1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

biến động đất đai tại thành phố Hà Nội

25 715 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biến động đất đai tại thành phố Hà Nội
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại Bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 275 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trình bày về biến động đất đai tại thành phố Hà Nội

Trang 1

I Điều kiện tự nhiên thành phố Hà Nội

 Vị trí địa lý

Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ, tiếp giáp với các tỉnh: Thái Nguyên,Vĩnh Phúc ở phía bắc; phía nam giáp Hà Nam và Hoà Bình; phía đông giápcác tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía tây giáp tỉnh Hoà Bình vàPhú Thọ

Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí vàđịa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học vàđầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam

 Địa hình

Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi Địa hình

đồng bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía đông của

Hà Tây (cũ), chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông

Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các sông Phần lớn địa hình đồi núi thuộcđịa phận các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức Một số đỉnh núi caonhư: Ba Vì 1.281m; Gia Dê 707m; Chân Chim 462m; Thanh Lanh 427m;Thiên Trù 378m; Bà Tượng 334m; Sóc Sơn 308m; Núi Bộc 245m; Dục Linh294m…

 Khí hậu

Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc bộ với đặc điểm

của khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đônglạnh, mưa ít Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận đượclượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao Lượng bức xạ tổng cộngtrung bình hàng nǎm ở Hà Nội là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ không khí trungbình hàng nǎm là 23,6ºC Do chịu ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm vàlượng mưa khá lớn Ðộ ẩm tương đối trung bình hàng nǎm là 79% Lượngmưa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa.Ðặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùanóng, lạnh Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa Nhiệt độ trung bình

Trang 2

mùa này là 29,2ºC Từ tháng 11 đến tháng 3 nǎm sau là mùa đông thời tiếtkhô ráo Nhiệt độ trung bình mùa đông 15,2ºC Giữa hai mùa đó lại có haithời kỳ chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 10) cho nên Hà Nội có đủ bốn mùaXuân, Hạ, Thu, Ðông Bốn mùa thay đổi làm cho thời tiết Hà Nội mùa nàocũng có vẻ đẹp riêng Mùa tham quan du lịch thích hợp nhất ở Hà Nội là mùathu Phần địa hình của Hà Tây (cũ) sáp nhập với Hà Nội, có những đặc điểmriêng nên hình thành những tiểu vùng khí hậu: vùng núi, vùng gò đồi và đồngbằng Nhưng nói chung sự khác biệt thời tiết và chênh lệch về nhiệt độ giữacác địa phương của Hà Nội hiện nay không lớn.

 Thuỷ văn

Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn ở miền Bắc: sông Đà và sông Hồng.Sông Hồng dài 1.183km từ Vân Nam (Trung Quốc) xuống Ðoạn sông Hồngqua Hà Nội dài 163km (chiếm khoảng 1/3 chiều dài trên đất Việt Nam,khoảng 550km Ngoài hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội còn có cácsông: Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch, Kim Ngưu, Bùi

Hồ đầm ở địa bàn Hà Nội có nhiều Những hồ nổi tiếng ở nội thành HàNội như hồ Tây, Trúc Bạch, Hoàn Kiếm, Thiền Quang, Bảy Mẫu Hàng chục

hồ đầm thuộc địa phận Hà Nội cũ: hồ Kim Liên, hồ Liên Đàm, đầm Vân Trì

và nhiều hồ lớn thuộc địa phận Hà Tây (cũ): Ngải Sơn - Đồng Mô, Suối Hai,Mèo Gù, Xuân Khanh, Tuy Lai, Quan Sơn

 Thổ nhưỡng

Lớp phủ thổ những vốn liên quan đến đặc tính phù sa, đến quá trìnhphong hoá, đến chế độ bồi tích và đến hoạt dộng nông nghiệp Dưới tác độngcủa các yếu tố trên, Hà Nội hiện nay có bốn loại đất chính, đó là đất phù satrong đê, đất phù sa ngoài đê, đất bạc màu và đất đồi núi

Đất phù sa ngoài đê là đất hàng năm được tiếp tục bồi đắp thườngxuyên trên các bãi bồi ven sông, hoặc các bãi giữa sông Đất phù sa trong đê

do có hệ thống đê nên không được các sông bồi đắp thường xuyên

2

Trang 3

Phần lớn đất đai của Hà Nội là nhóm đất phù sa của các hệ thống sôngHồng và sông Cầu bồi đắp Đây là loại đất trồng trọt tối với đặc tính ít chuađến trung tính, độ pH từ 6-7, hàm lượng mùn và chất dinh dưỡng khá phongphú, thành phần cơ giới thích hợp với nhiều loại cây trồng Nhóm đất phù sanày phân bố đều khắp ở các huyện, chiếm hầu hết diện tích của các huyện GiaLâm, Thanh Trì, Từ Liêm

Nhóm đất bạc màu phát triển chủ yếu trên đất phù sa cổ tập trung nhiều

ở hai huyện Đông Anh và Sóc Sơn là loại đất chua, nghèo dinh dưỡng, khôngkết cấu, thành phần cơ giới nhẹ, rời rạc khi khô hạn, kết dính khi ngập nước,cho năng suất cây trồng thấp

Nhóm đất đồi núi tập trung ở huyện Sóc Sơn, bị xói mòn nghiêm trọng

do cây rừng bị chặt phá, tầng đất mỏng, nhiều nơi trơ sỏi sạn, tầng mùn nhưkhông còn, đất chua, độ pH thường dưới 4, nghèo chất dinh dưỡng

 Sinh vật:

Các loại thực vật tự nhiên chỉ còn ở dạng thứ sinh, tập trung ở huyệnSóc Sơn Hiện nay ở đây còn khoảng hơn 6.700 ha đất dùng trong lâm nghiệpđang được gấp rút trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc để khôi phục thảmthực vật rừng, bảo vệ môi sinh Do có rừng, gần đây đã thấy xuất hiện trở lịanhiều loại chim ăn ngũ cốc, các loài gặm nhấm và thú rừng vốn có rất nhiềutrước đây

Giới động vật còn tương đối phong phú là động vật dưới nước như cá,tôm, cua, ốc, kể cả cá trong đồng và ngoài sông

Hà Nội vốn là vùng đất trù phú, có truyền thống sản xuất nông nghiệp

từ lâu đời, đã cung cấp nhiều giống cây trồng, vật nuôi quý, có giá trị và nổitiếng trong cả nước Đáng chú ý là các huyện ngoại thành đã hình thành nêncác vành đai rau xanh, vành đai thực phẩm tươi sống phục vụ cho yêu cầu đôthị hoá ngày một cao của thủ đô Hà Nội và dành một phần để xuất khẩu

Trang 4

II Các nguồn tài nguyên.

 Tài nguyên đất.

Toàn thành phố có 18 loại đất chính Trong đó: Đất phù sa có diện tích36.769 ha chiếm 56%, đất bạc màu 16.819 ha chiếm 26%, các loại đất còn lại12.019 ha chiếm 18%

Nhìn chung các loại đất trong nhóm đất phù sa phân bố khắp nơi trênđịa bàn của thành phố, nhưng tập trung nhiều ở các huyện Từ Liêm, Gia lâm

và Thanh Trì được hình thành do phù sa của các sông: Hồng, Đuống và sôngCầu Nhóm đất bạc màu tập trung chủ yếu ở 2 huyện Sóc Sơn và Đông Anhven theo các đồi núi thấp, hình thành những giải rộng nhỏ, hẹp, bậc thang,hay dốc thoải

 Tài nguyên nước.

Nguồn mặt nước: có tổng số 19 sông lớn nhỏ với tổng diện tích mặt

nước là 32,6 km2 và 3.600 ha ao, hồ, đầm Với trữ lượng nước mặt rất lớn, lưulượng nhỏ nhất vào mùa khô của các sông là 571,3 m2/s (49,36 triệu m3/ngày)dung tích nước của các hồ đạt 10,66 triệu m3 Tuy nhiên nguồn mặt nước chỉ

sử dụng được ở một số nơi cho sản xuất còn lại đa dạng bị ô nhiễm nặng, đặcbiệt các sông và hồ, đầm trong khu vực nội thành Mặt khác do tính chất củađịa hình dốc thoải, nước mặt lại hoạt động theo mùa nên có ảnh hưởng đếnviệc sử dụng mặt đất Hà Nội như ngập, hạn hán, sụt lở

Nguồn nước ngầm: Có mỏ nước ngầm với trữ lượng lớn, chất lượng nói

chung tốt và có tầng bảo vệ chống ô nhiễm Lượng nước ngầm phổ cập:123.2.000m3/ ngày đêm, lượng nước đang khai thác sử dụng hiện nay:538.000 m3/ ngày đêm

 Tài nguyên rừng

Có 6.128 ha đất lâm nghiệp chiếm 6.65% diện tích trong đó chủ yếu làdiện tích đất rừng trồng, phân bố chủ yếu ở huyện Sóc Sơn với cá loại câynhư: bạch đàn, thông, keo sơn, giò, quế

4

Trang 5

 Tài nguyên kháng sản.

Nhóm nhiên liệu: có than bùn ở Đông Anh, Sóc Sơn, Đống Đa với trữ

lượng C2 ở Đông Anh là 659.661 tấn

Nhóm kim loại quý hiếm: có vàng sa khoáng ở Minh Trí (Sóc Sơn) phân

bố kéo dài xấp xỉ 500m với bề rộng 30-50 m, kèm theo là một vành thiếc sakhoáng bậc một có diện tích 2,2 km2

Nhóm vật liệu xây dựng và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp: gồm

có kaolin ở Đông Anh, Sóc Sơn, sét gạch ngói ở Sóc Sơn, Gia Lâm, sét dungdịch ở Đống Đa có trữ lượng 4.060.000 tấn, đá ong khu vực núi Dõm có trữlượng cấp P2= 2,5 triệu m3, cát xây dựng có ở các mỏ Phủ Lỗ, Hồ Tây, PhùĐổng và các giải lớn dọc theo sông Hồng

 Tài nguyên nhân văn.

Lịch sử hình thành và phát triển của người Hà Nội bắt đầu từ vài nghìnnăm trước Từ thời vua Hùng dựng nước Văn Lang, tổ tiên chúng ta đã đếnlàm ăn sinh sống ở vùng Hà Nội đến đầu thế kỉ 11 khi vua Lý Công Uẩn dời

đô từ Hoa Lư về Thăng Long- Hà Nội thì quy mô mới được xây dựng Hìnhthành khu trung tâm kinh tế -chính trị-văn hoá lớn nhất nước Là nơi tập trungcác danh nhân của đất nước: An Dương Vương (trước Công nguyên), LýNam Đế (thế kỷ VI), Ngô Quyền (898-944), Lý Thái Tổ (974-1028) và đếnnhững năm cuối thế kỷ 20 có một người khi nhắc đến Hà Nội không thể vắngNgười đó là Hồ Chủ Tịch

Các danh nhân của Hà Nội không sinh ra ở Hà Nội song tất cả đềuđược cái nôi của Hà nội nuôi dưỡng, hun đúc mà thành Chính những conngười đó tạo nên cái hào khí Thăng Long - Đông Đô- Hà Nội Ngày hôm nay,trong công cuộc Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá cùng với nhân dân Hà nộiđang mở rộng cửa đón bạn bè từ khắp nơi trên thế giới đến thăm và làm việc.Tiếp thu những cái mới nhưng người Hà nội vẫn không mất đi bản sắc dân tộc

từ ngàn xưa

Trang 6

III Hiện trạng quỹ đất đai và biến động đất đai.

Biểu số 01: Tình hình sử dụng và biến động đất đai thời kỳ 1995-2000 Thành phố Hà Nội

Trang 7

+ Đất trồng cây lâu năm khác 8 1,05

Trang 9

Nguồn: Niên giám thống kê năm 1991-2001- Cục Thống kê thành phố Hà Nội

Trang 10

Diện tích đất đai phân theo đơn vị hành chính Thành phố Hà Nội.

+ Nội thành: 8.430 ha bằng 9,15 diện tích tự nhiên của toàn thành phố Gồm cácQuận: Hoàn Kiếm 529 ha; Ba Đình 925 ha; Đống Đa 996 ha; Hai Bà Trưng 1.465ha; Tây Hồ 2.401 ha; Cầu Giấy 1.204 ha; Thanh Xuân 910 ha

+ Ngoại thành: 83.667 ha bằng 90,85% diện tích tự nhiên toàn thành phố, gồmcác huyện: Gia lâm 17.432 ha; Đông Anh 18.230 ha; Sóc Sơn 30.651 ha; Thanh Trì9.822 ha; Từ Liêm 7.532 ha bằng 9,01%

Như vậy, diện tích đất đai của thành phố tuy không nhiều nhưng tínhchất sử dụng đa dạng và khá phức tạp; các tổ chức trong nước sử dụng đấttrên địa bàn 12 Quận, huyện ở cả 228 phường xã, thị trấn với mức độ khácnhau Theo thống kê năm 200 diện tích đất do các cơ quan đơn vị đang quản

lý sử dụng là 15.779,16 ha chiếm 17,15% tổng diện tích đất tự nhiên, trongđó: diện tích đất sử dụng trước năm 1996 và các trường hợp được giao đất,cho thuê đất sau năm 1996 là 9.933,69 ha chiếm 10,8% diện tích đã kê khaitheo chỉ thị 245/TTg của Thủ tướng Chính Phủ: 5.845,47 ha chiếm gần 6,35%diện tích đất tự nhiên với 6.410 tổ chức đang sử dụng 9.878 thửa đất trong đó

có 2.750 tổ chức và cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước với tổng diện tíchđất sử dụng là 2.778,6 ha không phải hợp đồng thuê đất; 3.660 tổ chức kinh

tế sử dụng 4.305 thửa đất: 3.066,87 ha trong đó 1452 tổ chức thuộc TrungƯơng quản lý 2.208 tổ chức do thành phố và các quận huyện quản lý Có1.903 tổ chức sử dụng đất có giấy tờ hợp pháp 1.757 tổ chức sử dụng đấtkhông có giấy tờ hợp pháp: kết quả là đã có 1500 thửa đất ký hợp đồng chiếm39,3%; 1200 thửa đất có vướng mắc nên chưa ký hợp đồng chiếm 31,4%;1.116 thửa đất trên 1000 tổ chức đã nhận hợp đồng thuê đất và thông báo của

Sở Địa chính- Nhà đất (chiếm 29,2%) nhưng chưa ký hợp đồng

Theo số liệu của cục thuế Hà Nội với 1.500 tổ chức đã ký hợp đồng thuêđất, hàng năm thu được 90-95 tỷ đồng tiền thuê đất nộp ngân sách Nhà nước

11

Trang 11

nhưng chỉ tính trong các năm từ 1996-2000 các tổ chức này còn nợ đọng 95,6

tỷ đồng

Từ năm 1996-2000 có 250 tổ chức được thuê đất mới với tổng số2.454.991,2 m2; Các trường hợp này được thuê đất theo dự án đầu tư đượcduyệt và theo quy trình giao đất chặt chẽ nên về cơ bản sử dụng đất đúngmục đích và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước

1 Biến động đất đai giai đoạn 1995-2000.

Tổng diện tích tự nhiên theo địa giới hành chính của toàn Thành phốnăm 2000 là 92.097 ha tăng 290 ha so với năm 1993 Về cơ bản địa giới hànhchính của Thành phố không có gì thay đổi, chỉ có sự thay đổi địa giới hànhchính giữa các quận, huyện trong Thành phố cụ thể là:

Quận Tây Hồ là đơn vị hành chính mới được thành lập và chính thứchoạt động từ ngày 1/1/1996, được tách ra từ các phường của huyện Từ Liêm

và quận Đống Đa, quận Thanh Xuân và quận Cầu Giấy là hai đơn vị hànhchính mới được thành lập từ ngày 1/1/1997, được tách ra từ các quận Đống

Đa, huyện Từ Liêm, Thanh Trì Sự sai lệch về tổng diện tích tự nhiên củaThành phố Hà Nội trong những năm qua là do chất lượng thống kê, kiểm kêđất đai hành năm (gọi là nguyên nhân thống kê)

a Đất nông nghiệp.

Diện tích đất nông nghiệp năm 1995 là 43.865 ha, đến năm 2000 là43.612 ha giảm 253 ha Nguyên nhân chủ yếu làm giảm đất nông nghiệptrong những năm vừa qua là do chuyển sang các mục đích sử dụng khác nhaunhư: chuyển sang đất ở, đất chuyên dùng gồm (đất giao thông, đất xây dựng,đất thuỷ lợi)

Trong đất nông nghiệp thì đất cây hàng năm giảm mạnh nhất 1.021 hatrong đó đất ruộng lúa, lúa màu giảm 2.101 ha còn đất cây hàng năm khác lạităng 1.080 ha

Đất trồng cây lâu năm luôn chiếm một tỷ trọng nhỏ trong đất nôngnghiệp, trong những năm vừa qua diện tích đất trồng cây lâu năm tăng lên

Trang 12

nhưng không đáng kể: 13 ha bằng 4,89% Đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôităng 13 ha do đất trồng cây hàng năm chuyển sang Đất có mặt nước nuôitrồng thuỷ sản tăng 270 ha bằng 9,31%.

b Đất lâm nghiệp.

