1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch tỉnh bến tre thời kì hội nhập

142 11 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Du Lịch Tỉnh Bến Tre Thời Kì Hội Nhập
Tác giả Lê Danh Chánh
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Xuân Hậu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Địa Lí Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 3,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến các tài nguyên tự nhiên ven các dòng sông, các địa điểm du lịch miệt vườn, hay những tài địa điểm du lịch về văn hóa như đền thờ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, nữ tướng Nguyễn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM XUÂN HẬU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các

số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2020

Tác giả luận văn

Lê Danh Chánh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành đề tài luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo,

PGS.TS Phạm Xuân Hậu, người định hướng, cung cấp tài liệu và chỉ dạy tận tình,

giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn phòng sau Đại học, các thầy cô trong Khoa Địa Lí, trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, thư viện khoa, thư viện trường Đại học

Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã cung cấp nguồn tư liệu bổ ích, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, Sở Văn hóa – Thể thao và du lịch tỉnh Bến Tre, Cục thống kê tỉnh Bến Tre, Trường THCS Lê Văn Hưu – Nhà Bè – TP Hồ Chí Minh, gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này

Tuy nhiên, do thời gian và năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TP Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2020

Học viên

Lê Danh Chánh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH 9

1.1 Một số khái niệm 9

1.1.1 Khái niệm về du lịch 9

1.1.2 Tài nguyên du lịch 9

1.1.3 Phân loại tài nguyên du lịch 10

1.1.4 Sản phẩm du lịch 10

1.1.5 Phân loại sản phẩm du lịch 11

1.1.6 Các loại hình du lịch 11

1.1.7 Khách du lịch 12

1.1.8 Doanh thu du lịch 12

1.1.9 Chương trình du lịch – Tour du lịch 12

1.1.10 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch 13

1.1.11 Phát triển bền vững 16

1.1.12 Phát triển du lịch bền vững 16

1.2 Hội nhập và những yêu cầu của thời kì hội nhập 17

1.2.1 Hội nhập 17

1.2.2 Những yêu cầu của hội nhập 17

1.2.3 Hội nhập và những yêu cầu của hội nhập đối với ngành du lịch 18

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch 19

1.3.1 Vị trí địa lí 19

1.3.2 Tài nguyên du lịch 19

1.3.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 24

Trang 6

1.3.4 Các nhân tố kinh tế - xã hội 27

1.4 Phát triển du lịch ở một số nước và Việt Nam thời kì hội nhập 29

1.4.1 Ở một số nước trên thế giới và khu vực 29

1.4.2 Ở Việt Nam 31

1.4.3 Du lịch tiểu vùng du lịch Tây Nam Bộ 34

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẾN TRE THEO THỜI KÌ HỘI NHẬP 39

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh Bến Tre trong thời kì hội nhập 39

2.1.1 Vị trí địa lí 39

2.1.2 Tài nguyên du lịch 41

2.1.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội 57

2.2 Thực trạng phát triển du lịch Bến Tre 67

2.2.1 Lượng khách và nguồn khách 67

2.2.2 Doanh thu 69

2.2.3 Các sản phẩm và hình thức phát triển du lịch ở Bến Tre hiện nay 72

2.2.4 Cơ sở vật chất – kĩ thuật 73

2.2.5 Lao động và sử dụng lao động du lịch 76

2.2.6 Đầu tư phát triển du lịch 77

2.2.7 Phát triển du lịch theo lãnh thổ 79

2.3 Đánh giá chung về các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bến Tre 86

2.3.1 Thuận lợi 86

2.3.2 Khó khăn 87

2.3.3 Những nội dung đã thực hiện được 88

2.3.4 Những hạn chế cần khắc phục 89

2.3.5 Thời cơ và thách thức cho du lịch Bến Tre 91

Tiểu kết chương 2 94

Trang 7

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH

BẾN TRE THỜI KÌ HỘI NHẬP 96

3.1 Những căn cứ của định hướng và giải pháp 96

3.1.1 Chiến lược phát triển du lịch quốc gia 96

3.1.2 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bến Tre 98

3.1.3 Chiến lược phát triển du lịch tỉnh 99

3.1.4 Thực trạng phát triển du lịch 101

3.1.5 Nhu cầu du lịch của xã hội 105

3.2 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Bến Tre 106

3.2.1 Định hướng chung 106

3.2.2 Các định hướng cụ thể phát triển du lịch thời kì hội nhập 108

3.2.3 Các giải pháp phát triển du lịch 115

3.3 Một số kiến nghị 120

3.4.1 Đối với chính phủ 120

3.4.2 Đối với tổng cục du lịch 120

3.4.3 Đối với các Bộ, Ngành có liên quan 121

3.4.4 Đối với UBND tỉnh Bến Tre 121

3.4.5 Với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch 122

3.4.6 Với công đồng dân cư địa phương có quản lí tài nguyên du lịch 123

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

UBND : Ủy ban nhân dân CSHT : Cơ sở hạ tầng TTLL : Thông tin liên lạc GTVT : Giao thông vận tải

KT – XH : Kinh tế xã hội CSVCKT : Cơ sở vật chất kĩ thuật

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2 1 Các đơn vị hành chính tỉnh Bến Tre 40 Bảng 2.2 Các chỉ số khí hậu tỉnh Bến Tre 44 Bảng 2.3 Di tích lịch sử văn hoá Bến Tre 49 Bảng 2.4 Cơ cấu và lượng khách du lịch đến với Bến Tre giai đoạn 2009-2017 67 Bảng 2.5 Hiện trạng doanh thu du lịch Bến Tre, giai đoạn 2009 – 2017 69 Bảng 2.6 Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch Bến Tre giai đoạn 2009-2017 74 Bảng 2.7 Lực lượng lao động du lịch Bến Tre, giai đoạn 2009 – 2017 76

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Lượng khách du lịch đến tỉnh Bến Tre 68 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Bến Tre 70 Biểu đồ 2.3 Biểu đồ thể hiện các lực lượng du lịch tỉnh Bến Tre 77

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội thì đời sống của con người cũng ngày càng được nâng cao làm nảy sinh các nhu cầu trong cuộc sống Chính vì thế, việc đáp ứng các nhu cầu này cũng ngày một nhiều và ngày một phát triển Trước đây,

du lịch được xem như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi của con người Còn ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa,

xã hội ở các nước

Ngày nay, ở các quốc gia, du lịch đóng góp rất lớn đối với sự phát triển kinh

tế, thu nhập từ các hoạt động du lịch ngày càng cao Không dừng lại ở đó, nó còn tạo điều kiện phát triển các ngành khác và đặc biệt là du lịch góp phần quảng bá hình ảnh, văn hóa, phong tục – tập quán của các vùng miền, các quốc gia, các khu vực với nhau Chính vì vậy mà du lịch đã trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước

Với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập nền kinh tế, du lịch càng có điều kiện để phát triển hơn nữa Ngành du lịch trở thành cầu nối nối liền các quốc gia với nhau,

là cơ sở để thu hút nguồn ngoại tệ rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước Chính vì đều đó, mỗi quốc gia điều hướng đến du lịch theo hướng hội nhập, quảng

bá hình ảnh đẹp của quốc gia mình với các nước bạn bè trên thế giới, nhằm phát triển mạnh ngành du lịch theo hướng hội nhập

Riêng ở Việt Nam, du lịch được xem là một thế mạnh rất lớn Nước ta có tài nguyên du lịch đa dạng, đây được xem là điều kiện quan trọng nhất để phát triển du lịch Xác định được thế mạnh đó, chúng ta đã phát triển rất nhiều loại hình du lịch

để phục vụ khách cả trong và ngoài nước Đi từ Bắc vào Nam, hầu như nơi nào chúng ta cũng phát triển du lịch, mỗi nơi điều có một thế mạnh riêng, tạo ra những loại hình du lịch riêng, và tất cả đã tạo nên sự thống nhất, đa dạng trong du lịch ở nước ta

Hằng năm, du lịch mang lại một nguồn thu rất lớn cho nước ta Không những thế, ở một số nơi trong nước, du lịch trở thành ngành không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế, có thể kể đến là Vũng Tàu, Nha Trang, Phú Quốc,…

Trang 12

Cùng với cả nước, du lịch Bến Tre trong nhiều năm qua cũng có bước phát triển rất mạnh mẽ, điều đó thể hiện rõ ở chỗ khách du lịch đến với Bến Tre ngày càng nhiều Là một tỉnh nằm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, từ lâu Bến Tre đã được du khách gần xa biết đến với sản phẩm nổi tiếng là dừa Bên cạnh đó, tỉnh còn

có rất nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn khác, nhưng chưa được khai thác hiệu quả Có thể kể đến các tài nguyên tự nhiên ven các dòng sông, các địa điểm du lịch miệt vườn, hay những tài địa điểm du lịch về văn hóa như đền thờ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, nữ tướng Nguyễn Thị Định, các làng điệu đờn ca tài tử Nam Bộ,…Không những thế, Bến Tre còn là một tỉnh giáp biển, với nguồn lợi thủy hải sản dồi dào, cũng là một điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch

Trong những năm trở lại lại đây, nhìn chung kinh tế của tỉnh Bến Tre cũng có những bước tiến khả quan, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất cũng ngày một hoàn thiện Đây cũng được xem như là một điều kiện để ngành du lịch của tỉnh phát triển

Thấy được những lợi thế đó, tỉnh cũng đã đẩy mạnh phát triển ngành du lịch Mặt dù trong những năm trở lại đây đã có sự tiến triển đáng kể, song hiệu quả đạt được chưa khả quan Có thể nói tỉnh chưa phát huy hết tất cả các tiềm năng về du lịch, đều này làm cho khách du lịch đến với Bến Tre để tìm hiểu về du lịch vẫn chưa nhiều, chủ yếu là khách du lịch trong nước, đặc biệt là khách du lịch của các khu vực lận cận chiếm số đông, khách du lịch quốc tế đến Bến Tre còn rất hạn chế, chủ yếu do tỉnh chưa có nhiều chính sách, định hướng phát triển du lịch theo xu thế hội nhập, chưa quảng bá được tiềm năng du lịch của tỉnh ra nước ngoài Vì thế chưa phát huy được thế mạnh trong ngành du lịch của tỉnh nhà

Xuất phát từ thực trạng trên, nhằm đóng góp hơn nữa cho sự phát triển nhanh

và ổn định của ngành du lịch tỉnh Bến Tre trong tương lai the hướng hội nhập, việc nghiên cứu phát triển du lịch của tỉnh Bến Tre là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao

Do vậy tôi chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Bến Tre thời kì hội nhập” để nghiên cứu và mong muốn trong tương lai du lịch sẽ phát triển nhanh theo hướng hội nhập và đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Bến Tre

Trang 13

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn phát triển du lịch để ứng dụng vào địa bàn tỉnh Bến Tre Phân tích các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bến Tre từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch của tỉnh theo hướng bền vững trong quá trình hội nhập

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch bao gồm các khái niệm, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tỉnh Bến Tre

- Xác định, phân tích, đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển

du lịch của tỉnh Bến Tre

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển du lịch của tỉnh Bến Tre

- Trên cơ sở các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng du lịch của tỉnh Bến Tre, đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm phát triển du lịch tỉnh Bến Tre theo hướng hội nhập

Trang 14

Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu về du lịch

có giá trị như Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam”do Vũ Tuấn Cảnh và cộng

sự thực hiện, 1991; “Tổ chức lãnh thổ du lịch” của Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ,

1999 cũng đã thể hiện một cách đầy đủ nhất về các hình thức tổ chức các lãnh thổ

du lịch và đặc điểm chính của các hình thức tổ chức này Nghiên cứu về tài nguyên

du lịch Việt Nam thì có “Địa lý du lịch” do Nguyễn Minh Tuệ chủ trì, 1994 cũng đã trình bày đầy đủ về các loại tài nguyên du lịch, mức độ ảnh hưởng, tính mùa trong

du lịch, các nhân tố ảnh hưởng đến du lịch, Ngoài ra còn nhiều đề tài nghiên cứu khác có giá trị cao Tin rằng, đó là những nguồn tư liệu quý báo để các thế hệ sau dễ dàng hơn trong việc nghiên cứu về các đề tài du lịch

Phát triển du lịch trong thời kì hội nhập là một đề tài mới mẻ, tuy nhiên trước đây cũng có tác giả nghiên cứu đó là “Phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập” do Nguyễn Trọng Hiếu nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ 2011 Đề tài cũng

đã thể hiện rõ các cơ sở lý luận về du lịch, du lịch trong thời kì hội nhập Cùng với

đó là phân tích thực trạng du lịch cụ thể của tỉnh Tây Ninh và đề xuất các định hướng để phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập

Riêng về địa bàn tỉnh Bến Tre có các bài viết đăng trên các báo, tạp chí khoa học chuyên ngành kinh tế, chính trị có đề cặp đến du lịch hay các công trình nghiên cứu góp phần hệ thống hóa lý luận, phản ánh những vấn đề chung của du lịch Việt Nam và thế giới nhưng hầu như chưa có một công trình khoa học lớn nào đi sâu, phân tích một cách có hệ thống về mặt cơ sở lý luận và thực tiễn để phát triển du lịch tỉnh Bến Tre thời kì hội nhập với những đặc thù riêng của nó

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu du lịch của tỉnh Bến Tre cũng đã được các cơ quan ban ngành thực hiện với một số bài viết, báo cáo công tác như Báo cáo tổng hợp “Quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020” vào tháng 5/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre, tuy nhiên chỉ với góc độ báo cáo quy hoạch, chưa phải là luận văn, nhưng đó cũng là những tài liệu thực tiễn quý báu, cần thiết Do vậy, đề tài này luôn có sự kế thừa, chọn lọc các công trình nghiên cứu về du lịch ở Việt Nam nói chung và du lịch ở tỉnh Bến Tre nói riêng

Trang 15

“Phát triển du lịch tỉnh Bến Tre thời kì hội nhập” là đề tài đầu tiên nghiên cứu tổng thể tiềm năng, thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh trong thời kì nước ta đang hội nhập quốc tế và khu vực Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tạo nên bức tranh vừa tổng quan vừa chi tiết về hoạt động du lịch ở Bến Tre, cũng như lợi thế so sánh phát triển du lịch với các tỉnh trong tiểu vùng du lịch Tây Nam Bộ nói riêng và vùng du lịch Nam Bộ nói chung

4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung chủ yếu vào phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng phát triển du lịch và đề xuất giải pháp phát triển du lịch của tỉnh Bến Tre để hội nhập

- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu việc phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Bến Tre, có liên hệ với một vài địa phương kế cận

- Về thời gian: Dữ liệu thu thập để nghiên cứu sự phát triển du lịch: từ năm

2009 đến năm 2017 và xây dựng định hướng đến 2025

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Quan điểm nghiên cứu

để đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Để mang lại hiệu quả tổ chức, kinh doanh du lịch cần tìm ra được sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố trong cùng một lãnh thổ cũng như mối quan hệ mở với các lãnh thổ khác

5.1.2 Quan điểm lãnh thổ

Đây là một trong những quan điểm được sử dụng rộng rãi trong du lịch do tính chất tổng thể của đối tượng nghiên cứu Theo quan điểm này, khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó phải đặt nó trong vị trí tương quan với các vấn đề, các yếu tố

Trang 16

trong hệ thống cao hơn và trong cấp phân vị thấp hơn Du lịch Bến Tre được coi là một bộ phận có ý nghĩa quan trọng của hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn là tiểu vùng du lịch Tây Nam Bộ và Nam Bộ cũng như hệ thống du lịch của cả nước nên chúng có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Mặt khác, Bến Tre cũng là một lãnh thổ du lịch với những mối quan hệ qua lại với các hệ thống khác và vận động theo quy luật của toàn hệ thống

5.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

Bến Tre là vùng đất có nền văn hóa lâu dài theo chiều dài lịch sử dân tộc Đến nay Bến Tre vẫn giữ được những nét đặc sắc, độc đáo về tự nhiên, văn hóa của một tỉnh nằm ở phía nam của tổ quốc Sử dụng quan điểm lịch sử- viễn cảnh để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình và kết quả khai thác của các hoạt động du lịch diễn ra trên địa bàn tỉnh Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc

và phát huy những thành quả đạt được để có kế hoạch phát triển du lịch bền vững và hợp lí hơn

5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Theo Hội đồng thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED), cũng như khoản

21 (điều 2, chương I) luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì phát triển du lịch bền vững được quan niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại

mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”

Du lịch hiện nay đang trở thành một ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên việc phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững Từ đó có những kế hoạch và biện pháp phù hợp để khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch cũng như làm tốt công tác bảo tồn và tôn tạo Phát triển du lịch ở Bến Tre cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường trong sạch, có những biện pháp kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên, văn hóa, xã hội của tỉnh

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích tổng hợp và xử lí số liệu, tài liệu

Phương pháp này được thực hiện nhằm nghiên cứu, xử lí các tài liệu trong

Trang 17

phòng dựa trên cơ sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau và từ thực

tế, sau đó xử lí chúng để có những kết luận cần thiết Các tư liệu có thể là những công trình nghiên cứu trước đó, các bài viết, các báo cáo kinh doanh, báo cáo tổng kết…Phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian, tiền bạc mà vẫn có được một tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu

Số liệu thống kê là một dạng tài liệu cần thiết trong quá trình thu thập tài liệu Các bảng biểu với những số liệu tuyệt đối cũng như tương đối chính là nguồn tài liệu nói lên thực trạng hoạt động cũng như phát triển của đối tượng Số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài này được lấy từ các nguồn: Tổng cục thống kê, Cục thống kê Bến Tre, UBND tỉnh Bến Tre, Sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Bến Tre, các công ty

du lịch trên địa bàn Bến Tre…

5.2.2 Phương pháp so sánh

Thông tin, số liệu sau khi được thu thập sẽ được so sánh, phân tích cho phù hợp với mục đích của từng phần Quá trình so sánh các yếu tố như tài nguyên, thực trạng phát triển du lịch… sẽ rút ra được những mặt mạnh, mặt yếu nhằm mang lại cái nhìn khái quát, đầy đủ về du lịch Bến Tre Qua phân tích, so sánh các thông tin

sẽ được chắt lọc với độ tin cậy và hiệu quả cao nhất

5.2.3 Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm góp phần làm cho kết quả mang tính xác thực, khắc phục hiệu quả những hạn chế của phương pháp thu thập, xử lí số liệu trong phòng Các hoạt động chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát, mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh…tại các điểm nghiên cứu; gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan quản lí tài nguyên, các cơ quan quản lí chuyên ngành của địa phương…

5.2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Để kết quả nghiên cứu được thể hiện một cách trực quan, đề tài đã áp dụng phương pháp bản đồ - biểu đồ trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu định lượng, định tính Bản đồ là phương pháp quan trọng xác định sự phân bố, mức

độ tập trung theo lãnh thổ của các đối tượng nghiên cứu (điểm, tuyến, cụm du lịch) trong không gian, đồng thời thể hiện mối liên hệ với các khu vực lân cận của địa

Trang 18

bàn nghiên cứu Trên cơ sở đó có thể đề xuất được sự phân bố của các điểm, các tuyến du lịch ở các vị trí phù hợp để phát huy hiệu quả tối đa của các điểm và tuyến

du lịch đó Về phần biểu đồ, có vai trò quan trọng trong việc phân tích, so sánh các nhân tố, chỉ tiêu về du lịch như doanh thu, lượng khách, cơ sở lưu trú,… Từ đó thấy được một bức tranh tổng quan, cụ thể nhất thực trạng phát triển du lịch của bất kì địa điểm nào

5.2.5 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp này góp phần quan trọng trong việc định hướng đưa ra các kết luận, các kiến nghị và lựa chọn các phương án phát triển với những thông tin chính xác Với việc có cơ hội trao đổi ý kiến với lãnh đạo các cấp địa phương nghiên cứu, các ngành, lĩnh vực có liên quan, tác giả đã vận dụng vào đề tài nghiên cứu Từ đó

đề tài góp phần đánh giá và phân tích tiềm năng, thực trạng của hoạt động du lịch cũng như mạnh dạn đề xuất các giải pháp cho việc phát triển du lịch ở tỉnh Bến Tre

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Bến Tre theo thời kì hội nhập

Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bến Tre thời kì hội nhập

Trang 19

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN

DU LỊCH 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm về du lịch

Hoạt động du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người Ngày nay, trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội và hoạt động du lịch đang phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước trên thế giới Song khái niệm “Du lịch” được hiểu rất khác nhau theo các cách tiếp cận và quan điểm riêng

Theo định nghĩa của Michael Coltman (Mỹ) “Du lịch là sự kết hợp tương tác

của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách, bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”

Ở Việt Nam, khái niệm về du lịch của I.I Pirojnik được sử dụng phổ biến

“Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức- văn hóa hoặc thể thao, kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về mặt tự nhiên, kinh tế và văn hóa”

Theo luật du lịch Việt Nam (2005), “Du lịch là các hoạt động có liên quan

đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” (Điểm 1, điều 10)

1.1.2 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề để phát triển du lịch Tài nguyên

du lịch càng phong phú đặc sắc, có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác

Trang 20

có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch; Là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”

1.1.3 Phân loại tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch được chia làm hai nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa

“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”

Tài nguyên du lịch văn hóa do con người tạo ra hay nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo, nó có những đặc điểm khác biệt so với tài nguyên tự nhiên

Những đặc tính cơ bản của tài nguyên du lịch văn hóa:

- Mang tính phổ biến

- Mang tính tập trung dễ tiếp cận

- Có tính truyền đạt nhận thức nhiều hơn là hưởng thụ, giải trí

1.1.4 Sản phẩm du lịch

Theo luật du lịch Việt Nam (2005): “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ

cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”

Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ

sở khai thác các tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách Sản phẩm du lịch

có các đặc điểm sau:

- Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể) Thực ra

nó là một kinh nghiệp du lịch hơn là một món hàng cụ thể Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hoá

- Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm

- Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng

Trang 21

- Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống…

Sản phẩm du lịch được cấu thành từ những bộ phận sau:

- Dịch vụ vận chuyển

- Dịch vụ lưu trú, ăn uống

- Dịch vụ vui chơi giải trí

- Sản phẩm đơn lẻ: Là sản phẩm do các nhà cung ứng đưa ra nhằm thoả mãn một nhu cầu cụ thể của khách

- Sản phẩm tổng hợp: Là sản phẩm phải thoả mãn đồng thời một nhóm nhu cầu mong muốn của khách du lịch

1.1.6 Các loại hình du lịch

Hoạt động du lịch có thể phân thành các nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu chí đưa ra

- Dựa theo mục đích chuyến đi, du lịch được chia thành: du lịch tham quan;

du lịch nghỉ ngơi, giải trí; du lịch khám phá; du lịch thể thao; du lịch văn hóa; du lịch tôn giáo; du lịch hội nghị; du lịch mạo hiểm; du lịch thăm thân; du lịch công vụ,

du lịch tôn giáo, du lịch thăm hỏi…

- Dựa theo lãnh thổ hoạt động, du lịch được chia thành: du lịch quốc tế và

du lịch nội địa

- Ngoài ra còn có các cách phân loại khác như:

+ Dựa theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch, có thể chia ra : du lịch miền biển,

du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê,…

+ Dựa theo phương tiện giao thông, có thể chia ra: du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng xe máy, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hỏa, du lịch bằng tàu thủy, du lịch

Trang 22

Luật du lịch Việt Nam (2005) quy định “Khách du lịch là người đi du lịch

hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch

1.1.8 Doanh thu du lịch

Bao gồm các khoản thu do khách du lịch chi trả, đó là doanh thu từ lưu trú và

ăn uống, từ vận chuyển khách du lịch và lữ hành, từ bán hàng lưu niệm, từ các dịch

vụ khác như vui chơi, giải trí, dịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, giao thông công cộng… Nói cách khác, khách du lịch đến một nơi nào đó, họ chi tiêu hết bao nhiêu thì đó chính là doanh thu du lịch

1.1.9 Chương trình du lịch – Tour du lịch

Luật du lịch Việt Nam (2005) đưa ra khái niệm: “Chương trình du lịch là lịch

trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của du khách từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đến”

Nội dung của chương trình du lịch bao gồm :

- Tổng quỹ thời gian: n ngày và n-1 đêm

- Lộ trình

Trang 23

- Kế hoạch chi tiết cho từng ngày

- Phương án vận chuyển, ăn uống, lưu trú cùng các hoạt động tham quan vui chơi giải trí

Tour du lịch là một thuật ngữ lấy nguyên gốc từ danh từ “tour”trong tiếng

Anh, có nghĩa là “Chuyến đi du lịch” Tour du lịch là sản phẩm du lịch được đánh giá theo một lộ trình có sự đặt trước về thời gian, địa điểm và những dịch vụ liên quan Như vậy khái niệm tour du lịch gần nhất với khái niệm chương trình du lịch Tour du lịch cần được phân biệt rõ với tuyến du lịch, tour du lịch là chương trình du lịch (về mặt sản phẩm có quy định giá bán, lịch trình chuyến đi)

1.1.10 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch

Trong nghiên cứu du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu bởi vì không thể tổ chức và quản lí có hiệu quả hoạt động này nếu không xem xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó

Tổ chức lãnh thổ du lịch được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng và các nhân tố khác nhằm đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất Đối với phân vùng

du lịch Việt Nam có một số cấp cơ bản sau:

Điểm du lịch: điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị Về mặt

lãnh thổ, điểm du lịch có quy mô nhỏ Trên bản đồ các vùng du lịch, người ta thể hiện điểm du lịch là những điểm riêng biệt Tuy nhiên, trong thực tế dù quy mô rất nhỏ nhưng cũng chiếm một diện tích nhất định trong không gian Sự chênh lệch về diện tích giữa các điểm du lịch tương đối lớn

Điểm du lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa- lịch sử hoặc kinh tế- xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai với quy mô nhỏ Vì thế điểm du lịch có thể phân thành hai loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng

Thời gian lưu lại của khách du lịch tương đối ngắn (không quá 1- 2 ngày) vì

sự hạn chế của đối tượng du lịch, trừ một vài trường hợp ngoại lệ (điểm du lịch với chức năng chữa bệnh, nhà nghỉ cơ quan…)

Trang 24

Các điểm du lịch được nối với nhau bằng tuyến du lịch Trong trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có khả năng là tuyến nội vùng (á vùng, tiểu vùng, trung tâm) hoặc tuyến liên vùng (giữa các vùng)

Điểm đến du lịch: Là địa điểm mà khách du lịch lựa chọn trong chuyến đi, có

thể là một địa danh cụ thể, một khu vực, một vùng lãnh thổ, một quốc gia, thậm chí

là châu lục

Trên phương diện địa lí, điểm đến du lịch được xác định theo phạm vi không gian lãnh thổ Điểm đến du lịch là một vị trí địa lí mà một du khách đang thực hiện hành trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu theo mục đích chuyến đi của người đó Với quan niệm này, điểm đến du lịch vẫn chưa định rõ còn mang tính chung chung, nó chỉ xác định vị trí địa lí phụ thuộc vào nhu cầu của khách du lịch, chưa xác định được các yếu tố nào tạo nên điểm đến du lịch

Xem xét trong mối quan hệ kinh tế du lịch, điểm đến du lịch được hiểu là yếu

tố cung du lịch Sở dĩ như vậy là do chức năng của điểm đến chính là thõa mãn nhu cầu mang tính tổng hợp của khách du lịch

Từ góc độ cung du lịch, điểm đến du lịch là sự tập trung các tiện nghi và dịch

vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách

Khi xem xét vị trí của từng điểm đến trong chuyến đi của khách, người ta chia điểm đến du lịch thành 2 loại:

Điểm đến cuối cùng: Thường là điểm xa nhất tính từ điểm xuất phát gốc của

du khách hoặc là địa điểm mà khách dự định sử dụng phần lớn thời gian

Điểm đến trung gian hoặc điểm ghé thăm: Là địa điểm khách dành thời gian ngắn hơn để nghỉ ngơi qua đêm hoặc thăm viếng một điểm hấp dẫn du lịch

Trung tâm du lịch: là sự kết hợp lãnh thổ của các điểm du lịch cùng loại hay

khác loại Trên lãnh thổ trung tâm du lịch tập trung nhiều điểm du lịch Nói cách khác, mật độ điểm du lịch trên lãnh thổ tương đối dày đặc Mặt khác, trung tâm du lịch gồm các điểm chức năng được đặc trưng bởi sự gắn kết lãnh thổ về mặt kinh tế-

kĩ thuật và tổ chức Nó có khả năng và sức thu hút khách du lịch rất lớn

Nguồn tài nguyên du lịch tương đối tập trung và được khai thác một cách cao

độ Có thể nguồn tài nguyên không thật đa dạng (về loại hình), song điều kiện cần

Trang 25

thiết là phải tập trung và có khả năng lôi cuốn khách du lịch

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất- kĩ thuật khá phong phú để đón, phục vụ và lưu khách trong một thời gian dài

Có khả năng tạo vùng du lịch rất cao Về cơ bản, trung tâm du lịch là một hệ thống lãnh thổ du lịch đặc biệt, hạt nhân của vùng du lịch Chính nó tạo dựng bộ khung cho vùng du lịch hình thành và phát triển Theo cách nói thông thường, đây

là các “cực” để thu hút các lãnh thổ lân cận vào phạm vi tác động của vùng Chẳng hạn, ở Việt Nam gắn với ba vùng du lịch có ba trung tâm du lịch: Hà Nội, Huế - Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh

Có quy mô nhất định về diện tích, gồm các điểm du lịch kết hợp với các điểm dân cư và môi trường xung quanh Về độ lớn, trung tâm du lịch có thể có diện tích tương đương với diện tích của một tỉnh

Vùng du lịch: là cấp cao nhất trong hệ thống phân vị Đó là một sự kết hợp

lãnh thổ của các á vùng (nếu có), tiểu vùng, trung tâm và điểm du lịch có những đặc trưng riêng về số lượng và chất lượng Nói cách khác, vùng du lịch như một tổng thể thống nhất của các đối tượng và hiện tượng tự nhiên, nhân văn và xã hội… bao gồm hệ thống lãnh thổ du lịch và môi trường kinh tế - xã hội xung quanh với chuyên môn hóa nhất định trong lĩnh vực du lịch

Nói đến vùng du lịch phải nói đến chuyên môn hóa Nó chính là bản sắc của vùng, làm cho vùng này khác hẳn với vùng kia Ở nước ta, chuyên môn hóa các vùng du lịch đang trong quá trình hình thành Tuy nhiên, mỗi vùng chuyên môn hóa

gì và xu hướng phát triển như thế nào thì cần nghiên cứu sâu hơn

Các mối liên hệ nội, ngoại vùng đa dạng dựa trên nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất- kĩ thuật sẵn có của vùng Về phương diện lãnh thổ, vùng du lịch có diện tích rất lớn, bao gồm nhiều tỉnh Ngoài ra, với hoạt động du lịch mạnh

mẽ, nó còn bao chiếm cả các khu vực không du lịch (điểm dân cư, các khu vực không có tài nguyên và cơ sở du lịch nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế du lịch)

Cũng như các tiểu vùng, người ta chia ra vùng du lịch đang hình thành (vùng

du lịch tiềm năng) và vùng du lịch đã hình thành (vùng du lịch thực tế) Ở nước ta,

Trang 26

có thể có tiểu vùng du lịch thực tế và tiểu vùng du lịch tiềm năng Song, thực tế chúng ta chưa có vùng du lịch đã hình thành Vì vậy, vùng du lịch Việt Nam là vùng du lịch đang hình thành Quan niệm này phù hợp với thực tế khách quan đang diễn ra ở nước ta, và như vậy mới có thể cắt nghĩa một số hiện tượng rất khó lí giải trong thực tế sinh động và đa dạng của hoạt động du lịch

Chính vì vậy, phân vùng du lịch thể hiện rõ tính kiến thiết của nó Vùng du lịch là một thực tế khách quan, tồn tại ngoài ý muốn con người Nói như vậy không

có nghĩa là con người không có vai trò gì trong việc hình thành và phát triển vùng Con người thông qua công tác phân vùng du lịch, có thể thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các vùng du lịch nếu như việc nghiên cứu của họ tôn trọng các quy luật và thực tế khách quan Ngược lại, nếu nghiên cứu hoàn toàn chủ quan thì họ sẽ phải trả giá đắt cho hành động của mình

1.1.11 Phát triển bền vững

Cụm từ “phát triển bền vững” có nguồn gốc từ thực tiễn quản lý rừng ở Đức vào thế kỉ XIX nhưng mãi đến thập kỉ 80 của thế kỉ XX mới được phổ biến rộng rãi Năm 1980, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) cho rằng “phát triển bền vững” phải cân nhắc đến hiện tượng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các

Ngày nay tất cả các quốc gia đều đề cập đến “phát triển bền vững” trong quá trình hoạch định chính sách và quản lí phát triển kinh tế, với ý muốn nhấn mạnh phương thức và việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của sự phát triển

1.1.12 Phát triển du lịch bền vững

Xu thế phát triển du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đứng trước sự bắt buộc phải sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực của mình, đặc biệt là

Trang 27

tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn

Khái niệm phát triển du lịch bền vững xuất hiện trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, trên cơ sở cải thiện và nâng cấp khái niệm du lịch mềm (soft tourism), được nhiều quốc gia và hiệp hội du lịch lớn trên thế giới ủng hộ Tuy nhiên một khái niệm “du lịch bền vững” hoàn chỉnh được tất cả mọi người thống nhất sử dụng chung đến nay chưa có

Năm 1992, Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) định nghĩa: “Du lịch bền vững

là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai

Năm 1996, Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (WTTC) đưa ra khái niệm:

“Du lịch bền vững là sự đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch mai sau”

Theo luật du lịch Việt Nam năm 2005 thì phát triển du lịch bền vững được quan niệm là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”

1.2 Hội nhập và những yêu cầu của thời kì hội nhập

1.2.1 Hội nhập

Hội nhập: xuất phát từ phương Tây và được sử dụng nhiều từ giữa thập niên

90 trở lại đây Hội nhập (INTERGRATION) được hiểu là sự liên kết của mỗi quốc gia vào các tổ chức khu vực và toàn cầu, trong đó mối quan hệ giữa các nước thành

viên có sự ràng buộc chung theo quy định của khối Nói cách khác: Hội nhập là quá

trình chủ động gắn kết của từng nước về một hay nhiều lĩnh vực khác nhau với khu vực và thế giới trên các cấp độ đơn phương, song phương và đa phương

Hội nhập là xu thế chung của thế giới hiện nay trong điều kiện toàn cầu hóa, khu vực hóa đang diễn ra nhanh chóng cùng với sự tác động mạnh mẽ của khoa học

và công nghệ

1.2.2 Những yêu cầu của hội nhập

Để phát triển kinh tế trong thời kì hội nhập, cần xây dựng được một nền kinh

Trang 28

tế thị trường bền vững kết hợp tăng trưởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội; gìn giữ môi trường trong sạch, xây dựng một cơ cấu sản phẩm và dịch vụ giàu sức cạnh tranh, một hệ thống tài chính tiền tệ chắc chắn và linh hoạt; một mạng lưới thông tin đầy đủ và cập nhật cùng với một trình độ dân trí ngày càng được nâng cao Để tham gia hội nhập quốc tế, cần thực hiện tốt một số việc sau:

- Cần phổ biến đến toàn dân những nhận thức về sự chủ động hội nhập quốc

tế

- Trên cơ sở nhận thức trên, xây dựng và thực hiện một chiến lược chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, đủ định tính và định lượng, đủ tầm nhìn xa, rộng và tính chất thiết thực

- Cần xem chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế là một phần của chiến lược tổng thể phát triển kinh tế- xã hội

- Cần xây dựng và đổi mới hệ thống thể chế, chú trọng vai trò của ba mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp

- Các doanh nghiệp là người trực tiếp tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, cần

có ý thức đầy đủ về sự vừa hợp tác vừa đấu tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế

1.2.3 Hội nhập và những yêu cầu của hội nhập đối với ngành du lịch

Đối với du lịch hội nhập vừa là thời cơ để cả nước nói chung và từng địa phương nói riêng quảng bá hình ảnh đẹp đẽ về thiên nhiên, văn hóa, con người của mỗi dân tộc với bạn bè thế giới, đồng thời đặt ra không ít thách thức cho sự phát triển của ngành trong quá trình hội nhập

Về thách thức, có thể dễ dàng thấy rằng du lịch là một ngành kinh tế chỉ phát triển khi có tài nguyên du lịch và các dịch vụ phục vụ du dịch hấp dẫn đối với du khách Vì thế, muốn hội nhập du lịch tốt, thu hút được nhiều khách quốc tế, thì đòi hỏi các quốc gia ngoài các tài nguyên du lịch sẵn có phải phát triển thêm nhiều hoạt động du lịch hấp dẫn, phải hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông tốt, và các dịch vụ phục vụ phải tiện nghi, chu đáo

Bên cạnh đó, việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững cũng, ổn định chính trị là một vấn đề hết sức quan trọng trong việc phát triển du lịch thời kì hội nhập

Trang 29

Làm được như vậy thì tinh chắc rằng, du lịch sẽ có cơ hội hội nhập quốc tế một cách mạnh mẽ và là lợi thế trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch

1.3.1 Vị trí địa lí

Trong quá trình phát triển du lịch, vị trí địa lý được coi như một nguồn lực quan trọng Vị trí địa lý bao gồm vị trí về mặt tự nhiên (phạm vi lãnh thổ có giới hạn và tọa độ địa lý), vị trí về kinh tế- xã hội và chính trị Đồng thời vị trí địa lý có

ý nghĩa về mặt giao thông, giao lưu trao đổi

Đối với các hoạt động du lịch, yếu tố quyết định của điều kiện vị trí là điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn Khi phân tích và đánh giá vị trí địa lý, cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế (nếu có)

1.3.2 Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường

tự nhiên được sử dụng cho mục đích du lịch, bao gồm: địa hình, khí hậu, nguồn nước và tài nguyên sinh vật

Tài nguyên địa hình: Địa hình là một thành phần quan trọng của tự nhiên, là

sản phẩm của các quá trình địa chất lâu dài Đối với hoạt động du lịch, bề mặt địa hình là nơi diễn ra các hoạt động của du khách, là nơi xây dựng các công trình phục

vụ du khách Đặc điểm địa hình góp phần quy định các loại hình du lịch Đối với hoạt động du lịch, các dạng địa hình tạo nền cho phong cảnh Các dấu hiệu bên ngoài và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn với du khách, như các dạng địa hình núi, địa hình Karst, các kiểu địa hình ven bờ… có giá trị phục vụ cho nhiều loại hình du lịch

Trong các loại địa hình thì địa hình miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch, đặc biệt là các khu vực thuận lợi cho việc tổ chức thể thao mùa đông, các nhà

an dưỡng, các trạm nghỉ, các cơ sở du lịch…

Ngoài các dạng địa hình chính có giá trị du lịch, các kiểu địa hình đặc biệt khác như: địa hình Karst, địa hình ven bờ cũng có giá trị rất lớn cho việc tổ chức

Trang 30

du lịch

Kiểu địa hình Karst là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các loại đá dễ hòa tan (đá vôi Đolomit, đá phấn, thạch cao…) Một trong các kiểu Karst có ý nghĩa rất lớn với du lịch là hang động Karst, những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của hang động Karst có sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch Các kiểu địa hình ven biển, hải đảo, đới bờ và các kho chứa nước (đại dương, biển, sông, hồ…) cũng có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch Địa hình ven bờ có thể tận dụng khai thác du lịch với mục đích khác nhau: tham quan du lịch theo chuyên

đề khoa học, nghỉ ngơi an dưỡng, tắm biển, thể thao nước…

Tài nguyên khí hậu: Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên

đối với du lịch, bao gồm hai chỉ tiêu chính: nhiệt độ và độ ẩm không khí Ngoài ra còn một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lí hóa của không khí, áp suất của khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt

Để đánh giá cụ thể các điều kiện khí hậu đối với hoạt động du lịch, ngoài các đặc điểm chung của từng khu vực, cần thiết phải đánh giá ảnh hưởng của các điều kiện đó tới sức khỏe con người và các loại hình du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau Để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người, các nhà nghiên cứu thường sử dụng chỉ tiêu khí hậu sinh học Điều kiện khí hậu được xem như tài nguyên khí hậu của du lịch, có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch Khí hậu ảnh hưởng rõ rệt đến các hoạt động du lịch và đã tạo nên tính mùa vụ trong các hoạt động du lịch Ứng với mỗi loại hình du lịch, đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau, các vùng khác nhau có tính mùa du lịch không như nhau

- Mùa du lịch cả năm (liên tục) thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh suối khoáng, du lịch trên núi cả mùa đông và mùa hè Tuy nhiên, trong thực tế hiếm khi

có sự phân phối đồng đều các dòng du lịch theo mùa vì du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân như tự nhiên, kinh tế - xã hội, kĩ thuật…

- Mùa đông: là mùa du lịch trên núi Ở những nơi mùa đông kéo dài thường phát triển du lịch thể thao mùa đông và các loại hình du lịch mùa đông khác

- Mùa hè: là mùa du lịch quan trọng nhất Đây là mùa du lịch sôi động với các

Trang 31

loại hình du lịch biển, du lịch núi, du lịch tới những vùng đồi, đồng bằng…

Tài nguyên nước: bao gồm nước chảy trên mặt và nước ngầm Đối với du lịch

thì nguồn nước mặt có ý nghĩa rất lớn, bao gồm: đại dương, biển, sông, hồ, suối, thác nước…Các nguồn tài nguyên nước mặt có giá trị cho nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ dưỡng… Tùy theo thành phần lí hóa học có thể phân thành: nước ngọt và nước mặn

Nhằm mục đích du lịch, nước được sử dụng tùy theo nhu cầu cá nhân, theo độ tuổi và nhu cầu quốc gia Giới hạn nhiệt độ lớp nước trên mặt tối thiểu có thể chấp nhận được là 18- 20 độ C, ngoài ra cần chú ý đến một số chỉ tiêu khác như tần số và tính chất sóng của dòng chảy, độ sạch của nước… Nguồn nước trên mặt không chỉ cung cấp nhu cầu sinh hoạt của khu du lịch, tạo ra các hoạt động du lịch đa dạng mà còn ảnh hưởng đến các thành phần khác của môi trường sống, điều hòa khí hậu thuận lợi cho hoạt động du lịch

Trong tài nguyên nước, nước ngầm có giá trị lớn với du lịch, đó là các nguồn nước khoáng thiên nhiên Đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng

và chữa bệnh Nước khoáng là nước thiên nhiên có chứa một số thành phần vật chất đặc biệt hoặc có một số tính chất lí hóa có tác dụng sinh lí đối với con người

Tài nguyên sinh vật: là một dạng tài nguyên đặc biệt có ảnh hưởng rất lớn đến

sự phát triển của ngành du lịch, tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, khám phá và nâng cao nhận thức cho khách du lịch Xu thế hiện nay đang xuất hiện những hình thức mới như du lịch sinh thái, du lịch các khu bảo tồn thiên nhiên với đối tượng là các loài động- thực vật Việc tham quan du lịch trong thế giới sinh vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho con người tăng thêm lòng yêu cuộc sống Để phục các mục đích du lịch khác nhau (tham quan, săn bắn thể thao, nghiên cứu khoa học…), các tài nguyên động- thực vật phải đạt được một số chỉ tiêu nhất định

Tài nguyên du lịch văn hóa

Tài nguyên du lịch văn hóa là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra

có giá trị văn hóa, tinh thần và phục vụ nhu cầu du lịch Loại tài nguyên này bao gồm: dân tộc, các di tích lịch sử - văn hóa, lễ hội và các tài nguyên du lịch nhân văn

Trang 32

khác (làng nghề, đặc sản địa phương, các món ăn dân tộc, các sự kiện văn hóa - thể thao…)

Dân tộc: Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hóa, phong

tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng của mình và có địa bàn

cư trú nhất định Có thể nói du lịch dân tộc học vẫn còn là những bí ẩn mà mỗi du khách đều muốn khám phá Những đặc thù của từng dân tộc, đó chính là những tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống, kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc… vẫn luôn có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch

Đồng thời những nét đặc sắc và phong phú của các yếu tố về dân tộc học có ý nghĩa quan trọng trong việc quy định các loại hình du lịch đa dạng như du lịch văn hóa, du lịch về cội nguồn, du lịch cộng đồng…

Di tích lịch sử - văn hóa: là những không gian vật chất cụ thể, khách quan,

trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại

Di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh ở mỗi dân tộc, quốc gia được phân chia thành:

- Di tích văn hóa khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kì lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại Đa số các di tích này nằm trong lòng đất, còn được gọi là di chỉ khảo cổ bao gồm di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng Loại di tích này có ý nghĩa với loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu khoa học

- Di tích lịch sử: Những đặc điểm lịch sử của mỗi quốc gia, dân tộc được ghi dấu ở những di tích lịch sử, bao gồm: Di tích ghi dấu về dân tộc học; Di tích ghi dấu

về sự kiện chính trị quan trọng; Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược; Di tích ghi dấu những kỉ niệm; Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động; Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến…có ý nghĩa rất lớn đối với loại hình du lịch

về nguồn

- Di tích văn hóa nghệ thuật: là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nên còn gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật Chúng không chỉ chứa đựng các

Trang 33

giá trị kiến trúc mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần

- Danh lam thắng cảnh: là những giá trị văn hóa do thiên nhiên ban cho Các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên bao la, hùng vĩ, thoáng đãng

mà còn có giá trị nhân văn do bàn tay, khối óc của con người tạo dựng nên và chứa đựng trong đó giá trị của nhiều loại di tích văn hóa- lịch sử Chúng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động du lịch Ở nước ta, phần lớn các danh lam thắng cảnh đều

có chùa thờ Phật

Để đánh giá ý nghĩa của các di tích lịch sử- văn hóa phục vụ mục đích du lịch thường dựa vào các chỉ tiêu quan trọng, thể hiện số lượng cũng như chất lượng của các di tích:

- Số lượng di tích

- Mật độ di tích

- Số lượng di tích được xếp hạng

- Số lượng di tích đặc biệt quan trọng

- Ngoài ra, lễ hội cũng có ý nghĩa rất lớn cho sự phát triển du lịch, là loại hình

sinh hoạt văn hóa tổng hợp đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một

sự kiện lịch sử trọng đại, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống hiện tại chưa giải quyết được

Lễ hội đã tạo nên “tấm thảm muôn màu Mọi sự ở đó đều đan quyện vào nhau,

thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải

và khốn khổ, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ và bản năng”

Lễ hội gồm hai phần: phần nghi lễ và phần hội Khi nghiên cứu, đánh giá các

lễ hội phục vụ mục đích phát triển du lịch cần chú ý những đặc điểm sau:

- Tính thời gian của lễ hội: các lễ hội không phải diễn ra quanh năm mà chỉ tập trung trong thời gian ngắn Lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân, thời gian tiến hành

lễ hội thường 1- 2 tháng, có khi chỉ một vài ngày

- Quy mô của lễ hội: Các lễ hội có quy mô lớn nhỏ khác nhau, điều này ảnh hưởng tới hoạt động du lịch, nhất là khả năng thu hút khách du lịch

Trang 34

- Các lễ hội thường được tổ chức ở các di tích lịch sử - văn hóa, điều đó cho phép khai thác có hiệu quả hơn cả di tích và lễ hội vào mục đích du lịch

Các tài nguyên du lịch văn hóa khác

- Nghề và làng nghề thủ công truyền thống: trở thành một tài nguyên du lịch

nhân văn được khai thác phục vụ đắc lực cho hoạt động du lịch Nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người

- Các đối tượng văn hóa, thể thao hay những hoạt động có tính sự kiện: Đó

chính là các trung tâm khoa học, các trường đại học, thư viện lớn, bảo tàng, trung tâm tổ chức liên hoan âm nhạc, phim ảnh quốc tế, các sự kiện thể thao…đều có sức thu hút khách du lịch tới tham quan, nghiên cứu, vui chơi với nhiều mục đích khác nhau Do vậy, những thành phố có các đối tượng văn hóa hoặc tổ chức các hoạt động văn hóa- thể thao đều trở thành trung tâm du lịch văn hóa của các quốc gia và khu vực, đồng thời là những hạt nhân của các trung tâm du lịch

- Ngoài ra các đặc sản địa phương và các món ăn dân tộc: với nghệ thuật chế

biến cao, chúng cũng là những tài nguyên du lịch nhân văn độc đáo, hấp dẫn khách

du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt Như vậy, sự phát triển du lịch có mối quan hệ mật thiết với tài nguyên và môi trường du lịch Du lịch không thể phát triển nếu thiếu tài nguyên và tách rời khung cảnh môi trường du lịch hoạt động Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ ngành

du lịch, ảnh hưởng đến việc hình thành chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch

1.3.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

Cơ sở hạ tầng (CSHT) là tiền đề, là đòn bẫy của mọi hoạt động kinh tế, trong

đó có hoạt động du lịch Trong CSHT, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu Đồng thời, hệ thống TTLL, mạng lưới cung cấp điện- nước sạch cũng là những thành phần phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch

Trang 35

Cơ sở hạ tầng (CSHT) là tiền đề, là đòn bẫy của mọi hoạt động kinh tế, trong

đó có hoạt động du lịch Trong CSHT, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu Đồng thời, hệ thống TTLL, mạng lưới cung cấp điện- nước sạch cũng là những thành phần phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch

Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải (GTVT): Du lịch gắn với sự di

chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định Chính vì thế, du lịch phụ thuộc vào giao thông (mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông) Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với khách du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được khi thiếu nhân tố giao thông, việc phát triển giao thông cho phép mau chóng khai thác các nguồn tài nguyên du lịch

Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận lợi, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội Mỗi loại giao thông có những đặc điểm riêng biệt tác động tích cực đến hoạt động du lịch Chẳng hạn, giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho du khách dễ dàng đi theo lộ trình đã lựa chọn; giao thông đường sắt rẻ tiền; giao thông đường không tuy đắt tiền nhưng nhanh chóng và tiết kiệm được thời gian đi lại; giao thông đường thủy tuy chậm nhưng kết hợp được với tham quan, giải trí dọc sông hoặc ven biển

Hệ thống TTLL: là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt động du

lịch, nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế Trong hoạt động du lịch, TTLL đảm nhận việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng kịp thời, góp phần thực hiện các mối giao lưu giữa các vùng, các nước Đặc biệt trong đời sống KT- XH hiện đại nói chung cũng như ngành du lịch nói riêng, càng không thể thiếu được ngành TTLL Mạng lưới TTLL ngày càng trở nên phong phú và hiện đại hơn trước đã tạo những điều kiện tiện ích, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian, giảm giá thành sản phẩm cho du khách Đây là những điều kiện thuận lợi để hấp dẫn du khách và triển khai hoạt động kinh doanh của các công ty du lịch

Mạng lưới cung cấp điện - nước sạch: Hệ thống các công trình cấp điện và

nước sạch là điều kiện cần thiết đảm bảo nhu cầu tối thiểu của khách du lịch tại các

Trang 36

điểm đến Hệ thống điện đảm bảo cho hoạt động du lịch diễn ra thường xuyên và liên tục Hệ thống thiết bị xử lí cấp thoát nước, giảm lượng chất thải và xử lí chất thải đúng tiêu chuẩn, kĩ thuật quy định vừa tạo ra những điều kiện đáp ứng nhu cầu

về nước sạch cho du khách và các hoạt động du lịch, vừa tạo ra môi trường trong sạch hấp dẫn du khách Đồng thời, đó cũng là một trong những yêu cầu quan trọng

để mỗi doanh nghiệp du lịch, mỗi địa phương, mỗi quốc gia phát triển du lịch bền vững

Một số cơ sở khác

- Cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú: bao gồm các công trình đặc biệt nhằm đảm bảo nơi ăn, ngủ và giải trí cho khách du lịch Chúng được phân hạng tùy theo tiêu chuẩn và mức độ đồng bộ của dịch vụ có trong đó Cơ sở lưu trú được phân thành nhiều loại:

+ Các cơ sở lưu trú du lịch xã hội: chủ yếu đón nhận khách du lịch trong nước, thường nằm ở các đô thị và điểm du lịch

+ Nhà khách: là các cơ sở kinh doanh nhỏ có thể phục vụ cả vấn đề ăn uống cho khách, thường nằm ở các vùng nông thôn hay ngoại vi thành phố

+ Khách sạn trung chuyển du lịch: là các cơ sở kinh doanh nhỏ, đáp ứng các tiêu chuẩn phân loại khách sạn, thường nằm tại vùng nông thôn và được xây dựng theo sắc thái kiến trúc địa phương

+ Khách sạn thông thường: là các cơ sở kinh doanh quy mô trung bình, đối tượng phục vụ là khách du lịch, thương nhân hay khách công vụ Vị trí thường nằm

ở các đô thị hoặc các danh lam thắng cảnh

+ Khách sạn du lịch lớn: là các cơ sở kinh doanh quy mô lớn Đối tượng phục

vụ là các thương gia hay khách du lịch nhiều tiền, thường nằm ở trung tâm đô thị hay các khu du lịch nổi tiếng

- Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp: nhằm đáp ứng nhu cầu về hàng hóa của khách du lịch bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác Mạng lưới này gồm hai phần: một phần thuộc các trung tâm dịch vụ du lịch, phục vụ khách du lịch là chủ yếu; phần khác thuộc mạng lưới thương nghiệp địa phương với nhiệm vụ phục vụ nhân dân địa phương

Trang 37

- Cơ sở thể thao: tạo điều kiện thuận lợi cho kì nghỉ của khách du lịch, làm cho

nó trở nên tích cực hơn Cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng hay trung tâm thể thao với nhiều loại trang thiết bị khác nhau làm tăng hiệu quả sử dụng của các khách sạn và làm phong phú thêm các loại hình hoạt động du lịch

- Cơ sở y tế: được xây dựng tại các điểm, các trung tâm du lịch nhằm phục vụ

du lịch chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch Đó là các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, bùn, các món ăn kiêng…), các phòng luyện tập chức năng, phòng xông hơi…

- Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa: đáp ứng nhu cầu hiểu biết những kiến thức văn hóa, xã hội cho khách du lịch, tạo điều kiện giao tiếp xã hội, tuyên truyền về truyền thống, thành tựu văn hóa của các dân tộc

