TÓM TẮT Bài nghiên cứu phám phá mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với tăng trưởng của 25 quốc gia Châu Á được lựa chọn và đánh giá mức độ tác động thông qua các kênh dẫn truyền là thươn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Huỳnh Thu Hằng
Trang 5MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC BẢNG
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Nội dung nghiên cứu 4
1.4 Đóng góp của đề tài 5
1.5 Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM……….7
2.1 Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ kinh tế giữa các nước 7
2.2 Vai trò của Trung Quốc đối với các nước Châu Á 15
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Mô hình nghiên cứu 26
3.1.1 Mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với các nước Châu Á 26
3.1.2 Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam 29
3.2 Mô tả dữ liệu 31
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1 Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với các nước Châu Á 40
Trang 64.1.1 Hồi quy tổng thể 40
4.1.2 Các kênh tác động 44
4.1.2.1 Các liên kết thương mại 44
4.1.2.2 Các liên kết tài chính 47
4.2 Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam 51
4.2.1 Tăng trưởng Trung Quốc tác động đến tăng trưởng Việt Nam 51
4.2.2 Chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc và tăng trưởng Việt Nam 58
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
(Current account balance)
(Gross Domestic Product)
(Fixed – effects model)
(Net foreign assets)
(Organization for Economic Cooperation and Development)
(Random – effects model)
(Schwarz information criterion)
(vector autoregression)
Trang 8VECM Mô hình véc tơ hiệu chỉnh sai số
(Vector Error Correction Model)
(Variance inflation factor)
(Foreign Portfolio Investment)
(Foreign Direct Investment)
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc (từ 2000 – 2014)
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ tăng trưởng ở một số quốc gia, theo % (Nguồn: World Bank)
Biểu đồ 2.3: Giá trị nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Châu Á, 1996-2014
Biểu đồ 4.1: Hàm phản ứng đẩy: tỷ lệ tăng trưởng của GDP Trung Quốc và Việt Nam
Biểu đồ 4.2: Phân tích phương sai: tỷ lệ tăng trưởng của GDP Trung Quốc và Việt
Nam
Biểu đồ 4.3: Hàm phản ứng đẩy: SSEC và tăng trưởng Việt Nam
Biểu đồ 4.4: Phân tích phương sai: SSEC và tăng trưởng Việt Nam
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: GDP (PPP) của Trung Quốc, các nước OECD và thế giới (Đơn vị: tỷ USD).Bảng 2.2: Giá trị giao dịch hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc với Thế Giới
Bảng 2.3: Giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2014
Bảng 3.1: GDP (PPP) của các nước trong khu vực Đơn vị: Tỷ USD
Bảng 3.2.: Thống kê mô tả
Bảng 3.3: Hiệp phương sai và hệ số tương quan
Bảng 4.1: Hồi quy tổng thể các nhân tố tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: Pool-OLS, 1999-2014
Bảng 4.2: Hồi quy tổng thể các nhân tố tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: FEM, 1999-2014
Bảng 4.3: Thương mại Trung Quốc tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: OLS, 1999-2014
Pool-Bảng 4.4: Thương mại Trung Quốc tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: FEM, 1999-2014
Bảng 4.5: Tài chính Trung Quốc tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: OLS, 1999-2014
Pool-Bảng 4.6: Tài chính Trung Quốc tác động đến tăng trưởng các nước Châu Á: FEM, 1999-2014
Bảng 4.7: Kiểm định đồng liên kết Jonhansen: tỷ lệ tăng trưởng Trung Quốc và Việt Nam, quý I/2000 – quý IV/2014
Bảng 4.8: Kiểm định nhân quả Granger: tỷ lệ tăng trưởng Trung Quốc và Việt Nam, quý I/2000 – quý IV/2014
Bảng 4.9: Hồi quy tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào tăng trưởng Trung Quốc, quý I/2000 – quý IV/2014
Bảng 4.10: Kiểm định đồng liên kết Jonhansen: SSEC và tăng trưởng Việt Nam, quý I/2000 – quý IV/2014
Bảng 4.11: Kiểm định nhân quả Granger: chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc và tăng trưởng GDP Việt Nam, I/2000 – IV/2014
Trang 11Bảng 4.12: Hồi quy tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào chỉ số giá chứng khoán Trung Quốc, quý I/2000 – quý IV/2014
Trang 12TÓM TẮT
Bài nghiên cứu phám phá mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với tăng trưởng của 25 quốc gia Châu Á được lựa chọn và đánh giá mức độ tác động thông qua các kênh dẫn truyền là thương mại và tài chính Bằng phương pháp Pool-OLS và mô hình tác động
cố định (fixed-effects model), kết hợp với dữ liệu được quan sát theo năm của 25 quốc gia Châu Á từ 1999-2014, chúng ta tìm thấy các mối quan hệ tích cực có ý nghĩa thống
kê cao Kết quả cho thấy vai trò quan trọng của kênh thương mại và tài chính Trung Quốc đến nền kinh tế các nước trong khu vực Châu Á Đồng thời, bài nghiên cứu mối quan hệ kinh tế song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam thông qua tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc và chỉ số giá thị trường chứng khoán SSEC Sử dụng phương pháp kiểm định nhân quả Granger và VECM, kết quả đều cho thấy mối quan hệ nhân quả Granger một chiều từ tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc và chỉ số SSEC tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những thập niên gần đây, vị thế của Trung Quốc trong nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên quan trọng Năm 2010, Trung Quốc vượt qua Nhật Bản và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, chỉ xếp sau Mỹ Đồng thời, Trung Quốc cũng là chủ
nợ lớn nhất của Mỹ, khi mà sở hữu 1300 tỷ USD Trái Phiếu Mỹ
Trung Quốc tăng trưởng cao không có gì khó hiểu Trong 30 năm đầu của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trung bình Trung Quốc tăng trưởng 4,2% Lúc bấy giờ Trung Quốc dù gặp nhiều trắc trở bởi kế hoạch đại nhảy vọt, Cách mạng Văn hoá nhưng là nền kinh tế có rất nhiều động lực phát triển chưa được phát huy Trung Quốc có sức lao động dồi dào chưa được sử dụng, tài nguyên phong phú chưa được khai thác nhiều Đặc biệt, Trung Quốc thiếu vốn và phương tiện quản lý, điều hành kinh tế tiên tiến Khi Trung Quốc bắt đầu cải cách và mở cửa từ năm 1978, tất cả đều ào ạt Thứ nhất, chính sách mới phát huy những động lực mà trước kia chưa sử dụng được Thứ hai, dòng vốn trung bình mỗi năm 1.000 tỷ USD đổ vào Trung Quốc, trong đó đứng đầu là Hồng Kông (Trung Quốc), tiếp đó là Mỹ, Đài Loan (Trung Quốc), Ma Cao (Trung Quốc), Châu Âu, Nhật Bản Như ruộng lúa hạn hán nứt nẻ, giờ gặp những trận mưa rào, Trung Quốc tăng trưởng rất nhanh chóng Cho nên từ những năm cải cách, Trung Quốc tăng trưởng 7-9% Quy mô nền kinh tế đã tăng gần 20 lần theo USD trong suốt
30 năm Từ 1992 Trung Quốc chuyển sang kinh tế thị trường, đặc biệt là 10 năm đầu của thế kỷ XXI, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 9,8% - tốc độ đó là bình thường Tốc
độ phát triển này còn nhanh hơn Châu Âu trong suốt cuộc Cách Mạng Công Nghiệp hoặc ở Mỹ sau khi mở cửa Tây Mỹ trong thế kỷ 19 Summer (2007) chỉ ra rằng, thực tế
sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc – quốc gia chiếm 1/5 dân số thế giới – là một trong những sự kiện phát triển kinh tế quan trọng trong thời đại chúng ta
Trang 14Ngoài tác động trong nước, tăng trưởng nhanh của Trung Quốc trong các thập niên gần
đây đã có tác động đến nền kinh tế toàn cầu Thông qua việc mở cửa, hội nhập toàn
cầu, Trung Quốc càng gia tăng mối quan hệ với phần còn lại của thế giới thông qua
giao thương quốc tế, thị trường hàng hóa toàn cầu, dòng vốn, và qua việc sử dụng tiền
tệ của Trung Quốc ở các nước, và trong mối tương quan chặt chẽ của tình hình thị
trường Trung Quốc và các nước Châu Á (kể cả thế giới) Sau 2008, Trung Quốc tiến
hành quốc tế hóa đồng Nhân Dân Tệ Cuối năm 2014, Trung Quốc ký 29 thỏa thuận
hóa đổi tiền tệ song phương và đến tháng 10/2014, đồng Nhân Dân Tệ đã vượt qua
đồng đô-la Úc và đô-la Canada để trở thành đồng tiền được sử dụng thanh toán nhiều
thứ 5 trên thế giới, gần tiếp cận với đồng Yên Nhật Mức độ sử dụng đồng Nhân Dân
Tệ trong thanh toán quốc tế trong 2 năm 2012-2014 đã tăng trên 321% Riêng năm
2014, mức tăng trên đạt 102% so với mức tăng chung 4,4% của tất cả các loại tiền tệ
khác trong thanh toán quốc tế
Tuy nhiên, từ quý III/2015 nền kinh tế bị rơi vào tình trạng suy giảm Trung Quốc đã
phá giá đồng Nhân Dân Tệ, chứng khoán Trung Quốc tiếp tục lao đốc Hãng Reuters
dẫn lời nhà kinh tế Tim Condon thuộc Hãng ING Group đánh giá: "Không ai biết điều
gì sẽ xảy ra với nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Sự mù mờ về tăng trưởng của Trung
Quốc hiện là nguyên nhân chính khiến các thị trường chao đảo” Nếu tăng trưởng của
nền kinh tế lớn thứ hai thế giới sụt giảm mạnh, sẽ kéo theo các nước khác sụt theo
Đánh giá được những biến động lên xuống của nền kinh tế Trung Quốc, thực sự có ảnh
hưởng như thế nào đến các quốc gia trong khu vực châu Á trong thời gian qua Và xem
xét các tác động kinh tế này thông qua các kênh dẫn truyền Chúng ta có thể đo lường
mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực Châu Á, đặc biệt là
Việt Nam Đồng thời, dự đoán được xu hướng tác động của mối quan hệ kinh tế này
trong thời gian tới Vì vậy, tôi chọn đề tài “nghiên cứu tác động của Trung Quốc đến
nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực Châu Á” để làm rõ các vấn đề trên
Trang 151.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực Châu Á và xem xét mối quan hệ này thông qua các kênh dẫn truyền Kênh thương mại được nghiên cứu thông qua các chỉ số xuất nhập khẩu và kênh tài chỉnh được nghiên cứu thông qua các chỉ số đại diện cho dòng tài chính và biến động trên thị trường tài chính Trung Quốc
Đặc biệt, bài nghiên cứu khám phá mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc với Việt Nam trong dài hạn và ngắn hạn Xem xét giữa Trung Quốc và Việt Nam có mối quan hệ nhân quả một chiều hay hai chiều Đồng thời, đánh giá sự tác động của biến này lên biến kia khi có một sự thay đổi, một cú sốc xảy ra
1.3 Nội dung nghiên cứu
Bài nghiên cứu được phân thành hai vấn đề lớn:
Một là, nghiên cứu mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và tăng trưởng các nước trong khu vực bằng hồi quy Pool-OLS và mô hình tác động cố định (FEM)
Hồi quy tăng trưởng của Trung Quốc, OECD và thế giới với tăng trưởng của các nước trong khu vực để đánh giá tác động tổng thể
Kiểm định tác động của kênh Thương Mại Trung Quốc (thông qua hoạt động xuất nhập khẩu) đối với tăng trưởng các nước
Kiểm định tác động của dòng Tài Chính Trung Quốc đối với tăng trưởng các nước Dòng tài chính – đại diện cho tiết kiệm quốc gia được đo lường bởi chỉ số Cán cân tài khoản vãng lai và Tài sản nước ngoài ròng Thêm vào đó, đánh giá tác động của thị trường Tài chính Trung Quốc đối với các nước Biến động thị trường tài chính được đo lường bởi lãi suất ngắn hạn (tín phiếu kho bạc Trung
Trang 16Quốc 3 tháng), lãi suất dài hạn (trái phiếu 10 năm) và chỉ số giá chứng khoán
(Shanghai Composite Index)
Hai là, bằng phương pháp đồng liên kết Jonhansen kết hợp với VECM và kiểm định
nhân quả Granger nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng Trung Quốc, chỉ số giá
chứng khoán và tăng trưởng của Việt Nam
Kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu thời gian bằng phương pháp
Augmented Dickey-Fuller (ADF) Nếu chuỗi dừng ở sai phân bậc 1, kiểm định
Bài nghiên cứu có một số đóng góp so với các tài liệu hiện có Đầu tiên, đề tài nghiên
cứu sâu hơn về từng kênh tác động cụ thể chứ không chỉ đánh giá tổng thể như các
nghiên cứu trước Thứ hai, Trung Quốc và hầu hết các nước Châu Á mới mở cửa giao
thương trong vài thập niên gần đây nên mốc thời gian được nghiên cứu trong mẫu từ
1999 – 2014 có tính cập nhật hơn Thứ ba, bài nghiên cứu rõ ràng hơn sự tác động của
Trung Quốc đối với Việt Nam thông qua tăng trưởng và Thị trường chứng khoán
Ngoài ra, đề tài giúp chúng ta khám phá và đo lường mức độ tác động của các kênh
dẫn truyền từ Trung Quốc đến các nước trong khu vực để giúp các nước trong khu vực
có thể phần nào xây dựng kế hoạch nhằm duy trì tăng trưởng, ổn định nền kinh tế khi
đối mặt với các cuộc khủng hoảng và tình hình biến động kinh tế đến từ Trung Quốc và
tìm kiếm lợi ích đa dạng hóa vốn quốc tế khi tìm kiếm thị trường ít tương quan
Trang 18CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2.1 Các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ kinh tế giữa các nước
Đã có những nghiên cứu trước đây về mối tương quan tăng trưởng giữa các nước Nghiên cứu các liên kết tăng trưởng xuyên quốc gia thường tập trung vào sự lan truyền của tăng trưởng các nước (hoặc nhóm nước) phát triển đến các nước, các nhóm nước nhỏ khác trong khu vực hoặc trên toàn thế giới Các kết quả đều ít nhiều đều đưa ra được những mối liên kết, tương quan có ý nghĩa Ví dụ như: Hyun-Hoon Lee và cộng
sự (2000) nghiên cứu sự tác động của chu kỳ kinh doanh của Mỹ và Nhật lên nền kinh
tế Úc theo hai kênh truyền dẫn là xuất khẩu và thị trường tài chính Kết quả cho thấy khi tỷ giá thả nổi, Mỹ tác động lên Úc mạnh hơn trong cả ngắn hạn và dài hạn, còn của Nhật yếu đi và chỉ tác động trong ngắn hạn Callen và McKibbin (2001) cho thấy trong khi củng cố tài chính ở Nhật, ban đầu sẽ giảm tăng trưởng trong nước, trung hạn sẽ tác động dương lên cả kinh tế trong nước và các nước trong khu vực (các nước Châu Á-Thái Bình Dương) Nới lỏng tiền tệ làm tăng hoạt động trong nước ở ngắn hạn, tác động lên các nước khu vực trong trung hạn
Sự lan tỏa tăng trưởng từ các nước khu vực lớn đến các nước láng giềng nhỏ hơn thu hút sự chú ý ngày càng tăng
Arora và Vamvakidis (2001, 2005) tập trung nghiên cứu mối quan hệ tăng trưởng giữa các nước lớn và các nước trong trong vực cũng như toàn thế giới Năm
2001, tác giả nghiên cứu tác động của tăng trưởng kinh tế Mỹ đến các nước trên thế giới và tác động theo từng khu vực Thay vì thập trung ước lượng tác động của sự biến động quốc tế (các cú sốc) lên chu kỳ kinh doanh trong nước như Ahmed và Loungani (1999, 2001) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số (a vector error-correction) để ước
Trang 19lượng tác động của các cú sốc sản lượng quốc tế lên sản lượng nội địa của vài nhóm nước trong các nền kinh tế thị trường mới nổi ở Châu Á và Mỹ Latinh Arora và Vamvakidis (2001) sử dụng mô hình tác động cố định (Fixed-effects) để mục đích phân tích tăng trưởng trong dài hạn Tác giả hồi quy các nhân tố tăng trưởng và các các biến kiểm soát qua một thời gian dài Mô hình hồi quy tỷ lệ tăng trưởng thực GDP bình quân đầu người của các nước trên thế giới (không bao gồm Mỹ) theo một loạt các biến độc lập bao gồm nhóm các yếu tố trong nước: biến trễ của GDP bình quân, phát triển nhân khẩu học (tăng trưởng dân số), tổng đầu tư trong nước, vốn con người, tỷ lệ xúc tiến thương mại; và nhóm các yếu tố nước ngoài: tỷ lệ tăng trưởng thực GDP bình quân đầu người ở Mỹ và phần còn lại của thế giới, trung bình tỷ trọng xuất khẩu trên GDP bình quân đầu người thực của các bạn hàng với mỗi quốc gia Dữ liệu được lấy từ 1980 đến 1989 cho tất cả các nước công nghiệp và các nước đang phát triển Trong đó, mỗi quan sát được tính trung bình theo 5 năm, trừ biến trễ GDP bình quân đầu người lấy dữ liệu năm đầu tiên trong từng giai đoạn 5 năm Kết quả cho thấy tỷ lệ tăng trưởng ở Mỹ
có tác động dương và có ý nghĩa thống kê lên tăng trưởng các nước khác, đặc biệt là các nước đang phát triển Tác giả tìm thấy một sự giảm sút trong tăng trưởng của Mỹ đối với các nước đạt mức 1-1 Hơn thế, các kết quả còn ám chỉ tác động của tăng trưởng Mỹ lên các nước khác có thể được giải thích bởi vai trò của nó trong quá trình giao thương
Dựa trên nghiên cứu trên, năm 2005, các tác giả này cũng xem xét tác động tăng trưởng kinh tế Nam Phi đến các nước Châu Phi còn lại Trong bài, tác giả bổ sung thêm các biến như lạm phát, tỷ lệ viện trợ, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, biến giả cho các nước nằm giáp biển, và đa dạng sắc tộc Các mối quan hệ được đo lường bằng phương pháp hồi quy Pool-OLS và mô hình tác động cố định tương tự như nghiên cứu năm 2001 Kết quả cho thấy rằng tăng trưởng kinh tế Nam Phi có tác động tích cực đến tăng trưởng ở các nước Châu Phi còn lại, ngay cả sau khi kiểm soát các yếu tố tăng trưởng khác Tác động của các cú sốc khu vực và toàn cầu, sự thay đổi trong mô hình và thời
Trang 20kỳ mẫu có ý nghĩa mạnh 1% tăng lên trong tăng trưởng của Nam Phi tương ứng 1/2 – 3/4% tăng lên của tăng trưởng các nước Châu Phi còn lại Tác giả phân tích dựa trên tỷ
lệ tăng trưởng trung bình của các nước theo từng thời kỳ nhỏ 5 năm để tránh tác động
vĩ mô ngắn hạn bị ảnh hưởng bởi các cú sốc tạm thời và chu kỳ kinh doanh Trong bài
có đề cập tác động của FDI và đầu tư danh mục đến dòng vốn của một số nước thông qua kênh liên kết tài chính Đồng thời, đề cập quy mô và và vai trò dẫn đầu của quốc gia Nam Phi trong các chính sách đa quốc gia và sáng kiến kinh tế Tuy nhiên, trong các nghiên cứu của tác giả, không khuyến khích cô lập theo từng kênh tác động mà tập trung thay thế tác động tổng hợp Vì vậy, tác giả có đề xuất cho các nghiên cứu tương lai có thể đánh giá tầm quan trọng của các kênh thay thế qua đó tăng trưởng được truyền dẫn
Frank và cộng sự (2003) nghiên cứu tác động của Mỹ đến khu vực Châu Á – Thái bình Dương và khám phá mối liên kết thông qua kênh Thương Mại, Đầu Tư và liên kết Tài Chính thông qua thị trường chứng khoán liên quan đến cuộc cách mạng IT Các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương được lựa chọn trong 2 nhóm của các nước Châu Á gồm các nước Châu Á phát triển (ADCs) như Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản và Trung Quốc cùng với 4 nước ASEAN: Indonesia, Philippin, Thái Lan Trước tiên, tác giả kiểm tra nhân quả của chuỗi thời gian GDP, và sau đó kiểm tra chuỗi thời gian chỉ số giá chứng khoán Đầu tiên, tác giả kiểm tra nhân quả của Mỹ với các nước ADCs chính gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan Trung Quốc được lựa chọn từ các nước ASEAN+ vì quy mô nền kinh tế và tầm quan trọng tăng trưởng của Trung Quốc trong nền kinh kế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương Sau khi sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị và kiểm định đồng liên kết, mô hình
tự hồi quy vector (VAR) được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa 5 chuỗi tỷ lệ tăng trưởng GDP Đối với chỉ số giá chứng khoán cũng tiến hành tương tự theo tiến trình: kiểm định quan hệ nhân quả Granger theo cặp, và kiểm định quan hệ nhân quả VAR Dữ liệu chỉ số giá chứng khoán được thu thập theo ngày ở mức giá đóng cửa cho
Trang 21mỗi 5 nước gồm Trung Quốc (Shanghai Composite, SSEC), Hàn Quốc (Seoul Composite, KS11), Nhật Bản (Nikkei 225), Đài Loan (Taiwan Weighted, TWII) và Mỹ (S&P 500, GSPC Kết quả được tìm thấy là các liên kết được tăng cường kể từ cuộc cách mạng IT Không có quan hệ nhân quả một chiều có ý nghĩa từ GDP Mỹ đến Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc Nhưng sự sụt giảm trong chỉ số giá chứng khoán
Mỹ sẽ là nguyên nhân suy thoái thị trường chứng khoán ở Nhật, Hàn, và Đài Loan, nhưng không ảnh hưởng Trung Quốc Không có ý nghĩa của quan hệ nhân quả một chiều từ GDP Mỹ đến Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc Nhưng sự sụt giảm trong chỉ số giá chứng khoán Mỹ sẽ gây nên sự suy thoái trong thị trường chứng khoán
ở Nhật, Hàn, Đài Loan, nhưng không ảnh hưởng đến Trung Quốc
Swiston và Bayoumi (2008) đã kiểm tra mức độ và các kênh lan truyền từ các khu vực chính của thế giới – Mỹ, khu vực Châu Âu, Nhật Bản và phần còn lại của thế giới - lên Canada và Mexico Tác giả nghiên cứu tác động thông qua ba kênh thương mại, giá cả hàng hóa và kênh tài chính Sử dụng mô hình VAR kết hợp với phương pháp quasi-Bayesian (được đưa ra bởi Bayoumi và Swiston, 2007) để ước lượng mối quan hệ tăng trưởng giữa các nước khi xuất hiện các cú sốc Phương pháp phân tách Cholesky không được sử dụng trực tiếp ở đây vì các mối liên kết không được sắp xếp thứ tự rõ ràng Để đo lường mức độ tác động của liên kết tài chính, tác giả sử dụng ba công cụ, cũng đại diện cho chính sách tiền tệ của các nước: lãi suất ngắn hạn (chứng khoán chính phủ 3 tháng), lãi suất dài hạn (chứng khoán chính phủ 10 năm) và giá cổ phiếu của Mỹ, khu vực Châu Âu và Nhật Kết quả chỉ ra với Canada, 1% cú sốc trong GDP thực của Mỹ chuyển dịch đến 3/4 % sang cho Canada – trong đó lan truyền tài chính quan trọng hơn thương mại trong các thập niên gần đây
Klyuev (2008) cũng khám phá mức độ liên kết tài chính giữa Canada và Mỹ, nhằm đo lường tác động trong thay đổi điều kiện tài chính ở Mỹ lên điều kiện tài chính và hoạt động kinh tế thực của Canada Ông cho rằng những biến động liên tục trên thị trường tài chính toàn cầu càng cho thấy vai trò của các liên kết tài chính giữa các nước, cũng
Trang 22như tác động của điều kiện tài chính lên hoạt động kinh tế thực Trong bài sử dụng mô hình tự hồi quy vector cấu trúc (SVAR) 6 biến bao gồm tỷ lệ lạm phát CPI, tỷ lệ tăng trưởng GDP thực, và lãi suất T-bill 3 tháng cho mỗi quốc gia Lãi suất đại diện cho điều kiện tài chính Tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát đo lường hoạt động kinh tế thực Dữ liệu được thu thập theo quý từ quý I/1983 đến quý I/2007 Số quan sát khá lớn nhưng xét ở vĩ mô các số liệu biến động không nhiều trong thời kỳ trước đó Với
dữ liệu theo quý, độ trễ được sử dụng là 4 Nghiên cứu cho thấy sự thắt chặt trong điều kiện tài chính của Mỹ tác động có ý nghĩa lên hoạt động thực ở Canada Ví dụ 1% tăng lên trong lãi suất T-bill 3 tháng (các yếu tố khác không đổi) dẫn tới giảm hơn 1% trong tăng trưởng GDP thực ở Canada sau 3 quý Điều này có thể giải thích bởi ba cách thức tác động: kênh tài chính trực tiếp, sự suy giảm là do chi phí sử dụng vốn tăng khi các công ty Canada tăng vốn ở Mỹ; kênh tài chính gián tiếp, sự tăng trưởng bị cản trở bởi các điều kiện tài chính ở Canada bị thắt chặt do phản ứng với sự thắt chặt ở Mỹ; và kênh thương mại, thông qua sự chậm lại của nền kinh tế Mỹ, và tương ứng với nhu cầu giảm trong xuất khẩu Canada
Ilahi và Shendy (2008) tìm thấy tỷ lệ tăng trưởng của GDP thực, tiêu dùng tư nhân và đầu tư tư nhân ở khu vực Trung Đông và Bắc Phi (bao gồm Pakistan) được liên kết mạnh mẽ với dòng Kiều hối và tích lũy thặng dư tài chính trong các nước GCC – Hội đồng hợp tác vùng vịnh Sử dụng phương pháp VAR, tác giả nghiên cứu các mối liên kết thông qua hai kênh là tài chính và kiều hối Khác với định nghĩa kênh tài chính như bài nghiên cứu của Swiston và Bayoumi (2008) – đại diện cho điều kiện tài chính – trong bài, Ilahi và Shendy sử dụng khái niệm kênh tài chính với ý nghĩa tích lũy dòng tài chính Vì không có dữ liệu dòng tài chính song phương giữa GCC và các nước trong khu vực cho nên tác giả sử dụng chỉ số cán cân tài khoản vãng lai được tích lũy của các nước GCC đại diện cho quy mô dòng tài chính của các nước này Dữ liệu kiều hối song phương từ các nước GCC đến các nước khác là không có sẵn hoặc không đầy
đủ Cho nên, tác giả sử dụng nguồn kiều hối từ Saudi Arabia như một đại diện dòng
Trang 23kiều hối GCC Tất nhiên mô hình được đưa vào thêm biến giá dầu, đây là động lực chính của liên kết giữa GCC và các nước trong khu vực Ngoài ra, tác giả còn sử dụng thêm các biến kiểm soát tăng trưởng gồm tỷ lệ xúc tiến thương mại, đầu tư, chi tiêu chính phủ, dân số, lạm phát và độ trễ của GDP bình quân đầu người Dữ liệu theo năm được thu thập từ 1972 – 2006 (35 năm), và để tránh các cú sốc ngắn hạn, dữ liệu được lấy trung bình theo 3 năm
Dựa trên nghiên cứu này, Alturki và cộng sự (2010) cũng tiến hành nghiên cứu mức độ tác động của tăng trưởng ở Nga với 11 nước CIS (trừ Nga) thông qua các kênh Thương Mại, Tài Chính và Kiều Hối Dữ liệu được lấy theo năm từ 1997 – 2008 Kết quả cho thấy tồn tại mối liên kết kinh tế giữa Nga và CIS và mối liên kết này bị ảnh hưởng từ cuộc khủng khoảng kinh tế Nga 1998
Hiện có rất ít nghiên cứu thực nghiệp được thực hiện để đánh giá tác động của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến các nước còn lại trên thế giới Trong đó, kể tới nghiên cứu của Arora và Vamvakidis (2010)1 cho thấy vai trò của Trung Quốc trong nền kinh
tế thế giới và đo lường tác động của tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đến các nước trên thế giới trong ngắn hạn và dài hạn Tác giả ước tính ngắn hạn dựa trên mô hình tự hồi quy vector và mô hình hiệu chỉnh sai số, kết quả cho thấy hiệu ứng lan tỏa của tăng trưởng Trung Quốc đến các nước đã tăng lên trong những thập kỷ gần đây Trong các tác động lan tỏa dài hạn, tác giả ước lượng dựa trên hồi quy dữ liệu bảng, cũng cho kết quả có ý nghĩa và mức độ tăng lên trong những thập kỷ gần đây vượt ra khỏi Châu Á Tuy nhiên, những nghiên cứu của các tác giả này đều đánh giá kết quả tác động tổng hợp chứ không tập trung xem xét trên từng kênh tác động
