Thu nhập các dữ kiện, các nhận định, các ý kiến của các cấp quản lý giáo dục, quản lý kinh tế, hành chánh, các đối tượng có liên quan đến việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đản
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Chương trình Nghiên cứu tổng thể Giáo dục
vùng Đồng Bằng Sông Cửu long
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH
VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Chương trình Nghiên cứu tổng thể Giáo dục
vùng Đồng Bằng Sông Cửu long
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH
VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Chương trình Nghiên cứu tổng thể Giáo dục vùng Đồng Bằng Sông Cửu long
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH
VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
VIỆN NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHÍA NAM
Thành phố HỒ CHÍ MINH
31.12.1995
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1
I Căn cứ xuất phát của đề tài nghiên cứu 1
II Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 3
III Phương pháp nghiên cứu 3
1 Khảo sát thực tế các địa bàn trong vùng 3
2 Tổng hợp tư liệu, nghiên cứu lý luận làm cơ sở cho nhận định và kết luận những kết quả khảo sát và các kiến nghị đề xuất 3
CHƯƠNG THỨ HAI: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO 4
I Thực trạng việc thực hiện một số chủ trương chính sách đối với ngành mầm non 4
1 Về nội dung đào tạo 4
2 Về mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất, thiết bị: 5
3 Về số lượng các cháu đến trường lớp: 6
4 Về vấn đề đa dạng hóa và xã hội hoá giáo dục mầm non: 7
5 Về đội ngũ cán bộ Quản lý và giáo viên: 8
II Thực trang việc thực hiện một số chủ trương, chính sách đối với các bậc học phổ thông 8
1 Vấn đề xóa mù chữ (XMC) và phổ cập giáo dục tiểu học (PCGDTH): 8
2 Về vấn đề phổ cập trung học cơ sở: 10
3 Về phổ thông trung học và về chủ trương phân luồng giữa các lọai hình phổ thông trung học (chuyên, chọn, thí điểm, phân ban, bình thường) 10
4 Về các nguồn đầu tư và quản lí ngân sách: 11
5 Về sự thiếu hụt số lượng và chất lượng yếu kém của đôi ngũ 12
6 Về tình trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị 13
III Thực trạng việc thực hiện một số chủ trương – chính sách trong ngành giáo dục – đào tạo chuyên nghiệp 13
1 Cơ sở đào tạo (tính đến 31 - 12 - 1994) 13
2 Về chủ trương đa dạng hóa các loại hình trường lớp: 14
Trang 5CHƯƠNG THỨ BA: NHỮNG KIẾN NGHỊ VỀ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO 16
I Các kiến nghị về chủ trương, chính sách đối với ngành giáo dục mầm non 16 1 Đổi với việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục 16
2 Đối với nội dung giáo dục – đào tạo: 17
3 Đối với đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 17
4 Về vấn đề đa dạng hóa các loại hình trường lớp 19
5 Về vấn đề xã hội hóa giáo dục: 19
II Các kiến nghị về chủ trương, chính sách đối với các bậc học phổ thông 20
1 Đối với phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ: 20
2 Đối với bậc THCS và PTTH: 21
3 Đối với các nguồn đầu tư quản lý ngân sách 21
4 Đối với đội ngũ giáo viên phổ thôngi 23
5 Về tình trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị 24
III Những ý kiến đề xuất cho việc dạy – học cũng như động viên khuyến khích cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên dạy vùng dân tộc 24
IV Các kiến nghị về chủ trương, chính sách đối với giáo dục chuyên nghiệp 28 1 Chủ trương cải cách mạng lưới dạy nghề ở ĐBSCL 28
2 Chủ trương phát triển loại hình đào tao nghề ở ĐBSCL: 29
3 Chủ trương về quản lý hệ dạy nghề ở ĐBSCL: 30
4 Chính sách khuyến học: 31
5 Chính sách xây dựng trung tâm dạy nghề ở cấp huyện vùng đồng bằng sông Cửu Long: 32
KẾT LUẬN 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 6CHƯƠNG THỨ NHẤT: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I Căn cứ xuất phát của đề tài nghiên cứu
Quy hoạch tổng thể và những định hướng lớn phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL cho thấy viễn cảnh ĐBSCL sẽ là một trong bốn vùng trọng điểm phát triển của cả nước, là một "cực tăng trưởng" bên cạnh các tam giác phát triển khác
Về tổng thể, ĐBSCL sẽ được thúc đẩy phát triển đồng đều hoặc ưu tiên ở một số khu vực Trong đó tỷ lệ nông nghiệp theo GDP từ 51,5% giảm còn 28%, trong khi giá trị tuyệt đối GDP toàn ngành nông nghiệp sẽ phát triển nhanh: tổng sản lượng lương thực toàn vùng sẽ đạt mức 18 - 19 triệu tấn, gia tăng mạnh mẽ tỷ trọng ngành chăn nuôi để chiếm khoảng 45% thay
vì 22,2% như hiện nay Như vậy, ĐBSCL vẫn là vùng nông nghiệp trọng điểm số 1 của cả nước với trình độ phát triển cao hơn
Cơ cấu GDP các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ sẽ gia tăng mạnh, chiếm 72% vào năm 2010 (hiện nay 48,5%) Công nghiệp và dịch vụ như vậy sẽ vượt lên, tạo ra giá trị GDP, lớn hơn nhiều so với ngành nông nghiệp ĐBSCL sẽ trở thành vùng công nghiệp phát triển với các ngành và lĩnh vực sản xuất được lựa chọn ưu tiên là: công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp luyện kim, cơ khí, kỹ thuật, điện -điện tử, công nghiệp phân bón hóa chất, công nghiệp dệt, da, may, gỗ, giấy , với
13 khu công nghiệp tập trung và đô thị hóa sẽ đạt tỷ lệ 30% toàn vùng vào năm 2010 theo 3 khu vực:
1 - Khu tứ giác trung tâm: TP Cần Thơ - TX Long Xuyên - TX Vĩnh Long - TX -Cao Lãnh
2- Khu hành lang Đông Nam: TP Mỹ Tho - TX Tân An - Thị trấn Thủ Thừa, Bến Lức, Tân Hiệp
3 - Khu hành lang tây Bắc: từ thị xã Rạch Giá tới Hà Tiên
Phấn đấu đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu toàn vùng sẽ đạt 8,6 tỷ USD, GDP đầu người đạt 700 USD/người/năm (hiện nay 200 USD/người/năm) Các ngành dịch vụ, thương mại và cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội sẽ được tăng cường, phát triển với tốc độ nhanh
Trang 7Để phát triển như hoạch định, ĐBSCL không chỉ cần một nguồn đầu tư khổng lồ: 65.000 tỷ đồng cho giai đoạn 1995 - 2000, 278.000 tỷ đồng cho giai đoạn 2001 - 2010 bên cạnh các chính sách và nhiều giải pháp đồng bộ rộng lớn, trong đó việc đầu tư cho giáo dục - đào tạo cần phải được tập trung, đẩy mạnh bằng những chủ trương, chính sách cụ thể ở 2 phía: vi mô và vĩ mô (trung ương và địa phương)
Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (khoá 7) đã ra nghị quyết về công tác giáo dục và đào tạo, đã nêu rõ những quan điểm chỉ đạo: "Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, huy động toàn xã hội thực hiện và phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”(1)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khoá 7 cũng nhấn mạnh:" Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững"(2)
Việc thực hiện những nhiệm vụ lớn của ngành trong 5 năm 1991 - 1995 đã được tổ chức theo kiểu chương trình - mục tiêu nhằm hoàn thành những việc ưu tiên và trọng điểm trong toàn bộ công việc của ngành với 8 chương trình - mục tiêu và việc quy hoạch tổng thể phát triển giáo dục và đào tạo trong quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội Các địa bàn trọng điểm, trong đó có ĐBSCL đã được Bộ giáo dục và đào tạo chủ trì chương trình nghiên cứu để định hướng phát triển trong giai đoạn từ nay đến năm 2000, 2010
ĐBSCL có tiềm năng to lớn nhưng thực trạng kinh tế vùng chậm phát triển vì một trong những nguyên nhân là trình độ dân trí thấp và dân số tăng nhanh là những khó khăn lớn của sự phát triển giáo dục và hiện nay trình độ phát triển giáo dục - đào tạo đang được xem là tương đương với vùng núi tây nguyên.(3)
(1) Trích Nghị quyết của Hội Nghị lần thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa 7) "Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo", tháng 1/1993
Trang 8II Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
1 Khảo sát thực trạng việc thực hiện một số chủ trương, chính sách về phát triển giáo dục - đào tạo được áp dụng tại ĐBSCL
2 Thu nhập các dữ kiện, các nhận định, các ý kiến của các cấp quản lý giáo dục, quản
lý kinh tế, hành chánh, các đối tượng có liên quan đến việc thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước Trung Ương và địa phương, và của ngành Giáo dục - đào tạo trên toàn địa bàn
Từ các dữ kiện thu nhập được sau đợt nghiên cứu giai đoạn I (tháng 4/1995) và giai đoạn II (tháng 11/1995) trên toàn địa bàn (11 tỉnh), chúng tôi tóm tắt những nét khái quát về thực trạng việc thực hiện các chủ trương, chính sách và kiến nghị những giải pháp trước mất
về chủ trương, chính sách và chế độ cụ thể để phát triển ổn định và tăng tốc giáo dục ĐBSCL
III Phương pháp nghiên cứu
1 Khảo sát thực tế các địa bàn trong vùng
1.1 Khảo sát bằng số mẫu biểu thống nhất gồm 10 loại đối với từng tỉnh: An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Minh Hải, Trà Vinh, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang; thu về 386 phiếu ý kiến nhận định về thực trạng việc thực hiện các chủ trương, chinh sách với các kiến nghị cụ thể
