Sự gia tăng dân số hàng năm tạo ra nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển kinh tế, giáo dục lại giữ vai trò đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho nguồn nhân lực ấy, tạo ra một đội ng
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Thành ph ố Hồ Chí Minh 2013
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả đã có nhiều cố gắng trong tìm hiểu, nghiên cứu, thu thập và phân tích số liệu Bên cạnh những nổ lực của bản thân, tác giả nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ của quý thầy cô, bạn bè và gia đình về tinh thần, vật chất và kiến thức khoa học để luận văn được hoàn thiện hơn
Trước tiên tác giả gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất đến PGS TS Nguyễn Kim Hồng đã tận tình hướng dẫn, động viên tác giả trong suốt thời gian qua, mang đến cho tác giả tinh thần làm việc nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học
Tác giả cũng xin cảm ơn các thầy cô trong khoa Địa lí, phòng Sau đại học trường ĐH
Sư phạm TP HCM tạo điều kiện tốt nhất giúp tác giả hoàn thành và bảo vệ khoá luận đúng theo kế hoạch
Cảm ơn các cơ quan và cán bộ tỉnh Long An gồm UBDS-KHHGĐ, Cục tothống kê,
Sở GD&ĐT rất nhiệt tình cung cấp các tư liệu tham khảo, số liệu thống kê, báo cáo…giúp tác giả minh chứng cụ thể các vấn đề trong nghiên cứu
Cảm ơn gia đình, bạn bè luôn bên cạnh động viên và chia sẻ những khó khăn trong suốt thời gian học tập.Tác giả vô cùng cảm ơn và mong muốn đáp lại tấm chân tình ấy bằng kết quả nghiên cứu từ luận văn này
TP Hồ Chí Minh, tháng 9/2013
Học viên
Lâm Huỳnh Hải Yến
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 7
3 P hạm vi nghiên cứu 7
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài 8
5 Đóng góp khoa học và thực tiễn đề tài nghiên cứu 9
6 Một số quan điểm và phương pháp nghiên cứu chính 10
7 Cấu trúc của luận văn: Gồm 3 phần 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC 14
1.1 Các khái niệm về phát triển và chỉ số đo sự phát triển 14
1.1.1 Khái niệm phát triển và phân biệt với khái niệm tăng trưởng 14
1.1.2 Chỉ số kinh tế 16
1.1.3 Kỳ vọng sống hay tuổi thọ trung bình (Life Expectancy at Birth) 18
1.1.4 Chỉ số calo bình quân đầu người 19
1.1.5 Trình độ biết đọc biết viết của dân cư 19
1.1.6 Chỉ số nhân khẩu học và dư lợi dân số 20
1.2 Dân số và sự phát triển dân số 21
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 21
1.2.2 Lý thuyết quá độ dân số 26
1.3 Các khái niệm và vấn đề liên quan đến giáo dục 29
1.3.1 Khái niệm giáo dục và vai trò của GD trong nền kinh tế quốc dân 29
1.3.2 Hệ thống giáo dục quốc dân 30
1.3.3 Phát triển giáo dục 31
1.3.4 Trình độ GD và các chỉ tiêu đánh giá trình độ GD của nước ta 31
1.3.5 Chỉ số phát triển GD trong chỉ số phát triển con người (HDI) 32
1.3.6 Mối quan hệ giữa quy mô-chất lượng và hiệu quả GD 35
1.4 Mối quan hệ giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục 37
1.4.1 Ảnh hưởng của dân số đến giáo dục 38
Trang 51.4.2 Ảnh hưởng của giáo dục đến dân số 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ PHÁT TRIỀN GIÁO DỤC Ở TỈNH LONG AN GIAI ĐOẠN 1999-2012 45
2.1 Tổng quan vùng nghiên cứu 45
2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ tỉnh Long An 45
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 46
2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội 47
2.2 Thực trạng vấn đề dân số tỉnh Long An 54
2.2.1 Dân số và tình hình phát triển dân số 54
2.2.2 Cơ cấu dân số 57
2.2.3 Gia tăng dân số 68
2.2.4 Phân bố dân cư 74
2.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng sự gia tăng dân số tỉnh Long An 81
2.2.6 Đánh giá thực trạng phát triển dân số tỉnh Long An 84
2.3 Hiện trạng vấn đề phát triển giáo dục tỉnh Long An 86
2.3.1 Giáo dục phổ thông 86
2.3.2 Các loại hình giáo dục khác 97
2.3.3 Tác động của nhân tố kinh tế xã hội đến sự phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Long An 100
2.3.4 Đánh giá thành tựu, hạn chế, cơ hội và thách thức trong phát triển giáo dục 101
2.4 Mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục tỉnh Long An 107
2.4.1 Ảnh hưởng của vấn đề phát triển dân số đến phát triển giáo dục 107
2.4.2 Ảnh hưởng của GD đến các động lực phát triển DS tỉnh Long An 113
2.4.3 Mối quan hệ giữa cơ cấu DS giới tính và bất bình đẳng giới trong GD 117
2.5 Những bất hợp lý giữa vấn đề phát triển dân số và phát triển giáo dục tỉnh Long An 118
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ GIÁO DỤC 121
3.1 Dự báo phát triển dân số và phát triển giáo dục tỉnh Long An 121
3.2 Định hướng phát triển dân số và giáo dục đến 2020, tầm nhìn 2030 123
3.2.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển 123
3.2.2 Phương hướng phát triển 126
3.3 Nhóm các giải pháp phát triển dân số và giáo dục tỉnh Long An 131
3.3.1 Những giải pháp phát triển dân số 131
Trang 63.3.2 Những giải pháp phát triển giáo dục 133
3.3.3 Những giải pháp gắn kết giữa phát triển dân số và phát triển GD 140
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
PHỤ LỤC 149
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CĐ-ĐH : Cao đẳng-Đại học
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
KCN, CCN : Khu công nghiệp, cụm công nghiệp
KHHGD : Kế hoạch hoá gia đình
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân số và giáo dục là hai vấn đề có ý nghĩa quyết định trong sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Sự gia tăng dân số hàng năm tạo ra nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển kinh tế, giáo dục lại giữ vai trò đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho nguồn nhân lực ấy, tạo ra một đội ngũ lao động đảm bảo về số lượng và chất lượng, có trình độ chuyên môn, kỹ thuật để làm chủ tri thức, làm chủ các phương tiện kỹ thuật, công nghệ hiện đại, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường cũng như sự nghiệp CNH-HĐH và hội nhập nền kinh tế thế giới ở các nước đang phát triển hiện nay
Đối với những quốc gia có dân số đông và tăng nhanh, việc nghiên cứu dân số luôn
là vấn đề được quan tâm của nhiều ngành như nhân khẩu học, kinh tế học, chính trị học, dân tộc học, xã hội học, giáo dục học… với mục đích cơ bản là để dân số phát triển ổn định, giảm sức ép lên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, giúp mọi người hiểu được mối quan
hệ tác động qua lại giữa động lực dân số và các nhân tố của chất lượng cuộc sống từ đó có những chính sách hợp lý, có trách nhiệm hơn trong việc cân đối phát triển dân số và đầu tư giáo dục Về giáo dục, trong bối cảnh toàn cầu hoá và bùng nổ nền kinh tế tri thức cuối thế
kỷ XX, bất kỳ quốc gia nào muốn thành công trong phát triển kinh tế xã hội phải thành công đầu tiên trong lĩnh vực giáo dục Nhận thức điều này, nước ta đưa vấn đề “Phát triển giáo dục lên thành quốc sách hàng đầu” Tuy nhiên do quy mô dân số nước ta lớn lại tăng nhanh, tốc độ phát triển kinh tế chưa theo kịp tốc độ tăng dân số, quá trình ổn định dân số và đẩy mạnh phát triển giáo dục có nhiều thành tựu nhưng cũng bộc lộ không ít yếu kém Hơn nữa nền giáo dục hiện đại lại gánh thêm trọng trách lớn lao là quyết định tương lai vận mệnh của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá, nền kinh tế tri thức phát triển dựa trên khoa học công nghệ, chất xám thì việc nhận thức và giải quyết các mối quan hệ vô cùng phức tạp của hai vấn đề xã hội cơ bản là phát triển dân số và phát triển giáo dục ở nước ta thật cấp thiết
Tỉnh Long An không phải là điểm nóng của sự bùng nổ dân số ở nước ta, nhưng dân
số tỉnh tiếp tục gia tăng trong những năm tới, cùng với sức ì của dân số đông trong khi kinh
tế tỉnh lại chậm phát triển thì việc phát triển và đầu tư cho giáo dục như thế nào luôn là vấn
đề cấp thiết không chỉ tỉnh Long An mà còn của cả nước Là một giáo viên, tác giả nhận
Trang 9thấy rõ thực trạng giáo dục của tỉnh còn nhiều hạn chế nên tác giả chọn đề tài “Phát triển
dân số và phát triển giáo dục tỉnh Long An” nhằm làm rõ mối quan hệ tác động lẫn nhau
giữa dân số và giáo dục để có cái nhìn tổng quan, không phiến diện giữa hai vấn đề trên ở một địa phương cụ thể, thông qua số liệu phân tích tác giả muốn đóng góp một vài đề xuất trong vấn đề phát triển dân số và giáo dục tỉnh nhà, trong đó dựa vào sự phát triển dân số ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển giáo dục làm nền tảng hoạch định các chính sách và giải pháp phát triển trong tương lai
2 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
2.1 Mục tiêu
- Nhận thức rõ thực trạng phát triển dân số và thực trạng phát triển giáo dục của tỉnh Long An, trên cơ sở đó phân tích mối quan hệ ảnh hưởng của phát triển dân số đến sự phát triển giáo dục và ảnh hưởng trở lại của phát triển giáo dục đến phát triển dân số tỉnh Long
- Nắm vững và hệ thống hoá phần cơ sở lý luận, chọn lọc những thông tin liên quan
mật thiết đến đề tài nghiên cứu
- Phân tích thực trạng phát triển dân số và phát triển giáo dục (chủ yếu GD phổ thông), đánh giá mặt tích cực và hạn chế của sự phát triển dân số và phát triển giáo dục tỉnh Long An
- Nhận thức rõ mối quan hệ mật thiết, ảnh hưởng qua lại của sự phát triển dân số và phát triển giáo dục, sự phân hóa về mặt lãnh thổ của vấn đề phát triển dân số và giáo dục từ