Có một số phương pháp để kiểm tra mối liên kết giữa nền kinh tế các nước với nhau Arora và Vamvadidis (2001) áp dụng hồi quy tăng trưởng thông thường để nghiên cứu
working paper Năm 2011, chỉnh sửa và ấn bản trên tạp chí China & World Economy
Trang 24tác động của tăng trưởng kinh tế của Mỹ đến các nước còn lại trên thế giới, mà không quan tâm đến các kênh liên kết cụ thể như tài chính, đầu tư,… và áp dụng phương pháp này cho các nghiên cứu tương tự sau đó Callen và McKibbin (2001) sử dụng G-Cubed
để nghiên cứu tác động của thay đổi chính sách Nhật lên các nước Châu Á – TBD Watanabe (1996) nghiên cứu tác động của giá chứng khoán Mỹ và biến động lên các nước Châu Á – TBD, sử dụng mô hình EGARCH (an exponential autoregressive conditionally heteroskedastic) Frank và cộng sự (2003) sử dụng Granger kiểm tra quan
hệ nhân quả của các liên kết, và sau khi tìm ra nguyên nhân và ảnh hưởng, sử dụng phân tích “phản ứng đẩy” Tác giả kiểm tra quan hệ nhân quả và các động lực của chuỗi thời gian GDP, sau đó, kiểm tra chuỗi thời gian của chỉ số giá chứng khoán Alain và Elsabé (2007) sử dụng mô hình a novel dynamic factor2 để điều tra mối quan
hệ giữa chu kỳ kinh doanh của Nam Phi với 11 nước Cộng đồng Phát triển Miền nam Châu Phi (SADC)
Các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước đều cho thấy mối quan hệ phụ thuộc giữa các nước nhỏ và các nước lớn, do đó, chúng ta kỳ vọng một mối tương giữa các quốc gia Châu Á với Trung Quốc thông qua nhiều lĩnh vực, nhiều kênh tác động
Trong bài này, chúng ta sẽ tiến hành nghiên cứu theo hai phần lớn Một là xét mối quan
hệ giữa nền kinh tế Trung Quốc và tăng trưởng của các nước trong khu vực Châu Á (25 nước được xét trong mẫu) bằng cách hồi quy dữ liệu bảng Pool-OLS và FEM cho
25 nước như phương pháp trong bài nghiên cứu của Arora và Vamvadidis (2005) Sau
đó, đánh giá tác động riêng lẻ của từng kênh Thương Mại và Tài Chính Hai là xét mối quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam theo phương pháp được trình bày trong nghiên cứu của Frank và cộng sự (2003) Chúng ta tiến hành kiểm định tính dừng, hiện tượng đồng liên kết, kiểm định quan hệ nhân quả Granger và ước lượng mô
ECARES-ULB Working Paper www.dynfactors.org
Trang 25hình VECM cho mối liên hệ giữa tăng trưởng của hai nước và mối liên hệ của thị trường tài chính Trung Quốc (chỉ số giá chứng khoán SSEC) với tăng trưởng Việt Nam
Ngoài ra, quan tâm đến dòng kiều hối giữa các nước tác động với nhau như nghiên cứu của Ilahi và Shendy Các tài liệu trước đây về tác động tăng trưởng của Kiều hối lên các nước nhận là khá mơ hồ Theo lý thuyết, kiều hối có thể hỗ trợ tăng trưởng thông qua tăng cường đầu tư vào vốn vật chất, tạo điều kiện hình thành nguồn vốn nhân lực
và đào sâu hệ thống tài chính của nền kinh tế nước nhận Nhưng nguồn kiều hối có thể còn làm giảm tăng trưởng thông qua hiệu ứng căn bệnh Hà Lan trên tỷ giá hối đoái thực (Chami và cộng sự, 2008) Bằng chứng thực nghiệm không ủng hộ mạnh mẽ quan điểm rằng Kiều hối thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng (Chami và cộng sự, 2008; Lucas, 2005) Bằng chứng từ những nước gửi lao động đến GCC chỉ ra rằng các dòng kiều hối chủ yếu dẫn tới các cuộc bùng nổ tiêu dùng, và chủ yếu chuyển thành xây dựng nhà ở
và mua đồ dùng lâu bền (Taylor và cộng sự, 1996) Mặc khác cũng có một vài bằng chứng của tác động tích cực gián tiếp lên tăng trưởng tài chính ở các nước nhận (ở các nước Trung Đông) (Billmeier và Massa, 2007) Tuy nhiên, theo dữ liệu từ World Bank dòng kiều hối từ Trung Quốc đến các nước không đáng kể, nên chúng ta sẽ bỏ qua yếu
tố này khi xem xét mối tác động của Trung Quốc đến các nước trong khu vực
Trang 262.2 Vai trò của Trung Quốc đối với các nước Châu Á
Sau Nhật Bản và những con hổ Châu Á (Nam Hàn Quốc, Singapo, Đài Loan, và HongKong), Trung Quốc được chú ý như một trong những nền kinh tế mới nổi của Châu Á đang trên đường phát triển nhanh chóng, và sắp tới là Ấn Độ Sự trỗi dậy của Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với sự tăng trưởng của Hoa Kỳ từ thế kỷ trước
Sự tăng trưởng bền vững và mạnh mẽ của một cường quốc thế giới trong tương lai là những gì chúng ta đang chứng kiến Tác động của một Trung Quốc đang trên đà bùng
nổ đến các nước phát triển và đang phát triển được kỳ vọng rất lớn
Theo dữ liệu thống kê của Eropean Commission3, Trung Quốc hiện nay vẫn là quốc gia
có dân số đông nhất thế giới (chiếm gần 1/5 dân số thế giới), tỷ lệ tăng trưởng GDP luôn được duy trì ở mức cao, tỷ lệ lạm phát duy trì ổn định ở một con số Những điều này cho thấy sự lớn mạnh của Trung Quốc không chỉ có ở Quy mô quốc gia mà còn ở
sự tăng trưởng ổn định qua các năm
Trung Quốc hiện nay đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (từ đầu 2007), mức
độ tăng trưởng nhanh hơn bất kỳ các nước lớn nào khác và đang trong quá trình để vượt qua Hoa Kỳ - nền kinh tế lớn nhất thế giới trong vòng hai thập kỷ qua Năm 2014, tốc độ tăng trưởng GDP Hoa Kỳ đạt 2.39% (tổng GDP (PPP) là 17,419 tỷ USD) trong khi tốc độ tăng trưởng GDP Trung Quốc đạt 7.35% (tổng GDP (PPP) là 18,030 tỷ USD) (nguồn: World Bank) Nhiều nhà kinh tế quốc tế tin rằng tốc độ tăng trưởng kinh
tế của Trung Quốc trên thực tế đã bị báo cáo giảm so với số liệu thực trong giai đoạn từ thập niên 1990 đến thập niên 2000, không phản ánh đủ sự đóng góp của các doanh nghiệp tư nhân vào sự tăng trưởng này Các quan sát khác dựa trên các tiêu chí như tiêu thụ năng lượng, cho tằng tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc thực sự cao hơn so với con số công bố chính thức Tuy nhiên, cũng có nhiều chuyên gia cho rằng phương
3
Website: http://ec.europa.eu/trade/
Trang 27pháp thống kê tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc là lạc hậu và làm cho con số tốc độ tăng trưởng cao hơn thực tế Dù mức độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc tạm được điều chỉnh lại nhưng con số tỷ lệ tăng trưởng trung bình 7-8% GDP của Trung Quốc vẫn là con số ấn tượng qua mỗi năm Biểu đồ 2.1 và bảng 2.1 cho thấy tốc độ tăng trưởng nền kinh tế của Trung Quốc vượt qua khối các nước OECD cũng như trung bình toàn thế giới.
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc (từ 2000 – 2014)
Nguồn: World Bank
Ở biểu đồ 2.1, ta thấy tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc đều vượt trội so với OECD
và thế giới Ta thấy rằng tốc độ tăng trưởng của OECD và thế giới khá tương đồng với nhau Đỉnh tăng trưởng của Trung Quốc đạt 14.19% (năm 2007) trong khi thế giới và OECD chỉ đạt gần 4% Cùng với khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, tỷ lệ tăng trưởng GDP của thế giới và OECD giảm trầm trọng Tốc độ tăng trưởng của OECD giảm xuống -3.56% (năm 2009), còn ở Trung Quốc nền kinh tế có suy giảm hơn nhưng vẫn ở mức tăng trưởng cao đạt 9.23% trong cùng năm
Trang 28Biểu đồ 2.2 minh họa tỷ lệ tăng trưởng của một số quốc gia Châu Á (trong mẫu) được
so sánh với tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc, OECD và thế giới Tốc độ tăng trưởng của sáu nước hầu hết nằm giữa tốc độ tăng trưởng của OECD và Trung Quốc Đồng thời, chúng khá biến động cùng với tỷ lệ tăng trưởng GDP của Trung Quốc Kazakhstan, Mông Cổ, Nga, Ấn độ biến động khá mạnh, đặc biệt sau khủng khoảng năm 2008 Còn Indonesia và Việt Nam biểu đồ tốc độ tăng trưởng khá thoải, không bị tác động nhiều bởi cuộc khủng hoảng toàn cầu Để đo lường cụ thể mối quan hệ này, chúng ta sẽ xem xét kết quả trong phần IV
Bảng 2.1: GDP (PPP) của Trung Quốc, các nước OECD và thế giới (Đơn vị: tỷ USD)
Nguồn: World Bank
Trong nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là thị trường lao động, Trung Quốc hiện nay
đã là người chơi chi phối toàn cầu Các nhà máy của Trung Quốc làm ra 70% đồ chơi của thế giới, 60% xe đạp, 50% giày và 1/3 hành lý Trong một số các sản phẩm khác,
ví dụ như điện thoại di động, Trung Quốc có vị thế và uy quyền đặc biệt trong ngành công nghiệp điện thoại cảm ứng giá rẻ hiện nay Trung Quốc là quốc gia sản xuất số lượng điện thoại Smartphone chính hãng giá rẻ lớn nhất bởi đây là công xưởng của thế giới, đồng thời cũng là thị trường tiêu thụ Smartphone lớn nhất thế giới Trong lĩnh vực ôtô, năm 2013 thị phần trên toàn cầu của Trung Quốc (chiếm 12.5%) cũng đã vượt qua
Trang 29Hàn Quốc (chiếm 9.8%) Trung Quốc tận dụng ưu thế của mình trong các ngành công nghiệp và thâm dụng lao động để thúc đẩy kinh tế, đưa Trung Quốc vào hàng ngũ các cường quốc kinh tế hàng đầu
Bảng 2.2: Giá trị giao dịch hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc với Thế Giới
Bảng A Giao dịch hàng hóa của Trung Quốc với Thế Giới
Đơn vị:
Tăng trưởng trung bình hàng năm Nhập Khẩu 1,051.50 1,251.00 1,414.50 1,467.70 1,477.70 8.9
Trang 30Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ tăng trưởng ở một số quốc gia, theo % (Nguồn: World Bank)
1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014
Việt Nam Trung Quốc
Trang 31Tăng trưởng ở Trung Quốc có thể ảnh hưởng đến các quốc gia khác thông qua nhiều kênh trực tiếp và gián tiếp Đầu tiên là thương mại Đây là một trong những động lực chính thúc đẩy kinh tế Trung Quốc Vị trí của Trung Quốc trong thương mại quốc tế ngày càng được khẳng định Trung Quốc đã bỏ qua Nhật Bản, trở thành nước đứng thứ
ba thế giới về ngoại thương, chỉ sau Mỹ và Đức Đầu năm 2006, Trung Quốc tuyên bố
sẽ trở thành cường quốc thương mại hàng đầu thế giới trong giai đoạn từ 2015 đến
2020 Trung Quốc nhập khẩu hàng hóa, các yếu tố đầu vào và sản phẩm cuối cùng có tác động trực tiếp lên xuất khẩu và GDP của nước bạn Trung Quốc là đối tác quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới, bao gồm Châu Á Ngược lại, xuất khẩu hàng hóa Trung Quốc sẽ có tác động âm trực tiếp lên xuất khẩu ròng của các nước này Trong bảng 2.2 thể hiện giá trị giao dịch hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc với thế giới Có thể thấy, giá trị xuất khẩu và nhập khẩu có giá trị lớn và tăng qua các năm Đặc biệt ở lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa, cán cân xuất nhập khẩu dương và tăng cao qua các năm
Trung Quốc là khách hàng nhập khẩu lớn nhất của Hoa Kỳ, Brazil, Nam Phi, Nhật Bản, Australia, Đức… và rất nhiều nước khác Nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước
từ các nước Châu Á cũng tăng nhanh chóng qua các năm (biểu đồ 2.3) cho thấy sức ảnh hưởng ngày càng tăng của thương mại Trung Quốc đến các nước Châu Á Bởi vậy,
sự biến động của nền kinh tế Trung Quốc là cú đánh mạnh vào các nước đối tác Năm
2014, Trung Quốc xếp vị trí đầu tiên trong danh sách các nước Châu Á xuất khẩu nhiều nhất với 2,342 tỷ USD (chiếm 36.5% tổng xuất khẩu của Châu Á) Tiếp theo sau là Nhật Bản với 683.8 tỷ USD (chiếm 10.7%) Bảng 2.3 cho thấy giá trị nhập khẩu của 15 quốc gia nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc và phần trăm trên tổng giá trị xuất khẩu của Trung Quốc năm 2014 Trong đó Việt Nam xếp thứ 7 trong các nước nhập khẩu từ Trung Quốc với hơn 63,611 triệu USD
Trang 32Biểu đồ 2.3: Giá trị nhập khẩu của Trung Quốc từ các nước Châu Á, 1996-2014
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Reuters
Việt Nam mở rộng quan hệ với rất nhiều nước, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhưng
sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc vẫn rất lớn Hiện nay, Việt Nam đang giữ vị trí cao nhất trong số các đối tác lớn như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và khu vực Đông Nam
Á (ASEAN) về mức độ phụ thuộc nhập khẩu từ Trung Quốc Năm 2004, chỉ số phụ thuộc của ASEAN cao hơn của Việt Nam khoảng 16%, thì đến năm 2014, mọi việc đã đổi chiều khi chỉ số của Việt Nam cao hơn ASEAN 21,7% Quan trọng hơn, điều này lại có xu hướng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt với một số nhóm hàng như nguyên liệu dệt may, thiết bị, linh kiện điện tử, máy móc thiết bị cơ khí
Trang 33Bảng 2.3: Giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2014
Quốc gia Giá trị (triệu USD) Phần trăm trên tổng xuất khẩu của
từ đầu năm 2015, trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Trung Quốc đạt gần 2,2 tỷ USD, chiếm 10% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam Trong khi đó, trị giá nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam hàng hóa có xuất
Trang 34xứ từ Trung Quốc đạt 7,6 tỷ USD, chiếm 31 % tỷ trọng trong tổng nhập khẩu của Việt Nam Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc là máy vi tính,sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại và linh kiện…, nhập khẩu từ Trung Quốc các mặt hàng máy móc thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, điện thoại và linh kiện… Như vậy, trong buôn bán với Trung Quốc, cán cân thương mại hàng hóa trong thời gian này thâm hụt 5,4 tỷ USD
Theo Tổng cục Thống kê, trong 7 tháng đầu năm 2015, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch ước tính đạt 28,8 tỷ USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước Theo dự báo của HSBC4, tới 2030, Trung Quốc vẫn
sẽ là đối tác lớn nhất của Việt Nam Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu từ Việt Nam vào Trung Quốc vẫn tăng ở mức 15% trong giai đoạn 2021-2030 Thậm chí kỳ vọng về tăng trưởng đi xuống, Trung Quốc vẫn có vị thế rất mạnh mẽ với dân số lớn nhất thế giới và tăng trưởng thu nhập tiếp tục gia tăng khi nền kinh tế tái cân bằng theo hướng gia tăng chi tiêu tiêu dùng Việt Nam cũng nhập khẩu mạnh từ Trung Quôc Trong hơn
5 năm qua, Việt Nam luôn nhập siêu từ Trung Quốc và tốc độ nhập siêu vẫn đang gia tăng Nhiều mặt hàng vẫn có giá trị nhập khẩu lên tới hàng tỷ USD như: máy móc thiết
bị phụ tùng; điện thoại và linh kiện; vải, nguyên phụ liệu dệt may da giày; sản phẩm điện tử; sắt thép… Sự phụ thuộc vào thương mại của Trung Quốc có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới nền kinh tế và sự ổn định vĩ mô của Việt Nam Theo HSBC, biến động của USD và NDT sẽ gây áp lực không nhỏ tới tỷ giá và tăng trưởng thương mại của Việt Nam
Ngoài ra, sự phát triển thần kỳ của Trung Quốc có sự đóng góp không nhỏ của cách thức thu hút và quản lý hiệu quả luồng vốn đầu tư nước ngoài Trong đó có nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Từ giai đoạn
2005 đến nay (Thị trường chứng khoán Trung Quốc bùng nổ), đây là giai đoạn dòng
Trang 35
vốn gia tăng một cách đột biến gắn liền với việc tự do hóa tài sản vốn cũng như hội nhập của nền kinh tế Trung Quốc sau khi gia nhập WTO Trung Quốc đẩy mạnh các biện pháp thu hút dòng vốn FPI và FDI, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua bán các cổ phiếu và các công cụ nợ được định danh bằng đồng nội tệ trên cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế Ngoài ra, sức hút của nền kinh tế và sự bùng nổ của thị trường chứng khoán đã nhiều nguồn vốn đầu tư vào Trung Quốc Từ trước 2007, Trung Quốc đã khiến cả thế giới phải ngạc nhiên chứng kiến sự mở rộng không ngừng về quy
mô cũng như mức độ sử dụng vốn FDI hàng năm vào Trung Quốc đạt khoảng 55 tỷ đô
la Nguồn vốn FDI vào Trung Quốc đã tăng với tốc độ kỷ lục, từ 4,4 tỷ USD năm 1991 lên 53,3 tỷ USD năm 2003; 60,6 tỷ USD năm 2004 và 60,33 tỷ USD năm 2005, đưa Trung Quốc lên vị trí dẫn đầu thế giới về tiếp nhận FDI, đẩy Mỹ xuống hàng thứ hai
Lý do giúp Trung Quốc thành công trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là các doanh nghiệp nước ngoài tìm thấy ở Trung Quốc một thị trường tiềm năng với quy mô thị trường lớn, nhân công dồi dào và giá rẻ, cơ sở hạ tầng tương đối tốt… Theo tính toán của IMF, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện đang chiếm 20% giá trị sản xuất công nghiệp và 54% ngoại thương của Trung Quốc5 Bên cạnh đó, nguồn vốn của Trung Quốc đầu tư vào các nước Châu Á cũng khá cao, trong đó có Việt Nam Hàng loạt dự án có số vốn đầu tư “khủng” từ vài chục đến hàng trăm triệu USD của các doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) ồ ạt đổ bộ vào ngành dệt - may Việt Nam trong khoảng từ nửa cuối năm 2014 đến nửa đầu năm 2015 Trung Quốc hiện vươn lên hàng thứ 7 trong số các quốc gia có lượng vốn đăng ký mới vào Việt Nam, nếu xét về số lượng dự án, Trung Quốc đứng ở vị trí thứ 4, chỉ sau Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore
Tuy nhiên trong thời điểm hiện tại, nền kinh tế Trung Quốc đang rơi vào trạng thái bất
ổn Theo báo cáo mới nhất của Bộ Ngân khố Hoa Kỳ6
, dòng vốn chảy ra ngoài Trung
Trang 36Quốc trong 8 tháng đầu năm đã đạt kỷ lục 500 tỷ USD, phản ánh một sự dịch chuyển tài sản đáng kể trong nền kinh tế toàn cầu Nguyên nhân đến từ các tác động những biến động thị trường chứng khoán và những điều chỉnh của Mỹ trong việc đánh giá giá trị của đồng nhân dân tệ
Biến động trên thị trường tài chính Trung Quốc được kỳ vọng tác động đến các quốc gia trong khu vực cũng như toàn cầu Sau khi tăng trưởng “nóng” giai đoạn 2014-2015, thị trường chứng khoán Trung Quốc đã bắt đầu quá trình sụt giảm từ tháng 08 năm
2015 Trung Quốc là khởi nguồn cho những bất ổn trên thị trường chứng khoán toàn cầu Kể từ lần đạt đỉnh vào 12/6 cho tới 25/8 vừa qua, chỉ số Shanghai Composite đã giảm mạnh 43%, tương đương 5 nghìn tỷ USD giá trị vốn hóa thị trường đã bị quét sạch Mặc dù vậy, nếu so với đầu năm 2014, thị trường chứng khoán Trung Quốc cũng
đã kịp tăng trưởng 50% Sự đổ vỡ của bong bóng thứ hai trên thị trường chứng khoán Trung Quốc chỉ trong một thập kỷ qua vẫn chưa có dấu hiệu ngừng lại Đồng thời động thái tiếp tục giảm giá đồng Nhân Dân Tệ và giảm lãi suất để thúc đẩy tăng trưởng có khả năng gây bất ổn cho thị trường quốc tế Diễn biến trên thị trường tiền tệ quốc tế có những dấu hiệu ảnh hưởng cụ thể Trung Quốc phá giá đồng nội tệ, kéo theo một số quốc gia (trong đó có Việt Nam) phải điều chỉnh tỷ giá đã tác động đến Doanh nghiệp sản xuất và Nhà đầu tư Tình hình Thị trường chứng khoán quốc tế không thuận lợi cũng làm gia tăng khả năng rút vốn của các Nhà Đầu Tư nước ngoài Các dòng vốn đến
từ Trung Quốc như FDI, ODA hay danh mục chứng khoán chiếm một phần không nhỏ trong tổng dòng vốn của các nước Châu Á
Trang 37CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu
3.1.1 Mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với các nước Châu Á
Tác động của nền kinh tế Trung Quốc lên các nước trong khu vực (các nước Châu Á được xét trong mẫu) có thể được ước lượng bằng việc phân tích dữ liệu bảng - là sự kết hợp của dữ liệu chéo (cross-section) và dữ liệu thời gian (time series) Chúng ta sẽ hồi quy dữ liệu bảng bởi cả hồi quy Pool-OLS7 và mô hình tác động cố định (FEM) hoặc
mô hình tác động ngẫu nhiên (REM)
Mô hình hồi quy tăng trưởng được xây dựng như sau:
Yi,t = ci + ai.Xi,t + u Trong đó,
Yi,t : là tỷ lệ tăng trưởng GDP theo năm (%) tại giá thị trường dựa trên đồng nội địa cố định của quốc gia i, trong thời điểm t
Xi,t: là ma trận của các biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy của quốc gia i, trong thời điểm t
Thực hiện kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp hơn giữa FEM và REM Điểm khác biệt giữa FEM và REM được thể hiện ở sự biến động giữa các đơn vị Thực chất kiểm định Hausman để xem xét có tồn tại tự tương quan giữa sai số εi8 và các biến độc lập hay không Trong đó, phương pháp tác động cổ định có thể kiểm soát và tách
Pool-OLS có nhược điểm là hệ số Durbin-Watson thường khá nhỏ ( bé hơn 1) cho nên hay gây ra hiện tượng tự tương quan dương và ràng buộc quá chặt về các đơn vị chéo, điều này khó xảy ra trong thực tế Điều này sẽ được giải quyết bằng việc sử dụng FEM hoặc REM
tượng khác nhau
Trang 38ảnh hưởng của các đặc điểm riêng biệt (không đổi theo thời gian) này ra khỏi các biến giải thích để chúng ta có thể ước lượng những ảnh hưởng thực (net effects) của biến giải thích lên biến phụ thuộc Các đặc điểm riêng biệt (không đổi theo thời gian) này là đơn nhất đối với một thực thể và không tương quan với đặc điểm của các thực thể khác nhằm phân tích dữ liệu chéo của các quốc gia qua thời gian Thay vì thập trung ước lượng tác động của các cú sốc quốc tế lên chu kỳ kinh doanh trong nước, mô hình này được sử dụng nhằm mục đích phân tích tác động tăng trưởng trong dài hạn
Mô hình Pool-OLS thực chất là mô hình OLS bình thường, điều này xảy ra khi chúng
ta sử dụng dữ liệu bảng như một đám mây dữ liệu bình thường không phân biệt theo năm và như vậy khi hồi quy mô hình Pool-OLS ta cần xem xét các giả thiết sau:
- Giả thiết 1: Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập là tuyến tính Các biến độc lập cho trước và không ngẫu nhiên (Có thể hiểu tính không ngẫu nhiên ở đây là giá trị của biến độc lập không đổi qua các lần đo - giá trị là lặp lại với mẫu lặp lại)
- Giả thiết 2: Sai số trong mô hình có giá trị trung bình bằng 0 và phương sai của sai số
là không đổi - Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi
- Giả thiết 3: Không có sự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình (tương quan giữa các biến độc lập trong cùng một quan sát) – Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến
- Giả thiết 4: Không có sự tương quan giữa các sai số trong mô hình – Kiểm định hiện tượng tự tương quan
- Giả thiết 5: Không có sự tương quan giữa biến độc lập và sai số trong mô hình – Hiện tượng nội sinh
Bước tiếp theo, đánh giá sự phù hợp của mô hình bằng việc xem xét có xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi và đa cộng tuyến trong mô hình hay không
Trang 39 Phương sai thông thường trong hồi quy OLS sẽ không còn phù hợp trong mô hình tồn tại phương sai thay đổi Do vậy, nếu tiếp tục sử dụng các phương sai thông thường này thì việc suy diễn của tất cả các thống kê (thống kê t, thống kê F,…) sẽ không còn phù hợp và tin cậy Chúng ta muốn kiểm tra xem giả định về phương sai đồng nhất có được duy trì hay không bằng cách đặt giả thiết H0 là:
H0: ( | ) : phương sai đồng nhất
H1: ( | ) : phương sai sai đổi
Chúng ta sẽ sử dụng kiểm định White (1980) để xem xét mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi hay không Nếu thống kê F có giá trị p>0.05, thì ở mức ý nghĩa 5% giả thiết H0 về sự đồng nhất của phương sai được chấp nhận Nghĩa là
mô hình không tồn tại hiện tượng phương sai thay đổi
Đa cộng tuyến là hiện tượng phụ thuộc tuyến tính cao giữa các biến giải thích Tức, tồn tại các hệ số λ2 , λ3 ,… λk không đồng thời bằng 0 sao cho:
λ2X2 + λ3X3 +… λkXk + vi = 0, với vi là sai số ngẫu nhiên, vi = 0: xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến hoàn hảo
Trong bài, sẽ sử dụng yếu tố phóng đại phương sai (VIF) để phát hiện đa cộng tuyến Nếu VIF >10 thì có hiện tượng đa cộng tuyến, và ngược lại, VIF<10 thì không có hiện tượng đa cộng tuyến9
Trang 403.1.2 Mối quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam
Thông qua phương pháp đồng liên kết Jonhansen kết hợp với VAR (hoặc VECM) và kiểm định nhân quả Granger chúng ta sẽ khám phá một cách rõ ràng mối liên hệ giữa nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam
Theo Frank và cộng sự (2003) phương pháp thích hợp nhất để nghiên cứu các mối liên
hệ phụ thuộc nhau, bước đầu tiên là kiểm tra quan hệ nhân quả của các liên kết, sau khi
có được nguyên nhân và các tác động, áp dụng phân tích phản ứng đẩy Chúng ta sẽ lần lượt tiến hành các bước sau:
Đầu tiên, sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị (Augmented Dickey-Fuller (ADF))
để kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ liệu Nếu các chuỗi dữ liệu không dừng, có thể xảy ra hiện tượng hồi quy giả mạo, R2 bị chệch, phản ánh sai mối quan hệ giữa các chuỗi dữ liệu Cho nên, chúng ta sử dụng thêm kiểm định đồng liên kết Jonhansen cho các chuỗi dữ liệu để kiểm tra có xảy ra hiện tượng hồi quy giả mạo hay không Giả định các chuỗi dữ liệu thời gian có xu hướng tuyến tính Nếu có hiện tượng đồng liên kết xảy ra, mô hình VECM sẽ được sử dụng để đo lường mức độ tác động giữa các chuỗi thời gian Ngược lại, mô hình VAR sẽ được sử dụng
Tiếp theo, chúng ta tiến hành kiểm định nhân quả Granger Mô hình nhân quả Granger được đưa ra theo hai phương trình: