Nhận thức sai lầm về các vấn đề của sức khỏe tâm thần khiến sinh viên không thể nhìn nhận đúng tình trạng sức khỏe tâm thần của bản thân và coi thường các biểu hiện của sự rối loạn sức k
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LU ẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tâm Lý H ọc
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUY ỄN THỊ THÚY DUNG
Thành ph ố Hồ Chí Minh - 2013
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài “Nhận thức và thái độ của sinh viên Đại học
Qu ốc gia thành phố Hồ Chí Minh đối với rối loạn sức khỏe tâm thần” là công trình nghiên c ứu của riêng tôi
Các thông tin, d ữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích d ẫn đều được ghi rõ nguồn gốc và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong
lu ận văn này chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tp H ồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2013
Người cam đoan
Ngô Th ị Mỹ Duyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ rất tận tình của các Thầy Cô, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình Tôi xin được bày tỏ
l ời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới:
TS Nguy ễn Thị Thúy Dung, người hướng dẫn khoa học dù rất bận rộn nhưng vẫn dành th ời gian giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Các Th ầy Cô giảng dạy và tư vấn khoa học của lớp cao học khóa 22, ngàng Tâm lý
h ọc trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh đã giảng dạy và cung cấp cho tôi những kiến
th ức làm nền tảng cho luận văn này
Các anh ch ị em, bạn bè lớp Cao học trường Đại học Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh luôn động viên và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Các b ạn sinh viên trường Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh đã rất nhiệt tình giúp tôi có được những số liệu phục vụ cho việc nghiên cứu
Cu ối cùng, xin cảm ơn gia đình đã luôn quan tâm, động viên tôi trong suốt quá trình
h ọc tập và thực hiện đề tài
Ngô Th ị Mỹ Duyên
Trang 5M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
M ỤC LỤC 3
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do ch ọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 7
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 7
4 Giả thuyết nghiên cứu 8
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI RỐI LOẠN SỨC KHỎE TÂM THẦN 12
1.1 T ổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.1.1 Ngoài nước 12
1.1.2 Trong nước 13
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 14
1.2.1 Nhận thức và thái độ của sinh viên 14
1.2.2 Một số vấn đề về rối loạn sức khỏe tâm thần 29
1.2.3 Nhận thức và thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần 34
1.2.4 Một số tiêu chí đánh giá nhận thức và thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần 35
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI RỐI LOẠN SỨC KHỎE TÂM THẦN 39
2.1 Khái quát quá trình nghiên cứu 39
2.1.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 39
2.1.2 Công cụ nghiên cứu 40
2.2 K ết quả nghiên cứu 41
2.2.1 Khái quát chung sự nhận biết của sinh viên về Rối loạn sức khỏe tâm thần 41
2.2.2 Nhận thức của sinh viên về rối loạn sức khỏe tâm thần 42
2.2.3 Thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần 65
Trang 62.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức
khỏe tâm thần 76
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PH Ụ LỤC 88
Trang 7DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Vi ết tắt Vi ết đầy đủ
2 ĐH CNTT Đại học Công nghệ thông tin
3 ĐH KHTN Đại học Khoa học tự nhiên
4 ĐH KHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì sức khỏe tâm thần là một trạng thái không chỉ không có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, cân bằng về cảm xúc, hòa hợp giữa các mối quan hệ gia đình, xã hội Trong trạng thái đó cá nhân nhận ra được các năng lực của chính mình, có thể đương đầu với các stress bình thường của cuộc sống, có thể làm việc năng suất và hiệu quả và có thể đóng góp cho cộng đồng, xã hội mà mình đang sống[34, tr.23] Điều này cho thấy tổn thương hay các rối loạn sức khỏe tâm thần là điều rất dễ gặp phải trong cuộc sống Tại Việt Nam, qua điều tra dịch
tễ lâm sàng 10 bệnh tâm thần ở 7 địa điểm tại các vùng địa lý, kinh tế xã hội khác nhau trong cả nước, với số dân điều tra là 82.908 người, trong thời gian 1 năm (2008-2009) cho kết quả tỷ lệ mắc chung 10 bệnh tâm thần là 14,2% dân số [34]
Đặc biệt là sinh viên, áp lực từ việc học, những lo toan cho cuộc sống, áp lực thi cử, khiến họ dễ bị rối loạn sức khỏe tâm thần Khi có rối loạn sức khỏe tâm thần, chất lượng cuộc sống của sinh viên có nguy cơ bị giảm xuống trầm trọng Có thể khiến sinh viên mất
sự cân bằng về thể chất, cảm xúc, mất niềm tin vào bản thân và không có khả năng đương đầu cũng như giải quyết những vấn đề xảy ra trong cuộc sống, khiến họ không thể hoàn thành tốt việc học của mình cũng như xây dựng các mối quan hệ xã hội Nghiêm trọng hơn
là từ các rối loạn sức khỏe tâm thần nhẹ có thể dẫn đến những rối loạn nặng hơn như stress,
lo âu, trầm cảm, kể cả những hành vi tự sát cá nhân và tập thể
Một số biểu hiện rối loạn sức khỏe tâm thần thường thấy ở sinh viên như tình trạng thường xuyên nhức đầu do thiếu ngủ, lo lắng thái quá, không kiểm soát được cảm xúc của bản thân nên dễ rơi vào tình trạng buồn bã, dễ kích động, tâm trạng bất an, lo lắng khi gặp bất cứ vấn đề gì trong cuộc sống, tình trạng căng thẳng kéo dài vì những áp lực từ việc học hành, từ bạn bè, từ gia đình…
Nhưng trên thực tế, nhiều sinh viên khi có những biểu hiện nói trên lại không cho rằng
đó chính là những biểu hiện của rối loạn sức khỏe tâm thần Nhận thức sai lầm về các vấn
đề của sức khỏe tâm thần khiến sinh viên không thể nhìn nhận đúng tình trạng sức khỏe tâm thần của bản thân và coi thường các biểu hiện của sự rối loạn sức khỏe tâm thần Việc cho rằng những tổn thương về sức khỏe tâm thần là dành cho những người bị trầm cảm, bị
Trang 9điên…đã khiến cho không ít sinh viên không tìm đến sự giúp đỡ chính thức của các nhà tham vấn, trị liệu cũng như có cái nhìn “miệt thị” đối với những người có những rối loạn về sức khỏe tâm thần Chính vì vậy, có một thực tế là khi các bạn trẻ tìm đến với các hỗ trợ chuyên môn về sức khỏe tâm thần thì đã quá nặng, có những biểu hiện của tự sát [13] Những thái độ như vậy sẽ góp phần vào việc cản trở sinh viên đi tìm những hỗ trợ chuyên môn và gây những tác động tiêu cực khác lên tâm lý
Năm 1948, Liên đoàn sức khỏe tâm thần ra đời ở Anh với sứ mệnh nâng cao ý thức hỗ trợ phòng và chữa các bệnh tâm thần Liên đoàn đặt ra ba nhiệm vụ: có thái độ đúng với sức khỏe tâm thần, nâng cao sức khỏe tâm thần và phòng ngừa các rối loạn sức khỏe tâm thần
và chăm sóc, chữa trị các rối loạn tâm thần và phục hồi sức khỏe tâm thần [8] Hội khoa Tâm lý giáo dục Việt Nam hoàn toàn tán thành với những điều quy định trên và sẽ có chương trình hoạt động Nhưng cho đến nay ở Việt Nam vẫn còn rất ít những nghiên cứu về sức khỏe tâm thần, rối loạn sức khỏe tâm thần Đặc biệt đối với đối tượng là sinh viên thì vẫn chưa có nghiên cứu nào xác định tầm hiểu biết và thái độ của sinh viên đối với các rối loạn sức khỏe tâm thần, ảnh hưởng của nó đối với việc tìm đến những hỗ trợ chuyên môn
như thế nào Nghiên cứu về nhận thức và thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần là một việc làm cần thiết để có sự hỗ trợ chuyên môn đối với các rối loạn sức khỏe tâm thần của sinh viên Đó là những lý do thôi thúc tác giả chọn đề tài nghiên cứu: “Nhận thức
và thái độ của sinh viên Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đối với rối loạn sức khỏe tâm thần”
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định nhận thức và thái độ của sinh viên Đại học Quốc gia Tp.HCM đối với rối loạn sức khỏe tâm thần Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm định hướng cho sinh viên có nhận thức và thái độ đúng đối với rối loạn sức khỏe tâm thần hướng đến việc giảm nguy cơ
gặp phải RLSKTT ở sinh viên
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nhận thức và thái độ của sinh viên Đại học Quốc gia Tp.HCM đối với rối loạn sức khỏe tâm thần
3.2 Khách thể nghiên cứu
Trang 10- 400 sinh viên thuộc các trường thành viên của Đại học Quốc gia Tp.HCM
4 Giả thuyết nghiên cứu
- Phần lớn sinh viên Đại học Quốc gia Tp.HCM chưa có nhận thức và thái độ đúng đối với rối loạn sức khỏe tâm thần
- Nhận thức và thái độ của sinh viên Đại học Quốc gia Tp.HCM đối với rối loạn sức khỏe tâm thần là có sự khác biệt theo trường, năm học, giới tính
- Có những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của sinh viên Đại học Quốc gia Tp.HCM đối với rối loạn sức khỏe tâm thần, sự tác động của
môi trường bên ngoài là một trong những yếu tố đó
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài, như: nhận thức, thái độ, sinh viên, sức khỏe tâm thần, rối loạn sức khỏe tâm thần
5.2 Khảo sát thực trạng nhận thức và thái độ của sinh viên Đại học Quốc gia Tp.HCM đối với rối loạn sức khỏe tâm thần
5.3 Đề xuất một số kiến nghị nhằm định hướng cho sinh viên có nhận thức và thái độ đúng đối với rối loạn sức khỏe tâm thần
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Nội dung
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nhận thức của sinh viên đối với các vấn đề sau của rối loạn sức khỏe tâm thần như sau: Các dạng RLSKTT; Nhận định chung về RLSKTT; Biểu hiện của RLSKTT; Ảnh hưởng của RLSKTT đến đời sống; Nguyên nhân gây RLSKTT; Phòng ngừa và chữa trị RLSKTT
- Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần ở những mặt sau: Thái độ của sinh viên đối với những người có RLSKTT; Thái độ của sinh viên đối với việc gia đình có người gặp RLSKTT; Thái độ của sinh viên đối với bản thân khi gặp phải vấn đề RLSKTT; Thái độ của sinh viên đối với việc phòng ngừa và chữa
trị RLSKTT
- Tìm hiểu thêm các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần
6.2 Khách thể
Trang 11Đề tài được giới hạn trong phạm vi những sinh viên của các trường thành viên thuộc Đại học Quốc gia Tp.HCM:
- 100 sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
- 100 sinh viên trường Đại học Bách Khoa
- 100 sinh viên trường Đại học Khoa học Tự Nhiên
- 100 sinh viên trường Đại học Công nghệ thông tin
7.1.1 Quan điểm toàn diện
Vận dụng quan điểm toàn diện vào đề tài ta sẽ thấy nhận thức và thái độ của sinh viên Đại học Quốc gia Tp.HCM đối với rối loạn sức khỏe tâm thần được xem xét một cách
toàn diện trên các mặt sau:
- Rối loạn; Sức khỏe tâm thần; Rối loạn sức khỏe tâm thần
- Nhận thức: các dạng RLSKTT, biểu hiện, ảnh hưởng, nguyên nhân và cách phòng ngừa và chữa trị RLSKTT
- Thái độ khi gặp các rối loạn sức khỏe tâm thần, thái độ đối với những người có rối loạn sức khỏe tâm thần, thái độ đối với bản thân khi gặp phải vấn đề RLSKTT, thái độ đối
với việc phòng ngừa và chữa trị RLSKTT
7.1.2 Quan điểm thực tiễn
Hiện nay, trong thành phố lớn và hiện đại như Tp.HCM tỉ lệ gặp phải các rối loạn sức khỏe tâm thần ngày càng cao và là một vấn đề đang được quan tâm Việc sinh viên chưa có
những hiểu biết đầy đủ cũng như chưa có thái độ đúng đắn đối với vấn đề này sẽ tạo ra
những nguy cơ cao dẫn đến việc bị rối loạn sức khỏe tâm thần Do vậy, việc tìm hiểu về
nhận thức và thái độ của sinh viên Đại học Quốc gia Tp.HCM đối với rối loạn sức khỏe tâm
thần để có được những hỗ trợ cần thiết cho sinh viên nhằm giảm nguy cơ gặp phải RLSKTT
là đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đang đặt ra
7.2 Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 127.2.1.1 Mục đích
- Tìm ra những cơ sở nghiên cứu nhằm xây dựng khung lý thuyết và công cụ nghiên
cứu cho đề tài
- Hệ thống hóa những tài liệu nói trên để xây dựng khung lý thuyết và nội dung nghiên
cứu của đề tài
7.1.2 Cách thức
- Tham khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, sách, tạp chí chuyên ngành, các thông tin … có liên quan đến đề tài
7.2.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
a Mục đích điều tra
Chúng tôi xây dựng một bảng hỏi dành cho các bạn sinh viên nhằm tìm hiểu nhận
thức, thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần, cũng như tìm hiểu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của sinh viên đối với RLSKTT
Thu được những ý kiến cụ thể của một số sinh viên Những ý kiến này sẽ là những
dữ liệu quan trọng mang tính định tính, nhằm làm rõ hơn và mô tả cụ thể hơn các kết quả thu được từ bảng hỏi
b Cách thực hiện
Sau khi thu số liệu và xử lý thống kê toán học, người nghiên cứu tiến hành phỏng vấn
một số bạn sinh viên ở mỗi trường thành viên của Đại học quốc gia Tp.HCM theo bảng hỏi
phỏng vấn đã soạn sẵn
7.2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
a Mục đích
Thu thập ý kiến của các chuyên gia về vấn đề nghiên cứu nhằm có được sự đánh giá
về các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng nhận thức và thái độ của sinh viên đối với các vấn
đề về sức khỏe tâm thần Từ đó định hướng cho việc đề xuất những kiến nghị để nâng cao
nhận thức và thái độ của sinh viên
Trang 13- Trong quá trình nghiên cứu, tiến hành tổ chức những buổi tọa đàm về vấn đề nghiên
cứu Đối tượng tham dự là sinh viên của trường Đại học quốc gia Tp.HCM
7.2.3 Phương pháp toán thống kê
a Mục đích
Nhằm thống kê các số liệu thu được đối với các vấn đề: nhận thức, thái độ của sinh viên đối với các vấn đề về sức khỏe tâm thần, nguyên nhận của nhận thức và thái độ của sinh viên đối với vấn đề này
b Cách thức
Người nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 để nhập và xử lý thống
kê như: tính tần số, tỷ lệ phần trăm, kiểm nghiệm T - Test, kiểm nghiệm Chi – quare, Factor Analyzis làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI RỐI LOẠN SỨC KHỎE TÂM THẦN
1.1 T ổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ngoài nước
Sức khỏe tâm thần là một trong những vấn đề ngày càng được quan tâm trên toàn thế
giới vì sự ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế của mỗi quốc gia, đến chất lượng cuộc sống của con người Theo WHO, những ảnh hưởng về kinh tế do rối loạn sức khỏe tâm thần là rộng
khắp, lâu dài và rất lớn Nó gây nên chi phí lớn cho cá nhân, gia đình và cộng đồng Theo báo cáo y tế thế giới (2001), những rối loạn tâm thần và hành vi chiếm khoảng 12% gánh
nặng bệnh tật toàn cầu [34] Chính vì vậy, sức khỏe tâm thần cũng như rối loạn tâm thần ngày càng được quan tâm nghiên cứu
Về sức khỏe tâm thần đã có những nghiên cứu sâu rộng về nhận thức và thái độ của người dân đối với vấn đế này Như nghiên cứu vào năm 2007 của một tổ chức ở Ireland về
“Nhận thức và thái độ của người dân Ireland đối với vấn đề Sức khỏe tâm thần”[42] Nghiên cứu được tiến hành trên 1000 người dân nhằm thông báo cho sự phát triển nhận thức
về vấn đề sức khỏe tâm thần của người dân Ireland hướng đến việc nâng cao nhận thức và
hiểu biết về sức khỏe tâm thần của người dân Những người thực hiện nghiên cứu này cũng
có mong muốn phát triển khả năng ứng phó của người dân Ireland đối với những rối loạn
sức khỏe tâm thần Ngoài ra có thể kể đến nghiên cứu của tổ chức Y tế ở Ireland về “Thái
độ và nhận thức của người dân Bắc Ireland đối với vấn đề Sức khỏe tâm thần” [41] Những người thực hiện nghiên cứu này cho rằng đây là nghiên cứu cần thiết để giúp thông tin cho
cộng đồng các vấn đề sức khỏe tâm thần, đồng thời đây là một cách tiếp cận toàn dân đề
hiểu và giải quyết các nguy cơ gặp phải rối loạn sức khỏe tâm thần cũng như các yếu tố bảo
vệ giúp người dân phòng ngừa và chữa trị khi gặp phải rối loạn sức khỏe tâm thần
Các nghiên cứu nhằm đưa ra những chiến lược phòng ngừa RLSKTT cũng khá phổ
biến trên thế giới Trong đó phải kể đến “Hướng dẫn về phòng chống RLSKTT (2011) của
hiệp hội tâm thần Châu Âu”, hướng dẫn này đã nói rằng “Một cơ sở khoa học cho thấy bằng
chứng chúng ta có thể ngăn ngừa nhiều rối loạn tâm thần, tình cảm và hành vi trước khi họ
bắt đầu gặp phải những rối loạn này” [45] Về vấn đề chữa trị có bài viết của bác sĩ tâm thần
Trang 15Allen Frances (2013) nói về vấn đề sự tin cậy đối với các chẩn đoán tâm thần và cho rằng các chẩn đoán vẫn còn dựa hoàn toàn vào đánh giá chủ quan [45]
Như vậy có thể thấy là đã có những nghiên cứu về nhận thức và thái độ của người dân đối với vấn đề sức khỏe tâm thần và mục đích của những nghiên cứu này cũng chủ yếu là
nhằm đưa ra những chiến lược phát triển khả năng ứng phó và phòng ngừa rối loạn sức khỏe tâm thần Còn những nghiên cứu về nhận thức và thái độ đối với vấn đề Rối loạn sức khỏe tâm thần thì dường như rất ít và chỉ có những nghiên cứu nhằm đo các rối loạn tồn tại ở mỗi người dân Chẳng hạn như nghiên cứu của tác giả Bayram, Bilgel.N mô tả cắt ngang trên 1.617 sinh viên trầm cảm, lo âu và stress với mức độ nặng vừa phải hoặc cao hơn đã được tìm thấy ở 27%, 47% và 27% người trả lời tương ứng [31]
1.1.2 Trong nước
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tỷ lệ người có rối loạn về sức khỏe tâm thần ngày càng tăng cao Đứng trước thực tế đó, các nhà chuyên môn đã đẩy mạnh hơn việc nghiên cứu và đánh giá mức độ bị rối loạn tâm thần ở các đối tượng người dân để trên cơ sở
đó có những cách hạn chế sự gia tăng tỷ lệ người có rối loạn sức khỏe tâm thần
Cho đến nay những nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc phát hiện việc rối loạn tâm
lý ở người dân như nghiên cứu của Kim Bình Giang, Nguyễn Văn Tuấn và cộng sự trong
việc phát hiện rối loạn tâm lý ở nông thôn Việt Nam Liên quan đến việc xác định các yếu tố liên quan có tác động đến sức khỏe tâm thần có nghiên cứu của Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh và Michael Dunne trên sinh viên khoa Y tế công cộng và Điều dưỡng tại đại học Y Dược Tp HCM Gần đây có nghiên cứu của tác giả Lê Minh Thuận: “ Một số rối nhiễu tâm lý của sinh viên Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh” phân tích khá rõ nét về thực trạng rối nhiễu tâm lý ở khách thể nói trên [31] Ngoài ra, còn có rất nhiều nghiên cứu đề cập cụ thể đến các
dạng RLSKTT như đề tài của tác giả Hoàng Thế Hải và Lê Đình Đức tìm hiểu về nguyên nhân và biện pháp can thiệp các rối nhiễu tâm lý ở học sinh trung học cơ sở
Đề cập cụ thể đến sức khỏe tâm thần và rối loạn sức khỏe tâm thần cũng như việc áp
dụng các liệu pháp tâm lý trong chữa trị RLSKTT có thể kể đến nghiên cứu và bài viết sau:
Đề cập đến nhận thức và thái độ đối với vấn đề sức khỏe tâm thần có bài viết của Đặng Hoàng Minh và Cao Minh đăng trong Kỷ yếu về Tâm lý truờng học lần thứ nhất nói về
nhận thức của cha me đối với vấn đề sức khỏe tâm thần của con cái Về cách phòng ngừa và
Trang 16chữa trị có bài viết của tác giả Lê Thị Minh Tâm đề cập đến việc áp dụng cách tiếp cận trị
liệu nhận thức hành vi trong việc giúp sinh viên ứng phó với rối nhiễu lo âu [27]
Như vậy, hiện nay đã có những nghiên cứu và bài viết có liên quan đến vấn đề sức
khỏe tâm thần và rối loạn sức khỏe tâm thần nhưng chưa đề cập tổng quát và toàn diện đến
vấn đề này Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc đo lường mức độ rối loạn sức khỏe tâm thần ở các khách thể khác nhau Trong các nghiên cứu trên cũng có đề cập đến nguyên nhân của việc bị rối loạn sức khỏe tâm thần ở các đối tượng khác nhau trong cộng đồng Họ
có đề cập đến nhận thức và thái độ của người dân đối với rối loạn sức khỏe tâm thần là một trong những nguyên nhân khiến cho các đối tượng này không có được sự phòng tránh cần thiết và sự can thiệp chuyên môn kịp thời khi gặp phải các vấn đề về rối loạn sức khỏe tâm
thần nhưng chưa đề cập cụ thể đến nhận thức và thái độ đối với vấn đề RLSKTT Đối với khách thể là sinh viên thì cũng chưa có nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề nhận thức và thái
độ của nhóm khách thể này đối với vấn đề rối loạn sức khỏe tâm thần Do vậy, những nghiên cứu nêu trên sẽ là nền tảng để người nghiên cứu có thể xác định được những vấn đề
trọng tâm của đề tài nghiên cứu
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài
Phần cơ sở lý luận của đề tài, chúng tôi đề cập là làm rõ ba nội dung chính sau: Nhận
thức và thái độ của sinh viên; Một số vấn đề liên quan đến RLSKTT; Một số tiêu chí đáng giá nhận thức và thái độ của sinh viên đối với RLSKTT
1.2.1 Nh ận thức và thái độ của sinh viên
1.2.1.1 Nh ận thức
a Khái ni ệm
Có rất nhiều định nghĩa về nhận thức, ở đây xin nêu ra một số định nghĩa thường được
sử dụng nhiều nhất ở Việt Nam
Theo từ điển Tiếng Việt, Nhận thức là kết quả của quá trình phản ánh và tái hiện hiện
thực trong tư duy, kết quả con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan [20]
Theo định nghĩa này có thể thấy nhận thức vừa là một quá trình phản ánh có mở đầu,
diễn tiến và kết thúc của tư duy con người với hiện thức khách quan vừa là kết quả của sự
phản ánh đó Khi đã nhận thức được một hiện thực nào đó hay nói cách khác là có nhận
thức về bất kỳ một vấn đề nào đó trong cuộc sống, con người lại dùng chính nhận thức đó
để tiếp tục tiến hành những quá trình nhận thức mới Sự nhận biết là nhận thức sơ khai đầu
Trang 17tiên, giúp con người thu được những kết quả nhận thức ban đầu từ thế giới khách quan, là cơ
sở để con người tiến hành sự phản ánh cao hơn nhằm thu được sự hiểu biết sâu rộng về sự
vật hiện tượng của thế giới
Theo từ điển triết học, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc con người trên cơ sở thực tiễn [14] Như vậy,
để cải tạo thực tiễn hướng đến việc phục vụ cho cuộc sống, con người không ngừng tìm
hiểu, tác động vào thế giới khách quan để có được những nhận thức nhất định về hiện thực khách quan Với những nhận thức có được về hiện thực khách quan con người tự nguyện tìm hiểu và tác động vào thế giới khách quan với thái độ tích cực và những sáng kiến mới
nhằm biến đổi thực tiễn, phục vụ cho cuộc sống ngày càng phát triển của con người
Theo từ điển tâm lý năm 2011 do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên, nhận thức (tiếng Pháp: Connaisance) là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong
tư duy, nhận biết là hiểu biết thế giới khách quan Quá trình ấy đi từ cảm giác đến tri giác,
từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở các mức độ [35]:
+ Kinh nghiệm hàng ngày về các đồ vật và người khác, mang tính tự phát, thường hỗn
hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống
+ Khoa học, các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ, có hệ thống với ý thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng – sai
Trong quá trình nhận thức này, những cái sai sẽ dần dần được loại bỏ để con người có được nhận thức đúng đắn về hiện thực khách quan
Theo từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên (2008) thì nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật
về những hiện tượng, quá trình nào đó [4]…
Những quan điểm nêu trên đều có những điểm tương đồng khi định nghĩa về nhận
thức Cụ thể đều xem nhận thức là một quá trình phản ánh hiện thực khách quan thông qua
sự nhận biết và các bước của tư duy Sản phẩm của quá trình nhận thức có thể là nhận thức đúng đắn và sai lầm nhưng thông qua sự tích cực và tự giác con người sẽ dần dần loại bỏ cái sai và có nhận thức đúng đắn để cải thiện hiện thưc khách quan làm cho nó ngày càng phục
vụ cuộc sống con người ngày một tốt hơn
Tác giả Phạm Minh Hạc xem nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm
lý con người, hai mặt còn lại là tình cảm và hành động Trong khi hoạt động để tồn tại trong
thế giới tự nhiên và môi trường xã hội, con người phải nhận thức, phản ánh hiện thực xung
Trang 18quanh và cả hiện thực của bản thân mình, để trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Kết quả nhận thức có thể cho ra sản
phẩm là nhận thức đúng hoặc nhận thức sai, nhận thức từng bộ phận hay nhận thức cái tổng
thể, nhận thức một phần hay nhận thức trọn vẹn sự vật hiện tượng, nhận thức thuộc tính bên ngoài hay đi sâu vào bản chất bên trong, dẫn đường tìm ra quy luật và chân lý [35]
Như vậy, theo định nghĩa này cần xác định ba yếu tố:
+ Thứ nhất, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan Nếu con người có
nhận thức tốt là quá trình phản ánh hiện thực khách quan đúng đắn, đầy đủ
+ Thứ hai, nhận thức có mối quan hệ với tình cảm, thái độ Tức là khi con người nhận
thức tốt sẽ chỉ đạo, định hướng, điều khiển tình cảm, và giúp con người tỏ thái độ phù hợp + Thứ ba, nhận thức có mối quan hệ với hành động Nghĩa là nhận thức tốt sẽ làm động lực thúc đẩy con người hành động và đạt kết quả tốt
Với mục đích nghiên cứu không nhằm tìm hiểu chuyên sâu về bản chất của nhận thức
mà chỉ lựa chọn và chấp nhận một số quan điểm để làm cơ sở lý luận theo hướng nghiên
cứu của đề tài, người nghiên cứu xin lựa chọn định nghĩa của tác giả Phạm Minh Hạc để làm cơ sở nghiên cứu vì sự phù hợp của nó với đối tượng nghiên cứu của đề tài và chúng tôi đặc biệt quan tâm và lưu ý đến yếu tố thứ nhất và thứ hai nêu trên vì nó là cơ sở cho hướng nghiên cứu của đề tài và cho thấy được mối quan hệ giữa nhận thức và thái độ của nhóm khách thể đối với đối tượng nghiên cứu
b Các m ức độ của nhận thức
Nhận thức là một quá trình tâm lý hết sức đa dạng, phức tạp và được thể hiện ở nhiều
mức độ khác nhau Hiện nay, trong tâm lý học việc phân chia các mức độ của quá trình
nhận thức cũng có nhiều quan niệm khác nhau Nhưng quan niệm phổ biến và được dùng
rộng rãi nhất là các quan niệm sau:
* Quan ni ệm thứ nhất: Nhận thức được chia làm hai mức độ là nhận thức cảm tính
và nhận thức lý tính
+ Nhận thức cảm tính: quá trình nhận thức cảm tính là giai đoạn thấp của hoạt động
nhận thức, tuy đơn giản nhưng nó mang lại những tài liệu đầu tiên cho nhận thức của con người Nhận thức cảm tính bao gồm quá trình cảm giác và tri giác [32]
Trang 19(1) Cảm giác: là một quá trính nhận thức phản ánh một cách riêng rẻ từng thuộc tính,
bề ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người (màu sắc, hình dáng, khối lượng…)
Quá trình cảm giác bao gồm 3 khâu như sau:
- Khâu 1: kích thích xuất hiện và tác động vào một cơ quan thụ cảm
- Khâu 2: Xuất hiện xung thần kinh được truyền theo các dây thần kinh tới não
- Khâu 3: Vùng thần kinh cảm giác tương ứng ở vỏ não hoạt động tạo ra cảm giác Ngoài ra, con người còn có những cảm giác từ các kích thích xuất hiện bên trong cơ
thể, phản ánh chính các trạng thái cơ thể đang tồn tại (cảm giác đói, cảm giác khát…)
(2) Tri giác: là sự phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật,
hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan Hình ảnh của sự vật có được là dựa trên cơ sở của các thông tin do cảm giác đem lại, dựa trên việc tổ chức, sắp xếp các thuộc tính bên ngoài thành một thể thống nhất theo đúng cấu trúc của sự vật, hiện tượng khách quan [32]
Như vậy, cảm giác được coi như là một nguồn cung cấp thông tin đầu vào, còn tri giác là tổ hợp, diễn giải, gán ý cho các thông tin đó
+ Nhận thức lý tính: là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bên trong, bản
chất của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Nhận thức lý tính gồm có quá trình tư duy và tưởng tượng
(1) Tư duy: là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những
mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng khách quan mà trước đó ta chưa
biết
Xét trên phương diện lịch sử hình thành và mức độ phát triển của tư duy thì có các
loại tư duy sau
- Tư duy trực quan hành động: đây là loại tư duy xuất hiện sớm nhất về phương diện phát sinh chủng loại cũng như về phương diện phát sinh cá thể Là loại tư duy mà việc giải quyết các nhiệm vụ được thực hiện nhờ sự cải tổ thực tế các tình huống và nhờ các hành động vận động có thể quan sát được
- Tư duy trực quan hình ảnh: loại tư duy này chỉ có ở con người, đặc biệt là ở trẻ nhỏ Đây là loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được thực hiện bằng sự cải tổ tình huống chỉ
dựa trên bình diện hình ảnh
Trang 20- Tư duy trừu tượng: là loại tư duy ra đời muộn nhất và chỉ có ở con người Đây là
loại tư duy mà việc giải quyết nhiệm vụ được dựa trên việc sử dụng các khái niệm, các kết
cấu lôgic, được tồn tại và vận hành nhờ ngôn ngữ
Ba loại tư duy này có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau và chi phối
lẫn nhau, trong đó tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình ảnh là cơ sở cho tư duy trừu tượng
(2) Tưởng tượng: là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có
Về nội dung phản ảnh, tưởng tượng phản ánh cái mới, những cái chưa từng có trong kinh nghiệm cá nhân hoặc xã hội
Về phương thức phản ánh, tưởng tượng tạo ra cái mới từ các biểu tượng đã có nhờ phương thức chắp ghép, liên hợp, nhấn mạnh, mô phỏng…
Về sản phẩm phản ánh của tượng tượng là những biểu tượng mơi được xây dựng từ các biểu tượng đã có (biểu tượng của trí nhớ) Biểu tượng của của tưởng tượng mang tính khái quát, biểu tượng của biểu tượng
Tưởng tượng là một quá trình nhận thức lí tính được bắt đầu và thực hiện chủ yếu
bằng hình ảnh nhưng vẫn mang tính khái quát và gián tiếp
Tưởng tượng có quan hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính, nó sử dụng những biểu tượng của trí nhớ do nhận thức cảm tính mang lại Tưởng tượng cũng có quan hệ chặt chẽ
với ngôn ngữ và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn
* Quan ni ệm thứ hai: Bloom chia lĩnh vực nhận thức thành 6 mức độ hoạt động tri
thức, theo một tiến trình liên tục từ dễ đến khó [35]:
(1) Biết: chủ yếu là sự ghi nhớ và tái hiện được các sự kiện, khái niệm cơ bản và các câu trả lời, cũng bao gồm việc có thể xác định, miêu tả, gọi tên, phân loại, nhận biết một sự
vật hiện tượng, khái niệm hoặc mô phỏng, bắt chước một thao tác
(2) Hiểu: hiểu nghĩa, có thể tóm tắt nội dung hoặc diễn giải khái niệm, có thể biến đổi tương đương, hoặc chứng minh sự hiểu biết về các sự kiện và ý tưởng bằng cách so sánh, đối chiếu, có thể nêu ví dụ minh họa
(3) Vận dụng: có thể sử dụng thông tin hay khái niệm trong tình huống mới, biết thiết
lập, thực hiện, tạo dựng, mô phỏng thao tác và các quy tắc theo một cách khác, có thể giải
Trang 21quyết vấn đề bằng cách áp dụng kiến thức đã thu được, dự đoán các sự kiện tiếp theo dựa trên dữ kiện đã có
(4) Phân tích: biết phân chia thông tin, khái niệm thành những bộ phận, nhận ra mối quan hệ giữa những bộ phận ấy, biết xem xét động cơ hoặc nguyên nhân của sự vật, hiện tượng, biết suy luận và tìm bằng chứng cho những nội dung khái quát
(5) Tổng hợp: biết chắp ghép các thành phần với nhau, khái quát hóa để tạo nên nội dung mới, biết tái cấu trúc để tạo thành tổng thể mới, biết kết hợp các thông tin với nhau theo những cách khác nhau hoặc đề xuất các giải pháp thay thế
(6) Đánh giá: có thể nhận xét, nhận định, phê bình ý nghĩa hoặc giá trị của sự vật, hiện tượng dựa trên dự xem xét lược sử trình tự vấn đề, có thể lượng định các các dữ kiện để
khẳng định hoặc bác bỏ một luận điểm
Cách phân chia này của Bloom được biết đến rộng rãi vì tính ứng của nó đặc biệt là trong lĩnh vực dạy học
* Quan ni ệm thứ ba: chia các mức độ nhận thức thành 3 mức độ như sau: nhận biết,
+ Mức độ vận dụng: là khả năng vận dụng tài liệu đã tiếp thu vào hoàn cảnh điều
kiện cụ thể Để đạt được mức độ này mỗi người cần phải: Say mê với công việc mình đang làm, có trình độ và kiến thức văn hóa nhất định; có lòng thương yêu đối với con người
Do đối tượng nghiên cứu của đề tài là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ so với sinh viên nên trong ba quan niệm nêu trên, người nghiên cứu đánh giá mức độ nhận thức của sinh viên đối với vấn đề nghiên cứu dựa theo quan niệm thứ ba Việc lựa chọn quan điểm ngoài việc phù hợp với nhận thức của sinh viên đối với một vấn đề khá mới mẻ này còn tạo
ra những thuận lợi cho người nghiên cứu trong việc xây dựng nội dung của phiếu điều tra và trong quá trình phân tích các số liệu thu được từ phiếu điều tra
c Các y ếu tố ảnh hưởng đến nhận thức
Nhận thức của mỗi người bị tác động bởi nhiều yếu tố, từ các yếu tố bẩm sinh đến
Trang 22môi trường sống, lứa tuổi…Trong đó, có những yếu tố có sự tác động nhiều nhất như:
(1) Bẩm sinh di truyền: cấu tạo của não bộ, đặc điểm hệ thần kinh, giác quan… sẽ ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của con người, cụ thể đó là tốc độ xử lí và tiếp nhận các
kiến thức nhanh hay chậm
(2) Giới tính: Trong quá trình phát triển của mỗi người chúng ta, thông qua việc dạy
dỗ, cách cư xử của cha mẹ và những người lớn xung quanh chúng ta ý thức được “giới tính”
của bản thân Với bản sắc riêng của giới tính nam hoặc nữ sẽ có những ảnh hưởng nhất định
và tạo nên những khác biệt trong suy nghĩ giữa nam giới và nữ giới
(3) Lứa tuổi: Ở những giai đoạn lứa tuổi khác nhau cùng với sự trưởng thành hơn cả
về mặt thể lý và tâm lý sẽ có những ảnh hưởng nhất định và tạo nên những khác biệt trong
nhận thức của mỗi người ở mỗi giai đoạn lứa tuổi
(4) Môi trường sống: Với những môi trường sống khác nhau, chịu ảnh hưởng từ những
gì diễn ra xung quanh bản thân trong mỗi môi trường sống đó như từ các mối quan hệ bạn
bè, mối quan hệ với những người xung quanh, với gia đình, chịu ảnh hưởng từ lối sống của
mọi người xung quanh, lối sống của gia đình…tất cả những yếu tố này sẽ tác động và ảnh hưởng không nhỏ đến việc định hướng giá trị sống của mỗi cá nhân Định hướng giá trị khác nhau ở mỗi cá nhân sẽ cho thấy quá trình nhận thức khác nhau ở mỗi cá nhân
1.2.1.2 Thái độ
a Khái ni ệm
Thái độ là một trong những phạm trù được sử dụng rộng rãi không chỉ trong khoa
học tâm lý mà cả trong các ngành khoa học khác Chính vì vậy, có rất nhiều quan điểm về thái độ, ở đây người nghiên cứu chỉ đưa ra một số quan điểm tiêu biểu về phạm trù này Theo từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên (2010), thái độ được định nghĩa là [20]:
+ Tổng thể nói chung của ý nghĩ, tình cảm đối được thể hiện ra bên ngoài qua nét
mặt, cử chỉ, lời nói, hành động trước một đối tượng, một sự việc nào đó
+ Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề,
một tình hình cụ thể
Lênin định nghĩa thái độ là một bộ phận của lĩnh vực tình cảm phản ánh quan hệ của
cá nhân đối với hiện thực Nó được quyết định bởi thế giới quan của cá nhân cho nên cũng
phản ánh tồn tại xã hội, chịu ảnh hưởng của ý thức giai cấp, của tâm lý xã hội, của dư luận
Trang 23và tập đoàn xã hội Nó thường không phải là những đáp ứng được biểu lộ một cách rõ ràng hay trực tiếp mà là những ý nghĩ đang chuyển hóa hành động
Theo tâm lý học xã hội: Thái độ là sự sẵn sàng ổn định của cá nhân để phản ứng với
một tình huống hay một phức thể tình huống, thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành quy
luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân[29]
Theo từ điển Tâm Lý học, Vũ Dũng chủ biên (2008), thái độ là trạng thái sẵn sàng về
mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh
hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó (phản ứng) có mối liên hệ Nhìn chung người ta cho rằng thái độ có 3 thành tố: nhận thức, cảm xúc và hành vi kết hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, tiêu
cực hay trung lập Một thiên hướng tương đối ổn định để phản ứng theo một cách thức cụ
thể đối với một khách thể có liên quan Thái độ là một sản phẩm phức tạp của các quá trình
học tập, lĩnh hội, trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như chính trị [4]
Theo từ điển Tâm lý học, Nguyễn Khắc Viện chủ biên năm 2001, thái độ (Tiếng Pháp: Attitude) được quan niệm như sau: Trước một đối tượng hay một ý tưởng, con người
bộc lộ những phản ứng tức thì, chẳng hạn tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay
chống đối, như đã sẵn có những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó Từ
những thái độ sẵn có, tri giác về các đối tượng cũng như tri thức bị chi phối Thái độ liên quan với động cơ và dục vọng bản năng Thái độ có sự thay đổi trong quá trình hoạt động và tùy vào hoàn cảnh
Ngoài ra, các tác giả Bùi Ngọc Oánh, Triệu Xuân Quýnh, Nguyễn Hữu Nghĩa đã định nghĩa thái độ “là một thành tố quan trọng cấu tạo nên ý thức Thái độ là những rung
cảm, những cảm nghĩ có khả năng dẫn đến những hành động, hành vi tương ứng với đối tượng nhận thức Thái độ của con người phản ánh các mối quan hệ xã hội mà người đó gia
nhập vào” Các tác giả cũng cho rằng: “để thực hiện những hoạt động nhằm cải tạo hiện
thực khách quan, phục vụ cho những nhu cầu sống còn của mình, con người không phải chỉ
cần phản ánh những thuộc tính khách quan của các đối tượng bằng các hoạt động nhận thức,
mà còn cần phản ánh mối quan hệ của các đối tượng ấy với nhu cầu của mình Mối quan hệ này quy định thái độ của con người đối với đối tượng của quá trình phản ánh Tùy thuộc vào đối tượng có ý nghĩa như thế nào đối với nhu cầu của ta (thỏa mãn hay không thỏa mãn) mà
ta có thái độ tương ứng (tích cực hay tiêu cực) với đối tượng ấy” [35]