Các công trình này bao gồm: các trung tâm văn hóa, thông tin, phòng chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm…có thể bố trí tại khách sạn hoặc hoạt động một cách độc lập tại các điểm hoặc trung tâm du lịch Hoạt động của các cơ sở này giúp cho khách sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lí, làm cho chuyến đi du lịch

có ý nghĩa hơn

Ngoài ra, còn có các công trình phục vụ cho khách du lịch nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu sinh hoạt trong thời gian du lịch như hiệu hớt tóc, hiệu ảnh…

1.3.4 Các nhân tố kinh tế - xã hội

Có nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng tới sự phát triển ngành du lịch, có thể

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế: Nhân tố này làm

nẩy sinh nhu cầu du lịch trong xã hội, đồng thời thúc đẩy du lịch phát triển với tốc

Trang 38

độ cao Trong nền sản xuất xã hội, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải…đều liên quan mật thiết tới việc phát triển ngành

du lịch

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch: có tính chất kinh tế- xã hội, là sản phẩm của sự

phát triển xã hội, đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe, khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch là một hệ thống và được thể hiện ở ba mức độ: xã hội- nhóm người- cá nhân Trong các mức trên, quan trọng hàng đầu là nhu cầu nghỉ ngơi phát triển xã hội Nó được xác định như nhu cầu của xã hội về phục hồi sức khỏe và khả năng lao động, về sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần cho mỗi thành viên trong xã hội

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch theo nhóm thể hiện nhu cầu của một nhóm dân cư phân theo nghề nghiệp, lứa tuổi…

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch cá nhân gồm những đòi hỏi của cá nhân về hoạt động nghỉ ngơi du lịch nhằm nâng cao sức khỏe, giảm mệt mỏi, mở rộng khả năng lao động và tầm hiểu biết cho bản thân Nhu cầu của xã hội, nhóm người và cá nhân không tách rời nhau mà có mối liên hệ qua lại biện chứng

Điều kiện sống: là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch, nó được hình thành

nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao khẩu phần

ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới giao thông, y tế, văn hóa, giáo dục…

Du lịch chỉ được phát triển khi đời sống vật chất và tinh thần của con người được cải thiện, then chốt là mức thu nhập thực tế của mỗi người trong xã hội Nhìn chung ở những nước kinh tế phát triển, có mức thu nhập cao thì hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ

Thời gian rỗi: Thời gian rỗi là phần thời gian ngoài giờ làm việc, khi đó

thường diễn ra các hoạt động nhằm phục hồi và phát triển trí lực, thể lực và tinh thần con người Nguồn quan trọng nhất để tăng thời gian rỗi là giảm thời gian làm việc tại các công sở và các công việc nội trợ Thời gian rỗi là một trong những tiền

đề quan trọng để phát triển du lịch, đặc biệt là các loại hình du lịch ngắn ngày hay

du lịch cuối tuần

Trang 39

Nhân tố chính trị: Là điều kiện đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng đến việc

thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển du lịch Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc, các quốc gia

Do vậy, hòa bình được coi là đòn bẩy của hoạt động du lịch Đồng thời, con người cũng muốn thể hiện ước nguyện được sống trong hòa bình, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên thế giới

1.4 Phát triển du lịch ở một số nước và Việt Nam thời kì hội nhập

1.4.1 Ở một số nước trên thế giới và khu vực

Trong tiến trình đất nước hội nhập toàn cầu, ngành du lịch cũng không nằm ngoài xu thế đó Việc phát triển du lịch, những kết quả thu được từ ngành kinh tế này được coi là biểu hiện của toàn cầu hóa

Ngành du lịch là ngành mang tính quốc tế hóa cao Vì vậy nhiều quốc gia đã gia nhập các tổ chức du lịch trong khu vực và quốc tế, tham gia kí kết các hiệp định

về phát triển du lịch khu vực và liên quan đến khu vực, nhằm phối hợp hoạt động hợp tác, liên kết để phát triển du lịch Ví dụ: phát triển các tuyến du lịch xuyên Á, đơn giản hóa các thủ tục xuất nhập cảnh, miễn thị thực xuất nhập cảnh, giảm giá các dịch vụ, hợp tác kinh doanh, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực…là những điều kiện hấp dẫn du khách và thuận lợi cho phát triển du lịch của các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

Ngày nay hội nhập quốc tế được coi như xu thế tất yếu, hội nhập giúp các quốc gia hiểu biết nhau hơn, các tổ chức khu vực và quốc tế hình thành nhiều hơn Khoảng cách đi lại giữa các quốc gia và châu lục trở nên gần hơn Do đó, hoạt động

du lịch càng có điều kiện và cơ hội phát triển Đầu tư phát triển du lịch và dành quan tâm thích đáng cho du lịch là lựa chọn đúng đắn, góp phần hưng thịnh nền kinh tế của các quốc gia có tiềm năng du lịch

Chúng ta có thể thấy chính sách hội nhập về du lịch được thực hiện ổ nhiều quốc gia, có thể kể đến Thái Lan Nước này đã đề ra nhiều chính sách để phát triển

du lịch

Gần đây nhất là sau thành công của kế hoạch phát triển du lịch lần 1 trong giai đoạn 2012 – 2016, kế hoạch phát triển du lịch lần 2 trong giai đoạn 2017-2021 của

Trang 40

Thái Lan sẽ tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng thông qua việc chuẩn bị tốt hơn cho Thái Lan tiếp cận với thị trường du lịch toàn cầu và tăng cường phát triển ngành du lịch bền vững

Việc phát triển lâu dài và định hướng là cốt lõi trong chương trình phát triển quốc gia Thái Lan đang hướng tới phát triển một quốc gia tốt hơn với khẩu hiệu

"thịnh vượng, ổn định và bền vững" trong tầm nhìn phát triển quốc gia 20 năm Phát triển nguồn nhân lực đang đi đầu trong chương trình nghị sự quốc gia Vì vậy, trong

kế hoạch phát triển du lịch quốc gia lần 2, Thái Lan muốn nhấn mạnh đến tầm nhìn lâu dài trong 20 năm tới đến năm 2036

Kế hoạch tổng thể tập trung vào việc phát triển chiến lược và các sáng kiến chi tiết trong 5 năm đầu tiên (2017-2021) nhằm thúc đẩy cạnh tranh du lịch Thái Lan, duy trì đảm bảo một Thái Lan ổn định, bền vững và thịnh vượng

Kế hoạch tổng thể bao gồm 5 chiến lược nhằm thúc đẩy chất lượng du lịch Mỗi chiến lược sẽ tập trung vào việc phát triển hạ tầng cần thiết, chất lượng dịch vụ

du lịch, chất lượng nhân sự và sự tham gia của cộng đồng địa phương cũng như một hình ảnh Thái Lan thông qua chiến lược tiếp thị hiệu quả Lộ trình phát triển 5 năm

và các sáng kiến chi tiết sẽ được xây dựng theo hướng dẫn chung Điều này sẽ sắp xếp các hướng dẫn cụ thể nhằm đảm bảo sự phát triển du lịch hiệu quả nhất

- Đánh giá về kế hoạch phát triển du lịch quốc gia trong năm 2012-2016 thông qua các khảo sát, phỏng vấn và xem xét lại kế hoạch phát triển du lịch quốc gia lần

1

- Nghiên cứu ngành du lịch của Thái Lan và toàn cầu, bao gồm phân tích tình hình hiện tại và dự đoán tương lai của ngành du lịch toàn cầu; phân tích các xu hướng và tác động toàn cầu, trong đó bao gồm các xu hướng cho từng phân khúc du lịch và đánh giá du lịch Thái Lan thông qua các khía cạnh khác nhau của vòng đời phát triển du lịch

- Nghiên cứu các kế hoạch phát triển du lịch tổng thể và các chiến lược cạnh tranh khu vực cũng như các quốc gia có ngành du lịch phát triển tốt nhất thế giới thông qua nghiên cứu tầm nhìn du lịch và trục chiến lược

Ngày đăng: 29/04/2021, 15:45