Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố quy mô thị trường, cơ sở hạ tầng và độ mở thương mại có tác động tích cực đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
TRƯƠNG THỊ THANH NGA
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
TP HCM - 2015
Trang 2BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
TRƯƠNG THỊ THANH NGA
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO CÁC QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN Ở ĐÔNG NAM Á
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á” là công trình nghiên cứu của chính tôi
Các thông tin, dữ liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn đều có ghi nguồn gốc và kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại bất
kỳ công trình nào khác
Tp HCM, ngày……….tháng…… năm 2015
Trương Thị Thanh Nga
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục sơ đồ
Danh mục bảng
Danh mục viết tắt
Tóm tắt
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Giới thiệu nghiên cứu 1
1.2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.3.1.Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3.2.Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Đóng góp của nghiên cứu 4
1.7 Bố cục nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN 5
2.1 Tổng quan về FDI 5
2.1.1 Khái niệm 5
2.1.2 Ưu điểm và hạn chế của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
2.1.3 Các yếu tố quyết định việc thu hút FDI 7
Trang 62.2 Các nghiên cứu trước 10
2.2.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới 10
2.2.2 Một số mô hình nghiên cứu trong nước 14
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 19
3.1 Quy trình nghiên cứu 19
3.2 Mô hình nghiên cứu 20
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 24
3.4 Giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Giả thuyết nghiên cứu 24
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 25
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Thống kê mô tả các biến 30
4.2 Kết quả nghiên cứu 33
4.3 Thảo luận về các biến nghiên cứu theo kết quả đối chiếu với thực tế 40
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Kiến nghị 48
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3 1 Quy trình nghiên cứu 19
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Mô tả các biến 23
Bảng 4 1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 30
Bảng 4 2 Ma trận tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình 31
Bảng 4 3 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị - Unit root test 32
Bảng 4 4 Hồi quy dữ liệu bảng theo mô hình Pool OLS 33
Bảng 4 5 Hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng cố định – FEM 35
Bảng 4 6 Hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng ngẫu nhiên – REM 36
Bảng 4 7 Kết quả kiểm định lựa chọn giữa FEM và REM 37
Bảng 4 8 Tổng hợp kết quả hồi quy theo mô hình Pool OLS, FEM và REM 38
Bảng 4 9 Kết quả ước lượng các yếu tố tác động đến FDI theo phương pháp FGLS 40
Bảng 4 10 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trường hợp tại Việt Nam 43
Bảng 4 11 Kết quả hồi quy mô hình trường hợp Việt Nam 44
Trang 9DANH MỤC VIẾT TẮT
ASEAN: Association of Southeast Asian Nations – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á
ASEAN-5: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam
BRIC: nhóm nước có nền kinh tế mới nổi gồm: Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc ĐTNN: Đầu tư nước ngoài
FDI: Foreign Direct Investment - Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FEM: Fixed Effects Model
FGLS: Feasible Generalized Least Square – Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi
GDP: Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm trong nước
IMF: International Monetary Fund - Quỹ tiền tệ quốc tế
REM: Random Effects Model
UNCTAD: United Nations Conference on Trade and Development – Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
USD: the US Dollar
VIF: Variance inflator factor – Nhân tử phóng đại phương sai
WDI: World Bank’s World Development Indicators
WTO: World Trade Organization – Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 10TÓM TẮT
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển FDI mang lại các lợi ích như: chuyển giao kỹ thuật công nghệ, tạo việc làm, giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại nước nhận đầu tư……Do đó, việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài là rất cần thiết cho các quốc gia nhằm cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế Mục tiêu của bài viết này nhằm nghiên cứu các nhân tố tác động đến FDI tại các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á, gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2014 Các yếu
tố nghiên cứu: quy mô thị trường, chi phí lao động, cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại, chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ và lạm phát Mô hình nghiên cứu của tác giả dựa trên mô hình thực nghiệm của Nguyễn Văn Bổn và Nguyễn Minh Tiến (2014) Nguồn dữ liệu được lấy từ United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) và World Bank’s World Development Indicators (WDI) Tác giả sử dụng phầm mềm Stata để phân tích dữ liệu bảng theo các mô hình Pool OLS, mô hình hồi quy theo hiệu ứng cố định (FEM), mô hình hồi quy theo hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) và Feasible Generalized Least Square (FGLS) Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố quy mô thị trường, cơ sở hạ tầng và độ mở thương mại có tác động tích cực đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu nghiên cứu
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những đặc trưng cốt lõi của toàn cầu hóa và của nền kinh tế thế giới trong suốt nhiều thập kỷ qua Thu hút FDI là một phần của quá trình phát triển và cải tổ kinh tế của các nước kém phát triển, các nước đang phát triển và cả các nước phát triển Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng trưởng nhanh chóng trên toàn cầu, từ mức trung bình gần 400 tỷ USD năm 1996, đến năm 2007 đạt gần 2 nghìn tỷ USD Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, vốn FDI giảm xuống chỉ còn 1.81 nghìn tỷ USD và 1.2 nghìn tỷ USD vào năm 2009 Đến năm 2010, FDI tăng trở lại với 1.42 nghìn tỷ USD, trong năm 2011 với 1.7 nghìn tỷ USD và dòng vốn FDI đạt 1.45 nghìn tỷ USD vào năm 2013 (UNCTAD, 2014) Vào năm 2014, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu đã giảm 8% xuống còn 1.26 nghìn tỷ USD do tình trạng "mong manh" của nền kinh tế thế giới, những rủi ro chính trị và các chính sách thiếu ổn định Theo đó, tốc độ tăng trưởng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia Đông Nam Á cũng giảm, năm 2009 là 48 tỷ USD, năm 2012 là 111 tỷ USD và năm 2013 là 125 tỷ USD, (UNCTAD, 2014) Tuy nhiên, tỷ trọng FDI vào các nước này so với dòng FDI vào toàn cầu ngày càng tăng từ 4% năm 2009 lên 7.48% năm 2010 và đạt 8.6% vào năm 2013; đến năm 2014 thì tỷ trọng này đạt gần 11% Sự gia tăng dòng vốn FDI vào khu vực Đông Nam Á hiện tại chủ yếu do chi phí lao động tăng cao ở Trung Quốc và đồng Nhân dân tệ tăng giá đã khiến cho các nhà đầu tư chuyển hướng sang thị trường các quốc gia Đông Nam Á (UNCTAD, 2014)
Tập trung thu hút FDI luôn là ưu tiên chiến lược hàng đầu của các quốc gia đang phát triển Các quốc gia nhận đầu tư sẽ có lợi khi nguồn FDI mang lại những lợi ích liên quan đến khoa học, công nghệ mới, kỹ năng quản lý, kỹ năng lao động, vốn và tạo thêm nhiều việc làm cũng như cải thiện môi trường làm việc cho lao động, thúc đẩy
sự phát triển trong các lĩnh vực mà họ đầu tư tại nước đó Vì vậy, các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển tại Đông Nam Á luôn cố gắng điều chỉnh các chính sách và thể chế phù hợp để thu hút dòng vốn FDI Với những lợi ích mà FDI mang
Trang 12lại cho các quốc gia nhận đầu tư thì việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là cần thiết để tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn thu hút nhiều nguồn vốn FDI vào các quốc gia hơn, Tôi đã chọn đề tài nghiên
cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các
quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á”
1.2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về liên quan đến FDI như: Wahid, Sawkut và Seetanah (2007), “Các yếu tố tác động đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: bài học từ các quốc gia tại Châu Phi” Erdal Demirhan và Mahmut Masca (2008), “Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển: phân tích dữ liệu chéo” Kok và Ersoy (2009), “Phân tích các yếu
tố tác động đến FDI vào các quốc gia đang phát triển” Vinit Ranjan và Gaurav Agrawal (2011), “Các yếu tố ảnh hưởng đến FDI vào các quốc gia BRIC: phân tích
dữ liệu bảng” Liu và cộng sự (2012), “Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài phân bổ vào 4 vùng lãnh thổ của Trung Quốc” Mani Govil (2012), “Các yếu tố ảnh hưởng đến FDI vào các nước đang phát triển: bằng chứng thực nghiệm từ phân tích chuỗi dữ liệu thời gian”……
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu trong nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài như: Nguyễn Mạnh Toàn (2010), “Các nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một địa phương của Việt Nam” Nguyễn Minh Tiến (2013), “Các nhân tố hiệu ứng đến FDI ở Việt Nam” Nguyễn Văn Bổn và Nguyễn Minh Tiến (2014), “Các nhân tố quyết định dòng vốn FDI ở Châu Á” Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014), “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến đầu
tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển” Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm (2013), “Nghiên cứu định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.…
Trang 131.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tác động của một số yếu tố kinh tế vĩ mô đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển của Đông Nam Á, cụ thể gồm 5 nước: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam Các yếu tố nghiên cứ: quy mô thị trường, chi phí lao động, cơ sở hạ tầng, chính sách vĩ mô của chính phủ, độ mở thương mại và lạm phát Từ đó đưa ra các đề xuất phù hợp cho chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các nước Đông Nam Á
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Các yếu tố nào tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á ?
- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nghiên cứu đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố tác động đến dòng vốn FDI vào các quốc gia Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam, gồm: quy mô thị trường, chi phí lao động, cơ sở hạ tầng, chính sách vĩ mô của chính phủ, độ
mở thương mại và lạm phát
- Phạm vi và thời gian nghiên cứu: nghiên cứu thực hiện đối với các quốc gia Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam Số liệu được lấy từ United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD) và World Bank’s World Development Indicators (WDI) trong giai đoạn 1990 – 2014
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng, cụ thể là sử dụng phần mềm Stata để phân tích mức độ ảnh hưởng của các biến nghiên cứu, trong đó tác giả thực hiện hồi quy mô hình theo hiệu ứng Fixed Effects và Random Effects để kiểm định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á Kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn giữa phương pháp Fixed Effects và Random Effects Ngoài ra
Trang 14phương pháp Feasible Generalized Least Square cũng được sử dụng để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan của mô hình nghiên cứu
1.6 Đóng góp của nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số yếu tố kinh tế vĩ tác động đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào 5 quốc gia: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam, từ đó giúp các quốc gia có cái nhìn tổng quát về các yếu tố tác động để có chính sách phù hợp trong việc thu hút dòng vốn FDI
1.7 Bố cục nghiên cứu
Ngoài phần mục lục, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài nghiên cứu gồm 05 chương:
Chương 2: Tổng quan lý luận Chương này gồm cơ sở lý thuyết liên quan đến FDI và
sơ lược về các nghiên cứu trước
ứu Chương này giới thiệu về quy trình nghiên cứu,
mô tả dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, kỳ vọng về dấu của các yếu tố nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu và các phương pháp thực hiện phân tích
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luậ Trình bày kết quả ước lượng mô hình, phân tích mức độ tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến FDI Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tóm tắt các kết quả đạt được, nêu lên mặt hạn chế của bài viết cũng như đề xuất định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN
2.1 Tổng quan về FDI
2.1.1 Khái niệm
Theo định nghĩa của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư, ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu
tư còn mong muốn giành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường”
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”
Theo điều 03 của Luật đầu tư Việt Nam được Quốc hội thông qua vào 11/2005: “Đầu
tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia hoạt động quản lý đầu tư”
Từ những quan điểm trên có thể hiểu: đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư
2.1.2 Ưu điểm và hạn chế của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ưu điểm
Về phía chủ đầu tư nước ngoài
- Khai thác lợi thế của nước chủ nhà về: tài nguyên, lao động, thị trường…để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
- Đối với các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia thì việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp thực hiện mở rộng thị phần, tối ưu hóa hạch toán doanh thu, chi phí, lợi nhuận…thông qua hoạt động chuyển giá
- Phân tán rủi ro trong hoạt động đầu tư
Trang 16- Giảm chi phí kinh doanh khi đặt cở sở sản xuất, dịch vụ gần vùng nguyên liệu hay gần vùng thị trường tiêu thụ
- Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi vì xây dựng được cơ
sở kinh doanh nằm “trong lòng” các nước thực thi chính sách bảo hộ mậu dịch
- Đầu tư trực tiếp cho phép chủ đầu tư tham dự trực tiếp kiểm soát và điều hành doanh nghiệp mà họ bỏ vốn theo hướng có lợi nhất cho chủ đầu tư
- Thông qua hoạt động trực tiếp đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài tham dự vào quá trình giám sát và đóng góp vào thực thi các chính sách mở cửa kinh tế theo các cam kết thương mại và đầu tư song phương và đa phương của nước chủ nhà
Về phía nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp
- Giúp tăng cường khai thác vốn của các chủ đầu tư nước ngoài Nhiều nước thiếu vốn trầm trọng, nên đối với hình thức FDI không quy định mức đóng góp tối đa của chủ đầu tư, thậm chí đóng góp càng nhiều thì càng được hưởng
ưu đãi về thuế của nước chủ nhà
- Giúp tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các chủ đầu tư nước ngoài
- Nhờ có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cho phép nước chủ nhà có điều kiện khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về tài nguyên, vị trí mặt đất, mặt nước,…
- Sự cạnh tranh, ganh đua giữa các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu nước ngoài tạo động lực kích thích sự đổi mới và hoàn thiện trong các doanh nghiệp
và đây là nhân tố quan trọng đưa nền kinh tế phát triển với tốc độ cao
- Các dự án FDI góp phần giải quyết việc làm, nâng cao mức sống của người lao động
Hạn chế của hình thức đầu tư trực tiếp
- Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn định về kinh tế và chính trị, chủ đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn
Trang 17- Nếu nước chủ nhà không có một quy hoạch thu hút FDI cụ thể và khoa học sẽ dẫn đến đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Vì hiện nay, ở các nước tư bản phát triển thực sự kiểm soát gay gắt những dự án gây ô nhiễm môi trường, nên xu thế nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã và đang chuyển giao những công nghệ độc hại sang nước kém phát triển
- Khi liên doanh hoặc hợp tác đầu tư, bên yếu về vốn và kinh nghiệm dễ bị đối tác thôn tính hoặc chi phối hoạt động đầu tư
2.1.3 Các yếu tố quyết định việc thu hút FDI
Trên thực tế đã có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố tác động đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua những thời kỳ khác nhau và nhiều nền kinh tế khác nhau
Lý thuyết về lợi nhuận cận biên: Năm 1960 Mac Dougall đã đề xuất một mô hình lý thuyết, phát triển từ những lý thuyết chuẩn của Hescher Ohlin - Samuaelson về sự vận động vốn Ông cho rằng luồng vốn đầu tư sẽ chuyển từ nước lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (lãi suất hai nước bằng nhau) Sau đầu tư, cả hai nước trên đều thu được lợi nhuận và làm cho sản lượng chung của thế giới tăng lên so với trước khi đầu tư Lý thuyết này được các nhà kinh
tế thừa nhận những năm 1950 dường như phù hợp với lý thuyết Nhưng sau đó, tình hình trở nên thiếu ổn định, tỷ suất đầu tư của Mỹ giảm đi đến mức thấp hơn tỷ suất trong nước, nhưng FDI của Mỹ ra nước ngoài vẫn tăng liên tục Mô hình trên không giải thích được hiện tượng vì sao một số nước đồng thời có dòng vốn chảy vào, có dòng vốn chảy ra; không đưa ra được sự giải thích đầy đủ về FDI Do vậy, lý thuyết lợi nhuận cận biên chỉ có thể được coi là bước khởi đầu hữu hiệu để nghiên cứu FDI
Lý thuyết Hymer (1960) giải thích sớm nhất cho FDI, được xem như một phần của việc đầu tư các danh mục Đóng góp tiên phong của Hymer là sự lý giải đầu tiên của FDI trong các ngành công nghiệp truyền thống Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư
có một số bất lợi như: khoảng cách địa lý làm tăng chi phí vận chuyển các nguồn lực (chuyển giao công nghệ), thiếu hiểu biết về môi trường xa lạ làm tăng chi phí thông tin, thiết lập mối quan hệ mới và hệ thống cung cấp mới cũng mất nhiều chi phí so
Trang 18với các công ty bản địa Tuy nhiên, Hymer lập luận rằng các công ty đa quốc gia vẫn sẵn sàng mở hầu bao cho FDI khi họ có được các lợi thế so với các doanh nghiệp địa phương thông qua các tài sản vô hình như thương hiệu nổi tiếng, tiền bản quyền công nghệ, kỹ năng quản lý và các yếu tố đặc biệt khác…
Lý thuyết vòng đời sản phẩm của Vernon (1966) Theo lý thuyết này, phần lớn các sản phẩm được sản xuất tại nước phát minh ra nó và được xuất khẩu đi các nước khác Nhưng khi sản phẩm mới này được chấp nhận rộng rãi trên thị trường thế giới thì sản xuất được tiến hành ở các nước khác Kết quả có thể là sản phẩm sau đó sẽ được xuất khẩu trở lại nước phát minh ra nó Cụ thể, một sản phẩm có chu kỳ sống gồm 3 giai đoạn chính: (i) chương trình phát triển sản phẩm; (ii) hoàn thiện sản phẩm; (iii) chuẩn hóa sản phẩm
Giai đoạn 1: sản phẩm mới xuất hiện cần thông tin phản hồi xem có thoả mãn được
nhu cầu khách hàng hay không và sản phẩm được bán trong nước cũng là để tối thiểu hóa chi phí Xuất khẩu sản phẩm giai đoạn này không đáng kể Người tiêu dùng chú trọng đến chất lượng và độ tin cậy hơn là giá bán sản phẩm
Giai đoạn 2: sản phẩm được chấp nhận, nhu cầu tăng, sản xuất tăng mạnh, các đối
thủ cạnh tranh trong và ngoài nước xuất hiện Nhưng dần dần nhu cầu trong nước giảm, chỉ có nhu cầu ở nước ngoài tiếp tục tăng Xuất khẩu nhiều và các nhà máy ở nước ngoài bắt đầu được hình thành (sản xuất thông qua FDI) Giá sản phẩm trở thành yếu tố quan trọng trong quyết định của người tiêu dùng
Giai đoạn 3: sản phẩm được tiêu chuẩn hóa, thị trường ổn định, hàng hóa trở nên
thông dụng, các doanh nghiệp chịu áp lực phải giảm chi phí càng nhiều càng tốt để tăng lợi nhuận hoặc giảm giá để tăng năng lực cạnh tranh Cạnh tranh ngày càng gay gắt, thị trường trong nước trì trệ, cần sử dụng lao động rẻ Sản xuất được tiếp tục chuyển sang nước khác có lao động rẻ hớn thông qua FDI Nhiều nước xuất khẩu sản phẩm trong giai đoạn trước (trong đó có nước phát minh ra sản phẩm) nay trở thành các nước chủ đầu tư và phải nhập khẩu chính sản phẩm đó vì sản phẩm sản xuất trong nước không còn cạnh tranh được về giá bán trên thị trường quốc tế
Trang 19Lý thuyết của Caves (1971) Caves mở rộng giả thuyết của Hymer về đầu tư trực tiếp
và đặt nó vững chắc trong bối cảnh của lý thuyết tổ chức công nghiệp Tầm quan trọng của Caves là liên kết lý thuyết của Hymer về sản xuất quốc tế với những lý thuyết hiện tại của tổ chức công nghiệp về hội nhập theo chiều ngang và chiều dọc Caves phân biệt giữa các công ty tham gia vào FDI theo chiều ngang và thực hiện FDI theo chiều dọc Chiều ngang FDI diễn ra khi một công ty nhập tài sản riêng của mình vào sản xuất sản phẩm ở thị trường nước ngoài, trong khi đó theo chiều dọc FDI xảy ra khi một công ty tham gia vào thị trường sản phẩm ở các giai đoạn sản xuất khác nhau
Lý thuyết quốc tế hóa của Buckley và Casson (1976) Lý thuyết này giải thích các hoạt động FDI của doanh nghiệp đa quốc gia để đối phó với sự không hoàn hảo của thị trường, gây tăng chi phí giao dịch Từ sự không hoàn hảo của thị trường có liên quan đến cơ chế quản lý thị trường chẳng hạn như thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu, kiểm soát ngoại hối và thuế thu nhập Lý thuyết này cho phép doanh nghiệp đa quốc gia duy trì thị phần của họ và tối đa hóa lợi ích của họ Quá trình quốc tế hóa được phát triển để giải thích sản xuất quốc tế và một trong những người ủng hộ hàng đầu
là Buckley và Casson (1976), các doanh nghiệp đa quốc gia về cơ bản là một phần
mở rộng của các công ty đa nhà máy Buckley và Casson lưu ý rằng hoạt động của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn mang hình thức sản xuất hàng hóa và dịch vụ, các hoạt động như đào tạo, tiếp thị, nghiên cứu và phát triển, kỹ thuật quản lý và sự tham gia với thị trường tài chính được diễn ra
Dunning (1988) nghiên cứu các yếu tố quyết định đến FDI thông qua mô hình lý thuyết OLI Mô hình này cung cấp một khuôn khổ cho các nhóm yếu tố vi mô và vĩ
mô để phân tích lý do các doanh nghiệp đa quốc gia đầu tư ra bên ngoài Trong mô hình của Dunning gồm có 3 yếu tố: lợi thế về quyền sở hữu (O – Ownership), về vị thế (L – Location) và lợi thế quốc tế hóa (I – Internalization) Thứ nhất, các công ty nên có lợi thế về quyền sở hữu, cho phép họ cạnh tranh hiệu quả trong thị trường nội địa (ví dụ: quy trình sản xuất của công ty, thương hiệu, bản quyền, công nghệ và kỹ năng quản lý…) Thứ hai, nước chủ nhà nên sở hữu những lợi thế cạnh tranh quốc gia, điều này sẽ khuyến khích công ty nước ngoài đến trực tiếp sản xuất phục vụ thị
Trang 20trường trong nước thay vì xuất khẩu vào nước đó (ví dụ: chi phí vận chuyển thấp, ưu đãi thuế…) Thứ ba, lợi thế về quốc tế hóa (công ty tự sản xuất ra sản phẩm chứ không phải thông qua việc hợp tác với công ty tại nước chủ nhà) giúp công ty xây dựng và khai thác năng lực của mình như chi phí vận chuyển thấp, quản lý hiệu quả
và kiểm soát chất lượng tốt để sản xuất hơn là phụ thuộc vào hợp đồng với công ty nước ngoài Dunning cho rằng lợi thế OLI có thể khác nhau phụ thuộc vào việc các quốc gia đó ít phát triển hay đang phát triển, lớn hay nhỏ, ngành công nghiệp đó là thâm dụng lao động hay vốn, thị trường đó là mới nổi hay đã trưởng thành, cạnh tranh hay độc quyền
Theo Dunning và Lundan (2008) có 4 loại khác nhau của FDI: FDI tìm kiếm thị trường, FDI tìm kiếm tài nguyên, FDI tìm kiếm hiệu quả thị trường, FDI tìm kiếm tài sản chiến lược FDI tìm kiếm thị trường mục đích là thâm nhập thị trường nội địa của nước chủ nhà và thường liên quan đến: quy mô thị trường và thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng của thị trường, khả năng tiếp cận với thị trường khu vực và thế giới, sở thích của người tiêu dùng và cấu trúc của thị trường nội địa FDI tìm kiếm tài nguyên bị thu hút bởi tài nguyên như nguyên liệu, chi phí lao động thấp (cả lao động có kỹ năng và không có kỹ năng), cơ sở vật chất và trình độ công nghệ Đối với FDI tìm kiếm hiệu quả thị trường, các nhân tố đầu vào truyền thống đóng vai trò
ít hơn trong việc ảnh hưởng đến FDI, trong khi đó, các yếu tố như năng lực và khả năng, cơ chế khuyến khích, sự sẵn có và chất lượng của công ty tại nước chủ nhà, đặc tính cạnh tranh của thị trường trong nước, nhu cầu tiêu dùng tự nhiên và chính sách vĩ mô, vi mô của chính phủ đóng vai trò quan trọng hơn Cuối cùng, FDI tìm kiếm tài sản chiến lược, đối với hình thức này, các nhà đầu tư sẽ mua lại tài sản của các công ty nước ngoài để thúc đẩy mục tiêu trong chiến lược dài hạn của họ, đặc biệt là giữ vững hay gia tăng khả năng cạnh tranh trên toàn cầu
2.2 Các nghiên cứu trước
2.2.1 Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới
Wahid, Sawkut và Seetanah (2007) với nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài: bài học từ các quốc gia Châu phi”
Trang 21Công trình nghiên cứu của các tác giả thực hiện xác định các yếu tác động đến dòng FDI vào các quốc gia Châu Phi trong giai đoạn 1990 -2005
Mô hình nghiên cứu như sau:
FDIit = f (RESit, SIZEit, WAGEit, XMGDPit, SERit, POLit)
Trong đó:
Biến phụ thuộc: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia
Biến độc lập gồm các yếu tố lần lượt như sau: nguồn tài nguyên thiên nhiên (RES), quy mô thị trường (SIZE), chi phí lao động (WAGE), độ mở thương mại (XMGDP), chất lượng nguồn nhân lực (SER) và chỉ số ổn định chính trị (POL)
Bài nghiên cứu thực hiện phân tích với dữ liệu bảng, nhóm tác giả thực hiện hồi quy
mô hình với các hiệu ứng cố định, ngẫu nhiên và dùng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình thích hợp Nghiên cứu đưa ra kết quả như sau: nguồn tài nguyên thiên nhiên có tác động tích cực và là yếu tố quan trọng đối với dòng FDI vào các quốc gia Độ mở thương mại cho thấy tác động khả quan đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và quy mô thị trường cũng có mối tương quan thuận với FDI Bài nghiên cứu cũng kết luận rằng chỉ số ổn định chính trị và chi phí lao động lại khiến cho dòng vốn FDI đi vào giảm xuống
Demirhan và Masca (2008) đã thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển: phân tích dữ liệu chéo” Nghiên cứu thực hiện phân tích các yếu tố tác động đến FDI bằng cách phân tích dữ liệu chéo của 38 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 2000 – 2004 Mô hình nghiên cứu như sau:
FDI = α0+ α1gro+ α2inf+ α3logcost+ α4logtel+ α5op+ α6risk+ α7tax+ε
Biến phụ thuộc FDI được đo lường bằng phần trăm của dòng FDI ròng trên GDP Các biến độc lập lần lượt: quy mô thị trường được đo lường tốc độ tăng trưởng trên GDP, mức độ ổn định của nền kinh tế (inf) được đo lường bởi chỉ số lạm phát, chi phí lao động (logcost) được đo lường bởi tiền lương trung bình của lao động, cơ sở
hạ tầng (logtel) được đo lường bởi số thuê bao điện thoại cố định trên 1000 dân, độ
Trang 22mở thương mại (op) được đo lường phần trăm của tổng giá trị xuất nhập khẩu trên GDP, mức độ ổn định chính trị (risk) được cho cho điểm tương ứng từ 0 đến 100 (0=mức độ nguy hiểm cao, 100=mức độ thấp nhất) và cuối cùng là thuế suất kinh doanh (tax)
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô thị trường, độ mở thương mại và cơ sở hạ tầng
có ảnh hưởng tích cực lên FDI Mức độ ổn định của nền kinh tế được đo lường bởi chỉ số lạm phát có tác động tiêu cực đến FDI, điều này cho thấy khi chỉ số lạm phát thấp thì sẽ thu hút vốn FDI tích cực hơn Tương tự, thuế suất cũng là một yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến FDI, đồng nghĩa với thuế suất thấp là nhân tố giúp thu hút FDI hiệu quả hơn Bài nghiên cứu không tìm thấy tác động của chi phí lao động và mức
độ ổn định chính trị lên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Kok và Ersoy (2009) với nghiên cứu “Phân tích các yếu tố tác động đến FDI vào các
quốc gia đang phát triển” Đề tài nghiên cứu 24 quốc gia trong khoản thời gian 1976 – 2005 Mô hình nghiên cứu như sau:
FDIit = β0 + βiXit + εit
FDI: vốn FDI ròng vào các quốc gia
Với Xit là các yếu tố tác động: lượng tiêu thụ điện (% trên vốn đầu tư), tổng nợ nước ngoài, khoảng cách về trình độ công nghệ giữa các quốc gia, nợ nước ngoài, lạm phát, tỷ lệ đầu tư trong nước (phần trăm trên GDP), cơ sở hạ tầng, tỷ lệ sử dụng điện thoại, quy mô thị trường, độ mở thương mại (tổng lượng xuất nhập khẩu /GDP) và tỷ
Ranjan và Agrawal (2011) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến vốn FDI vào
các quốc gia BRIC: phân tích dữ liệu bảng” Bài nghiên cứu thực hiện phân tích dữ liệu bảng của các quốc gia BRIC trong 35 năm, giai đoạn 1975 – 2009 để phân tích
Trang 23các yếu tố tác động đến dòng FDI vào các quốc gia này Mô hình nghiên cứu như sau:
LFDIit=α+β1*LGDPit+β2*INFLit+β3*LWAGEit+β4*INFREXit+β5*TRAOit+
+β6*LLABit+ β7*LGCFit+εit
Các biến độc lập nghiên cứu lần lượt: quy mô thị trường (giá trị logarit tự nhiên tổng sản phẩm quốc nội của các quốc gia), tốc độ tăng trưởng của quốc gia (tỷ lệ lạm phát), chi phí lao động (giá trị logarit tự nhiên kiều hối của người lao động và bồi thường thiệt hại của người lao động nhận được), cơ sở hạ tầng (mức tiêu thụ điện năng), độ mở thương mại (tổng giá trị xuất nhập khẩu chia cho tổng GDP), lực lượng lao động (giá trị logarit tự nhiên của tổng lực lượng lao động của quốc gia) và tổng dòng vốn ròng trong nước
Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba yếu tố tác động mạnh nhất đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia có nền kinh tế mới nổi (BRIC) là: quy mô thị trường, chi phí lao động thấp và tốc độ tăng trưởng kinh tế Đồng thời, nghiên cứu còn chỉ ra rằng độ mở thương mại và cơ sở hạ tầng là hai yếu tố tiềm năng trong việc thu hút FDI Bài nghiên cứu không tìm thấy tác động của lực lượng lao động và lượng vốn ròng trong nước đến dòng vốn FDI đi vào các quốc gia này
Liu và cộng sự (2012) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp
nước ngoài phân bổ vào 4 vùng lãnh thổ của Trung Quốc” đã thiết lập mô hình nghiên cứu như sau:
LFDIit=αit+β1*ln(GDPPCi,t-1)+β2*ln(WAGEi,t-1)+β3*(GRADi,t-1) + +β4*ln(HRWLENGTHi,t-1)+β5*ln(TELECOMi,t-1)+
+β6*(FORETRADEi,t-1)+ β7*(SZONESi,t-1)+εit
Trong đó:
Biến phụ thuộc: lnFDI – giá trị logarit tự nhiên của dòng vốn FDI
Biến độc lập bao gồm các yếu tố lần lượt như sau: quy mô thị trường, chi phí lao động, trình độ của lao động, cơ sở hạ tầng, viễn thông, độ mở thương mại và chính sách khuyến khích của chính phủ
Trang 24Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô thị trường, chất lượng lao động và chính sách khuyến khích của chính phủ có tác động tích cực nhất đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng duyên hải và Đông Bắc Trung Quốc, trong khi đó chi phí lao động cao lại là nguyên nhân làm giảm lượng FDI đi vào Bên cạnh đó, yếu tố cơ sở hạ tầng
và các chính sách khuyến khích của chính phủ là nhân tố trọng yếu trong việc thu hút lượng FDI tại vùng trung tâm của Trung Quốc
Mani Govil (2012) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến FDI vào các nước
đang phát triển: bằng chứng thực nghiệm từ phân tích chuỗi dữ liệu thời gian” Bài nghiên cứu này thực hiện phân tích tác động của các yếu tố kinh tế lên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia Đông Á Thái Bình Dương và Châu Mỹ La Tinh trong giai đoạn 2001-2011 Các yếu tố nghiên cứu gồm: quy mô thị trường được đo lường bởi GDP, mức độ ổn định của nền kinh tế được đo lường bởi chỉ số lạm phát, độ mở thương mại được đo lường bởi phần trăm của tỷ lệ nhập khẩu trên GDP, nguồn năng lượng được đo lường bởi tỷ lệ sản xuất năng lượng của quốc gia, tốc độ phát triển kinh tế được đo lường bởi tỷ lệ vốn ròng trên GDP, xu hướng đầu tư trong nước được đo lường bởi nguồn vốn ODA ròng, nguồn nhân lực và cuối cùng là yếu tố chất lượng cơ sở hạ tầng được đo lường bằng tỷ lệ sử dụng Internet trên 100 dân Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố quy mô thị trường, cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại và nguồn nhân lực có tác động tích cực đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển tại cả hai khu vực Đông Á Thái Bình Dương và Châu Mỹ La Tinh Trong khi đó các yếu tố dòng vốn ODA ròng, nguồn nhân lực và tỷ lệ người sử dụng Internet có mối tương quan rất cao với FDI vào khu vực Châu Mỹ La Tinh, còn đối với khu vực Đông Á Thái Bình Dương thì yếu tố độ mở thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút FDI Yếu tố lạm phát có tác động âm nhưng rất nhỏ đối với vốn đầu tư trực tiếp vào cả hai khu vực
2.2.2 Một số mô hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Mạnh Toàn (2010) trong nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến việc thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một địa phương của Việt Nam” đã xác định được tám nhân tố phân thành bốn nhóm có tác động đến vốn đầu tư trực tiếp nước
Trang 25ngoài Nhóm động cơ về kinh tế gồm có các yếu tố: quy mô và tiềm năng phát triển của thị trường; lợi nhuận; chi phí, trong đó yếu tố chi phí được xem là quan trọng nhất khi nhà đầu tư ra quyết định đầu tư Nhóm động cơ về tài nguyên gồm các yếu
tố nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý Nhóm động cơ về cơ sở hạ tầng gồm có yếu tố cơ sở hạ tầng kỹ thuật và yếu tố hạ tầng xã hội Nhóm động cơ về
cơ chế chính sách như sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô kết hợp với các ổn định về chính trị được xem là rất quan trọng Trong đó, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, sự ưu đãi và
hỗ trợ của chính quyền địa phương, chi phí hoạt động thấp là những nhân tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng mang tính quyết định khi nhà đầu tư xem xét để ra quyết định đầu tư Thị trường tiềm năng, sự dồi dào về nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên cũng được tính đến tiếp theo Cuối cùng, vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng xã hội tuy cũng có ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nhưng mức
độ tác động không nhiều
Nguyễn Thị Tường Anh và Nguyễn Hữu Tâm (2013) đã thực hiện “Nghiên cứu
định lượng về các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” Nội dung nghiên cứu định lượng về các nhân tố tác động đến dòng vốn FDI vào các tỉnh, thành ở Việt Nam Các yếu tố được đưa vào mô hình nghiên cứu gồm có: yếu tố thị trường (được đo lường bởi thu nhập bình quân tháng của lao động nhà nước do địa phương quản lý), lao động (số học sinh phổ thông trung học trên 1000 dân) và chất lượng lao động (số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp trên 1000 dân), cơ sở hạ tầng (sử dụng chỉ tiêu khối lượng hàng hóa vận chuyển đường bộ trên 1000 dân), chính sách của chính phủ (chỉ số PCI, biến giả vùng kinh tế trọng điểm và số cụm công nghiệp), nhân tố tích lũy (sử dụng FDI tính đến thời kỳ t – 1) để phân tích tâm lý số đông của các doanh nghiệp FDI Kết quả phân tích định lượng cho thấy những thay đổi trong quyết định lựa chọn đầu tư, tiến tới những thị trường mới, tốc độ dân số tăng cao, nguồn lao động rẻ và sãn sàng chấp nhận những hạn chế về cơ sở hạ tầng Ngoài ra, việc hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn luôn là nhân tố quan trọng Chính sách của chính phủ, mà cụ thể là chính sách đất đai, cung ứng dịch vụ công và hỗ trợ đào tạo lao động là những nhân tố cho thấy ảnh hưởng mạnh đến FDI
Trang 26Nguyễn Minh Tiến (2013) với nghiên cứu “Các nhân tố hiệu ứng đến FDI ở Việt
Nam” đã đưa ra mô hình nghiên cứu như sau:
LnFDIit= β0+β1*lnFDIit-1+β2*lnGDPit+β3*lnLABOit+β4*OPENit+β5*lnTELEit+ +β6*lnCPIit + β7*BUDit + β8*STUit + εit
Các các yếu tố được đưa vào nghiên cứu lần lượt gồm: quy mô thị trường, nguồn nhân lực, độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng, chỉ số giá tiêu dùng, chính sách kinh tế vĩ
mô của chính phủ, lao động có kỹ năng
Kết quả nghiên cứu cho thấy: quy mô thị trường, nguồn nhân lực, chính sách kinh tế
vĩ mô, lao động có kỹ năng có tác động đến dòng vốn FDI Bên cạnh đó độ mở thương mại có tác động âm đến dòng vốn FDI trong ngắn hạn Kết quả này là đặc thù của nghiên cứu, thể hiện sự không hoàn chỉnh của độ mở nền kinh tế trong ngắn hạn, nền kinh tế Việt Nam được mở cửa từ năm 1986 nhưng thực tế thì nhiều nước hiện nay vẫn chưa xem Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường, do đó độ mở thương mại chưa hấp dẫn dòng vốn FDI vào Việt Nam, nhất là trong ngắn hạn
Nguyễn Văn Bổn và Nguyễn Minh Tiến (2014) đã thực hiện đề tài nghiên cứu
“Các nhân tố quyết định dòng vốn FDI ở các nước Châu Á” với mô hình nghiên cứu thực nghiệm như sau:
Yit = αit-1 + βXit + ηi + ξit
Trong đó:
Yit là phần trăm vốn FDI so với GDP;
Xit là vector bao gồm các nhân tố có thể quyết định đến dòng vốn FDI như: quy mô thị trường, lực lượng lao động, chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ, độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng và lạm phát; ηi là sai số không quan sát được (đặc điểm riêng của từng quốc gia, bất biến theo thời gian) và ξit là sai số quan sát được
Bài nghiên cứu xác định các nhân tố tác động đến dòng vốn đầu tư nước ngoài của
11 nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á trong giai đoạn 1990 – 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy: quy mô thị trường, lực lượng lao động và độ mở thương mại là
Trang 27những nhân tố quyết định đến dòng FDI Ngoài ra, sự bất ổn của chính sách tài khóa (chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ) có tác động âm lên dòng vốn FDI
Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014) với đề tài “Nghiên cứu các
nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển” Bài viết sử dụng mẫu 30 nước đang phát triển có thu nhập trung bình và thấp trong giai đoạn 2000 – 2012, trong đó có Việt Nam, thông qua phương pháp FGLS (Feasible Generalized Least Square) Các yếu tố nghiên cứu gồm: GDP, tổng dự trữ,
cơ sở vật chất, chi phí lao động và độ mở thị trường là những nhân tố tác động đến FDI chảy vào các quốc gia đang phát triển
LnFDIit = β0 + β1*lnGDPit + β2*lnTRit + β3*lnPCit + β4*lnWgrit + β5*Opnit + εit
Các yếu tố được đưa vào nghiên cứu gồm: tổng sản phẩm quốc nội (giá trị logarit tự nhiên của tổng sản phẩm quốc nội), tổng dự trữ ngoại hối (giá trị logarit tự nhiên của tổng dự trữ ngoại hối), cơ sở hạ tầng (giá trị logarit tự nhiên tiêu thụ điện), lao động (giá trị logarit tự nhiên lương của quốc gia), độ mở thương mại (phần trăm tổng giá trị xuất nhập khẩu trên GDP)
Kết quả nghiên cứu cho thấy: quy mô thị trường (GDP), tổng dự trữ (TR), cơ sở vật chất (PC) và độ mở thị trường (OPN) là những nhân tố tác động tích cực đến FDI vào các quốc gia đang phát triển Ngược lại, biến chi phí lao động có tương quan dương với FDI, kết quả này trái ngược với giả thuyết nghiên cứu, tuy nhiên điều này cũng có thể được giải thích như sau: khi mức lương cao hơn đồng nghĩa với việc trình độ của người lao động ngày càng cao, do đó tác động tích cực đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nghiên cứu này đã bước đầu cung cấp cho các nhà quản lý những nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó có thể dựa vào sự vận dụng các lý thuyết, kết quả thực nghiệm và tình hình thực tế để đưa
ra chính sách phù hợp nhất
Trang 28TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Các nghiên cứu trước cho thấy có rất nhiều yếu tố được đưa vào mô hình nghiên cứu
để kiểm định mức độ ảnh hưởng đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như: quy mô thị trường, chi phí lao động, lực lượng lao động, chất lượng nguồn nhân lực, chỉ số ổn định chính trị, tỷ giá hối đoái, thuế, cơ sở hạ tầng, chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ, lạm phát, lãi suất Đồng thời, đa số các nghiên cứu trước tập trung nhiều vào các nhóm nước đang phát triển, nhóm nước có thu nhập cao, khu vực Bắc Phi, Châu
Mỹ La Tinh, nhóm nước BRIC nhưng thực sự chưa có nhiều nghiên cứu về các yếu
tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển ở Đông Nam Á
Trang 29CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những tác động trực tiếp cũng như những hiệu ứng lan tỏa gián tiếp đối với nước tiếp nhận đầu tư Việc xác định rõ các yếu tố quyết định đến thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp các nước đang phát triển điều chỉnh tốt hơn thể chế, chính sách và các điều kiện kinh tế vĩ mô để thu hút hiệu quả nguồn vốn FDI đảm bảo chất lượng từ nhà đầu tư nước ngoài
3.1 Quy trình nghiên cứu
Sơ đồ 3 1 Quy trình nghiên cứu
Đặt vấn đề nghiên cứu và các giả
thuyết liên quan
Tốt
Trang 303.2 Mô hình nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển ở
ựa trên nghiên cứu thự ủa tác giả Nguyễn Văn Bổn và Nguyễn Minh Tiến (2104) như sau:
Mô hình nghiên cứu:
FDI it = β 0 + β 1 *lnGDP it + β 2 *lnWAGE it + β 3 *lnTELE it + β 4 *BUD it + β 5 *OPEN it + β 6 *INF it + ε it
Trong đó:
i = 1,2,3,…N với N là số quốc gia trong mẫu nghiên cứu
t = 1,2,3,….T với T là giai đoạn nghiên cứu
εit: sai số không quan sát được (đặc điểm riêng của từng quốc gia, bất biến theo thời gian)
Biến phụ thuộc FDIit: vốn đầu tư trực tiếp vào các quốc gia qua các năm
Biến độc lập lần lượt là: quy mô thị trường, chi phí lao động, chính sách kinh tế vĩ
mô của chính phủ, cơ sở hạ tầng, độ mở thương mại và lạm phát
Quy mô thị trường: quy mô và tiềm năng phát triển của thị trường là một trong
những nhân tố quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Nhiều nhà đầu tư với chiến lược “đi tắt đón đầu” sẽ mạnh dạn đầu tư nhiều hơn vào các quốc gia có nhiều kỳ vọng tăng trưởng nhanh trong tương lai và có cơ hội mở rộng ra các thị trường lân cận Đồng thời, thị trường tiêu thụ rộng lớn cũng mở ra thêm nhiều cơ hội phát triển trong tương lai cho các nhà đầu tư và điều này sẽ khuyến khích họ đầu
tư nhiều hơn Quy mô thị trường thường được đo lường bởi tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế… Nghiên cứu này sử dụng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người để đại diện cho quy mô thị trường Có nhiều nghiên cứu kết luận rằng quy mô thị trường tác động dương đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như: Asiedu (2002), Kang và Lee (2006), Wahid và cộng sự (2007), Demirhan và Masca (2008), Kok và Ersoy (2009), Ahamad và Tanin (2010), Liang
Trang 31(2010), Ranjan và Agrawal (2011), Govil (2012), Yiyang Liu và cộng sự (2012), Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014), Nguyễn Văn Bổn và Nguyễn Minh Tiến (2014)
Chi phí lao động: Chi phí lao động thường được xem là yếu tố quan trọng, phần lớn
các nhà đầu tư thường chọn đầu tư ra nước ngoài là để khai thác các tiềm năng về lợi thế và chi phí Chi phí lao động ở nước nhận đầu tư có thể hạn chế nhà đầu tư nước ngoài vì chi phí lao động cao làm tăng chi phí sản xuất, lợi nhuận giảm Nhiều nghiên cứu cho thấy, đối với các nước phát triển, lợi thế về chi phí lao động thấp là
cơ hội để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các thập kỷ qua Khi giá nhân công tăng lên, đầu tư nước ngoài có khuynh hướng giảm rõ rệt Điển hình như trường hợp của Trung Quốc, từ năm 1993 đến nay Trung Quốc nhận được dòng vốn FDI cao nhất trong các nước đang phát triển do lực lượng lao động dồi dào, chi phí nhân công
rẻ, thị trường trong nước rộng lớn và chính sách tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư Nhưng chi phí nhân công ngày càng tăng lên và đồng Nhân dân tệ ngày càng tăng giá đang là động cơ thúc đẩy các công ty đa quốc gia dịch chuyển cơ sở sản xuất (UNCTAD, 2014) Yếu tố chi phí lao động trong bài nghiên cứu được đại diện bởi giá trị logarit tự nhiên lượng kiều hối của người lao động và bồi thường thiệt hại của người lao động nhận được tính bằng USD (Ranjan và Agrawal, 2011) Giá trị lượng kiều hối và bồi thường thiệt hại người lao động nhận được bao gồm giá trị chuyển tiền của cá nhân và tiền lương nhận được chuyển về quê hương; các khoản này được tính bởi ba thành phần chính: tiền lương và lương tháng trả bằng tiền mặt, tiền lương
và lương tháng trả bằng các hình thức khác, đóng góp xã hội của những người sử dụng lao động Các nghiên cứu sau đây cũng kết luận chi phí lao động thấp là một trong những yếu tố giúp thu hút FDI: Kang và Lee (2006), Wahid và cộng sự (2007), Ahamad và Tanin (2010), Ranjan và Agrawal (2011), Liu và cộng sự (2012), Kornecki và Ekanayake (2012), Tosompark (2013)
Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ: FDI là hình thức so sánh và tìm kiếm lợi
nhuận của nhà đầu tư nước ngoài, kế hoạch lợi nhuận phải được ước lượng trước khi triển khai dự án Để kiểm soát kế hoạch kinh doanh hiệu quả, vấn đề thể chế kinh tế
vĩ mô ở nước nhận đầu tư rất quan trọng Để đánh giá thể chế vĩ mô của chính phủ có
Trang 32thể dựa vào chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ hay chỉ số năng lực cạnh tranh Bài nghiên cứu sử dụng yếu tố thâm hụt ngân sách để đại diện cho chính sách kinh tế
vĩ mô của chính phủ Nguyễn Minh Tiến (2013) đã chứng minh rằng chính sách kinh
tế vĩ mô tác động tích cực đến đầu tư trực tiếp nước ngoài Liu và cộng sự (2012) cũng kết luận rằng chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ là một trong các yếu tố giúp thu hút FDI nhiều hơn
Cơ sở hạ tầng: kết cấu hạ tầng kỹ thuật là cơ sở để thu hút FDI và cũng là nhân tố
thúc đẩy hoạt động FDI diễn ra nhanh chóng Khi đầu tư vào một quốc gia có cơ sở
hạ tầng và hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến, hệ thống ngân hàng hoàn thiện thì công ty có giảm được chi phí đầu tư, giảm được thời gian thực hiện dự án, chi phí các khâu trung chuyển… Do đó, chất lượng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghiệp hóa có ảnh hưởng đến quan trọng đến dòng vốn FDI vào các nước Để
đo lường biến này có nhiều cách thức: năng lượng sử dụng tính theo bình quân đầu người, số thuê bao điện thoại cố định, mật độ đường sắt, vận tải hàng không, hạ tầng cảng biển,… Yếu tố cơ sở hạ tầng trong bài nghiên cứu này được đo lường bởi số thuê bao điện thoại cố định trung bình trên 100 dân Các nghiên cứu trước đây như: Asiedu (2002), Demirhan và Masca (2008), Kok và Ersoy (2009), Ahamad và Tanin (2010), Ranjan và Agrawal (2011), Govil (2012) đã chứng minh được cơ sở hạ tầng
có tác động tích cực lên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Độ mở thương mại: độ mở thương mại tạo điều kiện giao lưu với nền kinh tế thế
giới trong đó có dòng chảy FDI Mức độ của sự cởi mở là một chỉ số phản ánh sự dễ dàng gia nhập thị trường, khi một đất nước mở cửa, dỡ bỏ những hạn chế về rào cản thuế quan là điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường trong nước Trong bài nghiên cứu, độ mở thương mại được đo lường bằng phần trăm của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP Đã có nhiều nghiên cứu chứng minh
độ mở thương mại có tác động tích cực đến FDI như: Demirhan và Masca (2008), Ranjan và Agrawal (2011), Govil (2012), Liu và cộng sự (2012), Nguyễn Văn Bổn
và Nguyễn Minh Tiến (2014) Nguyễn Thị Liên Hoa và Bùi Thị Bích Phương (2014)
Trang 33Lạm phát: các nhà đầu tư có xu hướng tiếp cận những nền kinh tế mang tính ổn
định, nhất quán để đảm bảo hiệu quả và ổn định của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Khi nền kinh tế vĩ mô không ổn định, biến động tỷ giá và lạm phát sẽ làm cho hoạt động đầu tư gặp rủi ro, không mang lại hiệu quả Có nhiều cách thức đánh giá tính ổn định của nền kinh tế vĩ mô: tỷ lệ tăng trưởng GDP, lãi suất, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái….…Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ số giá tiêu dùng để đại diện cho tính ổn định của nền kinh tế Nhiều nghiên cứu trước đã chỉ ra tác động
âm của lạm phát lên FDI như: Demirhan và Masca (2008), Kok và Ersoy (2009), Ranjan và Agrawal (2011), Govil (2012), Nguyễn Văn Bổn Và Nguyễn Minh Tiến (2014)
Bảng 3 1 Mô tả các biến
vọng dấu
Ký hiệu
Biến phụ thuộc
Dòng vốn đầu tư FDI ròng, thể hiện dưới dạng phần trăm của
GDP, đại diện cho lượng vốn FDI thu hút được
Chi phí lao động Giá trị logarit tự nhiên lượng kiều hối và bồi
thường thiệt hại của người lao động nhận được đại diện cho lương quốc gia
- LnWAGE
Trang 34Chính sách kinh
tế vĩ mô của
chính phủ
(Thu Ngân sách- chi ngân sách)/GDP + BUD
Cơ sở hạ tầng Giá trị logarit tự nhiên của số thuê bao điện
thoại cố định trên 100 dân *100
Lạm phát Phần trăm thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng - INF
3.3 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu thu thập từ 5 quốc gia Đông Nam Á: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam Số liệu được lấy từ United Nations Conference
on Trade and Development (UNCTAD) và World Bank’s World Development Indicators (WDI) Dữ liệu quan sát nghiên cứu trong giai đoạn 1990–2014
3.4 Giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Quy mô thị trường của nước chủ nhà càng lớn càng thu hút được nhiều FDI Một thị trường lớn sẽ hấp dẫn dòng vốn FDI chảy vào nhiều hơn vì nó cung cấp nhiều cơ hội cho việc bán hàng và lợi nhuận sẽ cao hơn
Giả thuyết 2: Chi phí lao động thấp ở nước nhận đầu tư thì sẽ thu hút nhiều vốn FDI vào nước đó Nếu chi phí lao động cao sẽ làm tăng chi phí sản xuất dẫn đến giảm lợi nhuận sẽ khiến cho vốn đầu tư vào ít hơn vì mục tiêu cuối cùng của các nhà đầu tư luôn là tối đa hóa lợi nhuận
Giả thuyết 3: Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ có tác động cùng chiều lên việc thu hút FDI Chính sách kinh tế thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư thì sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hơn
Giả thuyết 4: Nước nhận đầu tư có độ mở thương mại càng lớn thì càng thu hút được nhiều FDI đến nước mình Vì độ mở thương mại thể hiện mức độ tự do hóa thương
Trang 35mại, hạn chế thấp nhất những rào cản kinh doanh, xuất nhập khẩu Khi các nước nhậm đầu tư mở cửa, dỡ bỏ các rào cản thuế quan, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài thì vốn FDI sẽ vào nhiều hơn
Giả thuyết 5: Cơ sở hạ tầng càng tốt thì càng thu hút được nhiều FDI đến nước mình
Cơ sở hạ tầng tốt, thuận lợi thể hiện sự giàu mạnh của một nước do đó sẽ thu hút FDI nhiều hơn
Giả thuyết 6: Chỉ số lạm phát thấp sẽ thu hút dòng FDI vào nhiều hơn Vì tỷ lệ lạm phát cao, lợi nhuận mang lại cho nhà đầu tư nước ngoài thấp, điều này cũng thể hiện
sự bất ổn về kinh tế của một nước với chính sách tiền tệ không ổn định, do đó dòng vốn FDI đi vào sẽ giảm
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu bảng (Panel Data) với ba phương pháp: mô hình hồi quy theo hiệu ứng cố định – Fixed effects, mô hình hồi quy theo hiệu ứng ngẫu nhiên – Random effects và mô hình Pooled OLS Lợi ích của việc sử dụng dữ liệu bảng là cho phép kiểm soát các biến không thể quan sát hoặc không thể đo lường được khi thực hiện hồi quy Cho phép kiểm soát tác động của những khác biệt giữa các quốc gia nhưng ít thay đổi theo thời gian như thể chế chính trị của mỗi nước hoặc cho phép kiểm soát tác động của những biến số thay đổi theo thời gian nhưng lại không có sự khác biệt giữa các quốc gia
Phương pháp FGLS cũng được sử dụng bởi nó có thể kiểm soát được hiện tượng tự tương quan và phương sai thay đổi Phương pháp này sẽ ước lượng mô hình theo phương pháp OLS ngay cả trong trường hợp có hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi
Mô hình hồi quy Pool OLS
Mô hình hồi quy Pool OLS hay còn gọi là mô hình hồi quy gộp Trong mô hình này tất cả các quan sát được gộp vào trong mô hình hồi quy OLS với giả định hệ số hồi quy là như nhau giữa các đơn vị chéo, kể cả hệ số chặn Pool OLS ngầm giả định rằng mối quan hệ giữa các biến là không thay đổi cho tất cả các dữ liệu quan sát Phương trình hồi quy Pool OLS như sau:
Trang 36i: quốc gia và t: thời gian (năm);
Nhược điểm của mô hình hồi quy Pool OLS là do giả định các hệ số hồi quy là như nhau giữa các đơn vị chéo sẽ dẫn đến ước lượng bị chệch và không còn nhất quán
Để tránh tình trạng trên, nghiên cứu sử dụng hai phương pháp mô hình hồi quy với hiệu ứng cố định và hồi quy mô hình với hiệu ứng ngẫu nhiên
Mô hình hồi quy với hiệu ứng cố định – FEM
Với giả định mỗi thực thể đều có những đặc điểm riêng biệt có thể ảnh hưởng đến các biến giải thích, mô hình FEM cho phép kết hợp sự khác nhau giữa các quan sát chéo bằng cách cho phép hệ số chặn thay đổi, nhưng mỗi hệ số chặn lại không đổi theo thời gian Như vậy, tất cả sự khác nhau giữa các quan sát chéo sẽ được thể hiện
ở hệ số chặn và mô hình FEM cho phép các đường hồi quy có độ dốc như nhau Với phương pháp này thì tất cả các số liệu chéo có thể được sử dụng trong một mô hình hồi quy, cùng với số liệu chuỗi
Phương trình hồi quy FEM như sau:
Trang 37uit: đại diện cho phần sai số Yit mà mô hình chưa giải thích được
Mô hình hồi quy với hiệu ứng ngẫu nhiên – REM
Cũng giống như mô hình hiệu ứng cố định, mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên có các hệ
số chặn khác nhau cho từng đơn vị chéo nhưng không khác nhau theo thời gian hoặc khác nhau theo thời gian nhưng như nhau theo các đơn vị chéo
Phương trình REM như sau:
Yit=α + βXit + εi + uit
Với εi là thành phần sai số theo không gian hay theo các đơn vị chéo;
uit: thành phần sai số theo không gian và chuỗi thời gian kết hợp
Trong mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên theo đơn vị chéo, hệ số chặn cho mỗi đơn vị chéo được giả định là sẽ bổ sung thêm giá trị εi vào hệ số chặn α Như vậy giá trị hệ
số chặn chung sẽ thay đổi ngẫu nhiên theo đơn vị chéo nhưng không thay đổi theo thời gian Điểm khác biệt giữa mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên là: mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên không sử dụng biến giả để kiểm soát các đặc điểm không quan sát được và khác nhau giữa các đơn vị chéo mà thay vào đó mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên sử dụng giá trị sai số chéo εi để kiểm soát tác động của các khác biệt này Một ưu điểm của mô hình REM so với mô hình FEM là nó không làm mất bậc tự do vì ta không phải ước lượng N tung độ góc riêng lẻ Ta chỉ cần ước lượng trị trung bình của tung độ dốc và phương sai của nó Mô hình REM thích hợp trong những tình huống mà tung độ gốc (ngẫu nhiên) của từng đơn vị không tương quan với các biến độc lập
Kiểm định Hausman
Kiểm định Hausman được sử dụng trong bài nghiên cứu để quyết định chọn giữa mô hình FEM và REM cho phù hợp với giả thuyết H0 làm nền tảng cho kiểm định Hausman là tác động cá biệt của mỗi đơn vị chéo không có tương quan với các biến hồi quy khác trong mô hình Nếu có tương quan (giả thuyết H0 bị từ chối), mô hình hồi quy theo REM sẽ cho kết quả thiên lệch, vì vậy mô hình theo FEM là phù hợp hơn
Trang 38Đồng thời, bài nghiên cứu còn sử dụng các kiểm định sau:
Kiểm định Wooldridge được sử dụng để kiểm định hiện tượng tự tương quan với giả thuyết H0: là không có hiện tượng tự tương quan xảy ra
Kiểm định Wald được sử dụng để kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi với giả thuyết H0: là không có hiện tượng phương sai thay đổi
Bên cạnh đó, việc hồi quy mô hình theo phương pháp Feasible Generalized Least Square – FGLS cũng được sử dụng trong nghiên cứu này bởi nó có thể kiểm soát được hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi Phương pháp FGLS sẽ ước tính mô hình theo phương pháp OLS (ngay cả trong trường hợp có sự tồn tại của hiện tượng tự tương quan và phương sai sai số thay đổi)
Trang 39TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Bằng cách phân tích dữ liệu bảng, bài nghiên cứu thực hiện phân tích các yếu tố tác động đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á trong giai đoạn 1900 – 2014 Các phương pháp hồi quy mô hình Pool OLS, FEM và REM được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố: quy mô thị trường, chi phí lao động, cơ sở hạ tầng, chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ, độ mở thương mại và lạm phát Bên cạnh đó, phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi cũng được sử dụng trong bài phân tích khi mô hình nghiên cứu tồn tại các hiện tượng phương sai sai số thay đổi và hiện tượng tự tương quan
Trang 40CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ
THẢO LUẬN
4.1 Thống kê mô tả các biến
Bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng – Panel Data để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á
Đầu tiên, nghiên cứu này sẽ trình bày thống kê dữ liệu của các biến nghiên cứu để có cái nhìn tổng quan của nguồn dữ liệu
Bảng 4 1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Nguồn: Kết quả dựa trên dữ liệu nghiên cứu với phần mềm Stata
Bảng 4.1 tổng hợp thống kê các biến nghiên cứu dựa trên sô liệu mẫu từ 5 quốc gia ở Đông Nam Á từ năm 1990 đến năm 2014, với số quan sát từ 110 đến 125 quan sát Dòng vốn FDI ròng thể hiện dưới dạng phần trăm của GDP – đại diện cho lượng vốn FDI thu hút được vào các quốc gia nằm trong khoảng cao nhất là 11.94 và giá trị FDI trung bình vào các quốc gia nghiên cứu trong giai đoạn này ở mức 3.20 Biến quy mô thị trường (lnGDP) nằm trong khoảng cao nhất 9.29 và khoảng thấp nhất là 4.54 với
độ lệch chuẩn là 0.97 Yếu tố chi phí lao động (lnWAGE) bình quân của các quốc gia nghiên cứu trong giai đoạn 1990 - 2014 là 21.39 với độ lệch chuẩn là 1.37 cho thấy
độ biến động của tiền lương không lớn Yếu tố cơ sở hạ tầng (lnTELE) dao động từ
Variable Obs Mean Std Dev Min Max
sum FDI lnGDP lnWAGE lnTELE BUD OPEN INF