Trang 24Với những định nghĩa nêu trên về thái độ, có thể nhận thấy, dù được giải thích theo
những cách thức khác nhau nhưng những định nghĩa trên vẫn có những nét tương đồng Các định nghĩa đều cho rằng:
+ Thứ nhất, thái độ là một dạng phản ứng bên trong (suy nghĩ, tình cảm, cảm nghĩ, cách nhìn,…) và bên ngoài (hành động, hành vi, sự thích ứng…) của cơ thể
+ Thứ hai, thái độ nảy sinh khi có mối liên quan giữa một đối tượng (một sự vật, hiện tượng, một con người, một nhóm người) với sự thỏa mãn chu cầu của chủ thể
+ Thứ ba, thái độ có tính xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể của thái độ và các thành phần khác trong xã hội (trong hoàn cảnh, tình huống xã hội, trong sự trao đổi các giá trị, chuẩn mực xã hội,…)
Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của đề tài hướng đến việc xem xét các phản ứng
của chủ thể nghiên cứu nên để thuận lợi cho việc lập thang thái độ cũng như việc đánh giá thái độ của sinh viên đối với vấn đề nghiên cứu, người nghiên cứu lựa chọn định nghĩa của
từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên (2008) làm cơ sở để xây dựng thang đáng giá cũng như đánh giá
b Các y ếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thái độ
Những yếu tố được xem là có vai trò quyết định đến sự hình thành thái độ là sự thỏa mãn nhu cầu, thông tin, giao tiếp nhóm và nhân cách
(1) Sự thỏa mãn nhu cầu
Việc hình thành thái độ của chủ thể đối với một đối tượng bất kỳ trong thực tiễn không xuất phát từ chính bản thân đối tượng mà được hình thành khi có mối liên quan giữa
một đối tượng với sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân đó Con người hình thành thái độ tích
cực với những đối tượng có lợi, đáp ứng được nhu cầu của bản thân, hình thành thái độ tiêu
cực với đối tượng có hại trong quá trình thỏa mãn nhu cầu của bản thân
Quá trình thỏa mãn nhu cầu là quá trình chủ thể nỗ lực, tích cực tìm kiếm các phương pháp phù hợp để thỏa mãn các nhu cầu, sau đó cảm xúc sẽ xuất hiện và chủ thể bày tỏ thái
Trang 25thái độ đã củng cố thành hệ thống thái độ đã hình thành trước đó về cùng một đối tượng Điều này giúp chủ thể của thái độ nhận rõ thêm về bản chất của vấn đề và dễ dàng bày tỏ thái độ một cách rõ ràng và phù hợp
(3) Giao tiếp nhóm
Trong xã hội hiện đại, mỗi cá nhân luôn luôn tồn tại trong một nhóm xã hội nhất định
và thái độ của mỗi thành viên đều phản ánh cái giá trị, chuẩn mực, niềm tin của nhóm mà họ tham gia Mỗi nhóm có mục đích hoạt động, chuẩn mực, tôn chỉ khác nhau nên thái độ của các nhóm cũng khác nhau đối với các vấn đề của xã hội
Giá trị mà cả nhóm theo đuổi sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành thái độ của các thành viên trong nhóm Chuẩn mực của nhóm không chỉ xác định hành vi nào là đúng – sai, hành
vi nào là tốt – xấu mà còn xác định xem thái độ nào là tốt hay xấu Dưới sức ép của những chuẩn mực nhóm, cá nhân sẽ hình thành và phát triển những thái độ phù hợp, những thái độ không phù hợp với chuẩn mực của nhóm sẽ dần dần bị loại bỏ
(4) Nhân cách
Nhờ đặc điểm của nhân cách mà dưới sức ép của những chuẩn mực của các nhóm xã
hội mà mình tham gia, cá nhân vẫn có sự chủ động trong việc tiếp nhận các thái độ trong nhóm cũng như cách thức biểu lộ thái độ Trong quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách, cá nhân tự củng cố hệ thống thái độ, hình thành thái độ mới và loại bỏ
những thái độ không phù hợp với định hướng phát triển nhân cách của mình
Quá trình hình thành thái độ của một cá nhân chịu sự chi phối của 4 yếu tố nêu trên Chính vì vậy để thay đổi thái độ của một cá nhân đối với bất kỳ một vấn đề nào, chúng ta
cần phải có sự tác động phù hợp vào các yếu tố đó
* M ối quan hệ giữa nhận thức và thái độ
Như đã nói ở trên “để thực hiện những hoạt động nhằm cải tạo hiện thực khách quan,
phục vụ cho những nhu cầu sống còn của mình, con người không phải chỉ cần phản ánh
những thuộc tính khách quan của các đối tượng bằng các hoạt động nhận thức, mà còn cần
phản ánh mối quan hệ của các đối tượng ấy với nhu cầu của mình Mối quan hệ này quy định thái độ của con người đối với đối tượng của quá trình phản ánh…”
Như vậy, nhận thức và thái độ cùng là kết quả của sự phản ánh tâm lý, trong đó: + Nhận thức là kết quả của phản ánh, còn thái độ là kết quả của phản ánh cảm xúc
Trang 26+ Nhận thức hướng vào phản ánh bản thân sự vật, hiện tượng – đối tượng của nhận
thức Còn thái độ hướng vào phản ánh mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng và sự thỏa mãn nhu cầu của con người
Chính vì vậy, thái độ và nhận thức có mối liên quan chặt chẽ với nhau, hai quá trình tâm lý cơ bản này tạo nên cấu trúc của hiện tượng ý thức
+ Thái độ chính là một phần trong biểu hiện tình cảm Trong khi đó, nhận thức là cơ
sở của tình cảm, tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người tìm tòi chân lý Trong mối quan hệ này, quá trình nhận thức giúp cá nhân hiểu biết về đối tượng để quyết định việc sử dụng đối tượng đó phục vụ cho nhu cầu của mình Từ nhu cầu của mình, con người có thái độ chấp nhận hay không chấp nhận việc tiếp tục nhận thức về đối tượng đó + Nhận thức chi phối thái độ, nhận thức là cơ sở là nền tảng để nảy sinh thái độ Con người phải có thông tin về đối tượng để có thái đố đúng nhất với đối tượng đó Biết đối tượng là gì, nó có quan trọng, có ý nghĩa gì với mình để từ đó cá nhân có thái độ tích cực hay tiêu cực với đối tượng để tránh xảy ra những thái độ không như mong muốn
+ Thái độ chịu sự chi phối của nhận thức, nhưng thái độ cũng tác động ngược lại
nhận thức Khi chúng ta có một thái độ tích cực với một vấn đề cụ thể thì nhu cầu và hứng thú của nhận thức được nâng lên và ngược lại
+ Ý thức là sự tích hợp, hội nhập giữa nhận thức và thái độ Cấu trúc của ý thức bao
gồm 3 mặt: nhận thức, thái độ và sự năng động trong việc điều chỉnh, điều khiển hành vi,
hoạt động Mặt nhận thức là hạt nhân của ý thức, cho thấy hàm lượng tri thức trong ý thức
Mặt thái độ cho thấy cảm xúc, sự lựa chọn, sự đánh giá trong ý thức Mặt năng động của ý
thức cho thấy khả năng vận dụng tri thức và thái độ trong việc thể hiện thành hành vi, hoạt động cải tạo thế giới, cải tạo bản thân Đây là ba mặt thống nhất của ý thức, muốn thay đổi hành vi của cá nhân không thể tác động riêng chỉ một mặt nào mà phải có sự tác động phù
hợp lên cả 3 mặt, trong đó việc xây dựng nhận thức và thái độ là bước đi đầu tiên làm cơ sở cho sự phát triển cao hơn
Hai quá trình nhận thức và thái độ có mối quan hệ gắn bó như trên nhưng chúng vẫn
có những nét riêng như sau: nhận thức phản ánh những thuộc tính và các mối quan hệ của
bản thân thế giới Còn thái độ thì thể hiện mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhu
cầu, động cơ của con người Do vậy, trong quá trình nghiên cứu, tác động cần chú ý, không
phải trường hợp nào cũng có thể dùng biểu hiện của một cái để dự báo hoặc suy lý kết quả
hoặc mức độ của cái còn lại
Trang 271.2.1.3 Sinh viên
a Khái ni ệm
Thuật ngữ sinh viên có gốc từ tiếng La tinh "Student", nghĩa là người làm việc, người tìm kiếm, khai thác tri thức Sinh viên là những người đang chuẩn bị cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội Các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa
học, sản xuất hay hoạt động xã hội của họ đều phục vụ cho việc chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình sau khi kết thúc quá trình học trong các trường nghề Theo từ điển Tiếng Việt, sinh viên là người học ở bậc đại học [20]
Theo từ điển wikipedia, sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng
cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là
họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học
Như vậy, có thể thấy sinh viên là những người đang học tập ở các trường đại học, cao đẳng và là những người công dân thực thụ của đất nước với sự phát triển hoàn thiện về tâm – sinh lý
b Đặc điểm
* Đặc điểm sinh lý: Sinh viên thường là những người ở độ tuổi 19 đến 25 Ở lứa tuổi
này, con người đã đạt đến mức hoàn thiện tất cả các hệ thống thần kinh, cơ xương… Các tố
chất thể lực đều phát triển mạnh như sức nhanh, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt nhờ sự phát triển ổn định của các tuyến nội tiết cũng như sự tăng trưởng của các hoocmon Trọng lượng não ở tuổi này đạt ở trọng lượng tối đa (khoảng 1.400g) và chứa khoảng 100 tỉ nơron Nơron của tuổi sinh viên hoàn hảo hơn, cách li tốt, đốt nhánh nhiều so với lứa tuổi trước Slâyben đã tính được nhiều tế bào thần kinh não đến tuổi sinh viên có thể nhận tin từ 1.200 nơron sau và ước tính có tới 2/3 số kiến thức học được trong một đời người do được tích lũy trong thời gian này Ở lứa tuổi thanh niên sinh viên còn có nhiều yếu tố bẩm sinh di truyền
đã được biến đổi dưới ảnh hưởng của điều kiện sống và giáo dục
* Đặc điểm tâm lý: Ở tuổi sinh viên, các chức năng tâm lý cũng có nhiều thay đổi,
đặc biệt trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy Các nghiên cứu tâm lý học cho
thấy rằng ở tuổi này, các hoạt động tư duy của thanh niên sinh viên rất tích cực và có tính độc lập, tư duy lý luận phát triển mạnh, có khả năng khái quát các vấn đề, nhờ đó mà tự
