Đề tài: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo khu vực kinh tế trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005
Trang 1MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt………2
Danh mục bảng biểu………3
Lời mở đầu……… 4
Phần I: Giới thiệu đề tài nghiên cứu……… 6
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài……….……….6
1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu……….………… 7
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài……….….7
1.4 Ý nghĩa của đề tài……….….8
1.5 Phương pháp số liệu mảng………9
Phần II: Phân tích thực trạng……… 14
A Tổng quan tình hình hoạt động của các DN từ 2000 đến 2005……… 14
B Tình hình hoạt động của các DN theo KVKT từ năm 2000 đến năm 2005……… 16
1 Hoạt động của DNNN……….16
2 Hoạt động của DNTN……… 22
3 Hoạt động của DN FDI……… 23
C Quan hệ về hoạt động kinh doanh của DN theo KVKT……….……… 23
1 So sánh tỷ suất sử dụng vốn theo ngành của các KVKT……….24
2 So sánh lợi nhuận trên lao động theo KVKT……… 27
3 So sánh mức trang bị vốn cho lao động theo KVKT……… 28
Phần III: Mô hình kinh tế lượng……… 30
3.1 Số liệu……….30
3.2 Mô hình biến mảng……….32
Phần IV : Kết luận chung và khuyến nghị……… 45
A Nhận xét chung……… 45
B Khuyến nghị……… 51
Trang 2DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
DN FDI : Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
ULOLS : Ước lượng bình phương nhỏ nhất
KVKT : Khu vực kinh tế
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU.
Bảng 1: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNNN theo ngành kinh tế………24
Bảng 2: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNTN theo ngành kinh tế………24
Bảng 3: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn của DNTN theo ngành kinh tế………25
Hình 2.1: Biểu đồ tỷ suất lợi nhuận trên vốn theo năm của các khu vực kinh tế… 27
Hình 2.2: Biểu đồ mức trang bị vốn cho 1 lao động theo năm của các khu vực kinh tế… 29
Bảng 3.1: Ước lượng mô hình tác động cố định của DNNN……… 33
Bảng 3.2: Ước lượng mô hình tác động ngẫu nhiên của DNNN……….……… 33
Bảng 3.3: Kiểm định Hausman cho khu vực nhà nước……… 34
Bảng 3.4: Ước lượng mô hình tác động cố định của DNTN……… 35
Bảng 3.5: Ước lượng mô hình tác động ngẫu nhiên của DNTN………35
Bảng 3.6: Kiểm định Hausman cho khu vực tư nhân……….36
Bảng 3.7: Ước lượng mô hình tác động cố định của DN FDI………37
Bảng 3.8: Ước lượng mô hình tác động ngẫu nhiên của DN FDI……… 38
Bảng 3.9: Kiểm định Hausman cho khu vực FDI……….….39
Bảng 3.10: Ước lượng mô hình tác động cố định cho ngành 1……… 40
Bảng 3.11: Ước lượng mô hình tác động ngẫu nhiên cho ngành 1………41
Bảng 3.12: Kiểm định Hausman cho mô hình ước lượng của ngành 1………… 42
Bảng 4: bảng tổng kết về sự ảnh hưởng của lao động và vốn đến lợi nhuận của DN trong nền kinh tế……….43
Trang 4Đề TÀI: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo khu vực kinh tế trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005.
Lời mở đầu
Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, Chính sách tài chính quốcgia hướng vào việc tạo ra vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã hội, tăngnhanh sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân… là yếu tố quyết định sống còn đốivới các doanh nghiệp nói riêng và sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung.Chính vì vậy, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề cấp bách đặt ra đối với nước
ta trong bối cảnh hiện nay
Trong quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế quốc tế, nền kinh tế thị trường
và toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu của tất cả các nước trên thế giới Để đạt đượcđiều đó, nước ta phải cố gắng rất nhiều Nước ta là nước có xuất phát điểm thấp, cơ
sở hạ tầng kém phát triển, cơ chế quản lý còn nhiều thiếu sót và hạn chế Chính vìvậy, để cùng hội nhập và thực hiện tiến trình phát triển kinh tế trên toàn thế giới,nước ta đang có những chính sách mới được đưa ra để phù hợp với điều kiện củađất nước Tìm ra được những ngành nghề để phát huy sức mạnh và những lợi thếriêng của đất nước, xem xét khu vực kinh tế nào hoạt động có hiệu quả để phát huy
và hoàn thiện, khu vực kinh tế nào còn nhiều yếu kém và hạn chế thì cần đổi mới
và có chính sách hỗ trợ kịp thời Đó chính là vấn đề được đảng và nhà nước đặcbiệt quan tâm
Để thực hiện được mục tiêu đó, yếu tố mà nhà nước có thể nhận định được để đưa
ra các chính sách sao cho phù hợp nhất chính là hiệu quả hoạt động giữa các ngànhnghề kinh tế và giữa các khu vực kinh tế Tìm ra các yếu tố tác động đến hiệu quả
sử dụng vốn ở các doanh nghiệp, việc sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực trong các
Trang 5khu vực sở hữu khác nhau, trong các ngành kinh tế khác nhau để có những chínhsách tác động trực tiếp và gián tiếp luôn là bài toán hóc búa với các doanh nghiệpnói riêng và nhà nước nói chung.
Qua nghiên cứu và được các thầy cô hướng dẫn tận tình, các cô chú và anh chịtrong phòng phân tích và dự báo chiến lược của bộ lao động thương binh và xã hội,
do vậy em quyết định chọn đề tài : “ Các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp theo khu vực kinh tế” Do thời gian hạn chế, kinhnghiệm thực tế chưa nhiều, vì vậy đề tài này không tránh khỏi những sai sót Emrất mong được sự đóng góp quý báu của các thầy cô để việc nghiên cứu của emđược hoàn thiện hơn
Trang 6PHẦN I: Giới thiệu đề tài nghiên cứu.
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Tình hình thế giới:
Ở các nước có nền kinh tế phát triển, việc sử dụng vốn là yếu tố hàng đầu góp phầnthúc đẩy tăng trưởng và phát triển các ngành nghề đòi hỏi kĩ thuật cao Một sốnước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Anh… lượng vốn đầu tư vào các ngành côngnghệ cao chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số vốn Bên cạnh đó việc thực hiệnchính sách xuất khẩu để thu lợi nhuận, đồng thời có thêm lượng vốn để đầu tư làchính sách hàng đầu của các nước phát triển Các nước phát triển trên thế giới luôntận dụng được các nguồn lực để nâng cao sức cạnh tranh trong kinh doanh, sửdụng vốn hiệu quả, đem lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp, đồng thời thúcđẩy tăng trưởng kinh tế
Tình hình trong nước:
Việt Nam là một trong những nước đang trên đà phát triển và hội nhập kinh tế thếgiới, vì vâỵ nước ta đang đứng trước những khó khăn và thử thách lớn Nước ta lànước có dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào, giá cả nguồn nhân lực rẻ nhưng không
vì thế mà yếu tố này có thể thay thế được cho lượng vốn đầu tư Bởi vậy, để thựchiện quá trình phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho các đơn vị kinh tế cũng nhưngười dân trong cả nước, chúng ta cần xem xét nguồn vốn bị chi phối bởi nhữngnhân tố nào, đầu tư vốn trong ngành nào mang lại lợi nhuận cao, có khả năng cạnhtranh với các nước và tận dụng được lợi thế so sánh của mình Tìm hiểu cách thức
sử dụng vốn, lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp là vấn đề cấp thiết đối với nước ta hiện nay để có thể đưa rađược các chính sách tác động phù hợp và kịp thời đối với nền kinh tế của đất nước
Trang 71.2 Xác định vấn đề nghiên cứu.
Như đã nói ở trên, nhu cầu cần thiết được đặt ra là xem xét yếu tố tác động đếnhiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp theo ngành kinh tế và sự khácnhau về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong các khu vựckinh tế Trước tiên, ta nghiên cứu vấn đề theo chuỗi thời gian từ năm 2000 đếnnăm 2005 Đề tài này được đưa ra nhằm đánh giá được ngành nào đạt hiệu quảkinh tế cao, ngành nào chưa cao, nguyên nhân tại sao lại có sự khác biệt đó Đặcbiệt, trong đề tài này, yếu tố quan trọng nhất đó là tìm hiểu hiệu quả của việc sửdụng vốn và lao động trong các doanh nghiệp khác nhau như thế nào trong khu vựckinh tế nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài Điều này nhằm tìm ra yếu tố tác động đến kết các doanh nghiệp trong cáckhu vực kinh tế Yếu tố nào tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp thì nên chú trọng hoàn thiện và phát huy hơn nữa Còn yếu tố nào tác độngtiêu cực thì nên đưa ra biện pháp khắc phục cho phù hợp với tình hình phát triểnchung của đất nước
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu vấn đề hiệu quả sử dụng vốn của nước ta hiện nay với mục đíchtìm ra được ngành kinh tế phù hợp với thế mạnh phát triển của đất nước Mục tiêunghiên cứu vấn đề nhằm đưa ra được mô hình chính xác, và thực hiện trongkhoảng thời gian gần đây nhất, từ đó có thể đưa ra được xu thế sử dụng vốn củangành nào là phù hợp nhất với tình hình phát triển chung của nền kinh tế thế giới.Trong mô hình xây dựng biến biến phụ thuộc là lợi nhuận, các biến độc lập là vốn,lao động và chi phí trung gian Việc xây dựng mô hình nhằm mục đích kiểm định
và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận theo những chiều hướng nào Môhình được thực hiện theo thời gian từ năm 2000 đến năm 2005, các biến giải thích
Trang 8là vốn, lao động và chi phí trung gian sẽ ảnh hưởng ra sao đến lợi nhuận của doanhnghiệp, từ đó có thể xác định được hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiêp.
Đề tài cũng nhằm mục tiêu đánh giá xem hiệu quả sử dụng ở các khu vực kinh tếtheo chiều hướng nào để điều chỉnh các chính sách một cách hợp lý nhằm mục tiêu
để các doanh nghiệp tìm ra đường đi đúng đắn, nâng cao được khả năng cạnhtranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một khu vực kinh tế, giữa các doanhnghiệp trong các khu vực kinh tế khác nhau
1.4 Ý nghĩa của đề tài.
Đây là một đề tài không hề mới, vấn đề này được nghiên cứu từ rất lâu Tuy nhiên,hiệu quả sử trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN luôn là đề tài được tranhcãi nhiều Trong những năm qua, các nhà hoạch định chính sách luôn dựa vào hiệuquả sử dụng vốn, sử dụng lao động như thế nào trong DN để có biện pháp hỗ trợnhững ngành còn yếu kém tìm ra hướng đi phù hợp cho các doanh nghiệp, đồngthời có thể đưa ra biện pháp bảo hộ cho hoạt động của một số các doanh nghiệptrong những lĩnh vực như độc quyền như điện, xăng…
Đề tài này đưa ra được yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận Vì vậy, nghiên cứu đề tàinày để đánh giá hiểuhiệu quả sử dụng vốn trong ngành nào là đạt kết quả cao, khuvực kinh tế nào sử dụng vốn có hiệu quả hơn Ngoài ra đề tài nghiên cứu có sửdụng phương pháp số liệu mảng Đây là phương pháp xử lý dữ liệu còn khá mới,tuy nhiên trong việc phân tích số liệu thì đây là một phần mềm khá hữu dụng vàđưa ra các ước lượng mang tính chính xác Sử dụng phương pháp biến mảng đểnghiên cứu vấn đề một cách tổng quan, và tránh được những khuyết tật của môhình trong khi ước lượng, do vậy sẽ có được những ước lượng chính xác hơn
Trang 91.5 Phương pháp số liệu mảng.
1.5.1 Định nghĩa về phương pháp số liệu mảng.
Trong cùng những đơn vị quan sát trong một mẫu tiêu biểu được khảo sát từ 2 lầntrở lên, kết quả quan sát được biểu diễn dưới dạng bảng số liệu theo chiều dọc,thực hiện theo thời gian NSLY( The National Longitudinal Survey of Youth) đãbắt đầu với các cuộc khảo sát vạch ra ranh giới vào năm 1979 và cùng những cánhân đó được phỏng vấn nhiều lần từ đó, hàng năm đến tận năm 1994 theo chu kỳ
2 năm 1 lần Tuy nhiên, đơn vị quan sát dữ liệu mảng không chỉ là những cá nhân,
mà còn là hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc các vùng địa lý, có thể tồn tại trongthực thể và giữ tính đồng nhất qua thời gian
Số liệu mảng bao gồm những mẫu tiêu biểu và độ dài chuỗi theo thời gian Việcghép như vậy ở các mô hình hồi quy để phù hợp với mô hình kinh tế, phân tíchđược nhiều khía cạnh phức tạp hơn so với việc sử dụng dữ liệu đơn Việc phân tích
số liệu mảng có thể thấy sự khác biệt và xu hướng diễn ra theo thời gian của cácmục tiêu nghiên cứu Việc sử dụng số liệu mảng có thể giải quyết các vấn đề về sailệch mà nguyên nhân là do không quan sát được tính đồng nhất trong số liệu điềutra mẫu, đây là vấn đề chung trong việc điều chỉnh mô hình với dữ liệu được chiacắt theo thời gian
Lý do thứ 2 mà chúng ta có thể khai thác được từ phương pháp phân tích số liệumảng đó chính là phân tích để có thể bộc lộ ra những chức năng mà rất khó để pháthiện được trong số liệu mẫu.Chính vì vậy, phương pháp số liệu mảng ngày càngđược sử dụng nhiều trong việc sử lý số liệu
Điều hấp dẫn thứ 3 của phương pháp số liệu mảng là chúng thường có số lượngquan sát rất rộng, và các quan sát kết nối đối tượng ở nhiều thời điểm khác nhau.Nếu có n đơn vị quan sát và cuộc khảo sát được thực hiện trong khoảng thời gian
Trang 10T, thì có khả năng là sẽ có nT quan sát trong chuỗi thời gian T và n đơn vị tươngđương Trong trường hợp của NLSY, có hơn 6000 cá nhân tham gia thí dụ điểm.Cuộc khảo sát được thực hiện 19 lần vào năm 2004, như vậy tổng số quan sát đãlên đến 100000 quan sát Hơn thế nữa, việc thực hiện và duy trì chúng rất cần chiphí rất cao, nên phương pháp số liệu mảng hướng tới nội dung nghiên cứu toàndiện và hoàn thiện hơn.
1.5.2 Mô hình tổng quát của phương pháp số liệu mảng.
Ta có phương trình như sau:
Yij = β1 + β2*X2ijX2ij+… + βk*X2ij Xkij + Ui +εij.
Trong đó:
Yij: là biến phụ thuộc của quan sát i trong thời kỳ j
Xkij: biến ngoại sinh
Với mỗi cá thể, Ui là ảnh hưởng của yếu tố không quan sát đuợc và không thay đổitheo thời gian, nó đặc trưng cho mỗi cá thể Nếu Ui tương quan với bất kỳ biến Xj
nào thì ước lượng hồi quy từ hồi quy Y theo Xj sẽ bị ảnh hưởng chéo bởi nhữngyếu tố không đồng nhất không quan sát được Thậm chí, nếu Ui không tương quanvới bất kỳ một biến giải thích nào thì sự có mặt của nó cũng là nguyên nhân làmcho các ước lượng OLS không hiệu quả,và sai số tiêu chuẩn không có hiệu lực Vìvậy, ta phải tìm cách loại trừ ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được
Có 2 loại mô hình được sử dụng phổ biến là:
- Mô hình tác động cố định
- Mô hình tác động ngẫu nhiên
Trang 111.5.2.1 Mô hình tác động cố định.
Mô hình tác động cá thể riêng biệt cho phép mỗi đơn vị theo không gian(mỗi cá thể, mỗi doanh nghiệp, hoặc mỗi quốc gia, ) có số hạng chặn khác nhaumặc dù tất cả các hệ số góc là như nhau, cho nên:
xit it
i it
y (2) trong đó it có phân bố xác định và độc lập đối với i và t Hệ số i là biến ngẫunhiên thể hiện các đặc tính không quan sát được, trong phần này chúng ta giả thiết
nó là biến ngoại sinh
it i,xi1, ,xiT 0 , t 1 , ,T,
E (3)nghĩa là, số hạng sai số được giả thiết là có kỳ vọng có điều kiện theo giá trị quákhứ, hiện tại và tương lai của các biến giải thích bằng 0
Trong mô hình (2), khi αi được coi như một biến ngẫu nhiên không quan sát được,
nó có khả năng tương quan với các biến quan sát được xit Mô hình dạng này là môhình tác động cố định
Trong mô hình sử dụng số liệu mảng, nếu αi và εij không có tương quan với nhau,khi đó ta có thể coi αi như một biến giải thích thông thường, khi đó αi không thayđổi theo j mà chỉ thay đổi theo i
Trong việc sử dụng số liệu mảng, khả năng ước lượng mô hình tác động cố định(fixed effects model - FE) là khá chính xác Trong mô hình tác động cố định,những đặc tính không quan sát được của mỗi cá thể có thể tương quan với các biếngiải thích Những đặc tính không quan sát được có thể dẫn đến khuyết tật của môhình như bỏ sót biến, về nguyên tắc khuyết tật này của mô hình có thể được khắcphục bằng phương pháp biến công cụ khi sử dụng số liệu chéo, nhưng trong thựchành thì rất khó có thể tìm được một biến công cụ thực sự giá trị Số liệu mảng vớirất ít thời kỳ (giả sử có hai thời kỳ) cho chúng ta cách để xử lý nếu tác động riêng
Trang 12biệt của cá thể không quan sát được và không thay đổi theo thời gian.
1.5.2.2 Mô hình tác động ngẫu nhiên.
Trong trường hợp các biến mà chúng ta quan tâm là hằng số cho mỗi cá thể, hồiquy ảnh hưởng cố định sẽ không phải là công cụ hiệu quả bởi vì nó không bao gồmcác biến này Hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên đưa ra 2 điều kiện và cung cấp cáchgiải quyết cho vấn đề này
Trong mô hình tác động ngẫu nhiên, Ui có tương quan đến εij, do đó ta không thểxét Ui như một biến độc lập do vi phạm giả thiết của OLS, điều này dẫn đến cácước lượng bị chệch và không vững, như vậy việc ước lượng mô hình sẽ có thểkhông chính xác Để giải quyết vấn đề này, ta phải gộp 2 yếu tố này vào để trởthành một sai số ngẫu nhiên Ta có mô hình như sau:
Yij = β1 + β2*X2ijX2ij+… + βk*X2ij Xkij + Ui +εij.
= β1 + β2*X2ijX2ij+… + βk*X2ij Xkij + vit
đó các ULOLS sẽ là UL vững và hiệu quả Nếu có tồn tại tương quan, ULOLS sẽchệch và không vững Do vậy, để có thể phân tích chính xác, tránh được những
Trang 13khuyết tật của mô hình ta sử dụng kiểm định này để lựa chọn mô hình phù hợphơn Kiểm định Hausman là kiểm định giả thiết:
H0: Ui và biến độc lập không tương quan
H1: Ui và biến độc lập có tương quan
Khi giá trị(Prob>chi2) <0.05 thì ta bác bỏ giả thiết H0, khi đó ta có Ui và biến độclập có tương quan, khi đó ta phải sử dụng mô hình tác động cố định Và ngược lại,khi giá trị(Prob>chi2) >0.05, lúc đó cho ta chấp nhận giả thiết H0, tức là Ui và biếnđộc lập không tương quan.Khi đó, để tránh những sai lầm của mô hình, có thể dẫnđến những ước lượng không chính xác,ta sẽ sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên
Trang 14Phần II: Tình hình thực tế về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam theo khu vực kinh tế giai đoạn từ 2000 đến năm 2005.
A Tổng quan về tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2005.
Ngày 11 tháng 5 năm 2000, tổng cục thống kê công bố kết quả điều tra thựctrạng doanh nghiệp Việt Nam trong 3 năm từ năm 2002 đến năm 2004 Điểm đáng
lo ngại nhất là số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng quy mô nhỏ, phân tán và côngnghệ kĩ thuật thủ công lạc hậu
Năm 2004, bình quân 1 doanh nghiệp chỉ có 72 lao động và 24 tỷ đồng tiền vốn.Năm 2000, số lao động là 84 và vốn sử dụng là 26 tỷ đồng Như vậy, xu hướng quy
mô nhỏ ngày càng phát triển do 3 năm qua, doanh nghiệp mới chủ yếu là tư nhânvới quy mô nhỏ và siêu nhỏ Doanh nghiệp dưới 10 lao động chiếm 46%, từ 10 đếndưới 50 lao động chiếm 35% Về quy mô vốn, số doanh nghiệp dưới 10 tỷ đồngchiếm 86%, trong đó hơn 1 nửa là dưới 1 tỷ đồng Những ngành tập trung nhiềudoanh nghiệp có quy mô vừa và lớn là công nghiệp, bình quân 154 lao động và 32 tỷđồng tiền vốn, tiếp đó là vận tải, thong tin liên lạc và xây dựng Quy mô nhỏ vàphân tán là ngành thương nghiệp, bình quân 18 lao động và 6 tỷ đồng tiền vốn.Doanh nghiệp ngành khách sạn nhà hang bình quân là 27 lao động và 9 tỷ đồng tiềnvốn
Do phần lớn doanh nghiệp có mức vốn thấp (dưới 10 tỷ đồng) nên khả năng trang
bị máy móc thiết bị, kĩ thuật công nghệ tiên tiến là rất hạn chế Mức trang bị tài sản
cố định cho 1 lao động ngoài quốc doanh là 50 triệu đồng, chỉ bằng 20% so vớidoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 15Tổng cục thống kê cũng chỉ ra rằng, Doanh nghiệp phát triển còn mang tính tựphát, chưa có định hướng rõ rang Số doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệmhữu hạn chiếm 77,5% số doanh nghiệp được thành lập từ năm 2000 trở lại đây,nhưng biến động tới gần 20% hàng năm Nhiều tỉnh có hàng nghìn doanh nghiệpnhưng từ 70 đến 80% trong số đó chỉ có từ 1 đến 5 lao động và số vốn không quá 5
tỷ đồnh như Long An, Đồng Tháp, Nam Định… Doanh nghiệp nhà nước và doanhnghiệp nước ngoài phát triển ổn định và có định hướng rõ ràng hơn, nhưng rất ítdoanh nghiệp có quy mô lớn, đặc biệt Việt Nam chưa có 1 tập đoàn kinh tế lớnmạnh nào
Trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển, năng lựccạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam được xem là đáng lo ngại Số doanhnghiệp kinh doanh thua lỗ tăng từ 19% năm 2000 lên hơn 23% năm 2003, với mức
lỗ hàng chục nghìn tỷ đồng mỗi năm, gần bằng 1/4 số vốn hoạt động của các doanhnghiệp này Trong khi đó, số doanh nghiệp kinh doanh có lãi, năm cao nhất mớichiếm 73% với mức lãi thấp( 50 đến 89 nghìn tỷ đồng) Theo thống kê, tổng số lãitính đến năm 2003 là 10.825 tỷ đồng, tổng lãi là 89.054 tỷ đồng Nhìn từ thực tế tathấy rằng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong các ngànhkinh tế, các khu vực kinh tế là chưa thực sự hiệu quả Cũng có thể nhận định rằngcách thức sử dụng vốn của các doanh nghiệp còn nhiêu bất cập, chưa hiệu quả.Khả năng cạnh tranh của mới khẳng định được ở một số mặt hàng sản phẩm vàdịch vụ thông thường Trong khi đó, quyền lợi của người lao động trong rất nhiềudoanh nghiệp đang bị xem nhẹ Số liệu công bố còn cho thấy, doanh nghiệp chưađóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động chiếm hơn 70% tổng sốdoanh nghiệp hiện có
Nhìn tổng quan về các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trongnước thật đáng lo ngại, hoạt động chưa hiệu quả, năng lực cạnh tranh còn kém so
Trang 16với thị trường quốc tế Mục đích hoạt động còn chưa có định hướng rõ ràng, chưa
có hướng đi hiệu quả và hợp lý, chính sách sử dụng vốn còn kém, các hoạt độngcòn phân tán, manh mún
B Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp theo khu vực kinh tế giai đoạn
Theo cuộc họp của thủ tướng chính phủ với lãnh đạo các tập đoàn, tổng công tynhà nước hôm 8-8 năm 2008 đã nêu ra nhiều vấn đề xung quanh tình hình hoạtđộng sản xuất, kinh doanh, đặc biệt việc định giá lại nguồn vốn được nhiều doanhnghiệp đề nghị Bộ tài chính dẫn nguồn báo cáo của các tập đoàn, tổng công ty nhànước (trừ các ngân hàng thương mại nhà nước, tổng công ty đầu tư và kinh doanhvốn nhà nước, các tổng công ty đã cổ phần hóa) cho thấy hoạt động của các đơn vịsản xuất kinh doanh của các đơn vị này đạt kết quả tốt
Tổng doanh thu năm 2007 của các tập đoàn , tổng công ty tăng 24%, tổng lợinhuận tăng 23% so với năm 2006 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 17%( năm 2006 là 16%), 6 tháng đầu năm 2008, 8 tập đoàn và 96 tổng công ty vẫn đạtdoanh thu 59%, lợi nhuận đạt 53% và nộp ngân sách đạt 67% kế hoạch cả năm.Hết năm 2007, vốn chủ sở hữu ở các tập đoàn, tổng công ty đã tăng 18% và tổng
Trang 17tài sản tăng 26% (khoảng 927 ngàn đồng) Những nguồn tăng này chủ yếu đượchình thành từ tích lũy lợi nhuận và tiền bán cổ phần từ các công ty con Theo đó,đầu tư của công ty mẹ và công ty con, công ty liên kết trong năm 2007 cũng đãtăng lên và chiếm 24% vốn của chủ sở hữu Việc cổ phần hóa cũng thu về cho quỹ
hỗ trợ, sắp xếp doanh nghiệp của các tập đoàn, tổng công ty hiện nay là 24 ngàn tỷđồng
1.2 Những hạn chế còn tồn tại trong hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước từ năm 2000 đến nay.
1.2.1 Quản lý và sử dụng vốn chưa hiệu quả
Theo số liệu của kiểm toán nhà nước (KTNN) công bố ngày 17 /8/2005 đã đưa rabản báo cáo toát lên vấn đề kiểm đâu sai đấy, đặc biệt là có nhiều điểm nóng saiphạm tài chính được phát hiện Có 3 điểm nóng:
1 Điểm nóng đầu tiên là hiện tượng khai sai thuế, giấu thuế và nợ đọng thuếkhá phổ biến ở các doanh nghiệp nhà nước Trong số 19 tổng công ty thì cótới gần 300 tỷ đồng tiền thuế được kiến nghị thu thêm Cá biệt như tổngcông ty tà thủy Việt Nam, số thuế thu thêm lên đến 63,9 tỷ đồng thuế VAT;công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị là 33,3 tỷ đồng tiền thuế thu nhậpdoanh nghiệp Cũng chính loại doanh nghiệp này đang nợ đọng nhữngkhoản tiền thuế khổng lồ là hơn 4300 tỷ đồng và hơn 25% số này không thểthu hồi
2 Điểm nóng khác chính là việc sử dụng vốn đầu tư không đúng mục đích Bộgiao thông vận tải chi sai mục đích là 143,6 tỷ đồng, chương trình kiên cốhóa trường học chi sai mục đích là 167 tỷ đồng, cũng có hơn 1400 tỷ đồngtrong số hơn 6000 tỷ đồng thu vượt dự toán được sử dụng nhưng không tuânthủ quy định và không được HĐND tỉnh thống nhất
Trang 183 Điểm nóng nhất vẫn là đầu tư và xây dựng cơ bản Theo đánh giá củaKTNN, sai phạm trong đấu thầu thực sự nổi cộm và là căn nguyên củanhững tiêu cực, lãng phí và thất thoát Số liệu đưa ra đáng để giật mình như
dự án đường Chiềng Ngân (Sơn La) có giá trị 238,8 tỷ đồng mà vẫn đượcchỉ định thầu và giá thầu cao hơn phê duyệt tới 18,8 tỷ đồng Hiện tượnggiàn xếp, xé lẻ để chỉ định thầu, đấu thầu chui khiến cho nhiều công trình bịảnh hưởng nghiêm trọng
1.2.2 Các doanh nghiệp nhà nước chưa hoạt động hết khả năng của mình.
Điều đáng lo ngại là theo kết quả của các báo cáo kiểm toán chuẩn đoán đượccông bố vào ngày 21 tháng 1 năm 2004 Tất cả các đơn vị này đều đang hoạt độngdưới khả năng của mình, bởi một lý do là không có động cơ kích thích họ nỗ lựchơn Việc kiểm toán chẩn đoán các doanh nghiệp nhà nước là một phần của dự án:
Hỗ trợ kĩ thuật thực hiện chương trình kiểm toán phân tích doanh nghiệp nhà nước
và được thực hiện bằng nguồn tài trợ không hoàn lại của chính phủ Australia, ĐanMạch, Nhật Bản, ủy thác của ngân hàng thương mại thế giới(WB) Việc kiểm toánđược thực hiện bởi các công ty KPMJ- Australia, KPMJ- Thai Lan, Ernst -Young(Australia)…
Bà Lê Anh Tú, cố vấn kĩ thuật của dự án cho biết, tỷ suất lợi nhuận trên vốncủa chủ sở hữu trung bình của các doanh nghiệp của nhà nước được kiểm toán là7,6%, thấp hơn nhiều so với mức 12% của các doanh nghiệp tham gia thị trườngchứng khoán Trung Quốc và mức 24% của các công ty tương tự ở Ấn Độ Quanđiểm thống nhất của các chuyên gia tư vấn quốc tế là các doanh nghiệp có tiềmnăng tạo ra mức tỷ suất lợi nhuận cao hơn nhưng bị cản trở bởi các lý do thể chếkhác nhau Cụ thể là sự thiếu vắng 1 cơ chế khuyến khích công bằng được gắn kếtvới những mục tiêu hoạt động cụ thể của ngành Các tổng công ty và doanh nghiệpthành viên được giao những mục tiêu phi lợi nhuận( phúc lợi xã hội), do đó làm
Trang 19giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp Theo quy định hiện hành, các tổng công
ty thực hiện rất nhiều vai trò đa dạng khác nhau và không thể hoạt động như mộtđơn vị kinh doanh vì lợi nhuận do phải làm công việc như một cơ quan hỗ trợ vàgiám sát hiệu quả của các doanh nghiệp thành viên Những mục tiêu xác định làkhác nhau, do đó doanh nghiệp không thực hiện được hiệu quả
Bên cạnh đó, trong một số ngành, chính phủ quyết định mức giá bán tối đa, do
đó các doanh nghiệp dựa theo đó mà ấn định mức giá bán( gồm giá trần và giá sàn)cho các thành viên, gây ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả hoạt động của các thànhviên Thực tế cho thấy các doanh nghiệp trực thuộc không được bán vượt ngoàikhung của tổng công ty, do vậy các đơn vị thành viên bị mất thị phần vào các đơn
vị liên doanh không thuộc quyền kiểm soát của tổng công ty
1.2.3 Sai lầm trong cách thức quản trị của doanh nghiệp nhà nước.
Điều bất cập rất lớn đối với các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là vấn đề sửdụng lao động Theo chúng ta đã biết, chế độ dụng nhân và chế độ đãi ngộ là mộttrong những yếu tố quan trọng trong hoạt động quản trị và phát triển nguồn nhânlực, đem lại sự thành công cho doanh nghiệp Tuy nhiên điều này đã không đượccoi trọng trong hầu hết các doanh nghiệp nhà nước Chính vì vậy , các doanhnghiệp nhà nước hiện nay đã mắc phải một số sai lầm trong quản trị và tuyển dụnglao động
Nguyên nhân có thể có ở các vấn đề sau:
1 Doanh nghiệp nhà nước đang trong tình trạng thiếu hụt nhân sự có năng lực,yếu kém về năng lực quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp.Trong chính sáchdụng nhân, các doanh nghiệp thường mắc sai lầm nghiêm trọng trong khi lặplại cơ chế sắp xếp, bố trí cán bộ trong cơ quan hành chính sự nghiệp của nhànước Cơ chế bổ nhiệm cán bộ quản lý, lãnh đạo tuân theo các tiêu chí cơ
Trang 20bản như: phải là đàng viên, có thâm niên công tác, và thuộc diện cán bộ quyhoạch của tổ chức đảng trong doanh nghiệp đó Tài năng đôi khi cũng chỉ làđiều kiện đủ chứ chưa phải là điều kiện cần.Theo cơ chế bổ nhiệm nêutrên,như vậy một người trẻ, có tài năng, mới vào làm cho doanh nghiệp nhànước khó mà được trọng dụng và bổ nhiệm vào các vị trí quản lý, lãnh đạo.Bên cạnh đó, chúng ta luôn bắt gặp đâu đó một doanh nghiệp nhà nước nhưmột nhà trẻ hoặc là nơi giải quyết “ chế độ, chính sách”, bởi công nhân viên
đa phần được gửi gắm, hoặc chuyển ngành trong các khu vực nhà nước.Hoạt động tuyển dụng trong doanh nghiệp nhà nước đôi khi không tuân thủtheo nguyên tắc “có việc mới tìm người” mà ở trong tình trạng “có người rồimới tạo ra việc” Như vây, dù có tuyển nhiều lao động nhưng làm việc cònmang tính chất hành chính, không năng động trong công việc, kéo theo điềunày là năng suất lao động trong khu vực kinh tế này không cao
2 Một yếu tố khác cũng góp phần quan trọng tạo ra tình trạng yếu kém của độingũ nhân sự trong các doanh nghiệp nhà nước đó chính là chế độ đãi ngộ:
Cơ chế trả lương và chính sách động viên khen thưởng Mặc dù doanhnghiệp nhà nước là tổ chức kinh doanh thu lợi nhuận và tự trang trải chi phí,nhưng lại bị bắt buộc áp dụng hệ thống thang lương- bảng lương này là cơchế trả lương không theo năng lực lao động, mà dựa trên bằng cấp, chứcdanh công việc, và thâm niên công tác Nếu như tại các doanh nghiệp tưnhân, 1 sinh viên mới ra trường có thể đề nghị mức lương của mình, vàdoanh nghiệp chủ động đưa ra một mức lương phù hợp mà cả 2 phía có thểchấp nhận được Nhưng điều này rất hiếm xảy ra ở các doanh nghiệp nhànước, dẫn đến tình trạng người có năng lực nhưng mới ra trường luôn cómức lương thấp hơn một người bình thường nhưng có thâm niên làm việc làđiều rất hay gặp trong các doanh nghiệp nhà nước
Trang 213 Hệ thống thang lương – bảng lương nhà nước quá phức tạp, dẫn đến tiêucực, không công bằng trong cách trả lương Hiện tượng “thưởng tronglương” rất phổ biến trong các doanh nghiệp nhà nước Đó là biến tướng củaviệc buộc phải chi sai quỹ tiền lương nhằm đảm bảo thu nhập đủ sống chocông nhân viên của doanh nghiệp (vì lương theo hệ số của thang lương –bảng lương quá thấp) Bất cập này là nguyên nhân chính của tình trạng lãncông, tâm lý “không cần làm nhiều vì lương vẫn thế” trong đại bộ phận củadoanh nghiệp
4 Chính sách động viên khen thưởng cũng chẳng khác gì lương Bằng cấp vàyếu tố thâm niên vẫn là những đặc điểm cơ bản nhất dùng làm tiêu chí đểthực hiện Vì thế, nó không còn mang tính khích lệ, động viên kịp thời đốivới người có cống hiến, có hiệu quả trong giải quyết công viêc Ví dụ, tạimột doanh nghiệp nhà nước, giám đốc quyết định mỗi phòng được cử mộtcán bộ quản lý và một nhân viên xuất sắc đi du lịch nước ngoài Sau khi tiếnhành lựa chọn, đa phần người được chọn là người có thâm niên công táchoặc có ảnh hưởng nhất định tại phòng, trong khi đó những nhân viên trẻ cónăng lực, có cống hiến thực sự thì lại không được đề cử Điều này đã dẫnđến tình trạng bất bình đẳng trong tập thể người lao động
5 Chế độ khen thưởng hàng năm lại mang tính hình thức Việc bình bầu A, B,
C và tính chất bình bầu không thực tế Để không mất lòng mọi người, ai aicũng xếp loại A, hi hữu mới có trường hợp xếp loại C là dành cho nhữngngười mới vào làm việc
Trên đây là những bất hợp lý trong chế độ đãi ngộ đã không kích thích được sựphấn đấu, cạnh tranh bằng năng lực giữa các nhân viên
Bên cạnh đó, lượng vốn mà các doanh nghiệp nhà nước sử dụng không hiệuquả, còn lãng phí rất nhiều như các công trình xây dựng cầu vượt, các công
Trang 22trình xây đường, nhà máy… Tiền vốn bỏ ra nhiều mà lợi ích sử dụng khôngcao, không thiết thực để áp dụng vào thực tế
2 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) vừa công bố kết quả điều tra “Môitrường kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam 2001” Trong đó, cácnhà quản lý cho rằng, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề làm chi phí giao dịch trong kinhdoanh cao do trình độ quản trị thấp
Các DNTN không đạt được hiệu quả kinh tế cao là vì các DNTN thường rất khóxin đăng kí kinh doanh những ngành nghề mà trước đây Nhà nước độc quyền như
du lịch lữ hành quốc tế, xuất khẩu lao động, khai khoáng… Chính vì vậy, hoạtđộng của các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam còn rất hạn chế, hiệu quả khôngcao, hầu như không có doanh nghiệp tư nhân nào có quy mô lớn
Từ năm 2000 đến nay, trên Hà Nội có hơn 40.000 DNTN đăng kí thành lập Tuyphát triển nhanh về số lượng, nhưng chất lượng hoạt động của các doanh nghiệpnày chưa tương xứng Theo đánh giá của cơ quan chức năng, tuy phát triển nhanh
về số lượng, nhưng chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp này chưa tươngxứng với thế mạnh của một thành phố được coi là một trong những “đầu tàu” củakinh tế cả nước Không ít doanh nghiệp sau khi đăng kí thành lập đã không thểhoạt động do chưa chuẩn bị được các yếu tố kinh doanh cần thiết Ông Lưu TiếnLong, Giám đốc Sở Công nghiệp Hà Nội cho biết, hoạt động của các doanh nghiệp
tư nhân Hà Nội hầu hết còn mang tính tự phát Tổng vốn đăng kí của hơn 40.000DNTN ở Hà Nội xấp xỉ 100.000 tỷ đồng Như vậy, mỗi doanh nghiệp chỉ có sốvốn pháp định trung bình khoảng 2,5 tỷ đồng (chỉ có 15 doanh nghiệp có vốn phápđịnh trên 10 tỷ đồng) Các doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực tạo ra
Trang 23lợi nhuận nhanh, vốn đầu tư thấp như thương mại, dịch vụ Những lĩnh vực quantrọng như nông nghiệp sạch, công nghiệp chế biến, công nghiệp xây dựng và chếtạo… lại được ít doanh nghiệp đầu tư Ngoài ra, tình trạng chung hiện nay là cácDNTN không thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao.
3.Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
Khi nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới,xuất khẩu là yếu tố quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế Trong các khu vực kinh
tế, doanh nghiệp có vốn đẩu tư nước ngoài (FDI) giữ vị trí hàng đầu trong việc tạo
ra giá trị xuất khẩu Doanh nghiệp FDI tham gia xuất khẩu hầu hết các mặt hàngchủ lực và chiếm tỷ trọng cao trong nhiều mặt hàng công nghiệp như hàng dệtmay, giày dép, điện tử, máy móc, thiết bi… Riêng trong năm 2008, các doanhnghiệp FDI đã xuất khẩu đạt 24,2 tỷ USD, chiếm 44% trong tổng kim ngạch xuấtkhẩu Nếu tính cả dầu thô thì đạt 34,5 tỷ USD và chiếm 55% tổng kim ngạch xuấtkhẩu Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay,trong quý I, tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước chỉ tăng 2,4 %, thấp nhất trongnhiều năm qua, trong đó khu vực kinh tế FDI giảm mạnh nhất
Tuy phải đối mặt với những khó khăn chung của nền kinh tế, doanh nghiệp FDIvẫn là khu vực kinh tế hoạt động mang tính hiệu quả vì cách thức quản lý mangtính chuyên nghiệp và chế độ tuyển dụng nguồn nhân lực mang tính hiệu quả hơn
so với các thành phần kinh tế khác
C Mối quan hệ về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp theo khu vực kinh tế giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005.
Trang 241 So sánh tỷ suất sử dụng vốn giữa các doanh nghiệp theo ngành của các khu vực kinh tế.
Trang 25Ngành 1: Là ngành trồng trọt, nông nghiệp và săn bắn.
Ngành 2: Là ngành khai mỏ và khai thác than đá
Ngành 8: Giao thông, kho và các phương tiện truyền thông
Ngành 9: Môi giới tài chính
Trang 26Ngành10: Hoạt động cho thuê, kinh doanh đất, cho thuê điền trang và tài sản.
Ngành 11: Giáo dục
Ngành12: Chăm sóc sức khòe và công việc xã hội
Từ bảng 1, bảng 2 và bảng 3 ta có thể thấy được tỷ suất sử dụng vốn của cácdoanh nghiệp có sự khác nhau giữa các ngành theo khu vực kinh tế Theo các bảngtrên ta thấy, đối với ngành 1, các DNNN có tỷ suất sử dụng vốn cao hơn so vớiDNTN và doanh nghiệp FDI Cụ thể ta thấy, tỷ suất lợi nhuận trên vốn ngành 1 củaDNNN là 9.96, trong khi tỷ lệ này ở khu vực kinh tế tư nhân là 3.66 và khu vựcFDI là 3.60 Bên cạnh đó, ngành công nghiệp chế tạo( ngành3) của DNNN cũng có
tỷ suất sử dụng vốn cao hơn so với các DNTN và doanh nghiệp FDI
Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận trên vốn của doanh nghiêp FDI trong ngành kinhdoanh nhà hàng và khách sạn bằng 8.46 lại cao hơn so với khu vực kinh tế nhànước là 1.33và khu vực kinh tế tư nhân là 4.89 Đây là ngành dịch vụ quan trọngđối với mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế Điều này chứng
tỏ các doanh nghiệp trong nước chưa có khả năng cạnh tranh và có hướng đi phùhợp trong lĩnh vực này so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đặcbiệt trong bảng ta cũng nhận thấy ngành khai mỏ và khai thác than đá của khu vựcnày đạt tỷ suất sử dụng vốn cao nhất, cao hơn rất nhiều so với các DNNN vàDNTN
Trong bảng trên ta thấy các DNTN đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn trong ngành 5đạt 16.65 , trong khi đó các DNNN chỉ đạt 6.73 và các doanh nghiệp FDI đạt 4.49.Như vậy, đây là ngành mà các DNTN có thể phát huy và đầu tư phát triển hơn, nó
có khả năng cạnh tranh trên thị trường sản xuất trong lĩnh vực này
Trang 27Như vậy, các doanh nghiệp trong các khu vực kinh tế cần phát huy và phân bổvốn đầu tư vào các ngành mà có khả năng cạnh tranh cao hơn so với các doanhnghiệp trong các khu vực kinh tế khác sao cho hiệu quả cao hơn Bên cạnh đó,những doanh nghiệp muốn kinh doanh ở những ngành mà các doanh nghiệp ởnhững khu vực kinh tế khác đã đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần chuẩn bị mọi điềukiện và chịu thách thức lớn để có thể cạnh tranh được trên thị trường sản xuất trongnhững ngành đó Cụ thể, nếu DNNN và DNTN muốn hoạt động trong lĩnh vựckinh doanh nhà hàng và khách sạn thì cần phải có hướng đi cụ thể, tìm hiểuphương pháp thực hiện, cách thức đầu tư vốn có quy mô và hiệu quả thì mới cạnhtranh được với doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực này
2 So sánh lợi nhuận trên lao động của các doanh nghiệp theo khu vực kinh tế trong giai đoạn từ 2000 đến 2005.
Ta có sơ đồ về tỷ suất lợi nhuận trên vốn theo năm của cả 3 khu vực kinh tế như sau:
Hình 2.1