1.2 Phỏng vấn trực tiếp, tổ chức hội thảo, và ghi âm các nhận định của 48 cán bộ quản lý giáo dục, về các chủ trương, chính sách cấp vĩ mô và vi mô gồm Ban Giám Đốc Sở, các Trưởng phòng chuyên môn kinh tế; trao đổi với 124 cán bộ quản lý, giáo viên thuộc phòng Giáo dục - đào tạo huyện thị, các trường phổ thông, các trường mầm non và trung tâm dạy nghề; phỏng vấn 27 cán bộ phụ trách Ban Tuyên Giáo, Ban dân tộc, Sở lao động, Thương Binh Xã Hội tỉnh
1.3 Phân tích, xử lý thông tin thu nhận từ Ủy Ban Nhân Dân, Ủy Ban Kế hoạch tỉnh, Ban Tuyên Giáo, Ban Dân Tộc, Sở Lao Động TB - XH, Sở giáo dục và đào tạo
2 Tổng hợp tư liệu, nghiên cứu lý luận làm cơ sở cho nhận định và kết luận những kết quả khảo sát và các kiến nghị đề xuất
Trang 9CHƯƠNG THỨ HAI: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
I Thực trạng việc thực hiện một số chủ trương chính sách đối với ngành mầm non
1 Về nội dung đào tạo
- Đối với chương trình chỉnh lý nhà trẻ, do trình độ giáo viên còn nhiều mặt hạn chế nên hiệu quả đào tạo thấp Nội dung giảng dạy đang là vấn đề gay gắt đối với các địa phương
để có thể áp dụng chính thức từ năm học 1995 -1996 Qua thử nghiệm 76% nhóm trẻ đạt được chương trình, 24% nhóm trẻ thủ nghiệm không đạt yêu cầu
- Đối với chương trình cải cách mẫu giáo 3 độ tuổi áp dụng từ năm học 1994 - 1995, kết quả đào tạo thấp ở các trường học một buổi: một số nội dung bài soạn không cụ thể, đề tài tạo hình cao so với khả năng tiếp thu của trẻ trong độ tuổi
- Đối với chương trình 26 tuần dành cho các cháu ở vùng sâu, vùng xa và chương trình 36 buổi đã được thực hiện có hiệu quả
- Các tỉnh, thành thực hiện nghiêm chế độ thanh tra, kiểm tra theo quyết định số 478 của Bộ ngày 11/3/1993 và tập trung chỉ đạo các trường trọng điểm, trung tâm chất lượng cao theo quyết định 1363 của Bộ ngày 31/5/1994
Tuy có nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị và còn những hạn chế về chất lượng của đội ngũ nhưng các trường, lớp đều bám sát chương trình hướng dẫn, biết lựa chọn phương pháp luyện tập cho trẻ theo từng bộ môn và nâng cao yêu cầu từ thấp đến cao Kết quả kiểm tra trên trẻ đạt yêu cầu cao
Việc thực hiện 3 chuyên đề trọng điểm:
- Về chuyên đề vệ sinh: từ năm học 1993 - 1994 các tỉnh, thành đã xây mới và cải tạo được 25% số công trình vệ sinh trên số nhóm, lớp nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt cho trẻ chỉ đạt được ở các trường, lớp tập trung
- Về chuyên đề làm quen chữ cái: kết quả khảo sát cho thấy 80% trẻ ở lớp 5 tuổi đạt được yêu cầu của chuyên đề này: Cháu nhận được các chữ cái và biết chơi trò chơi, biết tập
tô màu với các chữ cái, nhưng mặt hạn chế còn nhiều
Trang 10giáo viên thực hiện kế hoạch và hướng dẫn giờ chơi chưa đạt, trẻ chưa biết liên kết các chữ cái với nhau
- Về chuyên đề âm nhạc: Ngành học chưa trang bị được nhạc cụ để dạy và học (80%
số lớp) Hầu hết các giáo viên đều chưa biết sử dụng nhạc cụ thiếu kiến thức nhạc lý cơ bản khả năng âm nhạc kém nên tiết dạy thiếu sinh động, đa dạng
2 Về mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất, thiết bị:
Việc tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị cho giáo dục mầm non từ năm học 1993 -
1994 đến nay được đẩy mạnh Nhưng nhìn chung các tỉnh chưa thực hiện thu và sử dụng hợp
lý theo thông tư 14 -TT/LB ngày 4/9/1993 Ở mỗi tỉnh, chỉ có Trường do UNICEF viện trợ là được xây dựng theo đúng tiêu chuẩn Các trường ở thị xã, thị trấn thuộc dạng kiên cố, bán kiên cố (tỷ lệ 87%) nhưng hầu hết các Thông học đều không đạt chuẩn ở vùng nông thôn, trường bằng vật liệu tre, lá tỷ lệ 91%); trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi hầu như không có (tỷ
lệ 95%); các điều kiện vệ sinh (nguồn nước, hố xí) thiếu nghiêm trọng, không đảm bảo được tiêu chuẩn trong học tập và sinh hoạt của cô và cháu Hệ thống trường mầm non chiếm tỷ lệ 70% số phường xã, riêng ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc chỉ chiếm tỷ lệ 20% số xã
Nhìn chung, tỷ lệ sinh đẻ còn cao trên toàn vùng (3.1%) dân số tăng mạnh (2.3%) Nền kinh tế chậm phát triển, đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc chăm sóc, giáo dục trẻ Ở nhiều tỉnh, các cấp ủy Đảng, chính quyền và ngay
cả trong ngành giáo dục - đào tạo, chưa quan tâm phát triển ngành giáo dục mầm non nên việc đầu tư xây dựng trường lớp còn ít và yếu
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy trường lớp phần lớn được cải tạo từ những cơ sở cũ nên không đúng quy cách Đa số các lớp mẫu giáo gắn với trường phổ thông, mượn của chùa của khóm, của phường Mạng lưới nhà trẻ, mẫu giáo rất mỏng, chậm phát triến: Ở tỉnh Sóc Trăng, trong năm học 1994 -1995 trên toàn tỉnh chỉ phát triển thêm được 01 (một) trường mẫu giáo và xây dựng mới được 11 phòng so với năm học 1993 - 1994 Tình hình này phổ biến đối với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 11Trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi hầu như không có Cuộc khảo sát cho thấy 88,5% số trường mầm non thiếu bàn, ghế đúng quy cách, đồ chơi ngoài trời, sân chơi, đồ dùng cho học tập và giảng dạy, hệ thống nhà vệ sinh và nguồn nước sạch cho trẻ dùng, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng ngập nước, vùng hải đảo, vùng ven biển, vùng dân tộc
Trong toàn vùng, cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non chưa ổn định, hệ thống trường trọng điểm còn quá ít, và với mức đầu tư hiện nay, không có đủ điều kiện để phát triển mạng lưới trường lớp và nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị
3 Về số lượng các cháu đến trường lớp:
Ngành mầm non: Các cháu trong độ tuổi đến và sẽ đến trường, lớp (%)
Trang 12Qua số liệu của tám (8) tỉnh: Bến Tre Cần Thơ, Kiên Giang Long An Minh Hải, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long chúng tôi nhận thấy các cháu trong độ 3 - 4 tuổi đến trường lớp còn thấp; mức độ phát triển chậm 6,9% trong bốn năm học ở độ tuổi năm, việc huy động các cháu đến trường chỉ đạt tỷ lệ 27,16% vào năm học 1992 - 1993 và có mức phát triển nhanh: 43,28% năm học 1995 - 1996
Tuy số lượng trẻ ra lớp ở nhà trẻ, mẫu giáo tăng nhưng tỷ lệ huy động trẻ ra lớp ở từng độ tuổi còn rất thấp Số trẻ được ăn tại nhà trẻ chiếm tỷ lệ 71 % so với tổng số trẻ đến nhà trẻ và 78% các cháu được theo dõi sức khỏe, biểu đồ tăng trưởng đạt 89.6% Ở bật mẫu giáo số trẻ được ăn tại lớp chiếm tỷ lệ 13,27% so với tổng sô trên đến lớp Các cháu có sổ sức khỏe và biểu đồ tăng trưởng đạt tỷ lệ 20.51% Số trẻ được theo dõi tình hình bệnh tật còn thấp, ở nhà trẻ đạt 71,03% ở mẫu giáo đạt 15,7% Các cháu còn mắc nhiều bệnh tật về đường
hô hấp, đường tiêu hóa, các bệnh về mắt và răng miệng Tỷ lệ trẻ được tiêm ngừa đúng lịch đạt 85,3% ở nhà trẻ và 78,6%
Từ năm học 1993 - 1994 ngành giáo dục mầm non đã thực hiện có kết quả chỉ thị 07/CT vận dụng vào thực tế địa phương ở từng tỉnh nhưng tỷ lệ bệnh tật và suy dinh dưỡng vẫn còn chiếm tỷ lệ cao: 27%
Các số liệu cho thấy, tỷ lệ huy động trẻ vào nhà trẻ rất thấp: ở độ tuổi 0 -2 tuổi, trên toàn vùng chỉ đạt tỷ lệ 3%, còn ở bậc mẫu giáo, độ tuổi (3 - 4 tuổi), tỷ lệ huy động trên toàn vùng cho đến năm học 1995 - 1996 vẫn chỉ có tỷ lệ 19.6% Đó sẽ là một gánh nặng cho chất lượng giáo dục ở bậc tiểu học sau này
4 Về vấn đề đa dạng hóa và xã hội hoá giáo dục mầm non:
Từ năm học 1993 - 1994 đến nay, ngành học mầm non đã đa dạng hoá các loại hình trường lớp Hệ thống trường lớp tiếp tục được sắp xếp lại, củng cố và phát triển theo hướng
xã hội hóa giáo dục ở các loại hình trường, lớp, nhóm: công lập, bán công, dân lập, tư thục, nhóm trẻ gia đình , với các quy mô khác nhau phù hợp với điều kiện cụ thể và nhu cầu xã hội ở từng đĩa phương
Cuộc khảo sát cho thấy ở các tỉnh vừng đồng bằng Sông Cửu Long, cơ sở vật chất của
hệ thống giáo dục mầm non công lập chỉ thu nhận 5% số trẻ trong độ tuổi đến lớp, trong khi
đó nhu cầu đến lớp của các cháu rất cao (30%) nên ở
Trang 13nhiều tỉnh mạng lưới trường lớp mẫu giáo nhà trẻ phát triển với nhiều loại hình trường lớp
5 Về đội ngũ cán bộ Quản lý và giáo viên:
Trong tình hình còn nhiều khó khăn, việc chỉ đạo và hỗ trợ của trung ương còn dàn trải, chưa tập trung vào những đối tượng trọng điểm, vùng trọng điểm; thiếu cơ chế thu hút, động viên khuyến khích đội ngũ, thiếu chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ quản lý và giáo viên bậc học mầm non, đặc biệt là giáo viên ngoài biên chế nên sự chuyên biến về chất của đội ngũ nhìn chung còn chậm: vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng, không đồng
bộ Từ trung ương tới địa phương còn thiếu quy hoạch, kế hoạch và các giải pháp cụ thể nhằm đào tạo đào tạo lại, bồi dường và sàng lọc, nâng cao chất lượng đội ngũ ở bậc học này
Hệ thông trường sư phạm vừa xuống cấp, vừa không đủ sức đáp ưng nhu cầu về đào tạo đội ngũ giáo viên giỏi cho ngành
Các chế độ, chính sách cho đến hiện nay còn những điểm chưa hợp lý Tuy có những cải tiến tích cực trong hai năm học vừa qua, nhưng nhìn chung Nhà nước còn thiếu chính sách thực sự hấp dẫn giáo viên và đầu tư chưa thỏa đáng cho sự nghiệp giáo dục mầm non đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc và vùng đặc biệt khó khăn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
II Thực trang việc thực hiện một số chủ trương, chính sách đối với các
bậc học phổ thông
1 Vấn đề xóa mù chữ (XMC) và phổ cập giáo dục tiểu học (PCGDTH):
Đây là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội vì là điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang phải chịu một sức ép rất lớn về số lượng trẻ em thất học ở độ tuổi từ 6-14 tuổi phải huy động đến lớp học:
Trang 14Ngành phổ thông: các cháu trong độ tuổi đến trường lớp và số đơn vị đạt chuẩn PCGDTH
Đơn vị huyện đạt chuẩn PCGDTH (10.1995)
số liệu báo cáo của các sở GD - ĐT, tháng 10/1995
Từ năm học 1993 - 1994 đến nay, sức ép về số lượng trẻ em thất học giảm dần nhờ giảm tỷ lệ lưu ban, bỏ học, điển hình là Cần Thơ, tỷ lệ này chỉ còn ở mức 3,18% (năm học
1995 - 1996), mở rộng quy mô các lớp mẫu giáo theo chủ trương đa dạng hoá về loại hình tổ chức (tỉnh Bến Tre, có chính sách hỗ trợ tích cực để thực hiện chủ trương này, đạt tỷ lệ huy động 75,38% trong năm học 1995 1996 đặc biệt hai huyện Ba Tri và Mỏ Cày đạt tỷ lệ 86 - 89%), đầu tư bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tự cáp thêm cho giáo viên dạy vùng nông thôn sâu, vùng ven biển), thực hiện tốt cuộc vận động "toàn dân đưa trẻ đến trường" vào năm học
1995 - 1996 mà kết quả đạt được rất khả quan, điển hình là tỉnh Trà Vinh
Để thực hiện được chương trình 6 (phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ), chương trình 4 (nâng cấp trường sư phạm và đào tạo bồi dưỡng giáo viên), chương trình 8 (tăng cường cơ sở vật chất, xóa lớp học ca 3) thì nguồn kinh phí Nhà Nước phải là nguồn đầu tư chính thay vì chỉ là nguồn đầu tư hỗ trợ như hiện nay
Hiện nay các tỉnh, thành ở ĐBSCL đang gặp nhiều khó khăn do cơ sở trường lớp phân tán, tỉ lệ giáo viên /lớp thiếu, lũ lụt tàn phá nặng nề, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, thu
Trang 15đào tạo chỉ trên dưới 50%(1) Vào năm học 1993 - 1994 cho đến tháng 11/1995, qua cuộc khảo sát lần II, số trẻ còn thất học ở độ tuổi từ 6 - 14 tuổi vẫn còn chiếm tỷ lệ 18% và sức ép
về số lượng trẻ em thất học đang giảm dần nhờ có tỷ lệ lưu ban bỏ học trong năm học 1994 -
1995 giảm đáng kể: 9,7% (năm học 1993 - 1994: 12,7%), riêng ở Cần Thơ tỷ lệ này chỉ còn 3,18% Các thành tựu này đạt được do các tỉnh đã thực hiện tốt chế độ cho học sinh lớp 1, 2,
3 có điểm dưới trung bình không phải ở lại lớp, cho học trả nợ trong hè và nhờ việc mở rộng,
đa dạng hóa các loại hình, trường lớp mẫu giáo, có chính sách hỗ trợ ưu tiên cho trẻ ở độ tuổi
5 tuổi được hưởng chương trình giáo dục 36 buổi Số học sinh tăng nhanh như ở Sóc Trăng bình quân 25,1 %/năm, đang đặt ra vấn đề phải quan tâm đối với địa phương
2 Về vấn đề phổ cập trung học cơ sở:
Tỷ lệ thu nhận học sinh tốt nghiệp bậc tiểu học vào lớp 6 bậc trung học cơ sở chiếm tỷ
lệ từ 80 - 90% tuy điều kiện kinh tế - xã hội từng tỉnh, thành
Trước tình hình tỷ lệ học sinh bỏ học cao và hiệu quả đào tạo ở bậc tiểu học còn thấp khoảng 50%, thì tỷ lệ thu nhận vào lớp 6 như trên là hợp lý nhưng với mục tiêu PCGDTH và XMC từ nay đến năm 2000, và với chủ trương của Bộ, là nơi nào có nhu cầu và có điều kiện tiến tới phổ cập trung học cơ sở thì nhiều tỉnh như An Giang, Bến Tre, Đồng Tháp , ngay từ năm học 1996 - 1997 phải xem xét, tính toán lại tỷ lệ thu nhận
Theo kế hoạch PCGDTH và XMC thì đến năm 1997, trên 80% xã phường đạt PCGDTH và XMC Theo tiêu chuẩn quốc gia thì số trẻ vào lớp một trước đó 5 năm, còn duy trì được tỷ lệ 90% trở lên và phải có từ 80% trở lên trẻ em 14 tuổi học xong tiểu học Như thế, số học sinh tuyển mới vào lớp 6 để phổ cập trung học cơ sở sẽ tăng vọt trong những năm sắp tới Theo khảo sát của chúng tôi, năm học 1995 - 1996, số học sinh tăng nhanh so với năm học 1994 - 1995, là một vấn đề cần được đặc biệt quan tâm để có chủ trương, chính sách phù hợp
3 Về phổ thông trung học và về chủ trương phân luồng giữa các lọai hình phổ thông trung học (chuyên, chọn, thí điểm, phân ban, bình thường)
Ở những địa bàn, khu vực phổ cập được trung học cơ sở, việc tăng nhanh hệ thống trung học đang là một yêu cầu rất lớn Từ năm học 1991 - 1992 đến nay (1995 - 1996), học sinh phổ thông trung học tăng nhanh Qua số liệu phát triển 5 năm (1991 - 1995) của tỉnh Sóc Trăng, một tỉnh có chỉ số phát triển giáo dục
Trang 16trung bình của cả vùng, chúng ta nhận thấy số học sinh năm học 1991 - 1992: 3.342 em, đến năm học 1995 - 1996: 8913 em
Về chủ trương phân luồng, các ý kiến đều cho rằng cần thiết nhưng cần xem xét lại chương trình, sách giáo khoa, điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất - kỹ thuật, cấu trúc và đánh giá xếp loại, nội dung truyền tải kiến thức
4 Về các nguồn đầu tư và quản lí ngân sách:
Nguồn ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo chỉ đáp ứng được từ 50 -60% yêu cầu tối thiểu Quan điểm "phát triển giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu" và "đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển" chưa được thể hiện đầy đủ qua chủ trương chính sách đầu tư nguồn ngân sách cho giáo dục - đào tạo ở ĐBSCL (TW và địa phương)
Cách sử dụng ngân sách hiện nay không hợp lý: phải dành tỉ lệ 75 - 80% để chi cho lương và phụ cấp, chỉ còn từ 20 - 25% chi cho hoạt động giáo dục - đào tạo Các khoản kinh phí của các chương trình - mục tiêu quốc gia cũng chỉ nhằm giải quyết một số khâu cơ bản: tăng cường cơ sở vật chất, phổ cập tiểu học, xóa mù chữ, bồi dưỡng giáo viên
Hiện nay, việc cải tiến cơ chế quản lý ngân sách theo hướng hai cấp (TW và tỉnh) có nhiều thay đổi, gây nhiều khó khăn cho việc sử dụng ngân sách ảnh hưởng đến tính kịp thời
và tính hiệu quả Cụ thể là năm 1993, Bộ cấp ngân sách trực tiếp qua kho bạc tỉnh, đến năm
1994, qua Sở Tài chính và năm 1995 qua cân đối địa phương Việc cấp phát phân bổ ngân sách theo cơ chế 1994 và 1995 không đúng tinh thần chỉ thị 287/CT của Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 4-8-1992 và thông tư liên bộ số 35/TTLB ngày 21-4-1994 nên việc quản lý ngân sách theo ngành đang gặp khó khăn: không được cấp kịp thời, phụ thuộc vào việc thu và cân đối ngân sách địa phương
Từ năm học 1995 - 1996, toàn bộ ngân sách GD - ĐT đều đưa về cân đối ở ngân sách địa phương Đây là vấn đề đang gây nhiều khó khăn trở ngại cho việc sử dụng kịp thời và hiệu quả ngân sách Cuộc khảo sát cho thấy chỉ các khoản chi thường xuyên, chủ yếu thuộc quỹ lương, là được ngân sách chi đủ, còn các chi khác, nhất là cho các chương trình - mục tiêu thì tỉnh nào cũng cấp phát chậm hoặc không có để chi, hết năm đành quyết toán thiếu hụt cho ngân sách GD - ĐT Cụ thể, năm 1994, ngân sách GD - ĐT của tỉnh Kiên Giang bị cân đối thiếu hụt 7
Trang 17tỷ/tổng ngân sách GD - ĐT được cấp còn năm 1995 đến ngày 4/10/1995, ngân sách của các chương trình - mục tiêu còn chưa được cấp 4 tỷ 214 triệu/8 tỷ 950 triệu Tất cả các chương trình - mục tiêu đều bị chững lại như chương trình giáo viên và sư phạm, chương trình thí điểm phân ban Trung học, chương trình phổ cập và xóa mù chữ, chương trình tăng cường giáo dục Vùng sâu - Vùng dân tộc, chương trình tăng cường cơ sở vật chất trường học
5 Về sự thiếu hụt số lượng và chất lượng yếu kém của đội ngũ
Tình trạng thiếu giáo viên kéo dài, tỷ lệ chưa đạt chuẩn cao, đội ngũ không đồng bộ đang thực sự là một cản trở lớn cho sự nghiệp phát triển giáo dục Đội ngũ giáo viên tiểu học thiếu nghiêm trọng, đặc biệt ở vùng xa, vùng sâu Tỉ lệ giáo viên/lớp của đội ngũ giáo viên THCS và PTTH còn thấp so với qui định chung nhưng chế độ phụ cấp dạy thêm giờ đã có tác dụng điều chỉnh, ổn định đội ngũ Về chất lượng: tỉ lệ đạt chuẩn cao nhưng cơ cấu loại hình không đồng bộ: thiếu giáo viên ngoại ngữ, tin học, kỹ thuật, thể dục, nhạc họa, giáo dục chính trị và công dân
Từ nguồn đào tạo ở các trường sư phạm, đào tạo theo công đoạn, đến việc thu nhận lại những giáo viên thôi việc trước đây hiện vẫn chưa thể bù đắp được số lượng giáo viên còn thiếu, nhất là ở bậc tiểu học Điển hình ở long An, bước vào năm học 1995 - 1996:
- Đào tạo từ CĐSP được 200 giáo viên tiểu học ra trường
- Thu nhận và đào tạo theo công đoạn : 400 giáo viên
Theo kế hoạch dự kiến, số lượng đó đủ theo yêu cầu phát triển trường lớp, học sinh, Nhưng trong năm học 1994 – 1995, do số giáo viên bỏ ngang là 150 người và gần 100 giáo viên xin thôi việc nên kết quả vẫn còn thiếu 170 giáo viên tiểu học
Tình trạng thiếu hụt giáo viên tiểu học khi bước vào năm học 1995 - 1996 ở nhiều tỉnh rất nghiêm trọng, cụ thể Kiên Giang thiếu 886 giáo viên, Sóc Trăng thiếu 650 người, Trà Vinh: 400 người
Sự thiếu hụt do số lượng giáo viên bỏ ngành, thôi việc tiếp tục làm mất thế ổn định về đội ngũ, về số lượng và đặc biệt nghiêm trọng là về chất lượng - vì số đông của đội ngũ này
là những giáo viên có thâm niên, tay nghề, giảng dạy
Trang 18những bộ môn cần thiết, đang thiếu hụt, thay vào đó là những giáo viên mới ra trường hoặc còn phải qua các công đoạn để chuẩn hóa
Nguyên nhân chính của sự thiếu hụt người vào ngành và tình trạng bỏ ngành, thôi việc của đội ngũ giáo viên vẫn là chính sách bất hợp lý trong lương bổng và đời sống tinh thần đối với đội ngũ: chính sách lương mới ngành giáo dục xếp lương ưu tiên "thứ 6" Theo phúc trình của Ủy ban Văn Hóa - giáo dục của Quốc hội tại kỳ họp thứ 8, tháng 10/1995 thì dựa trên thống kê thu nhập của 20 ngành cho thấy giáo dục đứng thứ 15, ở dưới mức trung bình của xã hội
Các khoản ưu đãi được hưởng từ trước lại bị cất hoặc không được thay đổi cho phù hợp như phụ cấp thâm niên (5 - 25% lương), phụ cấp giảng dạy (5 - 10%), phụ cấp khó khăn cho giáo viên đi dạy vùng xa, vùng sâu, vùng biên giới, vùng ven biển, vùng dân tộc, vùng hải đảo, chế độ thi đua, khen thưởng
6 Về tình trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị
(Xin xem báo cáo của trường Đại học Cần Thơ)
III Thực trạng việc thực hiện một số chủ trương – chính sách trong ngành giáo dục – đào tạo chuyên nghiệp
1 Cơ sở đào tạo (tính đến 31 - 12 - 1994)
Toàn vùng có trường Đại học Cần Thơ với 592 CBGD và 5404 SV, 7 trường CĐSP,
29 trường trung học chuyên nghiệp (5 trường do TW quản lý ) với 838 CBGV và 9541 học sinh dài hạn tập trung Toàn vùng có 01 (một) trường trường trung học nông nghiệp, 01 (một) trường lương thực thực phẩm, 01 (một) trường thủy lợi, 01 (một) trường xây dựng, 01 (một) trung tâm cây ăn quả, 01 (một) trường văn hóa nghệ thuật Cả vùng có 15 trường dạy nghề với 405 CBGV và 6482 học sinh với các ngành nghề: cơ giới, cơ khí, nông nghiệp, kỹ thuật giao thông vận tải, công nhân bưu điện
Về các hình loại trung tâm dạy nghề: toàn vùng ĐBSCL có khoảng 50% trung tâm dạy nghề so với tổng số quận huyện Cơ bản đã hình thành mạng lưới trường lớp chuyên nghiệp tại các tỉnh, huyện trong vùng và bước đầu đáp ứng được về số lượng theo yêu cầu
Trang 192 Về chủ trương đa dạng hóa các loại hình trường lớp:
Đây là một chủ trương đúng, các tỉnh đã phát triển mạnh các loại hình đào tạo nghề: trường dạy nghề (trường CNKT), trung tâm dạy nghề, trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề, trung tâm xúc tiến việc làm, trung tâm giải quyết việc làm, trung tâm đào tạo tư vấn và chuyển giao công nghệ, trường kỹ thuật, trường nghiệp vụ, lớp dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên Một số vấn đề cần nghiên cứu để thực hiện chủ trương được tốt hơn:
- Hệ thống dạy nghề không thu hút được nhiều người vào học, đặc biệt là học sinh phổ thông không muốn học nghề, chỉ muốn vào đại học
- Nhiều ngành nghề được xác định là cần thiết cho phát triển kinh tế nông nghiệp nhưng không có nguồn tuyển sinh
- Hình loại: "trung học nghề" chưa mở được vì thiếu người học
- Các loại hình trung tâm gây nhiều sự chồng chéo
3 Chủ trương phát triển mạng lưới trường, lớp dạy nghề
Mạng lưới trường lớp đã được phát triển ở nhiều cấp:
- Trường thuộc trung ương do Bộ, Ngành, Tổng công ty, Tổng cục quản lý
- Trường thuộc tỉnh do ủy Ban, Sở, Ban, Ngành quản lý
- Trường, lớp thuộc Huyện, Ban, Ngành cấp Huyện, các cơ quan, đoàn thể, tư nhân quản lý
Mạng lưới dạy nghề rất phong phú, đa dạng nhưng gây ra nhiều khó khăn, phức tạp trong quản lý
Chủ trương xây dựng mạng lưới dạy nghề từ Phường, Xã Quận, Huyện, Thị xã (Tỉnh) là đúng, nhưng cần phải nghiên cứu thêm về các loại trung tâm cùng mang chức năng dạy nghề sao cho quản lý được tốt để đào tạo có chất lượng
Hầu hết các tỉnh chưa coi trọng việc đào lạo nguồn nhân lực, chất lượng đào tạo nghề còn nhiều cách biệt giữa thành thị và nông thôn, chất lượng đào tạo thấp, chưa có định hướng
tỉ lệ đào tạo cụ thể cho ĐH THCN và DN, việc phối hợp giữa ngành GD - ĐT với các ngành khác chưa chặt chẽ, ảnh hưởng nhiều đếu việc phân bố mạng lưới trường, lớp và việc phân bố các phương tiện kỹ thuật trong học tập và giảng dạy
Trang 204 Chính sách đối với người dạy và người học
Với thực trạng trường, lớp dạy nghề hiện nay ở ĐBSCL, sự thiếu hụt về số lượng giáo viên chỉ xảy ra chủ yếu ở các huyện, các vùng xa, vùng nông thôn
Về chất lượng giáo viên dạy nghề, nhìn chung còn yếu về chuyên môn, thu nhập kém
về vật chất, tư tưởng không ổn định Nguyên nhân chính là do chính sách còn nhiều bất hợp
lý
Vì chưa có chính sách giữ người, nên một số giáo viên có tay nghề đã chuyển ngành sang dịch vụ, thương nghiệp như ở Trà Vinh, Sóc Trăng Riêng ở An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ hiện nay còn giữ được giáo viên là do có thêm chế độ chính sách phụ cấp của Tỉnh (thêm 300.000 đồng/tháng ngoài lương)
Về người học, đa số đối tượng đi học là con em người lao động Cho đến nay, chúng
ta chưa có được chính sách ưu đãi cụ thể cho người nghèo đi học nên chưa thu hút được nông dân và con em họ vào trường lớp, nghề Theo số liệu thống kê năm 1994, tỉ lệ lao động có kỹ thuật chỉ chiếm 3% số người trong tuổi lao động của vùng Hiện nay, ở nhiều tỉnh, số học sinh trường nghề giảm dần Đây là tiếng chuông báo động đối với ngành học đào tạo nghề ở ĐBSCL
Chúng tôi xin nhấn mạnh: lao động tham gia các ngành kinh tế, năm 1994 là 5,5 triệu người, chiếm 83% số người trong độ tuổi lao động (nông nghiệp : 84,5%, công nghiệp: 7%, dịch vụ: 8,5%) Cả vùng chưa nêu được phương thức thực hiện qui hoạch, chưa nêu được nhu cầu tổng quát về các loại nhân lực của các ngành kinh tế nên không thể có kế hoạch đào tạo theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Trang 21CHƯƠNG THỨ BA: NHỮNG KIẾN NGHỊ VỀ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
I Các kiến nghị về chủ trương, chính sách đối với ngành giáo dục mầm non
1 Đổi với việc phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục
Đề nghị Ban cán sự Đảng và Lãnh đạo Bộ quan tâm xây dựng các chương trình hành động cụ thể và phân cấp: loại hình do Ban bí thư cho ý kiến chỉ đạo, loại hình do Chính phủ thực hiện, loại thuộc trách nhiệm của Bộ và Vùng thì có kế hoạch phối hợp triển khai ngay
Ban Bí Thư, Chính phủ, Bộ GD - ĐT cần tập trung chỉ đạo, tìm ra phướng thức hữu hiệu và phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước và của vùng ĐBSCL sao cho tạo
ra được phong trào cách mạng trong sự nghiệp giáo dục, huy động được toàn lực xã hội bằng các văn bản pháp qui tham gia xây dựng nến giáo dục quốc dân, làm cho toàn xã hội nhận thức được sự nghiệp giáo dục là của toàn Đảng, toàn dân, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục ở tất
cả các địa bàn dân cư, xúc tiến nhanh việc tổ chức Đại hội giáo dục ở các cấp, thực hiện nhanh chủ trương đa dạng hóa, có chính sách hỗ trợ cụ thể đối với các trường mầm non, quốc lập, bán công, dân lập, tư thục về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giáo viên, chương trình học
Cần ấn định lại mức thu học phí đối với nhà trẻ, mẫu giáo một buổi, bán trú theo địa bàn thị xã, thị trấn, nông thôn, vùng sâu, vùng dân tộc, vùng hải đảo, vùng ven biển và các qui định về thu chi, điều tiết học phí để nâng cao mức lương tối thiểu cho CBQLGV và đầu
tư cho xây dựng, bảo trì cơ sở vất chất trường, lớp, trang thiết bị
Cần tập trung phát triển hệ thống nhà trẻ ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, nhất là các lớp mẫu giáo 5 tuổi
Trang 222 Đối với nội dung giáo dục – đào tạo:
Vụ giáo dục mầm non cần điều chỉnh nội dung chương trình chỉnh lý nhà trẻ trước khi cho áp dụng chính thức và cần xem xét lại nội dung chương trình cải cách mẫu giáo độ 3 tuổi, đầu tư đầy đủ trang thiết bị phục vụ vệ sinh, bàn ghế, đồ dùng, đồ chơi, phục vụ cho trẻ làm quen với chữ cái, các đồ dùng, đồ chơi âm nhạc, các điều kiện cần và đủ để thực hiện mục tiêu phấn đấu trẻ ăn tại nhà trẻ là 70%, tại mẫu giáo là 20%, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm 50% và 1/2 số nhà trẻ, mẫu giáo có hố xí, nguồn nước hợp vệ sinh
Từ năm học 1995 - 1996, Bộ cần đầu tư tập trung vào việc sửa đổi mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục song song với việc bảo đảm cơ sở vật chất và đồ dùng dạy học
Đối với các trường trọng điểm, trung tâm chất lượng cao, cần phải được củng cố, nâng cấp theo hướng tiếp cận được với giáo dục mầm non ở khu vực Đông Nam Á
3 Đối với đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên
3.1 Việc sử dụng, đãi ngộ theo tinh thần đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển:
Nhanh chóng hoàn chỉnh xây dựng chương trình quốc gia về đội ngũ cán bộ, giáo viên bảo đảm đúng theo quan điểm chỉ đạo của NQTW4, khóa VII, tạo động lực thúc đẩy và chính đó là điều kiện cơ bản bảo đảm cho giáo dục đào tạo tham gia tích cực vào việc thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước
Từ những quan điểm chỉ đạo này, đề nghị Chính phủ rà soát lại chế độ, chính sách đối với cán bộ, giáo viên ngành Mầm Non đang còn chịu nhiều thiệt thòi bất hợp lý
Trong tình hình còn nhiều khó khăn, Chính phủ cần ban hành các chính sách với cơ chế thu hút, động viên, khuyến khích, đãi ngộ thỏa đáng tập trung vào cán bộ, giáo viên ở khu
lẻ, điểm lẻ, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, vùng biên giới, hải đảo, vùng ngập nước với những qui định mang tính đặc thù của ĐBSCL; định mức lương tối thiểu cho giáo viên Mầm Non ngoài biên chế theo vùng, theo chế độ đào tạo: sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học; bảo đảm mức tối thiểu theo chế độ đào tạo, cho giáo viên có trình độ sơ cấp là 250.000đ +
Trang 2350% phụ cấp vùng sâu, xa, biên giới, hải đảo và qui định tỉ lệ giáo viên cao hơn nơi khác từ 0,15 - 0,25 người /lớp; xây dựng lại định biên số lượng học sinh 1 lớp; phụ cấp dạy thêm buổi; chế độ trực trưa; tiếp tục cho thực hiện chế độ phụ cấp đặc biệt; chế độ nghỉ phép năm
và được thanh toán tiền tàu xe, cho giáo viên tốt nghiệp được hưởng 100% lương khởi điểm
và giảm 50% thời gian tập sự; qui định chế độ trợ cấp lần đầu tối thiểu bằng 3 tháng lương; qui định phụ cấp thâm niên 2%/năm; chế độ khám chữa bệnh, đặc biệt các bệnh phụ khoa để bảo đảm sức khỏe cho đội ngũ có chính sách, chế độ riêng đối với nữ (ngành học Mầm Non hầu hết là nữ chịu rất nhiều thiệt thòi) Các cán bộ quản lý và giáo viên ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc được cử đi đào tạo, bồi dưỡng vẫn lãnh nguyên lương + các khoản trợ cấp và được trợ cấp mỗi tháng lương bằng một lần lương tối thiểu của tháng lương hiện hành Các giáo viên vùng sâu, xa được chuyển vùng sau 3 năm phục vụ Chúng tôi kiến nghị: để duy ưì
và phát triển giáo dục Mầm Non, ngay từ năm 1995 - 1996, Nhà nước cần có ngay chính sách thuế về giáo dục để có nguồn đầu tư thêm kinh phí, đặc biệt là chính sách động viên giáo viên hoặc do Bộ hoặc do Tỉnh, Thành phố qui định cụ thể, ít nhất bảo đảm mức sống trung bình của giáo viên trong cộng đồng địa phương
Để duy trì được hệ thống trường lớp và giữ chân được giáo viên ở vùng sâu, xa, vùng dân tộc; cần xây dựng nhà tập thể, làng giáo viên, cấp đất làm nhà và sản xuất, lập quĩ bảo trợ giáo viên
3.2 Việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ theo quan điểm "Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu"
Song song với việc cải tiến tiền lương và phụ cấp, Bộ cần phối hợp chặt chẽ với toàn vùng, với từng tỉnh thành lập qui hoạch đào tạo và bồi dưỡng các chỉ tiêu cụ thể cho CBQLGV nhằm đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và sàng lọc, nâng cao chất lượng đội ngũ ở bậc học; cải cách lại hệ thống các trường sư phạm (cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ CBQLGV, nội dung chương trình) để đủ sức đáp ứng yêu cầu về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giỏi cho ngành
Đối với việc tuyển sinh, Chính phủ cần ban hành các chính sách thu hút người giỏi vào ngành với những qui định cụ thể về chế độ học tập, học bổng, về việc sử dụng, đãi ngộ sao cho học bổng và lương cơ bản đều có tỉ lệ cao hơn từ
Trang 2420 - 40% các ngành nghề tương đương trong đào tạo và sử dụng (giáo dục dựa chính vào lương, không có bổng)
Cần có chương trình Nhà nước về giáo viên, giải quyết thỏa đáng một loạt vấn đề về đội ngũ, trong đó qui định cụ thể việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng giáo viên phù hợp với đặc điểm từng vùng
4 Về vấn đề đa dạng hóa các loại hình trường lớp
Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng và ban hành qui chế tổ chức, hoạt động các loại hình trường, lớp dân lập, tư thục cho ngành Mầm non, trong đó có những điều khoản cụ thể
về chế độ đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ, về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tạo cơ sở cho việc phổ cập giáo dục tiểu học
Song song với việc đa dạng hóa các loại hình trường lớp, cần qui hoạch cụ thể mạng lưới trường, lớp ngành Mầm non sao cho phù hợp với địa bàn dân cư của từng vùng, thời gian phải xây dựng, đưa vào chỉ tiêu pháp định của các kế hoạch của từng tỉnh thành để xét duyệt, thực thi và kiểm tra cụ thể
5 Về vấn đề xã hội hóa giáo dục:
Bộ cần trình Chính phủ để Chính phủ đệ trình Quốc hội ban hành Luật xã hội hóa giáo dục Luật này ấn định cụ thể các nguồn thu cho giáo dục, trong đó ấn định tỉ lệ cụ thể để đầu tư phát triển bậc Mầm non và các bậc học khác, sao cho ngành có phương tiện tối thiểu
để tập trung phát triển giáo dục và đào tạo cho vùng ĐBSCL và các vùng trọng điểm khác theo thứ tự ưu tiên Luật này cũng ấn định việc thành lập Hội đồng giáo dục ở cấp xã, phường, huyện, tỉnh và TW với nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể, có nhiệm kỳ tương ứng với nhiệm kỳ của Quốc Hội và của Hội Đồng Nhân Dân các cấp mà đứng đầu các Hội đồng này
là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân các cấp và Thủ tướng Chính phủ ở TW (Hội đồng giáo dục quốc gia) Chỉ có như thế, chúng ta mới mong xoay chuyển được tình hình giáo dục của vùng ĐBSCL và của cả nước theo đúng tiến độ hoạch định
Trang 25II Các kiến nghị về chủ trương, chính sách đối với các bậc học phổ thông
1 Đối với phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ:
1.1 Nhà nước cần sớm ban hành các văn bản dưới Luật với những điều kiện chế tài
để bảo đảm thi hành Luật "Phổ cập giáo dục tiểu học", thi hành nghị định 338 về PCGDTH
và chỉ thị 01 của Chính Phủ về xóa mù chữ: chỉ tiêu PCGDTH và XMC phải là bộ phận của
kế hoạch phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của từng tỉnh, thành
1.2 Cần có văn bản liên Bộ để phối hợp thực hiện mục tiêu PCGDTH và XMC chung cho cả nước và đặc biệt cho vùng ĐBSCL
1.3 Chính phủ và Bộ GD&ĐT cần có chủ trương và chính sách ưu tiên để đầu tư cho PCGDTH và XMC ở ĐBSCL
1.4 Thành lập "Quĩ hỗ trợ giáo dục tiểu học" ở các địa phương: 1% tiết kiệm ngân sách địa phương + % quĩ thu ngoài ngân sách + đóng góp của các tổ chức kinh tế xã hội và nhân dân để hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, xóa lớp ca 3, nâng mức trợ cấp cho CBQLGV, tổ chức lớp phổ cập và xóa mù chữ
1.5 Phải có chủ trương tổ chức qui hoạch lại hệ thống mạng lưới trường lớp tiểu học, sao cho phù hợp với các địa bàn dân cư Qui mô một trường tiểu học ở nông thôn vùng ĐBSCL chỉ nên có từ 2 - 3 điểm trường vá có nhiều nhất là 20 lớp Ở các xã có địa bàn rộng,
cư dân phân tán, nhiều kênh rạch, cần phải lập từ 2 - 3 trường tiểu học Cần có văn bản pháp qui về vấn đề này với các qui định về việc quản lý, tổ chức, biên chế, chế độ tài chính, đặc biệt có chế độ thưởng phạt thích đáng với việc duy trì sĩ số và hiệu quả đào tạo
1.6 Gắn liền cuộc vận động "Toàn dân đưa trẻ đến trường" với việc tổ chức Đại hội giáo dục các cấp hàng năm, coi việc "Đưa trẻ em đến trường vào ngày khai giảng nhằm PCGDTH" là một mục tiêu, một nội dung quan trọng của xã hội hóa giáo dục ở ĐBSCL
1.7 Cần thực hiện tốt chế độ tổ chức cho trẻ em học xong một lớp phổ cập vào học ngay lớp tiếp theo ở trường tiểu học Các tỉnh Kiên Giang, Minh Hải, Sóc Trăng đang thực hiện tốt chế độ này, vừa tiết kiệm kinh phí cho chương trình - mục tiêu 6, vừa động viên, giữ được các em học tập tiếp tục hết bậc tiểu học (PCGDTH)
Trang 26Thống kê số liệu của 11 tỉnh ĐBSCL cho thấy số trẻ em đang ở độ tuổi 6 - 14 có 3.302.776 em, chiếm 20,64% dân số trong vùng Vì vậy đẩy mạnh PCGDTH là cơ sở cho việc xóa mù chữ dứt điểm và vững chắc
2 Đối với bậc THCS và PTTH:
2.1.Cần sớm có chủ trương, chính sách đầu tư cho việc phổ cập THCS Bộ cần tổng kết kinh nghiệm, sửa đổi qui chế trường bán công, dân lập để đẩy mạnh việc đa dạng hóa trường lớp, sao cho khu vực này thu nhận được từ 10 -15% số học sinh THCS, tạo ra khả năng từng bước phổ cập được THCS
2.2 Ở từng huyện, từng tỉnh, cần sớm nghiên cứu tổng thể và dự thảo qui hoạch phát triển giáo dục, trên cơ sở đó tính toán, qui hoạch lại mạng lưới của 3 bậc học phổ thông nhằm đáp ứng được các nhiệm vụ, mục tiêu cho từng địa bàn theo phương thức đa dạng hóa (công lập, dân lập, bán công ) Hiện nay, trên toàn vùng ĐBSCL, tí lệ học sinh bán công dân lập bậc THCS: 8%, bậc PTTH: 20%
Chúng tôi kiến nghị nâng tỉ lệ học sinh bán công, dân lập bậc THCS lên 40% và bậc PTTH: 50% mới mong tạo ra nhiều nguồn lực để phát triển
Trên cơ sở những xã, phường đã PCGDTH ngay từ năm học 1996 - 1997 cần có kế hoạch PCGDTHCS ở những nơi có điều kiện theo lối cuốn chiếu, không còn hụt hẫng và hạn chế hiệu quả của PCGDTH ở những địa bàn này
2.3 Đối với chủ trương "phân luồng giữa các loại hình PTTH":
- Bộ cần có chính sách ưu tiên đầu tư các điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật cho các trường vùng nông thôn; ban hành các chính sách, chế độ cụ thể đối với CBQLGD trường chuyên, lớp chọn (ở Đồng Tháp, 1 tiết dạy ở trường chuyên, lớp chọn bằng
3 tiết dạy ở trường lớp bình thường; 1 tiết dạy thực hành ở trường phân ban bằng 2 tiết dạy lý thuyết)
- Xem xét lại nội dung chương trình, sách giáo khoa giữa các loại trường PTTH sao cho phù hợp với cấu trúc nội dung và yêu cầu đánh giá xếp loại, thi cử (thi tốt nghiệp phổ thông và thi vào đại học)
3 Đối với các nguồn đầu tư quản lý ngân sách
3.1 Chính phủ cần có chính sách đầu tư tăng từ 1,5 - 1,7 lần nguồn ngân sách hiện nay với các tỉ lệ %: ngân sách TW (tổng các nguồn): 80%, ngân sách
Trang 27địa phương hỗ trợ: 10%, đóng góp của các tổ chức kinh tế xã hội: 5% đóng góp qua học phí, bảo trợ học đường: 5%
3.2 Nhà nước cần tăng tỷ trọng nguồn ngân sách đầu tư cho GD&ĐT sao cho nâng được tỉ lệ chi cho hoạt động GD&ĐT khoảng 45% Cần sớm có văn bản điều chỉnh các qui định về phân bổ, cấp phát, sử dụng ngân sách Nếu thực hiện ngân sách tính trên đầu học sinh thì cần có hệ số ưu tiên cho ĐBSCL là 1,5
3.3 Bộ cần tháo gỡ với các Bộ, Ngành liên quan để thực hiện cho được các qui định theo cơ chế quản lý ngân sách theo ngành của chỉ thị 287/CT và Thông tư liên Bộ 35/TTLB như đã thực hiện trong năm 1993
Nếu vì yêu cầu lại "Đổi mới công tác quản lý và điều hành ngân sách nhà nước" để duy trì sự thống nhất ngân sách nhà nước thì đối với ngân sách GDĐT nên đưa 75% tổng ngân sách được duyệt (chủ yếu là quỹ lương) về cân đối tại địa phương, còn 25% giao cho ngành chủ động rót về cho các sở GDĐT qua kho bạc để kịp thời cân đối chi cho các hoạt động giảng dạy, học tập và chưởng trình - mục tiêu
3.4 Quốc Hội cần sớm thông qua Luật Ngân sách, trong đó có phần "Luật Ngân sách đầu tư cho giáo dục", qui định rõ cơ chế quản lý để tránh sự tùy tiện thay đổi trong quản lý
và điều hành ngân sách như hiện nay
3.5 Về vấn đề phân bổ ngân sách giữa TW và địa phương: cần phải lấy địa phương
có khó khăn nhất làm chuẩn và dựa trên các chỉ tiêu: dân số thu nhập bình quân đầu người,
vị trí địa lý, mặt bằng dân trí, vùng sâu, vùng dân tộc để phân bổ ngân sách
Tăng dần nguồn ngân sách đầu tư cho giáo dục bằng ngân sách nhà nước Cần thể chế hóa sự đóng góp của nhân dân, các tổ chức kinh tế - xã hội, ngân sách địa phương vào ngân sách giáo dục (xem phụ lục I và II: QĐ 43/QĐ.UBT.95 về việc giao chỉ tiêu kế hoạch nhà nước năm 1995 cho Sở GDĐT Sóc Trăng và CV.290/HC.95 của UBND Tỉnh Sóc Trăng v/v báo cáo thực hiện giao chỉ tiêu chi ngân sách cho ngành GDĐT Tỉnh Sóc Trăng năm 1995)
Trang 284 Đối với đội ngũ giáo viên phổ thôngi
4.1 Chương trình 4 cần ưu tiên đầu tư giải quyết tình trạng thiếu nghiêm trọng GV tiểu học cùng với chính sách PCGDTH & XMC
4.2 Cần có văn bản liên Bộ coi vùng xa, vùng sâu, vùng dân tộc, vùng biên giới ở ĐBSCL như là những vùng hải đảo, vùng núi để thực hiện chính sách phụ cấp đặc biệt Các tỉnh An Giang, Minh Hải, Bến Tre đã tham mưu với UBND Tỉnh xây dựng và ban hành chính sách, chế độ của địa phương đối với CBQLGV phổ thông
4.3 Vận dụng NĐ 25/CP ngày 25.5.1993 của chính phủ để có Thông tư liên Bộ xây dựng chế độ phụ cấp đặc thù cho người đến dạy ở vùng xa, vùng sâu, vùng biên giới, vùng dân tộc: phụ cấp 50% mức lương cơ bản, phụ cấp thanh toán tiền tàu xe, phụ cấp 30% lương cho giáo viên đạt chuẩn, 50% lương cho giáo viên vượt chuẩn, phụ cấp thâm niên, khuyến khích giáo viên dạy thêm giờ, thêm buổi, dạy lớp ghép, dạy tiếng dân tộc
4.4 Cần ban hành hệ thống chính sách hoàn chỉnh đối với giáo viên
Ý thức rõ tầm quan trọng và tính chất cấp bách đặt ra cho ngành giáo dục là chấm dứt tình trạng thiếu kinh niên và bất ổn định đội ngũ giáo viên, đặc biệt là ở ĐBSCL, Bộ ta đã nghiên cứu và trình Chính phủ "Chương trình quốc gia xây dựng đội ngũ giáo viên và các trường sư phạm" Do đó, Chính phủ đã có quyết định phụ cấp giảng dạy 20% lương cho giáo viên ở các ngành học từ tháng 1 năm 1995 Nhưng, để tạo được động lực thực sự, Chinh phủ cần ban hành một hệ thống chính sách hoàn chính để thay thế cho chính sách được ban hành năm 1958 mà trong suốt thời gian vừa qua chỉ được sửa đổi chấp vá như các chế độ phụ cấp
sư phạm (thâm niên, dạy thêm giờ ), các phụ cấp khó khăn cho giáo viên đi dạy vùng xa, vùng sâu, vùng cao chế độ thi đua, khen thưởng v.v trước mắt đề nghị phụ cấp giảng dạy
ở ĐBSCL là 50% lương (TW: 20%, Tỉnh: 30%) và đề nghị áp dụng ngay để tạm thời ổn định đội ngũ
4.5 Ở mỗi Tỉnh, Thành cần xây dựng những chế độ, chính sách riêng, đưa vào chỉ tiêu từng kế hoạch 5 năm để thực hiện với những văn bản pháp qui cụ thể
Các chính sách này đã được một số địa phương ban hành để xây dựng một số chế độ phụ cấp, khen thưởng giáo viên từ nguồn ngân sách địa phương, như ở Tỉnh Bến Tre, Long An Xin nêu một ví dụ: theo công văn số 878/CV.UB
Trang 29ngày 29.11.1994 của UBND Tỉnh Long An thì giáo viên giảng dạy môn chuyên ở trường chuyên, môn chuyên ở lớp chọn, 1 tiết được tính 1,5 tiết chuẩn; trợ cấp hàng tháng đối với CBGV công tác ở vùng sâu, vùng ngập nước là 60.000 đ/tháng Theo qui định Số 5129/QĐ.UB ngày 3.10.1995 của UBND Tỉnh thì giáo viên giỏi cấp Tỉnh được thưởng 500.000 đ, cấp Huyện 250.000 đ, CBQL giỏi ở trường học 500.000 đ Nếu đạt danh hiệu từ 5 năm trở lên sẽ được UBND Tỉnh xem xét đề nghị Thủ Tướng Chính Phủ và Chủ Tịch nước khen thưởng xứng đáng Ngoài ra, UBND Tỉnh còn có CV.98/UB.92 "về việc sửa đổi tiêu chuẩn trợ cấp cho CBCNV được cử đi học'", và CV.590/CV.UB "v/v áp dụng 100% lương trong thời gian tập sự" cho những người tốt nghiệp đại học, trung học chuyên nghiệp về Long
An công tác (xin xem phụ lục III, IV, V, VI)
5 Về tình trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị
(Xin xem báo cáo của trường Đại học Cần Thơ)
III Những ý kiến đề xuất cho việc dạy – học cũng như động viên khuyến khích cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên dạy vùng dân tộc
1 Bộ GD - ĐT cần có chỉ thị mới về dạy và học chữ dân tộc (cơ bản vẫn dựa vào chỉ thị 16/CT ngày 13.5.1978) nhưng bổ sung thêm một số điểm cần thiết:
- Cho phép dạy chữ dân tộc trong nhà trường phổ thông vùng dân tộc với 6 tiết/tuần
từ lớp 1 - 9 và nơi nào có điều kiện có thể dạy từ lớp 1 - 12
+ Việc tổ chức dạy và học chữ dân tộc có 2 loại:
- Loại tổ chức dạy chữ dân tộc song song với chữ phổ thông ngay từ lớp 1 -9 hoặc 1 -
Trang 30trợ cấp 50%, trừ trường hợp học sinh dân tộc nào quá nghèo, gia đình vô cùng khó khăn (có đơn và xác nhận của chính quyền địa phương) được trợ cấp mua sách vở 100%
- Việc đóng học phí: đối với học sinh dân tộc từ lớp mẫu giáo đến lớp 1 -12 được miễn đóng học phí hoàn toàn
- Đối với học sinh các trường thanh niên dân tộc nội trú cấp xã, huyện, tỉnh được miễn học phi hoàn toàn, được cấp không mất tiền các loại sách phục vụ cho học tập và được cấp học bổng mỗi tháng 120.000 đ cho 1 em nam và em nữ có thêm 30.000 đ (tiền phụ nữ)
- Đối với học sinh dân tộc được tuyển vào học trường chuyên nghiệp các ngành: trung cấp, cao đẳng, đại học (hệ A hoặc hệ B) đều được miễn đóng học phí 100%, được miễn đóng tiền ký túc xá 50%, được trợ cấp học bổng (bao nhiêu mỗi tháng do Bộ qui định)
Các loại sách giáo khoa, sách báo, tài liệu phục vụ cho học tập được thư viện trường cho mượn, ngoài ra tự mua sắm lấy
- Là cán bộ, giáo viên đi học các trường kể trên được hưởng 70% lương chính ngạch, đồng thời được trợ cấp thêm mỗi tháng 150.000 đ
2 Bộ GDĐT cần thiết tuyển chọn những tri thức dân tộc, kể cả những cán bộ chuyên sâu là người dân tộc đa số để thành lập trung tâm biên soạn sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách chương trình, sách và tài liệu, từ điển bằng chữ dân tộc cho vùng dân tộc ĐBSCL Do đó Bộ cần có công văn, chỉ thị thực hiện, chọn địa điểm, cấp vốn, cấp điều kiện phương tiện làm việc cho trung tâm này
3 Bộ GDĐT đã đến lúc cần phải thành lập 1 trường sư phạm dân tộc hoặc phân hiệu trường SP dân tộc nằm trong trung tâm SP vùng ĐBSCL cho việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy vùng dân tộc (Khmer, Hoa, Chăm) Trường SP này không gọi là THSP, không gọi là CĐSP, và cũng không gọi là ĐHSP mà đơn thuần gọi "Trường Sư Phạm dân tộc ĐBSCL" Hoạt động theo 3 phương thức như sau:
Trang 31A) Tuyển giáo sinh mới:
- Tuyển học sinh lớp 10 + 3 năm học kiến thức + 1 năm học chuyên sâu sư phạm dân tộc
- Tuyển sinh lớp 11 +2 năm học kiến thức + 1 năm học chuyên sâu sư phạm dân tộc