Trang 28mình phát hiện ra cái mới Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo
1.2.1.4 Nh ận thức và thái độ của sinh viên
a Nh ận thức của sinh viên
Sự trưởng thành về mặt sinh học ở lứa tuổi này góp phần làm cho nhận thức của sinh viên trở nên chín chắn và trưởng thành hơn
Cấu tạo cơ thể, não bộ phát triển giúp sinh viên tăng năng lực nhận thức thế giới khách quan
Cùng với vai trò và vị trí mới trong xã hội, sinh viên cũng có ý thức cao hơn trong
việc tự mình tìm hiểu và nâng cao trình độ nhận thức của bản thân
Xã hội phát triển, sinh viên ngày càng có nhiều cơ hội để tiếp nhận những nguồn thông tin mới đối với mọi vấn đề trong đời sống xã hội Đứng trước một vấn đề mới mẻ nào sinh viên cũng sẵn sàng tìm tòi đề hiều biết và tích lũy kiến thức cần thiết nhằm phục vụ cho chính bản thân mình
Nhận thức của sinh viên mang chịu ảnh hưởng khá lớn từ cái tôi của bản thân Sinh viên có sự độc lập trong nhận thức của mình và cũng rất xem trọng việc giữ gìn, bảo vệ
“chính kiến” của cá nhân Và đó được xem là một cách cư xử thể hiện hình ảnh của bản thân
Như đã xác định ở trên, để tạo sự thuận lợi cho đề tài, người nghiên cứu đánh giá
nhận thức của sinh viên trên ba phương diện: nhận biết, thông hiểu và vận dụng Cụ thể như sau:
+ Nhận biết: Ở mức độ này, trước một vấn đề cần tìm hiểu, sinh viên có thể nhận lại,
thậm chí nhắc lại các tài liệu, các tri thức theo trình tự nhất định của tài liệu mà mình được
tiếp xúc Ở mức độ này sinh viên chỉ mới hiểu được hình thức của tài liệu chứ chưa hiểu được nội dung tài liệu hoặc hiểu một cách hời hợt Hay nói cách khác, trước một vấn đề cần lĩnh hội, trước một tài liệu cần tiếp thu, sinh viên có thể nhớ được hình thức bên ngoài nhưng chưa nhận thức được bản chất của sự vận hiện tượng Nhận thức ở mức độ này giúp sinh viên phân biệt được sự vật, hiện tượng trên cơ sở những dấu hiệu bề ngoài
+ Mức độ thông hiểu: Ở mức độ này, khi tìm hiểu một vấn đề nào đó, sinh viên có
thể nắm được nội dung tài liệu, có thể hiểu được nội hàm của vấn đề, nắm được phần nào
bản chất của vấn đề tìm hiểu, của tri thức cần lĩnh hội nhưng chưa biết cách vận dụng những
kiến thức đó vào hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống
Trang 29+ Mức độ vận dụng: là khả năng vận dụng những tri thức đã lĩnh hội được vào cuộc
sống thực tiễn Điều kiện để đạt được mức độ đó chính là sự say mê của sinh viên đối với
vấn đề mà mình cần tìm hiểu, họ phải có trình độ và kiến thức văn hóa nhất định, có lòng thương yêu đối với con người Đây là nền tảng để sinh viên có thể nâng cao quá trình nhận
thức của bản thân và vận dụng một cách linh hoạt và phù hợp những kiến thức đã tiếp thu được vào cuộc sống của chính bản thân
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất để quá trình nhận thức diễn ra một cách tốt nhất đó chính là sự tự ý thức của sinh viên Chính bản thân sinh viên nếu có sự quyết tâm tìm tòi, khám phá những tri thức, kiến thức mới đối với các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống thì
nhận thức của họ sẽ nhanh chóng đạt được mức độ vận dụng một cách chắc chắn và từ
những kiến thức đã tiếp thu được từ quá trình nhận thức, họ sẽ có thể có những phát kiến
mới để cải thiện cuộc sống, góp phần giải quyết những vấn đề nhức nhối của xã hội
* M ột số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên
Bản thân quá trình nhận thức đã chịu sự ảnh hưởng của nhiều tố nên quá trình nhận
thức ở sinh viên cũng chịu sự ảnh hưởng tương ứng
+ Nền tảng sinh lý: Như đã nói ở trên, cấu tạo não bộ cũng như hệ thần kinh, các giác quan sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tốc độ nhận thức vấn đề ở mỗi sinh viên Và đây là giai đoạn lứa tuổi mà sinh viên có thể đạt đến dự hoàn thiện về cấu tạo cơ thể và tạo rất nhiều thuận lợi cho quá trình nhận thức của bản thân Nhận thức của sinh viên đối với các sự vật,
hiện tượng cũng sẽ chịu những ảnh hưởng rất lớn khi não bộ cũng như hệ thần kinh, các giác quan có những tổn thương
+ Môi trường: môi trường sống và học tập của sinh viên ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình nhận thức của họ Sinh viên trong các hoạt động chung với các nhóm sinh viên khác có
thể bị ảnh hưởng cách suy nghĩ và cách nhìn nhận đối với một vấn đề cụ thể Đôi khi do
những áp lực từ số đông những sinh viên khác trong môi trường của mình, sinh viên cũng
có khả năng thay đổi định hướng giá trị của bản thân và có những thay đổi nhất định trong
nhận thức của chính bản thân đối với một vấn đề cụ thể
Tuy nhiên, cũng phải xét đến một yếu tố mang tính khách quan đó chính là ý thức
của mỗi sinh viên Đối với những sinh viên có sự hiểu biết và có ý thức trong việc nâng cao
khả năng nhận thức của bản thân họ sẽ có những cách thức phù hợp để cải thiện quá trình này ở bản thân Bởi vì trên thực tế, có những bài tập, có những phương pháp và cách thức
để nâng cao khả năng hoạt động của não bộ cũng như của các giác quan thông qua sự rèn
Trang 30luyện Ngoài ra, khi sinh viên có ý thức trong việc tạo ra những giá trị riêng của bản thân, xây dựng hình ảnh bản thân thì cũng rất khó bị môi trường tác động
b Thái độ của sinh viên
Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm đạo đức, trí tuệ và
thẩm mĩ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách Nên khi đứng trước một vấn đề, một đối tượng sinh viên sẽ bày tỏ thái độ của mình một cách rất rõ ràng có thể tích cực, tiêu cực hay trung lập theo nhận thức, cảm xúc của bản thân
Dựa vào kinh nghiệm sống của bản thân, và những kiến thức tiếp thu đượ trong quá trình học tập, sinh sống của bản thân sinh viên có thể có những thái độ rất khác nhau đối với
những tình huống có mối liên hệ với bản thân mình
Sinh viên sẽ có một thiên hướng tương đối ổn định để phản ứng theo một cách thức cụ
thể đối với một khách thể có liên quan
Thái độ của sinh viên đối với bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng là một sản phẩm
phức tạp của các quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như chính trị Việc sinh viên có hứng thú với một vấn đề nào đó sẽ kích thích sự quan tâm và bày tỏ thái độ của sinh viên, việc sinh viên có thành kiến, ác cảm, thiện chí đối với một vấn đề nào đó cũng làm cho thái độ của họ đối với cùng một vấn đề có những khác biệt và thể hiện được chính
kiến của bản thân
* M ột số yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên
+ Nhận thức của sinh viên: Nhận thức và thái độ có mối tương quan và sự tác động qua lại lẫn nhau nên trước hết yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến thái độ của sinh viên chính
là quá trình nhận thức của sinh viên Đứng trước một vấn đề, nếu sinh viên nhận thức được đúng vấn đề thì sẽ có thái độ tích cực và ngược lại Tuy nhiên nó cũng chỉ mang tính chất tương đối vì cũng có những trường hợp nhận thức đúng được vấn đề nhưng thái độ vẫn chưa tích cực khi đối mặt với vấn đề Hậu quả nghiêm trọng nhất nếu sinh viên nhận thức sai vấn
đề, dẫn đến có thái độ tiêu cực mà lẽ ra không nên có
+ Ngoài ra, còn có một số yếu tố khác cũng có sự tác động không nhỏ đến thái độ của sinh viên như môi trường sống của sinh viên, cái tôi của bản thân, nhu cầu của sinh viên, áp
lực nhóm mà sinh viên tham gia
Trang 311.2.2 M ột số vấn đề về rối loạn sức khỏe tâm thần
1 Đảo lộn cấu trúc của một cái gì đó
2 Gây thiệt hại cho một cái gì đó, đảo lộn trật tự của một trạng thái bình thường
3 Sự hỗn loạn
4 Trạng thái bệnh lý làm đảo lộn những hoạt động bình thường của con người (4)
Ở đây, chúng ta xét rối loạn trên đối tượng cụ thể là con người nên có thể khái quát lại
rằng: Rối loạn là một trạng thái bệnh lý cho thấy những cư xử, phản ứng bất thường khác
với trạng thái thường xuyên và ổn định ở một người và gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc
sống
* S ức khỏe tâm thần là gì
Sức khỏe tâm thần được nhắc đến như là sức khỏe tâm lý trong từ điển Tâm lý học với
ý nghĩa sau: Là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối
loạn tâm thần, một trạng thái bảo đảm cho sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường [4]
Theo R.Jenkins, A.Culloch và C.Parker – WHO (1998), cá nhân khỏe mạnh về sức
khỏe tâm thần là cá nhân có: một cuộc sống thật sự thoải mái; niềm tin vào giá trị bản thân, vào giá trị và phẩm chất của người khác; khả năng ứng xử bằng cảm xúc, hành vi hợp lý trước mọi tình huống; khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển thỏa đáng các mối quan hệ;
khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất cân bằng [34]
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây thuật ngữ sức khỏe tâm thần đã được thống nhất và
sử dụng rộng rãi Đồng thời tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về Sức khỏe tâm thần như sau:
Sức khỏe tâm thần là một trạng thái không chỉ không có rối loạn hay dị tật tâm thần
mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái, cân bằng về cảm xúc, hòa hợp giữa các mối quan hệ gia đình, xã hội Trong trạng thái đó cá nhân nhận ra được các năng lực của
Trang 32chính mình, có thể đương đầu với các stress bình thường của cuộc sống, có thể làm việc năng suất và hiệu quả và có thể đóng góp cho cộng đồng, xã hội mà mình đang sống
* R ối loạn sức khỏe tâm thần là gì?
Rối loạn sức khỏe tâm thần được hiểu như là Rối loạn tâm thần nhằm để chỉ trạng thái tâm lý bất thường so với sự phát triển bình thường của một người khỏe mạnh, trạng thái này được phản ánh trong hành vi và thường gắn với đau khổ hoặc khuyết tật Rối loạn tâm thần thường được xác định bởi sự kết hợp như thế nào của cảm xúc, hành vi, suy nghĩ hoặc cảm
nhận ở một người [45]
Chúng tôi cho rằng rối loạn sức khỏe tâm thần là một thuật ngữ dùng để chỉ mặt không
khỏe mạnh trong Sức khỏe tâm thần của mỗi người Căn cứ vào hai khái niệm nói trên có
thể rút ra định nghĩa về Rối loạn sức khỏe tâm thần như sau: là trạng thái tâm lý bất thường,
có rối loạn hay dị tật tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần không có sự thoải mái, không có sự cân bằng về cảm xúc, sự hòa hợp giữa các mối quan hệ gia đình, xã hội Trong trạng thái đó cá nhân không nhận ra được các năng lực của chính mình, khả năng đương đầu với các stress bình thường của cuộc sống là thấp thậm chí không có khả năng, khó có thể làm việc năng suất và hiệu quả để có thể đóng góp cho cộng đồng, xã hội mà mình đang sống
Hay nói cách khác vấn đề Rối loạn sức khỏe tâm thần là một cụm từ mô tả đầy đủ các khó khăn về sức khỏe tâm thần mà một người có thể gặp phải, từ những đau khổ trong trải nghiệm của mỗi người cho đến những rối loạn tâm thần nghiêm trọng
1.2.2.2 Các d ạng rối loạn sức khỏe tâm thần
Các định nghĩa và phân loại các RLSKTT là một vấn đề quan trọng cho các nhà nghiên cứu Hiện nay có hai hệ thống phân loại được sử dụng phổ biến và rộng rãi là ICD –
10 của tổ chức WHO và Sổ tay thống kê chẩn đoán DSM-IV của Hiệp hội tâm thần Mỹ Theo quy định của DSM –IV và ICD, RLSKTT được phân chia thành các loại sau:
(1) R ối loạn khí sắc: Tình cảm (cảm xúc và tâm trạng) có thể trở nên rối loạn Thể
hiện ở tâm trạng buồn bã có liên quan đến những căng thẳng bất thường và bền vững, hoặc
là tuyệt vọng [45]
(2) R ối loạn lo âu: Sự sợ hãi quá mức không có nguyên nhân hay do chủ quan của
người bệnh và không thể giải thích được do một bệnh tâm thần hoặc do bệnh cơ thể Rối
loạn lo âu là rối loạn mà người bệnh không thể kiểm soát được, biểu hiện bền vững và mang tính lan tỏa, thậm chí có thể xảy ra dưới dạng kịch phát [4]
Trang 33(3) R ối loạn dạng cơ thể: những biểu hiện tái diễn các triệu chứng cơ thể nhưng
không có bệnh cơ thể hoặc nếu có thì cũng không đủ để giải thích bản chất, phạm vi của các triệu chứng hoặc sự đau khổ và bận tâm của người bệnh Người bệnh không bao giờ thừa
nhận, thậm chí có thể còn phản ứng rất mạnh trước 1 nguyên nhân tâm lý của bệnh [4]
(4) R ối loạn giả tạo: những triệu chứng ở một cá nhân được chẩn đoán là cố tình tạo
ra hoặc giả vờ để mang lại lợi ích cho cá nhân đó [45]
(5) R ối loạn phân ly: được dùng để thay thế cụm từ “Hysteria”, biểu hiện của các rối
loạn phân ly rất đa dạng, có thể là các triệu chứng cơ thể, các triệu chứng tâm thần, có thể
giống rất nhiều bệnh khác nhau Nguyên nhân chủ yếu của các rối loạn phân ly là các chấn thương tâm lý gây giảm sức mạnh như lo sợ độ cao, tức giận quá mức, thất vọng nặng
nề…Các rối loạn này thường phát sinh một thời gian ngắn sau chấn thương Các nhân tố thuận lợi cho rối loạn phân ly là nhân cách yếu [4]
(6) R ối loạn tình dục và các rối loạn nhận dạng về giới: những rối loạn có liên quan
đến rối loạn bản sắc giới tính, rối loạn xác định giới tính và đồng tính luyến ái Việc kích thích tình dục với các đối tượng, tình huống, cá nhân một cách bất thường hoặc có hại cho
cá nhân hoặc những người khác được coi là những rối loạn tâm thần [45]
(7) R ối loạn hành vi ăn uống: liên quan đến mối quan tâm không cân xứng trong các
vấn đề của thực phẩm và trọng lượng Các loại rối loạn bao gồm chán ăn tâm thần và háu
ăn [45]
(8) R ối loạn giấc ngủ: liên quan đến việc giấc ngủ bình thường bị gián đoạn, hoặc có
cảm giác mệt mỏi mặc dù giấc ngủ xuất hiện bình thường [45]
(9) R ối loạn thích ứng: Một dạng rối loạn chức năng tâm lý do căn nguyên tâm lý
Rối loạn thích ứng thể hiện chủ yếu ở trạng thái đau khổ của chủ thể, rối loạn cảm xúc, gây
trở ngại cho các mối quan hệ xã hội và hiệu quả hoạt động cá nhân Tính dễ bị tổn thương đóng vai trò lớn trong nguy cơ rối loạn thích ứng [4]
(10) R ối loạn nhân cách: Là một dạng bệnh lý tâm thần biểu hiện bằng những nét tính
cách bệnh lý, nhân cách mất thăng bằng đến mức rối loạn sự thích nghi của cá nhân với môi trường và rối loạn mối quan hệ bình thường với những người xunh quanh Các điểm bệnh lý kéo dài dai dẳng, tương đối bền vững, hầu như hết cả cuộc đời [45]
(11) R ối loạn về kiểm soát xung động: Những người có những cư xử bất thường
không thể chống lại một số thúc giục hoặc xung đột có thể gây hại cho bản thân hoặc người
Trang 34khác, bao gồm các rối loạn như rối loạn tic, hội chứng Tourette và các rối loạn như chứng
ăn cắp vặt Có thể đó là việc nghiện những hành vi khác nhau như nghiện cờ bạc [45]
1.2.2.3 M ột số biểu hiện của RLSKTT
Cá nhân có RLSKTT thường có trạng thái tâm lý bất thường, không có sự cân bằng về cảm xúc, sự hòa hợp giữa các mối quan hệ gia đình, xã hội Trong trạng thái đó cá nhân không nhận ra được các năng lực của chính mình, khả năng đương đầu với các stress bình thường của cuộc sống là thấp thậm chí không có khả năng, khó có thể làm việc năng suất và hiệu quả để có thể đóng góp cho cộng đồng, xã hội mà mình đang sống Có những biểu hiện được đặc trưng bởi sự thay đổi trong suy nghĩ, tâm trạng hoặc hành vi liên kết với đau khổ
và / hoặc hoạt động kém của cá nhân
1.2.2.4 Ảnh hưởng của Rối loạn sức khỏe tâm thần đến đời sống
Những người đang gặp phải các RLSKTT thường chịu những ảnh hưởng sau đến đời
sống: gặp trở ngại trong việc chăm sóc bản thân (ăn mặc, chải chuốt, mặc quần áo, mua
sắm…), họ không có khả năng đối phó với những sự thay đổi của cuộc sống, với các sự kiện như: sinh con, dọn nhà, trải qua việc mất người thân…Họ gặp khó khăn trong việc thiết lập, duy trì các mối quan hệ với mọi người xung quanh Những người này cũng thường khó giữ được công việc của mình một cách tốt nhất, thậm chí có thể mất việc làm Họ cũng gặp khó khăn trong việc nhận thức trước bất kỳ tình huống nào xảy ra có liên quan đến bản thân họ
1.2.2.5 Nguyên nhân gây R ối loạn sức khỏe tâm thần
Các nguyên nhân của rối loạn sức khỏe tâm thần rất đa dạng, phụ thuộc vào nhiều
yếu tố (hoàn cảnh sống, cách phản ứng của bản thân trước các tình huống,…) và trong một
số trường hợp không rõ ràng Một số rối loạn có thể xuất hiện thoáng qua và ngẫu nhiên ở
một số người nhưng có thể mãn tính ở một số khác Một số rối loạn có thể thay đổi theo thời gian và trên các lĩnh vực cuộc sống khác nhau Hay nói cách khác, rối loạn sức khỏe tâm
thần có thể phát sinh từ nhiều nguồn và trong nhiều trường hợp không có nguyên nhân nào được xem là phù hợp duy nhất Tuy nhiên, một cách tương đối có thể xem xét các nguyên nhân gây ra RLSKTT trên những yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội Trong đó, một số rối
loạn tâm thần có thể xuất hiện bởi các rối loạn về mạch não và một sự tương tác phức tạp
của di truyền học và kinh nghiệm Sự rối loạn trong việc phát triển hệ thần kinh được xem như là một trong những nguyên nhân gây ra những rối loạn sức khỏe tâm thần nhất định Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự thay đổi trong gen có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển các rối loạn tâm thần ở một cá nhân Những tác động diễn ra trong thời
Trang 35gian mang thai cũng như những tổn thương não đều là những nguyên nhân có thể gây ra RLSKTT Các cơ chế tâm lý cũng là một trong những nguyên nhân chẳng hạn như nhận
thức của cá nhân đó đối với vấn đề, những thành kiến, cảm xúc của họ cũng như đặc điểm tính cách và những phản ứng của họ trong những tình huống nhất định Yếu tố xã hội cũng
là một trong những nguyên nhân có thể gây RLSKTT, cụ thể đó là những trường hợp bị lạm
dụng, bắt nạt, những căng thẳng xã hội, những kinh nghiệm tiêu cực của cá nhân trong hoàn
cảnh sống Các vấn đề khác cũng có liên quan như vấn đề khó khăn trong việc làm, xã hội
bất bình đẳng, thiếu sự gắn kết xã hội, sự khác biệt trong văn hóa…đều là những nguy cơ cao gây nên RLSKTT ở mỗi cá nhân
1.2.2.6 Phòng ng ừa và chữa trị Rối loạn sức khỏe tâm thần
*Phòng ng ừa
Năm 2011, trong hướng dẫn của Hiệp hội tâm thần châu Âu (EPA) cũng như của
Viện Hàn lâm Quốc gia Hoa Kỳ trong việc phòng chống các rối loạn tâm thần cho thấy có
cơ sở khoa học cho thấy chúng ta có thể ngăn ngừa nhiều rối loạn tâm thần trước khi nó
xuất hiện ở một cá nhân nào đó và các khuyến nghị này bao gồm việc [45]:
- Hỗ trợ sức khỏe tâm thần và kỹ năng nuôi dạy cho cha mẹ
- Khuyến khích các năng lực phát triển ở trẻ em và sử dụng chiến lược phòng ngừa đặc
biệt đối với trẻ em có nguy cơ (như trẻ em có cha mẹ bị bệnh tâm thần, hoặc với những gia đình ly hôn, mất việc làm…)
Cũng có những nghiên cứu cho thấy việc “nói chuyện với một người bạn hoặc một người thân trong gia đình” là rất hữu ích cho việc chăm sóc sức khỏe tâm thần của bản thân
và phòng ngừa các rối loạn tâm thần
Như vậy có thể thấy, việc phòng ngừa RLSKTT liên quan nhiều đến quá trình sống
và phát triển của mỗi cá nhân ngay từ khi còn là một đứa trẻ Thêm vào đó, có thể phòng
ngừa RLSKTT bằng việc có một cuộc sống lành mạnh và biết cách chia sẻ các vấn đề của mình đối với những người xung quanh
Trang 36Nhìn chung, liệu pháp tâm lý là một trong những lựa chọn tối ưu đối với RLSKTT
Một số liệu pháp được sử dụng như trị liệu nhận thức – hành vi (CBT) căn cứ trên việc “sửa đổi” các mô hình của suy nghĩ và hành vi liên quan đến bệnh các rối loạn cụ thể [28] Theo
tiến sĩ Stephen Brier (2009), tại Anh, Dịch vụ về sức khỏe quốc gia với sự đề xuất của giáo
sư Richard Layard, chính phủ đã vui vẻ chấp thuận việc đào tạo hơn 10 nghìn nhà trị liệu
nhận thức hành vi trong toàn nước Anh, bởi nhiều nghiên cứu và minh chứng cho thấy rằng đây là liệu pháp có đầy đủ chứng cứ khoa học nằm trong danh sách của các liệu pháp dùng cho việc điều trị các vấn đề về sức khỏe tinh thần và được áp dụng rộng rãi [28] Ngoài ra, các liệu pháp trị liệu gia đình, phân tâm học,…cũng được sử dụng trong việc điều trị các RLSKTT Đặc biệt là các liệu pháp sáng tạo cũng được sử dụng như trị liệu âm nhạc [30],
liệu pháp nghệ thuật…Ngoài ra, điều trị còn hướng đến việc điều chỉnh lối sống và các biện pháp hỗ trợ thường là sự hỗ trợ của bạn bè, người thân, các nhóm tình nguyện…Một số loại
rối loạn cũng được điều trị kèm với dùng thuốc tâm thần chẳng hạn như rối loạn khí sắc, rối
loạn lo âu…
1.2.3 Nh ận thức và thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần
1.2.3.1 Nh ận thức của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần
RLSKTT là một vấn đề khá mới mẻ nên nhận thức của sinh viên đối với vấn đề này
có thể đúng đắn hoặc sai lầm, có thể sinh viên sẽ cho thấy họ có nhận đúng đắn đối với một
mặt nào đó của vấn đề nhưng đối với mặt khác thì nhận thức của họ lại chưa phù hợp và tích
cực Trong việc nhận thức về RLSKTT, sinh viên có thể đạt đến những mức độ nhận thức khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Điều đó thể hiện cụ thể ở những nội dung có liên quan đến vấn đề RLSKTT như sau:
a Sinh viên có thể nhận biết được các dạng của RLSKTT: Ở mức độ nhận biết này, sinh viên không cần phải am hiểu chi tiết về mỗi rối loạn, không cần biết nguyên nhân gây
ra RLSKTT mà chỉ cần biết được những rối loạn nào được xét vào RLSKTT, đặc biệt là
những rối loạn phổ biến và thường gặp trong cuộc sống
b Sinh viên từ những kiến thức đã có của mình về vấn đề RLSKKT hoặc từ sự hiểu
biết của mình có thể đưa ra những nhận định chung khá rõ ràng về RLSKTT Đây có thể được coi là mức độ thông hiểu trong quá trình nhận thức của sinh viên Họ có khả năng khái quát lại những hiểu biết của mình về RLSKTT
c Nhận thức của sinh viên đối với vấn đề RLSKTT còn thể hiện ở việc sinh viên có
Trang 37khả năng vận dụng những kiến thức đã có về RLSKTT trong những điều kiện hoàn cảnh cụ
thể để có những lựa chọn phù hợp đối với vấn đề này Ở đây, nhận thức của sinh viên được
thể hiện ở việc sinh viên có thể xác định được những biểu hiện, nguyên nhân, ảnh hưởng và cách phòng ngừa cũng như chữa trị RLSKTT
1.2.3.2 Thái độ của sinh viên đối với rối loạn sức khỏe tâm thần
Thái độ của sinh viên đối với vấn đề RLSKTT chính là việc sinh viên bộc lộ những
phản ứng của bản thân đối với vấn đề này Đó là việc sinh viên có thể dễ dàng đón nhận
hoặc khó chịu khi gia đình có người gặp phải RLSKTT, khi chính bản thân mình gặp phải RLSKKT Ngoài ra thái độ đó còn được thể hiện ở việc sinh viên có đồng tình hay phản đối
những người có RLSKTT được tham gia như những người bình thường trong cộng đồng, sinh viên có sẵn sàng hỗ trợ những người này khi cùng làm việc với họ không, sinh viên có
kì thị những người này không Thái độ đó còn được thể hiện ở việc họ có nhu cầu biết đến
vấn đề này hay không? Họ có nhu cầu biết đến các cách phòng ngừa và chữa trị RLSKTT không? Bên cạnh đó, thái độ của sinh viên đối với vấn đề này còn thể hiện được cái động
cơ và việc thỏa mãn nhu cầu của bản thân sinh viên đối với các mặt khác có liên quan đến
vấn đề RLSKTT
1.2.4 M ột số tiêu chí đánh giá nhận thức và thái độ của sinh viên đối với rối loạn
s ức khỏe tâm thần
1.2.4.1 M ột số tiêu chí đánh giá nhận thức của sinh viên đối với RLSKTT
Sinh viên phải có những hiểu biết nhất định về những kiến thức cơ bản của vấn đề RLSKTT Nhận thức của sinh viên sẽ được đánh giá trên việc sinh viên biết đến các dạng
rối loạn thuộc RLSKTT, sinh viên có những lựa chọn tương đối hợp lý với những kiến thức
về RLSKTT mà người nghiên cứu đưa ra như: nhận định chung về RLSKTT, biểu hiện của RLSKTT, những ảnh hưởng của RLSKTT đến đời sống, nguyên nhân gây RLSKTT và cách phòng ngừa cũng như chữa trị RLSKTT Cụ thể như sau:
a Về các dạng rối loạn thuộc RLSKTT: Nhận thức của sinh viên về vấn đề này được đánh giá thấp hay cao tùy thuộc vào việc thừa nhận và biết đến những rối loạn cụ thể nào
của RLSKTT, đặc biệt là những rối loạn đã quen thuộc và phổ biến trong cuộc sống thường ngày của sinh viên như RL Khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ
b Đối với nhận định chung về RLSKTT: Nhận thức của sinh viên cũng được đánh giá qua lựa chọn (đồng ý với những phát biểu tích cực và không đồng ý với những phát biểu
Trang 38tiêu cực) thể hiện được việc sinh viên có những hiểu biết cơ bản về những vấn đề đơn giản
nhất của RLSKTT như: những đối tượng dễ gặp phải RLSKTT, tầm quan trọng của việc can thiệp và chữa trị RLSKTT, nguy cơ gặp phải RLSKTT trong đời sống
c Khả năng vận dụng những kiến thức đã có về RLSKTT
+ Đối với những biểu hiện của RLSKTT: Nhận thức của sinh viên được đánh giá qua
việc sinh viên có những lựa chọn hợp lý thể hiện được sự rõ ràng của mình trong việc quyết định đâu là những biểu hiện cơ bản của người đang gặp phải RLSKTT cũng như những biểu
hiện cơ bản của những người không có RLSKTT
+ Đối với những ảnh hưởng của RLSKTT đến đời sống: Sinh viên ý thức và biết được đâu là những ảnh hưởng thường thấy nhất của RLSKTT đến đời sống của chính họ và
những người xung quanh Ở đây, nhận thức của sinh viên được đánh giá qua việc họ có
những lựa chọn phù hợp thông qua mức độ mà họ thừa nhận và quyết định rằng đâu là
những ảnh hưởng của RLSKTT đến đời sống trong số những ảnh hưởng mà người nghiên
cứu đưa ra
+ Đối với nguyên nhân gây ra RLSKTT: Nhận thức của sinh viên được đánh giá qua
việc sinh viên biết đến và đồng ý với những nguyên nhân cơ bản và phổ biến gây ra RLSKTT chẳng hạn như tình trạng căng thẳng thường xuyên trong cuộc sống Ngoài ra,
những lựa chọn của sinh viên ở phần này cũng phải cho thấy họ biết đến những nguy cơ có
thể dẫn đến RLSKTT
+ Đối với việc phòng ngừa và chữa trị RLSKTT: Nhận thức của sinh viên được đánh giá qua việc sinh viên phải biết đâu là những cách thức đơn giản nhất để phòng ngừa RLSKTT, đâu là những cách thức để chữa trị RLSKTT khi bản thân và người khác gặp phải
vấn đề này Điều này được đánh giá thông qua lựa chọn của sinh viên phù hợp hay không phù hợp đối với những nguyên nhân mà người nghiên cứu đưa ra
1.2.4.2 M ột số tiêu chí đánh giá thái độ của sinh viên đối với RLSKTT
Thái độ của sinh viên được đáng giá qua việc sinh viên lựa chọn mức độ thể hiện thái
độ của mình như thế nào đối với những vấn đề khác nhau có liên 1an đến RLSKTT Cụ thể
là thái độ của sinh viên đối với những mặt sau:
+ Thái độ của sinh viên đối với những người có RLSKTT: Đòi hỏi lựa chọn của sinh viên trong trường hợp này phải thể hiện được sự tôn trọng những người có RLSKTT, có thể
cảm thấy không quá khó chịu khi cùng làm việc với những người này, có niềm tin vào việc
sẽ chữa trị được đối với những người gặp RLSKTT, có thể sẵn sàng giúp đỡ họ trong khả
Trang 39năng của mình và đặc biệt là không có thái độ kỳ thị và quá lo ngại về mức độ nguy hiểm
của những người có RLSKTT
+ Thái độ của sinh viên đối với việc gia đình có người gặp RLSKTT: Thái độ của sinh viên ở phần này được đánh giá tích cực hoặc tiêu cực thông qua lựa chọn của họ đối với
những phát biểu người nghiên cứu đưa ra có thể hiện được việc họ không quá cảm thấy bất
tiện, xấu hổ và không muốn cho ai biết về việc mình có người thân gặp vấn đề này Đồng
thời họ cũng phải có thái độ hợp tác trong việc kết hợp với những người có chuyên môn
nhằm hỗ trợ chữa trị cho người thân của mình khi những người này có RLSKTT
+ Thái độ của sinh viên đối với bản thân khi gặp phải vấn đề RLSKTT: Ở đây đòi hỏi sinh viên không cảm thấy mặc cảm, không sợ bị kì thị đồng thời xem RLSKTT là một tình
trạng có thể chữa trị và chủ động tìm kiếm nguồn hỗ trợ nếu như bản thân gặp phải vấn đề RLSKTT
+ Thái độ của sinh viên đối với việc phòng ngừa và chữa trị RLSKTT: Thái độ của họ được đánh giá qua việc lựa chọn mức độ trả lời đối với các phát biểu về thái độ thể hiện được thái độ đúng đắn với việc phòng ngừa RLSKTT, đặc biệt là niềm tin của sinh viên đối
với việc chữa trị các RLSKTT
Tiểu kết chương 1
Từ chương một ta có thể rút ra một số kết luận chính sau:
1.1 Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy trên thế giới cũng như ở Việt Nam, RLSKTT ngày càng được quan tâm và những nghiên cứu đối với vấn đề này tập trung chủ yếu vào tìm hiểu các dạng RLSKTT mà người dân đang gặp phải Đồng thời cũng có những nghiên cứu nhằm xây dựng những chiến lược phòng ngừa và chữa trị RLSKTT 1.2 Cơ sở lý luận của đề tài cho thấy để tạo ra những thuận lợi cho đề tài nghiên cứu cần làm rõ các vấn đề sau:
+ Nhận thức: Là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, hai mặt còn lại là tình cảm và hành động
+ Thái độ: Là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà nó có mối liên hệ
+ Rối loạn sức khỏe tâm thần: Rối loạn sức khỏe tâm thần là một cụm từ mô tả đầy đủ
Trang 40các khó khăn về sức khỏe tâm thần mà một người có thể gặp phải, từ những đau khổ trong trải nghiệm của mỗi người cho đến những rối loạn tâm thần nghiêm trọng
Ngoài ra cũng đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và thái độ của sinh viên đối với Rối loạn sức khỏe tâm thần Trên cơ sở đó cũng xây dựng những tiêu chí đánh giá nhận thức và thái độ của sinh viên đối với RLSKTT