1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ

98 346 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, các nghiên cứu về tham nhũng chủ yếu thường tập trung vào những nhân tố thuộc về vấn đề nội tại của nước nhận vốn đầu tư, mà chưa tập trung nghiên cứu những đặc điểm của nước đ

Trang 1

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục bảng biểu

Danh mục hình

Danh sách các chữ viết tắt

Chương 1: Giới thiệu 1

1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu: 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 4

1.5 Kết cấu của luận văn 5

Chương 2: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 6

2.1 Định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 6

2.2 Tác động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng trưởng kinh tế 6

2.2.1 Tác động của FDI đối với hoạt động sản xuất 7

2.2.2 Tác động của FDI đến thương mại quốc tế 8

2.2.3 Tác động của FDI đến đầu tư của quốc gia bản địa 8

2.3 Lý thuyết về vị trí của đầu tư của dòng vốn FDI 9

2.3.1 Lý thuyết về thương mại quốc tế (international trade theory) 9

Trang 2

2.3.4 Lý thuyết chiết trung eclectic paradigm (OLI) 11

2.4 Các yếu tố tác động đến việc thu hút FDI, bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm 13

Chương 3: Tham nhũng và ảnh hưởng của tham nhũng đến nền kinh tế 17

3.1 Tham nhũng 17

3.1.1 Nguồn gốc của tham nhũng 17

3.1.2 Định nghĩa về tham nhũng 18

3.2 Phân loại tham nhũng 20

3.2.1 Phân loại theo độ lớn của số tiền hối lộ 20

3.2.2 Phân loại theo tính hệ thống của tham nhũng 20

3.2.3 Phân loại theo mô hình diễn ra tham nhũng 21

3.3 Ảnh hưởng của tham nhũng đến kinh tế 24

3.3.1 Ảnh hưởng đến phân bổ nguồn lực 25

3.3.2 Ảnh hưởng đến công cụ chính sách kinh tế và cải cách thể chế 26

3.3.3 Ảnh hưởng đến khoảng cách giàu nghèo và công bằng xã hội 27

3.3.4 Ảnh hưởng tích cực của tham nhũng đến kinh tế 28

3.4 Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của tham nhũng đến thu hút FDI 28

3.4.1 Các nghiên cứu có kết luận tương quan nghịch về vài trò của tham nhũng đến thu hút FDI 29

3.4.2 Các nghiên cứu có kết luận trung lập về vai trò của tham nhũng đến thu hút FDI 31

3.4.3 Các nghiên cứu có kết luận tương quan thuận về vai trò của tham nhũng đến thu hút FDI 31

3.5 Giả thuyết nghiên cứu 32

Chương 4: Phương pháp nghiên cứu 34

Trang 3

4.2.1 Mô hình lý thuyết 34

4.2.2 Mô hình kinh tế lượng 38

4.2.2.1 Mô hình kinh tế lượng với biến phụ thuộc là biến nhị phân 38

4.2.2.2 Mô hình kinh tế lượng với biến phụ thuộc là biến liên tục 39

4.2.2.3 Mô hình kinh tế lượng 40

4.3.1 Dữ liệu nghiên cứu 43

4.3.1.1 Nguồn dữ liệu 43

Chương 5: Kết quả nghiên cứu 45

5.1 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 45

5.2 Kết quả mô hình kinh tế lượng 49

5.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình 59

5.3.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình Probit 59

5.3.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình OLS 59

Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách 61

6.1 Trình bày các khám phá của nghiên cứu 61

6.2 Trình bày các hàm ý chính sách 61

6.3 Hạn chế của nghiên cứu 63

6.4 Hướng nghiên cứu mở rộng 64

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 4

Bảng 5.1: Kết cấu sắp xếp dữ liệu của mô hình 45 Bảng 5.2: Bảng kết quả hồi quy của nhóm 1 (Singapore, Brunei, Malaysia) 49 Bảng 5.3: Bảng kết quả hồi quy của nhóm 2 (Trung Quốc, Ấn Độ) 51 Bảng 5.4: Bảng kết quả hồi quy nhóm 3 (Brunei, Cambuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam) 53 Bảng 5.5: Bảng kết quả hồi quy của nhóm 4 (Trung Quốc, Việt Nam) 54 Bảng 5.6: Bảng tổng hợp kết quả của các mô hình 56

Trang 5

Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2000 đến 2012 của các khu vực trên thế giới 24 Hình 3.2: Chỉ số cảm nhận tham nhũng (corruption perceptions index- CPI) năm

2012 các khu vực trên thế giới 24 Hình 4.1: Đồ thị phân phối đối xứng (symmetric distribution) của mức chi tiêu cho tham nhũng ci,j 36 Hình 4.2: Mô hình xác lập quyết định đầu tư giữa các quốc gia 37 Hình 4.3: Mô hình chữ U “ngược” về mối quan hệ giữa tham nhũng và vốn FDI 37 Hình 5.1: Biểu đồ thể hiện chỉ số tham nhũng của các quốc gia trong Asean +2 47 Hình 5.2: Biểu đổ chỉ số tham nhũng của các quốc gia thực hiện đầu tư vào khu vực Asean+2 49 Hình 5.3: Phân loại mức độ tham nhũng của các quốc gia theo ba nhóm 49 Hình 5.4: So sánh tỷ lệ giữa các nhóm tham nhũng và số lượng các quyết định đầu

tư 59

Trang 6

UNCTA United Nations Conference

on Trade and Development

Tổ chức Liên hiệp Quốc tế về Thương mại và Phát triển

TI Transparency International Tổ chức Minh bạch Quốc tế

IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Thế giới

Trang 9

Chương 1: Giới thiệu 1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu:

Trong hơn 4 thập kỷ từ năm 1970 - 2012 cùng với xu hướng toàn cầu hóa, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investment - FDI) trên toàn thế giới đã gia tăng đáng kể Theo số liệu thống kê của Tổ chức Liên hiệp Quốc tế về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 2013) dòng vốn này có xu hướng tăng lên qua các năm, năm 2012 tổng vốn FDI của toàn cầu đạt 1.350 tỷ USD, trong khi đó vào năm 1970 số lượng vốn này chỉ đạt 13,346 tỷ USD, tức là thế giới đã chứng kiến một sự gia tăng trong tổng vốn FDI toàn cầu là 144 lần Mặt khác, khi so sánh tương quan với giá trị tổng sản phẩm quốc nội, dòng vốn FDI toàn cầu trong 4 thập

kỷ qua đã tăng nhanh hơn gấp 6 lần Đối với các nước đang phát triển, dòng vốn FDI cũng có sự gia tăng rất đáng kể, nếu như ở thập kỷ 90 dòng vốn FDI vào các nước này chỉ chiếm 29% tổng vốn toàn cầu thì trong thập kỷ qua con số này đã thay đổi rất nhiều, chiếm đến 46% (UNCTAD, 2013) Điều này đã cho thấy xu hướng dịch chuyển rõ rệt dòng vốn FDI trên thế giới hiện nay, đang dần chuyển sang các nước đang phát triển, hình 1.1 minh họa rõ hơn về nhận định trên

Nguồn: (UNCTA, 2014)

Hình 1.1: Dòng vốn đầu tư FDI giữa các nhóm nước giai đoạn 2005- 2014 Bên cạnh sự gia tăng về lượng vốn FDI giữa các quốc gia, vốn FDI còn được xem là một động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế của rất nhiều nước trên thế giới (Wang, 2009) Nhiều chính phủ các nước phát triển cũng như các nước

Trang 10

đang phát triển cho rằng FDI có thể giúp họ vượt qua sự trì trệ trong phát triển kinh

tế và giải quyết nạn đói nghèo (Brooks et al., 2010) Theo nghiên cứu của Bwalya (2006) cho rằng FDI có thể hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế thông qua 3 kênh: (i) hỗ trợ vốn (không liên quan đến nợ nần) nhằm tài trợ đầu tư cho nước thu hút; (ii) nâng cao trình độ kỹ thuật của nước thu hút; và (iii) chuyển giao công nghệ mới cho các doanh nghiệp tại các nước nhận đầu tư Tầm quan trọng đối với việc gia tăng lượng vốn FDI cho phát triển kinh tế, xã hội đã dẫn đến sự cạnh tranh lớn giữa các nước, đòi hỏi chính phủ mỗi quốc gia phải đẩy mạnh xúc tiến và cải thiện môi trường đầu

Khu vực châu Á là một trong những khu vực có mức độ tham nhũng hàng đầu trên thế giới với chỉ số tham nhũng trung bình năm 2012 là 3,92 so với 4,56 và 6,57 của châu Mỹ và châu Âu (Transparency International - TI, 2012) Ở Việt Nam tham nhũng được xem như là nguy cơ lớn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ (văn kiện đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, 2010), ở Trung Quốc chính phủ nước này cho rằng nếu Trung Quốc không xử lý tốt vấn đề tham nhũng có thể nguy hiểm đối với sự tồn vong của Đảng Cộng sản Trung Quốc, một số các quốc gia thuộc khu vực châu Á có chỉ số đo lường mức độ tham nhũng hàng đầu thế giới như Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Việt Nam, Campuchia đã xảy những vụ án về tham nhũng trở thành chủ đề bàn luận, phân tích về vấn đề tham nhũng của các học giả, báo chí toàn thế giới, như ngài tổng thống Suharto của Indonesia được mệnh danh

là ngài1 10% (Shang Jin Wei, 2000)

Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tham nhũng và việc thu hút dòng vốn FDI của các quốc gia là chủ đề được các nhà nghiên cứu và nhà làm chính sách quan tâm rất nhiều Tuy nhiên, chiều hướng tác động của tham nhũng đến việc thu hút FDI chưa có được sự thống nhất cao cả về góc nhìn lý thuyết và thực nghiệm Bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của tham nhũng đến việc thu hút FDI được thể hiện thông qua 3 quan điểm như sau: (i) Tham nhũng tác động tiêu

1 10% là số tiền hoa hồng từ các dự án, hợp đồng của chính phủ, hay các khoản lợi ích thu được do một quyết định mang tính vụ lợi của ông Shuhato