đó rút ra những bất hợp lý giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục trên địa bàn tỉnh
- Đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển hợp lý giữa hai vấn đề trên trong tương lai
3 P hạm vi nghiên cứu
- Nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu, xử lý thông tin dưới góc độ kinh tế xã hội để tìm hiểu thực trạng phát triển dân số và phát triển giáo dục (chủ yếu là giáo dục phổ thông) qua đó làm rõ mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa dân số và giáo dục Thông qua mối quan
Trang 10hệ giữa dân số và giáo dục nảy sinh những vấn đề bất hợp lý trong quá trình phát triển làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh, tác giả đưa ra các giải pháp và định hướng phát triển phù hợp hơn trong thời gian tới (2020)
- Thời gian nghiên cứu: 1999-2012
- Không gian nghiên cứu: tỉnh Long An (1 thành phố và 13 huyện)
4 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề phát triển dân số và giáo dục được tìm hiểu nghiên cứu rất nhiều bởi các nhà kinh tế xã hội trên thế giới và ở Việt Nam như:
“Population-Education and Development”, United Nation, Newyork, 2003 báo cáo
về mối quan hệ giữa Dân số-Giáo dục và sự phát triển Hay “Future population and education trends in the countries of North Africa” của Hassan M Yousif, Anne Goujon, và Wolfgang Lutz, Viện quốc tế về hệ thống ứng dụng phân tích, Luxembourg, Áo năm 1995: nghiên cứu về mối quan hệ, xu hướng phát triển giữa dân số và giáo dục trong tương lai của khu vực đông dân nhất trên thế đó là Bắc Phi để đi đến giải quyết vấn đề Dân số-Giáo dục
và Phát triển bền vững
Quan điểm của Khổng Tử (551-479 TCN): Nhận thức vấn đề kinh tế xã hội của phương Đông bắt nguồn từ cụm từ “Kinh bang tế thế” nghĩa là nhà chính trị theo lí tưởng vương đạo vô luận trong hoàn cảnh nào cũng phải hành động để cứu nước (kinh bang), giúp đời (tế thế) làm cho nhân dân phồn thịnh (Thứ), dân giàu (Phú), dân được học hành biết lễ nghĩa liêm sĩ (Giáo) Công thức “Thứ-Phú-Giáo” của Khổng Tử trở thành kinh điển cho việc nhận thức về vấn đề “Xã hội-Giáo dục” ở mọi thời đại, mọi quốc gia [Tạp chí giáo dục,
kỳ 2- 5/2012, tr.1]
Phương Đông và phương Tây đều có lời bàn luận rất chính xác về nhân tố con người trong phát triển kinh tế thông qua giáo dục Từ xa xưa phương Đông đã bàn về Thụ nhân (trồng người), phương Tây có những công trình phân tích từ thế kỷ XVI-XVIII về giá trị sức lao động và hình thành quan điểm: “Sức lao động lành nghề là bội số của lao động giản đơn Muốn có lao động lành nghề phải có sự đào tạo nghiêm túc”
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu từ các cơ quan, bộ, ngành như Tổng cục Thống kê,
Viện nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Ban Dân số/KHHGĐ, Bộ giáo dục và đào tạo… thông qua các cuộc điều tra dân số và nhà ở năm 1994, 1999, 2002, 2009…
Trang 11Nghiên cứu của Tổng cục Dân số-Kế hoạch hoá gia đình dưới sự hỗ trợ của Quỹ dân
số Liên Hợp Quốc về “Dân số và phát triển” làm tài liệu cho chương trình bồi dưỡng nghiệp
vụ Dân số- Kế hoạch hoá gia đình của GS.TS Nguyễn Đình Cử Trong đó nêu rõ các chỉ tiêu đánh giá, mối quan hệ ảnh hưởng qua lại giữa dân số và giáo dục, đồng thời cũng nêu lên những giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa dân số và giáo dục
Công trình nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Kim Hồng về phát triển dân số và phát triển giáo dục ở thành phố Hồ Chí Minh, đề tài cấp bộ năm 1995 Đề tài đã phân tích rất rõ
về mối quan hệ giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục ở TP.HCM làm cơ sở cho nhiều địa phương khác trên cả nước phát triển phù hợp hơn Cùng với bài viết đăng trên báo thanh niên tháng 10/2012 về vấn đề dự báo nhu cầu giáo viên trong tương lai thì PGS.TS Nguyễn Kim Hồng cũng nhận định rất rõ mối quan hệ này “Nhân khẩu học là một trong những yếu
tố để các nhà nghiên cứu xây dựng chính sách giáo dục hợp lý, gần với thực tế hơn”
Tác giả Vũ Quang Việt với bài báo “Chiều hướng phát triển dân số và học sinh, hiện tại và tương lai” trên tạp chí nghiên cứu và thảo luận số 13 tháng 3/2008 Viết về dự án nghiên cứu chung cho giáo dục, ông kết luận rằng số học sinh, sinh viên và ngân sách đầu tư cho giáo dục có mối liên quan mật thiết với vấn đề dự báo dân số Từ đó phân tích dự báo dân số trong các tuổi đi học để đánh giá tình hình giáo dục hiện nay và khả năng sắp tới
Tác giả Nguyễn Ngọc Huy viết về “Mối quan hệ giữa dân số và giáo dục ở nước ta”
đi đến khẳng định dân số và giáo dục có mối quan hệ mật thiết với nhau, dân số không chỉ
là yếu tố đầu vào, là cơ sở cho giáo dục mà còn là sản phẩm của giáo dục Bài này tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa dân số và giáo dục, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm thực hiện tốt mối quan hệ giữa dân số và giáo dục đăng trên trang web của Tổng cục Dân số-Kế hoạch hoá gia đình số 9 năm 2006 (www.gopfp.gov.vn)
Tỉnh Long An cũng có một số đề tài nghiên cứu sự phát triển dân số và phát triển giáo dục như chiến lược phát triển giáo dục, quy hoạch phát triển giáo dục đào tạo Long An 2020… nhưng những công trình trên nghiên cứu riêng lẻ nên hầu như chưa thấy được mối liên hệ ảnh hưởng qua lại của 2 vấn đề này Vì thế đề tài này mang tính chất kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả trên ở một địa phương cụ thể để tác giả phân tích số liệu, làm rõ sự tác động lẫn nhau giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục
5 Đóng góp khoa học và thực tiễn đề tài nghiên cứu
Trang 12- Sưu tầm, tổng hợp, phân tích các thông tin thu thập để từ đó hệ thống hoá cơ sở lý luận và những nét nổi bật nhất của mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa sự phát triển dân
số và sự phát triển giáo dục tỉnh Long An giai đoạn 1999-2012
- Góp phần cho người dân ý thức tốt hơn trong vấn đề giáo dục dân số và sức khoẻ sinh sản, bên cạnh đó cũng thấy được tầm quan trọng của việc đầu tư đúng mức vào phát triển giáo dục trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong giai đoạn nước ta thực hiện bước nhảy trong quá trình CHN-HĐH và hội nhập kinh tế thế giới hiện nay
- Từ thực trạng phát triển dân số và phát triển giáo dục tỉnh Long An giai đoạn
1999-2012 giúp tỉnh nhận thấy những thành công cũng như những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện giải quyết mối quan hệ này, đề ra giải pháp và định hướng phát triển trong tương lai hợp lý hơn
6 Một số quan điểm và phương pháp nghiên cứu chính
6.1 Các quan điểm nghiên cứu chính
6.1.1 Quan điểm hệ thống
Long An là một đơn vị lãnh thổ hành chính nằm trong hệ thống lãnh thổ kinh tế xã hội văn hoá của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bản thân tỉnh long An lại được cấu thành từ nhiều đơn vị hành chính nhỏ hơn là các huyện thị
Dân số và giáo dục là những hợp phần của hệ thống lớn hơn là tổng thể kinh tế xã hội Chúng vừa là những hệ thống độc lập, có vai trò, cấu trúc và hoạt động nội tại riêng, vừa có mối quan hệ qua lại phức tạp Đặt sự phát triển dân số và giáo dục vào sự phát triển chung của đất nước cùng với các hệ tiểu hệ thống khác như kinh tế, văn hoá, chính trị, y
Hệ thống giáo dục Các phân hệ giáo dục
Dân số
Hệ thống kinh tế
Các phân hệ khác
Trang 13tế… thì sự phát triển của chúng có ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại của hệ thống lớn kinh tế xã hội Trọng tâm của đề tài tập trung làm rõ mối quan hệ giữa dân số và giáo dục để tìm ra những giải pháp thúc đẩy sự phát triển của từng yếu tố thành phần và cả hệ thống lớn
6.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Là quan điểm truyền thống của địa lí học Để phát triển thành công trên một không gian lớn đòi hỏi từng không gian nhỏ của lãnh thổ đó phải hoà theo nhịp điệu phát triển chung Trên thực tế luôn luôn có sự phân hoá và phát triển không đều giữa các phần khác nhau trên lãnh thổ do các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động khác nhau trên các vùng lãnh thổ khác nhau Trong phát triển dân số và phát triển giáo dục cũng vậy, nên khi nghiên cứu chúng ta cần phân tích các đối tượng trên một lãnh thổ nhất định, nhận thức rõ sự phân hoá về mặt lãnh thổ là tất yếu để có những quy hoạch phát triển phù hợp cho từng địa phương, tìm ra bộ phận trung tâm tạo lực hút giúp các phần còn lại cùng phát triển
6.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Các đối tượng trong nghiên cứu địa lí đều có lịch sử hình thành trong quá khứ, hiện tại
và tương lai, các yếu tố địa lí biến đổi theo không gian và thời gian Phát triển dân số và mối quan hệ với phát triển giáo dục của bất kỳ địa phương nào cũng hình thành và phát triển theo chuỗi thời gian với những mốc thời gian quan trọng Phân tích mối quan hệ giữa phát triển dân số với phát triển giáo dục tỉnh Long An trong thời gian từ năm 1999 đến 2012 là khoảng thời gian không quá dài nhưng cũng đủ để thấy rõ sự chuyển biến của dân số và giáo dục trong sự chuyển biến chung của cả nước, làm cơ sở so sánh sự phát triển ấy diễn ra nhanh hay chậm và đưa ra dự báo phát triển trong tương lai tương đối chính xác hơn
6.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Đích đến của mọi sự phát triển trên trái đất này đều nhằm phục vụ cho con người, sự phát triển ở mọi nơi đều không giống nhau có khi phát triển tích cực hoặc tiêu cực hoặc bao hàm cả hai Kết quả của toàn bộ quá trình phát triển đã mang lại nhiều thành tựu và làm cuộc sống của con người luôn được nâng cao nhưng bên cạnh đó các hậu quả mà con người tác động khai thác giới tự nhiên cũng không nhỏ, làm môi trường trở nên suy thoái nghiêm trọng hơn bao giờ hết, như vậy phát triển phải chú ý đến quan điểm phát triển bền vững trên tất cả các lĩnh vực trong tương lai khi đạt đến đỉnh cao của sự phát triển kinh tế xã hội
nhưng không làm tổn hại đến các thế hệ mai sau
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 146.2.1 Phương pháp thống kê tổng hợp
Các tài liệu thống kê được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, được đối chiếu so sánh cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu, sử dụng các số liệu thống kê từ các nguồn đáng tin cậy như Cục Thống kê, Sở Giáo dục và Đào tạo, UB Dân số & Kế hoạch hoá gia đình, sách báo….tác giả thống kê, sắp xếp lại cho phù hợp với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
6.2.2 Phương pháp phân tích thông tin
Thông tin thu thập được từ các nguồn sách báo, tài liệu thống kê, các phương tiện thông tin đại chúng được sắp xếp lại, xem xét mức độ chính xác và có sự phân loại, phân tích, đánh giá chúng Tuy nhiên khó khăn cơ bản của phương pháp này là các số liệu thống
kê không đồng nhất, trong trường hợp đó tác giả lựa chọn số liệu của Cục Thống kê tỉnh đã công bố
6.2.3 Phương pháp bản đồ biểu đồ
Là một phương pháp đặc trưng của Địa lí học, nhất là dưới sự hỗ trợ của công nghệ
thông tin thì công việc trở nên thuận lợi hơn nhiều “Các công trình nghiên cứu đều bắt đầu
từ bản đồ và kết thúc bằng bản đồ” cùng với sự minh hoạ bằng bản đồ, biểu đồ công trình nghiên cứu trở nên sinh động, dễ hiều hơn Chúng còn giúp chúng ta dễ dàng nhận thấy các mối liên hệ không gian giữa các thành phần đối tượng địa lí một cách vừa trực quan, vừa nhanh chóng Cụ thể với phương pháp này, chúng ta có thể sử dụng nhiều dạng biểu đồ như biểu đồ đường, cột, tam giác thể hiện động thái phát triển dân số, các dạng biểu đồ cơ bản thể hiện quy mô, tốc độ gia tăng số học sinh phổ thông, số trường lớp…trong giáo dục Các lược đồ, bản đồ dân cư, tỷ lệ biết đọc, biết viết, hiện trạng giáo dục…
6.2.4 Phương pháp toán học-thống kê
Sử dụng các công thức tính toán để xử lý số liệu hoặc tính các chỉ số theo yêu cầu của nghiên cứu Sử dụng phương pháp toán học hồi quy và tương quan lập phương trình tương quan theo mối quan hệ đơn biến dạng Y=aX +b, tính hệ số tương quan r để rút ra mối quan
hệ giữa các đại lượng tương quan Từ kết quả ta có thể kiểm chứng xem: Các biến có mối quan hệ hay không? Quan hệ chặt chẽ hay lõng lẽo? Quan hệ theo chiều thuận hay nghịch
Ứng dụng trong đề tài nghiên cứu về phương pháp hồi quy và tương quan, tác giả có thể xét nhiều mối tương quan giữa các vấn đề phát triển dân số và giáo dục như mối tương quan hay không giữa mức sinh và số con mong muốn, giữa tỷ lệ giảm học sinh đi học/1 vạn dân và chỉ số giảm trẻ em trong độ tuổi đi học…
6.2.5 Phương pháp dự báo
Trang 15Có rất nhiều phương pháp dự báo, nhưng trong phạm vi thực hiện đề tài này tác giả sử dụng kết quả dự báo của tổng cục thống kê xuất bản năm 2011, phương pháp luận dự báo là
sử dụng mô hình toán học để tính toán dựa trên số liệu thực tế và các giả thiết, dân số trong cuộc tổng điều tra 2009 chọn làm số liệu gốc dự báo, việc tính toán thực hiện bằng phần mềm PEOPLE 3.01
7 Cấu trúc của luận văn: Gồm 3 phần
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận của phát triển dân số và phát triển giáo dục
Chương 2: Thực trạng phát triển dân số và mối quan hệ giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục tỉnh Long An giai đoạn 1999-2012
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm phát triển hợp lí giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục tỉnh Long An
Phần kết luận
Trang 16C HƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN DÂN SỐ VÀ
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
1.1 Các khái niệm về phát triển và chỉ số đo sự phát triển
1.1.1 Khái niệm phát triển và phân biệt với khái niệm tăng trưởng
1.1.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc dân (GDP) và tổng sản phẩm trong nước (GNP), hoặc mức tăng của tổng sản phẩm quốc dân và sản phẩm trong nước tính theo đầu người Bản thân sự tăng trưởng không bao hàm trong nó sự phân chia những lợi ích vật chất đồng đều cho mọi người Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế [19,tr.9]
Hoặc tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra hoạt động của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là năm, quý) Giả sử kết quả đầu ra của nền kinh tế của một quốc gia được ký hiệu là Y: Yo là kết quả đầu ra của năm đầu, Yn là kết quả đầu ra của năm n Khi đó tăng trưởng của nền kinh tế của năm n so với năm đầu được biểu thị bằng mức tăng trưởng tuyệt đối hoặc tốc độ tăng trưởng như sau:
Mức tăng trưởng tuyệt đối: ∆ Yn = Yn - Y0
Tốc độ tăng trưởng:g (%) = Giá trị thực năm sau×100%giá trị thực năm gốc
(Năm đầu tiên chọn làm năm gốc ứng với 100%)
* Các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế
Mức tăng trưởng kinh tế tuyệt đối:
∆GDPn = GDPn - GDP0 Tốc độ tăng trưởng kinh tế:
g = GDP₁ − GDP˳
GDP˳ ×100%
GDP0: tổng sản phẩm quốc nội năm trước
GDP1: Tổng sản phẩm quốc nội năm sau
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của một giai đoạn:
g =
GDPo
GDPo GDPn
- 1
1.1.1.2 Phát triển kinh tế
Trang 17a K hái niệm:
Theo quan điểm của các nhà kinh tế chính trị học thì sự phát triển là một quá trình
mà một xã hội đạt đến thoả mãn những yêu cầu về vật chất và tinh thần mà xã hội đó coi là
cơ bản Phát triển không chỉ đơn thuần là tăng trưởng Không phải mọi sự tăng trưởng đều dẫn tới phát triển, nhưng không có sự phát triển nào mà không bao hàm sự tăng trưởng Ngoài tăng trưởng, phát triển còn bao hàm nhiều yếu tố khác như phát triển đi kèm sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, lao động [19, tr.9]
Phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt kinh tế xã hội của một quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng
b Các chỉ tiêu phát triển kinh tế
Để phản ánh nội dung khác nhau của khái niệm phát triển kinh tế cần phải có các
nhóm chỉ tiêu khác nhau:
-Nhóm chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm hay bình quân năm của một giai đoạn nhất định
-Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi về cơ cấu kinh tế xã hội: chỉ số cơ cấu kinh
tế theo ngành trong GDP; chỉ số cơ cấu về hoạt động ngoại thương; tỷ lệ dân cư sống trong khu vực thành thị trong tổng số dân; tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ…
-Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng cuộc sống gồm: Thu nhập bình quân đầu người
và tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người Các chỉ số về dinh dưỡng (số calo bình quân/ người/ năm) Các chỉ số về giáo dục (tỷ lệ người biết chữ, số năm đi học bình quân…) Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển giáo dục của một quốc gia và mức độ hưởng thụ dịch vụ giáo dục của dân cư Các chỉ số về y tế (tỷ lệ trẻ em trong các độ tuổi, số bác sĩ trên một nghìn dân…) Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển y tế của một quốc gia và mức
độ hưởng thụ các dịch vụ y tế của dân cư
Các chỉ số phản ánh về công bằng xã hội và nghèo đói: Tỷ lệ nghèo đói và khoảng cách nghèo đói, chỉ tiêu phản ánh mức độ bình đẳng giới, chỉ số phản ánh công bằng xã hội Ngoài ra, có thể có các chỉ tiêu khác như các chỉ tiêu phản ánh sử dụng nước sạch hay các điều kiện về kết cấu hạ tầng KTXH khác…
- Chỉ số phát triển con người (HDI), chỉ số này được tổng hợp từ ba chỉ số: Thu nhập bình quân đầu người, mức độ phổ cập giáo dục, tuổi thọ trung bình HDI không chỉ phản ánh mức sống vật chất, mà còn đo lường cả mức sống tinh thần của dân cư HDI đo lường chính xác hơn chất lượng cuộc sống của dân cư
Trang 18d Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển kinh tế Ở những nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, nếu không đạt được mức tăng trưởng tương đối cao và liên tục trong nhiều năm, thì khó có điều kiện kinh
tế để cải thiện mọi mặt của đời sống KTXH
Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế có thể được thực hiện bởi những phương thức khác nhau và do đó có thể dẫn đến những kết quả khác nhau Nếu phương thức tăng trưởng kinh
tế không gắn với sự thúc đẩy cơ cấu KTXH theo hướng tiến bộ, không làm gia tăng, mà thậm chí còn làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế, không thể tạo ra sự phát triển
kinh tế Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho nhóm dân cư này, cho vùng này, mà không hoặc đem lại lợi ích không đáng kể cho nhóm dân cư khác, vùng khác thì tăng trưởng kinh tế như vậy sẽ khoét sâu vào bất bình đẳng xã hội Những phương thức tăng trưởng như vậy cũng chỉ là kết quả ngắn hạn, không những không thúc
đẩy được phát triển, mà bản thân nó cũng khó có thể tồn tại được lâu dài
1.1.2 C hỉ số kinh tế
- Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng hoá và dịch
vụ cuối cùng được sản xuất ra bởi các yếu tố sản xuất trong lãnh thổ kinh tế của một nước trong một thời kỳ nhất định
Ba phương pháp đo lường tổng sản phẩm thu nhập trong nước:
Thứ nhất, phương pháp sản xuất còn gọi là phương pháp giá trị gia tăng GDP tổng hợp giá trị gia tăng của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế Giá trị gia tăng được tính bằng cách lấy giá trị tổng sản lượng trừ đi giá trị của tất cả các hàng hoá và dịch vụ mua ngoài đã được sử dụng hết trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp GDP của tỉnh nghiên cứu cũng được tính chủ yếu theo phương pháp này
Thứ hai, phương pháp thu nhập đo lường GDP trên cơ sở thu nhập tạo ra trong quá trình sản xuất hàng hoá chứ không phải là giá trị của bản thân hàng hoá
GDP= w + i + R +Pr +Te Trong đó: w là thu nhập từ tiền công, tiền lương
i là tiền lãi nhận được từ cho doanh nghiệp vay tiền
Trang 19R là thuê đất đai, tài sản
Pr là lợi nhuận
Te là thuế gián thu mà chính phủ nhận được
Thứ ba, phương pháp chi tiêu sử dụng các thông tin từ luồng chi tiêu để mua hàng hoá và dịch vụ cuối cùng Vì tổng giá trị hàng hoá bán ra phải bằng tổng số tiền được chi ra
để mua chúng, nên tổng chi tiêu để mua hàng hoá và dịch vụ cuối cùng phải bằng GDP
GDP= C +I +G +X - M
Trong đó: C: các khoản chi tiêu của các hộ gia đình về hàng hoá và dịch vụ
I là tổng đầu tư của khu vực tư nhân
G là chi tiêu của chính phủ về hàng hoá và dịch vụ
X – M là xuất khẩu ròng
- Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product)
Tổng sản phẩm quốc dân GNP là tổng giá trị (tính bằng đô la Mỹ) của tất cả các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng mà nền kinh tế sản xuất ra và tiêu dùng trong một thời gian nhất
định (thường là một năm), không kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia
GNP tính theo giá cả thị trường tại thời điểm đánh giá nó gọi là GDP danh nghĩa GNP được tính theo giá cả năm chuẩn cố định, tức là sau khi điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát gọi là GNP thực tế đúng bằng GNP danh nghĩa trừ đi một lượng giá trị đủ bù đắp tình trạng tăng giá so với năm chuẩn để so sánh
Như vậy sự tăng giá của GNP thực tế chỉ rõ sự tăng khối lượng sản phẩm làm ra trong một thời gian nhất định, trong đó đã loại bỏ yếu tố tăng giá
M là giá trị nhập khẩu
-Theo luồng chi phí: GNP bao gồm tổng giá trị các chi phí trả lương, trả lãi vay, trả lợi tức thuê tài sản, khấu hao tài sản cố định, chi phí nộp thuế kinh doanh, thuế lợi tức, lãi cổ phần và lợi nhuận ròng
Trang 20Để tránh trùng lập người ta chỉ tính vào GNP các giá trị hàng hoá cuối cùng mà không tính các giá trị hàng hoá trung gian Như vậy, GNP chính là tổng giá trị tăng được tạo
ra từ các công đoạn sản xuất ra sản phẩm cuối cùng ở các doanh nghiệp của nền kinh tế Trong đó giá trị tăng của doanh nghiệp bằng giá trị sản phẩm của nó trừ đi giá trị nguyên vật liệu và dịch vụ mua vào để sản xuất
1.1.3 Kỳ vọng sống hay tuổi thọ trung bình (Life Expectancy at Birth)
Kỳ vọng sống là một ước lượng số năm trung bình của một người sinh ra có khả năng sống được Tuổi thọ trung bình không tính tới những trường hợp chết không bình thường (do tai nạn, do chiến tranh) [20, tr.98] Kỳ vọng sống là một trong các chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển kinh tế, điều kiện sống, mức thu nhập, điều kiện y tế, chăm sóc sức khoẻ của một quốc gia, chịu ảnh hưởng chủ yếu vào các điều kiện sau: điều kiện sống, các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ, vào tỷ suất tử vong trẻ em nhất là tỷ suất tử vong của trẻ sơ sinh
Trong suốt thời gian phát triển của nhân loại từ thời kỳ nguyên thuỷ cho đến xã hội hiện đại, kỳ vọng sống luôn được nâng lên gắn liền với việc cải thiện điều kiện sống cho con người Thời nguyên thuỷ kỳ vọng sống là 18-20 năm, thời kỳ phong kiến hơn 20 năm, thời kỳ tiền tư bản là 34 năm và hiện nay là hơn 63 năm [19, tr.11] Kỳ vọng sống là số đo
có tính chất giả thiết vì nó dựa trên các tỷ suất chết hiện hành và các tỷ suất chết thực tế thay đổi qua quá trình cuộc sống của một người, kỳ vọng sống của mỗi người thay đổi khi tuổi tăng lên và các xu hướng chết thay đổi
Kỳ vọng sống và thu nhập quốc dân/người tỷ lệ thuận với nhau ở từng nhóm nước Những nước có thu nhập quốc dân/người thấp thì kỳ vọng sống thấp và ngược lại những nước có thu nhập quốc dân/người cao thì kỳ vọng sống cũng cao Chẳng hạn từ 2005 đến
2010 kỳ vọng sống là 48 tuổi ở CH Dân chủ Công-gô so với 83 tuổi ở Nhật Bản Năm 2008 phụ nữ Nhật Bản có kỳ vọng sống cao nhất thế giới là 86 tuổi
Kỳ vọng sống cũng khác nhau khá nhiều tuỳ thuộc vào giới tính, tuổi hiện hành và chủng tộc, nên các loại này thường được tính riêng Kỳ vọng sống từ khi sinh hay tuổi thọ là thước đo tuổi hi vọng sống thường được nói đến, đây là một chỉ báo tốt về tuổi hiện hành Tuổi thọ trung bình hay kỳ vọng sống của nữ thường cao hơn nam do khả năng tự chăm sóc bảo vệ sức khoẻ, sinh hoạt, khả năng đề kháng bệnh tật kém hơn nữ Nhưng cá biệt ở một số nơi nữ giới bị ngược đãi tuổi thọ trung bình của họ thấp hơn nam Cần lưu ý rằng ở các
Trang 21nước đang phát triển kỳ vọng sống thấp là do tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi cao Ví dụ năm
2008, kỳ vọng sống khi sinh của phụ nữ Somalia là 49 tuổi, nhưng nếu một phụ nữ Somalia sống được đến 1 tuổi thì kỳ vọng sống sẽ là 54 tuổi [1, tr.30]
1.1.4 Chỉ số calo bình quân đầu người
Thức ăn là nguồn cung cấp năng lượng cho con người Theo quy ước người ta dùng đơn vị calo để đo nhu cầu năng lượng và khả năng cung cấp năng lượng cho con người Những hoạt động sinh hoạt và sản xuất khác nhau đòi hỏi mức cung cấp năng lượng khác nhau Chẳng hạn để 1 kg thể trọng hoạt động trong một giờ khi ngủ là 1calo; ngồi nghỉ 1,4 calo; giặc 3,4 calo; chặt cây 3,8 calo…
Nhu cầu năng lượng còn thay đổi theo độ tuổi và giới tính, mức lao động và trọng lượng cơ thể Ở các nước công nghiệp phát triển, lượng calo cung cấp cho một người vượt nhu cầu năng lượng cơ thể, ngược lại ở các nước đang phát triển thì lượng calo cung cấp thực tế không đáp ứng được nhu cầu về năng lượng cho cơ thể, giữa các nước chậm phát triển thì lượng calo cũng phân phát không đều nhau làm số người suy dinh dưỡng ngày càng
tăng nhất là ở cựu lục địa Châu Phi, hàng ngày có đến hàng trăm triệu trẻ em và người già bị nạn đói đe doạ và rất cần sự cứu trợ của thế giới
Hậu quả của thiếu thức ăn, suy dinh dưỡng, đói kém đối với mỗi cá nhân, mỗi quốc gia và toàn thể nhân loại là rất lớn, thu nhập của họ không đủ mua một lượng thức ăn thiết yếu đảm bảo 2100 Kcalo/ngày ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ, khả năng lao động, năng suất lao động và tái tạo sức lao động của họ hạn chế, nguy cơ bệnh tật và tử vong cao, kỳ vọng sống thấp Chẳng hạn ở các nước thu nhập thấp có đến 5% trẻ em dưới một tuổi bị thiếu
máu hay ở Ấn Độ, số trẻ em từ 1-5 tuổi chiếm 16% dân số nhưng chiếm tới 40% tổng số người chết [19, tr.12]
1.1.5 Trình độ biết đọc biết viết của dân cư
Bên cạnh nhu cầu vật chất con người còn có nhiều nhu cầu khác như tinh thần, văn hoá, nghệ thuật…Việc phát minh ra chữ viết và phổ biến những kiến thức của nhân loại thông qua trường học là một trong những tiến bộ đáng ghi nhận của xã hội loài người Những hiểu biết của con người về thế giới mà họ đang sống dần dần nhiều hơn và vương xa hơn ra ngoài không gian vũ trụ rộng lớn cũng như vào sâu trong lòng đất gắn liền với tiến
bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại Từ đó, xã hội càng phát triển thì nhu cầu học tập, nghiên cứu khoa học để hiểu biết và theo kịp tiến trình phát triển của xã hội trở thành
Trang 22nhu cầu không thể thiếu của mỗi cá nhân và thiết yếu cho sự tiếp tục phát triển của xã hội tương lai
Biết đọc biết viết (biết chữ) là khả năng đọc và viết một đoạn văn đơn giản trong sinh hoạt hằng ngày bằng tiếng quốc ngữ, tiếng dân tộc hoặc tiếng nước ngoài [3] Tỷ lệ biết chữ
là một trong những số đo chung nhất phản ánh đầu ra của giáo dục, được định nghĩa là số % những người biết chữ của một độ tuổi nhất định trong tổng dân số của độ tuổi đó
Các nhà kinh tế học cổ điển phương Tây đều có những nhận định sâu sắc về giá trị con người nếu được giáo dục đào tạo, C.Mác là người đi đầu trong hệ thống các quan điểm này và xây dựng luận điểm: “Lao động lành nghề là bội số của lao động giản đơn, sự phát triển của giáo dục sẽ tạo ra lao động lành nghề cho kinh tế sản xuất”
Nhà kinh tế học người Nga X.G.Strumillim trong những năm 20 của thế kỷ này đã chứng minh bằng thực tiễn: “Bỏ một đồng vốn vào phổ cập giáo dục sẽ tạo ra sự sinh lợi gấp 4 lần cho nền kinh tế” Alvin Toffler, nhà tương lai học của Mỹ đã nói: “Những người
mù chữ của thế kỷ XXI này không phải là những người không biết đọc biết viết, mà là những kẻ không biết học tập để gạt bỏ những kiến thức cũ kỹ mà học lại” Chính ông cho rằng: “Thế chiến thứ 3 sẽ diễn ra trên mặt trận giáo dục Nó sẽ làm thay đổi cơ bản phương hướng phát triển của nền văn minh nhân loại, sẽ phát triển mạnh mẽ tính ham học của con người Ai chậm chân trên hướng này sẽ không đuổi kịp bước tiến bộ chung của nhân loại” [19, tr.12]