- Tuyển sinh lớp 12 + 1 năm học kiến thức + 1 năm học chuyên sâu sư phạm dân tộc 3.1 Công thức chung: 10 + 4
11+3
12 + 2 3.2 Đối tượng tuyển sinh: giáo sinh là người dân tộc và kể cả những giáo sinh là dân tộc nơi khác cũng như giáo sinh là dân tộc Kinh đăng ký về dạy trường phổ thông vùng dân tộc đều được tuyển (theo cam kết)
3.3 Mọi chế độ chính sách được hưởng như các điều khoản qui định của (chỉ thị mới)
B) Tuyển giáo sinh đang học ở các trường THSP, CĐSP, ĐHSP bình thường Sau khi các giáo sinh đó vừa tốt nghiệp được bố trí về dạy trường phổ thông vùng dân tộc (người dân tộc và người dân tộc Kinh) được đưa về trường sự phạm dân tộc học thêm 1 năm chuyên sâu
Hai đối tượng này khi đi bồi dưỡng (6 tháng hoặc 1 năm) được hưởng nguyên lương + phụ cấp 100.000 đ/tháng
Trang 324 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ Bộ Tài chính,
Bộ GDĐT cùng bàn với UBND các tỉnh có đồng bào, học sinh dân tộc đề ra chủ trương, chính sách bằng văn bản để động viên, khuyến khích giáo viên, CBQLGD phổ thông vùng dần tộc bao gồm các điều kiện như sau:
- Giáo viên nào, CBQL nào (ở trường, ở Phòng GD huyện - thị, ở Sở GD) công tác, giảng dạy trong trường phổ thông vùng dân tộc được hưởng mức lương chính ngạch + 30% mức lương chính đó
- Giáo viên nào, CBQL nào (ở trường, ở Phòng GD huyện - thị, ở Sở GD) kể cả người Kinh công tác, giảng dạy trong trường phổ thông vùng dân tộc biết tiếng dân tộc địa phương
đó (có thể biết cả chữ dân tộc) được hưởng mức lương chính ngạch + 50% mức lương chính
đó
- Đối với giáo viên là người dân tộc, ngoài việc đảm nhiệm môn dạy được phân công
mà còn dạy thêm một số tiết chữ dân tộc được hưởng mức lương chính ngạch + thêm tiền dạy một số tiết các môn học khác, được tính theo số tiền của từng tiết đã được Sở qui định chung
* Nếu các khoảng tỷ lệ % trên không tính được, thì phải được xét trợ cấp hàng tháng cho mỗi giáo viên (dân tộc và cả giáo viên người kinh) dạy trường phổ thông dân tộc được hưởng lương chính ngạch + thêm 150 - 200.000 đ/tháng
- Đối với giáo viên (người dân tộc, kể cả không phải người dân tộc) đều được xét cấp đất để sử dụng theo qui định chi tiết như sau:
+ Đã có nhà ở mà chưa có đất, vườn thì được cấp 1.500 m2
để làm kinh tế phụ
+ Chưa có nhà, chưa có đất thì được cấp 2.000m2
+ Đối với giáo viên đã có nhà, đất thì không cấp nữa
5 Để góp phần tạo nguồn cán bộ dân tộc, giải quyết nạn thất nghiệp, tạo công ăn việc làm, phát triển kinh tế nông thôn đối với thành viên dân tộc lớn tuổi, trình độ học vấn còn thấp thì Nhà nước và Bộ GD & ĐT cho phép tổ chức dạy nghề cho con em dân tộc trong trường thanh niên dân tộc nội trú Trường này dạy những nghề mang đặc điểm sản phẩm, đặc trưng về dân tộc Các em tốt nghiệp về gia đình và địa phương góp phần giải quyết cảnh nghèo nàn, khó khăn lạc hậu cho bản thân và cho phum soóc mình
Trang 336 Đề nghị Bộ GD&ĐT cần có công văn chính thức gởi các Sở GD - ĐT các Tỉnh có học sinh dân tộc, nghiêm chỉnh chấp hành thực hiện chương trình vn của Bộ GD - ĐT về cấp sách giáo khoa (các loại) cho học sinh dân tộc (không mất tiền)
IV Các kiến nghị về chủ trương, chính sách đối với giáo dục chuyên nghiệp
1 Chủ trương cải cách mạng lưới dạy nghề ở ĐBSCL
Căn cứ vào dự báo phát triển kinh tế - xã hội ĐBSCL, căn cứ vào mục tiêu phổ cập và đào tạo nghề, từ nay đến năm 2000, vùng ĐBSCL nên có mạng lưới đào tạo như sau:
01 trường Đại học đa ngành (toàn vùng)
11 trường Cao đẳng cộng đông (mỗi Tỉnh 1 Trường)
89 trung tâm dạy nghề (mỗi Huyện 1 Trung Tâm)
- Trường Đại học đa ngành (vùng) đã được thành lập tại Cần Thơ Vấn đề quan trọng
là xây dựng được qui mô đủ lớn và đảm bảo chất lượng đào tạo, để đón nhận hầu hết các sinh viên của toàn vùng vào học chuyên ngành (giai đoạn II Đại học)
- Trường Cao đẳng cộng đồng có chức năng chính đào tạo: nghề (từ bậc 3/7 trở lên);
kỹ thuật viên, kỹ thuật viên bậc cao, đại học đại cương (giai đoạn I Đại học) Mỗi tỉnh có 1 trường, với qui mô tiếp nhận được đa số những người muốn học nghề, học trung cấp, học đại học của tỉnh mình
- Trung tâm dạy nghề có chức năng chính: dạy hướng nghiệp cho học sinh, dạy nghề ngắn hạn cho mọi người (dưới bậc 3/7), phổ cập nghề cho mọi đối tượng, đào tạo lại và bồi dưỡng nghề
- Những nơi có nhu cầu đào tạo lớn, có thể mở thêm trường dạy nghề, lớp dạy nghề (Nhà nước hoặc tư nhân) Nếu nhu cầu bình thường, thì những đối tượng này vào học nghề trong trường cao đẳng cộng đồng hoặc trung tâm dạy nghề, không cần thiết phải mở trường dạy nghề
Trang 34- Những nơi hiện nay đã có trường dạy nghề nếu không có nguồn tuyển, không có nhu cầu của thị trường, thì có thể sát nhập hoặc giải thể
- Tại mỗi Quận, Huyện, thị xã, cố gắng duy trì được một trung tâm dạy nghề (nói chung cho các loại trung tâm), sẽ xây dựng một chức năng chung cho trung tâm Ở địa phương nào có nhiều trung tâm, cần tìm phương án sát nhập lại
2 Chủ trương phát triển loại hình đào tao nghề ở ĐBSCL:
Theo qui hoạch phá triển kinh tế - xã hội ở ĐBSCL từ nay đến năm 2000 thì tốc độ cơ giới hóa, công nghiệp hóa các ngành nông nghiệp, thủy sản, chế biến xuất khẩu các ngành công nghiệp, chưa có chỉ tiêu nào đáng kể, bởi vậy nhu cầu về công nhân lành nghề, nhân viên kỹ thuật cao, chưa có gì là bức bách Vấn đề chính cần giải quyết trong 5 năm tới là: phổ cập nghề, hướng nghiệp, bồi dưỡng nghề, bồi dường nghiệp vụ, đào tạo nghề bậc thấp, phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật, phổ biến công nghệ mới, những kinh nghiệm sản xuất tiên tiến
Với cơ sở phát triển kinh tế - xã hội như đã phân tích, kết hợp với mục tiêu nâng cao dân trí, thì loại hình đào tạo dạy nghề ngắn hạn tại các trung tâm dạy nghề, lớp dạy nghề là loại hình chính cần phát triển ở vùng ĐBSCL Trong một số năm tới - sau đổ, khi có dự báo chi tiết, cụ thể của từng ngành kinh tế, có nhu cầu đặt hàng "nhân lực", chúng ta mới cần phát triển các loại hình khác
Các hình loại Trung tâm có dạy nghề hiện nay, nên thống nhất gọi là "Trung tâm dạy nghề" và cùng có những chức năng đào tạo như sau:
- Hướng nghiệp cho học sinh đang học phổ thông
- Phổ cập nghề - phổ biến khoa học kỹ thuật và công nghệ
- Bồi dưỡng nghề, tập huấn nghề
- Đào tạo nghề (bậc 2/7 và thấp hơn) ngắn hạn (< 1 năm)
Đối tượng học tại Trung tâm bao gồm tất cả những người có quyền công dân, ở mọi lứa tuổi và mọi trình độ văn hóa (kể cả học sinh đang học phổ thông)
Nội dung và thời gian đào tạo có nhiều mức độ: có những lớp theo qui chế của Ngành
GD - ĐT, có những lớp theo nhu cầu "đặt hàng" của cơ quan, xí nghiệp hoặc tập thể
Trang 35Đối với ĐBSCL, cần chú trọng xây dựng tốt các TTDN tại các vùng nông thôn, vùng
xa, vùng ven biển Tại các vùng này, hiện nay có khi vẫn phải "bao cấp" để tập huấn nghề cho nông dân ngư dân
3 Chủ trương về quản lý hệ dạy nghề ở ĐBSCL:
Hiện nay có nhiều tổ chức dạy nghề thuộc nhiều nơi quản lý của Bộ GD -ĐT, của Bộ Lao Động - TBXH, của Đoàn Thanh niên, của Hội Phụ nữ , nên có một số ý kiến đề nghị cần thống nhất lại để dễ quản lý Cách nghĩ như vậy cũng chưa hoàn toàn hợp lý
Với cơ chế mới, không nên có sự đào tạo nhân lực theo kiểu "độc quyền" Nếu có nhiều cơ sở đào tạo nghề họ sẽ "thi đua" với nhau Vì "thi đua" hay "cạnh tranh" là yếu tố thúc đẩy phát triển Tập thể hoặc các nhân có thể mở cơ sở đào tạo nghề nếu tuân thủ đúng theo qui chế Vấn đề là ai đào tạo có chất lượng và phù hợp với nhu cầu của kinh tế - xã hội thì người đó thắng Như vậy, hợp nhất lại chắc gì đã hay? Hiện nay có nhiều Bộ, nhiều Ngành có cơ sở dạy nghề riêng (du lịch, giao thông ) lại có ưu thế riêng về chuyên môn sâu của họ, chắc rằng giao cho Bộ GD - ĐT quản lý toàn bộ sẽ gặp nhiều khó khăn Tuy vậy cũng phải nói rằng, nếu hợp nhất được một số cơ sở đào tạo nghề (nhất là cùng nghề đào tạo) sẽ có những ưu điểm: thống nhất và giảm biên chế hệ quản lý, tận dụng được đội ngũ giáo viên, tận dụng được trang thiết bị, đồ dùng dạy học, giáo trình, sách Nhất là tập trung được vốn đầu
tư khi nguồn còn eo hẹp
Vậy với hiện trạng các cơ sở dạy nghề ở ĐBSCL nên làm gì ? Chúng tôi thấy:
- Những cơ sở dạy nghề được thành lập cùng xuất phát từ một nguồn vốn, thì nên hợp nhất lại Ví dụ, như ngành giáo dục - đào tạo, nên hợp nhất 3 tổ chức: Trung tâm dạy nghề Trung tâm KTTH - Hướng nghiệp dạy nghề và Trung tâm giáo dục thường xuyên thành một loại: Ví dụ Trung tâm dạy nghề vì cùng nguồn đầu tư
- Các trường lớp dạy nghề thuộc các Bộ, Ngành khác, thuộc các tổ chức xã hội cứ
để họ độc lập nhưng có sự quản lý về chương trình, nội dung (không phải nguồn đầu tư của
Bộ GD - ĐT)
- Bộ GD - ĐT (và hệ thống ngành dọc) phải quản lý toàn bộ các cơ sở dạy nghề (lớn, nhỏ, Nhà nước, tư nhân, thuộc các Bộ, Ngành, các tổ chức xã hội…)
Trang 36về: mục tiêu đào tao kế hoạch chường trình (phần cứng) - Thanh tra - Tốt nghiệp
4 Chính sách khuyến học:
Một hiện tượng tương đối phổ biến ở ĐBSCL là người dân thấy không có nhu cầu học nghề, nhất là nông dân Như vậy, các cấp lãnh đạo ở địa phương có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nghề nghiệp, cũng không thể bắt nông dân đi học nghề được Vấn đề cốt lõi ở đây là người dân hỏi: học để làm gì?, bỏ tiền ra cho con đi học nghề có lợi gì không? Đây là vấn đề rất thực tế, sát sườn với người dân Chúng ta cần có chinh sách tuyên truyền, giải thích, để chuyển hướng cách nghĩ của mọi người Trước tiên phải làm cho người dân thích học, cần học, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội ở địa phương phải có chính sách khen thưởng thỏa đáng về tinh thần và vật chất cho những người làm công tác hướng nghiệp Không chỉ hướng nghiệp cho học sinh mà hướng nghiệp cho toàn dân, trong mối giao lưu cộng đồng sẽ thúc đẩy nhau
Một số kiến nghị cụ thể:
- Chính sách hướng nghiệp trong trường phổ thông: hàng tuần dùng 2 tiết học kỹ thuật, lao động trong chính khoá để giới thiệu nghề nghiệp cho học sinh Hàng tháng, tổ chức cho học sinh tham quan công trường, xí nghiệp nhỏ ở gần -trường Hàng quý (hoặc học kỳ) tổ chức cho học sinh tham quan nhà máy, công trường, xí nghiệp lớn
- Chính sách tuyên truyền, phổ biến kiến thức nghề nghiệp :
+ Các cơ quan thông tin, báo chí hàng tuần có bài viết, phát thanh, truyền hình với chuyên mục :
"Kinh tế - Nhân lực - Đào tạo"
+ Các tổ chức đoàn thể (thanh niên, phụ nữ ) hàng tháng tổ chức các buổi nói chuyện, tọa đàm Với chủ đề :
"Nghề nghiệp và cuộc sống"
- Chính sách khuyến khích học nghề: Đầu vào mở rộng - Học phí thấp (hoặc miễn phí) - Chủ yếu áp dụng cho các Trung tâm dạy nghề (Huyện) - Thời gian đầu: Nhà nước bao cấp
Trang 37- Chính sách ưu tiên bố trí việc làm cho người có học nghề Có thu nhập hơn người không đi học
5 Chính sách xây dựng trung tâm dạy nghề ở cấp huyện vùng đồng bằng sông Cửu Long:
Trọng tâm thời gian đầu, đưa công nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long tiến lên 1 bước, cần chú trọng ưu liên cho dạy nghề cấp huyện Với trình độ khoa học kỹ thuật Nông nghiệp hiện nay và trong 5 năm tới của vùng, thì trọng tâm là trung tâm dạy nghề (trung tâm dạy nghề ở các Thị xã, dễ thành lập hơn)
Qua kết qua các phiếu khảo sát tại các Tỉnh của vùng, thấy được hầu hết các ý kiến đều mong muốn vốn đầu tư của nhà nước là chủ yếu (60 ~ 80%) để xây dựng trung tâm Nhìn chung một mạng lưới dạy nghề rộng lớn, Nhà nước cũng khó với tới tất cả Riêng đồng bằng sông Cửu long đã cần ít nhất 89 trung tâm dạy nghề tại các huyện Do đó cần phải sử dụng nhiều loại nguồn vốn tài trợ khác nhau (đóng góp của TW, của tỉnh, của huyện, của người học, của các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước)
Tuy vậy, để tạo động lức thúc đẩy ban đầu, phải có chính sách ưu đãi riêng cho các huyện trong vùng, mới hy vọng thành công được Cụ thể: Đối với việc thành lập Trung tâm dạy nghề ở đây, cần phải:
- Miễn giảm các loại thuế đóng góp trong giai đoạn đầu
- Nhà nước cho vay vốn lãi xuất ưu đài
- Giảm giá điện nước - giúp đỡ mặt bằng (đất) xây dựng trung tâm
- Trung ương và địa phương thực hiện tốt chức năng đã được qui định là: đầu tư kinh phí xây dựng và trang thiết bị dạy nghề cho trung tâm Trường học, trung tâm yêu cầu trang
bị thêm, nên cung cấp theo giá bù lỗ Cụ thể, tỉnh và huyện chịu trách nhiệm xây dựng trường lớp, các ngành chủ yếu là Bộ GD - ĐT chịu trách nhiệm về trang thiết bị học nghề, người học đóng góp một phần cho chi phí giảng dạy Trong thời gian đầu, để khuyến khích, nên có chính sách miễn phí cho người học Đây là đặc điểm của vùng
Trang 38Trung tâm dạy nghề phải gắn liền với cơ sở sản xuất, trại chăn nuôi, hợp tác xã phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu có trên địa bàn huyện, để tìm việc làm cho học sinh tốt nghiệp
Cần có chính sách ưu đãi với các giáo viên của Trung tâm Dạy nghề ở Huyện, vì thực chất đây là vùng nông thôn vùng xa, ít giáo viên muốn về đây công tác
Cụ thể, giáo viên trong thời gian giảng dạy, cần được hưởng thêm 10% phụ cấp (bình thường) Nếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới cần được hưởng phụ cấp thêm từ 50 đến 100% lương, địa phương lo chỗ ăn, ở cho giáo viên nếu giáo viên tình nguyện ở lại lâu dài, địa phương cấp đất, hỗ trợ xây nhà cho giáo viên Đối với những nghệ nhân giỏi làm thầy giáo, cần có chế độ phụ cấp đặc biệt, có thể gấp 2 ~ 3 lần, so với giáo viên bình thường
Khi dạy thực hành nghề, mỗi giờ dạy thực hành trả lương và phụ cấp bằng một giờ dạy lý thuyết Nếu dạy vượt số giờ qui định: trả lương và phụ cấp một giờ thực hành bằng 1,5 lần giờ lý thuyết
Đối với các cán bộ, giáo viên tại trung tâm dạy nghề, UBND huyện cần nâng phụ cấp lên 1,5 lần so với người làm việc tại các trung tâm dạy nghề ở thành phố, tỉnh, thị xã
Chú trọng thực hiện chính sách chế độ bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, cán bộ của trung tâm dạy nghề ở cấp huyện
Trang 39Bảng 1: Tỷ lệ số cán bộ lãnh đạo Sở và Phòng chuyên môn của 11 Sở Giáo dục – Đào tạo tán thành các chủ trương về phát triển giáo dục – đào tạo 1996 – 2000 →
2010 -2020
1 Nâng tỷ lệ người biết chữ từ 15 tuổi trở lên từ
89% hiện nay lên 94% vào năm 2000 và 97%
vào năm 2020
56% Khó đạt được vì hiện nay các tỉnh quá khó khăn về điều kiện sinh sống, cư
trú, kinh tế nông nghiệp phát triển chậm, lũ lụt thường xuyên
2 Nâng tỷ lệ 30% tổng số trẻ trong độ tuổi hiện
nay lên 40% vào năm 2000, 60% vào năm
2020 trước khi vào tiểu học
31% 1 Cần 2 điều kiện : giáo viên và có sở vật chất
2 Vùng thị xã, thị trấn đạt được Vùng nông thôn nếu công nghiệp hóa được thì đạt đươc
3 Phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 78% Chỉ PCGDTH được vào năm 2010 nếu đầu tư tập trung cho CSVC, chế độ
và chính sách thỏa đáng đối với cán bộ giáo viên
4 Thanh thiếu niên dưới 23 tuổi được đi học từ
47% hiện nay lên 60% năm 2010 và 80% năm
2020
60%
5 Ở độ tuổi đại học và trung học từ 17 - 23 tuổi
nâng tỷ lệ từ 2,5% hiện nay lên 6% năm 2000,
20% năm 2010 và 25% vào năm 2020
60%
6 Đa dạng hóa loại hình trường và loại hình đào
tạo Duy trì nhà trẻ, trường lớp mẫu giáo công
lập và mở rộng quy mô nhà trẻ gia đình,
trường lớp mẫu giáo dân lập, tư thục để nhận
các cháu
87% 1 Cần quy định chính sách cụ thể đối với nhóm trẻ gia đình, mẫu giáo
tư thục và dân lập
2 Cần xem xét kỹ loại hình đào tạo để đảm bảo chất lượng đào tạo
3 Nhất thiết phải đa dạng hóa với tốc độ nhanh, trong đó đẩy mạnh dân lập hóa và tư thục hóa nhưng cô nuôi dạy trẻ phải qua trường lớp đào tạo chính quy
7 Hệ tiểu học cùng với các trường công lập, cần
tổ chức trường lớp dân lập, bán trú tiến tới
hoàn chỉnh
81%
Trang 40mạng lưới trường lớp để đạt mục tiêu phổ cập
giáo dục tiểu học năm 2000
8 Năm 2000, hệ thống trường phổ thông đều được
xây dựng kiên cố, có phòng học, trang thiết bị
đúng quy cách Năm 2010 tất cả các trường sở
đều kiên cố, thiết bị một phần hiện đại hoá Năm
2020 trường đều kiên cố khang trang, đúng quy
cách
60% 1 Trong tình hình đầu tư đầu tư như hiện nay, không thể xây dựng kiên
cố, bán kiên cố các trường học trước 2015
2 Cần đầu tư cụ thể và quy hoạch cụ thể
3 Cần tập trung đầu tư với tỷ lệ cụ thể giữa trung ương và từng tỉnh, thành
9 Thay đổi tiêu chuẩn về trình độ đào tạo giáo viên
để đạt khung tiêu chuẩn trong vòng 10 - 15 năm
68% Để đạt được tiêu chuẩn, cần thay đổi tiêu chuẩn đào tào giáo viên
10 Đến năm 2000 có 3 ~ 5% giáo viên mẫu giáo, 15
~ 20% giáo viên tiểu học tốt nghiệp cao đẳng sư
phạm
56% Chủ trương, chế độ, chính sách đào tạo hiện nay đang là trở ngại lớn
l 1 Đến năm 2000 tất cả giáo viên trung học dạy từ
lớp 6 đến lớp 12 đều tốt nghiệp đại học
30% Giáo viên phổ thông trung học: đạt, giáo viên trung học cơ sở: đạt 70 -
80%
12 35 - 40% cán bộ giáo dục đại học có trình độ cao
học, 15 ~ 18% có trình độ tiến sĩ
25% Cần có chế độ đãi ngộ cụ thể đối với cán bộ giáo viên đạt trình độ sau đại
học như tăng 2 bậc lương, chuyển ngạch lương, đề bạt các chức vị quản lý tương đương với trình độ
13 20% tổng số trường tiểu học (chủ yếu miền núi,
vùng sâu sa, kênh rạch ĐBSCL) thực hiện đầy
đủ có chất lượng chương trình tinh giản rút gọn
56% Cần dạy theo chương trình cái cách có đổi mới ở bậc tiểu học Môn nhạc
họa và thể dục không dạy được vì không có giáo viên và không có biên chế để thức hiên
14 75% tổng số trường tiểu học (đồng bằng, ven đô
thị) thực hiện đầy đủ có chất lượng chương trình
cải cách hiện hành có đổi mới
30% Chương trình rút gọn nên dạy cho các lớp đặc biệt trong trường tiểu học
dành cho đối tượng đặc biệt
15 5% tổng số trường tiểu học 2 buổi và thực hiện
chương trình cao hớn mức đại trà
50% Không có đất để xây dựng trường tiểu học 2 buổi Dự kiến nâng cao các
trường hiện nay lên 2 - 4 tầng lầu nhưng số phòng học 3 ca vá