Năm 1995 Thành phố Hà Nội có diện tích đất lâm nghiệp là 6.717 hachiếm 7,32% cơ cấu các loại đất Đến năm 2000 diện tích đất lâm nghiệp6.128 ha Đất lâm nghiệp trong những năm qua tăng lên nhưng không bằnggiảm đi Diện tích đất lâm nghiệp được tăng thêm ở huyện Gia Lâm 13 ha,huyện Sóc Sơn 45 ha nhưng ở huyện Từ Liêm giảm 1ha Cho đến nay huyệnSóc Sơn vẫn đang là huyện có khả năng tiềm tàng về đất lâm nghiệp lớn nhấttrong các huyện ngoại thành, vì thế cần phải có chính sách giao đất, giaorừng cho dân lâu dài và cần có sự khuyến khích để đẩy nhanh công tác phủxanh diện tích đất trống đồi núi trọc Trong giai đoạn này, đất lâm nghiệpcũng giảm mạnh, năm 2000 giảm 606 ha so với năm 1995 Nguyên nhân là dolấy đất mở đường giao thông và xây dựng Điều này giúp cho việc xây dựng

và quy hoạch khu công nghiệp một cách được thuận lợi

Năm 2000 diện tích đất xây dựng có: 5.558 ha, tăng 157 ha so với năm

1995 Như vậy bình quân mỗi năm diện tích đất xây dựng tăng 31 ha Diệntích đất xây dựng tăng lên tập trung chủ yếu ở các huyện ngoại thành đặc biệt

là các huyện Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn Ngược lại các quận nội thành

13

Trang 13

diện tích đất xây dựng được xem là không tăng như quận Hoàn Kiếm, quậnHai Bà Trưng.

Diện tích đất giao thông năm 2000 là 5.618 ha, tăng thêm 665 ha so vớinăm 1995 và tăng mạnh ở huyện Gia Lâm, quận Hai Bà Trưng, huyện SócSơn Diện tích đất giao thông tăng lên bình quân mỗi năm là 133 ha

Diện tích đất thuỷ lợi và mặt nước chuyên dùng năm 2000 là 5.585 ha,tăng 503 ha so với năm 1995 Tăng nhiều ở huyện Thanh Trì, Sóc Sơn, GiaLâm

Đất an ninh quốc phòng tăng 143 ha bằng 7,46 % Đất làm nguyên vậtliệu xây dựng giảm 158 ha bằng 30,68% Đất chuyên dùng khác giảm 93 ha.Nhìn chung đất chuyên dùng của các huyện có tiến độ tăng lên tương đốiđều Nguyên nhân chủ yếu là do đất xây dựng, đất giao thông, đất thuỷ lợităng lên

Đất ở nông thôn: ngược lại đến năm 2000 bị giảm 264 ha so với năm

1995 do đất ở nông thôn chuyển sang đất ở đô thị, đất chuyên dùng.Nhìnchung quỹ đất ở cũng tăng lên do các năm nhờ sự tác động của quá trình đôthị hoá Nguyên nhân cơ bản là do sự chuyển đổi từ đất canh tác sang đất ở,

do xây dựng các khu đô thị mới, do lấn chiếm Riêng huyện Từ Liêm năm

2000 giảm đi 448 ha so với năm 1995 Nguyên nhân là do nhiều xã của huyện

Từ Liêm chuyển sang các quận mới

e Đất chưa sử dụng.

Diện tích đất chưa sử dụng năm 2000 giảm 257 ha so với năm 1995.Diện tích đất chưa sử dụng giảm đi tập trung chủ yếu ở hai huyện: Gia Lâm

Ngày đăng: 23/04/2013, 07:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu số 01: Tình hình sử dụng và biến động đất đai thời kỳ 1995-2000 Thành phố Hà Nội - biến động đất đai tại thành phố Hà Nội
i ểu số 01: Tình hình sử dụng và biến động đất đai thời kỳ 1995-2000 Thành phố Hà Nội (Trang 6)
Biểu số 02: Tình hình sử dụng và biến động đất từ năm 2000 2009 Thành phố Hà Nội - biến động đất đai tại thành phố Hà Nội
i ểu số 02: Tình hình sử dụng và biến động đất từ năm 2000 2009 Thành phố Hà Nội (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w