1.1.6 Chỉ số nhân khẩu học và dư lợi dân số
Nhân khẩu học là nghiên cứu khoa học về dân số Các nhà nhân khẩu học tìm hiểu các mức độ và xu hướng của quy mô dân số cùng những thành phần của nó Họ tìm cách giải thích sự biến đổi nhân khẩu học và những tác động của chúng đối với xã hội Họ sử dụng các cuộc tổng điều tra dân số, các ghi chép sinh và chết, các cuộc điều tra, các ghi chép cấp thị thực, họ sắp xếp các dữ liệu ấy thành dạng dễ sử dụng như tổng số, tỷ suất hoặc
tỷ số…
Chỉ số nhân khẩu học vừa có ý nghĩa kinh tế vừa có ý nghĩa xã hội trong quá trình phát triển Một đất nước có quy mô dân số ổn định, cơ cấu và sự phân bố hợp lý, chất lượng dân số tốt thì tạo sự bền vững của quá trình phát triển Như vậy có thể coi dân số là mẫu số của quá trình phát triển
Trang 23Dư lợi dân số hay “cơ cấu dân số vàng” là thuật ngữ dùng để phản ánh một dân số có
tỷ lệ người trong độ tuổi 15-64 đạt tối đa và tỷ lệ người phụ thuộc đạt giá trị tối thiểu, qua ngưỡng đó thì tỷ số phụ thuộc tăng trở lại Đây là thời kỳ duy nhất trong quá trình quá độ dân số Nếu quốc gia đó có kế hoạch sử dụng hiệu quả nguồn lao động sẽ tạo ra nguồn của cải vật chất lớn cho xã hội tạo sức bật cho phát triển kinh tế, ngược lại nếu không tận dụng được cơ hội này, khi tỷ số phụ thuộc tăng trở lại, dân số sẽ già đi và gánh nặng về an sinh xã hội lại tăng thêm Các nhà khoa học cho rằng một dân số đạt được cơ cấu dân số vàng nếu
tỷ số phụ thuộc chung đạt mức sắp xỉ 50, nghĩa là cứ 100 người lao động thì có khoảng 50 người phụ thuộc Giai đoạn cơ cấu dân số vàng kéo dài từ 30-40 năm Hiện nay Việt Nam đang bước vào giai đoạn cơ cấu dân số vàng (từ 2005 đến 2042) [10] Lợi tức dân số được tiến hành thông qua một số cơ chế, điều quan trọng là cung cấp lao động, tiết kiệm/tích lũy
và vốn con người [12, tr.14]
1.2 Dân số và sự phát triển dân số
1.2.1 Các k hái niệm cơ bản
1.2.1.1 Dân cư và dân số
Dân cư của một vùng lãnh thổ là khách thể nghiên cứu chung của nhiều bộ môn khoa học tự nhiên và xã hội Mỗi khoa học nghiên cứu một mặt, một khía cạnh nào đó của khách thể này, tức là đối tượng nghiên cứu riêng của mình
Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô, cơ cấu và những thành
tố gây nên sự biến động của chúng như sinh, chết, di cư…vì vậy, dân số thường được nghiên cứu ở cả trạng thái tĩnh và trạng thái động Nội hàm của khái niệm dân cư không chỉ bao hàm số người cơ cấu theo độ tuổi, giới tính mà nó còn bao gồm cả các vấn đề kinh tế, văn hoá, sức khoẻ, ngôn ngữ….tức là nó rộng hơn rất nhiều so với nội hàm của khái niệm dân số [10, tr.11]
1.2.1.2 Gia tăng dân số
a Gia tăng tự nhiên: Là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự tăng trưởng dân số và
gián tiếp phản ánh trình độ phát triển KTXH của một nước trong khu vực
Tỷ suất sinh:
Tỷ suất sinh thô (CBR: Crude Birth Rate): Là số trẻ em sinh ra sống trên 1000 người trong một năm nhất định Hầu hết các tỷ suất hàng năm, liên kết các sự kiện nhân khẩu học
Trang 24với dân số tại thời điểm giữa năm (1/7), thời điểm được coi là dân số trung bình khi sự kiện
có khả năng xảy ra trong cả năm
CBR=𝐵
𝑃 × 1000
Trong đó: B là số trẻ em sinh ra trong một năm của một nước hay khu vực nào đó
P: Dân số trung bình trong năm
Tỷ suất sinh hoàn toàn không giống nhau theo thời gian và không gian bởi vì có nhiều yếu tố tác động đồng thời tới quá trình này Tỷ suất sinh thô không cho phép so sánh dân cư có cấu trúc khác nhau, do đó trong nghiên cứu dân số người ta còn sử dụng tỷ suất sinh tổng quát, tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi, tỷ suất sinh của phụ nữ có chồng
Tổng tỷ suất sinh (TFR: Total Fertility Rate) là số con trung bình sinh ra còn sống của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, qua các năm sinh đẻ họ tuân theo các tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi của một năm nhất định
Các nước phát triển TFR dưới 2 con/phụ nữ, còn các nước đang phát triển TFR trên 5 con/phụ nữ
Trong đó: D là số người chết trong năm, P là dân số trung bình năm
Tỷ suất tử cũng thay đổi mạnh theo thời gian và không gian Do điều kiện sống ngày càng được cải thiện nên tỷ suất tử thô nói chung có xu hướng giảm xuống rõ rệt, tuy nhiên
về không gian vẫn có sự khác nhau giữa các nước Trong nghiên cứu dân số không thể so sánh CDR giữa hai dân số có cấu trúc khác nhau vì tỷ suất chết thô bị tác động đặt biệt bởi
cơ cấu tuổi do đó phải cẩn trọng khi so sánh tỷ suất chết giữa các nước, phải điều chỉnh
Trang 25những khác nhau về cơ cấu tuổi trước khi đưa ra kết luận về điều kiện y tế, kinh tế hoặc môi trường của một nước
Cũng như trong nghiên cứu tỷ suất sinh, ta sử dụng tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi :
ASDRx = 𝐷𝑥
𝑃𝑥
Trong đó Dxlà số người chết ở độ tuổi x và Px là dân số ở độ tuổi x
Vì mức độ chết biến đổi lớn theo giới tính, chủng tộc, tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi thường tính riêng cho nam và nữ, cho các nhóm chủng tộc khác nhau trong một dân số Ngoài ra còn tính tỷ suất tử vong theo nguyên nhân, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi hay tỷ số chết mẹ do những biến chứng về thai nghén hoặc sinh đẻ trong một năm trên 100.000 trẻ sinh ra sống trong năm đó
Gia tăng tự nhiên (NI: Natural Increase) là hiệu số giữa số sinh và tử trong một
thời gian nhất định
NI = B - D
T ỷ suất gia tăng tự nhiên (RNI: Rate of Natural Increase) là tỷ số giữa gia tăng tự
nhiên và dân số trung bình trong cùng thời kỳ
RNI = 𝐵−𝐷
𝑃 × K (với K= 1000)
Tỷ suất gia tăng tự nhiên ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình nhân khẩu và là động lực phát triển dân số, quyết định quy mô dân số toàn cầu vì thế muốn hạn chế gia tăng dân số thì phải giảm gia tăng dân số tự nhiên
b Gia tăng cơ học
Biến động dân số không chỉ có biến động do tự nhiên mà còn biến động bởi các luồng di cư gọi là gia tăng cơ học gồm hai bộ phận xuất cư và nhập cư, có thể xác định bằng
Trang 26Gia tăng dân số (PGR-Population Growth Rate) là tỷ số giữa gia tăng tự nhiên và dân
số trung bình trong cùng thời kỳ
PGR= 𝐵−𝐷∓𝑁𝑀
𝑃 × K
Nếu PGR = 0 có sự cân bằng giữa tỷ suất sinh, nhập cư và tỷ suất tử vong, xuất cư
1.2.1.3 Cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một vùng thành các nhóm theo một hay nhiều tiêu thức
a Kết cấu sinh học (Bio- Compositio)
Gồm cơ cấu theo độ tuổi và giới tính: là 2 loại cơ cấu quan trọng nhất bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần tuý, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh xã hội
- Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi: là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất định, nhóm 5 hoặc 10 độ tuổi Các nhà dân số học còn chia thành 3 nhóm tuổi
có liên quan đến việc sử dụng lao động gồm nhóm trẻ em (từ 0-14 tuổi), nhóm tuổi lao động
từ 15-59 hoặc 15-65 tuổi, nhóm già từ 60 hoặc 65 tuổi trở lên Sự phân chia trên căn cứ vào
kỳ vọng sống, ngày nay xuất hiện xu hướng tăng giới hạn trên của lớp tuổi trẻ và kéo dài giới hạn dưới của lớp tuổi già Cơ cấu dân số theo độ tuổi rất khác nhau giữa các nước, nhóm nước Các nước đang phát triển thường có cơ cấu dân số trẻ, mặc dù hiện nay các nước này thực hiện chính sách hạn chế sinh đẻ, tỷ suất gia tăng giảm nhưng số lượng dân số tuyệt đối vẫn tăng thêm trong một thời gian dài nữa mới đi vào ổn định, đồng thời tỷ suất tử vong trẻ em thấp nhờ tiến bộ y học nên tình trạng trẻ hoá dân số vẫn còn Ngược lại, các nước kinh tế phát triển, dân số già, tuổi thọ cao, tỷ lệ sinh dưới mức thay thế, tỷ lệ tử vong người già cao cho nên quá trình già hoá dân số dẫn đến suy giảm dân số càng sâu sắc và đáng lo ngại cho các nước này về nguồn lao động dự trữ và chi phí phúc lợi xã hội cho người già Một dân số được coi là dân số trẻ hay già nếu có cơ cấu dân số theo tuổi đảm bảo
Trang 27Tuổi trung vị của dân số <20 ≥30 20-29
Tỷ số ông- bà/cháu <15 >30 15-30
Nguồn: The methods and materials of demography, Henry S.Shryock, Jacob S.Siegel and Associates, Condensed Edition by Edward G.Stockwell Bowling Green University, Bowling Green, Ohio
- Cơ cấu dân số theo giới tính: là sự phân chia tổng số dân của một vùng thành 2 nhóm nam và nữ Nghiên cứu cơ cấu dân số theo giới có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn trong phân công lao động xã hội và áp dụng các chính sách kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Có 3 cách tính khác nhau:
+Số lượng nam trên 100 nữ
+Số lượng nữ trên 100 nam
+Số lượng nam hoặc nữ trên tổng số dân (%)
Tỷ suất nam nữ khác nhau do sinh đẻ tự nhiên khác nhau, cứ 100 trẻ em nữ sinh ra thì có 105-106 trẻ em nam, trong quá trình phát triển thì khoảng cách trên rút ngắn do nhiều nguyên nhân khác như chuyển cư, khả năng chăm sóc bảo vệ sức khoẻ, tư tưởng trọng nam khinh nữ…làm cho cơ cấu giới tính hoàn toàn khác nhau giữa các nước hay nhiều nước trên thế giới hiện nay đang trong tình trạng báo động về mất cân đối giới tính
b Kết cấu dân tộc và kết cấu xã hội
-Cơ cấu dân tộc: phản ánh cấu trúc chủng tộc của dân cư, thể hiện thành phần dân tộc của dân cư
-Cơ cấu xã hội bao gồm:
Kết cấu lao động (nguồn lao động, tỷ lệ dân số hoạt động kinh tế, cấu trúc nghề nghiệp của dân cư)
Nguồn lao động là bộ phận năng động nhất của dân cư, bao gồm số người trong độ tuổi lao động theo quy định pháp luật của mỗi nước có khả năng lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm và ngoài tuổi lao động thực tế có việc làm trong các ngành kinh tế quốc dân
Dân số chia theo khu vực hoạt động kinh tế gồm 3 khu vực:
+KV1: nông lâm ngư và khai thác ban đầu các loại khoáng sản vật liệu
+KV2: Công nghiệp-xây dựng
+KV3: Dịch vụ
Dân số có việc làm hay tạm thời đều được thống kê theo nghề nghiệp, kết cấu nghề nghiệp của dân cư gián tiếp phản ánh trình độ phát triển sức sản xuất và tình hình kinh tế
Trang 28chính trị ở mỗi khu vực Sức sản xuất càng phát triển, sự phân công lao động xã hội sâu sắc thì số lượng ngành nghề tăng lên và đa dạng hơn
Kết cấu theo trình độ văn hoá phản ánh trình độ học vấn, dân trí của một vùng, một nước thể hiện theo 2 cách:
+ Số người biết chữ (biết đọc biết viết) và số người mù chữ từ 10 hay 15 tuổi trở lên + Dân số từ 5 tuổi trở lên trước hết chia thành số đang đi học, đã thôi học và chưa bao giờ đi học, sau đó toàn bộ dân số từ 5 tuổi trở lên lại chia theo các cấp học đã hoàn thành Chia theo trình độ GD, người ta còn chia dân số từ 15 tuổi trở lên theo trình độ chuyên môn kỹ thuật gồm 1- Không có trình độ CMKT, 2-Trình độ sơ cấp, 3- Trình độ trung cấp, 4- Trình độ cao đẳng, 5- Trình độ đại học trở lên
1.2.2 Lý thuyết quá độ dân số
1.2.2.1 Học thuyết quá độ dân số (Demographic transition)
Là học thuyết về sự biến đổi dân số từ tỷ suất gia tăng cao, tỷ suất sinh cao, xuống tỷ suất gia tăng thấp tỷ suất tử thấp (Sharma)
Học thuyết “Quá độ dân số” dựa trên cơ sở những biến đổi về dân số ở Châu Âu vào lúc bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp Mô hình xây dựng dựa trên việc quan sát các biến đổi dân số ở Châu Âu là một mô hinh kinh điển về quá độ dân số [20, tr.36]
Theo lý thuyết này dân số trong các xã hội sơ khai có đặt trưng là tỷ suất sinh cao ổn định, tỷ suất tử cao và biến động Sinh đẻ trong xã hội sơ khai hoàn toàn mang tính chất tự nhiên Ở xã hội hiện đại, mức sinh sản giảm xuống mức thấp nhất, con người đã tham gia vào quá trình kiểm soát dân số và sự kiểm soát ấy mang tính chất xã hội Lý thuyết về quá
độ dân số là một cố gắng nhằm giải thích diễn biến của các biến đổi dân số trong quá trình quá độ từ mức sinh không được kiểm soát sang mức sinh có thể kiểm soát
Trang 29MAXIMUM
Hình 1.1 Mô hình quá độ dân số cổ điển
Nguồn: Daniel Noin La transition d mographique dans le mond PUF Paris 1982
Mô hình quá độ dân số cổ điển gồm 3 pha, 4 giai đoạn:
Pha I (pre-transitional): trước quá độ ứng với giai đoạn 1 từ 1750-1800 tỷ suất sinh thô và tỷ suất tử thô đều cao ở mức gần ngang nhau, gia tăng tự nhiên thấp (khoảng 0,5%) nên dân số có xu hướng tăng chậm
Pha II (Demographic transitional) là pha quá độ, gồm 2 giai đoạn:
+Giai đoạn II-1 từ 1800-1875: tỷ suất sinh vẫn tiếp tục ở mức cao nhưng tỷ suất tử vong ngày càng giảm, dẫn đến tỷ suất gia tăng tự nhiên cao (khoảng 2%) dân số tăng nhanh
+Giai đoạn II-2 từ 1875-1950: tỷ suất sinh giảm, tỷ suất tử vong tiếp tục giảm tới mức thấp nhất, mức tăng dân số sau khi đạt đến giá trị cực đại thì bắt đầu giảm dần do tỷ suất gia tăng tự nhiên giảm
Pha III ( post transitional): pha sau quá độ dân số ứng với giai đoạn từ 1950-1975 tỷ suất sinh và tỷ suất tử vong đều giảm xuống mức thấp gần ngang nhau, gia tăng tự nhiên có trị số gần bằng 0%, mức tăng dân số rất thấp và tạo nên sự ổn định dân số
Học thuyết quá độ dân số đã chú ý tới sự thay đổi về tỷ suất sinh và tỷ suất tử ở các giai đoạn khác nhau của những nước phát triển, khi các nước này chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế công nghiệp và đô thị phát triển Các giai đoạn quá độ dân số ở nhiều nước đang phát triển không hoàn toàn giống như trên
Các nghiên cứu gần đây cho thấy có thể thay thế chỉ tiêu tỷ suất chết thô bằng chỉ tiêu kỳ vọng sống, thay tỷ lệ sinh thô bằng bằng tổng tỷ suất sinh (TFR Total Ferility Rate)
Mô hình mới về quá độ dân số chia thành 4 pha như sau:
-Pha I (1-1): tỷ suất sinh và tỷ suất tử đều cao, kỳ vọng sống <45 khi tổng tỷ suất sinh cao hơn 6 Chỉ số 1-1 có ý nghĩa tỷ suất sinh ở mức 1, tỷ suất tử cũng ở mức 1
Trang 30-Pha II (2-2) : tỷ suất sinh và tử đều giảm, nhưng tỷ lệ tử giảm trước và giảm nhanh hơn tỷ lệ sinh, kỳ vọng sống trong khoảng 45 đến 55, tổng tỷ suất sinh TFR ở mức 4,5-6 Chỉ số 2-2 có ý nghĩa tỷ suất sinh và tử đều ở mức 2
-Pha III (3-3): tỷ lệ sinh và tử đều giảm nhanh Kỳ vọng sống từ 55-65 Tổng tỷ suất
sinh TFR giảm xuống từ 3 đến 4,5 Chỉ số 3-3 có ý nghĩa tỷ suất sinh và tử đều ở mức 3
-Pha IV (4-4): Tỷ lệ sinh và tử đều thấp, kỳ vọng sống trên 65 với tổng tỷ suất sinh nhỏ hơn 3 Đây là mức tăng dân số khá thấp Nếu muốn duy trì dân số ổn định thì tổng tỷ suất sinh phải đạt mức 2
Mô hình quá độ dân số mới cho thấy khả năng chuyển đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác mà không phải trải qua tất cả các giai đoạn Đây là bài học cần thiết cho nhiều quốc gia đang phát triển muốn giảm nhanh tỷ lệ sinh và tổng tỷ suất sinh Bởi vì, mô hình này cho thấy giai đoạn quá độ xuất hiện khi dân cư chuyển từ mức có tỷ lệ tử vong cao xuống mức có tỷ lệ tử vong thấp trong khi tỷ lệ sinh không giảm kịp tương ứng Hiện nay các nước chậm phát triển cũng có tỷ lệ tử vong thấp chỉ cần nhanh chóng giảm mức tỷ lệ sinh xuống ngang với mức tỷ lệ tử vong trong thời gian càng ngắn càng tốt
Các nước Bắc Mỹ, Bắc Âu và Tây Âu đã kết thúc pha quá độ dân cư từ trước những năm 1950-1955 Các nước Châu Âu còn lại (trừ Anbani) cũng đạt tới pha cuối của mô hình quá độ dân số những năm 1980-1985 Các nước công nghiệp hoá có mức sinh và tử gần đồng mức Quá trình quá độ dân số ở các nước đang phát triển thuộc Châu Phi diễn ra cực
kỳ chậm chạp do tiếp cận các tiến bộ về y học từ các nước phát triển nên tỷ suất tử giảm nhanh nhưng tỷ suất sinh lại vẫn cao nên dẫn tới bùng nổ dân số, Châu Á diễn ra nhanh hơn nhiều nhưng có sự khác biệt rất lớn giữa các nước cùng một châu lục như Trung Quốc trong
2 thập niên qua đã kết thúc quá trình quá độ dân số với cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch mỗi gia đình chỉ có một con, trong khi Ấn Độ, Indonesia, Pakixtan…lại diễn ra chậm hơn
1.2.2.2 Học thuyết dân số tối ưu
Hiện nay có nhiều quốc gia có dân số quá đông khiến việc làm và cuộc sống gặp nhiều khó khăn, tình trạng đói ăn diễn ra thường xuyên, nạn suy dinh dưỡng diễn ra phổ biến Tuy nhiên một vài quốc gia lại có mật độ dân số không cao, dân cư thưa thớt ảnh hưởng nhiều đến quá trình phát triển KTXH Xuất phát từ thực tế đó các nhà nhân khẩu học
đề xuất học thuyết dân số tối ưu Theo đó một quốc gia muốn phát triển KTXH một cách thuận lợi thì cần phải có một dân số phù hợp Sự gia tăng dân số khác nhau sẽ kéo theo sự gia tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm khác nhau Có 2 cách để giải quyết mâu thuẫn đó: một là
Trang 31phải tìm cách giảm sự gia tăng dân số nhất là gia tăng tự nhiên, hai là phải đẩy mạnh nền sản xuất xã hội nhằm tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu của dân số
Nếu sự gia tăng dân số không đi đôi với sự gia tăng sản xuất thì kết quả sẽ vô cùng tồi tệ, bởi vì mức sống của con người sẽ nhanh chóng bị giảm sút
Sự gia tăng dân số của hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay không hợp lý Bởi
vì, sự gia tăng dân số nhanh khiến cho ngân sách quốc gia phải gánh chịu nhiều tốn kém Chẳng hạn ở Pháp cứ 1% dân số tăng thêm thì chính phủ phải chi thêm 6,3-8,0% thu nhập quốc dân để đảm bảo mức sống không bị sụt giảm; còn ở Mỹ cứ 1% dân số tăng thêm thì chính phủ phải chi 2-3% ngân sách quốc gia để ổn định mức sống người dân
Đối với các quốc gia đang phát triển thì do nền kinh tế kém phát triển, ngân sách quốc gia vốn eo hẹp, sản xuất không có tích luỹ nên dân số tăng lên không hợp lý sẽ đẩy nền kinh tế vốn kém phát triển vào tình trạng khó khăn hơn, tốc độ tăng trưởng kinh tế bị kìm hãm [20, tr.40]
1.3 Các khái niệm và vấn đề liên quan đến giáo dục
1.3.1 Khái niệm giáo dục và vai trò của GD trong nền kinh tế quốc dân
1.3.1.1 Khái niệm
Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội [14, tr.105]
Giáo dục là hoạt động đặc trưng và tất yếu của xã hội loài người, là điều kiện không thể thiếu được để duy trì, phát triển con người và xã hội GD là một bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là yếu tố quan trọng nhất, vừa là động cơ vừa là mục đích của phát triển xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định Với ý nghĩa đó Đảng Cộng Sản Việt Nam khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân” (Luật giáo dục)
Giáo dục được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp [11]:
Theo nghĩa rộng: giáo dục bao gồm cả việc dạy lẫn việc học cùng với hệ thống các
hoạt động sư phạm khác diễn ra ở trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà trường cũng như
Trang 32trong gia đình và ngoài xã hội Đó là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa GD
và người được GD, nhằm chiếm lĩnh những kinh nghiệm của xã hội loài người
Theo nghĩa hẹp: GD được hiểu như là quá trình tác động tới thế hệ trẻ về mặt đạo
đức tư tưởng và hành vi… nhằm hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ và những thói quen, hành vi cư xử đúng đắn trong xã hội Như vậy, GD trước hết là sự tác động của những nhân cách này đến những nhân cách khác, tác động của nhà giáo dục đến người được giáo dục cũng như tác động của những người được giáo dục với nhau
GD là lĩnh vực liên quan mật thiết nhất tới sự phát triển toàn diện của con người cũng như sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Một cách khái quát nhất có thể định nghĩa GD
là tất cả các dạng học tập của con người Ở đâu có sự hoạt động và giao lưu nhằm truyền đạt lại và lĩnh hội những giá trị và kinh nghiệm xã hội thì ở đó có GD
Trải qua hàng ngàn năm thực hành và thử nghiệm, giáo dục học phương Đông đã tổng kết được 4 mặt cơ bản nhất của giáo dục là [14]:
- GD là nhân tố then chốt tạo ra vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội Đây là ba nguồn vốn cơ bản trong sự phát triển cộng đồng ngày nay Giáo dục khi có một phương thức đào tạo hiệu quả còn làm cho ba nguồn vốn này phát triển đồng bộ và gắn kết với nhau
- GD là nhân tố phát năng quan trọng nhất để phát triển nguồn lực con người
1.3.2 Hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 33Tổng thể các cơ sở giáo dục và đào tạo phục vụ nhu cầu học tập của nhân dân trong nước Hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam gồm :
1 Giáo dục mầm non (Nhà trẻ và mẫu giáo)
2 Giáo dục phổ thông (Bậc tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông)
3 Giáo dục chuyên nghiệp (Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề)
4 Giáo dục đại học (2 trình độ là cao đẳng và đại học)
5 Giáo dục sau đại học (Thạc sĩ và tiến sĩ)
Phương thức giáo dục gồm hai loại: giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy Giáo dục chính quy là những lớp học có chương trình tuỳ thuộc vào mục đích và yêu cầu của người học Giáo dục chính quy thường được tổ chức trong các nhà trường, còn giáo dục không chính quy thường được tổ chức ở ngoài nhà trường
Hệ thống giáo dục quốc dân đặt dưới sự quản lí nhà nước về giáo dục thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, và các cơ quan nhà nước khác được uỷ quyền [14, tr.180]
1.3.3 Phát triển giáo dục
Phát triển giáo dục là việc mở rộng quy mô của hệ thống giáo dục trên các mặt nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển nhân cách, đáp ứng những đòi hỏi phát triển của xã hội cũng như của mỗi thành viên [14, tr.310] Chính sách phát triển giáo dục của đất nước trong từng thời kỳ được thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục làm cơ sở để chỉ đạo, điều chỉnh quá trình thực hiện chính sách
Luật giáo dục quy định phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng an ninh, đảm bảo cân đối về trình độ,
cơ cấu quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng
1.3.4 Trình độ GD và các chỉ tiêu đánh giá trình độ GD của nước ta
Trình độ giáo dục là đại lượng đặc trưng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế xã hội dựa trên 2 chỉ tiêu cơ bản là:
- Trình độ học vấn: là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng dân
số Nước ta thường phân trình độ học vấn thành 5 nhóm gồm (1) chưa đi học, (2) chưa tốt nghiệp tiểu học, (3) tốt nghiệp tiểu học, (4) tốt nghiệp THCS, (5) tốt nghiệp THPT trở lên để dùng trong các cuộc điều tra dân số và nhà ở
Trang 34- Trình độ chuyên môn kỹ thuật: cũng được phân thành 5 nhóm gồm không có trình
độ CMKT, sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên
1.3.5 Chỉ số phát triển GD trong chỉ số phát triển con người (HDI)
Chỉ số giáo dục là một trong ba chỉ số cơ bản để xây dựng chỉ số phát triển con
người Chỉ số này được tính dựa trên 2 yếu tố: tỉ lệ biết chữ của người lớn (a) và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục: tiểu học, trung học và đại học, cao đẳng (b)
T ỉ lệ biết chữ của người lớn (a): Theo UNDP đó là tỉ lệ phần trăm số người từ 15
tuổi trở lên biết đọc và biết viết và tính toán đơn giản so với tổng số dân Độ tuổi tính tỉ lệ người lớn biết chữ độ tuổi 15–55 hoặc tuổi 15–35 Nhằm có dữ liệu phân tích tình trạng biết chữ của người lớn, người ta không chỉ xác định tỷ lệ trên theo từng địa phương (tỉnh thành, quận, huyện, thành thị, nông thôn) mà còn theo giới tính, theo dân tộc, theo từng độ tuổi, theo tôn giáo, theo nhóm nghề…Cơ sở dữ liệu tốt nhất để đưa vào phân tích là số liệu tổng điều tra dân số được tiến hành 10 năm một lần vào ngày 1/4 năm cuối cùng mỗi thập kỷ Trong các năm còn lại, số liệu của điều tra mẫu suy rộng để đảm bảo độ chính xác cao hơn
số liệu báo cáo về người mù chữ của các phường xã
Cách tính tỷ lệ người lớn biết chữ:
-Tính giá trị thực người lớn biết chữ:
Giá trị thực người lớn biết chữ = Số người trong độ tuổi từ 15-55 tuổi biết chữ / Tổng
số người trong độ tuổi 15-55 tuổi
-Tính tỷ lệ người lớn biết chữ
Tỷ lệ người lớn biết chữ (a) = (Giá trị thực người lớn biết chữ-Giá trị tối thiểu người lớn biết chữ) / (Giá trị tối đa người lớn biết chữ- giá trị tối thiểu người lớn biết chữ)
Trong đó: Giá trị tối thiểu người lớn biết chữ = 0%
Giá trị tối đa người lớn biết chữ = 100%
Tỷ lệ người lớn biết chữ (a) = (Giá trị thực người lớn biết chữ - 0) / (100 – 0)
Tỷ lệ nhập học các cấp (b): Đo lường tỷ lệ nhập học trở nên phức tạp vì trẻ em trải
qua các lớp học với tốc độ khác nhau Một số em kết thúc học phổ thông trong vòng 12 năm nhưng cũng có nhiều em hơn một số năm do lưu ban hay bỏ học rồi đi học lại Bên cạnh đó trẻ em bắt đầu đi học ở những độ tuổi khác nhau do nhiều nguyên nhân khác nhau Để giải quyết những phức tạp đó, có rất nhiều thước đo tiêu chuẩn khác để xác định tỷ lệ đi học theo mức độ dân cư Đánh giá sự kết hợp giữa các tỷ lệ đó cho phép có được hình ảnh đầy đủ
Trang 35hơn các bước tiến mà hệ thống giáo dục tạo ra cho người đi học Những định nghĩa này sử dụng theo các định nghĩa đã được tổng cục thống kê dùng trong điều tra mức sống
Tỷ lệ nhập học hay tỷ lệ huy động đi học có 2 khái niệm:
- Tỷ lệ đi học thô hay tỷ lệ đi học chung cấp học X (GER): là tỷ lệ % giữa số trẻ em
đang học cấp học X so với tổng số trẻ em trong độ tuổi cấp học X tỷ lệ này xác định tổng
số học sinh, sinh viên ở một cấp lớp học sinh được xác định sẽ theo học ở cấp lớp đó theo đúng độ tuổi Công thức tính như sau:
GER = Tổng số học sinh đi học ở cấp lớp X
Tổng số học sinh được xem là sẽ đi học ở cấp lớp X
Tổng tỷ lệ nhập học vượt quá 100% chỉ ra rằng có những học sinh, sinh viên nằm ngoài nhóm tuổi lý thuyết theo học ở cấp học đó Như vậy cứ đi học thì đã tính là đã được huy động vào trường học, dù học trễ tuổi Ví dụ người 13 tuổi còn học ở tiểu học, 17 tuổi còn học trung học cơ sở, 20 tuổi còn học trung học phổ thông vẫn cứ được tính
- Tỷ lệ đi học ròng (Tỷ lệ huy động tinh) hay tỷ lệ đi học đúng tuổi cấp học X (NER): là tỷ lệ % giữa số trẻ em trong độ tuổi cấp học X đang học cấp học X so với tổng số trẻ em trong độ tuổi cấp học X Tỷ lệ này tập trung vào số học sinh được xác định là sẽ đi học ở cấp lớp xác định Tính theo công thức:
NER = Tổng số người trong nhóm tuổi học cấp lớp X
Tổng số người được xác định là phải đi học ở cấp lớp X
Tỷ lệ này luôn ≤ 100% Đây được xác định là một thước đo hiệu quả của hệ thống giáo dục và khả năng để duy trì học sinh tiếp tục học trong hệ thống giáo dục và học đúng cấp lớp theo độ tuổi mong muốn Nghĩa là nếu điều tra thống kê diễn ra trong quý 4 của năm thì 6 tuổi phải vào lớp 1 và 10 tuổi phải đang học lớp 5, 11 tuổi học lớp 6 và 14 tuổi học lớp 9, 15 tuổi học lớp 10 và 17 tuổi học lớp 12 Còn nếu điều tra vào quý 1, 2, 3 trong năm thì có sự thay đổi độ tuổi đi học ở các lớp như trẻ 7 tuổi đang học lớp 1,…, trẻ 12 tuổi học lớp 6,… trẻ 18 tuổi theo học lớp 12 là đúng tuổi Trường hợp đi học trễ tuổi phải được loại ra
Cách tính theo tỷ lệ đi học ròng khiến cho tỷ lệ huy động vào từng cấp xuống thấp do nhiều học sinh đã bị ở lại lớp hoặc đi học trễ so với độ tuổi quy định cho mỗi cấp Cần lưu ý
là học sinh (nhất là sinh viên) khi chuyển vùng để học là tất yếu làm cho địa phương nào có học sinh chuyển đi sẽ kéo tỷ lệ huy động xuống thấp, ngược lại địa phương nhận được học sinh chuyển đến sẽ nâng tỷ lệ huy động cao giả tạo Tình hình này có thể khắc phục nếu ngành giáo dục quản lý dữ liệu về học sinh và sinh viên trên mạng máy tính vì lúc đó có thể
Trang 36thống kê chính xác số trẻ em được huy động đi học theo hộ khẩu thường trú sẽ không có tình trạng nâng lên và hạ xuống tỷ lệ huy động giả tạo của các địa phương Hoặc có thể điều tra mẫu rồi suy rộng ra sẽ cho kết quả chính xác hơn là dựa vào báo cáo của từng phòng GD&ĐT vì cách tính trong các báo cáo thường thống kê hết tất cả số học sinh theo học mà không loại ra các học sinh nơi khác chuyển đến
Thêm nữa là cách xác định dân số theo từng độ tuổi, trên phạm vi cả nước, 10 năm mới có 1 lần điều tra dân số, trong những năm khác việc xác định dân số là từ công thức tính dự báo dân số cho nên sai số có thể lớn khiến cho tỷ lệ huy động tính toán dễ bị sai lệch (thường được nâng cao lên).Từ đó khiến cho việc xác định chỉ số (b) kém tin cậy
Vậy để tính tỷ lệ nhập học các cấp tiểu học, THCS, THPT ta làm như sau:
Cho biết: Giá trị tối thiểu tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục = 0%
Giá trị tối đa tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục = 100%
T ỷ lệ nhập học cấp THCS = (𝐆𝐢á 𝐭𝐫ị 𝐭𝐡ự𝐜 𝐧𝐡ậ𝐩 𝐡ọ𝐜 𝐜ấ𝐩 𝐓𝐇𝐂𝐒 – 𝟎)(𝟏𝟎𝟎 – 𝟎)
Bước 3: Tính tỷ lệ nhập học cấp trung học phổ thông (z)
Trang 37+Tính giá trị thực nhập học cấp THPT
Giá trị thực nhập học cấp THPT = Số người trong độ tuổi từ 15-17 tuổi đang học THCS / tổng số người trong độ tuổi 15-17 tuổi
+Tính tỷ lệ nhập học cấp THPT
Tỷ lệ nhập học cấp THPT = (Giá trị thực nhập học cấp THPT – Giá trị tối thiểu tỷ lệ nhập
học các cấp GD) / (Giá trị tối đa tỷ lệ nhập học các cấp GD – Giá trị tối thiểu tỷ lệ nhập học các cấp GD)
Tỉ lệ đi học tổng hợp các cấp: trong thực tế ở Việt Nam, do những khó khăn trong
vấn đề điều tra trong phạm vi từng địa phương nên tỷ lệ nhập học của các cấp chỉ tính tỷ lệ
% đi học của 3 cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông trong dân cư từ 6 đến 17 tuổi, không tính tỷ lệ học đại học Do cách tính này nên tỷ lệ nhập học của các cấp ở Việt Nam được tính khá cao [21, tr.21-25]
1.3.6 Mối quan hệ giữa quy mô-chất lượng và hiệu quả GD
Quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và chi phối lẫn nhau trong lý luận và thực tiễn phát triển giáo dục
Phát triển quy mô giáo dục không chỉ đơn thuần là tăng số lượng học sinh, sinh viên các cấp mà còn là quá trình thường xuyên phổ cập giáo dục và điều chỉnh cơ cấu đào tạo các bậc học, phát triển một hệ thống giáo dục với nhiều loại hình đa dạng Đây cũng là quá trình
Trang 38phát triển và hiện đại hoá mạng lưới nhà trường, kéo theo đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy, tăng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý…Như vậy phát triển quy mô giáo dục cơ bản sẽ làm thay đổi diện mạo của một nền giáo dục số ít sang một nền giáo dục cho số đông trong yêu cầu của quy luật phát triển kinh tế xã hội và thị trường
Cùng với phát triển quy mô, chất lượng giáo dục luôn là vấn đề được toàn xã hội quan tâm bởi lẽ chất lượng giáo dục phản ánh giá trị đích thực của một nền giáo dục, là tiền
đề cho sự phát triển của cá nhân và toàn xã hội Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục 1998 thì “chất lượng” là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc cái tạo nên bản chất sự vật làm cho sự vật này khác sự vật kia” Theo quan điểm triết học, chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích luỹ về lượng tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật và hiện tượng Trong lĩnh vực GD, chất lượng giáo dục toàn diện với đặc trưng sản phẩm là con người chính là kết quả của toàn bộ quá trình đào tạo, nó thể hiện qua phẩm chất, giá trị nhân cách, năng lực sống và hoà nhập với xã hội, giá trị sức lao động của con người Quan niệm về chất lượng GD không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường mà còn phải tính đến khả năng thích ứng của người tốt nghiệp với đời sống xã hội và thị trường lao động như ý thức và lối sống văn hoá, tỷ lệ có việc làm sau khi tốt nghiệp, khả năng phát triển nghề nghiệp [13, tr.133]
Quá trình thích ứng với đời sống xã hội, thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng giáo dục mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của môi trường xã hội và thị trường như nguồn đầu tư, việc làm, quan hệ cung –cầu, giá cả sức lao động, chính sách đãi nghộ cũng như sử dụng hợp lý nguồn lao động qua đào tạo của Nhà nước và người chủ sử dụng lao động… Do đó khả năng thích ứng còn phản ánh về “Hiệu quả giáo dục” Theo từ điển tiếng Việt thông dụng “Hiệu quả (effect)” là “Kết quả đích thực” của một hoạt động hay giá trị sử dụng, công dụng thực tế của một sản phẩm, thiết bị nào đó so với những mục đích mong muốn thực tế và giá trị của sản phẩm hay thiết bị, phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa chi phí và lợi ích, giữa giá trị và giá trị sử dụng Trong lĩnh vực giáo dục với tính chất đặc thù của sản phẩm giáo dục cần xem xét hiệu quả đào tạo ở mức độ cá nhân người học, từng cơ sở đào tạo, toàn ngành GD và ở từng địa phương, toàn xã hội dưới nhiều góc độ xã hội, văn hoá, kinh tế….Hiệu quả đào tạo được xem xét dưới hai khía cạnh: hiệu quả trong
và hiệu quả ngoài [13, tr.137]
Trang 39-Hiệu quả trong phản ánh kết quả đào tạo qua các tỷ lệ lưu ban bỏ học, kết quả tốt nghiệp ở nhà trường với những điều kiện nhất định về môi trường KTXH, kinh tế đào tạo,
cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, kinh nghiệm tổ chức quản lý trong giảng dạy…
-Hiệu quả ngoài phản ánh mức độ hay khả năng thích ứng của người tốt nghiệp với đời sống xã hội và thị trường lao động, những giá trị sử dụng và đóng góp thực tế cho cá nhân và xã hội….Hiệu quả ngoài chịu tác động, chi phối của mỗi cá nhân, môi trường xã hội
Quy mô, chất lượng và hiệu quả GD có mối quan hệ hữu cơ và biện chứng Phát triển quy mô GD là tiền đề, quá trình tích luỹ về lượng để tạo ra những biến đổi về chất đồng thời góp phần làm tăng hiệu quả trong và ngoài của GD Kinh nghiệm và lịch sử phát triển GD các nước đều đặt ra yêu cầu phát triển quy mô, chất lượng, nâng cao hiệu quả GD và hiện nay mối quan hệ này cũng được quan tâm xem xét ở nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam vì nó là xu hướng tất yếu của sự nghiệp GD trong thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập
1.4 Mối quan hệ giữa phát triển dân số và phát triển giáo dục
Dân số và giáo dục tác động lẫn nhau trong sự liên hệ và tác động của nhiều yếu tố khác như kinh tế, chính trị, truyền thống văn hoá, tôn giáo… Khi xem xét mối quan hệ giữa dân số và giáo dục cần phải xem xét nó trong hoàn cảnh cụ thể, đặc biệt là yếu tố KTXH; trong mối liên hệ, sự tương tác của các yếu tố khác
Bên cạnh cần chú ý đến kết quả chậm của sự tác động giữa chúng Giáo dục tác động
đến quá trình sinh, tử của dân số, cũng như các quá trình dân số tác động tới quy mô và chất lượng của giáo dục phải sau một thời gian ít nhất là hằng chục năm mới thấy được kết quả
Đó là đặc điểm của sự tác động lẫn nhau giữa các quá trình xã hội, trong đó chủ thể và khách thể của chúng là con người Giáo dục tác động đến nhận thức dân số, song từ sự chuyển biến về nhận thức đến sự chuyển biến hành vi đòi hỏi phải có thời gian Mặt khác,
do nhiều yếu tố cùng tác động nên quan hệ tương tác giữa dân số và giáo dục nhiều khi bị
mờ đi và kết quả trở nên khó nhận biết, chỉ sau một thời gian dài mới bộc lộ rõ
Có 2 xu hướng đối lập nhau trên thế giới đó là các nước phát triển dân số tăng chậm hoặc không tăng và đang già hoá nhưng họ đang thụ hưởng một nền giáo dục rất tiến bộ Tuy nhiên nếu xu hướng dân số suy giảm thì lực lượng lao động bổ sung trong tương lai sẽ không đáp ứng đủ cho lực lượng sản xuất, dân số phụ thuộc và chi phí phúc lợi sẽ tăng cao
Trang 40Ngược lại, các nước đang phát triển và nước nghèo khó trong thế giới thứ ba thì dân số quá đông, cơ cấu trẻ lại có xu hướng gia tăng nhanh số dân, nền giáo dục kém phát triển thì làm thế nào để đại bộ phận dân chúng nơi đây có thể tiếp xúc được với khoa học kỹ thuật tiên tiến? Do vậy, trong quá trình phát triển nào cũng cần sự hợp lý, tôn trọng sự phát triển theo quy luật tự nhiên, quy luật kinh tế xã hội của chúng và có sự can thiệp của con người đúng lúc
Đứng trước xu thế lớn toàn cầu hoá và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ hiện đại, chuyển giao công nghệ trở nên phổ biến, nếu không có trình độ văn hoá thì không thể tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật hiện đại Bên cạnh đó xét về lợi ích kinh tế, không có sự đầu
tư nào lợi bằng đầu tư cho giáo dục Trong các báo cáo của ngân hàng thế giới, ta luôn thấy mối quan hệ phát triển dân số và phát triển giáo dục trong vấn đề tăng trưởng kinh tế, trong
đó dân số đóng vai trò là nguồn lực cơ bản còn giáo dục đóng vai trò là yếu tố thúc đẩy Việc thoả mãn nhu cầu học tập của dân cư sẽ tạo ra đội ngũ lao động có chuyên môn cao, ta thấy đầu tư cho giáo dục là đầu tư lâu dài và có tính chu chuyển giữa các thế hệ nối tiếp nhau Người ta tính rằng, ở một số nước một năm học thêm có thể làm tăng 10% tiền công
Ở Hàn Quốc, một năm học thêm sẽ làm cho sản lượng trang trại tăng 2%, ở Malaysia là 5% Giải quyết tốt mối quan hệ này trong bối cảnh thế giới mới là công việc rất phức tạp, đòi hỏi
sự tính toán kỹ lưỡng và những tiến bộ trong công tác dự báo dân số
1.4.1 Ảnh hưởng của dân số đến giáo dục
Dân số tác động đến giáo dục theo hai hướng: hoặc là đẩy mạnh sự phát triển giáo dục hoặc là kìm hãm sự phát triển của giáo dục Cụ thể trên các khía cạnh sau:
1.4.1.1 Quy mô và tốc độ tăng dân số ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quy mô giáo dục [10, tr.56]
Tác động trực tiếp thể hiện: quy mô dân số lớn là điều kiện thúc đẩy mở rộng quy
mô của giáo dục Nếu tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường trong tổng số dân (kí hiệu là e) tương đối ổn định hoặc giảm rất chậm thì quy mô của nhu cầu giáo dục phổ thông (E) phụ thuộc vào quy mô dân số (P)
Phương trình: E = P × e (1)
Do đó việc tăng hay giảm quy mô dân số sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hay giảm quy mô nhu cầu giáo dục [33]
Từ (1) ta có: E1/E0 = P1.e1/ P0.e0 = (P1/P0) × (e1/e0)