Trang 11

cực đến thu hút FDI (Drabek và Payne, 1999; Wei, 2000; Abed và Davoodi, 2000; Habib và Zurawicki, 2002; Zhao và cộng sự, 2003; Javorcik & Wei, 2009); (ii) Tham nhũng không có tác động đáng kể đến việc thu hút FDI (Akcay, 2001; Egger

và Winner, 2006; Al-Sadig, 2009) và (iii) Tham nhũng có tác động tích cực đến việc thu hút FDI (Tullock, 1996; Houston, 2007; Durán & De la Fuente, 2011).Vậy tham nhũng ảnh hưởng như thế nào đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở các quốc gia Đông Nam Á, đó là vấn đề mà bài viết tập trung nghiên cứu Ngoài ra, tham nhũng còn là một vấn đề nhức nhối trong xã hội các nước châu Á và đã có những tuyên bố mạnh mẽ từ chính phủ của các quốc gia châu Á về việc chống tham nhũng, ví dụ ở Trung Quốc là chiến dịch “đả hổ” với kết quả là hàng loạt các quan chức cấp cao từ trung ương đến địa phương phải đối mặt với các cáo buộc liên quan đến tham nhũng, ở Việt Nam là các nghị quyết của Đảng, chính phủ khẳng định quyết tâm chống tham nhũng, các đại án về tham nhũng được đưa ra xét xử công khai trước công luận Điều tương tự cũng diễn ra tại các quốc gia như Indonesia, Philippines, Malaysia, chính vì tính thời sự của chủ đề tham nhũng đã thôi thúc tác giả nghiên cứu một cách rõ ràng hơn về vấn đề tham nhũng như đã đề cập đến ở phần trên

Ngoài ra, các nghiên cứu về tham nhũng chủ yếu thường tập trung vào những nhân tố thuộc về vấn đề nội tại của nước nhận vốn đầu tư, mà chưa tập trung nghiên cứu những đặc điểm của nước đầu tư vốn, nghiên cứu này sẽ nghiên cứu thêm về mức độ tham nhũng ở quốc gia thực hiện đầu tư ảnh hưởng như thế nào đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp nước đó

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu chính của bài viết là xem xét mối quan hệ giữa yếu tố tham nhũng đến việc thu hút dòng vốn FDI ở các quốc gia nhận đầu tư và việc lựa chọn địa điểm đầu tư của các quốc gia đầu tư, trong phạm vi nghiên cứu là khu vực Asean +2 (Asean, Trung Quốc và Ấn Độ) Cụ thể bài viết tập trung làm rõ hai mục

tiêu nghiên cứu sau

Trang 12

Mục tiêu thứ nhất là, kiểm tra ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng tại các quốc gia trong nhóm Asean+2 đến việc thu hút dòng vốn FDI Mục tiêu thứ hai là, xem xét ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng tại các quốc gia thực hiện đầu tư đến quyết định đầu tư vốn ra nước ngoài

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của bài viết là yếu tố tham nhũng và dòng vốn FDI dịch chuyển vào các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc, Ấn Độ (gọi tắt là Asean +2)

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nhằm đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng đến kết quả thu hút FDI của các quốc gia trong khu vực Asean +2, bài viết đã sử dụng các số liệu về kết quả thu hút FDI của các quốc gia thuộc khu vực Asean +2 trong hai năm 2011 và 2012, nguồn dữ liệu được tập hợp từ cơ sở dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), Liên hiệp Quốc tế về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) Chỉ số đánh giá mức độ tham nhũng là bộ chỉ số nhận thức tham nhũng (corruption perceptions index - CPI) của 145 quốc gia trên thế giới trong hai năm từ 2011 đến 2012 với nguồn dữ liệu được tập hợp từ cơ sở dữ liệu của tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI)

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng đến kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài của các quốc gia trong Asean +2, nghiên cứu sử dụng hai mô hình là mô hình Probit và mô hình hồi quy OLS Sử dụng mô hình Probit sử dụng để cho thấy ảnh hưởng của tham nhũng đến quyết định đầu tư, trong khi đó mô hình OLS được

sử dụng để cho thấy ảnh hưởng của tham nhũng đến mức độ đầu tư Biến phụ thuộc của mô hình Probit sẽ đại diện cho quyết định đầu tư, biến phụ thuộc mô hình hồi quy OLS sẽ là giá trị tuyệt đối của lượng vốn đầu tư, từ kết quả hồi quy của hai mô hình để kết luận về vai trò của tham nhũng trong việc thu hút vốn FDI

Trang 13

1.5 Kết cấu của luận văn

Ngoài chương giới thiệu, kết cấu luận văn gồm những chương như sau:

Chương 2: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Nội dung chính của chương hai là nghiên cứu tổng quan về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investment - FDI) bao gồm các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố xác định vị trí của dòng vốn đầu tư nước ngoài Ngoài ra trong chương hai cũng trình bày về tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế

Chương 3: Tham nhũng và ảnh hưởng của tham nhũng đến nền kinh tế Nội dung chính của chương ba là nghiên cứu định nghĩa về tham nhũng, nguồn gốc cũng như phân loại tham nhũng Ảnh hưởng của tham nhũng đến nền kinh tế qua các phương diện phân bổ nguồn lực, công cụ chính sách, cải cách thể chế và phân hóa giàu nghèo Ngoài ra, các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của tham nhũng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng sẽ được trình bày trong phần cuối của chương

Chương 4: Phương pháp nghiên cứu Nội dung chính của chương bốn là trình bày về mô hình lý thuyết, sau đó sẽ là mô hình kinh tế lượng của nghiên cứu và giới thiệu về bộ dữ liệu cũng như các biến số trong mô hình nghiên cứu

Chương 5: Kết quả nghiên cứu Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên cứu có được từ mô hình nghiên cứu đã được đề xuất tại chương bốn theo từng nhóm nước, sau đó đưa ra một kết luận chung về kết quả nghiên cứu, phần cuối của chương năm sẽ trình bày các kiểm định thống kê về sự phù hợp của mô hình nghiên cứu

Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách Chương này sẽ trình bày về các khám phá của bài viết và đề xuất các hàm ý chính sách có được từ kết quả của nghiên cứu, ngoài ra trong chương sáu cũng trình bày những hạn chế của bài viết và hướng nghiên cứu mở rộng của bài viết

Trang 14

Chương 2: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố ảnh hưởng đến thu

hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương này nghiên cứu tổng quan về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bao gồm các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố xác định vị trí của dòng vốn đầu tư nước ngoài Ngoài ra, trong chương hai cũng nêu lên tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế

2.1 Định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, câu chuyện giao thương, hợp tác kinh doanh giữa các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở thị trường nội địa mà còn được mở rộng ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau của các tổ chức, vì vậy cụm từ vốn đầu tư nước ngoài (foreign direct investment - FDI) đã trở thành một thuật ngữ phổ biến trên toàn thế giới Có nhiều luận điểm được đưa ra để định nghĩa về vốn đầu tư nước ngoài

Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (1993) định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh

tế nước chủ đầu tư

Theo luật Đầu tư (2005) khái niệm FDI được định nghĩa như sau “Đầu tư trực

tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, còn “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực

hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” Như vậy, có thể hiểu FDI là hình thức của nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư tại Việt Nam

2.2 Tác động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng trưởng kinh tế

Có rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá vai trò của FDI đến nền kinh tế của các quốc gia, đa số các nghiên cứu đều thống nhất rằng FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia Nghiên cứu của Kokko (1994) chỉ ra mối quan hệ tương quan thuận giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Mê-hi-cô Tác động tích cực của FDI tới tăng trưởng cũng được kiểm định trong nghiên cứu

Trang 15

nghiên cứu của Kumar và Pradhan (2002) khi sử dụng số liệu hỗn hợp cho 107 nước đang phát triển trong thời kỳ 1980-1999 Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hoa (2004) khảo sát tác động của FDI đến tăng trưởng năng suất của cả nền kinh tế, trong khung phân tích về quan hệ giữa FDI và đói nghèo và kết luận từ nghiên cứu này tác giả cho rằng FDI có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của các địa phương thông qua hình thành và tích lũy tài sản vốn và có sự tương tác tích cực giữa FDI và nguồn vốn nhân lực thông qua các kênh tác động khác nhau như giải quyết lao động dư thừa, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sự lan tỏa công nghệ

2.2.1 Tác động của FDI đối với hoạt động sản xuất

Với công nghệ sản xuất tiên tiến các công ty đa quốc gia đã góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước thông qua tác động về mặt công nghệ, các công ty bản địa vốn

có trình độ sản xuất còn chưa phát triển sẽ có điều kiện để học hỏi phương thức sản xuất, dây chuyền công nghệ của các công ty đa quốc gia, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của chính mình, góp phần tạo ra năng lực sản xuất lớn hơn cho nền kinh tế quốc gia nhận đầu tư Ngoài ra, với sự phát triển của hoạt động đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp bản địa có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các công ty đa quốc gia, từ đó quốc tế hóa dây chuyền công nghệ, phương thức quản lý thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước đạt được sự tăng trưởng Tuy nhiên, chất lượng và hàm lượng công nghệ của dòng vốn FDI cũng là một vấn đề đáng lưu ý, một số quốc gia đang phát triển một mặt không thể tăng năng lực sản xuất của mình, mặt khác phải đối mặt với các vấn đề về ô nhiễm môi trường khi các công ty đa quốc gia tìm cách kéo dài thời gian hoạt động của các dây chuyền sản xuất cũ kĩ, đã bị cấm vận hành ở các quốc gia có trình độ khoa học tiến bộ

Nghiên cứu của Blomström and Kokko (1996) đã kết luận về vai trò thúc đẩy của FDI đối với năng suất lao động của quốc gia Kenya, và thúc đẩy sử dụng công nghệ tiên tiến đối với các công ty bản địa Các kết quả tương tự cũng đã đạt được trong các nghiên cứu tại Cameroon của Ghura (1997) và tại Cộng hòa Séc đối với nghiên cứu của Djankov and Hoekman (2000)

Trang 16

Kết quả từ các nghiên cứu của Liu và cộng sự (2001), Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006), Phạm Xuân Kiên (2008), Ludo và cộng sự (2008), Mebratie (2010) khẳng định rằng vốn đầu tư nước ngoài làm gia tăng năng suất lao động của các doanh nghiệp tại quốc gia nhận đầu tư

Tuy nhiên, có một số nghiên cứu chưa thống nhất với các quan điểm của tác giả nêu trên, các kết quả từ nghiên cứu của De Mello (1999), Konings (2000), Vahter (2004), Javorcik (2004) cho rằng tác động thúc đẩy sản xuất trong nước của vốn FDI là mơ hồ hoặc thậm chí tiêu cực

2.2.2 Tác động của FDI đến thương mại quốc tế

Các quốc gia đang phát triển với trình độ sản xuất còn non yếu, các sản phẩm xuất khẩu đa số là tài nguyên thiên nhiên và những sản phẩm thô, đem lại giá trị gia tăng ở mức thấp cho nền kinh tế Tuy nhiên, với sự có mặt của dòng vốn FDI một

số quốc gia đã tận dụng được những yếu tố tích cực của dòng vốn FDI, cải thiện được năng lực sản xuất của quốc gia, và đã sản xuất được những sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của quốc tế, tiến đến xuất khẩu những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, góp phần tạo động lực tăng trưởng kinh tế cho quốc gia Ví dụ điển hình là Thái Lan, giai đoạn từ năm 1989 – 1992, Thái Lan đạt mức tăng trưởng kinh tế trung bình là 12,6%/năm, thành tựu này có đóng góp quan trọng của việc xuất cảng các sản phẩm điện tử có giá trị gia tăng cao của Thái Lan Hoekman (1996) Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ hai thế giới được mệnh danh là “công xưởng của thế giới” cũng nhờ sự đóng góp tích cực của dòng vốn FDI trong việc đẩy mạnh xuất khẩu, vì vậy đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 10% trong một thời gian dài từ năm 1980 đến 2012 (World Bank, 2013)

2.2.3 Tác động của FDI đến đầu tư của quốc gia bản địa

Nhờ dòng vốn FDI chảy vào các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển đã kích hoạt dòng vốn nhàn rỗi trong dân cư của quốc gia bản địa Sự lan tỏa

về công nghệ cũng như trình độ quản lý của các doanh nghiệp FDI đã làm cho dòng vốn nhàn rỗi trong dân cư của các quốc gia bản địa đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tạo ra động lực mới để tăng trưởng kinh tế Ví dụ, với sự đầu

Trang 17

tư tích cực từ các công ty đa quốc gia đã khuyến khích nhân dân Thái Lan với nguồn vốn nhàn rỗi đầu tư vào sản xuất kinh doanh, đầu tiên là đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ, sau quá trình học hỏi kinh nghiệm quản lý, trình độ khoa học kĩ thuật được nâng cao cùng với đó là sự tích lũy vốn, các doanh nghiệp Thái Lan dần đầu tư vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng lớn hơn, nhờ khơi thông được dòng vốn đầu tư trong nước mà Thái Lan đã đạt được một thời kỳ tăng trưởng cao Cũng giống như trường hợp của Thái Lan trong nghiên cứu của Tang và cộng sự (2008) bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo quý trong giai đoạn từ năm 1988 - 2003 tại Trung Quốc đã kết luận rằng FDI có hiệu ứng bổ sung cho đầu tư trong nước thông qua kênh lan tỏa công nghệ

2.3 Lý thuyết về vị trí của đầu tư của dòng vốn FDI

Với những lợi ích mang lại cho nền kinh tế các quốc gia bản địa khi nhận được dòng vốn FDI, thì bài viết cần phải tìm hiểu nguyên nhân tại sao có những quốc gia thu hút được rất nhiều FDI, nhưng có những quốc gia lại không thể thu hút được FDI Vấn đề nêu trên nhận được sự quan tâm của rất nhiều học giả và cả chính phủ các nước trên toàn thế giới, vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu, với nhiều góc nhìn cũng như phương diện nghiên cứu khác nhau nhằm trả lời cho vấn đề được nêu

ra ở trên Sau đây bài viết xin điểm lại một số lý thuyết được thừa nhận rộng rãi nhằm giải thích cho vấn đề vị trí của dòng vốn FDI

2.3.1 Lý thuyết về thương mại quốc tế (international trade theory)

Mô hình thương mại quốc tế có nền tảng từ lý thuyết của Heckscher-Ohlin (1993) được nêu ra như sau: “Một nền kinh tế có lợi thế so sánh trong việc sản xuất,

và do đó sẽ xuất khẩu sản phẩm thâm dụng các yếu tố sản xuất mà nó dồi dào một cách tương đối, và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng các yếu tố mà nó khan hiếm một cách tương đối” theo mô hình này, thì các quốc gia phát triển là các quốc gia dồi dào một cách tương đối về vốn sẽ có xu hướng xuất khẩu vốn vào các quốc gia đang phát triển vốn đang thiếu hụt tương đối vốn, đó là những nền móng cho việc giải thích sự dịch chuyển dòng vốn giữa các quốc gia, đặc biệt là xu hướng dịch

Trang 18

chuyển dòng vốn FDI từ các quốc gia phát triển sang những quốc gia đang phát triển

2.3.2 Lý thuyết về lợi thế độc quyền (the theory of firm-specific ownership advantages)

Lý thuyết này được phát triển bởi Hymer (1960), Hymer đưa ra quan điểm của mình xuất phát từ các nền kinh tế công nghiệp và khẳng định rằng một công ty muốn vượt qua các rào cản quốc tế, tham gia vào quá trình sản xuất toàn cầu khi công ty phải có lợi thế độc quyền Khi đầu tư ra nước ngoài, các doanh nghiệp phải đối mặt với một số bất lợi như khoảng cách địa lý làm tăng chi phí vận chuyển các nguồn lực, thiếu hiểu biết về môi trường kinh doanh mới làm tăng chi phí thông tin, thiết lập mối quan hệ khách hàng mới và hệ thống cung ứng mới cũng mất nhiều chi phí so với các công ty bản địa Tuy vậy, họ vẫn nên tiến hành đầu tư ra nước ngoài khi có những lợi thế độc quyền vì dựa vào những lợi thế này họ có thể giảm được chi phí kinh doanh và tăng doanh thu so với các công ty bản địa Các lợi thế độc quyền có thể là bí quyết công nghệ, văn bằng phát minh, sáng chế được bảo hộ, hay nhãn hiệu Như vậy, Hymer (1960) quan sát thấy rằng FDI xảy ra khi một công ty

sở hữu lợi thế độc quyền hơn các đối thủ cạnh tranh trong một ngành công nghiệp, cho phép các công ty gia nhập thị trường ở các nước khác

2.3.3 Lý thuyết vòng đời sản phẩm

Lý thuyết về vòng đời sản phẩm được Vernon (1966) đưa ra vào những năm

60 của thế kỷ trước, từ quan sát thực tế vào những năm 1960 đa số các sản phẩm mới của thế giới đều được sản xuất và tiêu thụ bước đầu tại Hoa Kỳ (xe hơi, máy vi tính, máy photocopy, điện thoại) sau đó các sản phẩm này mới được sản xuất, tiêu thụ ở các quốc gia phát triển nhưng có trình độ thấp hơn Hoa Kỳ, và cuối cùng là được sản xuất, tiêu thụ ở các nước đang phát triển, ngoài ra các sản phẩm này còn được xuất khẩu ngược trở lại thị trường Hoa Kỳ và các nước phát triển khác

Theo thời gian, kết quả là sẽ có một làn sóng đầu tư nước ngoài chảy vào các quốc gia theo xu thế từ các quốc gia phát triển đến các quốc gia đang phát triển, gắn liền với chu kỳ của sản phẩm đã được phân tích ở trên

Trang 19

Tuy nhiên, mô hình của Vernon (1966) cũng có những vấn đề còn hạn chế, mô hình đã không giải thích được hiện tượng chuỗi giá trị toàn cầu của các sản phẩm, khi thập niên đầu của thế kỷ đã chứng kiến hiện tượng các cấu thành của một sản phẩm mới được sản xuất ở khắp các quốc gia trên thế giới từ các quốc gia phát triển, đến những quốc gia đang phát triển, điện thoại Iphone là sản phẩm mang thương hiệu của Hoa Kỳ nhưng các cấu thành của Iphone được sản xuất khắp nơi trên thế giới từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc

2.3.4 Lý thuyết chiết trung eclectic paradigm (OLI)

Lý thuyết chiết trung (eclectic paradigm) được (Dunning, 2001) trình bày trong các nghiên cứu của mình, theo lý thuyết này thì có ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư nước ngoài đó là:

Nhân tố đầu tiên trong nhóm ba nhân tố được nêu trong lý thuyết chiết trung là lợi thế về sở hữu (ownership advantages - O), lợi thế này gắn liền với các quyền sở hữu của chủ đầu tư nước ngoài ví dụ như quyền sở hữu các bí quyết công nghệ, dây chuyền sản xuất, văn bằng phát sinh sáng chế được bảo hộ, thương hiệu, nhãn hàng nổi tiếng

Nhân tố thứ hai được nêu trong lý thuyết chiết trung là lợi thế về địa điểm đầu

tư (location advantages - L), lợi thế này có được thông qua việc lựa chọn địa điểm đầu tư, đó là những đặc điểm của nước nhận đầu tư như sự ổn định kinh tế vĩ mô, rõ ràng, minh bạch, ổn định, công bằng trong các chính sách của chính phủ sở tại đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các yếu tố khác về kinh tế, xã hội, văn hóa tiêu dùng

Nhân tố cuối cùng được nêu trong lý thuyết chiết trung là lợi thế về nội bộ hóa (internalization advantages - I), lợi thế này gắn với việc dành quyền kiểm soát và khai thác các tài sản ở nước ngoài thông qua đầu tư FDI sẽ có lợi hơn so với các hình thức hiện diện ở nước ngoài khác như xuất khẩu, nhượng quyền thương mại, liên doanh

Trang 20

Ba nhóm nhân tố trong mô hình chiết trung (OLI) được thể hiện ở các chủ thể trong vấn đề đầu tư nước ngoài như chủ đầu tư, nước chủ đầu tư, nước nhận đầu tư,

và môi trường kinh tế quốc tế tương ứng với các yếu tố thành phần trong bảng 2.1

Bảng 2.1: Mô hình OLI đối với đầu tư quốc tế

Khuôn khổ Mô hình OLI

Lợi thế quyền sở hữu (O) Yếu tố quyết định lợi

thế vị trí (L) Lợi thế nội bộ hóa (I)

- Lao động giá rẻ và có tay nghề cao

- Quy mô thị trường và khả năng tăng trưởng

- Điều kiện kinh tế vĩ mô

- Tài nguyên thiên nhiên

- Để giảm chi phí giao dịch

- Để tránh sự can thiệp của chính phủ (hạn ngạch, kiểm soát giá cả, chênh lệch thuế,

và các can thiệp khác)

- Để đạt được các hiệp đồng kinh tế

- Để kiểm soát nguồn cung cấp đầu vào

- Để kiểm soát các cửa hàng

thị trường

(Nguồn: Dunning, 1993)

Lý thuyết OLI này đã cho thấy ảnh hưởng của lợi thế sở hữu (O), lợi thế vị trí (L) và lợi thế nội bộ hóa (I) đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của các công ty đa quốc gia Trong đó, lợi thế sở hữu (O) và lợi thế nội bộ hóa (I) phản ánh lợi thế thuộc về các công ty đa quốc gia, nó nằm ngoài sự kiểm soát của nước thu hút đầu

tư Ngược lại, lợi thế vị trí (L) lại là nền tảng cho sự can thiệp của chính phủ trong quá trình cải thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, cụ thể theo UNCTAD (1998) có ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư tại một quốc gia bao gồm nhóm yếu tố về chính sách, nhóm yếu

tố về kinh tế và nhóm yếu tố về tạo điều kiện kinh doanh

Trang 21

2.4 Các yếu tố tác động đến việc thu hút FDI, bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu của Moosa và Cardak (2003) đã sử dụng phương pháp EBA (extreme bounds analysis) của Leamer (1983a, 1985) để thực hiện nghiên cứu các nhân tố tác động lên quyết định đầu tư FDI từ nguồn dữ liệu thống kê của 140 quốc gia trong giai đoạn 1998-2000 Kết quả nghiên cứu cho thấy FDI bị quyết định bởi hai yếu tố là tỷ lệ xuất khẩu trên GDP và tỷ lệ sử dụng điện thoại trên 1.000 người dân

Nghiên cứu của Bellak và cộng sự (2008) đã phân tích tác động chính sách của chính phủ ảnh hưởng như thế nào đến thu hút FDI dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 11 quốc gia gồm Hoa Kỳ, sáu nước thành viên cũ của EU và bốn nước Trung và Đông

Âu - các nước thành viên mới của EU và mười ngành công nghiệp trong khoảng thời gian mười năm từ 1995 đến 2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao, rào cản trong đăng ký kinh doanh, chi phí tiền lương của người lao động và trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người lao động khi có tai nạn hay tranh chấp liên quan đến lao động là những rào cản đối với dòng vốn FDI Trong khi đó các yếu tố như kết quả thu hút FDI năm trước, nhóm yếu tố về quy mô thị trường như thu nhập bình quân đầu người, nhóm yếu tố về trình độ công nghệ như chi đầu tư công cho cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ,

và nhóm yếu tố về phổ cập công nghệ thông tin như số lượng thuê bao điện thoại và internet có tác động tích cực đến thu hút FDI Nghiên cứu này cũng kết luận rằng tác động chính sách của chính phủ đối với các ngành công nghiệp là khác nhau, và khác nhau về tác động giữa các quốc gia

Trong nghiên cứu của Campos và Kinoshita (2003) về những nhân tố thu hút vốn đầu tư FDI của nhóm các quốc gia tại Trung Âu và Liên Xô cũ Kết quả của nghiên cứu trên cho thấy rằng vốn FDI được thu hút bởi các nhân tố như thành tựu thu hút FDI của các giai đoạn trước, tài nguyên thiên nhiên của quốc gia, chi phí lao động thấp, các quy định pháp luật thông thoáng và phù hợp với thông lệ quốc tế, các chính sách thúc đẩy thương mại quốc tế, sự tham gia các hiệp định thương mại

Trang 22

song phương và đa phương của quốc gia nhận đầu tư Tuy vậy, các nhân tố như chất lượng bộ máy hành chính kém, thể chế chưa hoàn thiện là những nhân tố làm hạn chế dòng vốn FDI vào các quốc gia này

Trong nghiên cứu Bevan và Estrinb (2004) về bộ dữ liệu đầu tư trực tiếp nước ngoài song phương từ 18 nền kinh tế thị trường đến 11 nền kinh tế chuyển đổi thuộc Trung và Đông Âu trong giai đoạn từ năm 1994 – 2000 Kết quả của nghiên cứu cho thấy quy mô thị trường của nước đầu tư cũng như nước nhận đầu tư tác động tích cực đến dòng vốn FDI Tuy nhiên, yếu tố khoảng cách địa lý và chi phí lao động có tác động tiêu cực Nghiên cứu cũng kết luận rằng các yếu tố như chất lượng thể chế, pháp luật, chính trị không phải là mối quan tâm của các nhà đầu tư khi tiến hành thực hiện quyết định đầu tư

Trong nghiên cứu của Carstensen và Toubal (2004) về yếu tố thúc đẩy và cản trở dòng vốn FDI đối với bộ dữ liệu của các nước OECD vào 7 quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi ở Trung và Đông Âu trong giai đoạn từ năm 1993- 1999 Kết quả của nghiên cứu cho thấy nhóm yếu tố thị trường tiềm năng (thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế), nhóm yếu tố lợi thế so sánh (chi phí nhân công, tài nguyên thiên nhiên, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp), kết quả thu hút FDI trong các giai đoạn trước nghiên cứu có tác động tích cực đến dòng vốn đầu tư nước ngoài, nghiên cứu cũng nhấn mạnh đến yếu tố tay nghề của lực lượng lao động cũng

là một nhân tố quan trọng trong việc thu hút các nhà đầu tư Nghiên cứu cũng chỉ ra những bất ổn trong tình hình kinh tế, chính trị, môi trường pháp lý không bền vững

là những yếu tố cản trở dòng vốn đầu tư nước ngoài

Theo nghiên cứu của Kinda (2010) sử dụng bộ dữ liệu nghiên cứu ở 77 quốc gia đang phát triển được thực hiện bởi Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn từ năm

2000 – 2006, đã kết luận những yếu kém về cơ sở hạ tầng, thị trường tài chính và những điểm yếu trong hệ thống thể chế là những nguyên nhân hàng đầu trong việc hạn chế dòng vốn FDI đầu tư vào các quốc gia trong khảo sát

Trang 23

Hai tác giả Busse và Hefeker (2007) đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư nước ngoài với các biến rủi ro chính trị, chất lượng thể chế dựa trên dữ liệu của 83 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1984 - 2003 đã đưa ra kết luận rằng sự ổn định chính trị, tham nhũng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, luật pháp

và trật tự, trách nhiệm giải trình của chính phủ, chất lượng hành pháp của bộ máy hành chính là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài tại 83 quốc gia này

Nhà kinh tế học Asiedu (2006) đã thực hiện nghiên cứu tại 22 quốc gia thuộc Tiểu vùng Sahara Châu Phi (SSA) trong giai đoạn từ năm 1984 - 2000, kết quả của nghiên cứu cho thấy các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào hoặc có thị trường tiêu thụ sản phẩm lớn sẽ thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài Ngoài ra, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, lực lượng lao động được đào tạo, ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách pháp luật mở cửa đối với FDI, một hệ thống pháp luật hiệu quả, ít tham nhũng và sự ổn định chính trị sẽ thúc đẩy FDI Kết quả phân tích cũng cho thấy các nước có thị trường nhỏ hoặc các quốc gia thiếu nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể cải thiện công tác thu hút FDI bằng cách tăng cường chính sách thông thoáng hỗ trợ đầu tư, cải thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của chính quyền Ngoài ra, hợp tác kinh tế khu vực cũng có thể làm tăng FDI vào khu vực châu Phi

Trong nghiên cứu của Kang và Jiang (2012) về nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư Trung Quốc vào 8 quốc gia thuộc khu vực Đông Á

và Đông Nam Á Ngoài các yếu tố truyền thống ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài theo như mô hình OLI của Dunning (1993), hai tác giả đã thêm yếu tố thể chế vào mô hình nghiên cứu thì trong kết quả của nghiên cứu các biến yếu tố kinh tế truyền thống của mô hình OLI giữ nguyên kết quả trong khi đó các biến liên quan đến chất lượng thể chế thì ngược lại Trong toàn bộ mẫu nghiên cứu chỉ có ba trong năm biến liên quan là có ý nghĩa thống kê bao gồm tự do kinh tế, ảnh hưởng chính trị và thương mại song phương

Trang 24

Trong nghiên cứu gần đây của Hoang (2012) khi phân tích các yếu tố quyết định dòng vốn FDI vào các nước khu vực Đông Nam Á giai đoạn từ năm 1991-

2009 Ngoài các yếu tố như kích thước thị trường, sự mở cửa của nền kinh tế, chất lượng cơ sở hạ tầng, vốn con người thì năng suất lao động, chính sách tỷ giá hối đoái, lãi suất thì yếu tố rủi ro chính trị và chất lượng thể chế cũng ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, yếu tố lao động giá rẻ không hấp dẫn dòng vốn đầu tư nước ngoài vào khu vực vì các nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm đến năng suất lao động Nghiên cứu cũng cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính châu

Á năm 1997 ảnh hưởng đến số lượng không phải trên chất lượng của dòng vốn FDI trong khu vực

Trong chương hai bài viết đã đề cập đến tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài, những tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, bài viết cũng đã trình bày về những yếu tố thu hút FDI chảy vào một quốc gia, hay nhóm các quốc gia trên cả hai mặt là lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Có thể thấy rằng vai trò của các yếu tố đến thu hút FDI ở các quốc gia, các nhóm quốc gia, trong các giai đoạn nghiên cứu là không giống nhau

Trang 25

Chương 3: Tham nhũng và ảnh hưởng của tham nhũng đến nền kinh tế

Nội dung chính của chương ba là nghiên cứu về tham nhũng và ảnh hưởng của tham nhũng đến nền kinh tế Nội dung của chương ba được trình bày trong bốn phần, phần thứ nhất là định nghĩa về tham nhũng, nguồn gốc của tham nhũng, phần thứ hai là phân loại tham nhũng, phần ba nêu lên ảnh hưởng của tham nhũng đến nền kinh tế và phần cuối cùng trình bày các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của tham nhũng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

3.1 Tham nhũng

3.1.1 Nguồn gốc của tham nhũng

Lord Acton (1887) "Quyền lực thường tha hóa và quyền lực tuyệt tối sẽ tha hóa một cách tuyệt đối" còn tham nhũng là một biểu hiện quan trọng và dễ thấy của tha hóa quyền lực

Tham nhũng có nguồn gốc từ sự tha hóa quyền lực, vậy nên theo lô gích muốn tham nhũng bị triệt tiêu thì cũng phải triệt tiêu quyền lực của xã hội, tuy nhiên để triệt tiêu hoàn toàn quyền lực thì lại là một điều không thể hiện thực hóa, vì quyền lực là yếu tố cần thiết để duy trì trật tự và quản lý xã hội, theo lập luận trên thì tham nhũng là một hiện tượng gắn liền với xã hội loài người và nhiệm vụ của những người đứng đầu xã hội là kiểm soát tham nhũng

Tham nhũng được sinh ra từ sự tha hóa quyền lực, đến lượt mình quyền lực được sinh ra từ cách thức, cơ chế, biện pháp quản lý xã hội và từ thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và theo định nghĩa của North (1990) thì thể chế là những luật lệ của cuộc chơi trong xã hội (rules of the game) Nói chính xác hơn, đó là những ràng buộc do con người tạo ra để điều chỉnh và định hình các tương tác của mình Theo North, vai trò chính của thể chế trong một xã hội là làm giảm tính bất trắc bằng cách cung cấp một cấu trúc cho hoạt động trong đời sống hàng ngày Thể chế còn hướng dẫn sự tương tác giữa con người với người, khi chúng ta muốn chào bạn bè trên đường phố, lái xe, mua cam, mượn tiền, mở doanh nghiệp, chôn cất một người quá cố Như vậy, cùng một giao dịch nhưng được thực hiện ở các nơi khác

Trang 26

nhau sẽ phải theo những luật lệ khác nhau Theo cách tiếp cận này, thể chế xác định

và giới hạn tập hợp các lựa chọn của cá nhân

Ba cấu thành quan trọng của hệ thống thể chế gồm có thể chế chính thức (thành văn, như luật lệ), thể chế phi chính thức (bất thành văn, như tục lệ và các quy tắc xử thế), và các cơ chế và biện pháp chế tài Thể chế có thể do con người sáng tạo, như Hiến pháp của Hoa Kỳ, nhưng cũng có thể chỉ được tiến hóa theo thời gian, như tập tục văn hóa

Như vậy, có thể nói rộng ra rằng tham nhũng được sinh ra từ thể chế, và ngày nay người ta thường dùng chỉ số tham nhũng là một trong những thước đo để

đo lường sự hoàn thiện của thể chế

3.1.2 Định nghĩa về tham nhũng

Tham nhũng là lợi dụng quyền lực để tư lợi cá nhân Các công chức chấp nhận, gạ gẫm, hoặc sách nhiễu để có được các khoản hối lộ, nó cũng bao gồm hoạt động hối lộ để chi phối các chính sách nhằm có được những lợi thế cạnh tranh hoặc lợi nhuận, hay các hành vi khác ngay cả khi không xảy ra vấn đề hối lộ như là tham

ô tài sản của nhà nước, sự bảo trợ kinh tế chính trị, chế độ gia đình trị, hay làm sai lệch các khoản thu ngân sách của nhà nước World Bank (1997) Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International- TI) ”tham nhũng là lợi dụng quyền lực được giao phó để tư lợi cá nhân” Ngoài ra, Tanzi (1995) thì tham nhũng là bất

cứ hành vi nào của quan chức dưới ảnh hưởng của cá nhân, hoặc liên hệ gia đình thay vì hoàn toàn thực hiện theo tín hiệu của thị trường

Với các định nghĩa trên thì tham nhũng xảy ra ở cả khu vực kinh tế tư nhân, cũng như trong bộ máy nhà nước, tuy nhiên vấn đề quan tâm của luận văn là tham nhũng trong khu vực nhà nước

Hối lộ chính là biểu hiện tiêu biểu nhất của tham nhũng, tổ chức Minh bạch Quốc tế định nghĩa hối lộ như sau, hối lộ là một lời đề nghị hoặc hành động nhận bất kỳ món quà, khoản phí, khoản cho vay, phần thưởng hay một ưu đãi đến từ một người khác để thực hiện một hành vi không trung thực, trái pháp luật, phá vỡ lòng

Trang 27

tin Transparency International (2005), có thể nêu ra một vài hình thức hối lộ như sau

Hối lộ để giành được các hợp đồng kinh tế của chính phủ, các khoản hối lộ có thể ảnh hưởng đến quyết định của chính phủ về việc sử dụng một loại hàng hóa, hay một dịch vụ nào đó, cũng như các điều khoản trong hợp đồng được ký kết với chính phủ về việc giảm nhẹ trách nhiệm trong các điều khoản về bảo hành sản phẩm và hậu mãi

Hối lộ để giành lấy các ưu đãi của nhà nước, hối lộ có thể ảnh hưởng lên quyết định phân bổ các ưu đãi của nhà nước, chẳng hạn các lợi ích tài chính như chương trình trợ giá của chính phủ, gói hỗ trợ tín dụng với lãi suất ưu đãi do chính phủ chỉ định, quyền mua cổ phiếu của các công ty quốc doanh được cổ phần hóa với mức giá ưu đãi so với giá trị thực của cổ phiếu, hay các quyền ưu đãi phi tài chính như quyền tiếp cận các bệnh viện, trường học

Hối lộ để có ưu đãi về thuế, hối lộ được dùng như một công cụ làm giảm đi số thuế, phí phải nộp ngân sách nhà nước, những khoản hối lộ kể trên có thể được đề xuất từ người nộp thuế hay từ công chức thuế, ở một số quốc gia, mức thuế có thể được thương lượng

Hối lộ để có được giấy phép, các khoản hối lộ có thể được yêu cầu từ cơ quan cấp phép, như giấy phép khai thác tài nguyên, khoáng sản, quyết định giao đất, hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của một số mặt hàng bị áp dụng hạn ngạch Đôi khi các chính trị gia và quan chức dùng quyền lực chính trị tạo ra các chính sách kiểm soát giấy phép để có thể trục lợi từ việc cấp giấy phép

Hối lộ để rút ngắn thời gian giải quyết công việc hành chính, khoản hối lộ có thể dùng như một chất bôi trơn, để các cơ quan quản lý nhà nước giải quyết các thủ tục hành chính nhanh hơn như cấp phép, đăng ký thành lập công ty, giấp phép xây dựng, đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, khai tử, thủ tục mua bán nhà đất vốn là những thủ tục hành chính mà người dân hiển nhiên được phục vụ

Trang 28

Hối lộ kết quả pháp lý, hối lộ có thể được sử dụng để các cơ quan quản lý nhà nước bỏ qua các hoạt động bất hợp pháp như buôn lậu, trốn thuế, vi phạm giao thông, gây ô nhiễm môi trường, hay giành được một phán quyết có lợi của tòa án

3.2 Phân loại tham nhũng

3.2.1 Phân loại theo độ lớn của số tiền hối lộ

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) đã phân loại tham nhũng thành hai loại hình, tương ứng với giá trị của những khoản tiền hối lộ

Từ những khoản hối lộ lớn được gọi là “đại tham nhũng” (grand corruption or wholesale corruption) hay những khoản hối lộ nhỏ được gọi là tham nhũng “lặt vặt” (petty corruption or retail corruption)

Nếu như hình thức "đại tham nhũng" có đặc điểm là liên quan đến những hợp đồng kinh tế quốc tế, các dự án hạ tầng trọng điểm của quốc gia và gắn liền với các quan chức lãnh đạo cao cấp, các khoản hối lộ có thể được thực hiện bên ngoài các quốc gia Đại tham nhũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh và uy tín của quốc gia, khi các vụ tham nhũng bị phát hiện

Tham nhũng ”lặt vặt” thường phổ biến trong các cơ quan quản lý nhà nước hay các đơn vị sự nghiệp của nhà nước, khi người dân, doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính như xin cấp giấy phép, đăng ký kinh doanh, hay sử dụng các dịch vụ công như y tế, giáo dục từ nhà nước, các khoản tham nhũng vặt này có thể được giữ lại cho một cá nhân nào đó, hoặc có thể được phân phối lại theo một quy chế phân phối phức tạp nào đó

3.2.2 Phân loại theo tính hệ thống của tham nhũng

Một cách phân loại tham nhũng nữa đó là tham nhũng cô lập (isolate corruption) và tham nhũng hệ thống (systemic corruption) được đưa ra bởi Ngân hàng Thế giới World Bank (1997)

Trong một số xã hội hành vi tham nhũng có thể phổ biến hay không phổ biến, nếu hành vi tham nhũng là không phổ biến ở xã hội, thì việc phát hiện hành vi tham nhũng và trừng phạt hành vi đó có thể là dễ dàng hơn, trong xã hội khi mà hành vi

Trang 29

không tham nhũng trở thành chuẩn mực của xã hội thì thể chế cả khu vực công hay khu vực tư đều hỗ trợ cho sự tham liêm, minh bạch Tuy nhiên, nếu trong xã hội mà tham nhũng trở thành phổ biến thì mặc dù hành vi tham nhũng là trái pháp luật nhưng trong các giao dịch hàng ngày hối lộ trở thành một thói quen được mọi người ngầm hiểu với nhau Một hệ quả tiếp theo sau của tình trạng tham nhũng có hệ thống là người dân, doanh nghiệp và công chức nhà nước thực hiện theo thói quen hối lộ và không có ý thức chống lại hệ thống tham nhũng đang hiện hữu, và mặc dù các xã hội nói trên đều có các luật chống lại tham nhũng Tuy nhiên, tham nhũng đã trở thành quy tắc trong giao dịch của khu vực nhà nước và người dân, tham nhũng trở thành hệ thống ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh của quốc gia

3.2.3 Phân loại theo mô hình diễn ra tham nhũng

Hai nhà khoa học Shleifer và Vishny (1993) cho rằng tham nhũng có thể được chia thành 2 loại dự trên mô hình tập trung quyền lực của tham nhũng, đó là tham nhũng phân tán và tham nhũng tập trung

Tham nhũng tập trung là quyền lực tham nhũng được tập trung vào tay một số nhân vật nhất định, các nhân vật này điều phối mức độ tham nhũng, cũng như những quy tắc tái phân phối những khoản hối lộ cho hệ thống tham nhũng của mình Với hình thức tham nhũng này, các nhân vật đứng đầu hệ thống tham nhũng

có thể kiểm soát mức độ tham nhũng của hệ thống, qua đó làm cho chi phí của tham nhũng mà các cá nhân hay tổ chức phải bỏ ra có thể được kiểm soát và có thể dự báo trước Khi đó chi phí tham nhũng trở thành một loại chi phí đầu vào có thể kiểm soát của các cá nhân hay tổ chức và họ có thể yên tâm sản xuất, kinh doanh nếu họ

có thể chi trả được những chi phí này Hình thức tham nhũng này thường xuất hiện

ở các quốc gia châu Á, khi hệ thống tham nhũng được điều hành bởi những nhân vật có quyền lực, nhờ việc kiểm soát tham nhũng một cách có mức độ mà nền kinh

tế vẫn tăng trưởng ở mức cao cũng như vốn đầu tư nước ngoài vẫn tìm đến các quốc gia châu Á như một mảnh đất đầy hứa hẹn để đầu tư

Tham nhũng phân tán ngược lại với tham nhũng tập trung, quyền lực tham nhũng không tập trung ở số ít những nhân vật nhất định mà quyền lực này phân tán

Trang 30

đều giữa các cá nhân Các cá nhân là sẽ tối đa hóa lợi ích của mình, có nghĩa là tham nhũng nhiều nhất khi có thể, kết quả là mức độ tham nhũng, cũng như chi phí cho vấn đề tham nhũng của cá nhân và doanh nghiệp không được kiểm soát Họ không thể dự báo chi phí tham nhũng mà mình phải bỏ ra và thường xuyên phải lo lắng về những khoản hối lộ khổng lồ nhưng không thể lường trước phải chi ra để duy trì công việc sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Yếu tố trên đã tạo ra một môi trường kinh doanh ẩn chứa nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp và tất nhiên hoạt động sản xuất kinh doanh ở các quốc gia như trên sẽ không đạt được như kì vọng Các quốc gia châu Phi là điển hình của hình thức tham nhũng phân tán, khi có quá nhiều nhân vật có thể tham nhũng, đi kèm với họ là những công chức tham nhũng không có kiểm soát, đã tạo ra một môi trường kinh doanh không thuận lợi, tất nhiên tăng trưởng kinh tế thấp, cũng như vốn đầu tư nước ngoài chảy vào các quốc qua châu Phi là thấp hơn đáng kể so với các nước châu Á, một phần nào đó là kết quả của hiện tượng tham nhũng phân tán Cụ thể, trung bình trong giai đoạn 1980-1989 khu vực này chỉ thu hút được 2,6% dòng vốn FDI toàn cầu, trong giai đoạn 1990-

1999 là 1,9% và trong giai đoạn 2000 - 2012 là 3,1% Trong cùng thời kỳ, khu vực châu Á đã nhận được dòng vốn FDI tương ứng là 14,2%, 19,1%, 25% tổng số dòng vốn toàn cầu (UNCTAD, 2013) Hình (3.1) cho thấy sự vượt trội về tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á so với khu vực châu Phi trong giai đoạn từ năm

2000 - 2012, trong khi đó hình (3.2) cho thấy sự tương đồng về tình trạng tham nhũng giữa hai khu vực này

Một ví dụ cho sự tác động đến tăng trưởng kinh tế của hai loại hình tham nhũng tập trung và tham nhũng phân tán đó là vào cuối thập kỷ 1960, Indonesia là một trong các quốc gia nghèo nhất thế giới, hơn cả Bangladesh, Nigeria, và Ghana Dưới thời Suharto, ổn định vĩ mô được duy trì, lạm phát được kiểm soát Cải cách nông nghiệp thúc đẩy sản xuất lương thực, và xuất khẩu dầu thô đưa lại ngoại tệ Tăng trưởng bền vững tiếp sau đã đưa Indonesia trở thành một nước có thu nhập trung bình trên thế giới Vào năm 1992, thu nhập đầu người tăng gấp ba lần so với năm 1960 Tỷ lệ người sống dưới mức nghèo khổ giảm từ 60% vào các năm 1970

Trang 31

xuống còn 11% vào năm 1996, chỉ một năm trước khi nổ ra khủng hoảng tài chính châu Á Trong thời gian đó, gia đình Suharto và nhóm lợi ích của nó trở nên giàu có

vô biên và bị coi là đã bơm hàng chục tỷ đô la vào các tài khoản của họ ở nước ngoài Theo nghiên cứu của (Transparency International, 2009), ảnh hưởng của gia đình Suharto rất sâu và rộng, họ có cổ phần ở hơn 1200 công ty, bao gồm ngân hàng, hàng không, hàng hải, khách sạn, viễn thông, siêu thị, truyền hình, và báo chí Thành viên gia đình nhận được sự miễn thuế hoặc trợ cấp hào phóng, và kiếm được những hợp đồng chính phủ không thông qua đấu thầu cạnh tranh

Nếu so sánh các chỉ số tham nhũng, thì Indonesia vào thời Suharto còn tồi tệ hơn nhiều so với nước Nga dưới thời Einsin Vậy sao ở Indonesia thị trường vẫn mở rộng nhanh chóng, trong khi ở Nga, thị trường lại bị bóp nghẹt Vấn đề là ở Nga sau

tự do hóa, mỗi cơ quan trong bộ máy công quyền trở thành một ốc đảo Nhân viên thuế vụ, cán bộ hải quan, nhân viên ngân hàng nhà nước, người cấp chứng chỉ kinh doanh, tất cả đều có quyền lực riêng biệt trong việc đòi doanh nghiệp phải nộp phí bôi trơn Mỗi một trong số họ đều tìm cách đòi càng nhiều càng tốt tiền hối lộ vì ai cũng biết rằng nếu mình không tham nhũng thì ai đó sẽ thay thế mình tham nhũng Tình hình còn tồi tệ hơn khi cơ quan hành pháp tại các địa phương được quyền bổ sung những điều lệ mà luật pháp chưa quy định, mỗi địa phương quy định một khác, khiến cho sau khi trả xong hối lộ, cá nhân doanh nghiệp vẫn thấy tiếp tục bị nhũng nhiễu Khi mà quan chức các cấp đều tìm cách vắt kiệt hầu bao của nó, doanh nghiệp bị mất đi ý nguyện đầu tư Tại Indonesia, Suharto thường xuyên cách chức những quan chức mà tham nhũng của họ đã trở nên quá tai tiếng, việc làm của Suharto không thể và không nhằm loại trừ tham nhũng Ông ta chỉ tìm cách độc quyền kiểm soát nó Tiền hối lộ sau đó được chia một cách tương xứng cho các quan chức có liên quan, mà họ đồng ý không đòi hỏi gì thêm nữa từ doanh nghiệp Tham nhũng được kiểm soát chặt chẽ, do vậy đã không cản trở đầu tư Khi giới kinh doanh được bảo đảm rằng không ai có quyền chiếm đoạt thêm nữa lợi nhuận của mình, thì họ đầu tư và nền kinh tế tăng trưởng

Trang 32

Hình 3.2:Chỉ số cảm nhận tham nhũng (corruption perceptions index- CPI) năm

2012 các khu vực trên thế giới

3.3 Ảnh hưởng của tham nhũng đến kinh tế

Theo nghiên cứu của Trần Hữu Dũng (1999) cho rằng tham nhũng ảnh hưởng đến kinh tế ở bốn phạm trù, đó là phân bổ nguồn lực, công cụ chính sách, cải cách thể chế, phân hóa giàu nghèo

Trang 33

3.3.1 Ảnh hưởng đến phân bổ nguồn lực

Muốn một nền kinh tế hoạt động có hiệu quả thì nguồn lực trong quốc gia đó phải được phân bổ phù hợp giữa đầu tư và chi thường xuyên, hơn nữa vốn đầu tư phải được phân bổ cho hợp lý giữa các dự án khác nhau Vì nhiều lý do tham nhũng

sẽ làm cho sự phân bố nguồn lực bị sai chệch ra ngoài cấu trúc tối ưu cho tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế

Một là, trong một thế giới khi mà xu hướng tự do hóa dòng vốn đang trở thành một xu hướng, vì sự an toàn của nguồn vốn các nhà đầu tư có xu hướng sẽ lựa chọn các quốc gia có mức độ tham nhũng ở mức thấp để thực hiện đầu tư, dẫn đến hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn không hiệu quả vì đa số các quốc gia có mức độ tham nhũng thấp thường dư thừa vốn, từ đó dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn không cao và đồng thời có những quốc gia có chỉ số tham nhũng cao sẽ bị khan hiếm vốn

Vì vậy, trên phạm vi thế giới nguồn lực cũng không được phân bổ có hiệu quả giữa các quốc gia

Hai là, trong một quốc gia vốn sẽ chảy vào những khu vực, ngành nghề ít tham nhũng Các nhà đầu tư sẽ ít đầu tư vào những ngành nghề có tỷ lệ tham nhũng cao vì nó tạo ra rủi ro cho đồng vốn của nhà đầu tư, vì thế những ngành có tỷ lệ tham nhũng cao sẽ bị hạn chế về phân bổ nguồn lực, từ đó ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của ngành, kết quả là ảnh hưởng chung đến sự tăng trưởng của nền kinh tế của quốc gia đó

Ba là, nguồn lực nói chung sẽ được tiêu xài cho hiện tại hơn là đầu tư cho tương lai, khi mà chỉ số tham nhũng quá cao ở một quốc gia, người dân sẽ không có động lực để đầu tư vì nó nguy hiểm cho sự an toàn về vốn của các nhà đầu tư, khi một quốc gia mà đầu tư thấp thì tăng trưởng kinh tế cũng không thể cao được Bốn là, những dự án được đầu tư thường là những dự án quá quy mô và có thiết kế kĩ thuật phức tạp như thủy điện, đường cao tốc, đập thủy lợi, bởi lẽ công trình càng quy mô và phức tạp thì cơ hội cho tham nhũng càng nhiều và dễ dàng được che đậy Ở các nước có tình trạng tham nhũng ở mức cao thì những dự án đầu

Trang 34

tư cho y tế, giáo dục chiếm một tỷ trọng khá khiêm tốn so với các dự án xây dựng

cơ bản, đôi lúc chúng ta có thể thường xuyên thấy những công trình xây cất của chính phủ không mang lại bất kỳ một hiệu quả kinh tế nào, những vẫn được xây dựng còn những dự án giáo dục, y tế thường xuyên bị bỏ quên

Những điều phân tích phía trên là nguyên nhân khiến cho dòng vốn đầu tư bị phân bổ vào các mục tiêu, dự án, địa phương, quốc gia trái ngược lại với nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế

3.3.2 Ảnh hưởng đến công cụ chính sách kinh tế và cải cách thể chế

Tham nhũng một mặt vừa gây thất thu ngân sách nhà nước, nhưng mặt khác cũng gây lạm chi cho ngân sách nhà nước, từ đó gây áp lực lên ngân sách của quốc gia, để cân bằng ngân sách chính phủ phải tăng thuế suất hoặc giảm chi ngân sách Khi tăng thuế suất sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh của quốc gia, đồng thời gây áp lực lên những doanh nhân làm ăn chân chính Khi giảm chi ngân sách, đặc biệt là giảm chi phúc lợi xã hội sẽ ảnh hưởng lên các đối tượng xứng đáng được hưởng phúc lợi xã hội Ngoài ra, việc thu chi ngân sách nhà nước còn là một công cụ vĩ mô nhằm điều tiết nền kinh tế, có thể vì tham nhũng mà việc thu chi ngân sách mất đi quyền năng là một công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô trong tay chính phủ

Tham nhũng cũng ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của một quốc gia theo cách thức như sau, nhờ các khoản hối lộ và đút lót mà các ngân hàng đã cho vay nhiều hơn hạn mức tăng trưởng tín dụng của mình qua đó ảnh hưởng đến lượng tiền lưu hành trong nền kinh tế, có thể ảnh hưởng đến lạm phát cũng như chính sách lãi suất của ngân hàng trung ương Ngoài ra, các đối tượng nhận hối lộ thường có hành

vi cất trữ tiền bạc, thay vì đem tiền tham nhũng đầu tư sản xuất, kinh doanh điều đó ảnh hưởng đến các quyết định về chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, khi ngân hàng không có được các số liệu thống kê chính xác để đưa ra quyết định Hơn nữa, tình trạng tẩu tán tài sản ra nước ngoài cũng ảnh hưởng đến giá trị của đồng nội tệ, khi các nhân vật tham nhũng sẵn sàng bán rẻ đồng nội tệ để có được đồng ngoại tệ nhằm phục vụ mục đích chuyển tiền ra nước ngoài, gây chảy máu ngoại tệ

Trang 35

của quốc gia Trong giai đoạn từ năm 1990 đến 2010 đã có 18.000 đảng viên, công chức chính phủ và những người khác đã trốn khỏi Trung Quốc và mang theo khối tài sản trị giá 120 tỷ đô la ra nước ngoài ( Bank of China, 2011)

Cải cách thể chế là điều cần thiết để tạo ra động lực mới cho tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và đang trong quá trình chuyển đổi thể chế từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, quá trình cải cách thể chế có thể bị trì hoãn, thậm chí là đi sai hướng khi các quan chức, hoặc một nhóm các quan chức có cùng chung quyền lợi chống đối quá trình cải cách vì họ mong muốn duy trì quyền lực để tiếp tục tham nhũng, sự chống đối này có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình cải cách thể chế ở tại các quốc gia, đôi khi làm thất bại công cuộc cải cách thể chế

3.3.3 Ảnh hưởng đến khoảng cách giàu nghèo và công bằng xã hội

Tham nhũng tạo ra nguồn thu nhập bất chính cho những người tham nhũng, ngoài ra còn là các đặc quyền, đặc lợi liên quan đến quyền tiếp cận giáo dục, y tế đã đào sâu hơn khoảng cách giàu nghèo giữa các bộ phận dân cư trong xã hội, các đối tượng tham nhũng ngày càng giàu và đôi khi các tầng lớp còn lại trong xã hội ngày càng nghèo hơn Khoảng cách giàu nghèo bắt nguồn từ tham nhũng thay vì bắt nguồn từ năng suất lao động của mỗi cá nhân sẽ là những mối nguy hại tiềm ẩn gây nên những bất ổn về chính trị trong xã hội

Các quan chức lợi dụng quyền lực nhà nước để tiến hành tham nhũng và giàu lên nhanh chóng ngoài ra còn là các đặc quyền đặc lợi kèm theo, sẽ tạo ra sự bất công xã hội khi những người công nhân, nông dân phải lao động vất vả hơn rất nhiều chỉ để đảm bảo được đời sống Ngoài ra, vấn đề nương nhẹ trách nhiệm pháp

lý các hành vi tham nhũng của pháp luật cũng sẽ tạo tâm lý bất công đối với các công chức thanh liêm và nhân dân, khi hành vi tham nhũng không được pháp luật trừng trị một cách nghiêm khắc

Trang 36

3.3.4 Ảnh hưởng tích cực của tham nhũng đến kinh tế

Không hoàn toàn chỉ có các quan điểm đánh giá tiêu cực về ảnh hưởng của tham nhũng đến kinh tế, một số nghiên cứu cho thấy rằng tham nhũng ở một góc cạnh nào đó ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế

Tham nhũng có thể trở thành một chất bôi trơn cho hoạt động của các cơ quan nhà nước đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển và trong quá trình chuyển đổi, hối lộ cho quan chức giúp người dân tránh được những thủ tục hành chính phức tạp của một nền thể chế chưa hoàn thiện, tiết kiệm được thời gian và công sức trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Nghiên cứu của Lui, F.T (1985) về tham nhũng của mình ở các quốc gia đang phát triển đã kết luận rằng việc trả các khoản hối lộ giúp các công ty tiết kiệm được thời gian và chi phí trong việc kinh doanh Ngoài ra, Tác giả Houston (2007) cho rằng tham nhũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

ở những quốc gia có hệ thống luật pháp yếu, và tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế khi quốc gia đó có một hệ thống thể chế hoàn thiện

Tham nhũng dù là phi pháp nhưng đã góp phần thúc đẩy quá trình thúc đẩy tích lũy vốn để tiến hành sản xuất trên quy mô lớn, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước Tuy nhiên, lượng vốn được tích lũy từ tham nhũng có chảy vào các hoạt động sản xuất kinh doanh hay không, còn là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn

3.4 Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của tham nhũng đến thu hút FDI

Các nghiên cứu về vai trò của tham nhũng ảnh hưởng đến thu hút vốn FDI của các quốc gia trên thế giới được thực hiện rất nhiều, tuy nhiên kết quả của những nghiên cứu này chưa có một sự thống nhất cao về vai trò của tham nhũng, một số tác giả tìm thấy ảnh hưởng tiêu cực đến thu hút vốn FDI, nhưng một số tác giả không tìm thấy ảnh hưởng tiêu cực hoặc tìm thấy tương quan thuận giữa tham nhũng và thu hút FDI Do đó, trong phần này bài viết sẽ được trình bày theo ba hệ thống quan điểm nêu trên

Trang 37

3.4.1 Các nghiên cứu có kết luận tương quan nghịch về vài trò của tham nhũng đến thu hút FDI

Nghiên cứu của Wei (2000) đã tìm ra tác động tiêu cực của tham nhũng đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nghiên cứu về 12 quốc gia đầu tư chủ yếu là các quốc gia thuộc khối OECD và 45 quốc gia nhận đầu tư Trước đó năm 1997, Wei phát hiện ra rằng tham nhũng gây ra sự không chắc chắn trong đầu tư dẫn đến một tác động tiêu cực đến vốn FDI thu hút của các quốc gia nhận đầu tư Trong nghiên cứu của Javorcik và Wei (2009) chỉ ra rằng tham nhũng làm giảm khả năng đầu tư của các công ty nước ngoài Tuy nhiên, lại làm tăng khả năng các công ty nước ngoài liên kết với các công ty nội địa tạo thành một công ty liên doanh, hơn là thành lập một cơ sở 100% vốn đầu tư nước ngoài tại nước bản địa, bởi vì các công

ty nước ngoài cho rằng các đối tác nội địa có ưu thế hơn trong việc thương lượng với các quan chức tham nhũng Mặc dù, các công ty nước ngoài hiểu rõ mặt trái của vấn đề liên doanh là pha loãng quyền điều hành, chia sẽ bí quyết kinh doanh, công nghệ sản xuất, thậm chí là lợi nhuận kinh doanh vốn dĩ là những điều rất có giá trị đối với các công ty đa quốc gia

Nghiên cứu của Habib và Zurawicki (2002) dựa trên bộ dữ liệu của 7 quốc gia phát triển và 89 quốc gia nhận đầu tư nhận thấy rằng các nhà đầu tư nước ngoài có tâm lý e ngại tham nhũng vì họ quan điểm rằng tham nhũng là phi đạo đức và gây ra

sự hoạt động không hiệu quả Ngoài ra, hai tác giả còn kết luận rằng các cặp quốc gia có chất lượng thể chế tương đồng có xu hướng đầu tư cho nhau nhiều hơn là các cặp quốc gia có chất lượng thể chế không tương đồng, nhưng trong nghiên cứu nêu trên cũng cho rằng tác động biên trong sự thay đổi thể chế của các cặp quốc gia tương đồng về chất lượng thể chế là không đáng kể Điều này có nghĩa là đối với các cặp quốc gia không tương đồng về thể chế, khi một quốc gia có những tiến bộ

về chất lượng thể chế sẽ chứng kiến một tác động biên về vốn FDI được thu hút lớn hơn

Trong công trình nghiên cứu của Zhao và cộng sự (2003) về tham nhũng dựa trên bộ dữ liệu của 45 quốc gia đến từ các nhóm nước khác nhau như khối OECD,

Trang 38

các nước châu Á, và các nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn từ năm 1991- 1997 Dẫn đến kết luận rằng tham nhũng và sự thiếu minh bạch của quốc gia làm giảm dòng vốn FDI chảy vào các quốc gia được khảo sát trong nghiên cứu Nghiên cứu cũng cho rằng các chi phí phát sinh từ việc trả hoa hồng cho các quan chức để có được các hợp đồng lớn, hoặc phải hối lộ các quan chức địa phương về các công việc hành chính như cấp giấy phép, phí duy trì an ninh, thuế quan, các loại chi phí đó đã làm tăng tổng chi phí kinh doanh và làm cho lợi nhuận từ việc đầu tư ra nước ngoài giảm xuống Ngoài ra, các công ty còn phải đối mặt với rủi ro về mặt thương hiệu,

uy tín của công ty khi các vụ án tham nhũng bị phanh phui

Nhóm tác giả Drabek và Payne (1999) trong nghiên cứu của mình đã phát hiện ra rằng quốc gia không có sự minh bạch (một chỉ số tổng hợp của chỉ số tham nhũng, quyền sở hữu yếu và chính phủ yếu kém) làm giảm số vốn FDI thu hút, việc gia tăng 1 điểm trong thang đo lường sự minh bạch giúp các quốc gia tăng thêm được 40% số vốn FDI được thu hút

Abed và Davoodi (2000) trong nghiên cứu thực hiện năm 2000 về dữ liệu tham nhũng tại 25 quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi trong giai đoạn từ năm 1994-

1998 đã kết luận rằng quốc gia ít tham nhũng thu hút được nhiều FDI hơn các quốc gia khác Tuy nhiên, quyết tâm trong thay đổi thể chế ở tại các quốc gia có tác động mạnh hơn trong việc thu hút vốn FDI

Nghiên cứu của nhóm tác giả Josef, Zdenek, and M Fabricio (2012) về ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đối với bộ dữ liệu của 84 quốc gia nhận đầu tư trong giai đoạn từ năm 2000 – 2003 Nghiên cứu

đã tìm ra mối tương quan nghịch giữa yếu tố tham nhũng tại quốc gia nhận đầu tư

và dòng vốn FDI Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy mối quan hệ phi tuyến có dạng chữ U ngược giữa chỉ số tham nhũng tại quốc gia thực hiện đầu tư và số vốn FDI đầu tư ra nước ngoài

Trang 39

3.4.2 Các nghiên cứu có kết luận trung lập về vai trò của tham nhũng đến thu hút FDI

Trong nghiên cứu của Egger và Winner (2006) sử dụng dữ liệu dạng bảng từ năm 1983 - 1999 để nghiên cứu vai trò của tham nhũng đến dòng vốn đầu tư giữa

21 quốc gia phát triển và 59 quốc gia đang phát triển nhận đầu tư nước ngoài Đã có kết luận rằng, các quốc gia phát triển trong khối OECD bị ảnh hưởng nhiều bởi mức

độ tham nhũng của quốc gia nhận đầu tư, tuy nhiên các quốc gia phát triển ngoài khối OECD thì bị ảnh hưởng đến quyết định đầu tư bởi những nhóm biến kinh tế như GDP, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng kinh tế, khả năng tiếp cận thị trường hơn là yếu tố tham nhũng Ngoài ra, theo thời gian thì ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng đối với quyết định đầu tư của các quốc gia trong nghiên cứu giảm dần so với nhóm các yếu tố kinh tế khác

Nhà kinh tế học Al-Sadig (2009) trong nghiên cứu về 117 quốc gia nhận FDI trong giai đoạn từ năm 1994 - 2004 kết luận rằng với 1 điểm gia tăng trong chỉ số tham nhũng sẽ làm giảm 11% vốn FDI theo đầu người, tuy nhiên khi yếu tố thể chế của quốc gia nhận đầu tư được hoàn thiện thì chỉ số tham nhũng không còn ảnh hưởng đến thu hút FDI, thậm chí yếu tố tham nhũng ảnh hưởng tích cực đến thu hút FDI

Akcay (2001) trong nghiên cứu về bộ dữ liệu về chỉ số tham nhũng và giá trị

số vốn FDI đã thu hút của 52 quốc gia đang phát triển đã kết luận rằng không tìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng của tham nhũng đến số vốn FDI thu hút của các quốc gia

3.4.3 Các nghiên cứu có kết luận tương quan thuận về vai trò của tham nhũng đến thu hút FDI

Nghiên cứu của Tullock (1996) cho rằng ở các nước đang phát triển tham nhũng giúp ích trong việc duy trì một mức lương thấp và cho phép các chính phủ giữ một mức thuế suất thấp, hai lý do nêu trên sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chính nhờ tăng trưởng kinh tế mà các quốc gia thu hút được nhiều vốn FDI hơn

Trang 40

Houston (2007) trong nghiên cứu dữ liệu về 119 quốc gia trong giai đoạn từ năm 2000 - 2005 cũng kết luật rằng tham nhũng có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển và các quốc gia chuyển đổi và thông qua tăng trưởng kinh tế sẽ tạo động lực thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại các quốc gia nêu trên

Hai tác giả Durán và De la Fuente (2011) trong nghiên cứu về ảnh hưởng của tham nhũng tại các nước nhận đầu tư đến số vốn FDI đã thu hút, đã tìm thấy một tương quan thuận giữa chỉ số tham nhũng và FDI đã thu hút

3.5 Giả thuyết nghiên cứu

Mặc dù theo lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tham nhũng và thu hút vốn FDI là chưa rõ ràng, nhưng bài viết này dựa vào nghiên cứu Josef, Zdenek, and M Fabricio (2012) về tác động của tham nhũng của quốc gia đầu tư và nhận đầu tư vào vốn FDI để đưa ra giả thuyết nghiên cứu cho bài nghiên cứu này Với giả thuyết đặt ra là yếu tố tham nhũng của các quốc gia đầu tư

và nhận đầu tư có tác động tiêu cực đến quyết định đầu tư vốn FDI và việc thu hút vốn FDI Nghĩa là đối với các quốc gia thực hiện đầu tư thì yếu tố tham nhũng của quốc gia này có ảnh hưởng tiêu cực đến việc quyết định đầu tư ra nước ngoài Đối với các quốc gia nhận đầu tư thì yếu tố tham nhũng tại các quốc gia này có ảnh hưởng tiêu cực đến việc thu hút vốn FDI từ các quốc gia thực hiện đầu tư

Như vậy, trong chương ba bài viết đã trình bày được những định nghĩa về tham nhũng, phân loại tham nhũng theo các quan điểm khác nhau, ngoài ra bài viết cũng đã trình bày những ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng đến nền kinh tế, phần cuối của chương trình bày về giả thuyết nghiên cứu Trong chương ba, bài viết cũng như nêu lên được sự chưa thống nhất giữa các nhà khoa học về vai trò của tham nhũng đối với thu hút FDI Quan điểm thứ nhất của các tác giả như Wei, Javorcik, Habib và Zurawicki, Abed và Davoodi, Josef, Zdenek và M Fabricio cho rằng yếu

tố tham nhũng có ảnh hưởng tiêu cực đến thu hút vốn FDI Trái ngược với quan điểm của nhóm tác giả thứ nhất, các nhà khoa học Tullock, Houston, Durán và De

la Fuente đưa ra kết luận về ảnh hưởng tích cực của yếu tố tham nhũng đến thu hút

Ngày đăng: 13/03/2017, 20:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Dòng vốn đầu tư FDI giữa các nhóm nước giai đoạn 2005- 2014 - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Hình 1.1 Dòng vốn đầu tư FDI giữa các nhóm nước giai đoạn 2005- 2014 (Trang 9)
Bảng  2.1: Mô hình OLI đối với đầu tư quốc tế - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
ng 2.1: Mô hình OLI đối với đầu tư quốc tế (Trang 20)
Hình 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2000 đến 2012 của các khu vực trên - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Hình 3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2000 đến 2012 của các khu vực trên (Trang 32)
Hình 3.2: Chỉ số cảm nhận tham nhũng (corruption perceptions index- CPI) năm - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Hình 3.2 Chỉ số cảm nhận tham nhũng (corruption perceptions index- CPI) năm (Trang 32)
Hình 4.1: Đồ thị phân phối đối xứng (symmetric distribution) của mức chi tiêu cho - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Hình 4.1 Đồ thị phân phối đối xứng (symmetric distribution) của mức chi tiêu cho (Trang 44)
Hình 4.3: Mô hình chữ U “ngược” về mối quan hệ giữa tham nhũng và vốn FDI - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Hình 4.3 Mô hình chữ U “ngược” về mối quan hệ giữa tham nhũng và vốn FDI (Trang 45)
Hình 4.2: Mô hình xác lập quyết định đầu tư giữa các quốc gia - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Hình 4.2 Mô hình xác lập quyết định đầu tư giữa các quốc gia (Trang 45)
Bảng  5.1: Kết cấu sắp xếp dữ liệu của mô hình - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
ng 5.1: Kết cấu sắp xếp dữ liệu của mô hình (Trang 53)
Hình 5.1: Biểu đồ thể hiện chỉ số tham nhũng của các quốc gia trong Asean +2  Biến  Corruption j   (Corru j )  là  chỉ  số  đo  lường  tình  trạng  tham  nhũng  của  các  quốc gia thực hiện đầu tư vào các nước trong nhóm Asean +2 - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Hình 5.1 Biểu đồ thể hiện chỉ số tham nhũng của các quốc gia trong Asean +2 Biến Corruption j (Corru j ) là chỉ số đo lường tình trạng tham nhũng của các quốc gia thực hiện đầu tư vào các nước trong nhóm Asean +2 (Trang 55)
Hình 5.2: Biểu đổ chỉ số tham nhũng của các quốc gia thực hiện đầu tư vào khu vực - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Hình 5.2 Biểu đổ chỉ số tham nhũng của các quốc gia thực hiện đầu tư vào khu vực (Trang 57)
Bảng 5.3: Bảng kết quả hồi quy của nhóm 2 (Trung Quốc, Ấn Độ) - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Bảng 5.3 Bảng kết quả hồi quy của nhóm 2 (Trung Quốc, Ấn Độ) (Trang 59)
Bảng 5.4: Bảng kết quả hồi quy nhóm 3 (Brunei, Cambuchia, Trung Quốc, Ấn Độ,  Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam) - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Bảng 5.4 Bảng kết quả hồi quy nhóm 3 (Brunei, Cambuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam) (Trang 61)
Bảng 5.5: Bảng kết quả hồi quy của nhóm 4 (Trung Quốc, Việt Nam) - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Bảng 5.5 Bảng kết quả hồi quy của nhóm 4 (Trung Quốc, Việt Nam) (Trang 62)
Bảng 5.6: Bảng tổng hợp kết quả của các mô hình - Tác động của tham nhũng đến thu hút vốn đầu nước ngoài tại các quốc gia asean, trung quốc và ấn độ
Bảng 5.6 Bảng tổng hợp kết quả của các mô hình (Trang 64)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm