Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy/cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn và những người quan tâm đến đề tài "Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác
Trang 1NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG - GIÁO DỤC
VỀ DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH - TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - Năm 2012
Trang 2NGUYỄN THỊ HỒNG HOA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG - GIÁO DỤC
VỀ DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH - TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Ngọc Hợi
NGHỆ AN - Năm 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi luôn nhận được sự động viên khuyến khích, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo Trường Đại học Vinh, gia đình, các đồng chí, đồng nghiệp
Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa sau Đại học, Khoa Giáo dục - Trường Đại học Vinh; Các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học Quản lý Giáo dục K18 (2010-2012); Lãnh đạo Tổng cục DS-KHHGĐ, Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ, Cục Thống kê, Trung tâm Giáo dục - Truyền thông, Trung tâm CSSKSS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An; 20 Trung tâm Dân số -KHHGĐ, Trung tâm Tư vấn
- Dịch vụ SKSS/KHHGĐ tỉnh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ngọc Hợi, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban Giám đốc Sở Y tế Nghệ
An đã quan tâm, tạo điều kiện để tôi theo học lớp Thạc sỹ Chuyên ngành Quản lý Giáo dục tại Trường Đại học Vinh.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy/cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn và những người quan tâm đến đề tài
"Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác truyền thông giáo dục về DS-KHHGĐ, tỉnh Nghệ An".
Thành phố Vinh, tháng 8 năm 2012
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hoa
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Đóng góp của luận văn 7
9 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 9
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 9
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.1.3 Nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An 15
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 17
1.2.1 Cán bộ và đội ngũ cán bộ 17
1.2.2 Phát triển và phát triển đội ngũ cán bộ 17
Trang 51.2.3 Truyền thông – Giáo dục và Truyền thông về KHHGĐ 19
DS-1.2.4 Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 20
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TTGD VỀ DS- KHHGĐ TỈNH NGHỆ AN 22
1.3.1 Sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về lĩnh vực Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nghệ An 22
1.3.2 Những yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về DS-KHHGĐ 29
1.3.3 Mục đích, nội dung, phương pháp phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về DS - KHHGĐ
31
1.4 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TTGD VỀ DS-KHHGĐ 32
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 34
Chương 2 : THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG
Trang 6– GIÁO DỤC VỀ DÂN SỐ- KẾ HOẠCH HÓA GIA
ĐÌNH 35
2.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KT-XH TỈNH NGHỆ AN . 35
2.1.1.Vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên, xã hội 35
2.1.2 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Nghệ an. 35 2.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TTGD VỀ DS-KHHGĐ 37
2 2 1 Địa bàn khảo sát và mẫu nghiên cứu. 37
2.2.2 Thực trạng cơ cấu tổ chức cán bộ 39
2.2.3 Về quy hoạch đội ngũ cán bộ 60
2.3 THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÀM CÔNG TÁC TTGD VỀ DS-KHHGĐ CÁC CẤP 60
2.3.1 Cấp tỉnh 60
2.3.2 Cấp huyện 62
2.2.3 Cấp xã: 68
2.4 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TTGD VỀ DS-KHHGĐ 72
2.4.1 Về tổ chức bộ máy 72
Trang 72.4.2 Về quy hoạch đội ngũ cán bộ 74
2.4.3 Về trình độ, chuyên môn của cán bộ làm công tác TTGD 75
2.4.4 Về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 76
2.4.5 Về chế độ chính sách đối với cán bộ làm công tác TTGD 77
2.4.6 Về quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền 78
2.5 NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG 79
2.5.1 Thành công 79
2.5.2 Hạn chế, bất cập 81
2.5.3 Các vấn đề thực tiễn cần sớm được giải quyết đặt ra từ kết quả nghiên cứu tại địa bàn khảo sát 82
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TTGD VỀ DS-KHHGĐ TỈNH NGHỆ AN 86
3.1 CÁC NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 86
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 86
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 86
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 86
Trang 83.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 86
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TTGD VỀ DS- KHHGĐ TỈNH NGHỆ AN 86
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho các cấp ủy Đảng, chính quyền về sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về DS tỉnh Nghệ An 86
3.2.2 Xây dựng và thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD các cấp 88
3.2.3 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD
về DS-KHHGĐ 90
3.2.4 Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả công việc của đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về DS- KHHGĐ. 92
3.2.5 Đảm bảo các điều kiện để đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An phát huy tốt vai trò của mình 94
3.3 THĂM DÒ TÍNH CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP 97
3.3.1 Mục đích 97
Trang 93.3.2 Nội dung và phương pháp thăm dò 97
3.3.3 Đối tượng, địa bàn th ăm dò 98
3.3.4 Kết quả thăm dò 98
3.3.5 Tính khả thi của các giải pháp đã đề xuất 99
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 101
KẾT LUẬN 103
KHUYẾN NGHỊ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của quá trình phát triển.Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và hết sức quan tâm đếncông tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) Nghị quyết số 04-NQ/HNTW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá
VII) ngày 14 tháng 01 năm 1993 về chính sách DS-KHHGĐ đã chỉ rõ: "Công
tác DS-KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế- xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình
và toàn xã hội" [2]; Pháp lệnh Dân số cũng đã xác định: "Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước" [24]
Trải qua hơn 50 năm phấn đấu, công tác DS-KHHGĐ cả nước nóichung, tỉnh Nghệ An nói riêng đã đạt được những thành tựu quan trọng, đặcbiệt trong việc giảm mức sinh và nâng cao tuổi thọ, góp phần tích cực vào sựphát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương Đạt được thành công
đó, trước hết có sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sựphối kết hợp chặt chẽ giữa các ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội, sựhưởng ứng của toàn dân, sự tham gia tích cực của đội ngũ cán bộ làm côngtác dân số, đặc biệt là đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD ở cơ sở, CTV tronglĩnh vực Dân số
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác DS- KHHGĐ cả nướcnói chung và Nghệ An nói riêng đang đối mặt với nhiều thách thức cả về quy
mô, cơ cấu, chất lượng dân số và phân bố dân cư, tác động trực tiếp đến sựphát triển bền vững của đất nước, địa phương Nghệ An là tỉnh có quy mô dân
Trang 11số lớn (thứ 4 cả nước) và đang có xu hướng tiếp tục tăng trong khi cả nước đãđạt mức sinh thay thế Mức sinh giảm nhưng chưa vững chắc và còn cao, hiệnnay Nghệ An thuộc nhóm 10 tỉnh có mức sinh cao nhất cả nước Một số vấn
đề mới xuất hiện như mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh đã ở mức báođộng, nếu không có giải pháp tích cực, sự mất cân bằng giới tính khi sinh sẽđem lại những hệ lụy nặng nề, tác động xấu đến trật tự, an ninh xã hội Cơ cấudân số đang có những biến đổi quan trọng, chuyển từ "cơ cấu dân số trẻ" sang
"cơ cấu dân số vàng" và xuất hiện "già hoá dân số" Chất lượng dân số mặc
dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn hạn chế, đang là vấn đề hết sức đượcquan tâm, nhất là xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của sựnghiệp CNH-HĐH đất nước.[11]
Để thực hiện thắng lợi mục tiêu Chiến lược Dân số - SKSS giai đoạn
2011 - 2020, góp phần thực hiện thành công các chỉ tiêu, mục tiêu của Nghịquyết Đại hội Đảng nhiệm kỳ 2011- 2015; Chiến lược phát triển KT –XH đấtnước và của tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011 - 2020; đặc biệt là chủ động vớinhững thách thức mới đang đặt ra cho công tác dân số; đòi hòi phải có cácgiải pháp đồng bộ và thực thi có hiệu quả Một trong những giải pháp quantrọng hàng đầu trong công tác Dân số đó là tăng cường công tác TTGD về DS-KHHGĐ cho các tầng lớp nhân dân; trong đó chú trọng công tác xây dựng,củng cố và phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về dân số đủmạnh cả về số lượng và chất lượng, phát huy năng lực để thực hiện tốt nhiệm
vụ được giao Bởi vì đây là lực lượng có vai trò rất quan trọng trong công tác
DS, là lực lượng trực tiếp tuyên truyền, giáo dục, vận động người dân thựchiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tácDân số
Thực hiện chủ trương sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ, chứcnăng, nhiệm vụ Dân số - KHHGĐ chuyển về Bộ Y tế nhằm thực hiện hiệu
Trang 12quả hơn công tác Dân số trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, gắn kếtcông tác Dân số và huy động sự tham gia của toàn ngành y tế trong triển khaiviệc đảm bảo quy mô dân số hợp lý, cơ cấu dân số phù hợp và nâng cao chấtlượng dân số.
