Đề tài:HỆ THỐNG KHO HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP
Trang 1Chương 13
Thực hiện: Nhóm 9 – K06402B
Phạm Nguyễn Quỳnh Anh K06402 0234 Đặng Thị Phương Thảo K06402 0326
Nguyễn Phượng Hoàng Oanh K06402 0311 Lê Nguyễn Thanh Trúc K06402 0360
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong phạm vi vai trò của mình, những nhà quản trị khi được yêu cầu lắp đặt lại hệ thống logistics phải đối diện với sự phân công mới và đầy thử thách Để đạt được tỉ lệ thay đổi nhanh chóng trong hầu hết mọi mặt của việc tổ chức logistics, nhà quản trị mong đợi những bước nhảy to lớn khi họ cố gắng sử dụng những kinh nghiệm trước đây để hướng đến sự sáng tạo và bổ sung năng lực quản trị logistics Chính vì vậy, thành công hay thất bại phụ thuộc vào nhóm hoạch định
có thể xác định số lượng nguồn lực trong công việc hợp lý hay không và những kế hoạch hành động tốt như thế nào Có được sự am hiểu toàn diện về lý thuyết tích hợp hệ thống logistics sẽ tạo nên một bước tiến quan trọng nhằm phát triển chiến lược hợp nhất
Trong chương trước, bản chất của chiến lược logistics đã được gắn với hoạt động tối thiểu hóa chi phí đồng thời duy trì sự linh hoạt Sự linh hoạt là chìa khóa cung cấp sự thỏa mãn cơ bản đối với khách hàng ở mức cao, cùng lúc đó duy trì khả năng tổ chức hợp lý hiệu quả có thể giành được
sự mong đợi chính ở khách hàng Để khai thác hết sự linh hoạt, công ty tích hợp quá trình logistics
ở mức độ cao Sự hợp nhất đòi hỏi ở hai mức độ hoạt động:
- Đầu tiên, phạm vi hoạt động của logistics phải được hợp nhất qua hệ thống kho hàng mang tính hỗ trợ cho việc đáp ứng khách hàng, sản xuất cũng như những đòi hỏi về thu mua
Sự hợp nhất trong hệ thống rất cần thiết nếu công ty sử dụng những năng lực logistics nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh
- Thứ hai, sự hợp nhất phải mở rộng xa hơn tầm công ty đơn lẻ, bằng cách hỗ trợ mối quan hệ thông qua chuỗi cung ứng
Chương này giới thiệu một khung sườn nhằm giúp nhà quản trị đạt được sự hợp nhất như trên
Trang 41 HỆ THỐNG KHO HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP
Trước khi xuất hiện phương thức vận tải thủy bộ dựa vào chi phí thấp, phần lớn thương mại thế giới phụ vận chuyển nguyên vật liệu và sản phẩm bằng đường biển Trong suốt giai đoạn này, hoạt động thương mại tập trung quanh những thành phố cảng Vận chuyển hàng hóa bằng đường
bộ rất đắt và chậm Ví dụ, thời gian từ lúc đặt hàng quần áo xuyên lục địa Hoa Kỳ có thể mất tới chín tháng Mặc dù nhu cầu về vận chuyển nhanh và hiệu quả luôn luôn được đặt ra, nhưng mãi tới khi đầu máy xe lửa hơi nước được phát minh vào năm 1829 thì cuộc cách mạng về kỹ thuật vận tải mới bắt đầu ở Mỹ Ngày nay, hệ thống giao thông vận tải ở quốc gia này là một mạng lưới phát triển mạnh với đường xe lửa, đường biển, đường bộ và đường ống Mỗi phương thức vận tải cung cấp một loại hình dịch vụ khác nhau trong một hệ thống logistics Hình thức vận tải mang tính kinh tế cao này đã tạo ra cơ hội xây dựng một hệ thống kho bãi có năng lực cạnh tranh đề phục vụ khách hàng
Tầm quan trọng của việc phân tích địa điểm kho hàng được cân nhắc tới từ giữa thế kỉ 19, khi
Joachim von Thunen, một nhà kinh tế học người Đức, viết cuốn sách The Isilate State Theo ông
thì yếu tố quyết định để phát triển có lợi nhuận là giá đất đai và chi phí vận chuyển từ trang trại tới thị trường Giá đất được xem xét bằng cách liên hệ trực tiếp với chi phí vận chuyển và khả năng của sản phẩm có thể kiểm soát một mức giá tương xứng để có thể bù đắp mọi chi phí và lợi nhuận Nguyên lý cơ bản của Von Thunen là: giá của một sản phẩm cụ thể nhờ vào việc phát triển địa điểm sẽ giảm đi so với giá thị trường nếu quan tâm đến địa điểm kho hàng
Sau von Thunen, Alfred Weber đã khái quát nên lý thuyết về địa điểm từ ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp Hệ thống lý thuyết của Weber bao gồm rất nhiều địa điểm trải rộng trên một vùng địa lý và được liên kết với nhau bằng các chuỗi chi phí vận chuyển Weber đã phát triển một sơ đồ để phân loại các nguyên liệu chính xem chúng có phổ biến ở khắp nơi hay chỉ có ở một vài địa phương (bao gồm những khoáng thô sản chỉ có ở một số vùng nhất định) Dựa trên phân tích của mình, Weber đã xây dựng nên một danh mục nguyên vật liệu (material index) Danh mục này là tỉ lệ giữa nguyên liệu thô chỉ có tại một vài địa điểm trên tổng khối lượng thành phẩm Nhiều ngành công nghiệp áp dụng một khối lượng nguồn nguyên liệu tại địa phương dựa trên danh mục này Tận dụng hai cách đo lường này, Weber đã khái quát rằng các ngành công nghiệp sẽ có
vị trí thuận tiện nếu được đặt tại nơi tiêu thụ khi quá trình sản xuất đang tăng và được đặt tại nơi
Trang 5gần với nguồn nguyên liệu thô khi quá trình sản xuất đang giảm xuống Cuối cùng, nếu quá trình sản xuất không tăng cũng không giảm thì công ty nên lựa chọn địa điểm trung gian.
Chỉ một vài nhà lý luận đồng ý với quan điểm của von Thunen và Weber Lý thuyết về địa điểm đáng chú ý nhất được phát triển bởi August Losch, Edgar Hoover, Walter Isard và Michael Webber Những tác phẩm của họ đã nêu bật được tầm quan trọng của chuyên môn hóa về địa điểm của ngành công nghiệp, bao gồm cả xác định tầm quan trọng của sự vận tải
1.1 Hàng loạt quyết định về địa điểm
Đối với việc hoạch định logistics, vận tải đòi hỏi sự lên kết về mặt địa lý của việc sản xuất, kho bãi, và địa điểm thị trường để hình thành một hệ thống tích hợp Những kho hàng của hệ thống logistics gồm tất cả các địa điểm mà tại đó nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang hay hàng tồn kho đều được trung chuyển và tích trữ Vì vậy, các cửa hàng bán lẻ, kho thành phẩm, nhà máy sản xuất và kho nguyên vật liệu đóng vai trò là các địa điểm của mạng lưới logistics Điều đó có nghĩa rằng, việc lựa chọn các địa điểm riêng lẻ, cũng như hệ thống các địa điểm được ghép lại, tạo ra được những quyết định logistics quan trọng dựa trên chi phí và có sức cạnh tranh
Việc định vị một nhà máy sản xất có thể cần nhiều năm để hoàn thành Ví dụ, quyết định xây dựng một nhà máy lắp ráp xe Cadillac mới của General Motors mất tới 5 năm (để đi từ giấy tờ thành hiện thực) Ngược lại, sự sắp xếp kho bãi sử dụng trong một thời gian nhất định lại rất linh động Việc lựa chọn địa điểm bán lẻ thì phụ thuộc vào marketing và các năng lực cạnh tranh Các vấn đề thảo luận sau đây sẽ tập trung vào việc lựa chọn địa điểm kho bãi Trong tất cả các quyết định về địa điểm mà các các nhà quản lý logistics thường gặp phải thì hệ thống kho bãi là cái thường xuyên được quan tâm nhất
1.2 Local presence: Một kiểu mẫu lỗi thời
Một điều được tin tưởng lâu đời trong kinh doanh là một công ty phải có nhiều phương tiện ở những thị trường trong nước thì mới kinh doanh thành công Trong suốt quá trình phát triển kinh tế
ở Bắc Mỹ, dịch vụ vận chuyển thất thường đã gây ra mối nghi ngờ về khả năng giao hàng đúng giờ và ổn định Tóm lại, khách hàng nghĩ rằng một nhà cung cấp phải duy trì hàng tồn kho trong địa phương, nếu không sẽ rất khó khăn thậm chí không thể giao hàng một cách ổn định Quan điểm này thường được nhắc đến như là một khuôn mẫu “sự hiện diện của địa phương” (Local presence), điều này dẫn đến việc đưa ra các chiến lược logistics về phân phối hàng tồn kho.Vào
Trang 6đầu những năm 1960, việc các nhà sản xuất có nhiều hơn 20 nhà kho đề phục vụ riêng cho đại lục Hoa Kì là chuyện bình thường; thậm chí có nhiều công ty có nguyên một chuỗi nhà kho đặt gần tất
cả cả các thị trường chính
Khi một mô hình truyền thống mang lại thành công, như việc tồn kho tại địa phương, thì rất khó để thay đổi nó Tuy nhiên, vài thập kỉ gần đây, chi phí và rủi ro đòi hỏi phải xem xét lại điều này Dịch vụ vận tải đã phát triển mạnh, độ tin cậy tăng lên khi mà thời gian hàng đến nơi có căn
cứ và thể dự đoán được Sự tiến bộ vượt bậc về công nghệ thông tin đã rút ngắn thời gian nhận biết và truyền tải nhu cầu khách hàng Công nghệ xuất hiện để liên kết các phương tiện vận tải, bằng cách ấy, thông tin về việc giao nhận được cung cấp một cách chính xác Việc giao hàng cho ngày hôm sau từ 1 nhà kho nằm cách đó 800 đến 1000 dặm là chuyện bình thường
Nhờ có sự tiến bộ về giao thông vận tải, công nghệ thông tin và hệ thống kho bãi mà chỉ cần một số ít nhà kho hơn để phục vụ tốt khách hàng trong một khu vực địa lý Trong nhiều trường hợp, việc khách hàng còn bận tâm về “local presense” vẫn ảnh hưởng tới việc phân tán hàng tồn kho Việc trả lời cho câu hỏi “bao nhiêu phần “local presense” thì thỏa đáng?” tốt nhất là khi xem xét kĩ càng những mối quan hệ mà điều hành hệ thống logistics
2 SỰ CẦN THIẾT CỦA KHO LƯU HÀNG HÓA
Kho hàng là một phần trong một chuỗi Logistics để giảm chi phí hoặc tăng các dịch vụ đối với khách hàng Trong một vài trường hợp khác, lợi ích mà nó đem lại vừa giảm được chi phí vừa tăng được dịch vụ cho khách hàng
Kho hàng tạo giá trị cho những quá trình mà nó hỗ trợ
- Việc sản xuất cần kho để lưu trữ, phân loại và quay vòng các nguyên liệu và linh kiện Các kho hàng sử dụng để lưu nguyên vật liệu, linh kiện đầu vào của công ty thì thường được
gọi là kho hàng để cung ứng
- Kho hàng cũng sử dụng để lưu trữ, quay vòng sản phẩm và kết nối hàng lưu kho cho việc giao nhận tới tay các khách hàng tiếp theo trong chuỗi cung ứng Kho lưu hàng mà đáp
ứng cho việc đặt hàng của các khách hàng thì thường được gọi là kho hàng để đáp ứng Sự cần
thiết của kho hàng để đáp ứng thì liên quan trực tiếp với việc sản xuất và các chiến lược marketing
Trang 7Vì lý do vận chuyển nguyên vật liệu chuyên biệt và sự cần thiết của quá trình lưu hàng, kho lưu thường được phân loại về hoạt động, thành kho cung cấp dịch vụ cung ứng và kho cung cấp dịch vụ đáp ứng Các kho hàng hỗ trợ cho việc sản xuất thường được đặt gần các nhà máy mà nó
hỗ trợ; ngược lại, các kho hàng hỗ trợ cho việc đặt hàng thì thường được đặt một cách chiến lược tại khắp các khu vực địa lý là thị trường tiêu thụ mà nó phục vụ
Sự kết nối của công nghệ thông tin, sự hoàn thiện của thương mại điện tử, và các chiến lược kinh doanh đáp ứng nhu cầu đã kết hợp lại để thay đổi một cách triệt để việc sử dụng các kho lưu trữ hàng như thế nào và tại sao lại sử dụng nó
2.1 Quản trị thu mua
Công việc thu mua, như đã được đề cập ở chương 4, tập trung vào việc sắp xếp kho hàng giúp cho việc mua bán nguyên vật liệu và linh kiện với tổng chi phí đầu vào thấp nhất Quy trình phức tạp của việc mua bán, được nhìn nhận là sự kết hợp của giá cả mua bán, khấu hao số lượng, phương thức thanh toán và sự hỗ trợ của logistics; nó đòi hỏi phải đạt được chi phí phân phối thấp nhất Với nỗ lực để phát triển và hỗ trợ mối quan hệ chuyên môn và thân thiết với các nhà cung ứng, hầu hết doanh nghiệp đều giảm bớt số lượng nhà cung cấp của họ Tính logic ở đây là sự phát triển số lượng hạn chế mối quan hệ đối với nhà cung cấp, có thể được hợp nhất một cách có hiệu lực vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Mục đích của việc mua bán liên quan chính là loại bỏ phế phẩm, sự trùng lắp, và sự dư thừa không nằm trong kế hoạch
Để nâng cao hiệu quả toàn bộ hoạt động, sự tính toán chu kì vòng quay trở nên đáng chú ý trong quyết định mua bán Động lực liên quan của công việc với nhà cung cấp được giới hạn phụ thuộc vào triết lý “cradle – to – grave” (chuỗi cung ứng không khép kín từ khâu nguyên vật liệu tới người sử dụng cuối cùng), kéo dài từ việc phát triển sản phẩm mới tới cải tạo và loại bỏ nguyên
vật liệu không sử dụng đến và hàng tồn kho không bán được Ví dụ như trọng tâm vòng khép kín
(closed-loop) là kết quả từ việc mua nguyên vật liệu, mà quá trình này tác động trực tiếp đến những yêu cầu và chức năng của kho hàng để cung ứng Những dịch vụ giá trị gia tăng liên quan đến việc thu mua ngày càng bị debundled với giá cả buôn bán Cái việc debundling tạo điều kiện gắn kết công việc và lợi ích giữa nhà sản xuất và nhà cung ứng của họ Đồng thời, cũng có một xu hướng chiến lược kinh doanh dựa vào sự đáp lại, xu hướng này xác định lại mong đợi liên quan đến sự hỗ trợ của nhà cung ứng và sự tham gia của họ vào quá trình tạo ra giá trị gia tăng Kết quả chính là những mối quan hệ được hình thành, giữa những nhà phân phối và người hỗ trợ chính
Trang 8Cuối cùng, nguồn cung ứng được chọn đúng thời kỳ, cơ hội mua hàng giảm giá và nhu cầu đáp ứng cho việc sản xuất nhanh chóng sẽ giúp việc ra quyết định đúng đắn về vấn đề tồn kho nguyên vật liệu.
Theo như kết quả của xu hướng này, chức năng của phân phối kho hàng tiếp tục thay đổi Kho hàng trước đây sử dụng dự trữ nguyên vật liệu thô và linh kiện Ngày nay, vị trí những kho hàng nhấn mạnh hơn vào việc phân loại, quay vòng nguyên vật liệu và linh kiện khi chúng được đưa vào quá trình sản xuất Mục đích là sắp xếp hợp lý hóa nguồn nguyên vật liệu và linh kiện bằng cách loại bỏ những hoạt động lặp lại trong quá trình mua và dự trữ nguyên vật liệu tồn kho chính tại nhiều địa điểm thông qua hệ thống cung cấp nguyên vật liệu
2.2 Vai trò trong sản xuất
Kho lưu hàng hỗ trợ cho việc sản xuất thường được sử dụng để giao nhận các sản phẩm đã hoàn thành cho các đơn đặt đầu ra của công ty Khả năng giao nhận một loạt các mặt hàng đa dạng trái ngược với việc giao nhận một lô hàng đơn lẻ Lợi ích chủ yếu của kho lưu hàng để cung ứng là
có thể cung cấp cho các khách hàng một lô các mặt hàng đầy đủ chỉ trong một hóa đơn với một mức trọng tải xác định Thật ra, khả năng cung cấp của nhà sản xuất như người giao nhận là lý do chính cho việc chọn người cung ứng thích hợp
Ví dụ điển hình cho các kho hàng đáp ứng là hệ thống được các hãng sử dụng như: General Mills, Johnson & Johnson, Kraft và Kimble-Clark Tại Johnson & Johnson, kho hàng được sử dụng để cung cấp cho lĩnh vực y tế và tiêu dùng bằng việc đóng vai trò như là người giao nhận hàng tồn kho một lượng lớn các doanh nghiệp khác nhau Kết quả là, khách hàng có thể mua đầy
đủ các mặt hàng được phân hạng từ những doanh nghiệp khác nhau trên một hóa đơn duy nhất với một lần đặt hàng Kimbly-Clark sản xuất một lượng lớn các sản phẩm đơn lẻ trên một dây chuyền riêng biệt trong những nhà máy khác nhau Những sản phẩm tã, giấy dùng một lần như Kleenex, Scott Tissue, and Huggies được sản xuất trong tại sản lượng hiệu quả kinh tế theo quy mô, sau
đó nó được lưu trong các kho hàng đáp ứng Đơn đặt hàng những sản phẩm đã được phân hạng của mỗi khách hàng sẽ được sắp xếp tại kho này Tại Nabisco Division của Kraft những chi nhánh kho lưu trữ được đặt gần cửa hàng bán bánh Hàng tồn kho của những sản phẩm chính ở mỗi chi nhánh sẽ làm cho việc thực hiện các lô hàng với đầy đủ dịch vụ dễ dàng hơn nhiều
Yếu tố quyết định chính của các kho hàng đáp ứng cho việc sản xuất là chiến lược đa dạng hóa các sản phẩm phải được thực hiện Trong chương 4, ba chiến lược sản xuất chính là sản xuất theo
Trang 9kế hoạch (Make To Plan MTP), sản xuất theo đơn đặt hàng (Make To Order MTO), và lắp ráp theo đơn đặt hàng (Assemble To Order ATO) đã được đề cập tới Sự mở rộng các kho hàng đáp ứng phải được kết nối trực tiếp với những yêu cầu của mỗi chiến lược sản xuất Theo cách hiểu thông thường, chiến lược sản xuất MTO cần kho hàng cung ứng hỗ trợ nhiều hơn là sự hỗ trợ của kho hàng đáp ứng, có thể là không cần Ngược lại, chiến lược sản xuất MTP mà nó hướng tới nguồn lực để đạt được hiệu quả kinh tế theo quy mô một cách tối đa thực sự cần sức chứa của một kho hàng cung ứng.
2.3 Quản trị đáp ứng khách hàng
Kho hàng đáp ứng tạo ra giá trị bằng cách cung cấp hàng tồn kho phân loại theo yêu cầu của khách hàng đến những nhà bán sỉ và bán lẻ Một kho hàng được đặt ở vị trí gần khách hàng để tối thiểu hóa chi phí vận chuyển nguyên vật liệu đầu vào bằng cách tối đa hóa khối lượng hàng hóa giao nhận và quãng đường từ nơi sản xuất tiếp theo đó là các tuyến đuờng ngắn cung cấp hàng hóa cho khách hàng Độ lớn về mặt địa lý của một thị trường tiêu thụ mà được phục vụ bởi một kho hàng thì phụ thuộc vào số lượng nhà cung cấp, tốc độ phục vụ mong đợi, độ lớn trung bình của đơn hàng và chi phí phân phối một đơn vị hàng hóa tại địa phương Kho hàng tồn tại để cung cấp đến khách hàng sựà phân loại và bổ sung Một kho hàng được công nhận nếu nó đưa ra được cách
để có được dịch vụ cạnh tranh hoặc lợi thế chi phí
2.3.1 Sự bổ sung nhanh chóng
Hệ thống kho hàng đáp ứng với nhu cầu của khách hàng theo cách truyền thống mang lại cách sắp xếp sản phẩm từ nhiều nhà sản xuất và phân phối khác nhau cho người bán lẻ Một kho hàng bán lẻ tiêu biểu không thể yêu cầu một cách hiệu quả để đòi hỏi hàng tồn kho với số lượng lớn trực tiếp từ nhà bán sĩ hoặc nhà sản xuất Yêu cầu bổ sung kho hàng bán lẻ tiêu biểu, bị thay thế bằng việc nhà bán sĩ sẽ bán sản phẩm khác của nhà sản xuất khác
Hệ thống kho hàng đáp ứng nhu cầu của khách hàng thông thường là thực phẩm và hỗn hợp hàng hóa công nghiệp Kho hàng thực phẩm hiện đại thường có vị trí địa lý gần với kho hàng bán
lẻ mà nó cung cấp Từ kho hàng trung tâm, phân loại những sản phẩm được hợp nhất, có thể bổ sung nhanh chóng những loại hàng tồn kho bán lẻ, nhờ khu vực gần nhau Kho hàng bán lẻ lớn có thể nhận trọng lượng nhiều, đa dạng hơn từ kho hàng hàng ngày Vị trí của kho hàng ở trong thị trường cung cấp được xem là cách mang lại chi phí thấp nhất để bổ sung nhanh chóng hàng tồn kho phân loại, đến khách hàng cuối cùng hoặc cho người bán lẻ
Trang 102.3.2 ATO dựa trên thị trường tiêu thụ
Thiết kế một hệ thống kho hàng đáp ứng với nhu cầu khách hàng có liên hệ trực tiếp đến chiến lược phát triển hàng tồn kho Thiết lập kho hàng là kết quả của việc mở rộng hàng tồn kho trước
đó từ yêu cầu được đóan trước trong tương lai Điều đó có nghĩa rằng những công ty sản xuất đang tận dụng hệ thống phân phối, mức độ phụ thuộc vào việc dự đoán trước yêu cầu về hàng tồn kho
để bù đắp thời gian hao phí, để đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Ở bài thảo luận trước đã chỉ ra rằng hàng tồn kho mở rộng trong tương lai sau khi sản xuất là điển hình trong trường hợp, nơi công ty sản xuất để thực hiện kế hoạch hoặc khi họ được cam kết trong hợp thể phân quyền để đưa ra yêu cầu Đối với chiến lược lắp ráp để yêu cầu (Assemble To Order - ATO), thành phần thông thường hoặc không định hình được được dự trữ trong kho hàng tồn kho như mong đợi sản xuất đóng vai trò đặc biệt hoặc tập hợp tại kho hàng dựa trên những yêu cầu được thu lại từ khách hàng
Khối lượng hoạt động ATO đang ngày càng tăng lên đóng vai trò trong địa điểm đặt kho hàng, gần với khách hàng, ngược lại địa điểm sản xuất là ở trung tâm Tập trung gần với thị trường tiêu thụ chính cho phép lợi nhuận hoãn lại trong khi tránh được chi phí cao và thời gian liên quan đến việc vận chuyển trực tiếp với khoảng cách dài
2.4 Sự tồn xác đáng của các kho lưu trữ hàng
Các kho lưu trữ hàng tồn tại hiệu quả trong một chuỗi logistics, với các dịch vụ và lợi ích chi phí, do vị trí trung tâm của nó giữa người cung cấp, nhà sản xuất và khách hàng Lợi ích cạnh tranh bắt nguồn từ việc thành lập một hệ thống kho lưu hàng là có thể đem lại lợi ích giảm tổng chi phí và giao hàng nhanh chóng hơn Đứng từ khía cạnh vận chuyển một cách kinh tế, việc giảm chi phí có được là bằng cách tiến tới sử dụng kho hàng lưu trữ như là một trung tâm giao nhận Tuy nhiên, trung tâm giao nhận thường cần hàng tồn kho để lắp ráp các đơn theo yêu cầu khách hàng Thay vào đó, sự củng cố hay phân hạng có thể đạt tới bằng cách thực hiện chuỗi dịch vụ xuyên suốt hay phân loại chéo, việc này có thể thực hiện mà không cần hàng tồn kho Vì vậy mà
có sự chuyển đổi hiệu quả kho lưu hàng hóa từ hàng tồn kho sang các dịch vụ hỗn hợp Tất nhiên,vài doanh nghiệp sẽ cân nhắc sự kết hợp của hàng tồn kho và dòng hàng xuyên suốt liên tục hay tổ chức chéo để tiến tới dịch vụ cho khách hàng hiệu quả và tiết kiệm hơn Từ khía cạnh quản trị tích hợp, câu hỏi chìa khóa của thiết kế chuỗi logistics trở thành: Bao nhiêu và loại kho lưu trử hàng nào mà một hãng nên thành lập? Nên đặt nó ở đâu? Nên cung cấp dịch vụ nào? Hàng nào nên
Trang 11giữ làm hàng tồn? khách hàng nào nên cung cấp dịch vụ? Sự lặp lại của các câu hỏi tương hỗ trên đóng vai trò như là thách thức cho việc thiết kế chuỗi logistic cổ Với những hãng sản xuất, thiết
kế chuỗi từ chiến lược marketing và tiếp tục với sản xuất và kế hoạch thu mua Còn trong những hãng bán sỉ và lẻ, các nhà máy sẽ bắc cầu từ thu mua cho tới chiến lược đặt hàng của khách hàng
3 SỰ TÍCH HỢP TỔNG CHI PHÍ
Các nhân tố như vận tải và hàng tồn kho có thể xác định hệ thống kho vận ban đầu của một công ty Thảo luận sau đây xem xét chi phí mậu dịch liên quan đến vận tải và hàng tồn kho, và sự tích hợp của chúng, để xác định tổng chi phí tối thiểu của hệ thống thiết bị
3.1 Nguyên lý kinh tế của việc vận tải
Giải pháp để tiết kiệm chi phí vận tải được tổng kết trong hai nguyên tắc cơ bản sau Nguyên tắc thứ nhất còn được gọi là nguyên tắc số lượng, nó đề cập đến việc khi vận chuyển những hàng hoá riêng lẽ bằng một phương tiện vận chuyển bất kỳ thì số lượng hàng hoá được gửi phải đủ lớn đến mức có thể chuyên chở một cách hợp pháp Thứ hai là nguyên tắc thu nhỏ , theo như nguyên tắc này thì những chuyến hàng lớn nên được vận chuyển xa miễn là có thể Cả hai nguyên tắc trên đều được triển khai trong chương 8 Nếu được kết hợp sử dụng , những nguyên tắc này sẽ giúp dàn trải chi phí cố định liên quan đến việc vận tải vượt quá số lượng hay với khoản cách xa
3.1.1 Chứng minh dựa trên chi phí
Nguyên lý kinh tế cơ bản chứng minh cho việc thành lập kho hàng chính là việc kết hợp vận tải Các nhà sản xuất thường mong muốn và có xu hướng bán hàng hoá sang thị trường nước ngoài Nếu những đơn hàng của khách hàng có xu hướng nhỏ lẻ, khi đó chi phí tiết kiệm được từ việc kết hợp vận tải có thể minh chứng cho việc thảnh lập kho hàng
Để minh hoạ, giả sử khối lượng vận chuyển trung bình của nhà sản xuất là 500 pounds và phí vận tải áp dụng cho khách hàng là 7.28 / 100 pounds Mỗi chuyến hàng từ nơi sản xuất vận chuyển trực tiếp ra thị trường tốn chi phí vận tải là 36.40 Phí vận chuyển áp dụng cho những chuyến hàng có khối lượng từ 20,000 pounds trở lên (phí số lượng) là 2.40/ 100pounds Cuối cùng, phí giao hàng trong thị trường nội địa là 1.35/ 100 pounds Trong trường hợp này, sản phẩm vận chuyển ra thị trường với phí số lượng và phí phân phối nội địa sẽ tốn chi phí là 3.75/100 pounds, hay 18.75 / 500 pounds Nếu như kho hàng được thành lập, tích trữ hàng tồn kho, và vận hành với tổng chi phí thấp hơn 17.65/ 500 pounds (36.4- 18.75), hay 3.53/ 100 pounds Khi đó tổng chi phí
Trang 12cho việc phân phối hàng hoá ra thị trường bằng việc sử dụng kho hàng sẽ được giảm Như vậy thành lập kho hàng sẽ tạo ra tiềm lực để giúp giảm tổng chi phí kho vận
Bảng số liệu 13.1 minh hoạ nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng kho hàng Ta kí hiệu PL là địa điểm sản xuất, WL là vị trí kho hàng trong khu vực thị trường xác định Đoạn thẳng đứng tại
vị trí của PL , kí hiệu Pc phản ánh chi phí giao hàng và làm hàng liên quan đến việc chuẩn bị 500pounds hàng hoá LTL (C) và 20,000 hàng hoá vận chuyển bằng xe tải (A) Đường thẳng dốc lên AB phản ánh chi phí vận chuyển bằng xe tải từ xí nghiệp đến WL, giả sử đường thẳng này coi như là tuyến tính với khoảng cách từ nơi sản xuất đến kho hành Đường thẳng đứng ký hiệu WC tại điểm WL tượng trưng cho chi phí vận hành kho hàng và duy trì, bảo trì hàng tồn kho Đường thẳng D phản ánh chi phí phân phối hàng từ nhà kho đến khách hàng trong khu vực thị trường từ
Ma đến Ma’ Đường dốc CD phản ánh chi phí LTL từ xí nghiệp đến khách hàng nằm trong khu vực từ nhà máy đến vị trí Ma Phần được tô đậm tượng trưng cho vị trí mà tại đó tổng chi phí cho vận chuyển 500 pounds hàng hoá cho khách hàng bằng việc sử dụng kho hàng thấp hơn chi phí vận chuyển trực tiếp từ xí nghiệp đến nơi sản xuất
Nếu chỉ xét trong mối tương quan với chi phí, thì không có sự khác biệt giữa những khách hàng hưởng dịch vụ từ xí nghiệp sản xuất tại điểm Ma và Ma’ hay được hưởng dịch vụ từ kho hàng
Trang 13Hình 13.1: Chứng minh tính kinh tế của kho hàng dựa trên chi phí vận tải
3.1.2 Tối thiểu hoá chi phí của hệ thống vận tải
Tổng quát, kho hàng sẽ được thêm vào hệ thống với điều kiện
Với
Pv = Chi phí gia công khối lượng hàng hoá lớn
Tv = Chi phí vận chuyển khối lượng hàng hoá lớn
Wx= Chi phí lưu kho của khối lượng hàng hoá trung bình
Trang 14Lx = Phí phân phối hàng hoá nội địa của khối lượng hàng hoá trung bình
Nx= Số hàng hoá trung bình trên khối lượng hàng lớn
Px = Phí gia công khối lượng hàng hoá trung bình
Tx = Phí vận chuyển trực tiếp của khối lượng háng hoá trung bình
Hạn chế duy nhất cho việc khái quát hoá công thức này chính là khối lượng hàng hoá hiệu quả
có thể bao hàm cả chi phí cố định của mỗi phương tiện kho hàng Miễn là chi phí tổng hợp của việc lưu kho và vận tải trong địa phương bằng hoặc thấp hơn chi phí tổng hợp của việc chuyển hàng trực tiếp cho khách hàng thì khi đó việc thành lập và vận hành thêm kho hàng sẽ hiệu quả.Mối liên hệ tổng quát của chi phí vận tải và số lượng kho hàng trong hệ thống được minh hoạ trong bảng số liệu 13.2 Tổng chi phí vận tải ban đầu sẽ giảm khi ta tăng thêm số lượng kho hàng trong hệ thống kho vận Trong quá trình vận hành thực tế, vị trí tích hợp có thể là kho hàng hoặc nơi tàu neo đậu để đóng gói hàng Thực tế không cần thiết phải trữ hàng tồn kho trong kho hàng
để đạt được chi phí vận tải thấp nhất Việc giảm chi phí vận tải là kết quả của việc tích hợp khối lượng hàng vận chuyển tại địa điểm đóng gói hàng, với những chuyến hàng nhỏ cự ly ngắn đến nơi cuối cùng Chi phí vận tải trực tiếp những đơn hàng nhỏ từ nơi sản xuất đến khách hàng được phản ánh tại điểm dốc lên phía bên trái của đường cong chi phí được minh hoạ tại hình 13.2 tại điểm thấp hơn gần vị trí chính giữa của đường cong chi phí vận tải, sẽ xác định số lượng thiết bị cần thiết để đạt được sự tích hợp hàng hoá vận tải tối đa Chi phí vận tải được tối thiểu hoá tại điểm tích hợp hàng hoá
Trang 15Hình 13.2: Chi phí vận tải là yếu tố xác định số lượng nhà kho.
Nếu tiếp tục mở rộng thiết bị vượt qua điểm tích hợp tối đa, tổng chi phí vận tải sẽ gia tăng, do
chi phí đầu vào tích hợp cho mỗi thiết bị sẽ tăng Việc gia tăng tần số chi phí đầu vào mỗi chuyến
hàng nhỏ của dẫn đến việc làm tăng chi phí đầu vào tính trên 100 pound hàng hoá vận chuyển Nói
Network locations
Total Transpotation cost
Trang 16cách khác, khi tần số chi phí đầu vào của hàng hoá vận chuyển nhỏ tăng thì tổng chi phí vận tải sẽ tăng
3.2 Tính kinh tế của hàng tồn kho
Mức độ tồn kho trong hệ thống Logistic chủ yếu dựa vào số lượng kho hàng Người ta dựa vào chu kì hoạt động để lên kế hoạch triển khai hàng tồn kho Mặc dù phương tiện vận tải là một nhân
tố của chu kì hoạt động nhưng yếu tố quan trọng của tính kinh tế hàng tồn kho là thời gian Việc triển khai hiệu quả trước kế hoạch hàng tồn kho là cải thiện thời gian đáp ứng dịch vụ cho khách hàng Điều này lại làm tăng chi phi và rủi ro vì tăng số lượng nhà kho
3.2.1 Chứng minh dựa trên nền tảng dịch vụ
- Hàng tồn kho liên quan đến hệ thống nhà kho bao gồm: tồn kho cơ sở, tồn kho trong quá
trình vận chuyển và tồn kho an toàn.
• Tồn kho cơ sở là lượng hàng tồn kho tối thiểu cần thiết để duy trì hoạt động sản xuất cho toàn hệ thống
• Tồn kho trong quá trình vận chuyển là hàng hóa đang trong quá trình vận chuyển từ khu vực sản xuất đến khu vực dự trữ hoặc giữa các kho với nhau
• Tồn kho an toàn là lượng tồn kho mà một công ty cần duy trì nhiều hơn so với nhu cầu bình thường để đề phòng trong trường hợp nhà cung cấp giao hàng chậm trễ hoặc do khách hàng thay đổi nhu cầu
- Xét trong toàn hệ thống, hàng tồn kho trung bình được tính:
2
n s
Trang 17IT: Hàng tồn kho trong quá trình vận chuyển
- Khi ta tăng số lượng nhà kho thì số vòng quay hoạt động sẽ tăng lên, và nó ảnh hưởng đến lượng hàng tồn kho được yêu cầu cho toàn hệ thống
• Đối với dự trữ cơ sở:
Dự trữ cơ sở không bị ảnh hưởng khi số lượng nhà kho tăng lên Mức độ dự trữ cơ sở trong hệ thống được xác định dựa vào quy mô sản xuất và phương tiện vận tải, hai yếu tố không bị thay đổi khi có sự thay đổi của số lượng nhà kho cung ứng Sự kết hợp của chi phí bảo quản và chi phí đặt mua hàng, đã được điều chỉnh sẽ góp phần xem xét giá vận chuyển, giá chiết khấu mua hàng, xác định EOQ (là số lượng hàng hóa tối thiểu cung cấp ra thị trường) bổ sung và tổng dự trữ cơ sở Trong trường hợp thu mua đúng lúc, dự trữ cơ sở, được xác định bằng số lượng đơn đặt hàng, sẽ
hỗ trợ hoạt động sản xuất và lắp ráp theo kế hoạch Trong những trường hợp khác, dự trữ cơ sở không phụ thuộc vào số lượng nhà kho cung ứng trong hệ thống
• Dự trữ trong quá trình vận chuyển
Trong lúc vận chuyển, lượng hàng tồn kho chắc chắn sẽ đến tay khách hàng sẵn sàng để giao cho khách hàng nhưng không phải giao bằng cách thông thường mà bằng cách sử dụng một giấy xác nhận đã nhận đơn đặt hàng của khách hàng hoặc là dựa vào khả năng cầm cố hàng tồn kho trong hệ thống quản lý đơn đặt hàng Khi số vòng quay hoạt động được dự đoán đúng tăng lên thì
số lượng hàng tồn kho trong quá trình vận chuyển giảm xuống Nguyên nhân là do tổng số ngày vận chuyển trong hệ thống Logistics, và tính không chắc chắn giảm xuống Để minh họa, giả sử
như chỉ có một sản phẩm duy nhất được bán ở thị trường A và thị trường B, hàng hóa cung cấp
cho hai thị trường đều lấy từ nhà kho X, như minh họa ở Hình 13 Giả sử như dự đoán doanh số trung bình hàng ngày của thị trường A là 6 đơn vị, thị trường B là 7 đơn vị Vòng quay hoạt động
ở A là 6 ngày, ở B là 10 ngày
Trang 18Hình 13.3: Hệ thống Logistics: Hai thị trường và một nhà kho
Hình 13.4: Hệ thống Logistics: Hai thị trường và hai nhà kho
Với những yếu tố khác giữ cố định, chuyện
gì sẽ xảy ra với hàng tồn kho trong quá trình vận chuyển nếu như một kho hàng thứ hai được thêm vào, như minh họa ở hình 13.4? Bảng 13.1 đưa ra bảng tóm tắt những kết quả Sự thay đổi ở đây là vòng quay hoạt động của thị trường B đã giảm từ
10 xuống 4 ngày Vì vậy, kho hàng thứ hai đã làm giảm hàng tồn kho trung bình trong quá trình vận chuyển của chuỗi từ 53 còn 32 đơn vị Nên chú ý là kho hàng thứ hai không tạo ra thêm vòng quay hoạt động ở khía cạnh đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong dòng Logistics Tuy nhiên, ở khía cạnh đầu vào, mỗi sản phẩm được tích trữ trong kho hàng mới sẽ yêu cầu một nguồn bổ sung Giả định rằng có một mặt hàng chứa đầy mỗi kho hàng, thì số lượng vòng quay hoạt động được yêu cầu lấp đầy lại chuỗi sẽ gia tăng mỗi khi một kho hàng mới được thêm vào
Bảng 13.1 Hàng tồn kho trong quá trình vận chuyển dưới những chuỗi Logistics khác nhau
Trang 19Bảng 13.2 Cấu trúc logistics: Một nhà kho, bốn nhà máy
Mặc dù có sự gia tăng nhu cầu về sự lấp đầy lại hàng tồn kho, nhưng trung bình hàng tồn kho trong quá trình vận chuyển cho toàn bộ chuỗi giảm khi những kho hàng mới được thêm vào bởi vì
có sự giảm sút trong số ngày cần để phục vụ khách hàng Giả định rằng kho hàng X được cung cấp bởi bốn nhà máy sản xuất với những vòng quay hoạt động và doanh số trung bình dự đoán được biểu diễn trong bảng 13.2
Nhằm mục đích so sánh, giả sử một đơn vị có giá trị là 5$ cho toàn bộ hàng hóa trong kho hàng Chỉ tận dụng kho hàng X, hàng tồn kho trung bình trong quá trình vận chuyển sẽ là 2835 đơn vị, mỗi đơn vị là $5, hoặc là $14175
Bảng 13.3 Cấu trúc logistic: 2 kho hàng, 4 nhà máy
Trang 20Bảng 13.3 minh họa sự có thêm kho hàng Y Hàng tồn kho trung bình trong quá trình vận chuyển trong hai kho hàng của chuỗi logistic giảm xuống còn 2248 đơn vị, mỗi đơn vị 5$, là $11
240 Vì vậy, ngay cả khi có sự tăng lên của số vòng quay bổ sung mà dùng để lấp đầy lại bốn nhà kho mới trong chuỗi Logistics, thì thời gian vận chuyển trung bình vẫn giảm, bởi vì có sự giảm sút của tổng số ngày lấp đầy lại
Sự gia tăng những kho hàng chủ yếu sẽ làm giảm tổng số ngày vận chuyển và vì vậy sẽ làm giảm hàng tồn kho trong quá trình vận chuyển Kết quả sẽ tùy thuộc vào mỗi tình huống cụ thể Mỗi mạng lưới địa điểm phải được phân tích kỹ lưỡng để quyết định tác động hàng tồn kho trung bình trong quá trình vận chuyển Điều then chốt để hiểu toàn bộ bản chất của mối quan hệ này là nhớ rằng tổng số ngày vận chuyển giảm ngay cả khi số lượng vòng quay hoạt động yêu cầu tăng lên Tính chất ở đây là trong khi có sự gia tăng của số vòng quay hoạt động chủ yếu sẽ làm giảm
số ngày vận chuyển, nó cũng có thể làm gia tăng sự không ổn định cho toàn bộ thời gian giữa lúc bắt đầu và lúc hoàn thành một quá trình sản xuất mới Khi số lượng vòng quay hoạt động tăng lên
Trang 21thì sẽ làm tăng khả năng đổ vỡ của chuỗi mà sẽ dẫn đến sự thất bại tiềm năng của toàn bộ dịch vụ chuỗi Ảnh hưởng tiềm năng này bị điều chỉnh bởi hàng tồn kho an toàn.
Hàng tồn kho an toàn được thêm vào để bố trí và vận chuyển hàng tồn kho nhằm hạn chế sự không ổn định của doanh số và vòng quay hoạt động Cả hai sự không ổn định này chính là do thời gian Sự không ổn định doanh số là do nhu cầu của khách hàng vượt quá doanh số dự đoán trong khoảng thời gian lấp đầy lại Sự không ổn định của vòng quay hoạt động là do sự biến thiên trong tổng số ngày yêu cầu để lấp đầy lại hàng tồn kho Theo quan điểm của hàng tồn kho an toàn, kết quả kỳ vọng của việc tăng thêm kho hàng sẽ làm gia tăng hàng tồn kho trung bình của chuỗi Mục đích của hàng tồn kho an toàn là nhằm tránh sự cổ hàng tồn kho ngoài ý muốn trong quá trình lấp
đầy lại hàng tồn kho Vì vậy, nếu như hàng tồn kho an toàn tăng lên do bởi sự có thêm kho
hàng thì toàn bộ tính không ổn định của chuỗi ắt hẳn cũng tăng.
Sự tăng thêm kho hàng vào chuỗi logistic sẽ ảnh hưởng đến tính không ổn định của chuỗi theo hai hướng Thứ nhất, bởi vì số ngày vòng quay hoạt động giảm nên tính biến thiên của doanh số trong quá trình lấp đầy cũng như sự biến thiên của vòng quay đều giảm Vì vậy mà sự giảm bớt độ dài của vòng quay hoạt động ở một vài mức độ sẽ làm suy giảm nhu cầu của hàng tồn kho an toàn nhằm tránh đi sự biến thiên
Việc thêm vào những địa điểm cũng làm ảnh hưởng đáng kể lên hàng tồn kho dự trữ trung bình Mỗi vòng quay hoạt động mới được thêm vào chuỗi sẽ tạo ra thêm nhu cầu về hàng hóa an toàn Việc đưa thêm vào một kho hàng phục vụ cho một thị trường riêng biệt sẽ làm giảm quy mô phân phối được thống kê, mà quy mô phân phối này dùng để quyết định lượng hàng tồn kho an toàn yêu cầu cho mỗi kho hàng Thực sự thì quy mô khu vực thị trường được phục vụ bởi bất kỳ
cơ sở chức năng sẵn có nào sẽ giảm mà không có sự giảm tương ứng của tính không ổn định Giải thích rõ hơn là, khi nhu cầu của nhiều thị trường được kết hợp lại bằng cách sử dụng một kho hàng đơn lẻ, sự biến thiên của nhu cầu sẽ được tính trung bình theo thị trường Điều này cho phép những mức nhu cầu cao nhất trong một thị trường được bù đắp bởi mức nhu cầu thấp trong các thị trường khác Điều cơ bản là hàng tồn kho nhàn rỗi của một thị trường có thể dùng để đáp ứng những yêu cầu về hàng hóa an toàn của những thị trường khác
Để minh họa rõ, bảng 13.4 cung cấp bảng tóm tắt doanh số hàng tháng của ba thị trường xét trên sự kết hợp lại và riêng lẻ của từng cái Doanh số trung bình của sự kết hợp ba thị trường này
là 22 đơn vị mỗi tháng, với sự dao động lớn nhất là vào tháng 6, khi mà doanh số đạt đến 29 đơn