Đề tài: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Trang 1CHƯƠNG I :
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Những lý luận chung về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.1.1 khái niệm, chức năng và vai trò của phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp được sử dụng
để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý đưa rađược quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó giúpnhững đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính củadoanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của họ
1.1.1.2 Chức năng
Trong quá trình tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp sẽ thực hiện bachức năng: đánh giá, dự đoán và điều chỉnh tài chính doanh nghiệp:
- Chức năng đánh giá: Phân tích tài chính phải chỉ ra sự chuyển dịch giá trị,
sự vận động của các nguồn tài chính, nó nảy sinh và diễn ra như thế nào, có tácđộng ra sao đến quá trình kinh doanh, chịu ảnh hưởng của những yếu tố nào, cógần với mục tiêu kinh doanh và phù lợp với cơ chế chính sách hay không
- Chức năng dự đoán: Phân tích tài chính sẽ cho thấy tiềm lực tài chính, diễnbiến luồng tiền chuyển dịch giá trị, sự vận động của vốn hoạt động trong tương laicủa doanh nghiệp
- Chức năng điều chỉnh: Phân tích tài chính giúp doanh nghiệp và các đốitượng quan tâm nhận thức rõ nội dung, tích chất, hình thức và xu hướng phát triểncủa các quan hệ kinh tế tài chính có liên quan, kết hợp hài hòa các mối quan hệ đóbằng cách điều chỉnh thường xuyên các mối quan hệ nội sinh
Trang 2+ Tạo ra chu kỳ sản xuất kinh doanh đều đặn, thực hiện cân băng tài chính,tăng khả năng sinh lời, tăng khả năng thanh toán và giảm rủi ro tài chính.
+ Tăng cường hay cắt giảm đầu tư, phân phối lợi nhuận đáp ứng nhu cầuphát triển của doanh nghiệp trong từng thời kỳ mà vẫn đảm bảo lợi ích của chủ sởhữu và người lao động
+ Dự đoán tài chính
+ Kiểm tra, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp
- Đối với các nhà đầu tư: Dựa vào kết quả phân tích tài chính, các nhà đầu
tư có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của đồng vốn mà mình đã giao cho các nhàquản lý, xem xét khả năng sinh lời, triển vọng phát triển, chính sách lợi nhuận củadoanh nghiệp để đưa ra quyết định duy trì, mở rộng hay kết thúc đầu tư
- Đối với các nhà cho vay: Phân tích tài chính xác định khả năng hoàn trả nợcủa khách hàng đối với khoản cho vay: Đối với khoản cho vay ngắn hạn, ngườicho vay quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp khi các khoảnvay đến hạn trả Đối với các khoản cho vay dài hạn, người cho vay phải tin chắckhả năng hoàn trả dựa trên khả năng sinh lời của doanh nghiệp sau một chu kỳkinh doanh nhất định
- Đối với người lao động trong doanh nghiệp: Đây là những người có nguồnthu nhập là tiền lương được trả hoặc cả cổ tức cổ phần Cả hai nguồn thu này đềuphụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vầy,phân tích tài chính giúp họ định hướng việc làm ổn định của mình
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước bao gồm các cơ quan quản lý cấp bộngành: cơ quan thuế, thanh tra tài chính, cơ quan thống kê… các cơ quan này sửdụng phân tích tài chính đẻ kiểm tra, giám sát tình hình hoạt đông kinh doanh củadoanh nghiệp, đồng thời cân nhắc, đề ra các chính sách, cơ chế quản lý cho phùhợp với tình hình chung, nâng cao hiệu quả tổng thể của nền kinh tế
Như vậy, phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng đểxác định, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhânkhách quan và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyếtđịnh phù hợp với mục tiêu quan tâm của họ
1.2 Cơ sở, phương pháp và nộ dung phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1 Nguồn dữ liệu phân tích tài chính doanh nghiệp :
Để phân tích tài chính doanh nghiệp, người phân tích phải thu thập đầy đủnhững thông tin cần thiết Những thông tin đó không chỉ giới hạn ở các báo cáo tàichính (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền
Trang 3tệ, thuyết minh báo cáo tài chính, sổ sách kế toán,…) mà còn bao gồm cả nhữngthông tin kinh tế, thông tin về pháp lý, thông tin về ngành, thông tin về bản thândoanh nghiệp… cụ thể là:
- Các thông tin kinh tế: Đó là những thông tin chung về tình hình kinh tế,chính trị, môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu
tư, cơ hội về kỹ thuật công nghệ
- Các thông tin theo ngành: Đó là những thông tin mà kết quả hoạt động củadoanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế, của ngành liên quan đến thực tếcủa sản phẩm, tiến trình kỹ thuật, cơ cấu sản xuất có tác động đến khả năng sinhlời, vòng quay vốn, nhịp độ phát triển của các chu kỳ kinh tế, độ lớn của thị trường
và triển vọng phát triển
- Các thông tin của bản thân doanh nghiệp: Đó là thông tin về chiến lượckinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ, thông tin về kết quả kinh doanh,tình hình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, tình hình và khẳ năng thanh toán
- Các thông tin khác kiên quan đến doanh nghiệp: Đó là các thông tin đượcbáo chí hay các thông tin đại chúng công bố, hoặc cũng có thể là thông tin mà chỉnhững người trong nội bộ doanh nghiệp được biết
Tuy nhiên tất cả những số liệu này không phải tất cả đều được thể hiệnbằng số lượng và số liệu cụ thể, mà có những tài liệu chỉ được thể hiện thông qua
sự miêu tả đời sống kinh tế của doanh nghiệp Vì vậy, người phân tích tài chínhcần sưu tầm thông tin đảm bảo đầy đủ và thích hợp
1.2 Phương pháp phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Để phân tích tài chính doanh nghiệp có thể sử dụng một hay tổng thể cácphương pháp khác nhau trong hệ thống các phương pháp phân tích tài chính doanhnghiệp Các phương pháp được sử dụng phổ biến là: Phương pháp so sánh,phương pháp liên hệ đối chiếu, phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp đồthị, Phương pháp biểu đồ, phương pháp toán tài chính…
Trong số các phương pháp trên thì người ta thường sử dụng một số phươngpháp sau:
1.2.2.1 Phương pháp so sánh
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi phổ biến trong phân tích kinh tênói chung và trong phân tích tài chính nói riêng Khi sử dụng phương pháp nàycần chú ý nhưng vấn đề sau:
Thứ nhất: Điều kiện so sánh
Trang 4- Các đại lượng (các chỉ tiêu) phải đảm bảo tính chất so sánh được Đó là sựthống nhất về nội dung kinh tế, thống nhất về phương pháp tính toán, thống nhất
về thời gian và đơn vị đo lường
Thứ hai: Xác định gốc để so sánh Gốc so sánh có thể xác định tại từng thời
1.2.2.2 Phương pháp phân chia
- Chi tiết theo yếu tố cấu thành của chỉ tiêu nghiên cứu: là việc chia nhỏ chỉtiêu nghiên cứu thành các bộ phận cấu thành nên bản thân chỉ tiêu đó
- Chi tiết theo thởi gian phát sinh quá trình và kết quả kinh tế: là việc chianhỏ quá trình và kết quả theo trình tự thời gian phát sinh và phát triển
- Chi tiết theo không gian phát sinh của hiện tượng và kết quả kinh tế là việcchia nhỏ quá trình và kết quả theo địa điểm phát sinh và phát triển của chỉ tiêu
1.2.2.3 Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính (Dupont)
Mức sinh lời của vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp là kết quả tổng hợpcủa hàng loạt các biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp, để thấy được
sự tác động của mối quan hệ giữa việc tổ chức sử dụng vốn và tổ chức tiêu thụ sảnphẩm tới mức sinh lời của doanh nghiệp người ta xây dựng hệ thống chỉ tiêu đểphân tích sự tác động đó Dupont là công ty đầu tiên ở Mỹ đã thiết lập và phân tíchmối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính Phương pháp này có ý nghĩa ápdụng trong thực tế rất cao
1.2.3 Kỹ thuật phân tích
Thực hiện các phương pháp phân tích nêu trên, sau khi thu thập thông tin,phân tích tài chính có thể sử dụng một số kỹ thuật phân tích cơ bản như: phân tíchdọc, phân tích ngang, phân tích qua hệ số, phân tích độ nhạy, kỹ thuật chiết khấudòng tiền…
- Kỹ thuật phân tích dọc: là kỹ thuật phân tích sử dụng để xem xét tỷ trọngcủa từng bộ phận trong tổng thể quy mô chung
- Kỹ thuật phân tích ngang: là sự so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu
Trang 5- Kỹ thuật phân tích qua hệ số: là xem xét mối quan hệ giữa các chỉ tiêudưới dạng phân số.
- Kỹ thuật phân tích độ nhạy: là kỹ thuật nêu và giải quyết các giả định đặt
ra khi xem xét một chỉ tiêu trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác
- Kỹ thuật chiết khấu dòng tiền: là kỹ thuật sử dụng để xác định giá trị củatiền tại các thời điểm khác nhau
Khi sử dụng các kỹ thuật nêu trên, phân tích tài chính có thể sử dụng mộthoặc tổng hợp các kỹ thuật phân tích dọc, phân tích ngang, phân tích qua hệ số,phân tích dãy thời gian, phân tích qua bảng tài trợ…
1.2.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.4.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp
Việc phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp nhằm đưa racái nhìn tổng quát về những thay đổi, biến động kỳ này so với kỳ trước trênnhững nhóm chỉ tiêu chủ yếu là tài sản và nguồn vốn, doanh thu, chi phí và lợinhuận Việc phân tích dựa trên các báo cáo tài chính, trong đó chủ yếu dựa vàobảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
+ Phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài tổng hợp phản ánh một cách tổngquát tình hình tài chính của một doanh nghiệp theo hai cách đánh giá là tài sản vànguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo Các chỉ tiêu trong bảng cânđối kế toán được phản ánh dưới hình thái giá trị và theo nguyên tắc cân đối làtổng tài sản bằng tổng nguồn vốn Dựa vào bảng cân đối, có thể khái quát tìnhhình tài chính của doanh nghiệp trên các mặt:
- Sự biến động của tổng tài sản thông qua việc so sánh giữa số cuối năm và
số đầu năm, qua đó thấy sự biến động quy mô kinh doanh của doanh nghiệp
- Tính hợp lý của cơ cấu vốn, ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến quá trình kindoanh Trả lời các câu hỏi: Cơ cấu vốn có phù hợp với đặc điểm ngành nghề,môi trường kinh doanh hay không; có yếu tố bất thường hay không
- Mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp thông qua việc so sánhtừng loại nguồn vốn giữa số cuối năm với số đầu năm cả về số tuyệt đối lẫn sốtương đối: mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với tỷ trọngvốn chủ trong tổng nguồn vốn
- Chính sách tài trợ của doanh nghiệp: Đánh giá việc thực hiện nguyên tắccân bằng tài chính, nguyên tắc này yêu cầu tài sản phải được tài trợ trong một
Trang 6mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài sản và nguồn vốn, doanh nghiệp đảm bảo đượcnguyên tắc này khi tài sản dài hạn chỉ được tài trợ bởi một phần của nguồn vốndài hạn và chỉ một phần của tài sản ngắn hạn được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn.
+ Phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bản báo cáo tổng hợp phảnánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động của doanhnghiệp Báo cáo này phản ánh 4 nội dung cơ bản: doanh thu, giá vốn, chi phí bánhàng và chi phí quản lý, lợi nhuận
Khi phân tích khái quát cần đánh giá được kết quả kinh doanh trong mộtthời kỳ, chỉ ra những yếu tố bất thường nếu có trong từng lĩnh vực kinh doanh, xácđịnh các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả đó Đồng thời, xem xét biến độngcủa các chỉ tiêu chính như doanh thu thuần, lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước thuế,lợi nhuận sau thuế và đưa ra cái nhìn tổng thể về tình hình kinh doanh của doanhnghiệp trong kỳ
1.2.4.2 Phân tích hệ số tài chính
a Hệ số khả năng thanh toán
Các hệ số khả năng thanh toán thể hiện khả năng trả nợ của doanh nghiệp tạithời điểm phân tích, nếu các chỉ số này tốt sẽ cho thấy tình hình tài chính củadoanh nghiệp lành mạnh và ngược lại sẽ là dấu hiệu doanh nghệp có thể gặp khókhăn về tài chính Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp người tathường sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:
- Hệ số khả năng thanh toán tổng quát
- Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 cho thấy tổng số tài sản hiện có của doanh nghiệpkhông dủ đảm bảo cho các khoản nợ phải thanh toán, tình hình tài chính đangtrong tình trạnh cảnh báo, nguy cơ phá sản rất cao
Hệ số khả năng
thanh toán tỏng quát
Trang 7- Nếu hệ số này lơn hơn 1 thì tổng các khoản nợ được đảm bảo bằng tổnggiá trị tài sản hiện có, tuy nhiên việc đánh giá khả năng thanh toán của doanhnghiệp là tốt hay xấu còn tùy thuộc vào khả năng chuyển đổi thành tiền của số tàicản đó
- Hệ số khả năng thanh toán hiện thời
- Thông thường, khi hệ số này thấp thể hiện khả năng trả nợ của doanhnghiệp là yếu và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tiềm ẩn về tài chính
mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong việc trả nợ Nếu hệ số này nhỏ hơn 1chứng tỏ doanh nghiệp đang sử dụng vốn sai mục đích, không đảm bảo nguyêntắc cân bằng tài chính, tình hình tài chính không lành mạnh
- Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì doanh nghiệp đảm bảo thanh toán được cáckhoản nợ trong thời gian tới Tuy nhiên trong một số trường hợp hệ số này quácao chưa chắc đã phản ánh năng lực thanh toán của doanh nghiệp là tốt, có thểdoanh nghiệp đang xảy ra tình trạng ứ đọng vốn ở khâu nào đó, dẫn đến chi phí
sử dụng vốn cao, làm hạn chế hiệu quả sử dụng vốn
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số này là một chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán củadoanh nghiệp Để đánh giá chính xác tính hợp lý của hệ số này, cần xem xét cáctài liệu chi tiết để biết doanh nghiệp có khoản nợ đến hạn, quá hạn hay không,
Hệ số khả năng
Thanh toán hiện
thời
Trang 8các khoản nợ phải thu hồi hay không và nhu cầu sử dụng vốn bằng tiền là caohay thấp.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số này là cao là tốt nhưng nếu hệ số này quá cao so với trung bìnhngành, trong khi nhu cầu chi bằng tiền mặt của doanh nghiệp lại không lớn thìchứng tỏ tiền đang bị nhàn rỗi, vốn chưa được sử dụng hiệu quả
- Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Công thức xác định :
Hệ số khả năng Lợi nhuận trước lãi vay và thuế thanh toán =
tức thời Lãi vay phải trả
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán lãi tiền vay bằng lợi nhuận gộp saukhi trừ đi chi phí quản lỹ và chi phí bán hàng Hệ số nay cũng phản ánh mức độrủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ
Nếu hệ số này lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp có thể đáp ứng được cáckhoản chi trả lãi vay Ngược lại, khi hệ số này nhỏ hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệpkhông đủ khả năng đáp ứng việc chi trả các khoản lãi vay, doanh nghiệp đanggặp khó khăn về tài chính, kinh doanh thua lỗ
b Hệ số cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
- Hệ số cơ cấu nguồn vốn
Nợ phải trả
Hệ số nợ =
Tổng nguồn vốn
Trang 9số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu là 2 hệ số quan trọng nhất phản ánh cơ cấu này.
Hai hệ số này phản ánh khả năng tài chính của doanh nghiệp cũng nhưchính sách đòn bẩy mà doanh nghiệp sử dụng, từ đó cho thấy mức độ độc lập hayphụ thuộc về tài chính và mức độ rủi ro tài chính của doanh nghiệp
- Hệ số cơ cấu tài sản
Công thức xác định:
Tỷ lệ tài sản dài hạn
đầu tư vào =
tài sản dài hạn Tổng tài sản
Tỷ lệ Tài sản ngắn hạn
đầu tư =
vào tài sản ngắn hạn Tổng tài sản
Hai hệ số này dùng để đánh giá tình hình phân bổ và sử dụng vốn của doanhnghiệp, phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng ngành kinh doanh khácnhau và chính sách đầu tư của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
- Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định hay tài sản dài hạn
Công thức xác định:
Tỷ suất Vốn chủ sở hữu
Tự tài trợ =
tài sản cố định Tài sản cố định(giá trị còn lại)
Tỷ suất này lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp độc lập cao về mặt tài chính.Ngược lại, nếu tỷ suất này nhỏ hơn 1 chứng tỏ một bộ phận tài sản cố định đượctài trợ bằng vốn vay, cần xem xét nguông vốn vay đó là dài hạn hay ngắn hạn đểđánh giá doanh nghiệp có vi phạm cân bằng tài chính hay không
c Hệ số hiệu suất hoạt động
Trang 10Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệpbằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các tài sản khácnhau.
- Số vòng quay hàng tồn kho
Công thức xác định : =
Trong đó : HTK đầu năm + HTK cuối kỳ
Hàng tồn kho bình quân =
2 Đây là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hiệu suất sử dụng vốn củadoanh nghiệp và được xác định bằng công thức:
Thông thường, số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh củadoanh nghiệp là tốt Nếu số vòng quay hàng tồn kho thấp thì doanh nghiệp có thể
dự trữ vật tư quá mức dẫn đến tình trạng ứ đọng hoặc sản phẩm bị tiêu thụ chậm
- Số ngày một vòng quay hàng tồn kho
phải thu Số dư các khoản phải thu
Chỉ số này phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặtcủa doanh nghiệp
Vòng quay càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu của doanhnghiệp nhanh, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn bởi các khách hàng của mình.Ngược lại, nếu chỉ số này nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn.Tuy nhiên, để đánh giá hệ số này là tốt hay xấu, cần kết hợp xem doanh nghiệpdang sử dụng chính sách tín dụng như thế nào, có mục tiêu mở rộng thi trường hay
Trang 11không, tính mùa vụ của sản phẩm, đồng thời xem xét các tài liệu phản ánh côngtác thu hồi nợ của doanh nghiệp.
- Kỳ thu tiền trung bình
Công thức xác định :
=
Là một hệ số hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh độ dài thờigian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thuđược tiền bán hàng
Kỳ thu tiền trung bình của doanh nghiệp phụ thuộc vào chính sách bán chịu
và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp Khi kỳ thu tiền trung bình quá dài sovới các doanh nghiệp trong ngành thì dễ dẫn đến tình trạng nợ khó đòi
Hệ số này phản ánh trong kỳ vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng
Hệ số này cho thấy hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong kỳ
- Kỳ luân chuyển vốn lưu động
Vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát hiệu suất sử dụng tài sản hay toàn bộ số vốnhiên có của doanh nghiệp Nó chỉ ra tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh bình quân
Trang 12trong kỳ và chỉ ra một đồng vốn kinh doanh bình quân tham gia vào hoạt độngkinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định và vốn dài hạn khác
Công thức xác định:
=
Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá mức độ sử dụng vốn cố định của doanhnghiệp trong kỳ Chỉ tiêu này chỉ ra một đồng vốn cố định tham gia vào quá trìnhkinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế
sinh lời của =
tài sản: tài sản hay vốn kinh doanh bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh củadoanh nghiệp không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồngốc của vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này đo lường mức lợi nhuận bao gồm cả lãi tiền vay và thuế đượctạo ra từ tổng tài sản của doanh nghiệp
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn kinh doanh:
Tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận trước thuế trong kỳ
trước thuế trên =
vốn kinh doanh Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện mỗi đồng vốn kinh doanh trong kỳ có khả năng sinhlời ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi đã trang trải lãi tiền vay
Trang 13- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh hay tỷ suất lợi nhuận ròng của tài sản
Công thức xác định:
=
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn kinh doanh trong kỳ tạo ra bao nhiêuđồng lợi nhuận sau thuế
- Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Đây là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận thu được trên mỗi đồng vốn chủ sởhữu trong kỳ
=
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp cũng là tạo ra lợi nhuận ròng cao cho chủ
sở hữu doanh nghiệp đó, vì vậy nó là chỉ tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm Do
đó, nếu chỉ tiêu này quá thấp sẽ dẫn tới việc doanh nghiệp sẽ khó vay được vốn dongười cho vay không tin tưởng vào khả năng kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.4.3 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Việc phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là để xác định vốn đượclấy từ đâu và chi vào đâu Nó giúp các nhà quản lý tài chính tìm ra các cách thứctốt nhất để tạo ra và sử dụng các khoản vốn đó Đồng thời thông tin này cũng đượccác nhà đầu tư và người cho vay sử dụng để biết được doanh nghiệp đang sử dụngvốn của họ như thế nào
Các bước phân ích được thực hiên như sau:
Trước hết, so sánh các số liệu cuối kỳ với đầu kỳ của các khoản mục trênbảng cân đối kế toán để tim ra sự thay đổi của mỗi khoản mục Mỗi sự thay đổicủa từng khoản mục sẽ được phản ánh vào một trong hai cột sử dụng vốn hoặcdiễn biến nguồn vốn theo cách thức sau:
- Sử dụng vốn sẽ tương ứng với tăng tài sản hoặc giảm nguồn vốn
- Diễn biến nguồn vốn sẽ tương úng với tăng nguồn vốn hoặc giảm tài sản.Tiếp theo, sắp xếp các khoản liêm quan đến việc sủ dụng vốn và liên quanđến việc thay đổi nguồn vốn dưới hình thức một bản cân đối Qua bảng này tính tỷtrọng từng khoản mục để phân tích, đánh giá nguồn tiền trọng kỳ được sử dụng cóđúng mục đích hay không
Trang 141.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.1 Huy động vốn hiệu quả
Bất kì một doanh nghiệp cũng có nhu cầu về vốn để sản xuất, kinh doanh.Nhưng việc huy động vốn không phải là dễ dàng ngay cả với những doanh nghiệplớn trước áp lực cạnh tranh hiện nay Vì vậy, doanh nghiệp cần phải có một chínhsách huy động vốn hợp lý:
Trước hết doanh nghiệp cần xác định nhu cầu vốn của mình để đưa ra chínhsách huy động vốn hiệu quả Doanh nghiệp có thể huy động vốn từ ngân hàng, vayvốn trong nội bộ doanh nghiệp,… Mỗi cách huy động vốn đều có ưu và nhượcđiểm nên doanh nghiệp cần dựa vào tình hình của mình để lựa chọn cho phù hợp
Khi đã huy động được vốn cho những dự án, kế hoạch kinh doanh cụ thểdoanh nghiệp cần sử dụng vốn linh hoạt sao cho có hiệu quả nhất Doanh nghiệpkhông nhất thiết phải rập khuôn theo những gì đã cam kết nhưng việc sử dụng vốnnày phải tuân thủ pháp luật và đươc ghi rõ trong hợp đồng vay vốn Mặt khácdoanh nghiệp có thể sử dụng vốn huy động ban đầu để đầu tư vào các dự án vàdùng chính những dự án này để huy động vốn tiếp theo
1.3.2 Bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
Để quản lý vốn cố định một cách có hiệu quả, tổ chức cần thực hiện nhữngnhiệm vụ sau:
+ Doanh nghiệp phải tiến hành đánh giá và đánh giá lại tài sản cố định theo chu kỳ
và phải đảm bảo chính xác
+ Dựa vào đặc điểm của tài sản cố định và căn cứ theo khung quy định về tài sảncủa Bộ Tài chính để lựa chọn phương án tính khấu hao phù hợp, đảm bảo thu hồivốn nhanh, khấu hao vào giá cả sản phẩm hợp lý
+ Thường xuyên đổi mới, nâng cấp để không ngừng nâng cao hiệu suất sản xuấtcủa tài sản cố định
+ Sau mỗi kỳ hoạt động, doanh nghiệp sử dụng các tiêu chí để tính toán, đánh giáhiệu quả sử dụng vốn cố định Từ đó tìm ra các nguyên nhân để tìm biện phápkhắc phục những hạn chế và tiếp tục tăng cường những điểm mạnh của tài sản cốđịnh
1.3.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để quản lý vốn lưu động một cách có hiệu quả thì công tác quản lý vốn lưuđộng cần đảm bảo các nội dung sau:
Trang 15+ Thực hiện việc phân tích và tính toán để xác định một cách chính xác lượng vốnlưu động cần thiết cho một chu kỳ kinh doanh.
+ Khai thác hợp lý các nguồn tài trợ vốn lưu đông
+ Thường xuyên phân tích, đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn lưu động,tìm hiểu và phát hiện xem vốn lưu động bị ứ đọng ở mặt nào, khâu nào để kịp tìmkiếm những biện pháp xử lý hữu hiệu
1.3.4 Tăng cường quản lý chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Để tiết kiệm chi phí hạ giá thành sản phẩm doanh nghiệp cần thực hiện một
1.3.5 Đẩy mạnh tiêu thụ tăng doanh thu
Để đảm bảo thực hiện tốt khâu tiêu thụ cần thực hiện một số biện pháp sau:+ Lựa chọn kết cấu sản phẩm và chính sách giá cả hợp lý, linh hoạt
+ Thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm
+ Có các dịch vụ hỗ trợ trong và sau bán hàng
+ Tăng cường quảng cáo, tiếp thị sản phẩm
+ Có các hình thức khuyến mãi, chiết khấu bán hàng
Tóm lại, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cua doanh nghiệp là rất cầnthiết và là mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp và cá nhân tham gia hoạtđộng kinh doanh Đó là tiền đề phát triển đối với bản than doanh nghiệp cũng nhưtoàn xã hội Để nâng cao được hiệu quả kinh doanh trước hết các nhà quản trị phảinắm bắt được thực trạng hoạt động kinh doanh của mình thông qua việc tiến hànhphân tích hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, đánh giá tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp nói riêng Qua đó đưa ra các giải pháp thiết thực, hữu dụng đểnâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh mà trước hết là nâng cao hiệu quả sử dụngvốn, tình hình đảm bảo công nợ, cơ cấu nguồn vốn
Trang 16Chỉ trong giới hạn một chuyên đề tốt nghiệp, đề tài không thể nêu hết được những lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp mà chỉ nêu lên những nhận địnhchung nhất là cơ sở làm sáng tỏ vấn đề : Tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường nói chung và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng Để hiểu bản chất về phân tích tài chinh doanh nghiệp chương sau của đề tài
sẽ nghiên cứu trực tiếp tình hình tài chính của công ty Hàng hải Vinashin thông qua nội dung phân tích và phương pháp phân tích đã thống nhất ở trên
CHƯƠNG: II
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH Ở CÔNG TY HÀNG HẢI VINASHIN
2.1 VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP, PHÁT TRIỂN VÀ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY HÀNG HẢI VINASHIN:
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Công ty Hàng hải Vinashin là doanh nhiệp Nhà nước tiền thân là Công tyCảng Hải Thịnh được thành lập theo Quyết định số 1222/QĐ – UB ngày01/10/1997 của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nam Định Công ty Cảng Hải Thịnh được
Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nam Định bàn giao nguyên trạng cho Tập đoàn Côngnghiệp Tàu thủy Việt Nam theo văn bản số 920/VPCP-DMDN ngày 28/2/2005của Văn phòng Chính phủ; quyết định số 793/ QĐ-BGTVT ngày 15/3/2005 của
Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải và quyết định số 910/QĐ-UB ngày 13/4/2005của Chủ tịch UBND tỉnh Nam Định Theo đó, công ty Cảng Hải Thịnh được Sở
Trang 17Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhDoanh nghiệp Nhà nước thay đổi lần thứ nhất ngày 12 tháng 8 năm 2005 Ngày07/09/2005, Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam có Quyếtđịnh số 1721 CNT/QĐ-TCCB-LĐ về việc đổi tên công ty Cảng Hải Thịnh thànhCông ty Hàng hải Vinashin và được Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấpgiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ hai ngày 15 tháng 9 năm2005.
Các đơn vị phụ thuộc: Cảng Hải Thịnh tại thị trấn Thịnh Lọng, huyện HảiHậu, tỉnh Nam Định và Công ty Hàng hải ven biển tại tầng 12- tòa nhà Sông Đà,
số 18/165 đường Cầu Giấy, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội Cácvăn phòng đại diện ở trong nước và ngoài nước: tại Thành phố Hải Phòng, Thànhphố Hồ Chí Minh và tỉnh Quảng Bình
Sau gần 4 năm hoạt động, Công ty hàng hải Vinashin đã chứng tỏ năng lựcquản lý hiệu quả của mình Dù gặp nhiều khó khăn trước những biến động của thịtrường hàng hải và những khó khăn tài chính nhưng công ty vẫn duy trì được sựtăng trưởng liên tục trong hoạt động kinh doanh và đầu tư Với những kế hoạchđang được triển khai về đầu tư mở rộng đội tàu, nâng cao chất lượng hệ thống dịch
vụ, công ty Hàng hải Vinashin vẫn tự tin bước lên phía trước và hứa hẹn sẽ trởthành một công ty lớn trong tương lai Hiện nay, số vốn điều lệ của công ty đã lênđến 17.323.218.000 đồng ( mười bảy tỷ, ba trăm hai ba triệu, hai trăm mười támnghìn đồng) và tạo công ăn việc làm cho 279 cán bộ, thuyền viên toàn công ty
Trụ sở chính của công ty đặt tại Phòng số 2 – 3 Tầng 4, số nhà 109 QuánThánh – Ba Đình – Hà Nội
Văn phòng giao dịch: Tầng 12, Tòa nhà Sông Đà, số 18/165, Cầu Giấy, HàNội
2.1.2 Tổ chức hoạt động kinh doanh của công ty:
2.1.2.1 Tổ chức quản lý
Bộ máy quản lý của Công ty Hàng hải Vinashin được xây dựng trên mô hìnhquản lý tập trung được áp dụng rộng rãi trong các công ty con trực thuộc Tập đoànCông nghiệp Tàu thủy Vinashin
Hình thức quản lý của công ty theo cơ cấu chức năng:
Trang 18Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức công ty Hàng hải Vinashin
(Đến tháng 10 – 2008)
Các bộ phận chức năng có chức năng nhiệm vụ sau:
- Giám đốc: Là người điều hành trực tiếp công ty, là đại diện hợp pháp củacông ty trước pháp luật, chịu trách nhiệm trước Tập đoàn và Nhà nước về mọi mặtcủa Công ty
- Các Phó Giám đốc: là những người giúp việc cho Giám đốc, do Giám đốcphân công đảm nhiệm một số mặt công tác và chịu trách nhiệm trước Giám đốc vàpháp luật về phần việc được phân công, ủy quyền
- Phòng khai thác: Tham mưu cho Giám đốc Công ty về xây dựng, triểnkhai kế hoạch khai thác kinh doanh vận tải và các lĩnh vực kinh doanh khác.Nhiệm vụ chính là tổ chức thực hiện các nghiệp vụ hàng hải, xây dựng dự thảo cáchợp đồng kinh tế với khách hàng, với các đối tác liên quan trong lĩnh vực mìnhphụ trách, trình Giám đốc công ty xem xét và ký kết, tổ chức triển khai và theo dõicác hợp đồng kinh tế đã ký kết
- Phòng nhân chính: Tham mưu cho Giám đốc Công ty về công tác tổ chứccán bộ, lao động, tiền lương, hành chính quản trị trong toàn Công ty Phòng nhân
Trang 19chính chịu trách nhiệm nghiên cứu, xây dựng quy hoạch, định hướng mục tiêuphát triển, chiến lược phát triển, phương án cơ cấu tổ chức, định biên nhân sựtrong toàn công ty, đồng thời lập kế hoạch đào tạo, tuyển chọn, điều động cán bộcông nhân viên, sỹ quan thuyền viên cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trongtừng giai đoạn trình Tổng công ty phê duyệt.
- Phòng kỹ thuật – vật tư: Tham mưu cho Giám đốc công ty về quản lý kỹthuật các tàu (đội tàu), giải pháp kỹ thuật đầu tư đội tàu, quản lý và sử dụng vật tư,nhiên liệu tiết kiệm, hiệu quả nhất Đồng thời phòng kỹ thuật cũng chịu tráchnhiệm tham mưu cho Giám đốc Công ty trong việc ứng dụng khoa học – kỹ thuậtvào quản lý, khai thác, đóng mới, sữa chữa tàu (đội tàu), ứng dụng tin học vàocông tác quản lý, sáng kiến cải tiến kỹ thuật và các mặt hoạt động khác của côngty
- Phòng tài chính- kế toán: Tham mưu cho Giám đốc công ty về công tácquản lý tài chính, hạch toán kế toán của công ty và các đơn vị thành viên, đảm bảohiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn theo định hướng đầu tưcủa công ty Đồng thời, phòng cũng chịu trách nhiệm tham mưu trong việc thựchiện đúng các chế độ, chính sách của Nhà nước về lĩnh vực tài chính- kế toán
- Phòng kế hoạch – tổng hợp: Tham mưu cho Giám đốc Công ty về xâydựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, lĩnh vực xây dựng vàquản lý các dự án đầu tư của Công ty, phân tích hiệu quả kinh tế giúp Giám đốc cóđịnh hướng đúng về sản xuất kinh doanh, về đầu tư phương tiện và thiết bị có hiệuquả
- Phòng pháp chế hàng hải: Tham mưu cho Giám đốc công ty về xây dựng
và quản lý hệ thống an toàn hàng hải, hệ thống an ninh tàu biển, quản lý chấtlượng và kiểm soát các quá trình hoạt động của các tàu thuộc công ty trong lĩnhvực hàng hải Phòng này cũng có chức năng tham mưu cho Giám đốc công ty vềcông tác bảo hiểm tàu, bảo hiểm thuyền viên và đăng ký tàu biển, đăng ký phươngtiện thủy nội địa, đồng thời chịu trách nhiệm về việc giải quyết các kháng nghịhàng hải, tranh chấp hàng hải
- Các đội tàu vận tải biển và các đại diện chi nhánh: Có chức năng thực hiện
sự chỉ đạo của Giám đốc công ty và các phòng chức năng Nhiệm vụ chủ yếu củacác đội tàu vận tải biển là thực hiện vận chuyển trên cơ sở các hợp đồng kinh tế đã
ký kết
Trang 20Trong quá trình tổ chức, triển khai công việc, các phòng ban có trách nhiệmphối hợp hỗ trợ lẫn nhau, cùng tham gia giải quyết công việc chung của Công ty
có liên quan đến nhiệm vụ chức năng phòng mình phụ trách
- Kế toán trưởng : Tổng hợp tình hình tài chính và các số liệu kế toán để
báo cáo Giám Đốc Lập và nộp báo cáo định kỳ theo quyết định quản lý kinh tếcủa nhà nước và của công ty Cùng Giám Đốc và các Phó Giám Đốc chức năngxây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn và ngắn hạn của công ty
- Kế toán tổng hợp : Là người giúp việc trực tiếp cho kế toán trưởng trongviệc chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho các kế toán viên Kế toán tổng hợp là ngườithực hiện phần kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
- Nhân viên kế toán 1: Kế toán vật tư, TSCĐ Là người chịu trách nhiệm vềcông tác quản lý, xuất nhập vật tư, công cụ, theo dõi tăng giảm tài sản
- Nhân viên kế toán 2: Kế toán tiền lương, BHXH và TGNH Chịu tráchnhiệm trước trưởng phòng về công tác thanh toán qua ngân hàng, theo dõi lương
và các khoản bảo hiểm của cán bộ công nhân viên
- Nhân viên kế toán 3: Kế toán thanh toán, chịu trách nhiệm trước trưởngphòng về công tác thanh toán bằng tiền mặt và huy động vốn
- Nhân viên kế toán 4: Thủ quỹ Quản lý tình hình thu chi tiền mặt
Hình thức kế toán trong công ty: Công ty áp dụng bộ máy kế toán tập
trung, niên độ kế toán bắt đầu từ 01/01và kết thúc vào 31/12 Đơn vị tiền tệ sửdụng trong ghi chép là VNĐ và hình thức sổ kế toán là hình thức “Nhật ký chung”
Nhân viên
kế toán 2
Nhân viên
kế toán 4
Trang 212.1.3 Hoạt động kinh doanh của công ty:
2.1.3.1 Lĩnh vực ngành nghề kinh doanh:
Công ty Hàng hải Vinashin được Sở Kế hoạch Đầu tư thành phố Hà Nội cấpgiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 010600534 cấp ngày 12 tháng 8 năm 2005với nhiệm vụ kinh doanh chủ yếu sau đây:
- Xếp dỡ hàng hóa, cho thuê kho bãi; dịch vụ hoa tiêu, lai dắt, cứu hộ, tiếpdầu, nước ngọt, điện, lương thực, thực phẩm và dịch vụ cảng khác
- Tổ chức khai thác thực nghiệm năng lực các phương tiện vận tải thuỷ mớisản xuất và vận tải biển
- Kinh doanh vận tải dầu thô, sản phẩm dầu khí
- Kinh doanh dịch vụ hành hải bao gồm: cung ứng, lai dắt, sửa chữa vệ sinhtàu biển, môi giới hàng hải, môi giới mua bán tàu biển, đại lý hàng hoá, đại lý vậntải, đại lý tàu biển
- Kinh doanh đóng mới và sửa chữa tàu thuỷ, thiết bị và phương tiện mới,chế tạo kết cấu thép dàn khoan, phá dỡ tàu cũ
- Ðầu tư kinh doanh nhà, xây dựng dân dụng, khu đô thị và nhà ở; kinhdoanh vật liệu xây dựng
- Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị cơ khí phụ tùng, phụ kiện tàu thuỷ và cáchàng hoá liên quan đến ngành công nghiệp tàu thuỷ
- Lập dự án, chế thử, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm;
- Sản xuất, lắp ráp trang thiết bị nội thất tàu thuỷ
- Lắp ráp, phục hồi, sửa chữa xuất nhập khẩu và kinh doanh vật tư, thiết bịgiao thông vận tải;
- Tư vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ, hợp tác liên doanh với các tổ chứctrong và ngoài nước phát triển thị trường cho ngành công nghiệp tàu thuỷ; đào tạolao động trong ngành công nghiệp tàu thuỷ;
- Dịch vụ du lịch khách sạn
- Kinh doanh nạo vét luồng lạch, san lấp, tạo bãi, mặt bằng xây dựng
2.1.3.2 Đặc điểm các yếu tố đầu vào:
Trang 22- Về vật tư: Là một công ty kinh doanh đa dịch vụ, vật tư của công ty khôngchỉ là nhiên liệu vận tải như xăng dầu mà còn bao gồm các vật tư, thiết bị vận tải,phụ tùng, phụ kiện và nội thất tàu thủy,…Tuy nhiên, vì vận tải là nhiệm vụ kinhdoanh chính cho nên nhiên liệu vẫn là loại vật tư quan trọng nhất Được coi như “mạch sống của mỗi con tàu”, nhiên liệu và sự biến động giá của nó đã ảnh hưởngtrực tiếp đến doanh thu, lợi nhuận của công ty, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến thunhập của người lao động Do vậy, nắm bắt xu hướng diễn biến của giá dầu trên thịtrường quốc tế cũng như thị trường nội địa là điều hết sức cần thiết đối với mỗidoanh nghiệp vận tải nói chung và đối với công ty Hàng hải Vinashin nói riêng.
- Về năng lực phương tiện:
+ Ðối với lĩnh vực vận tải - khai thác tàu hàng khô (Tàu Vinashinship 1,Vinashinship 4, Vinashinship 5) : Kể từ khi tiếp nhận tàu Vinashinship 1 và đưavào khai thác (tháng 7/2005) đến nay, Công ty đang khai thác tàu Vinashinship 1rất hiệu quả trên các tuyến đi Taiwan, China, Indonesia, Malaysia, Thailand,Singapore, Brunei.với các mặt hàng vận chuyển như: than, clinker, thạch cao,quặng, sắt, thép các loại, phân ure, gạo, hàng thiết bị dự án Công ty đã ký hợpđồng vận chuyển trực tiếp với các đơn vị như: Vietfracht; Traco; Thuận Phat co,Ltd; U.I.P company; NSA; HungHau Trading and imanufacturing company;Shuifong company; Jetyang company; Seawill company; Oceantrans company
+ Ðối với lĩnh vực vận tải nội địa bằng phương thức vận tải LASH: Hệthống tàu LASH đưa vào vận hành khai thác - chủ yếu là phục vụ cho Hợp đồngbao tiêu nguyên nhiên liệu đầu vào và sản phẩm đầu ra cho Nhà máy Xi măngSông Gianh Các đoàn sà lan thuộc dự án Ðầu tư đóng mẫu Hệ thống tàu LASHdần được đưa vào khai thác kể từ khi Nhà máy Xi măng Sông Gianh đưa vào hoạtđộng, Hệ thống phương tiện này sẽ được chuyển phục vụ theo đúng tinh thần hợpđồng đã ký kết giữa VINASHIN và COSEVCO
+ Ðối với đội tàu công trình - Ðội tàu hút xén thổi 1500m3/h (thi công nạovét luồng, phun tạo bãi, san lấp mặt bằng) : Công ty Hàng hải Vinashin đã triểnkhai san lấp mặt bằng cho Công trình Xây dựng Cụm CNTT Hải Dương tại xã Lai
Vu - huyện Kim Thành - tỉnh Hải Dương với tổng diện tích của cụm 220 ha, khốilượng san nền tương đương 2.000.000m3, công trình này đã được Công ty thicông trong thời gian khoảng 3 tháng kể từ khi bắt đầu khởi công đến khi hoànthành công trình Ngoài ra Công ty còn tham gia các công trình khác như côngtrình Cảng căn cứ kỹ thuật Dầu khí Hạ lưu - Vũng Tàu, công trình san nền Khu đô
Trang 23thị mới Cái Giá Cát Bà Hải Phòng, công trình tại Ðặc khu kinh tế Hải Hà Ðầm Hà - Quảng Ninh, và các công trình khác.
Về lao động : Tính đến tháng 10 năm 2008, công ty Hàng hải Vinashin đã
có tổng số 289 lao động, trong đó: bộ phận văn phòng công ty, đại diện, chi nhánh:
90 cán bộ, bộ phận thuyền viên : 199 thuyền viên
Biểu đồ 1: Năng lực dân sự của công ty:
- Về vốn: Công ty được nhận vốn và nguồn lực khác của Nhà nước do Tổngcông ty giao Công ty có nhiệm vụ bảo toàn, phát triển vốn và các nguồn lực này.Bên cạnh đó, công ty được huy động vốn, các nguồn tín dụng khác theo quy địnhcủa pháp luật để thực hiện kế hoạch kinh doanh và đầu tư phát triển Và thực tế,nguồn vốn của công ty chủ yếu là được huy động từ bên ngoài, với tỷ lệ trên 90%.Hiện nay, vốn điều lệ của công ty là 17.323.218.000 đồng VN, trong toán toàn bộ
là vốn cố định và được giao tại thời điểm thành lập công ty Ngoài ra, công tyđược góp vốn vào các doanh nghiệp khác theo phân cấp của Tổng công ty
2.1.3.3 Đặc điểm thị trường đầu ra:
Cùng với đà tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, sự hội nhập sâu rộng vàonền kinh tế thị trường thế giới thì lượng hàng hóa lưu thông nội địa cũng nhưlượng hàng hóa thông thương giữa Việt Nam và quốc tế cũng tăng đáng kể Trongnhững năm trở lại đây(2005- 2007), trước khi có cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu, nền kinh tế Việt Nam đã phát triển với tốc độ khá cao GDP tăng bình quângần 8%/năm; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng bình quân trên 20%/năm Ngànhhàng hải thế giới nói chung và ngành hàng hải Việt Nam nói riêng phát triển và đạt
Trang 24mức tăng trưởng cao Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi cần nhiều nhiên liệu hơn nữa đểphục vụ sản xuất kinh doanh Điều này cũng đòi hỏi về nhu cầu đối với các loạinăng lượng hàng đầu như xăng dầu cũng tăng trưởng mạnh Theo giới chuyên gia,tăng trưởng nhu cầu năng lượng ước chừng 5%/năm Vì vậy nhu cầu vận tải xăngdầu bằng đường biển cũng tăng đáng kể Đây là cơ hội để các công ty ngành vậntải xăng dầu bằng đường biển như công ty Hàng hải Vinashin mở rộng thị phầnvận tải của mình ra bên ngoài Hiện nay, nhu cầu vận chuyển dầu thô cửa khẩu củaViệt Nam khoảng 20 triệu tấn mỗi năm Sắp tới, khi Nhà máy Lọc dầu Dung Quất
và tiếp đến là các nhà máy lọc dầu ở Thanh Hóa, Bà Rịa - Vũng Tàu đi vào hoạtđộng, nhu cầu vận tải dầu thô và xăng, dầu thành phẩm sẽ tăng nhanh Tuy nhiên,công ty phải cạnh tranh với không ít các đối thủ có tiềm lực tài chính mạnh vàkinh nghiệm lâu năm như công ty cổ phần vận tải dầu khí( PVTrans), Công ty Cổphần Vận tải Xăng dầu đường thủy Petrolimex,…Thêm vào đó là diễn biến phứctạp của giá cả thị trường vận tải dầu thô, sản phẩm dầu khí cũng gây khó khăn choviệc tìm kiếm và gây dựng thị phần của công ty
Với sự ra đời của Bộ luật an ninh cảng biển và tàu biển quốc tế (ISPS) (cóhiệu lực thực hiện từ 1/7/2004) đòi hỏi các chủ tàu và các nhà kinh doanh hàng hảiphải tăng cường đầu tư trang thiết bị hiện đại cho tàu của mình bên cạnh việc đàotạo sỹ quan, thuyền viên thì lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư thiết bị cơkhí phụ tùng, phụ kiện tàu thuỷ và các hàng hoá liên quan đến ngành công nghiệptàu thuỷ cùng với sản xuất, lắp ráp trang thiết bị nội thất tàu thuỷ thực sự là mộtlĩnh vực kinh doanh giàu tiềm năng và là hướng đi đúng đắn của công ty Doanhthu do lĩnh vực này mang lại xếp thứ hai sau vận tải
Các lĩnh vực kinh doanh khác của công ty có thị trường đầu ra tương đối ổnđịnh, một số lĩnh vực phải chịu sức ép cạnh tranh lớn, như: kinh doanh dịch vụ dulịch khách sạn hay đầu tư kinh doanh nhà, xây dựng dân dụng, khu đô thị và nhà ở;kinh doanh vật liệu xây dựng,…Tuy vậy, công ty vẫn hi vọng trong tương lai sẽ dầndần chinh phục và gây dựng được uy tín trong các lĩnh vực này
2.1.3.4 Kết quả kinh doanh chủ yếu của công ty trong những năm gần đây:
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến quantrọng mà dấu ấn là cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra vào cuối năm 2008 Làmột công ty kinh doanh vận tải biển, chủ yếu là vận tải biển quốc tế, Công ty hàng
Trang 25hải Vinashin đã chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự chuyển biến đó: từ sự biến độnggiá dầu đến tỷ giá USD và lãi suất thị trường,…Tuy vậy, công ty đã vượt qua đượckhó khăn và đạt được kết quả kinh doanh khả quan:
Qua Bảng 01: Ta thấy :
Lợi nhuận sau thuế của công ty trong năm 2008 là 2.090 triệu đồng (trđ),
so với năm 2007 là 3.369 trđ, bị giảm 1.279 trđ, ứng với tỷ lệ giảm 37,97%.Tuyrằng năm 2008 công ty đã đưa thêm một số tàu vào khai thác nhưng lợi nhuận sauthuế vẫn giảm với tỷ lệ không phải là nhỏ Điều đó chứng tỏ trong năm, công ty đãgặp phải một số vấn đề khó khăn trong kinh doanh, có thể là do khách quan, có thể
là từ chủ quan Để hiểu rõ hơn, ta đi xem xét từng khoản mục doanh thu và chiphí:
- Tổng doanh thu năm 2008 là 216.517 trđ, trong đó doanh thu từ hoạtđộng vận tải biển là 212.965 trđ, chiếm 98,36 % Doanh thu từ các hoạt động khácchỉ có 3.552 trđ, chiếm 1,64 % So với năm 2007 là 224.674 trđ, tổng doanh thu đã
bị giảm 8.157 trđ, ứng với tỷ lệ giảm 3,63% Tuy nhiên, doanh thu thuần năm
2008 so với năm 2007 chỉ giảm có 4.740 trđ (2,14%), nhờ năm nay không có cáckhoản giảm trừ doanh thu như năm trước Doanh thu giảm nguyên nhân chủ yếu là
do về 6 tháng cuối năm dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế thế giới, nhu cầu vận chuyển hàng hóa giảm dẫn đến giá cước vận tải giảmmạnh, cụ thể giá cước vận tải đường biển bình quân của quý 4-2008 giảm 60 - 70
% so với các quý trước trong năm Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm doanhthu của công ty đã đạt 145.761 trđ chiếm gần 70% trong tổng doanh thu của cảnăm và tăng hơn so với cùng kỳ năm trước do công ty đã đưa thêm một số tàu vào
sử dụng Nếu như không có cuộc khủng hoảng tài chính, ước tính tổng doanh thutrong năm của công ty sẽ đạt gần 300 tỷ đồng Đây là tác nhân khách quan khôngchỉ công ty Hàng hải Vinashin mà toàn bộ các công ty trong lĩnh vực hàng hải đềuphải gánh chịu
- Giá vốn hàng bán giảm 4.440 trđ, ứng với tỷ lệ giảm 2,64%, nhỏ hơn tỷ lệgiảm của doanh thu, có nghĩa là tốc độ tăng của giá vốn hàng bán lớn hơn tốc độtăng của doanh thu Điều đó đã làm cho lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấpdịch vụ của công ty giảm 301 trđ, tỷ lệ giảm 0,56% Nguyên nhân là do vào giữanăm 2008, giá xăng dầu trên thị trường tăng trên mức 30%, khiến cho chi phínhiên liệu – một khoản mục chiếm phần lớn ( trên 40%) trong giá vốn hàng bán
Trang 26tăng lên bất thường, từ đó làm tăng giá vốn hàng bán, trong khi doanh thu tươngứng giảm.
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh năm 2008 là 3.011 trđ, so vớinăm 2007 là 4.811 trđ, đã giảm 1.800 trđ, ứng với tỷ lệ 37,41%, trong khi lợinhuận gộp chỉ giảm có 301 trđ, tỷ lệ 0,56% Sỡ dĩ có sự giảm đáng kể của lợinhuận thuần là do trong kỳ chi phí tài chính mà chủ yếu là lãi vay phải trả tăng lênmột cách vượt bậc, từ 25.751 trđ lên 32.532 trđ, với số tăng tuyệt đối 6.781 trđ, tỷ
lệ tăng 26,33% Nguyên nhân cũng dễ hiểu vì như chúng ta đều biết vào quý I vàquý II năm 2008, các ngân hàng ra sức chạy đua lãi suất, đồng loạt tăng mức lãisuất cho vay từ 12% như năm 2007 lên 18%, 20%, Điều đó đối với một công ty
mà nguồn vốn đi vay chiếm phần lớn trong tổng nguồn VKD như công ty Hànghải Vinashin thì quả là một thách thức lớn, mặc dù trong năm công ty cũng đã nỗlực cắt giảm chi phí quản lý doanh nghiệp xuống mức 5.792 trđ, tức là giảm 738trđ (11,31%) so với năm trước nhưng vẫn không cải thiện được tình hình lợinhuận
- Họat động bất thường của công ty năm 2008 diễn biến tốt lên do chi phíthanh lý TSCĐ đã hết khấu hao của công ty đã giảm đi so với năm 2007, thể hiện
ở sự giảm đi của khoản mục chi phí khác, từ 156 trđ xuống 125 trđ, số tuyệt đối
31 trđ, tỷ lệ 19.95%, trong khi đó thu nhập khác chỉ giảm có 8 trđ Nhờ vậy lợinhuận khác vẫn tăng được 23 trđ Tuy ít ỏi nhưng nó vẫn giúp cải thiện được phầnnào lợi nhuận kế toán trước thuế
- Lợi nhuận kế toán trước thuế của công ty năm 2008 giảm đi 1.777 trđ, từ4.680 trđ năm 2007 xuống 2.903 trđ, tỷ lệ giảm 37,97% Khoản đóng góp vàongân sách nhà nước vì thế cũng giảm xuống chỉ còn 813 trđ, trong khi năm 2007 là1.310 trđ
Như vậy, có thể thấy trong năm qua công ty đã gặp khó khăn trong kinhdoanh, nguyên nhân chủ yếu tác động từ phía thị trường Đơn đặt hàng ít hơn, giávốn tăng, doanh thu giảm Điều đó không những kéo theo lợi nhuận giảm mà cònkhiến cho tốc độ luân chuyển vốn chậm lại, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Trong
kỳ chi phí tài chính tăng bất thường, một phần do lãi vay tăng nhưng công ty cũngcần xem xét cụ thể có khoản chi phí bất hợp lý hay không và lãng phí ở chỗ nào,
từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời và hợp lý
Trang 272.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY HÀNG HẢI VINASHIN.
2.2.1 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của công ty:
2.2.1.1 Thuận lợi:
Tuy là một doanh nghiệp Nhà nước ra đời muộn màng nhưng trong quátrình hoạt động của mình , công ty Hàng hải Vinashin đã không ngừng nỗ lực vượtqua mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kế hoạch kinh doanh của Tậpđoàn giao cho cũng như các nhiệm vụ công tác khác
Để đạt được những kết quả đáng khích lệ nói trên phải kể đến một phần do
sự cố gắng của bản thân công ty, một phần do những thuận lợi khách quan và chủquan đem lại:
- Thuận lợi trước hết, Việt Nam là một nước đang phát triển và mới gianhập WTO, nhu cầu về năng lượng đặc biệt là xăng dầu để phục vụ cho việc xâydựng và phát triển đất nước ngày càng cao Mặt khác, do ngành vận tải xăng dầu
có vai trò đặc biệt là ngoài nhiệm vụ phục vụ sự phát triển của đất nước còn phảiđảm bảo nhu cầu về an ninh năng lượng nên Nhà nước đã có nhiều chủ trươngthúc đẩy sự phát triển của ngành xăng dầu trong đó có vận tải xăng dầu Do vậy,các chính sách nhìn chung có thuận lợi hơn với các doanh nghiệp ngành này, trong
đó có công ty Hàng hải Vinashin
- Nhìn chung, ngành vận tải xăng dầu là một ngành đang có cơ hội pháttriển kinh doanh đều đặn, đảm bảo nguồn thu ổn định và thậm chí có cơ hội khẳngđịnh vị thế trên trường quốc tế
- Dù mới thành lập chưa đầy 4 năm nhưng công ty đã xây dựng đượcnhiều mối quan hệ lâu dài và ổn định với các bạn hàng lớn như các thành viên củaVINASHIN, VINALINES, VINACOAL, các đơn vị trong Bộ GTVT Có thịtrường và quan hệ lâu năm với một số đối tác tại Singapore, Australia, châu Âu
Vì vậy mà các hợp đồng đặt hàng tới Công ty ngày càng nhiều Hiện nay, công ty
đã và đang thi hành nhiều dự án quan trọng, như: dự án đầu tư đóng mẫu hệ thốngtàu LASH của Tổng công ty CNTT Việt Nam, dự án đầu tư xây dựng Cụm CNTTQuảng Bình giai đoạn 1, dự án đầu tư tàu chở hàng khô 4000DWT, dự án đầu tư
Hệ thống neo đậu, chuyển tải, dịch vụ hậu cần đối với phương thức vận tải bằngtàu LASH, dự án đầu tư 02 tàu chở hàng rời 20.000DWT, dự án đầu tư Ðội tàu
Trang 28phục vụ vận chuyển nguyên nhiên liệu đầu vào và sảnphẩm đầu ra cho Nhà máy
ỏi nhưng công ty vẫn có thể huy động phần lớn vốn vay ngân hàng phục vụ chohoạt động sản xuất kinh doanh
- Ngay từ khi thành lập, công ty đã đầu tư một hệ thống máy móc thiết bịcũng như phương tiện vận tải tân tiến Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu vận tải nộiđịa cũng như quốc tế ngày càng tăng, công ty đang tiến hành mua và đóng mớimột loạt tàu HANDY SIZE có tải trọng từ 12.500 DWT đến 40.000 DWT Theo
kế hoạch dự kiến đến năm 2012 công ty sẽ có khoảng 20 tàu có tải trọng nêu trên
và công thêm với 05 tàu 6.500 DWT đang hoạt động các tuyến nội địa và ĐNA.Với số lượng tàu như trên và cùng với sự năng động, chuyên nghiệp, tư tưởnghướng ngoại của đội ngũ lãnh đạo công ty cũng như toàn thể các thành viên cònlại, công ty hứa hẹn sẽ trở thành một công ty vận tải biển có tầm cỡ quốc tế
- Thông tư 32 của Bộ Tài Chính về Thuế GTGT quy định vận tải biển quốc
tế là lĩnh vực không chịu thuế GTGT Đây là một trong những điều kiện thuận lợi
để các công ty kinh doanh vận tải biển nói chung và công ty Hàng hải Vinashinnói riêng yên tâm mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường
- Công ty có một đội ngũ nhân viên nhiệt tình và đoàn kết Đặc biệt, BanGiám đốc công ty đã đổi mới phương thức lãnh đạo, mạnh dạn đề bạt sử dụng cán
bộ trẻ, được đào tạo chính quy, giỏi chuyên môn nghiệp vụ vào những vị trí quantrọng Đội ngũ thuyền viên có sức khỏe tốt Mặt khác, công ty cũng đã đưa phầnmềm tin học quản lý vào các phòng ban nghiệp vụ, các ban điều hành dự án
2.2.1.2 Khó khăn:
Bên cạnh một số thuận lợi như trên thì công ty cũng gặp phải không ít khó khăn :
Trang 29- Khó khăn đầu tiên cần phải kể đến chính là xu hướng suy thoái của nềnkinh tế thế giới Năm 2008, nền kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp, lạmphát tăng cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm Kinh tế Mỹ - nền kinh tế lớn nhấtthế giới - cũng suy giảm nghiêm trọng, chỉ tăng 1,5 - 2,7% Nhiều quốc gia đã vàđang phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế Chính sự suy giảm này đãkhiến nhu cầu vận tải bằng đường biển giảm mạnh, tình trạng thừa tàu xuất hiện.Dịch vụ vận tải biển của công ty vì thế cũng đứng trước thách thức lớn khi tìmkiếm thị trường đầu ra.
- Khó khăn lớn thứ 2 với ngành vận tải biển nói chung và đối với công tyHàng hải Vinashin nói riêng là việc giá dầu không ổn định và vẫn ở mức cao Trênthực tế, chi phí nhiên liệu chiếm trên 40% giá thành vận tải biển Tàu càng to,càng hiện đại, tiêu hao nhiên liệu càng lớn Đáng nói hơn, giá nhiên liệu tăngtrong bối cảnh tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm, nhu cầu về vận tải biển giảm.Đây chính là nguy cơ lớn mà các chủ tàu trên toàn thế giới, không riêng gì công typhải đối mặt
- Hiện tại, công ty đang có kế hoạch mua thêm một số tàu lớn, hiện đại củanước ngoài để đầu tư lâu dài nhưng giá quá cao, trong khi nguồn vốn của công tykhông có, phải đi vay ngân hàng trong giới hạn nhất định Vì các khoản vốn vayđầu tư cho TSCĐ là rất lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên số lãi công ty phải trảhàng năm sẽ rất lớn Để đảm bảo khả năng thanh toán và giữ uy tín với ngân hàngkhông phải là điều dễ dàng Do vậy, công ty đang phải cân nhắc
- Thứ tư, do điều kiện nước ta chưa đầu tư xây dựng nhiều nhà máy sửachữa, nâng cấp tàu biển Tàu chạy đến kì bảo hành, hỏng hóc, tai nạn đều phảimang sang nước ngoài rất tốn công sức và tiền bạc, điều đó đã làm cho thu nhậpcủa công ty bị giảm sút, trong khi chi phí tăng lên một cách lãng phí
- Thứ năm, Sỹ quan, thuyền viên - linh hồn của đội tàu biển - của công tyvừa thiếu lại vừa yếu là một khó khăn không mới nhưng luôn nóng Hiện tại, công
ty đang có nhu cầu tuyển dụng khoảng 110 sỹ quan và thuyền viên Nếu như việctuyển dụng khó khăn, công ty có thể sẽ phải thuê sĩ quan, thuyền viên nước ngoài với mức lương cao hơn hẳn Thuyền viên đã thiếu về số lượng, lại còn yếu về chấtlượng Sỹ quan thuyền viên của công ty tuy khỏe mạnh nhưng phần lớn yếu vềkhả năng thực hành và ngoại ngữ Ngoài ra, còn không ít thuyền viên thiếu sự cầnmẫn trong công việc…