Ngày 29/1/2008, Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2008/QĐ-TTgcủa Thủ tướng chính phủ về việc Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Tổng cục DS- KHHGĐ thuộc Bộ Y tế [35]
Ngày 25/4/2008, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch
số 03/2008/TTLT-BYT-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộmáy cơ quan y tế, trong đó có tổ chức DS-KHHGĐ cấp tỉnh, cấp huyện theoNghị định số 13/2008/NĐ-CP và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ban hànhngày 2/4/2008 về cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấphuyện [27]
Ngày 14/5/2008, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 05/2008/TT-BYThướng dẫn chi tiết chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Chi cục DS-KHHGĐ thuộc Sở Y tế, Trung tâm DS-KHHGĐ cấp huyện, cán bộ TTGD về
DS là cán bộ sự nghiệp tại Trạm y tế xã và CTV DS-KHHGĐ thôn, bản [28]
Theo đó, ngày 29/7/2008, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An ban hànhQuyết định số 38/2008/QĐ-UBND quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế của Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An,trong đó nêu rõ: “Vị trí, chức năng của cán bộ chuyên trách DS xã: là viênchức y tế” [ 51]
Tuy nhiên, đến nay đã hơn 4 năm nhưng đội ngũ CBCT dân số nhữngngười trực tiếp làm công tác TTGD ở cơ sở vẫn chưa được tuyển dụng thànhviên chức y tế
Chính vì thay đổi cơ cấu bộ máy tổ chức, nơi làm việc chưa ổn định và
có nhiều khó khăn, dẫn đến đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD dân số ở cơ
Trang 13sở thiếu ổn định, đội ngũ cán bộ TTGD cũ một số chuyển công tác, một sốphải thay thế do không còn đủ tiêu chuẩn (trình độ, độ tuổi, ) thay vào đó làđội ngũ cán bộ mới chưa tiếp cận được công việc và chưa được bổ sung các
kỹ năng, kiến thức về công tác TTGD Vấn đề cấp thiết hiện nay ở cấp tỉnh,huyện, xã là cần xác định các vấn đề ưu tiên, trong đó quan tâm ưu tiên làmthế nào để quản lý nâng cao năng lực, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tácTTGD ở cơ sở; ưu tiên công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ TTGD ởđịa phương Trên cơ sở đó có thể xây dựng được một chương trình đào tạo,bồi dưỡng với hệ thống tài liệu phù hợp, đáp ứng được yêu cầu quản lý, đàotạo cán bộ, đảm bảo cung cấp đúng và đủ yêu cầu về kiến thức và kỹ năngcho đội ngũ cán bộ các cấp
Trong quá trình chuyển đổi tổ chức bộ máy làm công tác Dân số,đội ngũ cán bộ TTGD cấp xã được quan tâm đặc biệt vì đây là lực lượngtrực tiếp thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục tới người dân, cấp có
sự biến động nhất
Với mong muốn góp phần lý giải thêm những nguyên nhân dẫn đến
thực trạng trên, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ
cơ sở làm công tác Truyền thông – Giáo dục về Dân số - KHHGĐ tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu Từ đó đề xuất những giải pháp và khuyến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD,nâng cao hiệu quả thực tiễn của TTGD trong công tác Dân số - KHHGĐ
Kết quả nghiên cứu “Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ làm
công tác Truyền thông – Giáo dục về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình” sẽ
đóng góp cơ sở khoa học cho việc kiện toàn mạng lưới CBCT, CTV TTGD
về DS ở cơ sở ổn định và phát triển một cách bền vững, nâng cao hiệu quảtrong tác DS - KHHGĐ nói chung và công tác TTGD nói riêng Từ đó tạo cơ
sở thực tiễn đề xuất cho việc hoàn thiện chính sách của Nhà nước đối với đội
Trang 14ngũ CBCT, CTV làm công tác TTGD ở cơ sở cả nước nói chung và Nghệ Annói riêng.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải phápnhằm phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác Truyền thông – Giáo dụctrong lĩnh vực Dân số - Kế hoạch hoá gia đình, ở tỉnh Nghệ An
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác Truyền thông –Giáo dục về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác Truyềnthông – Giáo dục về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình tỉnh Nghệ An
4 Giả thuyết khoa học
Có thể xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ TTGD ở cơ sở về Dân số đủ
về số lượng, nâng cao chất lượng, yên tâm công tác, nếu đề xuất và thực hiệnđược các giải pháp có tính hệ thống, có cơ sở khoa học và tính khả thi trongthực tiễn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ làmcông tác Truyền thông – Giáo dục ở cơ sở về lĩnh vực Dân số - Kế hoạch hoágia đình
5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ cơ
sở làm công tác TTGD về lĩnh vực DS-KHHGĐ ở tỉnh Nghệ An
5.3 Đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm côngtác Truyền thông – Giáo dục về lĩnh vực Dân số - KHHGĐ ở tỉnh Nghệ An
Trang 156 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng đội ngũ cán bộ đang làm công tác TTGD
về Dân số - KHHGĐ ở cơ sở và thăm dò tính cần thiết, khả thi của các giảipháp đề xuất ở một số huyện, xã tỉnh Nghệ An mang tính đại diện cho cácvùng miền như: Nghĩa Đàn, Tương Dương (miền núi phía Tây), Quỳnh Lưu,Thanh Chương (đồng bằng ), Thành phố Vinh, Cửa Lò (thành, thị)
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận, tham khảo các tài liệu
Bao gồm phân tích, thống kê, so sánh tổng hợp, hệ thống hoá, khái quáthoá các tài liệu, các công trình nghiên cứu, các Quyết định, Chiến lược, Vănkiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước có liên quan đến phát triểnđội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD trong lĩnh vực Dân số - KHHGĐ
7.2 Phương pháp thu thập thông tin
Các số liệu phân tích được sử dụng từ các nguồn thu thập thông tin báocáo tổng hợp của 20 huyện, thành, thị nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Các biểu mẫu tổng hợp về số lượng, thực trạng đội ngũ cán bộ làmcông tác TTGD trong lĩnh vực Dân số - Kế hoạch hoá gia đình
- Các biểu mẫu tổng hợp về thực trạng và nhu cầu đào tạo đội ngũ cán
bộ Truyền thông – Giáo dục trong lĩnh vực Dân số - Kế hoạch hoá gia đình ở
cơ sở
7.3 Phương pháp thảo luận nhóm
- 01 cuộc thảo luận nhóm tại cấp tỉnh, thành phần gồm: Lãnh đạo Sở Y
tế, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Nghiệp vụ y, Trung tâm TTGD SKSS; Chicục Dân số - KHHGĐ, lãnh đạo và cán bộ Phòng TTGD, Phòng Tổ chứcTổng hợp, Lãnh đạo Trung tâm Tư vấn DV DS/SKSS thuộc Chi cục Dân số -KHHGĐ tỉnh
Trang 16- Tại 6 huyện khảo sát có tổ chức 03 cuộc thảo luận nhóm với các thànhphần tham gia như sau: Trưởng ban chỉ đạo công tác DS cấp huyện, phòng Ytế; Trung tâm y tế, lãnh đạo, cán bộ TTGD của Trung tâm DS huyện; trưởngtrạm y tế xã; cán bộ làm công tác TTGD về Dân số một số xã trong huyện
7.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Luận văn còn dựa trên kết quả phỏng vấn sâu trưởng trạm y tế xã, chủtịch hoặc Phó Chủ tịch xã là trưởng ban dân số xã về việc thực hiện nhiệm vụcủa cán bộ TTGD về Dân số xã và CTV dân số; Phỏng vấn lãnh đạo Giámđốc Trung tâm DS-KHHGĐ huyện về tổ chức bộ máy, cơ chế chính sách,công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ đối với đội ngũ cán bộ TTGD D về Dân
- Giáo dục cấp tỉnh, huyện, xã 6 huyện, thành, thị khảo sát;
- Phiếu khảo sát về nhu cầu đào tạo và việc thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của cán bộ, CTV về TTGD về Dân số xã tại 6 huyện, thành, thị khảo sát
7.6 Phương pháp xử lý thông tin thống kê toán học
- Thông tin định lượng thu thập qua phiếu hỏi và biểu mẫu tổng hợp sẽđược phân tích, xử lý bằng phần mềm SPSS
- Thông tin định tính thu thập qua thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu vàghi nhật ký sẽ được tiến hành phân tích, đưa ra các đánh giá để kết hợp vớicác kết quả phân tích định lượng
8 Đóng góp của luận văn
8.1 Về mặt lý luận
Trang 17Phân tích làm rõ cơ sở lý luận của việc phát triển đội ngũ cán bộ cơ
sở làm công tác TTGD về lĩnh vực DS-KHHGĐ như một thiết chế giáodục xã hội với những đặc trưng của nó Tiếp cận lý thuyết quản lý truyềnthông hiện đại vào việc TTGD tại cơ sở trong điều kiện hiện nay, đáp ứngnhu cầu mục tiêu phát triển đội ngũ cán bộ TTGD ở cơ sở về Dân số - Kếhoạch hoá gia đình
8.2 Về mặt thực tiễn
Thực trạng đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD về DS-KHHGĐ tỉnhNghệ An nói chung, các địa bàn nghiên cứu nói riêng như Nghĩa Đàn, TươngDương, Quỳnh Lưu, Thanh Chương, Thành phố Vinh, Thị xã Cửa Lò Trên
cơ sở đó, tổng hợp và đánh giá việc phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm côngtác TTGD về DS-KHHGĐ Đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ làmcông tác TTGD về DS-KHHGĐ tại cơ sở có căn cứ khoa học và khả thi Một
số giải pháp được ứng dụng trong công tác phát triển đội ngũ cán bộ TTGDtrên địa bàn nghiên cứu
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu,Phụ lục nghiên cứu, luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận của vấn đề nghiên cứu
- Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tácTruyền thông – Giáo dục về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình
- Chương 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làmcông tác Truyền thông – Giáo dục về lĩnh vực DS-KHHGĐ, tỉnh Nghệ An
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Thế kỷ XX được gọi là thế kỷ của "Bùng nổ dân số" Dân số thế giớităng trưởng ngày một nhanh, nhân loại đã chứng kiến dân số tăng phi mã từ1,65 tỷ người vào đầu thế kỷ lên 6,06 tỷ người vào năm 2000, tăng 3,7 lầntrong vòng 100 năm Trong khi đó, vào thế kỷ XIX, dân số thế giới chỉ tăng1,7 lần, từ gần 1 tỷ người lên 1,65 tỷ người cũng trong cùng khoảng thời gian
100 năm Tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm ngày một tăng lên: khoảng 1,78%vào giai đoạn 1950-1955, khoảng 2,04% vào giai đoạn từ 1965 - 1970,khoảng 1,57% vào giai đoạn 1990 -1995 và hiện nay là 1,3%.[76;16]
Thực tế, trên thế giới đã có sự bùng nổ dân số Năm 1950 đã lên tới 3 tỷngười và vào ngày 11/7/1987, em bé người Nam Tư là công dân thứ 5 tỷ củaTrái đất Liên hợp quốc cũng như các quốc gia khác trên thế giới đã tiến hànhcác cuộc vận động TTGD để hạn chế sinh đẻ, bởi vì cần phải xuất phát từchính sách dân số thì cuộc vận động KHHGĐ mới hiệu quả Năm 2000, dân
số thế giới là 6 tỷ người Năm 2011, dân số thế giới đã là 7 tỷ người và dựkiến năm 2050 dân số sẽ là 9 tỷ 300 triệu người.[16]
Ngày nay, các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo và quản lý của nhiều quốcgia trên thế giới ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, gia tăng dân số quá nhanh
sẽ tác động tiêu cực đến quá trình phát triển của từng quốc gia và toàn thếgiới Gia tăng dân số nhanh làm căng thẳng thêm các vấn đề mang tính toàncầu như: cạn kiệt nguồn tài nguyên, suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu,quá tải dân cư… Chính những hiện tượng này cùng với nhu cầu sống cơ bản
Trang 19của người dân không được đáp ứng đầy đủ như lương thực, thực phẩm, chămsóc sức khỏe, giáo dục… sẽ là những yếu tố cản trở những nỗ lực nhằm nângcao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng cuộc sống của mỗi người dân, củacộng đồng và toàn xã hội
Nhiều nước đã và đang mong muốn kiểm soát sự gia tăng dân số hợp lýnhằm tăng các nguồn lực đầu tư phát triển dài hạn, đáp ứng nhu cầu sống tốthơn cho mọi người dân Trong mấy thập kỷ qua, mối quan hệ giữa dân số vàkinh tế xã hội từng bước được đề cập Đầu tiên là tại Hội nghị Quốc tế về Dân
số lần thứ nhất được tổ chức tại Roma (Italia) vào năm 1954; lần thứ 2 năm
1965 tại Beograt (Nam Tư cũ), lần thứ 3 năm 1973 tại Bucharest (Romania),lần thứ 4 năm 1984 tại Mexico và Hội nghị Dân số và Phát triển năm 1994 tạiCairo – Ai Cập, cho đến Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hiệp quốc vào tháng
9 năm 2000 với Tuyên bố Thiên niên kỷ của 149 nguyên thủ quốc gia và đạidiện 180 nước tham gia đã ngày càng thống nhất hơn về nhận thức, phươngpháp giải quyết vấn đề dân số và phát triển.[16; 10]
Tại hội nghị Cairo, với 180 nước tham gia đã đạt được sự thống nhất caotrong việc đề ra Chiến lược mới, nhấn mạnh mối liên hệ tổng thể giữa dân số
và phát triển Hội nghị đã khẳng định con người là trung tâm của sự phát triểnbền vững, vì con người là nguồn lực quan trọng nhất, có giá trị nhất của mọidân tộc Để đạt được phát triển bền vững, các nước cần giảm bớt và loại trừnhững mô hình sản xuất, tiêu dùng thiếu bền vững, tăng cường các chính sáchliên quan đến dân số [21, 10]
Tháng 5 năm 2011, Hội nghị Ủy ban về Dân số và phát triển LHQ đã tổchức phiên họp 44 tại New York với sự tham dự trên 200 nước Hội nghị đãthảo luận và thống nhất những vấn đề về dân số và phát triển là những nộidung cực kỳ quan trọng và cấp thiết đối với mỗi quốc gia và toàn thế giới Hội
nghị đã khẳng định: “Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 20của các thế hệ hiện tại và trong tương lai, đảm bảo sự hài hòa giữa các mục tiêu nhân khẩu học với các vấn đề xã hội, kinh tế và môi trường” [22; 10]
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Từ nửa sau thế kỷ XX đến nay, dân số Việt Nam tăng nhanh chẳng hạnnhư giai đoạn 1954-1960: với tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm là 3,93%; 1960-1970: 3,24%; Năm 1992, nhịp độ tăng dân số của nước ta là 2,26%; năm1997: 1,88% Tốc độ tăng dân số đã giảm từ 2,34% vào năm 1979 xuống còn1,51% vào năm 1999 và 1,21% vào năm 2007 Với tỷ lệ gia tăng dân số quánhanh nói trên, mỗi ngày nước ta có thêm khoảng 3.100 người (tương đươngdân số 1 xã nhỏ), mỗi tháng thêm khoảng 97.000 người (khoảng 1 huyện) vàmỗi năm thêm khoảng 1,1 triệu người (khoảng 1 tỉnh trung bình)
Quy mô dân số lớn vẫn tiếp tục gia tăng về số lượng tuyệt đối, song tốc độgia tăng có xu hướng giảm Theo số liệu Tổng điều tra dân số ngày 01/4/1989,nước ta có 64.412.000 người; Đến Tổng điều tra DS và nhà ở ngày 01/4/2009dân số nước ta là 85.789.573 người
Năm 1960, với dân số 30,2 triệu người, tỷ lệ tăng dân số thời điểm nàyrất cao 3,8%/năm, tổng tỷ suất sinh là khoảng 6,3 con Điều này ảnh hưởnglớn tới sự phát triển KT- XH của nước ta Chính vì vậy, ngày 26/12/1961, Hộiđồng Chính phủ đã ra Quyết định 216-CP về sinh đẻ có hướng dẫn Đây làQuyết định có dấu mốc lịch sử quan trọng của Việt Nam về công tác dân số.Theo đó, cuộc vận động SĐKH được phát động với mục tiêu “Vì sức khỏecủa người mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận của gia đình, vì để cho việc nuôidạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân phải được hướng dẫnmột cách thích hợp” [25; 9]
Các kỳ Đại hội Đảng lần thứ IV,V và VI luôn xác định công tác KHHGĐ là những chỉ tiêu quan trọng trong phát triển đất nước, hàng loạtchính sách dân số đã dược ban hành Đại hội Đảng lần thứ VII đã xác định vị
Trang 21DS-trí, vai trò và yêu cầu đối với công tác DS là “Giảm tốc độ tăng dân số là mộtquốc sách, phải trở thành cuộc vận động rộng lớn, mạnh mẽ và sâu sắc trongtoàn dân”.
Ngày 14/01/1993, Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa VII) đã ban hành nghị quyết về chính sách DS-KHHGĐ Đây là lần đầutiên Đảng ta tổ chức một hội nghị bàn về vấn đề dân số Tại Hội nghị này
Đảng đã khẳng định "Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những
nguyên nhân quan trọng làm cản trở tốc độ phát triển kinh tế xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về mặt trí tuệ, văn hóa và thể lực giống nòi Nếu xu hướng này cứ tiếp tục diễn ra thì trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt” Sự gia tăng dân số quá nhanh đã tạo
nên sức ép rất lớn đối với việc phát triển KT-XH của đất nước, giảm chất
lượng cuộc sống của từng thành viên trong xã hội Nghị quyết đã chỉ rõ:
"Công tác Dân số - Kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề KT-XH hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội" Nghị quyết này cho đến nay vẫn còn
nguyên giá trị
Đến Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996, công tác DS –KHHGĐ
được định hướng “Kiện toàn hệ thống tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ.
Phát triển mạng lưới dịch vụ KHHGĐ đến tận cơ sở, nhất là nông thôn, miền núi” [55; 9]
Bộ Chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày22/3/2005 về việc “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách DS-KHHGĐ”.Ngày 01/4/2009, Bộ Chính trị (khóa X) ban hành Kết luận số 44KL/TW, Kếtluận đã nhấn mạnh “Những thành tựu của công tác DS đã góp phần tích cực
Trang 22vào sự phát triển KT-XH của đất nước, nhất là đóng góp vào công cuộc xóađói, giảm nghèo, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo của nhândân” [23; 10]
Để thể chế hóa về mặt Nhà nước đối với chính sách DS-KHHGĐ, Chínhphủ đã ban hành: Quyết định số 315- CT ngày 24/8/1992 của Thủ tướng Chínhphủ về Chiến lược truyền thông DS-KHHGĐ; Quyết định 270 ngày 03/6/1993của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt “Chiến lược DS-KHHGĐ đến năm2000”; Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 -2010 với mục tiêu chủyếu là khống chế tốc độ gia tăng dân số, từng bước nâng cao chất lượng dân
số [24; 10]
Quyết định số 3526/2004/QĐ-BYT ngày 06/10/2004 của Bộ trưởng Bộ
Y tế phê duyệt Chương trình hành động TTGD về CSSK và KHHGĐ giaiđoạn 2005 - 2010 [6] Do vậy, việc triển khai Chương trình được thực hiệnnguyên tắc quản lí theo cấp và các hoạt động thực hiện đạt các mục tiêu củaChương trình đề ra:
- Làm cho tổ chức Đảng và chính quyền các cấp và mọi người dân hiểubiết các chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ;
- Nâng cao nhận thức của người dân để họ tự thay đổi hành vi không cólợi cho sức khoẻ bằng hành vi có lợi cho sức khoẻ, chủ động phòng chốngdịch bệnh, tự bảo vệ sức khoẻ cho bản thân và tích cực tham gia công tácchăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng;
- Đẩy mạnh xã hội hoá và đa dạng hoá công tác TTGD, tạo môi trườngthuận lợi để người dân tự chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ
- Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD ;
- Đảm bảo tài chính, cơ sở làm việc và trang thiết bị cho hoạt độngtruyền thông GDSK từ Trung ương đến cơ sở
Trang 23Chiến lược TTGD chuyển đổi hành vi về DS - KHHGĐ giai đoạn
2005-2010 do Chính phủ ban hành đã nhấn mạnh "Cần phải phát triển đội ngũ cán
bộ làm công tác TTGD lĩnh vực DS tại cơ sở phải được chú trọng quan tâm, đào tạo hàng năm nâng cao chất lượng chuyên môn" Với phương thức hoạt
động “đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng đối tượng” để tuyên truyền vận động,cung cấp các PTTT, đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ xã và CTV ở thôn, bản thực
sự là lực lượng nòng cốt, quyết định thành công của chương trình KHHGĐ [62; 9]
DS-Năm 2009, dân số Việt Nam đã đạt gần 85,9 triệu người là nước đôngdân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong các nước thuộc khu vực Đông Nam
Á Theo báo cáo tình hình Dân số Thế giới 2010 của Liên hợp quốc, dân sốViệt Nam là 89 triệu người và sẽ tăng lên 111,7 triệu người vào năm 2050.[48]
Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14 tháng 11 năm 2011 của Thủtướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược DS-SKSS Việt Nam giai đoạn2011-2020 với một trong những nội dung chính là nhấn mạnh chú trọng pháttriển, đào tạo về kiến thức, kỹ năng truyền thông DS và SKSS cho các cán
bộ làm công tác TTGD ở các cấp, cán bộ y tế tham gia trực tiếp trong lĩnhvực cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS để nâng cao chất lượng truyền thông
và chất lượng dịch vụ hướng tới khách hàng, thoả mãn nhu cầu dịch vụCSSKSS cho mọi nhóm đối tượng Chiến lược cũng đánh giá những nguyênnhân dẫn đến tồn tại hạn chế trong công tác DS-KHHGĐ giai đoạn 2001 -
2010 Một trong những nguyên nhân đó là: Do có sự thay đổi của tổ chức bộmáy dẫn đến sự thiếu ổn định, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở, tình trạng thiếucán bộ, nhất là cán bộ đã được đào tạo, có kinh nghiệm làm công tác DS-KHHGĐ còn tương đối phổ biến, chế độ đãi ngộ cho cán bộ còn chưa phùhợp [30, 42]
Trang 24Giải quyết tốt các vấn đề dân số là một trong giải pháp cơ bản để đạttới mục tiêu phát triển bền vững Đó là quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta trong 50 năm thực hiện công tác DS và cũng được khẳng định trong vănkiện Đại hội Đảng lần thứ XI: “Con người là trung tâm của chiến lượcphát triển, đồng thời là chủ thể phát triển…” Chiến lược đến năm 2020:Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, để tạo nguồn lực chophát triển bền vững” [85; 9]
1.1.3 Nghiên cứu ở tỉnh Nghệ An
Cũng như nhiều địa phương khác, 50 năm qua, mặc dù gặp nhiều khókhăn trong quá trình triển khai chương trình DS- KHHGĐ; là tỉnh có quy môdân số lớn, cơ cấu dân số trẻ, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ được bổ sungngày càng nhiều; tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên đang ở mức cao.Bên cạnh đó Nghệ An là tỉnh có diện tích nhất cả nước, địa hình phức tạp,mức sống của người dân, nhất là ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa còn thấp,nhiều quan niệm tập tục lạc hậu về sinh đẻ vẫn còn nặng nề trong một bộphận nhân dân; Với quan điểm dân số là yếu tố phát triển đất nước, cùng vớiphát triển kinh tế, Nghệ An đã tập trung mọi nỗ lực, từng bước khắc phục khókhăn đưa công tác Dân số - KHHGĐ tỉnh Nghệ An đã đạt được những thànhtựu quan trọng Theo kết quả số liệu báo cáo: Tỷ lệ phát triển dân số giảm từ3,45% (năm 1961) xuống còn 1,14% (năm 2011); Tốc độ tăng quy mô dân sốgiảm từ 1,18% (năm 1961) xuống 0,2% (năm 2010) Số con trung bình củamột phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ từ 6,78% con (năm 1961) xuống còn 2,56con (năm 2010) Đặc biệt nhờ làm tốt công tác TTGD, vận động, nhận thứccủa cán bộ, và nhân dân về vấn đề dân số, CSSKSS, KHHGĐ đã có chuyểnbiến rõ rệt Phong trào nhân dân thực hiện mô hình ít con, khỏe mạnh, bìnhđẳng và tiến bộ đã từng bước phát triển rộng khắp Đặc biệt, nhờ kết quả thựchiện chương trình DS-KHHGĐ mà hàng năm có gần 4 vạn phụ nữ thực hiện
Trang 25KHHGĐ và tránh mang thai sinh đẻ, nghĩa là hàng năm 4 vạn phụ nữ có điềukiện thời gian để học tâp, lao động, công tác, tham gia các hoạt động xã hội,
Tỷ lệ tăng dân số và mức sinh cao từng bước được khống chế; tuổi thọ bìnhquân tăng từ 42,5 tuổi (năm 1961) lên 72,9 tuổi (năm 2010); kết quả giảmsinh trong 50 năm qua đã góp phần quan trọng trong việc xóa đói, giảm nghèo
và cải thiện đời sống nhân dân [21;11]
Thành tựu công tác DS-KHHGĐ những năm qua do nhiều yếu tố hợpthành, bên cạnh vai trò có tính quyết định của các cấp ủy Đảng, không thểkhông nói đến vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thông DS –KHHGĐ ở cơ sở, đó là những cán bộ chuyên trách DS, những CTV; đội ngũnày cần phải được quan tâm đầu tư bố trí, tuyển chọn và sử dụng một cáchphù hợp và thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng Đây là yếu tố tiên quyếtcho sự thành công của công tác DS-KHHGĐ trong thời gian qua
Các chính sách cụ thể được ban hành: Chỉ thị 15-CT ngày 23/10/2003của Ban thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An “về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp
ủy Đảng đối với công tác DS-Gia đình và trẻ em trong tình hình mới”; Nghịquyết 122/205/NQ.HĐND-VX, ngày 17/7/2005 của Hội đồng nhân dân tỉnh(khóa XV) về ban hành một số chế độ chính sách DS-KHHGĐ trên đại bàntỉnh Nghệ An;
Nghị quyết số 20 NQ-TU của BTV Tỉnh uỷ ngày 26/ 6/2009 về tiếp tụcđẩy mạnh công tác Dân số -KHHGĐ trong tình hình mới xác định: phấn đấusớm đạt được mục tiêu ổn định quy mô dân số, đồng thời từng bước nâng caochất lượng dân số để xây dựng nguồn nhân lực góp phần thực hiện thắng lợi
sự nghiệp CNH, HĐH tỉnh nhà [1]
Một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thực hiện Nghịquyết là: Đẩy mạnh công tác TTGD và vận động các tầng lớp nhân dân vềcông tác DS; Củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ và nâng cao hiệu lực
Trang 26quản lý công tác DS/KHHGĐ, trong đó chú trọng nâng cao năng lực cho độingũ cán bộ làm công tác TTGD ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũcán bộ cơ sở học tập, rèn luyện nâng cao kiến thức, kỹ năng để làm tốt côngtác tuyên truyền vận động, giáo dục về DS-KHHGĐ ở cơ sở.
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Cán bộ và đội ngũ cán bộ
Cán bộ: là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản ViệtNam, tổ chức chính trị -xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộctỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sáchNhà nước
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụthường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, đượcxếp ngạch vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước,mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh, tiêuchuẩn riêng và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước [25]
Đội ngũ cán bộ là mạng lưới những người được cơ quan nhà nước
tuyển dụng, được giao nhiệm vụ chuyên trách một lĩnh vực chuyên ngànhtrong hệ thống ban, ngành từ Trung ương đến địa phương có tiêu chuẩn vàchức danh theo ngạch bậc và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước
1.2.2 Phát triển và phát triển đội ngũ cán bộ
Phát triển: Trong Triết học có hai quan điểm đối lập nhau khi đề cập đến
khái niệm phát triển:
+ Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng giảm siêu hìnhthuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất Quan điểm này cũng cho
Trang 27rằng sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục không phải trải qua những bướcquanh co phức tạp.
+ Trái lại theo quan điểm duy vật biện chứng, phát triển dùng để kháiquát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từkém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Quá trình đó vừa diễn ra từ từ, vừa nhảyvọt làm cho sự vật, hiện tượng cũ mất đi phát triển theo chiều xoắn ốc, cáimới sẽ lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn,hoàn thiện hơn
Theo Từ điển Ngôn ngữ, thì phát triển có nghĩa là biến đổi hoặc biến đổi
từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.[54]
Theo David Koten thì phát triển là: “Một tiến trình mà qua đó các thànhviên của xã hội tăng được những khả năng của cá nhân và định chế của mình
để huy động và quản lý các nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền vững
và cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ”
Như vậy, phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động, trong quátrình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới, cao hơn, phứctạp hơn, làm cho tổ chức, cơ cấu, phương thức vận động và chức năng của sựvật ngày càng hoàn thiện hơn
Phát triển đội ngũ cán bộ: Phát triển đội ngũ cán bộ, trước hết là phải tạo
ra một đội ngũ, từ đó phát triển đội ngũ cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu, độtuổi và giới tính
Phát triển đội ngũ cán bộ có thể hiểu là sự tăng lên về số lượng cán bộ,phù hợp với cơ cấu, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trên cơ sở đó tạo ra
sự phân công hợp lý hơn để nâng cao chất lượng công tác
Như vậy, phát triển đội ngũ cán bộ là làm cho đội ngũ cán bộ ngày cànghoàn thiện hơn, phát triển toàn diện hơn về năng lực, chuyên môn, phẩm chất
Trang 28đạo đức theo một định hướng chung đã được xác định, để đáp ứng yêu cầungày càng cao của công tác.
Muốn phát triển đội ngũ cán bộ thì phải tìm ra được những mâu thuẫnhiện tại, khó khăn, hạn chế, để từ đó tìm ra cách thức giải quyết các mâuthuẫn Các mâu thuẫn bao gồm cả bên trong và bên ngoài, khi giải quyết khắcphục được sẽ nâng cao về mặt chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng và đồng bộ
về cơ cấu
1.2.3 Truyền thông – Giáo dục và Truyền thông về DS-KHHGĐ
Truyền thông là một quá trình giao tiếp trao đổi thông tin, tư tưởng, tình
cảm,…chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăngcường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi vàthái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, cộng đồng và
xã hội [7]
Truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bắtbuộc phải có các yếu tố sau: Người truyền, người nhận, thông điệp, kênhtruyền thông, phản hồi, nhiễu Trong quá trình truyền thông, người truyền vàngười nhận có thể đổi chỗ cho nhau, xen vào nhau Về mặt thời gian, ngườitruyền thực hiện hành vi truyền thông trước [ 55]
Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi
gợi và biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của cả người dạy vàngười học theo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách cảthầy và trò bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các yêu cầutồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại [53]
Giáo dục là một quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị những kiến thức và
kỹ năng cần thiết, hoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành vi có lợi Giáodục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều, qua đó người dạy và người học cùngchia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau
Trang 29Truyền thông - Giáo dục là quá trình tác động đến đối tượng giáo dục
thông qua hoạt động truyền thông, bằng sự liên tục trao đổi thông tin, tưtưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều ngườinhằm nâng cao nhận thức, tiến tới điều chỉnh thái độ và hành vi phù hợp vớinhu cầu phát triển của cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội
Truyền thông về DS-KHHGĐ: là một quá trình giao tiếp, chia sẻ, traođổi thông tin từ người truyền đến người nhận, nhằm đạt được sự hiểu biết,nâng cao nhận thức, thái độ và hướng tới chuyển đổi hành vi về DS-KHHGĐ.[7] Đây là một quá trình phức tạp bởi đối tượng truyền thông DS-KHHGĐkhông chỉ là một hành vi sinh học mà còn là một hành vi chịu tác động củacác yếu tố tình cảm, tâm lý, văn hóa, kinh tế, xã hội Mỗi đối tượng, mặc dùcũng có những nét chung, song lại có những đặc điểm riêng biệt Do đó, tìmhiểu và phân tích đối tượng, từ đó hiểu rõ đối tượng, biết họ cần gì, đến với
họ bằng cách nào, ai có thể đến với họ là rất quan trọng và cần thiết trong việctruyền thông
1.2.4 Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
- Dân số là một tập hợp nhiều cá thể con người trong xã hội Dân số là
chủ thể của xã hội nhưng cũng là đối tượng quản lý của xã hội
Dân số là số lượng dân sống trong một đơn vị lãnh thổ nhất định nhưtrong một xóm, bản, xã, huyện, tỉnh hay quốc gia…
Nhân khẩu học hay dân số học là khoa học nghiên cứu các hiện tượng vàquy luật dân số, bao gồm các yếu tố: quy mô, cơ cấu, phân bố, mật độ dân sốcũng như các quá trình sinh, tử, di dân, tăng trưởng dân số trong sự tác độngqua lại với các yếu tố kinh tế, xã hội và văn hóa [7]
Trang 30- Kế hoạch hóa gia đình:
+ Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới thì KHHGĐ bao gồm
những vấn đề thực hiện giúp cho các cá nhân hay các cặp vợ chồng để đạtđược những mục tiêu sau đây:
Tránh những trường hợp có thai và sinh con ngoài ý muốn, dự
định.
Điều hòa khoảng cách giữa các lần sinh
Chủ động thời điểm sinh con cho phù hợp với tuổi của bố, mẹ.Như vậy, KHHGĐ là sự cố gắng có ý thức của các cặp vợ chồngnhằm điều chỉnh số con và khoảng cách giữa các lần sinh KHHGĐ khôngnhững chỉ bao hàm việc lựa chọn sử dụng các BPTT nhằm tránh thaingoài ý muốn mà còn là những cố gắng của các cặp vợ chồng để có thai
và sinh con [128; 42]
+ Theo định nghĩa của Bộ Y tế: Kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực của
Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, quyết định thờigian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe,nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiệnsống của gia đình
Biện pháp KHHGĐ là những thực hành giúp cá nhân hay các cặp vợchồng đạt được các mục tiêu:
- Tránh những trường hợp sinh không mong muốn;
- Quyết định được thời gian và khoảng cách sinh con;
- Sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.Phạm vi của KHHGĐ không đồng nghĩa với kiểm soát và hạn chế sinh
đẻ mà còn bao gồm nội dung điều chỉnh khả năng sinh sản, giải quyết vấn đề
vô sinh đối với các cặp vợ chồng do có những vấn đề thuộc bộ máy và chứcnăng sinh sản [37;7]
Trang 311.2.5 Giải pháp Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Giải pháp” có nghĩa là
cách giải quyết một vấn đề, tìm giải pháp cho từng vấn đề
Nói đến giải pháp là đề cập đến phương pháp giải quyết một vấn đề cụthể nào đó, là cách thức tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống,một quá trình, một trạng thái nhất định, nhằm đạt được mục đích hoạt động.Giải pháp càng thích hợp, càng tối ưu thì những vấn đề đặt ra càng được giảiquyết nhanh chóng Để có giải pháp tốt cần phải xuất phát trên những cơ sở lýluận và thực tiễn tin cậy [ 20]
1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ LÀM CÔNG TÁC TTGD VỀ DS-KHHGĐ TỈNH NGHỆ AN
1.3.1 Sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về lĩnh vực Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Nghệ An
Công tác DS-KHHGĐ luôn được xác định là một bộ phận quan trọngcủa chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề KT–XH hàngđầu của nước ta Thực hiện tốt công tác DS-KHHGĐ là giải pháp cơ bản đểnâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội.Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương,chính sách, luật pháp, chiến lược liên quan đến công tác DS nhằm thúc đẩycông tác DS phát triển trong đó đặc biệt là công tác TTGD về lĩnh vực DS-KHHGĐ ở cơ sở
Để triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước liên quan đến công tác DS-KHHGĐ phải nói đến sự đóng góptích cực của đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD ở cơ sở, đó là nhữngCBCT dân số xã, phường, thị trấn và CTV ở các thôn, xóm, khối, bản trongviệc tuyên truyền vận động cho các tầng lớp nhân dân, nhất là những ngườitrong độ tuổi sinh đẻ về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước về DS-KHHGĐ
Trang 32Phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về lĩnh vực KHHGĐ là một trong những thành tố không thể thiếu trong công tác dân số.
DS-Họ là những người có vai trò rất quan trọng, là mạng lưới phủ kín ở cơ sở,
họ chính là những người trực tiếp tuyên truyền, vận động quần chúng nhândân thực hiện các quy định của pháp luật về dân số đồng thời thống kê sát,đúng tình trạng dân số (sinh, tử, đi, đến,…) trong từng thời điểm cụ thể(hàng tháng, hàng quý) giúp chính quyền các cấp hiểu rõ mức độ tăng dân số
ở các địa phương
Phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD về DS- KHHGĐ được cáccấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm: Nghị quyết số 47 của Bộ Chính trị ghi
rõ: “Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác DS/KHHGĐ
từ trung ương đến cơ sở đủ mạnh để quản lý và tổ chức thực hiện tốt công tác… Đặc biệt quan tâm, củng cố, ổn định, nâng cao năng lực và nhiệt tình cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác DS-KHHGĐ ở xã, phường, thị trấn… Có chính sách khuyến khích thỏa đáng đối với đội ngũ này”.
Mặc dù, cơ chế chính sách đối với đội ngũ cán bộ này trong nhữngnăm qua có sửa đổi, cập nhật nhưng mức độ còn chậm so với sự cống hiếncủa họ Năm 2008, tổ chức bộ máy ngành DS có những thay đổi lớn Việcgiải thể Uỷ ban DS-KHHGĐ, sáp nhập chức năng quản lý nhà nước về DSvào Bộ Y tế đã làm xáo trộn tổ chức bộ máy, nhất là mạng lưới đội ngũ cán
bộ TTGD ở cơ sở
Chính vì vậy, ngày 04/8/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị
số 23/2008/CT-TTg ngày 04/8/2008 về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác KHHGĐ nêu rõ: “Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươngsớm ổn định và kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ở cơ sở” Ở Nghệ An, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ làm
Trang 33DS-công tác truyền thông ở cơ sở cũng được xác định rõ trong Nghị quyết số NQ/TU ngày 26/6/2009 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tiếp tục đẩymạnh công tác DS-KHHGĐ trong tình hình mới: “Củng cố, kiện toàn tổ chức
20-bộ máy và cán 20-bộ làm công tác DS-KHHGĐ từ tỉnh đến cơ sở đủ mạnh đểquản lý và tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục và đưa dịch
vụ KHHGĐ đến tận người dân Đặc biệt quan tâm kiện toàn, củng cố, pháttriển và nâng cao năng lực cũng như có chính sách khuyến khích về tinh thần
và vật chất đối với đội ngũ CBCT DS ở các xã, phường, thị trấn và đội ngũCTV DS ở các thôn, xóm, bản, làng”
Chủ trương của Trung ương, tỉnh có từ năm 2008; tuy nhiên đến nayNghệ An vẫn chưa tuyển dụng được đội ngũ cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ở cơ sở thành viên chức y tế ở cấp xã Do thời gian chờ đợi quá lâunên một số người xuất hiện tư tưởng chán nản, thiếu yên tâm, nhiệt tình, tâmhuyết với công tác Trong khi đó có 2/3 số tỉnh, thành trong cả nước đã thựchiện được việc tuyển dụng cán bộ làm công tác DS ở cơ sở vào biên chế Điềunày lại càng tác động vào tâm lý không ổn định, yên tâm làm việc của cán bộ
cơ sở, và đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả công tác DS-KHHGĐ thờigian qua
Để xác định sự cần thiết phát triển đội ngũ cán bộ TTGD ở cơ sở, trướchết cần phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng, nhiệm vụ, nội dung, thực hiện
và phương pháp thực hiện của công tác Truyền thông - Giáo dục
Công tác TTGD về DS được đẩy mạnh, triển khai toàn diện, đồng bộtrên các kênh truyền thông, mở rộng về phạm vi và đối tượng; nâng caomột bước về chất lượng, đổi mới về cách làm đã có tác dụng nâng cao nhậnthức và tạo sự đồng thuận của toàn xã hội về DS , làm tăng số người chấpnhận các dịch vụ KHHGĐ
Trang 34Việc TTGD các vấn đề về DS-KHHGĐ thông qua kênh thông tin đạichúng tác động đến được nhiều đối tượng và có sức lan tỏa cũng như tạo được
dư luận rộng rãi, đã thực sự có chuyển biến cả về số lượng và chất lượng Từchỗ chỉ có vài cơ quan thông tin đại chúng tham gia công tác tuyên truyềnDS-KHHGĐ và tham gia không thường xuyên, đến nay đã có thêm nhiều cơquan thông tin đại chúng tham gia công tác tuyên truyền, giáo dục về DS-KHHGĐ Nội dung DS-KHHGĐ được truyền tải thường xuyên trên Đài Phátthanh Truyền hình Nghệ An, trong các bản tin thời sự, phóng sự, chương trìnhđối thoại trực tiếp; các tờ báo của tỉnh như: Báo Nghệ An mở chuyên mụcDS- KHHGĐ hàng tháng, báo Lao động Nghệ An, các báo Trung ương trênđịa bàn như Báo GĐ-XH, Báo Sức khỏe- đời sống; các tập san, tạp chíchuyên ngành, các ngành; đài truyền thanh của hầu hết các huyện, cácxã/phường Nội dung và hình thức tuyên truyền cũng phong phú và sinh độnghơn, phù hợp với nhiều đối tượng khác nhau Các chủ trương của Đảng, chínhsách và pháp luật của Nhà nước về DS được tuyên truyền kịp thời hơn,thường xuyên đăng tải các thông tin về DS, nêu gương người tốt, việc tốt, cácđiển hình tiên tiến và phê phán yếu kém, các vi phạm về DS-KHHGĐ đã thuhút được sự chú ý và tạo được dư luận xã hội quan tâm
