiều quốc gia và hiệp hội du lịch lớn trên thế giới ủng hộ Tuy nhiên một khái niệm “du lịch bền vững”hoàn chỉnh được tất cả mọi người thống nhất sử dụng chung đến nay chưa có
vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của
du khách và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai
vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”
quan niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”[31]
Trang 2618
trường toàn cầu và đi ngược lại với sự phát triển bền vững lâu dài của du lịch Việc giảm tiêu thụ quá mức và giảm chất thải sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc phục hồi tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng du lịch
cảnh quan du lịch là vấn đề sống còn đối với việc quản lý và kinh doanh du lịch Việc duy trì và phát triển tính đa dạng của thiên nhiên, cảnh quan du lịch là rất quan trọng đối với sự phát triển bền vững của du lịch, là chổ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch
niên 90 trở lại đây Hội nhập (INTERGRATION) được hiểu là sự liên kết của mỗi quốc gia vào các tổ chức khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước
là quá trình chủ động gắn kết của từng nước về một hay nhiều lĩnh vực khác nhau với khu vực và thế giới trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương.[11]
khu vực hóa đang diễn ra nhanh chóng cùng với sự tác động mạnh mẽ của khoa học
và công nghệ
xây dựng được một nền kinh tế thị trường bền vững kết hợp tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội; gìn giữ môi trường trong sạch, xây dựng một cơ cấu sản phẩm và dịch vụ giàu sức cạnh tranh, một hệ thống tài chính tiền tệ chắc chắn và
ngày càng được nâng cao [11] Để tham gia hội nhập quốc tế, cần thực hiện tốt một
số việc sau:
Trang 2719
tế
hội nhập kinh tế quốc tế, đủ định tính và định lượng, đủ tầm nhìn xa, rộng và tính chất thiết thực
tổng thể phát triển kinh tế- xã hội
lập pháp, hành pháp và tư pháp
có ý thức đầy đủ về sự vừa hợp tác vừa đấu tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế Đối với du lịch hội nhập vừa là thời cơ để cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng quảng bá hình ảnh đẹp đẽ về thiên nhiên, văn hóa, con người của mỗi dân tộc với bạn bè thế giới, đồng thời đặt ra không ít thách thức cho sự phát triển của ngành trong quá trình hội nhập
quan trọng Vị trí địa lý bao gồm vị trí về mặt tự nhiên (phạm vi lãnh thổ có giới hạn và tọa độ địa lý), vị trí về kinh tế- xã hội và chính trị Đồng thời vị trí địa lý có
ý nghĩa về mặt giao thông, giao lưu trao đổi
du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn Khi phân tích và đánh giá vị trí địa lý, cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế (nếu có)
Trang 2820
tự nhiên được sử dụng cho mục đích du lịch, bao gồm : địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên sinh vật
sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài Đối với hoạt động du lịch, bề mặt địa
vụ du khách Đặc điểm địa hình góp phần quy định các loại hình du lịch Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nền cho phong cảnh Các dấu hiệu bên ngoài và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn với du khách, như các dạng địa hình núi, địa hình Karst, các kiểu địa hình ven bờ… có giá trị phục vụ cho nhiều loại hình du lịch
lịch, đặc biệt là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà
an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch…
khác như : địa hình Karst, địa hình ven bờ cũng có giá trị rất lớn cho việc tổ chức du lịch [29]
nước trong các loại đá dễ hòa tan (đá vôi Đolomit, đá phấn, thạch cao…) Một trong các kiểu Karst có ý nghĩa rất lớn với du lịch là hang động Karst, những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của hang động Karst có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch
dương, biển, sông, hồ…) cũng có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Địa hình ven
bờ có thể tận dụng khai thác du lịch với mục đích khác nhau : tham quan du lịch theo chuyên đề khoa học, nghỉ ngơi an dưỡng, tắm biển, thể thao nước…
nhiên đối với du lịch, bao gồm hai chỉ tiêu chính : nhiệt độ và độ ẩm không khí
Trang 2921
Ngoài ra còn một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lí hóa của không khí, áp suất của khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt
các đặc điểm chung của từng khu vực, cần thiết phải đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện đó tới sức khỏe con người và các loại hình du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau Để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người, các nhà nghiên cứu thường sử dụng chỉ tiêu khí hậu sinh học.(phụ lục 1)
hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch Khí hậu ảnh hưởng rõ rệt đến các hoạt động du lịch và đã tạo nên tính mùa vụ trong các hoạt động du lịch Ứng với mỗi loại hình du lịch, đòi hỏi những điều kiện khí hậu
suối khoáng, du lịch trên núi cả mùa đông và mùa hè Tuy nhiên, trong thực tế hiếm khi có sự phân phối đồng đều các dòng du lịch theo mùa vì du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân như tự nhiên, kinh tế- xã hội, kĩ thuật…
phát triển du lịch thể thao mùa đông và các loại hình du lịch mùa đông khác
các loại hình du lịch biển, du lịch núi, du lịch tới những vùng đồi, đồng bằng…
lịch thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn, bao gồm : đại dương, biển, sông, hồ, suối, thác nước…Các nguồn tài nguyên nước mặt có giá trị cho nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ dưỡng… Tùy theo thành phần lí hóa học có thể phân
độ tuổi và nhu cầu quốc gia Giới hạn nhiệt độ lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 18- 20 độ C, ngoài ra cần chú ý đến một số chỉ tiêu khác như tần
Trang 30nước khoáng thiên nhiên Đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng
và chữa bệnh Nước khoáng là nước thiên nhiên có chứa một số thành phần vật chất đặc biệt hoặc có một số tính chất lí hóa có tác dụng sinh lí đối với con người
đến sự phát triển của ngành du lịch, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, khám phá và nâng cao nhận thức cho khách
du lịch Xu thế hiện nay đang xuất hiện những hình thức mới như du lịch sinh thái,
du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng là các loài động- thực vật Việc tham quan du lịch trong thế giới sinh vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu cuộc sống Để phục các mục đích du lịch khác
thực vật phải đạt được một số chỉ tiêu nhất định
♦ Tài nguyên du lịch nhân văn
ra có giá trị văn hóa, tinh thần và phục vụ nhu cầu du lịch Loại tài nguyên này bao gồm : dân tộc, các di tích lịch sử- văn hóa, lễ hội và các tài nguyên du lịch nhân văn
thao…)
phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn cư trú nhất định Có thể nói du lịch dân tộc học vẫn còn là những bí ẩn mà mỗi du khách đều muốn khám phá Những đặc thù của từng dân tộc, đó chính là những tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, kiến trúc cổ, các
Trang 3123
nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc… vẫn luôn
có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch [29]
ý nghĩa quan trọng trong việc quy định các loại hình du lịch đa dạng như du lịch văn hóa, du lịch về cội nguồn, du lịch cộng đồng…
trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại [29]
phân chia thành :
hóa, thuộc về thời kì lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại Đa số các di tích này nằm trong lòng đất, còn được gọi là di chỉ khảo cổ bao gồm di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng Loại di tích này có ý nghĩa với loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu khoa học
dấu ở những di tích lịch sử, bao gồm : Di tích ghi dấu về dân tộc học; Di tích ghi dấu về sự kiện chính trị quan trọng; Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược; Di tích ghi dấu những kỉ niệm; Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động; Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến…có ý nghĩa rất lớn đối với loại hình du lịch về nguồn
giá trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật Chúng không chỉ chứa đựng các giá trị kiến trúc mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần
danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ, thoáng đãng
mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay, khối óc của con người tạo dựng nên và chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di tích văn hóa- lịch sử Chúng có ý nghĩa quan
Trang 3224
trọng đối với hoạt động du lịch Ở nước ta, phần lớn các danh lam thắng cảnh đều
có chùa thờ Phật [29]
lịch thường dựa vào các chỉ tiêu quan trọng, thể hiện số lượng cũng như chất lượng của các di tích :
sinh hoạt văn hóa tổng hợp đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một
sự kiện lịch sử trọng đại, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được [29]
nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ và bản năng”[29]
