Một trong những việc cần làm là nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ tích cực về an toàn tình dục cho nữ TNCN, hướng họ đến hành vi an toàn tình dục tránh khỏi các nguy cơ do quan hệ tìn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Đoàn Bắc Việt Trân
NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ AN TOÀN TÌNH DỤC
CỦA NỮ THANH NIÊN CÔNG NHÂN
KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Đoàn Bắc Việt Trân
NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ AN TOÀN TÌNH DỤC
CỦA NỮ THANH NIÊN CÔNG NHÂN
KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ THU MAI
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Mục lục
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 12
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài 16
1.2.1 Nhận thức, thái độ và mối quan hệ giữa nhận thức và thái độ 16
1.2.2 Sức khoẻ sinh sản và an toàn tình dục 29
1.2.3 Nhận thức, thái độ về an toàn tình dục 39
1.2.4 Một số đặc điểm về giới tính và giới của nữ liên quan đến sức khỏe sinh sản và an toàn tình dục 45
1.2.5 Tuổi thanh niên và một số nét tâm lý đặc trưng 47
1.2.6 Khái quát về cuộc sống của công nhân khu công nghiệp Sóng Thần tỉnh Bình Dương 50
1.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ của nữ TNCN về an toàn tình dục 51
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ AN TOÀN TÌNH DỤC CỦA NỮ THANH NIÊN CÔNG NHÂN KCN SÓNG THẦN 56
2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 56
2.2 Thực trạng nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST 61
2.2.1 Thực trạng nhận thức về an toàn tình dục của nữ TNCNST 61
2.2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về an toàn tình dục của nữ TNCNST 78
2.2.3 Thực trạng thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST 84
Trang 42.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ về an toàn tình dục của nữ
TNCNST 89
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM MỘT VÀI BIỆN PHÁP TÁC ĐỘNG TÂM LÝ NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC, XÂY DỰNG THÁI ĐỘ TÍCH CỰC 95
3.1 Các biện pháp tác động tâm lý nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ tích cực về an toàn tình dục cho nữ TNCN 95
3.2 Tổ chức thực nghiệm 100
3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5HTN : Hội liên hiệp Thanh niên Việt Nam
KCN : khu công nghiệp
NXB : nhà xuất bản
TNCN : thanh niên công nhân
TNCNST : thanh niên công nhân đang làm việc tại các nhà máy khu
công nghiệp Sóng Thần tỉnh Bình Dương TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
UNFPA : the United Nations Population Fund – Quỹ Dân số Liên
Hiệp Quốc UNICEF : United Nations Children's Fund – Quỹ Nhi đồng Liên
Hiệp Quốc WHO : World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
1.1 Nữ công nhân, đặc biệt là nữ công nhân độ tuổi thanh niên, là lực lượng lao động đông đảo không thể thiếu đang tham gia sản xuất trực tiếp trong các nhà máy tại các khu công nghiệp Sức lao động của họ đóng góp rất lớn vào sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vì vậy, chăm sóc cho nữ TNCN là trách nhiệm của doanh nghiệp sử dụng lao động và của toàn xã hội Trong các chương trình cần được tiến hành để chăm sóc cho nữ TNCN, không thể thiếu các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản vì nữ TNCN cũng là lực lượng trong độ tuổi sinh sản Để đạt được hiệu quả, ngay từ khi xây dựng kế hoạch, các chương trình chăm sóc cho nữ TNCN, trong đó có chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản, cần được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu đặc điểm thể chất, tâm lý của đối tượng
1.2 Một vài năm trở lại đây, nhiều thông tin xã hội đã phản ánh tình trạng
đáng lo ngại về nạo phá thai trong nữ công nhân, chẳng hạn, loạt phóng sự Nạo phá thai trong nữ công nhân đăng trên báo Tuổi Trẻ ngày 03, 04/08/2010, có đưa số
liệu: số bệnh nhân là công nhân chiếm khoảng 30% số ca nạo hút thai mỗi năm tại bệnh viện Từ Dũ, tỷ lệ này tại bệnh viện Hùng Vương là 10%, còn tại bệnh viện Đồng Nai, số bệnh nhân là công nhân chiếm 60 – 65% tổng số ca mỗi năm đến nạo hút thai tại đây Tình trạng nạo phá thai trong nữ công nhân cũng là một mắt xích
nằm trong tình trạng nạo phá thai nói chung tại Việt Nam Theo bài Tỷ lệ phá thai ở Việt Nam cao nhất khu vực đăng trên báo Tiền Phong ngày 19/11/2010, TS Nguyễn
Thiện Trưởng, Phó Chủ tịch thường trực Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam cho biết, thách thức lớn nhất mà Việt Nam đang phải đối mặt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản là vấn đề nạo phá thai, Việt Nam có tỷ lệ nạo phá thai ở độ tuổi sinh sản cao nhất ở Đông Nam Á và là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới Cũng theo thông tin trên, UNFPA nhận định, không phải tất cả
Trang 7người dân Việt Nam đều dễ dàng tiếp cận thông tin và dịch vụ về sức khỏe sinh sản, đặc biệt là vị thành niên, thanh niên chưa lập gia đình và người dân sống ở vùng sâu, vùng xa UNFPA cũng đưa ra tỷ lệ phụ nữ Việt Nam ở độ tuổi sinh sản mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục là 25%
1.3 Như vậy, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nữ công nhân, đặc biệt là nữ TNCN là việc cần làm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong xã hội Một trong những việc cần làm là nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ tích cực về an toàn tình dục cho nữ TNCN, hướng họ đến hành vi an toàn tình dục tránh khỏi các nguy cơ
do quan hệ tình dục không an toàn, qua đó tự bảo vệ sức khỏe sinh sản Trước khi tiến hành những hoạt động nhằm đạt được mục tiêu nâng cao nhận thức và xây dựng thái độ tích cực cho nữ TNCN về an toàn tình dục, cần có những nghiên cứu thực trạng về nhận thức, thái độ của họ về vấn đề này
1.4 Trước đây, mảng đề tài liên quan đến sức khỏe sinh sản, an toàn tình dục củanhóm đối tượng nữ công nhân tại Việt Nam có được nghiên cứu bởi các tác giả chuyên ngành y khoa hoặc xã hội học Tuy nhiên, còn ít có những nghiên cứu tâm
lý học về mảng đề tài này
1.5 Có nhiều KCN được thành lập và đi vào hoạt động trên khắp các tỉnh thành Việt Nam, trong đó có KCN Sóng Thần thuộc tỉnh Bình Dương Với quy mô diện tích và số lượng các doanh nghiệp, nhà máy đang đóng tại đây, KCN Sóng Thần được xem là một KCN có nhiều điểm đại diện cho các KCN khác tại Việt Nam, kể cả về tình hình đời sống, sinh hoạt của công nhân làm việc tại đây Vì vậy,
có thể vận dụng phần nào kết quả nghiên cứu với khách thể tại KCN Sóng Thần cho khách thể tại các KCN khác có những điều kiện tương đồng với KCN Sóng Thần
Từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu thực hiện nghiên cứu đề tài “Nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ thanh niên công nhân khu công nghiệp Sóng Thần tỉnh Bình Dương”
Trang 82 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST
Từ đó, đề xuất một số biện pháp tác động tâm lý nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ tích cực về an toàn tình dục cho nữ TNCNST nói riêng, nữ TNCN nói chung
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức và thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST
3.2.2 Khách thể nghiên cứu thực nghiệm
30 nữ TNCN trong độ tuổi 18 – 25 đang làm việc tại các nhà máy KCN Sóng Thần tỉnh Bình Dương
4 Giả thuyết khoa học
4.1 Nữ TNCNST chưa có nhận thức đúng và đầy đủ về an toàn tình dục, chưa
có thái độ tích cực về an toàn tình dục
4.2 Có thể áp dụng các biện pháp tác động tâm lý nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ tích cực về an toàn tình dục cho nữ TNCN
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống một số vấn đề lý luận về nhận thức, thái độ, sức khỏe sinh sản,
an toàn tình dục cùng một số nội dung lý thuyết thuộc nội dung của đề tài
5.2 Khảo sát thực trạng nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST
Trang 95.3 Đề xuất và thực nghiệm một vài biện pháp tác động tâm lý nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ tích cực về an toàn tình dục cho nữ TNCN
6 Giới hạn của nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung
Nghiên cứu nhận thức của nữ TNCNST về an toàn tình dục ở mức độ biết
và một phần mức độ hiểu về an toàn tình dục, thái độ của nữ TNCNST về một số nội dung của an toàn tình dục và việc sử dụng biện pháp an toàn tình dục
6.2 Giới hạn về khách thể
Khách thể nghiên cứu chính của đề tài là 230 nữ TNCN trong độ tuổi 18 –
25, đang làm việc tại các nhà máy KCN Sóng Thần tỉnh Bình Dương
Khách thể nghiên cứu bổ trợ là 30 khách thể nghiên cứu bổ trợ là cán bộ ĐTN, HPN, HTN, cán bộ công đoàn, cán bộ các dự án chăm sóc sức khỏe sinh sản, cán bộ y tế sản, phụ khoa đang công tác tại các cơ quan, đơn vị trong hoặc gần KCN Sóng Thần tỉnh Bình Dương
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp đọc, phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng ba (03) bảng hỏi:
- Bảng hỏi thứ nhất, dành cho nữ TNCNST, nhằm mục đích :
+ Thu thập một số thông tin cá nhân của nữ TNCNST để phục vụ cho việc nghiên cứu nhận thức, thái độ theo các tiêu chí so sánh khác nhau
+ Khảo sát nhận thức về an toàn tình dục của nữ TNCNST
+ Khảo sát thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST
+ Thu thập thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ về
an toàn tình dục của nữ TNCNST
Trang 10- Bảng hỏi thứ hai, dành cho cán bộ ĐTN, HPN, HTN, công đoàn, cán bộ các dự án sức khỏe sinh sản đang công tác tại các cơ quan trong hoặc gần KCN Sóng Thần, nhằm mục đích điều tra ý kiến về:
Thực trạng sức khỏe sinh sản của nữ TNCNST
+ Thực trạng các hoạt động nâng cao nhận thức về an toàn tình dục cho
nữ TNCNST tại nơi làm việc, nơi cư ngụ
- Bảng hỏi thứ ba, dành cho cán bộ y tế sản, phụ khoa tại cơ sở y tế đặt tại hoặc gần gần nơi nữ TNCNST sống và làm việc, nhằm mục đích điều tra ý kiến về:
+ Thực trạng sức khỏe sinh sản của nữ TNCNST
+ Thực trạng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, an toàn tình dục đang được cung cấp tại cơ sở y tế gần nơi nữ TNCNST sống và làm việc
+ Thực trạng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, an toàn tình dục
- Giai đoạn 1: điều tra bằng các câu hỏi mở
- Giai đoạn 2: xây dựng bảng hỏi chính thức và tiến hành điều tra đồng loạt đối với các khách thể nghiên cứu
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Được áp dụng cho khách thể nghiên cứu chính và khách thể bổ trợ nhằm thu thập thông tin về nội dung nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST, các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST
Trang 117.2.3 Phương pháp thực nghiệm
Áp dụng cho khách thể nghiên cứu là nữ TNCN, mục đích nhằm so sánh, đối chiếu kết quả về nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCN trước và sau khi tiến hành tác động bằng các biện pháp tâm lý
Cách tiến hành: chọn ngẫu nhiên 30 nữ TNCN trong độ tuổi 18 – 25 đang làm việc tại các nhà máy KCN Sóng Thần tỉnh Bình Dương, dùng bảng hỏi để đo nhận thức, thái độ của họ về an toàn tình dục Sau đó, tổ chức tác động bằng các biện pháp tâm lý nhằm nâng cao nhận thức, xây dựng thái độ tích cực cho nữ TNCN về an toàn tình dục Kết thúc các hoạt động trên, tiến hành đo lại nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của 30 nữ TNCN này
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Dùng phần mềm SPSS for Window 11.5 để xử lý các số liệu thu được
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu về an toàn tình dục
Cùng với phát hiện về vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người – Human Immunodeficiency Virus – HIV và các đường lây của nó, trong đó có đường lây qua quan hệ tình dục, các nghiên cứu về an toàn tình dục được đẩy mạnh nhiều hơn nhằm tìm kiếm những cơ sở cho việc thành lập hành vi an toàn tình dục, còn gọi là hành vi quan hệ tình dục có sự bảo vệ, hay hành vi tình dục an toàn (safe sex behaviour), với hy vọng giảm được nguy cơ lây truyền HIV và các bệnh lây qua đường tình dục Bên cạnh đó, từ khi khái niệm Sức khỏe sinh sản được khẳng định tại Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển tại Cairo vào năm 1994, các điều tra nghiên cứu về an toàn tình dục cũng được tiến hành nhiều hơn nhằm thu thập cơ sở phục vụ cho công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản một cách toàn diện
Nhiều công trình nghiên cứu đã tìm kiếm mối liên hệ giữa hành vi an toàn tình dục và các yếu tố tâm lý khác như nhận thức, thái độ, niềm tin Có thể kể đến những đề tài nghiên cứu như:
- “Dự báo hành vi tình dục an toàn: vai trò của ý định, thái độ, chuẩn mực
và sự điều khiển của niềm tin” do nhóm tác giả Deborah J Terry, Roslyn F Galligan, Vincent J Conway thực hiện tại Úc năm 1993 [58]
- “Sự tương quan tâm lý của việc sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục khác giới” thực hiện năm 1999 bởi các tác giả Pascal Sheeran, Charles Abraham, Sheina Orbell [56]
- “Đặc trưng của quan hệ tình dục khác giới, sử dụng bao cao su và thực hành tình dục an toàn” tiến hành nghiên cứu tại Hy Lạp bởi P.S Kordoutis, M Loumakou, J.O Sarafidou năm 2000 [53]
- “Thái độ tiềm tàng như là khả năng bảo vệ khỏi tình dục có nguy cơ: dự báo việc sử dụng bao cao su qua trắc nghiệm sự kết hợp tiềm tàng”, do nhóm tác giả
Trang 13Alexander M Czopp, Margo J Monteith, Rick S Zimmerman, Donald R Ly thực hiện tại Mỹ năm 2004 [48]
- “Chiến dịch truyền thông đại chúng có thể ảnh hưởng đến yếu tố tâm lý quyết định tình dục an toàn hơn? Một lượng giá về ba chiến dịch tại Hà Lan” thực hiện năm 2009 bởi các tác giả M C Yzer, F W Siero, B P Buunk [62]
Nhìn chung trong các nghiên cứu, các tác giả đi tìm mối liên quan giữa các yếu tố tâm lý như nhận thức, thái độ, tình cảm, hành vi, sự gắn bó trong mối quan hệ,…trong việc hình thành và củng cố hành vi tình dục an toàn
Một số lượng đáng kể các công trình nghiên cứu hướng đến phụ nữ và thanh thiếu niên do những đặc trưng thể chất và tâm lý của những đối tượng này cần được quan tâm đặc biệt Có thể kể đến các công trình như:
- “Phụ nữ trẻ và tình dục an toàn hơn”, do J Holland, C Ramazanoglu, S Scott, S Sharpe, R Thomson nghiên cứu tại Anh năm 1992 [51]
- “Hành vi tình dục không an toàn của giới trẻ Nam Phi”, nghiên cứu năm
2002 bởi nhóm tác giả Liberty Eaton, Alan J Flisher, Leif E Aaro [49]
- “Tình dục an toàn: bối cảnh mối quan hệ và hành sử dụng bao cao su ở vị thành niên nam tại Favelas, Recife, Brazil”, thực hiện năm 2004bởi Fatima Juarez,
và Teresa Castro Martín [52]
- “Tình dục an toàn và sự lựa chọn sức khỏe sinh sản từ chương trình Phụ
nữ tích cực: tiếng nói và sự lựa chọn ở Zimbabwe”, thực hiện năm 2009 bởi các tác giả Rayah Feldman, Caroline Maposhere [50]
- “Mối quan hệ giữa kiến thức tình dục, thái độ về tình dục và hành vi tình dục an toàn ở vị thành niên”, thực hiện tại Đài Loan năm 2009 bởi Jiunn-Horng Lou
và Sheng-Hwang Chen [54]
Tại nước ta, trong vòng hơn một thập niên vừa qua, cùng với sự hội nhập thế giới, trong xu hướng tích cực của công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, các nghiên cứu về tình dục, sức khỏe sinh sản, phòng tránh thai ngoài ý muốn,… được thực hiện ngày càng nhiều Có thể kể đến những công trình nghiên cứu sau đây:
Trang 14Viện Pasteur TP.HCM đã tiến hành một số nghiên cứu về an toàn tình dục:
- “Các yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn ở phụ nữ có nguy cơ cao đến thăm khám tại các cơ sở y tế Sóc Trăng, 2000 - 2002” – phối hợp nghiên cứu với Ủy ban Phòng chống AIDS TP HCM
- “Hành vi tình dục nguy cơ cao có liên quan với nhiễm HIV trên nhóm phụ nữ làm việc trong các dịch vụ giải trí tại miền Nam Việt Nam” – phối hợp nghiên cứu với Trung tâm Y học dự phòng Vũng Tàu năm 1996
- “Điều tra kiến thức, thái độ, lòng tin, thực hành của cộng đồng trong phòng chống HIV/AIDS tại khu vực phía Nam” – phối hợp nghiên cứu với Ủy ban Quốc gia về Phòng chống AIDS năm 1995
Những công trình nghiên cứu của các đơn vị khác:
- “Tìm hiểu hành vi nguy cơ cao của thanh niên thành phố Lào Cai” do Trung tâm Nghiên cứu phát triến y tế cộng đồng thực hiện năm 2005
- “Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ năm 2006”, do ba
cơ quan cùng phối hợp thực hiện là Tổng cục thống kê Việt Nam, UNICEF, Ủy ban Dân số gia đình và trẻ em Việt Nam, trong đó có điều tra các vấn đề sức khỏe sinh sản
- “Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niênViệt Nam”, do ba cơ quan phối hợp thực hiện năm 2005 là Tổng cục Thống kê Việt Nam, UNICEF, WHO
Ngoại trừ các nghiên cứu mang tính dịch tễ học của Viện Pasteur TP HCM
có đề cập trực tiếp đến tình dục an toàn, các nghiên cứu xã hội học, tâm lý học còn lại không trực tiếp đề cập đến an toàn tình dục hoặc hành vi an toàn tình dục, mà chỉ
đề cập đến sức khỏe sinh sản nói chung hoặc đề cập đến từng vấn đề phòng tránh có thai ngoài ý muốn hoặc phòng tránh HIV, phòng tránh bệnh lây qua đường tình dục