Các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội tham gia tích cực tuyên truyền, vậnđộng về DS-KHHGĐ, tạo thành sự đồng bộ trong hoạt động truyền thông trênmọi địa bàn dân cư và trong mọi thời gian Ngoài lực lượng cán bộ Y tế, Phụ
nữ, Thanh niên, Công đoàn vốn đã có bề dày trong công tác này, đã có thêmnhững lực lượng mới tham gia và tham gia ngày càng tích cực, hiệu quả vào
việc tuyên truyền vận động về DS-KHHGĐ Bên cạnh đó còn có đội ngũ báo
cáo viên của Đảng bộ các cấp, các đội tuyên truyền lưu động của các huyện,
lực lượng của các ngành (Bộ đội, Nội vụ, Giáo dục và Đào tạo ), các đoàn
Trang 35thể và tổ chức xã hội (Cựu chiến binh, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, HộiNgười cao tuổi ), tác động đến các đối tượng khác nhau.
Đặc biệt là với việc phủ kín mạng lưới đội ngũ cán bộ TTGD trong lĩnhvực DS-KHHGĐ ở cơ sở đã góp phần tạo nên thành công trong công tácTTGD về DS- KHHGĐ Mạng lưới này bao gồm CBCT và CTV đến 100%
số xã, phường trên toàn tỉnh, được đào tạo, tập huấn và trang bị các tài liệu,thiết bị truyền thông thích hợp, đã thực hiện được việc tuyên truyền, vận độngtrực tiếp, thường xuyên đến từng đối tượng ở thôn xóm, thúc đẩy mạnh việcchấp nhận quy mô gia đình ít con và thực hiện KHHGĐ và chăm sóc sứckhỏe sinh sản
Cũng trong thời gian qua, công tác TTGD về DS-KHHGĐ được tăngcường thông qua việc đầu tư, nâng cao chất lượng chương trình DS-KHHGĐ trên các phương tiện thông tin đại chúng, kịp thời phản ánh cácchủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vềDS-KHHGĐ Nhiều mô hình truyền thông dân số đã được xây dựng vàtriển khai nhằm phát huy thế mạnh của từng ban, ngành, đoàn thể và đápứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng ở từng vùng, khu vực Các mô hìnhtruyền thông dân số không những tạo điều kiện cho các đối tượng thamgia mà còn có tác dụng lôi kéo đối tượng cùng hoà nhập với cộng đồng xãhội thông qua việc lồng ghép dân số với các chương trình KT-XH, như
mô hình truyền thông, lồng ghép với việc đưa dịch vụ CSSKSS/ KHHGĐđến vùng sâu,khó khăn, vùng có mức sinh cao; Câu lạc bộ : không cóngười sinh con thứ 3;ông ngoại, bà ngoại; các mô hình: Nam nông dân,Nam giới biển,…
Các sản phẩm, tài liệu truyền thông (tờ rơi, tờ gấp, tranh lật,…) có hìnhthức phong phú và chất lượng được sản xuất và cung cấp trực tiếp cho đốitượng, các hộ gia đình và luôn sẵn có tại các điểm tuyên truyền và tư vấn số
Trang 36lượng ngày càng lớn hơn, kịp thời hơn, hấp dẫn hơn Hệ thống pa-nô, áp phích,khẩu hiệu về DS-KHHGĐ được dựng lên ở khắp các trục giao thông, ở nhữngnơi công cộng, tập trung dân cư, ở nhiều thôn, xóm
Chương trình TTGD dân số đã được triển khai trong hệ thống nhàtrường phổ thông các cấp, các trường giáo dục chuyên nghiệp thông quachương trình chính khóa, ngoại khóa; Trường Chính trị tỉnh và trung tâm bồidưỡng chính trị của 20 huyện, thành thị; trong chương trình tập huấn bồi dưỡngcủa các đoàn thể xã hội Trong các lực lượng vũ trang, nội dung giáo dục DS-KHHGĐ cũng được đưa vào chương trình huấn luyện chiến sĩ mới Việc triểnkhai chương trình giáo dục dân số có tác dụng cung cấp kiến thức làm nềntảng để hình thành thái độ chấp nhận quy mô gia đình nhỏ như một chuẩnmực xã hội ở thế hệ trẻ
Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam là tuyên truyền, giáo dục,vận động để người dân tự nguyện thực hiện KHHGĐ, coi đây là cuộc vận động
lớn đối với mọi người dân, mọi cá nhân, mọi tầng lớp xã hội trên phạm vi cả
nước Để thực hiện được nhiệm vụ này, tổ chức bộ máy chuyên trách làm côngtác TTGD về DS-KHHGĐ được hình thành từ trung ương, tỉnh, huyện đến xã.Đặc biệt, ở Nghệ An, đội ngũ này (đông thứ 3 cả nước), được trải khắp 480 xãphường và 5998 thôn, bản với 480 CBCT làm công tác TTGD cấp xã và 6517CTV ở thôn, xóm, khối bản, là những người tình nguyện tham gia công tác DS-KHHGĐ, tuyên truyền, thuyết phục, vận động người dân thực hiện chính sáchDS-KHHGĐ
Công tác TTGD trong lĩnh vực DS được đẩy mạnh, toàn diện và đồng
bộ, tăng cường ở cả ba mũi nhọn, bao gồm tuyên truyền vận động chính sách;truyền thông chuyển đổi hành vi và truyền thông huy động cộng đồng ở cáccấp, tạo nên sự đồng thuận của toàn xã hội Các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức
xã hội như Hội Liên hiệp phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Đoàn TN,
Trang 37Liên đoàn Lao động, Công an, Sở Giáo dục Đào tạo, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy,v.v… tham gia tuyên truyền, vận động về DS, tạo thành sự đồng bộ trong hoạtđộng truyền thông trên mọi địa bàn dân cư và trong mọi thời gian, thông qua
ký kết trách nhiệm phối hợp hàng năm với Chi cục Dân số Nghệ An
Chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụCSSKSS/KHHGĐ được tổ chức nhiều đợt hàng năm (trung bình mỗi nămtriển khai từ 250 đến 300 xã) tại các địa bàn đông dân, có mức sinh cao vàvùng khó khăn, thu hút sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền
và sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, sự hưởng ứngcủa đông đảo nhân dân địa phương Kết quả của các đợt chiến dịch đã đạt 50 -70% chỉ tiêu hàng năm về số người mới áp dụng BPTT hiện đại, tác độngkhông nhỏ tới việc giảm mức sinh
Truyền thông trực tiếp tại cộng đồng được đổi mới theo hướng tiếp cậnchuyển đổi hành vi về SKSS dưới nhiều hình thức, đem lại hiệu quả thiết thực.Hàng năm duy trì hoạt động thường xuyên của gần 400 câu lạc bộ tại cơ sở, míttinh, nói chuyện chuyên đề, tuyên truyền lưu động, biểu diễn văn nghệ
Mặt khác, hiện nay công tác DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An đang phải đốimặt với rất nhiều thách thức: Quy mô dân số lớn, tính đến thời điểm 1/4/2009,theo kết quả Tổng điều tra dân số: dân số Nghệ An có 2.913.055 người, mật
độ dân số cao: 178 người/km2 (đứng thứ 7 cả nước); mức sinh cao thuộcnhóm 10 tỉnh có mức sinh cao nhất Từ năm 2011 đến nay, tỷ lệ sinh con thứ
3 trở lên lại có xu hướng tăng trở lại; Vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh
đã ở mức báo động Xuất hiện vấn đề già hóa dân số; Chất lượng dân số tuy
đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp và chưa đáp ứng được mục tiêu xâydựng nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp phát triển KT-XH của tỉnh nhà [11]Tóm lại, phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD ở cơ sở là mộttrong những nội dung quyết định sự thành công của công tác DS-KHHGĐ và
Trang 38là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu để thực hiện mục tiêu giảm sinh, tiến tới ổnđịnh quy mô dân số, cơ cấu dân số ở mức hợp lý, nâng cao chất lượng dân số,tiến tới đạt mức sinh thay thế Bên cạnh đó, phát triển đội ngũ cán bộ làmcông tác TTGD ở cơ sở cũng góp phần làm cho mọi người và toàn xã hộinhận thức rõ về quy mô gia đình có 1-2 con được chấp nhận rộng rãi, nângcao chất lượng dân số, góp phần phát triển kinh tế, xã hội ở cơ sở cũng nhưcủa tỉnh Nghệ An.