các lễ hội phục vụ mục đích phát triển du lịch cần chú ý những đặc điểm sau :
tập trung trong thời gian ngắn Lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân, thời gian tiến hành lễ hội thường 1- 2 tháng, có khi chỉ một vài ngày
hưởng tới hoạt động du lịch, nhất là khả năng thu hút khách du lịch
phép khai thác có hiệu quả hơn cả di tích và lễ hội vào mục đích du lịch
nhân văn được khai thác phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch Nghề thủ công
Trang 3325
truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người.[17]
chính là các trung tâm khoa học, các trường đại học, thư viện lớn, bảo tàng, trung tâm tổ chức liên hoan âm nhạc, phim ảnh quốc tế, các sự kiện thể thao…đều có sức thu hút khách du lịch tới tham quan, nghiên cứu, vui chơi với nhiều mục đích khác nhau Do vậy, những thành phố có các đối tượng văn hóa hoặc tổ chức các hoạt động văn hóa- thể thao đều trở thành trung tâm du lịch văn hóa của các quốc gia và
khu vực, đồng thời là những hạt nhân của các trung tâm du lịch
chế biến cao, chúng cũng là những tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, hấp dẫn khách du lịch
phát triển du lịch có mối quan hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch Du lịch không thể phát triển nếu thiếu tài nguyên và tách rời khung cảnh môi trường du lịch hoạt động Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ ngành
du lịch, ảnh hưởng đến việc hình thành chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch
thể kể ra [29]
♦ Dân cư và nguồn lao động: Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của
xã hội Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật
độ dân cư có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch Cần phải nghiên cứu, phân tích kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, vì đây là nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển
Trang 3426
này làm nẩy sinh nhu cầu du lịch trong xã hội, đồng thời thúc đẩy du lịch phát triển với tốc độ cao Trong nền sản xuất xã hội, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải…đều liên quan mật thiết tới việc phát triển ngành du lịch
♦ Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch: có tính chất kinh tế- xã hội, là sản phẩm của
sự phát triển xã hội, đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe, khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống
xã hội- nhóm người- cá nhân Trong các mức trên, quan trọng hàng đầu là nhu cầu nghỉ ngơi phát triển xã hội Nó được xác định như nhu cầu của xã hội về phục hồi sức khỏe và khả năng lao động, về sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần cho mỗi thành viên trong xã hội
cư phân theo nghề nghiệp, lứa tuổi…
động nghỉ ngơi du lịch nhằm nâng cao sức khỏe, giảm mệt mỏi, mở rộng khả năng lao động và tầm hiểu biết cho bản thân Nhu cầu của xã hội, nhóm người và cá nhân không tách rời nhau mà có mối liên hệ qua lại biện chứng
thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới giao thông, y tế, văn hóa, giáo dục…
được cải thiện, then chốt là mức thu nhập thực tế của mỗi người trong xã hội Nhìn chung ở những nước kinh tế phát triển, có mức thu nhập cao thì hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ
thường diễn ra các hoạt động nhằm phục hồi và phát triển trí lực, thể lực và tinh thần con người Nguồn quan trọng nhất để tăng thời gian rỗi là giảm thời gian làm
Trang 3527
việc tại các công sở và các công việc nội trợ Thời gian rỗi là một trong những tiền
đề quan trọng để phát triển du lịch, đặc biệt là các loại hình du lịch ngắn ngày hay
du lịch cuối tuần
việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển du lịch Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia
Do vậy, hòa bình được coi là đòn bẩy của hoạt động du lịch Đồng thời, con người cũng muốn thể hiện ước nguyện được sống trong hòa bình, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới
trong đó có hoạt động du lịch Trong CSHT, mạng lưới và phương tiện giao thông
là những nhân tố quan trọng hàng đầu Đồng thời, hệ thống TTLL, mạng lưới cung cấp điện- nước sạch cũng là những thành phần phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch
♦ Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải (GTVT): Du lịch gắn với
sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Chính vì thế, du lịch phụ thuộc vào giao thông (mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông) Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được khi thiếu nhân tố giao thông, việc phát triển giao thông cho phép mau chóng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch
mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội Mỗi loại giao thông có những đặc điểm riêng biệt tác động tích cực đến hoạt động du lịch Chẳng hạn, giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho du khách dễ dàng đi theo lộ trình đã lựa chọn; giao thông đường sắt rẻ tiền; giao thông đường không tuy đắt tiền nhưng nhanh chóng và tiết kiệm được thời gian đi lại; giao thông đường thủy tuy chậm nhưng kết hợp được với tham quan, giải trí dọc sông hoặc ven biển
♦ Hệ thống TTLL: là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động
Trang 3628
du lịch, nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước
và quốc tế Trong hoạt động du lịch, TTLL đảm nhận việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng kịp thời, góp phần thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các nước Đặc biệt trong đời sống KT- XH hiện đại nói chung cũng như ngành du lịch nói riêng, càng không thể thiếu được ngành TTLL Mạng lưới TTLL ngày càng trở nên phong phú và hiện đại hơn trước đã tạo những điều kiện tiện ích, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian, giảm giá thành sản phẩm cho du khách Đây là những điều kiện thuận lợi để hấp dẫn du khách và triển khai hoạt động kinh doanh của các công ty du lịch
♦ Mạng lưới cung cấp điện- nước sạch: Hệ thống các công trình cấp điện
và nước sạch là điều kiện cần thiết đảm bảo nhu cầu tối thiểu của khách du lịch tại các điểm đến Hệ thống điện đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên
và liên tục Hệ thống thiết bị xử lí cấp thoát nước, giảm lượng chất thải và xử lí chất thải đúng tiêu chuẩn, kĩ thuật quy định vừa tạo ra những điều kiện đáp ứng nhu cầu
về nước sạch cho du khách và các hoạt động du lịch, vừa tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách Đồng thời, đó cũng là một trong những yêu cầu quan trọng
để mỗi doanh nghiệp du lịch, mỗi địa phương, mỗi quốc gia phát triển du lịch bền vững [32]
đảm bảo nơi ăn, ngủ và giải trí cho khách du lịch Chúng được phân hạng tùy theo tiêu chuẩn và mức độ đồng bộ của dịch vụ có trong đó Cơ sở lưu trú được phân thành nhiều loại :
nước, thường nằm ở các đô thị và điểm du lịch
cho khách, thường nằm ở các vùng nông thôn hay ngoại vi thành phố
Trang 3729
tiêu chuẩn phân loại khách sạn, thường nằm tại vùng nông thôn và được xây dựng theo sắc thái kiến trúc địa phương
tượng phục vụ là khách du lịch, thương nhân hay khách công vụ Vị trí thường nằm
ở các đô thị hoặc các danh lam thắng cảnh
phục vụ là các thương gia hay khách du lịch nhiều tiền, thường nằm ở trung tâm đô thị hay các khu du lịch nổi tiếng
của khách du lịch bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác Mạng lưới này gồm hai phần : một phần thuộc các trung tâm dịch vụ du lịch, phục vụ khách du lịch là chủ yếu; phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa phương với nhiệm vụ phục vụ nhân dân địa phương
cho nó trở nên tích cực hơn Cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng hay trung tâm thể thao với nhiều loại trang thiết bị khác nhau làm tăng hiệu quả sử dụng của các khách sạn và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch
vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch Đó là các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, bùn, các món ăn kiêng…), các phòng luyện tập chức năng, phòng xông hơi…
hiểu biết những kiến thức văn hóa, xã hội cho khách du lịch, tạo điều kiện giao tiếp
xã hội, tuyên truyền về truyền thống, thành tựu văn hóa của các dân tộc
chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm…có thể bố trí tại khách sạn hoặc hoạt động một cách độc lập tại các điểm hoặc trung tâm du lịch Hoạt động của các
Trang 3830
cơ sở này giúp cho khách sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lí, làm cho chuyến đi
du lịch có ý nghĩa hơn
mọi nhu cầu sinh hoạt trong thời gian du lịch như hiệu hớt tóc, hiệu ảnh…
ngoài xu thế đó Việc phát triển du lịch, những kết quả thu được từ ngành kinh tế này được coi là biểu hiện của toàn cầu hóa [32]
đã gia nhập các tổ chức du lịch trong khu vực và quốc tế, tham gia kí kết các hiệp định về phát triển du lịch khu vực và liên quan đến khu vực, nhằm phối hợp hoạt động hợp tác, liên kết để phát triển du lịch Ví dụ : phát triển các tuyến du lịch xuyên Á, đơn giản hóa các thủ tục xuất nhập cảnh, miễn thị thực xuất nhập cảnh, giảm giá các dịch vụ, hợp tác kinh doanh, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực…là những điều kiện hấp dẫn du khách và thuận lợi cho phát triển du lịch của các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam [32]
quốc gia hiểu biết nhau hơn, các tổ chức khu vực và quốc tế hình thành nhiều hơn Khoảng cách đi lại giữa các quốc gia và châu lục trở nên gần hơn Do đó, hoạt động
du lịch càng có điều kiện và cơ hội phát triển Đầu tư phát triển du lịch và dành quan tâm thích đáng cho du lịch là lựa chọn đúng đắn, góp phần hưng thịnh nền kinh tế của các quốc gia có tiềm năng du lịch [14]
du lịch với các nhiệm vụ cụ thể như : quy hoạch, đầu tư; nâng cao năng lực cạnh tranh; xây dựng các điểm, tuyến, cụm du lịch khai thác một cách hiệu quả những tiềm năng du lịch địa phương Đó là một trong những lộ trình cụ thể để du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch Tây Ninh nói riêng chủ động hội nhập sâu và toàn diện Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của các tổ chức du lịch quốc tế như: UNWTO, PATA, ASEANTA…
Trang 3931
từng địa phương nói riêng quảng bá hình ảnh đẹp đẽ về thiên nhiên, văn hóa, con người Việt Nam với bạn bè thế giới, góp phần thu hút lượng khách quốc tế lớn, tăng doanh thu từ du lịch nhưng cũng vừa là thách thức không nhỏ đối với ngành du lịch trong việc tạo ra sản phẩm phong phú, độc đáo; phát triển du lịch gắn với giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ cảnh quan- môi trường du lịch trong sạch
1.2 Cơ sở thực tiễn
Nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Bắc Bán Cầu, thuộc khu vực phát triển kinh tế năng động của thế giới: Châu Á- Thái Bình Dương, Việt Nam có vị trí thuận lợi trong giao lưu và hội nhập quốc tế, khu vực
truyền thống lịch sử lâu đời, phong phú về di sản văn hóa, các làng nghề và các lễ hội truyền thống gắn với các nhóm dân tộc của cả nước Đặc biệt, Việt Nam có nhiều di sản được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên và di sản văn hóa thế giới (đến năm 2010 Việt Nam có 11 di sản được công nhận), cùng với nhiều nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn có giá trị Chính vì vậy, Việt Nam có tiềm năng dồi dào để phát triển hoạt động du lịch
Hội đền Hùng, Hội Gióng… gắn với lịch sử hào hùng dựng nước và giữ nước của dân tộc đã góp phần thu hút đông đảo du khách thập phương, cho đến sự xuất hiện của những khu biệt thự, khách sạn nghỉ dưỡng tại Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo… xây dựng từ thời kì Pháp thuộc đã chứng tỏ hoạt động du lịch của nước ta đã ra đời, hình thành và phát triển từ rất sớm
ngành kinh tế độc lập, từ đó có những bước phát triển nhanh chóng Sau hơn 20
Trang 4032
năm tiến hành đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, du lịch đã khẳng định vị thế là một ngành kinh tế mũi nhọn
tốc độ trung bình ở mức tương đối cao (khoảng 20%/năm), thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã tăng từ 5% (năm 1995) lên trên 8% (năm 2005), thu nhập từ ngành du lịch tăng lên nhiều lần Đây là một thành công lớn góp phần giúp du lịch trở thành một trong những ngành có đóng góp lớn vào GDP
trưởng khách và thu nhập Khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 250.000 lượt (năm
11 triệu lượt; thu nhập du lịch tăng gần 13 lần từ 1.350 tỉ đồng lên 17.400 tỉ đồng [19]
tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm nhưng do áp dụng các biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời nên lượng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con số Khách quốc tế tăng từ 2,33 triệu lượt lên gần 3,47 triệu lượt; khách nội địa tăng từ 11,7 triệu lượt lên 16,1 triệu lượt; người Việt Nam đi du lịch ở nước ngoài năm 2005 ước khoảng 900.000 lượt Du lịch phát triển đã góp phần tăng
tỉ trọng GDP của ngành dịch vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 5% GDP cả nước, theo cách tính của UNWTO thì con số này khoảng 10%) [19]
với năm 2006, khách nội địa đạt khoảng 20 triệu lượt, tăng 14,5% so với năm 2006 Năm 2008, mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, khách quốc tế đến Việt Nam vẫn giữ được 4,2 triệu lượt Năm 2010, lần đầu tiên số khách quốc tế đến Việt Nam đạt 5 triệu lượt người, tăng 34,8% so với năm 2009 Như vậy, tính chung giai đoạn 2006- 2010, khách quốc tế đã tăng từ 3,58 triệu lượt (năm
17,5 triệu lượt lên khoảng 25 triệu lượt [2]