1.1.2 Khái quát l ịch sử nghiên cứu về an toàn tình dục của nữ công nhân
1.1.2.1 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
Cũng giống như Việt Nam, các nước đang phát triển cũng trải qua quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa với sự hình thành nhiều khu công nghiệp thu hút rất
Trang 15đông công nhân vốn là người từ nông thôn Một số đông trong đó là nữ công nhân trẻ, trong độ tuổi sinh sản và là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt về nhiều mặt, trong đó có vấn đề hành vi tình dục và sức khỏe sinh sản Dưới đây là một số nghiên cứu về hành vi tình dục của nữ công nhân ở vài nước đang phát triển
- “Thái độ, hành vi tình dục và việc sử dụng biện pháp tránh thai ở nữ vị thành niên lớn ở Bangkok: nghiên cứu so sánh với sinh viên và công nhân”, do Amara Soonthorndhada thực hiện năm 1996 [57]
- “Hành vi tình dục và việc sử dụng biện pháp tránh thai của nữ công nhân
di cư trẻ, độc thân tại năm thành phố ở Trung Quốc”, nghiên cứu năm 2001 bởi
nhóm tác giả Zhenzhen Zheng, Yun Zhou, Lixin Zheng, Yuan Yang, Dongxia Zhao, Chaohua Lou, Shuangling Zhao [63]
- “Hành vi tình dục và hậu quả của HIV/AIDS ở công nhân di cư trẻ ở Nepal”, nghiên cứu năm 2004 bởi M Puri, J Cleland [55]
Nhìn chung, các nghiên cứu đều chỉ ra những nguy cơ từ hành vi tình dục không được bảo vệ của nữ công nhân – có thai ngoài ý muốn, nhiễm HIV nhưng không nghiên cứu trực tiếp về an toàn tình dục
Các nghiên cứu trong nước chủ yếu được thực hiện dựa trên cách tiếp cận của xã hội học hoặc công tác xã hội, và phần lớn nội dung đề cập đến thực trạng sức khỏe sinh sản hoặc đời sống tình dục của nữ công nhân, còn hiếm những nghiên cứu
đề cập đến an toàn tình dục của nữ công nhân nói chung, nữ TNCN nói riêng Những nghiên cứu có thể kể đến là:
- “Thực trạng chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho lao động nữ trong các khu công nghiệp và vai trò của Công đoàn”, do Ban nữ công Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thực hiện, tiến hành lấy mẫu tại bảy tỉnh, thành trên cả nước vào tháng 7- 8/2011
- “Sức khỏe sinh sản cho lao động nhập cư - nghiên cứu định tính tại Quy Nhơn, Bình Định”, được UNFPA thực hiện năm 2007
Trang 16- “Ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa – xã hội đến sức khỏe sinh sản của lao động nữ di cư ở Việt Nam”, UNFPA thực hiện 2010 – 2011
- "Nghiên cứu định tính về nhận thức, thái độ và đời sống tình dục của những người lao động di cư tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh", do các tác giả Nguyễn Ngọc Hường, Khuất Thu Hồng, Đinh Thái Sơn thực hiện năm 2008
- “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân ở nữ công nhân quận Bình Tân, TP HCM”, nghiên cứu thực hiện năm 2008 bởi các tác giả ở khoa Y tế công cộng trường Đại học Y dược TP HCM
Bên cạnh đó, trong quá trình xây dựng, triển khai các dự án về sức khỏe sinh sản dành cho nữ công nhân cũng có sự thực hiện các khảo sát về nhận thức, thái độ, hành vi tình dục của nữ công nhân nhưng các khảo sát này mang tính nội bộ chỉ phục vụ cho mục tiêu và phạm vi của dự án
1.2 Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Nhận thức, thái độ và mối quan hệ giữa nhận thức và thái độ
Nhận thức là hiện tượng tâm lý không thể thiếu của con người và được nghiên cứu bởi nhiều lĩnh vực, nhiều tác giả Có nhiều khái niệm về nhận thức theo nhiều trường phái tâm lý khác nhau
Đầu tiên, theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học năm 2004, nhận
thức “là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan, hoặc kết quả của quá trình đó” Theo sự giải thích này, nhận thức đồng thời vừa là một quá trình phản ánh của
tư duy con người đối với hiện thực khách quan vừa là kết quả của sự phản ánh ấy
Là một quá trình, vậy nhận thức có mở đầu, diễn tiến và kết thúc Khi kết thúc, sản phẩm thu được cũng được gọi là nhận thức, là cái mà tư duy thu hoạch được Khi đã
có nhận thức, con người lại dùng chính nhận thức ấy để tiếp tục tiến hành những quá trình nhận thức mới Nhận thức sơ khai đầu tiên là sự nhận biết, rồi đến sự hiểu biết Như vậy, sự nhận biết là bước đầu tiên của hoạt động phản ánh nhằm thu được những kết quả nhận thức ban đầu từ thế giới khách quan, như là những “nguyên
Trang 17liệu” để tiến hành sự phản ánh cao hơn nhằm thu được sự hiểu biết sâu rộng về sự vật hiện tượng của thế giới
Định nghĩa về nhận thức của từ điển tiếng Việt rất gần với khái niệm về nhận thức của nhiều nhà tâm lý học Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: Nhận thức là một hoạt động chủ thể hướng vào đối tượng nhằm mục đích biết và hiểu đối tượng cũng như biết và hiểu chính mình (tự nhận thức)”
Còn theo Từ điển tâm lý năm 2001 do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên,
nhận thức, tiếng Pháp: Connaissance, là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan Quá trình ấy
đi từ cảm giác đến tri giác, từ tri giác đến tri thức, diễn ra ở các mức độ:
- Kinh nghiệm hàng ngày về các đồ vật và người khác, mang tính tự phát, thường hỗn hợp với tình cảm, thành kiến, thiếu hệ thống
- Khoa học, các khái niệm được kiến tạo một cách chặt chẽ, có hệ thống, với ý thức về phương pháp và những bước đi của tư duy để chứng nghiệm đúng – sai
Cũng theo tài liệu này, nhận thức là một quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì không bao giờ nắm hết toàn bộ hiện thực, phải thải dần những cái sai, đi dần hết bước này đến bước khác
Tác giả Phạm Minh Hạc, kế thừa các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) đặt nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, hai mặt còn lại là tình cảm và hành động Trong khi hoạt động để tồn tại trong thế giới tự nhiên và môi trường xã hội, con người phải nhận thức, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực của bản thân mình, để trên cơ sở đó con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Kết quả nhận thức có thể cho ra sản phẩm là nhận thức đúng hoặc nhận thức sai, nhận thức từng bộ phận hay nhận thức cái tổng thể, nhận thức một phần hay nhận thức trọn vẹn sự vật hiện tượng, nhận thức thuộc tính bên ngoài hay đi sâu vào bản chất bên trong, dẫn đường tìm ra quy luật và chân lý
Trang 18Quá trình nhận thức gồm hai quá trình bộ phận là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Trong đó, nhận thức cảm tính là bước nhận thức đầu tiên với mức
độ nhận thức thấp, nhận thức lý tính là bước nhận thức tiếp sau với mức độ nhận thức cao hơn Điển hình, tác giả Phạm Minh Hạc đã trình bày về quá trình nhận
thức cảm tính và quá trình nhận thức lý tính trong Tâm lý học [19], tóm lược như
sau
Nhận thức cảm tính
Quá trình nhận thức cảm tính gồm cảm giác và tri giác Sản phẩm kết quả của nhận thức cảm tính là những thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng Con người sử dụng kết quả của nhận thức cảm tính làm nguyên liệu để tiến hành các thao tác tư duy, tưởng tượng – là các quá trình nhận thức cao hơn được gọi là nhận thức lý tính
Cảm giác
Là bước nhận thức sơ khai nhất khi con người sử dụng các giác quan sinh học để tiếp xúc với sự vật và thu được kết quả là sự nhận biết về các đặc điểm bên ngoài của sự vật ấy Sự nhận biết thu được từ quá trình cảm giác chỉ phản ánh từng đặc điểm bên ngoài, từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật nhờ vào phản ứng trực tiếp của từng giác quan khi tiếp xúc với sự vật Khi sự vật không còn tác động, không gây kích thích vào các giác quan, quá trình cảm giác kết thúc
Tuy cảm giác là quá trình nhận thức cấp thấp nhất, đơn giản nhưng nó lại có
ý nghĩa quan trọng với con người Cảm giác là mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và môi trường xung quanh, từ đó mà con người có khả năng định hướng và thích nghi với môi trường Nhờ cảm giác, con người thu thập dữ liệu về thế giới khách quan ở dạng đơn giản nhất, trực quan nhất, cụ thể nhất Dựa trên những dữ liệu này, chức năng của não sẽ có cơ sở để tiến hành các quá trình nhận thức ở cấp cao hơn
Tri giác
Là bước nhận thức tiếp theo sau cảm giác Cũng như cảm giác, quá trình tri giác bắt đầu khi có tác động trực tiếp của sự vật hiện tượng đến các giác quan của con người Kết thúc quá trình tri giác, sản phẩm thu được là tổng hợp các thuộc tính
Trang 19bên ngoài của sự vật Không như cảm giác cho kết quả là các thuộc tính riêng lẻ, rời rạc, tri giác cho kết quả là hình ảnh bên ngoài trọn vẹn, hoàn chỉnh của sự vật Nói như vậy, không có nghĩa phản ánh của tri giác là phép cộng dồn những kết quả phản ánh của cảm giác Mà ở tri giác có sự tham gia của tư duy, ngôn ngữ và nhiều chức năng tâm lý khác để có thể phản ánh một cách đầy đủ nhất, toàn diện nhất những thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng
Tri giác chưa cho phép con người phản ánh được tính chất bên trong của sự vật hiện tượng Nhưng nhờ tri giác, con người có những định hướng nhanh chóng
và chính xác hơn trong thế giới, giúp con người phản ánh có lựa chọn và mang tính
ý nghĩa Hình ảnh – sản phẩm của tri giác tham gia vào hoạt động tư duy trực quan – hình ảnh và là một bộ phận trong các thao tác của hành động trực quan Một phần giống với cảm giác, tri giác cung cấp cho con người nguyên liệu để tiến hành các bước nhận thức ở mức độ cao hơn, nhưng khác với nguyên liệu do cảm giác đem đến, còn ở dạng rời rạc, nguyên liệu do tri giác đem đến đã ở dạng hoàn chỉnh
Như vậy, quá trình nhận thức cảm tính sử dụng các giác quan sinh học của
cơ thể để phản ánh về sự vật hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan Nội dung phản ánh của nhận thức cảm tính là những thuộc tính trực quan, cụ thể, bên ngoài của sự vật hiện tượng, những mối liên hệ và quan hệ đơn giản chứ chưa phải là những thuộc tính bản chất, bên trong, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng thế giới khách quan
Nhận thức lý tính
Là quá trình nhận thức cao cấp so với nhận thức cảm tính Nhận thức lý tính
đi vào phản ánh thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng Quá trình này gồm hai quá trình bộ phận là tư duy và tưởng tượng
Tư duy
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng Tư duy sử dụng sản phẩm của cảm giác, tri giác làm nguyên liệu được lưu giữ trong trí nhớ để tiến hành các thao tác tư duy và cho ra sản phẩm là cái vừa toàn vẹn, hoàn chỉnh vừa đi sâu vào bản
Trang 20chất Các thao tác của quá trình tư duy tiến bộ vượt bậc xét về chất so với phương thức nhận thức cảm tính Quá trình cảm giác, tri giác của nhận thức cảm tính chỉ được kích hoạt và diễn ra khi sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người Còn quá trình tư duy được kích hoạt và diễn ra ngay cả khi sự vật, hiện tượng không còn trực tiếp tác động vào con người, mà, tư duy nảy sinh
trong hoàn cảnh con người có một “vấn đề”, một mâu thuẫn cần phải giải quyết Do
đó, tư duy hướng con người vào việc tìm kiếm cái mới chưa từng được biết trước đây, cái có thể được xem là giải pháp cho việc giải quyết vấn đề, giải quyết mâu thuẫn
Đi sâu thêm vào sản phẩm của tư duy, các tác giả Bùi Ngọc Oánh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh đã viết như sau
Tư duy phản ánh gián tiếp, phản ánh khái quát sự vật, hiện tượng và sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện Từ nguyên liệu là sản phẩm của cảm giác và tri giác, thông qua sự tái hiện của trí nhớ, các thao tác của quá trình tư duy cho ra những sản phẩm:
- Khái niệm: là tri thức đã được khái quát về toàn bộ một nhóm, một loạt
sự vật có chung những dấu hiệu bản chất nhất định Quá trình tư duy ở một trình độ nào đó, ở một mức độ nào đó giúp con người nhận thức được một số lượng và một mức độ những nội dung nào đó của khái niệm
- Phán đoán: thường là một nhận định, một sự khẳng định về một cái gì
đó, nó có thể là một khái niệm hoặc có thể là một sự liên hệ nhất định của các khái niệm với nhau Phán đoán có thể đơn giản, cũng có thể phức tạp, có thể đúng, cũng
có thể chưa đúng Kinh nghiệm cá nhân có đóng góp vào việc thực hiện phán đoán
- Suy lý: là một phán đoán rút ra từ một phán đoán khác Có hai loại suy
lý chủ yếu: quy nạp và diễn dịch Quy nạp là loại suy lý mà từ những phán đoán riêng biệt cụ thể rút ra được một phán đoán chung Còn diễn dịch là lại suy lý mà từ một phán đoán chung rút ra một phán đoán riêng Qui nạp và diễn dịch gắn bó chặt chẽ với nhau, có tác dụng mở rộng phạm vi nhận thức của con người một cách vô hạn, vượt ra ngoài kinh nghiệm của bản thân
Trang 21Những sản phẩm của tư duy – khái niệm, phán đoán, suy lý – lại tiếp tục có thể trở thành những tài liệu để có thể tiếp tục tư duy nữa, rút ra những phán đoán, suy lý, khái niệm mới hơn, đầy đủ, hoàn chỉnh, đúng đắn hơn Cứ như thế, tư duy giúp cho ta hiểu biết ngày càng sâu sắc sự vật, hiện tượng, hiểu biết vô hạn về sự vật, hiện tượng Đây chính là điều mà nhận thức cảm tính không đạt đến được Tuy nhiên, không phải tư duy luôn luôn phản ánh đúng về sự vật, hiện tượng Nhiều trường hợp có thể tư duy sai và do đó kết quả nhận thức cũng bị sai [32]
Tưởng tượng
Tưởng tượng cũng được xếp vào quá trình nhận thức lý tính cùng với tư duy Tưởng tượng là quá trình phản ánh những cái chưa có trong kinh nghiệm cá nhân, kinh nghiệm xã hội bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những hình ảnh, những biểu tượng đã có
Tưởng tượng có phần giống tư duy là phản ánh sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp, khái quát, cho ra những cái mới Nhưng nếu tư duy giúp con người nhận thức được bản chất, mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng thì tưởng tượng cho ra sản phẩm là các biểu tượng có tính chắp ghép, kết hợp, điển hình hóa, loại suy, nhấn mạnh với những thuộc tính có khi không phải là bản chất và không phải là quy luật
Trên đây là nội dung tóm tắt những đặc điểm quan trọng của quá trình nhận thức gồm hai quá trình bộ phận là quá trình nhận thức cảm tính và quá trình nhận thức lý tính
Về mức độ nhận thức, lý thuyết của Benjamin Bloom được biết đến rộng rãi
vì tính ứng dụng của nó, với sáu mức độ nhận thức:
1 Biết: chủ yếu là sự ghi nhớ và tái hiện được các sự kiện, khái niệm cơ bản và các câu trả lời, cũng bao gồm việc có thể xác định, miêu tả, gọi tên, phân loại, nhận biết một sự vật, hiện tượng, khái niệm, hoặc mô phỏng, bắt chước một thao thác
Trang 222 Hiểu: hiểu nghĩa, có thể tóm tắt nội dung hoặc diễn giải khái niệm, có thể biến đổi tương đương, hoặc chứng minh sự hiểu biết về các sự kiện và ý tưởng bằng cách so sánh, đối chiếu, có thể nêu ví dụ minh họa
3 Vận dụng: có thể sử dụng thông tin hay khái niệm trong tình huống mới, biết thiết lập, thực hiện, tạo dựng, mô phỏng thao tác và các quy tắc theo một cách khác, có thể giải quyết vấn đề bằng cách áp dụng kiến thức đã thu được, dự đoán các sự kiện tiếp theo dựa trên dữ kiện đã có
4 Phân tích: biết phân chia thông tin, khái niệm thành những bộ phận, nhận ra mối quan hệ giữa những bộ phận ấy, biết xem xét động cơ hoặc nguyên nhân của sự vật, hiện tượng, biết suy luận và tìm bằng chứng cho những nội dung khái quát
5 Tổng hợp: biết chắp ghép các thành phần với nhau, khái quát hóa để tạo nên nội dung mới, biết tái cấu trúc để tạo thành tổng thể mới, biết kết hợp các thông tin với nhau theo những cách khác nhau hoặc đề xuất các giải pháp thay thế
6 Đánh giá: có thể nhận xét, nhận định, phê bình ý nghĩa hoặc giá trị của sự vật, hiện tượng dựa trên sự xem xét lược sử trình tự vấn đề, có thể lượng định các dữ kiện để khẳng định hoặc bác bỏ một luận điểm
Cũng có thể dựa trên tính trọn vẹn và đầy đủ của bản chất sự vật, hiện tượng để phân chia thành các mức độ nhận thức:
1 Nhận thức đúng, đầy đủ về sự vật, hiện tượng
2 Nhận thức đúng nhưng chưa đầy đủ về sự vật, hiện tượng
3 Nhận thức được một phần về sự vật, hiện tượng nhưng chưa phản ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng
4 Nhận thức sai về sự vật, hiện tượng
Trên đây là nội dung trình bày khái niệm chung về nhận thức Đề tài này không đi sâu nghiên cứu về bản chất của quá trình nhận thức, mà chấp nhận, sử dụng những kết quả nghiên cứu về nhận thức trên cơ sở có sự lĩnh hội, chọn lọc để phục vụ cho mục tiêu cụ thể của đề tài là tìm hiểu mức độ nhận thức của một nhóm chủ thể nhận thức cụ thể về một vấn đề cụ thể
Trang 23Đối tượng và nội dung của nhận thức trong phạm vi của đề tài gồm các nội dung: nhận thức về sức khỏe sinh sản của bản thân, nhận thức về an toàn tình dục
và biện pháp an toàn tình dục, nhận thức về lợi ích của an toàn tình dục đối với sức khỏe sinh sản nói riêng và sức khỏe nói chung
Theo Từ điển tâm lý, Nguyễn Khắc Viện chủ biên năm 2001, thái độ, tiếng
Pháp: Attitude, được giải thích như sau Trước một đối tượng hoặc một ý tưởng, con người bộc lộ những phản ứng tức thì, chẳng hạn tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối, như đã sẵn có những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó Từ những thái độ sẵn có, tri giác về các đối tượng cũng như tri thức bị chi phối Thái độ liên quan với động cơ và dục vọng bản năng Thái
độ có sự thay đổi trong quá trình hoạt động và tùy vào hoàn cảnh
Theo Từ điển tâm lý học, Vũ Dũng chủ biên năm 2000, hạt nhân của nhân
cách là hệ thống thái độ đánh giá và lựa chọn chủ quan của cá nhân Hệ thống thái
độ xác định nội dung của các trạng thái tình cảm, đặc điểm tri giác hiện thực, tính chất của những phản ứng và hành động Tất cả các thành phần tạo thành tổ chức tâm lý, từ những cấu trúc thấp nhất đến cao nhất đều gắn liền với các thái độ
Bên cạnh đó còn có nhiều định nghĩa khác về thái độ Chẳng hạn, định nghĩa của Allport về thái độ, “thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, sử dụng sự điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động trong phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà phản ứng cá nhân ấy có mối quan hệ” [20, 319]
Trang 24Newcome cho rằng thái độ của một cá nhân đối với một khách thể nào đó là
“thiên hướng hành động, nhận thức, tư duy, cảm nhận của cá nhân ấy với khách thể liên quan” Đó là sự sẵn sàng phản ứng [20, 319]
Trước đó nữa, các nhà nghiên cứu Thomas và Znaniecki đã chú ý tới sự thích ứng của một nhóm khách thể nghiên cứu đối với sự thay đổi của môi trường
xã hội, sự thay đổi các giá trị được chọn lựa bởi nhóm khách thể ấy, mà đặc điểm chủ yếu của sự thay đổi này là vấn đề thái độ Theo Thomas và Znaniecki, thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị [20, 318]
Kế thừa các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ), các tác giả Bùi Ngọc Oánh, Triệu Xuân Quýnh, Nguyễn Hữu Nghĩa đã định nghĩa thái độ “là một thành tố quan trọng cấu tạo nên ý thức Thái độ là những rung cảm, những cảm nghĩ có khả năng dẫn đến những hành động, hành vi tương ứng với đối tượng được nhận thức Thái độ của con người phản ánh các mối quan hệ xã hội mà người đó gia nhập vào” Các tác giả viết tiếp “để thực hiện những hoạt động nhằm cải tạo hiện thực khách quan, phục vụ cho những nhu cầu sống còn của mình, con người không phải chỉ cần phản ánh những thuộc tính khách quan của các đối tượng bằng các hoạt động nhận thức,
mà còn cần phản ánh mối quan hệ của các đối tượng ấy với nhu cầu của mình Mối quan hệ này quy định thái độ của con người đối với đối tượng của quá trình phản ánh Tùy thuộc vào đối tượng có ý nghĩa như thế nào đối với nhu cầu của ta (thỏa mãn hay không thỏa mãn) mà ta có thái độ tương ứng (tích cực hay tiêu cực) với đối tượng ấy” [31]
Một số tác giả nêu rõ thái độ thuộc lĩnh vực phản ánh cảm xúc, khác căn bản với phản ánh nhận thức, các tác giả này dùng thuật ngữ “thái độ cảm xúc” khi nêu định nghĩa về tình cảm Chẳng hạn, tác giả A V Daparôgiet đã viết: “Khi nhận thức hiện thực xung quanh, con người không tỏ ra lạnh nhạt, bàng quan Con người
có một thái độ nội tại nhất định đối với sự vật, hiện tượng và hành động; do ảnh hưởng của sự vật, hiện tượng, hành động đó mà có tình cảm nào đó, xúc động nào đó.(…) Tình cảm hay xúc cảm là thái độ mà con người trực tiếp thể nghiệm đối với hiện thực xung quanh và đối với bản thân” [9]
Trang 25Tài liệu Tâm lý học, tập 1 [17], các tác giả đã viết: “Tình cảm là những thái
độ cảm xúc ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực, phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên quan với nhu cầu và động cơ của họ,…”
Và, “không phải tất cả những cái tác động vào các giác quan ta đều được ta tỏ thái
độ - nghĩa là đều gây nên những cảm xúc, tình cảm, mà chỉ có những sự vật, hiện tượng nào có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn một nhu cầu, một động cơ của con người thì mới gây nên cảm xúc mà thôi”
Qua một số những định nghĩa, những nội dung đề cập về thái độ nêu trên,
có thể nhận thấy, dù được diễn giải theo nhiều phương cách khác nhau, nhưng vẫn
có những điểm chung về khái niệm thái độ mà các định nghĩa đều có đề cập đến Đó
là, thứ nhất, thái độ là một dạng phản ứng bên trong (suy nghĩ, tình cảm, cảm nghĩ, cách nhìn,…) và bên ngoài (hành động, hành vi, sự thích ứng,…) của cơ thể; thứ hai, thái độ nảy sinh khi có mối liên quan giữa một đối tượng (một sự vật, hiện tượng, một con người, một nhóm người) với sự thỏa mãn nhu cầu của chủ thể; thứ
ba, thái độ có tính xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể của thái độ và các thành phần khác trong xã hội (trong hoàn cảnh, tình huống xã hội, trong sự trao đổi các giá trị, chuẩn mực xã hội,…) Do đó, thái độ là đối tượng nghiên cứu của cả tâm
lý học cá nhân và tâm lý học xã hội
Cho đến ngày nay, thái độ vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu vì nội hàm của nó rất rộng, khó xác định một cách đầy đủ trọn vẹn, cũng như khó đo lường một cách chính xác tuyệt đối Một phương pháp được sử dụng để đo thái độ là lập thang thái độ Phương pháp lập thang thái độ theo lối phê điểm tổng cộng (method of summated ratings) là một phương pháp tương đối đơn giản, nhưng tính đáng tin cậy của nó không kém thua các phương pháp khác phức tạp hơn, như đã được xác nhận qua nhiều cộng trình nghiên cứu trong nước cũng như ngoài nước Theo phương pháp này, thang thái độ bao gồm nhiều câu phát biểu biểu lộ rõ rệt một thái độ ủng
hộ hay chống đối một vấn đề nào đó Bên cạnh mỗi câu phát biểu, các chủ thể có thể chọn một trong các giải đáp: "hoàn toàn đồng ý", "đồng ý", "phân vân lưỡng
Trang 26lự", "không đồng ý", "hoàn toàn không đồng ý" Thang thái độ có nhiều loại: thang
so sánh từng đôi, thang khoảng cách đồng đều, thang bình điềm tổng cộng, [37]
Khái niệm thái độ cũng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực vì nó bao hàm các mối liên hệ cơ bản với các mặt xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo, giáo dục Nhiều ngành khoa học xã hội, khoa học về con người nghiên cứu thái độ với sự kỳ vọng và niềm tin rằng những kết quả hiểu biết về thái độ sẽ phục
vụ cho mục đích nghiên cứu quá trình thay đổi hành vi Trong niềm tin này, thái độ được trao cho một vai trò có thể ảnh hưởng, thậm chí tác động, thay đổi hành vi Và logic tiếp theo được diễn giải là, muốn thay đổi hành vi, cần tiến hành quá trình thay đổi thái độ
Trước khi nói đến quá trình thay đổi thái độ, cần xem xét đến quá trình hình thành thái độ Bốn yếu tố được xem là có vai trò quyết định đến sự hình thành thái
độ là sự thỏa mãn nhu cầu, thông tin, giao tiếp nhóm và nhân cách [20]
1 Sự thỏa mãn nhu cầu
Việc hình thành thái độ nơi một con người với một đối tượng không phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng ấy, mà, như phần trên đã đề cập, thái độ của một cá nhân nảy sinh khi có mối liên quan giữa một đối tượng (một sự vật, hiện tượng, một con người, một nhóm người) với sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân ấy Nếu cá nhân cảm thấy đối tượng đáp ứng được nhu cầu của mình, thái độ tích cực đối với đối tượng ấy được hình thành; ngược lại, nếu cá nhân cho rằng đối tượng không đáp ứng nhu cầu của mình, sẽ hình thành thái độ tiêu cực với đối tượng ấy
2 Thông tin
Nội dung thông tin, số lượng thông tin ảnh hưởng đến sự hình thành thái
độ Có những thông tin được công nhận là kiến thức, tri thức, nhưng có những thông tin chưa phải là tri thức cũng tác động đến việc hình thành thái độ Tuy nhiên, khi tiếp nhận thông tin mới, chủ thể của thái độ cũng có sự đối chiếu với những thông tin đã lĩnh hội được trước đó và đối chiếu với những thái độ đã củng cố thành
hệ thống thái độ đã hình thành trước đó về cùng một đối tượng
3 Giao tiếp nhóm
Trang 27Khi là thành viên của một nhóm, cá nhân chịu sức ép của những chuẩn mực nhóm Việc hình thành thái độ của cá nhân cũng chịu sự tác động của nhóm thông qua các chuẩn mực nhóm Thái độ nào phù hợp với chuẩn mực nhóm được giữ lại
và tiếp tục Thái độ nào đi ngược lại chuẩn mực nhóm sẽ bị loại bỏ
4 Nhân cách
Tuy chịu sức ép của chuẩn mực nhóm song cá nhân vẫn có sự chủ động trong việc chọn lọc thái độ cũng như cách thức biểu lộ thái độ Sự chủ động này chính là nhờ đặc điểm của nhân cách Trong quá trình trưởng thành và phát triển nhân cách, cá nhân tự củng cố hệ thống thái độ, hình thành thái độ mới và loại bỏ những thái độ không phù hợp với định hướng phát triển nhân cách của mình
Nếu những yếu tố trên tham gia chủ yếu vào quá trình hình thành thái độ, thì chúng cũng tham gia vào quá trình thay đổi thái độ Nếu muốn tiến hành thay đổi thái độ thì cần sự tác động vào những yếu tố trên Chẳng hạn, để giúp cá nhân thay đổi để thái độ trở nên tích cực hơn, về mặt thỏa mãn nhu cầu, cần giúp cá nhân
nhận diện nhu cầu và có phương cách tích cực thỏa mãn nhu cầu Về mặt thông tin, cần cung cấp thông tin có ích, gần với tri thức khoa học, đồng thời giúp cá nhân có khả năng đánh giá và chọn lọc thông tin Về mặt giao tiếp nhóm, cần có những cơ chế đủ mạnh để tác động đến những chuẩn mực nhóm có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến thái độ của cá nhân, đồng thời giúp cá nhân nâng cao khả năng chọn lọc những chuẩn mực nhóm Về mặt nhân cách, giúp cá nhân rèn luyện và phát triển nhân cách theo định hướng lành mạnh, tích cực
Đối tượng của thái độ trong phạm vi của đề tài là vấn đề an toàn tình dục và việc sử dụng biện pháp an toàn tình dục
Nhận thức, thái độ, hành vi là ba thành phần trong cấu trúc tâm lý Trong
đó, nhận thức và thái độ được xem là yếu tố nền tảng để từ đó thiết lập hành vi Nghiên cứu về nhận thức và thái độ cũng trên cơ sở phục vụ cho việc đề xuất những nội dung, phương pháp về quá trình hình thành và thay đổi hành vi Bởi vì, hành vi
Trang 28là phương tiện trực tiếp được con người sử dụng để tham gia vào cuộc sống, khám phá và cải tạo thế giới khách quan, cải tạo bản thân
Nhận thức và thái độ cùng là kết quả của sự phản ánh tâm lý, trong đó, nhận thức là kết quả của phản ánh nhận thức, còn thái độ là kết quả của phản ánh cảm xúc Nhận thức hướng vào phản ánh bản thân sự vật, hiện tượng – đối tượng của nhận thức Còn thái độ hướng vào phản ánh mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng và
sự thỏa mãn nhu cầu của con người
Thái độ và nhận thức có mối liên quan chặt chẽ với nhau Nhận thức là chất liệu tạo thành thái độ Thái độ là yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở quá trình nhận thức và định hướng cho việc sàng lọc kết quả nhận thức Nhận thức và thái độ không tách biệt mà đan xen vào nhau, ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình phản ánh đối tượng Nhờ các giác quan và bộ não, con người có khả năng nhận thức đối tượng để quyết định việc sử dụng đối tượng ấy phục vụ cho nhu cầu của mình Mặt khác, từ nhu cầu của mình, con người có thái độ chấp nhận hay không chấp nhận việc tiếp tục nhận thức về đối tượng ấy, nhận thức những mặt nào, nhận thức bằng cách nào
Nếu theo sự liên hệ như trên, có thể nói rằng có sự thống nhất giữa thái độ
và nhận thức, thậm chí trong thái độ có thành phần nhận thức tương ứng, trong kết quả nhận thức có hàm chứa biểu hiệu của thái độ Tuy nhiên, nhận thức và thái độ vẫn có sự độc lập với nhau, trong nhiều trường hợp không cho thấy sự liên quan, tức là không thể dùng biểu hiện của một cái để dự báo hoặc suy lý kết quả hoặc mức độ cái còn lại
Có một sự tích hợp, hội nhập giữa nhận thức và thái độ, đó là ý thức Ý thức được hiểu là cấp độ phản ánh tâm lý cao nhất, là nét đặc trưng cơ bản của tâm
lý người, là khả năng nhận thức được sự nhận thức, là tri thức của tri thức, là phản ánh của phản ánh Cấu trúc của ý thức gồm ba mặt: nhận thức, thái độ và sự năng động trong việc điều khiển, điều chỉnh hành vi, hoạt động [2]
Mặt nhận thức là hạt nhân của ý thức, cho thấy hàm lượng tri thức trong ý thức Mặt thái độ cho thấy cảm xúc, sự lựa chọn, sự đánh giá trong ý thức Mặt
Trang 29năng động của ý thức cho thấy khả năng vận dụng tri thức và thái độ trong việc thể hiện thành hành vi, hoạt động để cải tạo thế giới, cải tạo bản thân
Qua việc nhận biết cấu trúc của ý thức, có thể giải thích cho những trường hợp thiếu sự tương ứng, thiếu sự thống nhất giữa ba mặt nhận thức, thái độ, hành vi
Đó là khi nhận thức và thái độ chưa hội nhập sâu sắc với nhau để tạo thành ý thức,
và vẫn còn thiếu tính năng động của ý thức để điều khiển hành vi Như vậy, trong việc tác động cá nhân thay đổi hành vi, không thể chỉ tác động riêng lẻ từng mặt nhận thức hoặc thái độ, mà quan trọng là hình thành nên ý thức của cá nhân về vấn
đề cần tác động, đồng thời trang bị cho cá nhân những khả năng phục vụ cho mặt năng động của ý thức để cuối cùng, kỳ vọng cá nhân ấy thiết lập được hành vi mới
Khái niệm sức khỏe sinh sản được phát biểu dựa trên khái niệm về sức khỏe
đã được mở rộng của WHO WHO đã đưa ra khái niệm về sức khỏe như sau: “Sức khỏe là một tình trạng hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ đơn thuần là không có bệnh hay tàn phế”
Lấy cơ sở từ khái niệm này về sức khỏe, Hội nghị quốc tế về Dân số và phát triển tại Cairo năm 1994 đã đưa ra định nghĩa sức khỏe sinh sản như sau: “Sức khỏe sinh sản là một trạng thái hài hòa về thể chất, tinh thần và xã hội trong mọi
Trang 30khía cạnh liên quan đến tình dục và hệ thống sinh sản, chức năng sinh sản và quá trình sinh sản của con người”
Như vậy, sức khỏe sinh sản bao hàm những nội dung về:
- Một trạng thái sức khỏe thể chất tốt nhất: hệ thống các cơ quan sinh dục nam và nữ không bị bệnh và thực hiện tốt các chức năng của hệ thống ấy
- Đảm bảo rằng con người không bị bắt buộc hoặc bị sức ép từ hành vi của người khác, hoặc bị lợi dụng sự thiếu hiểu biết để làm những điều họ không muốn, làm những điều có hại cho cơ thể họ, cho khả năng và năng lực sinh sản của
họ Cũng đồng nghĩa với việc con người có sự tự do, không chịu một áp lực tâm lý nào bắt nguồn từ đặc điểm sinh sản của họ
- Đạt được một trạng thái sức khỏe xã hội cao nhất mà cá nhân có thể đạt được
Những nội dung trên được cụ thể như sau:
- Quyền có một đời sống tình dục thỏa mãn và an toàn, có quyền quyết định có hay không có sinh hoạt tình dục
- Quyền tận hưởng năng lực sinh sản của mình
- Chức năng tình dục của hệ cơ quan sinh dục: đảm bảo sự hài hòa về thể lực, tinh thần và xã hội trong hoạt động tình dục Hoạt động tình dục phải an toàn, đảm bảo không bị lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục
- Chức năng sinh sản của các cơ quan sinh dục: đảm bảo sự hài hòa về thể lực, tinh thần và xã hội trong hoạt động sinh sản Người mẹ mang thai và sinh sản phải đạt được độ chín muồi về thể chất, tinh thần và xã hội
- Quyền được tiếp cận, tiếp nhận thông tin về sức khỏe sinh sản
- Quyền được lựa chọn các biện pháp tránh thai an toàn, hiệu quả
- Quyền được lựa chọn biện pháp điều hòa sinh sản, theo đúng luật pháp
- Quyền được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trang 31- Quyền được làm mẹ - mang thai và sinh nở an toàn Mỗi đứa trẻ ra đời
là kết quả của sự mong muốn và được yêu quý [13], [56]
1.2.2.2 An toàn tình dục
Sinh sản và sức khỏe sinh sản gắn liền với hoạt động tình dục Không thể đảm bảo sức khỏe sinh sản nếu như ngay trong hoạt động tình dục đã chứa đựng những nguy cơ gây tổn hại sức khỏe sinh sản Từ đó, khái niệm an toàn tình dục, hoặc tình dục an toàn, được đặt ra, nằm trong ý nghĩa hướng đến việc bảo vệ sức khỏe sinh sản ngay trong khi có hoạt động tình dục An toàn tình dục hoặc tình dục dục an toàn đều được dịch từ thuật ngữ “safe sex” trong tiếng Anh
Theo UNFPA, an toàn tình dục bao gồm tất cả các hoạt động tình dục giúp phòng tránh có thai ngoài ý muốn và giảm bớt nguy cơ lây truyền các bệnh lây qua đường tình dục
Theo WHO, an toàn tình dục là những cách đạt được khoái cảm tình dục nhưng không để cho máu, tinh dịch, dịch tiết âm đạo của bạn tình xâm nhập vào cơ thể
Hai khái niệm này về bản chất có nội hàm tương đương nhau, chỉ khác về cách diễn đạt và đối tượng chủ yếu mà khái niệm nhắm đến Trong khi khái niệm của UNFPA hướng đến đối tượng chủ yếu là thanh thiếu niên và nhắm đến mục tiêu tránh có thai ngoài ý muốn, tránh bệnh lây qua đường tình dục trong khi có quan hệ tình dục thì khái niệm của WHO lại hướng đến đối tượng là những người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS và nhắm đến việc hướng dẫn hành vi an toàn trong khi có sinh hoạt tình dục Khái niệm của UNFPA thường được sử dụng trong những chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản cho thanh thiếu niên Khái niệm của WHO thường được sử dụng trong những chương trình đào tạo tham vấn viên, đồng đẳng viên cho các dự án ngăn ngừa lây nhiễm HIV Trong khái niệm của của UNFPA, phạm trù tình dục chủ yếu hàm chứa tình dục khác giới (khi nêu rõ mục tiêu tránh
có thai ngoài ý muốn như một bộ phận không thể tách rời của khái niệm), nhưng cũng không loại trừ tình dục đồng giới Còn trong khái niệm của WHO, phạm trù
Trang 32tình dục có khuynh hướng bao hàm cả tình dục khác giới và tình dục đồng giới (khi không nêu rõ nội dung tránh có thai ngoài ý muốn)
Giải thích cho khái niệm được nêu, các tổ chức cũng khẳng định, một khi