1.3.2 Những yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD
về DS-KHHGĐ
Công tác TTGD về DS-KHHGĐ là một lĩnh vực đòi hỏi người cán bộlàm công tác này phải có tri thức tổng hợp, liên ngành Vì thế, bên cạnh sựnhiệt tình, trách nhiệm, tâm huyết và chủ động trong công việc của đội ngũcán bộ làm công tác TTGD ở cơ sở, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cótính chuyên nghiệp: có trình độ chuyên môn, năng lực, kỹ năng tuyên truyềnvận động, phẩm chất đạo đức, có tính kỷ luật là một trong những vấn đề đượcquan tâm của đội ngũ cán bộ làm công tác TTGD ở cơ sở Vấn đề đạo đức củađội ngũ cán bộ là vấn đề có tính quyết định nâng cao chất lượng thực thi luậtpháp và hiệu quả của bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị
Trong xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ hiện nay, đội ngũ cán bộlàm công tác TTGD ở cơ sở cần phải đặc biệt quan tâm đến các quy định vềtiêu chuẩn phẩm chất, đạo đức cán bộ Khi toàn Đảng đang thực hiện cuộc
vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", mỗi cán
bộ đều phải tự giác soi mình vào tấm gương đạo đức của Người để tu dưỡng,phấn đấu trở thành người cán bộ gương mẫu
Công tác đào tạo và nghiên cứu được chú trọng nhằm trang bị kiến thức
và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về KHHGĐ, đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn trong các hoạt động quản lý và
Trang 39DS-tổ chức thực hiện công tác DS-KHHGĐ Từ cuối năm 2000 đến năm 2011,ngành DS-KHHGĐ tỉnh Nghệ An đã cử 53 cán bộ tham gia khóa đào tạo về
DS lớp cơ bản (chương trình 2 -3 tháng) do Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng cán
bộ công chức của Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ trước kia nay là Trung tâmĐào tạo, Bồi dưỡng cán bộ Dân số - Y tế, Bộ Y tế đã phối hợp với Trung tâmDân số (nay là Viện Dân số và Các vấn đề xã hội) thuộc Trường Đại học Kinh
tế Quốc dân Hà Nội và Trung tâm Dân số thuộc Trường Đại học Kinh tế thànhphố Hồ Chí Minh (nay là Viện Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực) tổ chức.Ngoài ra, đội ngũ cán bộ DS-KHHGĐ từ cấp tỉnh, huyện còn được tập huấnchuyên sâu theo từng lĩnh vực chuyên môn, đào tạo nâng cao năng lực thôngqua các chương trình đào tạo, đào tạo lại, đào tạo theo nhu cầu, đào tạo theo tínchỉ Việc tập huấn đối với CBCT cấp xã và cộng tác viên DS-KHHGĐ ở thôn,bản được Trung ương phân cấp cho Chi cục DS-KHHGĐ cấp tỉnh Do vậy,hàng năm Chi cục DS-KHHGĐ đều tổ chức chương trình tập huấn cho các đốitượng cán bộ chuyên trách: lớp nâng cao, lớp cơ bản (cho cán bộ mới thay thế),
tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề, nhất là kỹ năng tổ chức các hoạt độngtruyền thông vận động; kỹ năng giám sát; nâng cao kiến thức; kỹ năng quản lý
và tổ chức thực hiện công tác DS-KHHGĐ ở cơ sở Phân cấp tập huấn CTV
DS cho cấp huyện Bình quân mỗi năm tổ chức tập huấn 20 lớp cho cán bộchuyên trách cơ sở, với khoảng hơn 600 lượt cán bộ tham gia
Nhằm đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc tổ chức thực hiệncác hoạt động và quản lý chương trình DS-KHHGĐ, công tác nghiên cứukhoa học được tăng cường với các đề tài, đề án nghiên cứu cấp tỉnh, cấphuyện Từ năm 2009 đến này, có 7 đề án cấp tỉnh được bảo vệ và được Ủyban nhân dân tỉnh phê duyệt cho triển khai trên địa bàn tỉnh nhà; có 23 đề án,
đề tài cấp huyện được áp dụng triển khai thực hiện Mặc dù điều kiện cơ sở
và lực lượng nghiên cứu về DS ở địa phương còn mỏng, nhưng nhiều cuộc
Trang 40khảo sát đã được thực hiện, cung cấp được những luận cứ khoa học cần thiếtcho việc triển khai công tác quản lý, đánh giá thực hiện chương trình, tiếnhành công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền có hiệu quả hơn, thực hiện đadạng hóa các BPTT Nhiều đề án được triển khai và đã góp phần tích cựcvào việc hoạch định và điều chỉnh chính sách DS để phù hợp với tình hìnhphát triển KT-XH của tỉnh nhà và địa phương
1.3.3 Mục đích, nội dung, phương pháp phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về DS - KHHGĐ
- Phát triển đội ngũ cán bộ cơ sở làm công tác TTGD về lĩnh vực KHHGĐ, đó là hình thành và kiện toàn đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đức,
DS-có kiến thức và kỹ năng vững về chuyên môn, DS-có tính kỷ luật và tính tráchnhiệm, tâm huyết, nhiệt tình với công việc
- Mục tiêu của Chiến lược Dân số-SKSS năm 2011 - 2015, công tác đàotạo tập huấn phải được triển khai tại 100% huyện, thành thị, ở các mức độkhác nhau Nội dung đào tạo, tập huấn tập trung vào kiến thức và kỹ năngtruyền thông giáo dục sức khỏe Bên cạnh đó, tổ chức các khóa tập huấn ngắn
và dài ngày về kỹ năng TTGD cho đội ngũ cán bộ chuyên trách từ tỉnh đến cơsở; Phát triển tài liệu Truyền thông - Giáo dục, lập kế hoạch truyền thông
- Tại Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh có Phòng Truyền thông giáo dục,Phòng DS-KHHGĐ đã được cử cán bộ tham gia các khóa giảng viên tuyến
TW, giảng viên tuyến tỉnh, được đào tạo về truyền thông và chú trọng đếnviệc đào tạo đội ngũ giảng viên tuyến huyện để thực hiện tập huấn cho cán bộtuyến dưới Đội ngũ cán bộ làm giảng viên nòng cốt cũng đã được trang bịnhững kiến thức và kỹ năng căn bản về nghiệp vụ TTGD
- Về quản lý và chính sách: Tiếp tục xây dựng và ban hành các văn bản,chính sách để kiện toàn mạng lưới tổ chức và nhân lực, hoàn thiện chức năng,nhiệm vụ, củng cố nâng cao chất lượng đội ngũ CB làm công tác TTGD ở cơ sở