đã có những hành động tình dục với bạn tình, bất kể là có giao hợp hay không giao hợp, thì gần như không thể đạt được mức độ an toàn tuyệt đối Sự an toàn tuyệt đối chỉ có được khi không quan hệ tình dục với bất kỳ bạn tình nào Vì lý do này, gần đây, có quan điểm dùng thuật ngữ “tình dục an toàn hơn” (safer sex) nhằm nhắc nhở rằng, ngay cả khi có sử dụng biện pháp an toàn tình dục thì hành vi này cũng chỉ giúp giảm bớt nguy cơ nhiễm bệnh lây qua đường tình dục, tức chỉ an toàn hơn so với hành vi quan hệ tình dục không sử dụng biện pháp an toàn tình dục, chứ không thể an toàn tuyệt đối
Các hành vi tình dục được phân loại mức độ an toàn tình dục như sau [60]
- Tình dục an toàn (safe sex): tưởng tượng về tình dục, nhìn ngắm cơ thể, thủ dâm, vuốt ve trên mặt da lành lặn
- Tình dục an toàn phần nào (less safe sex): sử dụng những biện pháp có hiệu quả ngăn sự tiếp xúc trực tiếp, như bao cao su, để quan hệ tình dục theo đường
âm đạo hay hậu môn, bằng miệng với âm đạo hay với dương vật, bằng tay với âm đạo
- Tình dục không an toàn (unsafe sex): quan hệ tình dục theo đường âm đạo hay hậu môn hay đường miệng mà không dùng bao cao su
Tình dục an toàn còn được gọi là tình dục có bảo vệ Nếu quan hệ tình dục không an toàn hoặc không được bảo vệ, người nữ có thể mang thai ngoài ý muốn dễ dẫn đến quyết định phá thai, người nam lẫn người nữ đều có nguy cơ nhiễm bệnh lây qua đường tình dục
Nếu người nữ phá thai, việc phá thai có thể gây nên những hậu quả nguy hiểm Tai biến và biến chứng sớm có thể là chảy máu âm đạo nhiều hoặc ứ máu trong tử cung, rách cổ tử cung, thủng tử cung, tai biến do gây mê, gây tê hay do dị ứng thuốc, tử vong Tai biến và biến chứng muộn có thể là sót nhau, sót thai, nhiễm trùng vùng chậu, hệ sinh sản, máu, các cơ quan trong ổ bụng, rong kinh; dính buồng
Trang 33tử cung, tỷ lệ bám nhau thấp trong những lần mang thai sau, vô sinh do tử cung bị tổn thương, thai ngoài tử cung, ức chế về mặt tình cảm [70]
Tình dục không an toàn còn dẫn đến nhiễm bệnh lây qua đường tình dục Bệnh lây qua đường tình dục là những viêm nhiễm có thể lây truyền từ người này sang người khác chủ yếu qua tiếp xúc tình dục Gần đây có quan điểm không gọi là
“bệnh lây qua đường tình dục” - Sexually transmitted diseases, viết tắt: STDs (tiếng Anh) mà gọi là “lây nhiễm qua đường tình dục” - Sexually transmitted infection, viết tắt: STI (tiếng Anh), nhằm hàm ý rằng không phải sự lây nhiễm nào cũng biểu hiện ngay thành bệnh nhưng người bị lây nhiễm đã mang mầm bệnh và
đã có nguy cơ lây cho người khác Bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể do vi khuẩn, vi rút, đơn bào, nấm hay do ký sinh trùng gây ra Các đường lây khác của những bệnh này là lây qua đường máu, tiếp xúc với dịch cơ thể, từ mẹ sang con Một số rất ít trong những bệnh này có nguyên nhân khi người bị bệnh không giữ vệ sinh hợp lý ở vùng cơ quan sinh dục, dù có quan hệ tình dục hay không, chẳng hạn bệnh nấm âm đạo Candidas Albicans
Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục: Chlamydia, lậu, giang mai, hạ cam mềm, viêm hạch bẹn (bệnh hột xoài), sùi mào gà, Herpes sinh dục, HIV/AIDS, viêm gan siêu vi B, Trichcomonas (trùng roi), nhiễm nấm Candidas Albicans, bệnh rận mu, bệnh ghẻ [13], [44]
Bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể gây ra các tổn thương đối với các bộ phận trên cơ thể Nếu không được chữa trị kịp thời, bệnh sẽ chuyển sang dạng mãn tính kéo dài làm hủy hoại một số bộ phận trên cơ thể, gây vô sinh, làm tăng nguy cơ ở các cơ quan sinh dục, thậm chí có thể gây tử vong Bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng là nguyên nhân chính dẫn đến có thai ngoài tử cung, sẩy thai, thai chết lưu trong tử cung, đẻ non hoặc trẻ mắc các căn bệnh bẩm sinh
Ngoài ra, bệnh còn gây ảnh hưởng đến tâm lý do có cảm giác khó chịu, sự
hổ thẹn, có thể là cảm nhận tội lỗi của bản thân người bị bệnh cũng như bạn tình và người thân trong gia đình Hơn nữa, nếu mắc một hay nhiều bệnh lây truyền qua đường tình dục sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm HIV Những tổn thương trên dương vật,
Trang 34hậu môn hoặc trong âm đạo làm cho HIV có thể thâm nhập một cách dễ dàng hơn Còn đối với người nhiễm HIV, nếu bị lây nhiễm thêm các bệnh lây truyền qua đường tình dục thì người bệnh sẽ nhanh chuyển dến giai đoạn AIDS hơn và đi đến cái chết nhanh chóng hơn
Bên cạnh phương diện thể chất, y khoa trong khái niệm an toàn tình dục, các tổ chức đưa ra khái niệm này cũng chú trọng đến phương diện tình cảm, tinh thần khi đề cập đến an toàn tình dục
Như trong Trò chuyện về giới tính, tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên [43], tài liệu viết, “quan hệ tình dục có văn hóa và có trách nhiệm thể hiện ở việc cả hai người đều hiểu biết và tôn trọng nhu cầu, giá trị của người yêu và của bản thân mình; biết vun đắp mối quan hệ tin cậy ở nhau; biết lường trước để tránh những hậu quả xấu có thể xảy ra và có trách nhiệm về hành vi tình dục của mình; không vi phạm quyền của người khác trong khuôn khổ luật pháp và được pháp luật bảo vệ”
Tài liệu Những điều cần biết để giáo dục giới tính cho con [44] có đoạn nói
đến khía cạnh tinh thần, văn hóa của tình dục “Tình dục là một trong các dạng hoạt động gắn liền với cuộc sống con người Nó được coi là chính đáng khi con người biết thực hiện nó một cách có văn hóa Hoạt động tình dục lành mạnh là sự hợp nhất
và biểu hiện về mặt thể chất, cảm xúc, trí tuệ, tinh thần và xã hội của một người theo cách sẽ làm tăng giá trị nhân cách và làm phong phút tình thương yêu giữa hai người”
Tài liệu viết tiếp “Tình dục của con người cần gắn liền với tình yêu và tinh thần trách nhiệm Khi có tình yêu cũng chưa phải là điều kiện đủ để có quan hệ tình dục, mà còn cần phải có trách nhiệm với nhau, gìn giữ cho nhau Tốt nhất là không nên quan hệ tình dục, mà tìm cách giải tỏa cảm xúc bằng những hình thức và biện pháp khác nhau Trong trường hợp không kiềm chế được thì phải biết quan hệ an toàn, đảm bảo không bị mang thai và mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
Tránh quan hệ tình dục ích kỷ và vô nhân đạo Tình dục ích kỷ và vô nhân đạo không phải là hiếm gặp, nó có rất nhiều hình thức thể hiện:
Trang 35- Phổ biến nhất là trường hợp hai người sinh hoạt tình dục nhưng mỗi người chỉ vì mục đích thỏa mãn nhu cầu của mình, không quan tâm đem lại hứng thú cho người kia Đây là sự thiếu tôn trọng căn bản giữa người với người
- Tính ích kỷ, thiếu tôn trọng còn thể hiện ở việc cố nài ép người kia phải chiều theo khi trong lòng người ấy thật sự không muốn quan hệ tình dục
- Tệ hại nhất là dùng vũ lực để ép người khác quan hệ tình dục Nếu đó không phải là người yêu hay vợ chồng thì hành động này được coi là xâm hại tình dục và bị pháp luật trừng trị
- Việc làm đáng lên án nữa là quấy rối tình dục Đó là những cử chỉ khiếm nhã, những lời nói tục tĩu, những hành vi động chạm đến thân thể người khác với ý xấu Tất cả những hành vi đó đều không đẹp và đáng lên án”
Theo bác sĩ Đào Xuân Dũng [12], “Tại hội nghị thế giới lần thứ XIII về tình dục học họp tại Valencia, Tây Ban Nha năm 1997, tuyên ngôn Quyền về Sức khỏe tình dục đã được các thành viên tham dự hội nghị thông qua Tuyên ngôn nêu các quyền về tình dục của con người gồm:
- Quyền được tự do, loại trừ hình thức ép buộc, bóc lột và lạm dụng tình dục ở bất cứ thời điểm và trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống
- Quyền được làm chủ bản thân, được lành lặn và an toàn cơ thể; quyền này bao gồm sự kiểm soát và hưởng thụ đối với chính cơ thể chúng ta, không bị hành hạ với bất cứ loại cắt xẻo và bạo hành nào
- Quyền được đối xử công bằng và bình đẳng về tình dục; có sự tôn trọng đúng đắn với những khác biệt về tình dục, bất kể nam nữ, vai trò giới, tuổi tác, giai cấp xã hội, tôn giáo và xu hướng tình dục
- Quyền về sức khỏe tình dục; quyền này bao gồm mọi nguồn lực sẵn có
và đầy đủ để phát triển nghiên cứu và truyền bá những hiểu biết cần thiết về HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng như sự phát triển sâu rộng hơn nữa về các nguồn lực để nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị
Trang 36- Quyền được có thông tin rộng, khách quan và thực tế về tình dục người
để cho phép có những quyết định về đời sống tình dục
- Quyền được giáo dục toàn diện về tình dục kể từ khi sinh ra và trong suốt chu kỳ cuộc sống Mọi thể chế xã hội đều cần tham gia vào tiến trình này
- Quyền được lựa chọn bạn tình và quyết định đời sống tình dục với bạn tình
- Quyền được lựa chọn tự do và có trách nhiệm về cuộc sống sinh sản, số con và khoảng cách giữa các lần sinh con và tiếp cận các phương tiện điều hòa sinh sản
- Quyền tự quyết, bao hàm khả năng có những quyết định một cách độc lập về đời sống tình dục trong bối cảnh của đạo lý cá nhân và xã hội
Như vậy, các quan điểm tiến bộ về giáo dục tình dục đều đặt việc thực hiện
an toàn tình dục trong bối cảnh có sự an toàn về tâm lý, tinh thần, trong đó khuyến khích việc trải nghiệm tình dục trên nền tảng tình yêu, có trách nhiệm, tôn trọng, bình đẳng, và được bảo vệ Song song đó, việc thực hiện an toàn tình dục cũng là cách giúp người tham gia hoạt động tình dục có cơ hội đạt tới trạng thái yên tâm về mặt tinh thần vì giảm đi nhiều sự lo lắng sợ có thai ngoài ý muốn, sợ bị nhiễm bệnh lây qua đường tình dục, từ đó, việc hưởng thụ đời sống tình dục sẽ trọn vẹn hơn
Trong phạm vi của đề tài, nội hàm của tình dục được hiểu là tình dục khác giới, và, người nghiên cứu chọn khái niệm về an toàn tình dục của UNFPA để sử dụng như là khái niệm công cụ khi nghiên cứu về nhận thức, thái độ về an toàn tình dục của nữ TNCNST
Bên cạnh đó, đề tài cũng khảo sát nhận thức, thái độ của nữ TNCNST về phương diện tinh thần trong an toàn tình dục
1.2.2.3 Biện pháp an toàn tình dục
Biện pháp an toàn tình dục là biện pháp giúp đạt được mục tiêu đã được đề
ra trong khái niệm về an toàn tình dục, tức vừa giúp tránh có thai ngoài ý muốn vừa giúp tránh các bệnh lây qua đường tình dục
Trang 37Đầu tiên là nhóm các biện pháp tránh thai Có nhiều cách phân loại các biện pháp tránh thai Chẳng hạn, phương pháp tránh thai tự nhiên và phương pháp tránh thai nhân tạo Hoặc, phương pháp tránh thai truyền thống và phương pháp tránh thai hiện đại Hoặc, biện pháp tránh thai tạm thời và biện pháp tránh thai vĩnh viễn Hoặc phân loại thành biện pháp tránh thai có hiệu quả cao và biện pháp tránh thai
có hiệu quả thấp hơn Đề tài này sẽ sử dụng cách phân loại sau cùng
Mỗi biện pháp tránh thai có những ưu điểm, nhược điểm riêng và việc lựa chọn sử dụng sẽ dựa trên nhiều điều kiện của người sử dụng Đề tài này chỉ đề cập đến hiệu quả tránh thai của các biện pháp Hiệu quả tránh thai đang đề cập trong phạm vi này bao gồm tỷ lệ thành công trong việc ngăn ngừa có thai, dễ sử dụng, ít phụ thuộc vào sự biến đổi của các yếu tố khác trong quá trình sử dụng [12], [36], [44], [70]
Các biện pháp tránh thai có hiệu quả cao:
- Kiêng giao hợp âm đạo: phải đảm bảo hoàn toàn không có sự tiếp xúc giữa dương vật và âm đạo
- Triệt sản nam: cắt ống dẫn tinh, ngăn cản tinh trùng vào tinh dịch, hiệu quả tránh thai 99,8%
- Triệt sản nữ: cắt ống dẫn trứng, ngăn cản trứng gặp tinh trùng, hiệu quả tránh thai 99,5%
- Dụng cụ tử cung: đặt một dụng cụ nhỏ làm bằng chất dẻo và đồng vào trong tử cung, ngăn trứng làm tổ tại tử cung, hiệu quả 99%
- Bao cao su: một loại màng ngăn sự tiếp xúc trực tiếp giữa dương vật và
âm đạo, ngăn tinh dịch vào âm đạo, có loại dùng cho nam và loại dùng cho nữ, hiệu quả tráhh thai 85 – 97%
- Miếng dán tránh thai: chứa chất nội tiết, được dán trên da, có tác dụng ngăn sự rụng trứng, hiệu quả tránh thai 91 - 99%
- Que cấy tránh thai: chứa chất nội tiết, được cấy dưới da,
- Thuốc tiêm tránh thai: chứa chất nội tiết, được tiêm vào cơ thể, có tác dụng ngăn sự rụng trứng, hiệu quả tránh thai 99,6%,
Trang 38- Viên uống tránh thai: chứa chất nội tiết, được đưa vào cơ thể bằng đường uống Loại uống hằng ngày có tác dụng ngăn sự rụng trứng, hiệu quả từ 90 – 99,9% Loại uống khẩn cấp sau khi có quan hệ tình dục có tác dụng ngăn sự rụng trứng, ngăn ngừa sự làm tổ của trứng ở tử cung, hiệu quả 75 – 80%
- Thuốc diệt tinh trùng: chứa hóa chất diệt tinh trùng, được đưa vào âm đạo trước giao hợp, hiệu quả tránh thai 90 – 95%
Các biện pháp tránh thai có hiệu quả thấp hơn:
- Xuất tinh ngoài âm đạo: hiệu quả thấp do khó làm chủ thao tác thực hiện
- Tránh giao hợp vào ngày rụng trứng: hiệu quả thấp do khó tính được chính xác ngày rụng trứng
Tiếp theo là nhóm các biện pháp tránh các bệnh lây qua đường tình dục Vì các bệnh này còn có những đường lây khác nên để phòng tránh bệnh có nhiều biện pháp liên quan đến nhiều đường lây Đề tài này chỉ đề cập đến những biện pháp có liên quan đến đường lây qua quan hệ tình dục Các biện pháp đó là:
- Quan hệ tình dục không giao hợp, chỉ sờ chạm, vuốt ve trên mặt da lành lặn, không tiếp xúc với tinh dịch, dịch tiết âm đạo, máu của bạn tình, nhất là tại những vùng có niêm mạc của cơ thể
- Sử dụng bao cao su đúng cách trong quan hệ tình dục
- Không quan hệ tình dục với nhiều bạn tình
- Không quan hệ tình dục với người mà mình chưa biết rõ lối sống
- Cả hai đều chung thủy và đều không nhiễm bệnh trước đó [36], [44], [70]
Trong số các biện pháp nêu trên, biện pháp đầu tiên khó thực hiện vì một số yếu tố ảnh hưởng sau đây: một khi đã có sự vuốt ve, sờ chạm vào cơ thể, cảm xúc hưng phấn tình dục đã được kích thích thì không dễ ngăn được việc quan hệ tình dục có giao hợp Ngay cả khi chỉ vuốt ve, sờ chạm vào bạn tình, cũng không thể chắc chắn không tiếp xúc tại những vùng có niêm mạc, hoặc không tiếp xúc với tinh
Trang 39dịch, dịch tiết âm đạo, máu của bạn tình Như vậy, biện pháp sử dụng bao cao su đúng cách khi có quan hệ tình dục và cả hai đều giữ sự chung thủy là biện pháp được khuyến nghị
Kết hợp cả biện pháp tránh có thai ngoài ý muốn và biện pháp tránh các bệnh lây qua đường tình dục, chỉ có biện pháp sử dụng bao cao su đúng cách trong quan hệ tình dục là thỏa được cả hai điều kiện – vừa tránh có thai ngoài ý muốn, vừa tránh nhiễm bệnh lây qua đường tình dục Do đó, sử dụng bao cao su đúng cách còn được gọi là biện pháp an toàn tình dục vì thỏa mãn được mục tiêu của khái niệm an toàn tình dục, dĩ nhiên là trong bối cảnh cả hai đều chung thủy Việc gìn giữ sự chung thủy của cả hai không chỉ làm tăng thêm tính an toàn về mặt y khoa trong quan hệ tình dục mà còn tăng tính an toàn về tâm lý, tinh thần, tăng tính nhân văn trong quan hệ tình dục
1.2.3 Nhận thức, thái độ về an toàn tình dục
Nhận thức về an toàn tình dục đặt trên nền tảng trên sự nhận thức toàn diện
về hệ sinh sản, hành vi tình dục và sức khỏe sinh sản, gồm nhiều khía cạnh nội dung cần nhận thức:
- Hệ sinh sản: vai trò và chức năng của hệ sinh sản, đặc điểm cấu tạo của
hệ sinh sản, hoạt động của hệ sinh sản phục vụ cho cơ chế thụ thai và sinh con
- Hành vi tình dục: các yếu tố sinh học và tâm lý tham gia vào việc thực hiện hành vi tình dục, các hình thái hành vi tình dục, sự tham gia của các cơ quan sinh sản trong quá trình thực hiện hành vi tình dục, hệ quả và nguy cơ từ hành vi tình dục
- Sức khỏe sinh sản: các mặt nội dung của sức khỏe sinh sản, tầm quan trọng của việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe sinh sản, các vấn đề gây nguy hại đến sức khỏe sinh sản, mối liên quan giữa hành vi tình dục và sức khỏe sinh sản, các biện pháp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe sinh sản
Trong mối liên hệ với những nội dung trên, nhận thức về an toàn tình dục gồm việc nhận thức những nội dung:
Trang 40- Bản chất của an toàn tình dục
- Mối liên quan giữa an toàn tình dục và sức khỏe sinh sản
- Hệ quả của mang thai ngoài ý muốn
- Hậu quả có thể xảy ra của việc phá thai
- Các loại bệnh lây qua đường tình dục, tác hại của bệnh lây qua đường tình dục và các đường truyền bệnh lây qua đường tình dục
Ở một mức độ cao, nhận thức về an toàn tình dục có những kết quả như:
- Hiểu chính xác, đầy đủ về khái niệm an toàn tình dục
- Đánh giá được toàn diện và chi tiết mối liên quan giữa an toàn tình dục
và sức khỏe sinh sản
- Vận dụng được khái niệm an toàn tình dục trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Đánh giá toàn diện và chi tiết hệ quả của mang thai ngoài ý muốn
- Biết chính xác, đầy đủ, hiểu rõ về hậu quả có thể xảy ra do phá thai
- Biết chính xác, đầy đủ biện pháp tránh thai
- Biết chính xác, đầy đủ, hiểu rõ tác dụng biện pháp tránh thai
- Biết chính xác, đầy đủ, hiểu rõ và áp dụng được cách sử dụng biện pháp tránh thai
- Biết chính xác, đầy đủ các loại bệnh lây qua đường tình dục,
- Biết chính xác, đầy đủ, hiểu rõ tác hại của bệnh lây qua đường tình dục
- Biết chính xác, đầy đủ, hiểu rõ các đường lây truyền của bệnh lây qua đường tình dục
- Biết chính xác, đầy đủ biện pháp tránh bệnh lây qua đường tình dục