Đánh giá ý kiến của cán bộ, công dân về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang .... Đánh giá ý kiến của cán bộ, người dân về
Trang 1HOÀNG THỊ NHƯ TRẦM
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ MỘT CỬA TRONG QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TẠI THÀNH PHỐ HÀ GIANG - TỈNH HÀ GIANG
GIAI ĐOẠN 2008 – 2013
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai Khoa : Quản lý Tài nguyên Lớp : K42 - QLĐĐ N01 Khoá học : 2010 – 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2HOÀNG THỊ NHƯ TRẦM
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ MỘT CỬA TRONG QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TẠI THÀNH PHỐ HÀ GIANG - TỈNH HÀ GIANG
GIAI ĐOẠN 2008 – 2013
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Lớp : K42 - QLĐĐ N01
Khoá học : 2010 – 2014
Giáo viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Thị Yến
Khoa Quản lý Tài nguyên , trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tế” Thực tập tốt nghiệp là thời gian để mỗi sinh viên sau khi học tập, nghiên cứu tại trường có điều kiện củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế Đây là giai đoạn không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên các trường đại học nói chung và sinh viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin cảm ơn cô giáo Ths Nguyễn Thị
Yến giảng viên khoa quản lý tài nguyên đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên, các thầy giáo, cô giáo, cán bộ trong khoa đã truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới các chú, các anh chị trong Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Giang đã tạo mọi điều kiện giúp
đỡ em hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian qua
Em xin cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên cạnh
động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập và thời gian em thực
hiện khóa luận tốt nghiệp này
Do điều kiện thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bài khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn bè để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Hoàng Thị Như Trầm
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2013 thành phố Hà Giang 34 Bảng 4.2: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2008 39 Bảng 4.3: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2009 41 Bảng 4.4: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2010 43 Bảng 4.5: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2011 45 Bảng 4.6: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2012 47 Bảng 4.7: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2013 49 Bảng 4.8: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008-2013 51 Bảng 4.9: So sánh kết quả trước và sau khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang 53 Bảng 4.10 Ý kiến của cán bộ về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại UBND thành phố 56 Bảng 4.11 Ý kiến của người dân về việc thực hiện cơ chế 57
“một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại UBND thành phố Hà Giang 57
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 4.1: Cơ cấu hiện trạng sử dụng đất của thành phố Hà Giang năm 2013 35 Hình 4.2: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2008 40 Hình 4.3: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2009 42 Hình 4.4: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2010 44 Hình 4.5: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2011 46 Hình 4.6: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2012 48 Hình 4.7: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2013 50 Hình 4.8: Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính 52 nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008-2013 52 Hình 4.9: Kết quả trước và sau khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản
lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang 55
Trang 7MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Khái quát về quản lý nhà nước về đất đai 3
2.1.1 Khái niệm “quản lý nhà nước về đất đai” 3
2.1.2 Các quy định chung trong quản lý nhà nước về đất đai 3
2.1.3 Căn cứ pháp lý trong quản lý nhà nước về đất đai 5
2.1.4 Tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam 7
2.2 Khái quát về cơ chế “một cửa” 12
2.2.1 Khái niệm “một cửa” 12
2.2.2 Các quy định chung về cơ chế “một cửa” 13
2.2.3 Căn cứ pháp lý về cơ chế “một cửa” 15
2.3 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 15
2.3.1 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Bồ Đào Nha 15
2.3.2 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Kazakhstan 16
2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 17
2.4 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Việt Nam 18
2.5 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại thành phố Hà Giang 19
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
Trang 83.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình quản lý và sử dụng đất
của thành phố Hà Giang 20
3.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008 – 2013 21
3.3.3 Đánh giá ý kiến của cán bộ, công dân về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang 22
3.3.4 Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân tồn tại trong quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008 – 2013 22
3.3.5 Đề xuất một số giải pháp về công tác thực hiện cơ chế “một cửa” tại thành phố Hà Giang 22
3.4 Phương pháp thực hiện 22
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu 22
3.4.2 Phân tích và xử lý số liệu 23
3.4.3 Phương pháp tổng hợp 23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình quản lý và sử dụng đất của thành phố Hà Giang 24
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Hà Giang 24
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Hà Giang 26
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Giang 29
4.1.4 Tình hình quản lý và sử dụng đất của thành phố Hà Giang 30
4.2 Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại thành phố Hà Giang từ năm 2008 - 2013 36
4.2.1 Qúa trình triển khai đề án "một cửa" tại thành phố Hà Giang 36 4.2.2. Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành
chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008-2013 38
Trang 94.2.3 So sánh kết quả trước và sau khi thực hiện cơ chể “một cửa” trong
quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang 53
4.3 Đánh giá ý kiến của cán bộ, người dân về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang 55
4.3.1 Đánh giá ý kiến của cán bộ về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang 55
4.3.2 Đánh giá ý kiến của người dân về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang 57
4.4 Thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008-2013 59
4.4.1 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn từ 2008-2011 59
4.4.2 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2012-2013 60
4.4.3 Nguyên nhân tồn tại 62
4.5 Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang 63
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
5.1 Kết luận 65
5.2 Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 10Hòa chung với sự đổi mới của đất nước, Hà Giang đang từng bước cố gắng hoàn thiện các chính sách về cải cách hành chính và một trong những lĩnh vực được các cấp lãnh đạo quan tâm đó là cải cách hành chính trong vấn đề quản lí nhà nước về đất đai.Theo quyết định số 181/2003/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại
cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Trong những năm qua tỉnh Hà Giang đã đề ra phương án thực hiện cơ chế “một cửa” nhằm đưa công tác quản lý đất đai ở các cấp đi vào nề nếp, bước đầu đã đạt được một số thành tựu đáng kể Tuy nhiên đây là vấn đề còn mới mẻ nên trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn
Xuất phát từ những vấn đề nói trên: được sự nhất trí của BGH nhà trường Đại học Nông Lâm và ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của của cô giáo Ths Nguyễn Thị Yến tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa”
Trang 11trong quản lí hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang - tỉnh Hà Giang giai đoạn 2008 - 2013”
1.2 Mục đích của đề tài
Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý Nhà
nước về đất đai của thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang giai đoạn 2008 -
2013 Tìm hiểu thuận lợi, khó khăn và những nguyên nhân tồn tại khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong công tác quản lý hành chính nhà nước về đất
đai tại thành phố Hà Giang Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường
công tác cải cách hành chính và công tác thực hiện cơ chế “một cửa” về quản lý đất đai tại thành phố Hà Giang
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Khái quát về quản lý hành chính nhà nước về đất đai và cơ chế
“một cửa”
- Xem xét tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính Nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang - tỉnh Hà Giang giai
đoạn 2008 - 2013 Tìm hiểu thuận lợi, khó khăn và những nguyên nhân tồn
tại khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong công tác quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang Qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác cải cách hành chính và công tác thực hiện cơ chế “một cửa” về quản lý đất đai tại thành phố Hà Giang
1.4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Đây là cơ hội cho bản thân củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường, đồng thời là cơ hội
áp dụng lý thuyết đã học vào thực tiễn Giúp bản thân rèn luyện kĩ năng, nghiên cứu sau khi ra trường
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác cải cách hành chính và công tác thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang
- tỉnh Hà Giang
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái quát về quản lý nhà nước về đất đai
2.1.1 Khái niệm “quản lý nhà nước về đất đai”
- Khái niệm quản lý: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định
- Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai: quản lý nhà nước về đất đai
là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt
động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử
dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai
2.1.2 Các quy định chung trong quản lý nhà nước về đất đai
2.1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
- Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Thống kê, kiểm kê đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai
Trang 13- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất
đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
- Giải quyết các tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng đất đai [9]
2.1.2.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai
- Nguyên tắc thống nhất về quản lý nhà nước: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý
- Nguyên tắc phân cấp gắn liền với các điều kiện bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ: Cơ quan địa chính ở trung ương và địa phương chịu trách nhiệm trước Chính phủ và cơ quan chính quyền cùng cấp trong quản lý nhà nước
về đất đai
- Nguyên tắc tập trung dân chủ: quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền phải tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện quyền chủ sở hữu toàn dân về đất đai
- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với địa phương và vùng lãnh thổ: có sự hài hoà giữa quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo chuyên ngành
- Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử: quản lý nhà nước của chính quyền phải tuân thủ việc kế thừa các quy định của luật pháp của Nhà nước
trước đây, cũng như tính lịch sử trong quản lý đất đai qua các thời kỳ
2.1.2.3 Vai trò quản lý nhà nước về đất đai
- Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả
- Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm
được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất
- Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai
Trang 14- Phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm
2.1.2.4 Công cụ quản lý nhà nước về đất đai
- Công cụ pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và các nghĩa vụ khác
- Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai: trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong công tác quản lý nhà nước về đất đai
- Công cụ tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế - xã hội
2.1.2.5 Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai
- Phương pháp hành chính: là phương pháp tác động mang tính trực tiếp Phương pháp này dựa vào mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý,
mà thực chất đó là mối quan hệ giữa quyền uy và sự phục tùng
- Phương pháp kinh tế: là phương pháp tác động gián tiếp lên đối tượng bị quản lý không trực tiếp như phương pháp hành chính
- Phương pháp tuyên truyền, giáo dục: là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác
và lòng nhiệt tình của họ trong quản lý đất đai nói riêng và trong hoạt động kinh kế - xã hội nói chung
2.1.3 Căn cứ pháp lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Quyền sở hữu đất đai được Nhà nước ta khẳng định qua các hiến pháp
từ năm 1980 đến hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 1988 đến Luật
Đất đai năm 1993 như sau: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước
thống nhất quản lý” (Điều 1 Luật Đất đai 1993) [9]
Trong những năm vừa qua Đảng và nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các chính sách, văn bản pháp luật quy định chế độ quản lý sử dụng đất đai,
đó chính là căn cứ pháp lý trong quản lý nhà nước về đất đai
Trang 15Cụ thể qua những văn bản sau:
- Luật Đất đai năm 1987
- Hiến pháp năm 1992
- Luật Đất đai năm 1993
- Thông tư 735/NN/ĐC ngày 24/10/1994 của Bộ Nông Nghiệp về
“Kiểm tra việc quản lý và sử dụng ruộng đất”
- Chỉ thị 231/TTg ngày 24/09/1974 của Thủ tướng Chính phủ về việc
“Thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước”
- Luật Đất đai 2003
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003
- Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thông tư số 01/2005/TT- BTNMT ngày 13 tháng 04 năm 2005 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị
định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về
hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 1 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần
-Thông tư số 08/2007/TT- BTNMT ngày 02 tháng 08 năm 2007 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất
đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
- Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài
Trang 16nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
-Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường qui định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm
định quy hoạch kế hoạch sử dụng đất
- Chỉ thị số 01/2010/CT-BTNMT ngày 17/3/2010 của Bộ tài nguyên và môi trường về việc tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất
2.1.4 Tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam
Các triều đình phong kiến không ngừng mở rộng diện tích lãnh thổ thông qua việc lấn chiếm và khai khẩn đất hoang Khi người Pháp đặt chân
đến đất Đông Dương đã đưa phương pháp luận và kỹ thuật mới vào lĩnh
vực địa chính, đặt nền tảng cho một hệ thống địa chính hiện đại Hệ thống Luật Đất đai của Pháp đã thay thế luật Gia long, hệ thống bản đồ địa chính
được đo lại và áp dụng giấy chứng nhận thay thế cho địa bạ ở khu vực đô
thị, tọa độ, độ cao quốc gia và hệ thống bản đồ địa chính cơ bản 1/100.000
được thành lập thống nhất phủ kín Đông Dương
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngành địa chính từ Trung ương đến địa phương được duy trì
và củng cố để bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất và công tác quản lý ruộng đất
- Ngày 02/02/1947 các Ty địa chính được xác nhập thành Ty Canh nông
- Ngày 18/06/1949 thành lập Địa chính trực thuộc Bộ Tài chính
- Ngày 05/03/1952 Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về sử dụng công điền, công thổ nhằm đảm bảo chia ruộng đất có lợi cho dân nghèo
- Ngày 14/12/1952 Chủ tịch Hồ Chí minh kí sắc lệnh ban hành luật cải cách ruộng đất Mục tiêu là: thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và chế độ xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp phong kiến
- Năm 1954 cuộc cải cách ruộng đất cơ bản hoàn thành
Trang 17- Ngày 03/07/1958 có chỉ thị 345/TTg cho tái lập hệ thống Địa chính trong Bộ Tài chính và UBND các cấp để làm nhiệm vụ đo đạc, lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính
- Năm 1960 hợp tác hóa nông nghiệp cơ bản đã hoàn thành 90% đất canh tác được tập thể hóa, hình thức sở hữu ruộng đất được ra đời Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định rõ ba hình thức sở hữu đất đai như sau:
+ Sở hữu toàn dân
+ Sở hữu tư nhân
+ Sở hữu tập thể
Sau mùa xuân 1975 miền nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất, nhà nước có chủ trương kiểm kê, thống kê đất đai trong cả nước Để thực hiện nội dung này Chính phủ đã ra quyết định số 69/CP ngày 20/06/1977 về công tác kiểm kê đất đai trong cả nước
Ngày 07/11/1979 Hội đồng Chính phủ ra nghị định 404/CP thành lập tổng cục quản lý ruộng đất thuộc Chính phủ
* Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính
Trong năm 2001, Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã xây dựng và được chính phủ ban hành Nghị định số 12/2002/NĐ-CP ngày 22/01/2002 của Chính phủ về đo đạc bản đồ, Thông
tư hướng dẫn việc áp dụng hệ thống quy chiếu của hệ tọa độ quốc gia Việt Nam/2002 Cho đến nay, hệ quy chiếu quốc gia hiện đại Việt Nam đã hoàn thành Hệ tọa độ, độ cao quốc gia với độ chính xác cao đã phủ kín cả vùng
đất liền và vùng ven biển, hệ thống chụp ảnh hàng không – vệ tinh đã phủ
kín cả nước vào năm 2003 Hệ thống bản đồ đáy biển với tỉ lệ 1/10.000 và 1/50.000 sẽ hoàn thành theo quy hoạch cho vùng lãnh thổ vào cuối năm
2005, chế bản in bản đồ đã thực hiện công nghệ số, công tác đo đạc bản đồ phục vụ biên giới và địa giới hành chính đáp ứng được mọi nhu cầu kỹ thuật trong nước và quốc tế, công nghệ 35 (GPS, GIS) đo đạc phổ biến ở nước ta, chuẩn bị đủ điều kiện phát triển tốt trong giai đoạn tới
Trang 18* Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và
sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Trong những năm vừa qua, với sự cố gắng vươn lên của mình Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã từng bước xây dựng hoàn chỉnh Luật Đất đai, xây dựng trình Chính phủ ban hành 14 Nghị
định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, phối hợp với các ngành soạn thảo 38
Nghị định về các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động quản lý đất đai và đo
đạc bản đồ địa chính Ban hành 15 Thông tư hướng dẫn thi hành các Nghị định của Chính phủ, nhằm đáp ứng thời kỳ đổi mới kinh tế, nâng cao hiệu
quả và hiệu lực của chính sách pháp Luật Đất đai trong cơ chế mới ở các
địa phương Ngày 10/03/2003 Luật Đất đai được ra đời và bắt đầu có hiệu
lực từ ngày 1/7/1004
* Công tác kiểm kê, thống kê đất đai
Việc làm cần thiết trong công tác thống kê, kiểm kê đất đai là tập hợp
và sắp xếp các số liệu đất đai đối với tất cả các đơn vị tập thể, cá nhân sử dụng đất về từng loại đất, hạng đất ở mỗi cấp quản lý Đây là việc làm hết sức quan trọng của công tác thống kê, kiểm kê giúp các cơ quan quản lý nắm bắt được tình hình đất đai Chính vì tầm quan trọng của công tác thống
kê, kiểm kê đất đai, ngày 31/03/1995 Tổng cục Địa chính ra Chỉ thị 382/CT-ĐC quy định “việc thống kê đất đai được tiến hành một năm một lần, kiểm kê được tiến hành 5 năm một lần”
* Công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã hình thành từng bước theo quy định của pháp luật, đến nay vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất cho giai đoạn 5 năm (2010 – 1015) và 10 năm (2010 – 2020) đang đi vào
nề nếp Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cả nước được Chính phủ xem xét để trình Quốc hội Hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang tiếp tục xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình
* Công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Trang 19Trên cơ sở Luật Đất đai 1993 đã hai lần sửa đổi vào năm 1998, 2001
và Luật Đất đai 2003, Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã xây dựng nhiều văn bản pháp lý về đăng ký đất đai, lập hồ sơ
địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tăng cường công tác
kiểm tra, chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn các địa phương trên cả
3 lĩnh vực này Thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nhà nước đã lập được hồ sơ địa chính để quản lý nguồn tài nguyên đất đai
Đồng thời các chủ sử dụng đất cũng được xác lập quyền sử dụng hợp pháp,
làm cơ sở để thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của người sử dụng đất
* Công tác giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ IX, tập chung chỉ đạo tiếp tục đổi mới chính sách và pháp luật về
đất đai để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó công
tác giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất được sửa đổi một số vấn đề sau:
- Với đất dùng làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối của các tổ chức kinh tế, áp dụng cả hai hình thức giao đất có thu tiền và cho thuê đất
- Về thu hồi đất: có quy định cụ thể việc thu hồi đất đã giao, cho thuê
mà không sử dụng, sử dụng sai mục đích, sử dụng nhưng kém hiệu quả Các doanh nghiệp đã thuê hoặc được giao sử dụng không đúng mục đích thì nhà nước sẽ thu hồi mà không phải bồi thường
* Công tác thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai Trong những năm qua, cán bộ thanh tra toàn ngành Địa chính đã có nhiều cố gắng để khắc phục khó khăn, giải quyết kịp thời nhiều nội dung bức xúc trong quản lý và sử dụng đất Thanh tra của Bộ đã tổ chức công tác tổng kiểm kê sản phẩm đo đạc bản đồ, đôn đốc hướng dẫn các địa phương thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm tra tình hình quản
lý và sử dụng đất ở cấp xã, phường, quận, huyện, các tổ chức, các nông lâm trường đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn và trả lời những vấn đề liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất đai đối với Sở, Ngành liên quan
* Công tác quản lý tài chính về đất đai
Công tác quản lý tài chính về đất đai là công tác mới được đưa vào Luật Đất đai, nhằm xây dựng các quy định trong quá trình quản lý đất đai
Trang 20Đây cũng là một nguồn thu lớn của ngân sách Nhà nước như: thu tiền thuế
sử dụng đất, thu tiền chuyển quyền sử dụng đất, phí và lệ phí trong quản lý
và sử dụng đất đai, thu tiền sử dụng đất khi nhà nước giao đất ở, tiền thuê
đất… nhưng các khoản thu hiện nay từ đất đai vẫn còn khiên tốn, chưa
xứng với tiềm năng và tình hình thực tế của các địa phương Công tác này còn nhiều bất cập, hạn chế, thủ tục rườm rà
* Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản
Công tác quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản là một nội dung mới được đưa vào Luật Đất đai năm
2003, nhằm phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai Vì từ trước tới nay, thị trường tồn tại như một thị trường ngầm, mặc dù diễn ra khá sôi
động nhưng nhà nước không quản lý được, điều này gây rất nhiều vướng mắc
trong quản lý Nhà nước về đất đai Luật Đất đai năm 2003 nêu rõ quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản quy định tại điều 61, 62, 63
* Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Trước khi Luật Đất đai 2003 ra đời quy định quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất thì công việc này được thực hiện từ rất lâu và thường xuyên liên tục, nhằm phát hiện vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai Nhưng quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế, do đó các văn bản luật cũng như các văn bản dưới luật đều không quy
định đủ hành vi vi phạm về đất đai của người sử dụng đất Chính vì thế,
Luật Đất đai 2003 hiện hành đưa ra các quy định rõ cụ thể cho từng trường hợp, giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai tốt hơn
* Công tác quản lý dịch vụ công về đất đai
Đây là công tác rất mới được quy định trong Luật Đất đai năm 2003
Các lĩnh vực dịch vụ công về đất đai bao gồm:
Trang 21Ở nước ta, theo Luật Đất đai năm 2003 cho đến thời điểm này mới có
một vài tỉnh thành lập văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, nhân sự phục
vụ chưa có do đó công tác này vẫn chưa được mạnh nên việc học hỏi kinh nghiệm còn hạn chế
* Công tác xây dựng và hoàn thiện tổ chức ngành Địa chính
Ngành địa chính trước đây và hiện nay là ngành tài nguyên và môi trường được tổ chức theo 4 cấp hành chính Sau khi Luật Đất đai năm 1993
ra đời, ngành địa chính các cấp nhanh chóng được kiện toàn và tham gia vào nhiều hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai và đo đạc bản đồ Đã có rất nhiều các văn bản dưới luật được ban hành nhằm kiện toàn một cách chặt chẽ, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn toàn ngành Sau khi Luật Đất đai 2003 ra đời và có hiệu lực thi hành, Bộ tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo xây dựng đề án kiện toàn tổ chức ngành, làm việc với các
đơn vị trực thuộc về đề án của từng cơ sở và đã tạo ra bước chuyển biến
mới trong xây dựng ngành phát triển vững mạnh
Đạt được những thành tựu trên là kết quả của những đổi mới trong
chính sách pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước, đã thúc đẩy kinh tế phát triển, giữ vững ổn định chính trị, xã hội Người sử dụng đất gắn bó nhiều hơn với đất đai, đất đai được sử dụng hiệu quả hơn
2.2 Khái quát về cơ chế “một cửa”
2.2.1 Khái niệm “một cửa”
“Một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, công dân thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước từ tiếp nhận, yêu cầu hồ sơ
đến trả lại kết quả thông qua đầu mối là bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả”
tại cơ quan hành chính nhà nước
Việc thực hiện cơ chế “một cửa” nhằm đạt được bước chuyển căn bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân, giảm phiền hà cho tổ chức, công dân, chống tệ quan liêu, tham nhũng, cửa quyền của cán bộ, công chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước [1]
Trang 222.2.2 Các quy định chung về cơ chế “một cửa”
2.2.2.1 Nguyên tắc thực hiện cơ chế “một cửa”
- Thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật
- Công khai các thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, công dân
- Nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả”
- Việc phối hợp giữa các bộ phận có liên quan để giải quyết công việc của tổ chức, công dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước
- Bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, công dân [1]
2.2.2.2 Các lĩnh vực thực hiện cơ chế “một cửa”
- Tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: phê duyệt các dự án đầu
tư trong nước và ngoài nước, xét duyệt cấp vốn xây dựng cơ bản, cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, cho thuê đất, giải quyết chính sách xã hội
- Tại quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc cấp tỉnh: cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho các hộ kinh doanh cá thể, cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất, đăng
ký hộ khẩu, công chứng và chính sách xã hội
- Tại xã, phường, thị trấn: xây dựng nhà ở, đất đai, hộ tịch, chứng thực Ngoài các lĩnh vực này, chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương quyết định lựa chọn thêm một số lĩnh vực công tác khác để áp dụng cơ chế “một cửa” [1]
Trang 232.2.2.3 Quy trình giải quyết công việc theo cơ chế “một cửa”
Quy trình giải quyết công việc theo cơ chế “một cửa”
Bước Trách nhiệm Công việc Người thực hiện
UBND thành
phố
Phó chủ tịch UBND thành phố
Tiếp nhận hồ
sơ Bàn giao hồ sơ
Nộp hồ sơ
Phân công thụ lý
Thụ lý hồ sơ
Trang 242.2.3 Căn cứ pháp lý về cơ chế “một cửa”
- Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương [1]
- Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ: Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông tại cơ quan hành chình nhà nước ở địa phương [2]
- Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 22/5/2013 của thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020
2.3 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.3.1 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha bắt đầu tổ chức thực hiện và thiết lập bộ phận “một cửa”
từ năm 1999 với tên gọi là The Citizen shops (Tạm dịch là: Bộ phận tiếp công dân) Bộ phận này được thiết lập với mục đích thành lập những tổ chức hiện đại, cập nhật và hiện đại hóa ở các thành phố lớn để cung cấp dịch vụ công, thống nhất các dịch vụ công tại một đầu mối, cải thiện chất lượng dịch vụ công và được quản lý bởi MISC (Management Institue of the citizen shops) Bộ phận tiếp công dân này được tổ chức thực hiện theo cơ chế “một cửa” phục vụ cho cả người dân và doanh nghiệp, các tổ chức công cũng như tổ chức tư nhân với hàng loạt dịch vụ công như cung cấp
điện, nước, dịch vụ sức khỏe, đào tạo, việc làm…Cho tới năm 2008 đã có
72 triệu lượt người được cung cấp dich vụ công Bộ phận tiếp doanh nghiệp với những nội dung ở cách thức tổ chức thực hiện cũng tương tự như Bộ phận tiếp công dân Bộ phận tiếp doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ công
và tư nhân cho doanh nghiệp với các hoạt động bao gồm các bước trong chu kì kinh doanh: thành lập doanh nghiệp, quản lý các hoạt động doanh nghiệp, mở rộng kinh doanh, đóng cửa hoặc bán doanh nghiệp Ngoài ra có hàng loạt dịch vụ công được cung cấp bởi Bộ phận “một cửa” như: dịch vụ
Trang 25tại Chính phủ trung ương, thuế, an sinh xã hội, đăng ký (đất đai, kinh doanh, xe cộ, dân sự), chăm sóc sức khỏe, lao động, nhập cư, giấy phép
được cấp bởi một số Bộ, dịch vụ tại chính quyền địa phương, giấy phép cấp
thành phố, dịch vụ cung cấp nước thành phố, dịch vụ tư nhân, ngân hàng, dịch vụ điện, nước, khí đốt, điện thoại di động, dịch vụ bưu điện [3]
2.3.2 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Kazakhstan
Cơ chế “một cửa” tại Kazakhstan được tổ chức thực hiện trong giai đoạn cải cách hành chính, đổi mới mô hình Chính phủ, áp dụng mô hình Quản lý công mới và được xem như là một cách thức liên thông để cung cấp dịch vụ công
Cơ chế “một cửa” cũng là một phần không thể thiếu của Chính phủ điện tử ở Kazakhstan – một bước tiến của việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) và cơ sở hạ tầng công nghệ của nước này Trong giai đoạn đầu tiên, từ 12/2006 đến 12/2008, cơ chế “một cửa” đã được triển khai tại 3 Bộ: Bộ tư pháp – đóng vai trò điều phối cải cách, Cục quản lý tài nguyên đất và Bộ quốc phòng
Trên thực tế, bộ phận “một cửa” thu thập giấy tờ và gửi tới các cơ quan Chính phủ theo một quy trình hành chính tương tự như trước đó khi chưa có cơ chế “một cửa” Cơ chế “một cửa” đã cải thiện việc tiếp cận của người dân với các dịch vụ công thông qua việc giới thiệu các kênh cung cấp đa dạng: giao dịch trực tiếp, tổng đài điện thoại, bưu điện, công nghệ
điện thoại di động và các quầy thông tin Vì vậy, các bộ phận “một cửa” đã đưa ra nhiều lựa chọn đa dạng hơn cho người dân để lựa chọn sử dụng dịch
vụ tại các bộ phận “một cửa” hay các bộ phận truyền thống Qua nhiều năm thực hiện cơ chế “một cửa” tại Kazakhstan cho thấy:
- Thứ nhất không thể phân quyền cho những người làm việc trong bộ phận “một cửa”
- Thứ hai không thể tích hợp các dịch vụ công trong một điểm giao dịch duy nhất
Trang 26- Thứ ba không thể cải thiện được việc đánh giá chất lượng hoạt động dựa vào ý kiến của người dân
- Thứ tư mặc dù cơ chế “một cửa” có đào tạo cán bộ nhưng vẫn hạn chế quyền tự quyết và hành vi của họ trong những quy định và hướng dẫn nghiêm ngặt, không tạo điều kiện cho họ thay đổi những cách thức làm việc cũ
- Thứ năm cơ chế “một cửa” chưa thể giảm được nạn quan liêu và tham nhũng [3]
2.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Có thể thấy cơ chế “một cửa” được thực hiện và áp dụng tại nhiều quốc gia, cụ thể như Bồ Đào Nha và Kazakhstan đã đem lại những hiệu quả nhất định trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đây
là những quốc gia có quá trình đổi mới cải cách hành chính và phát triển kinh tế gần giống với Việt Nam Cũng như nhiều quốc gia khác, thực hiện
cơ chế “một cửa” ở Việt Nam cần được nhìn nhận cụ thể hơn về cách thức
đánh giá và đo lường thực chất hiệu quả của cơ chế “một cửa”, góp phần
nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công của cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Công cụ đo lường quá trình thực thi của cơ chế “một cửa” cần được xem xét từ sự xuất hiện cùng với những giá trị truyền thống của nền hành chính, cách thức đánh giá và
đây có thể được coi là những định hướng tương lai của cơ chế “một cửa” Đồng thời với đó, cần phải giải quyết những vấn đề từ lý luận đến thực tiễn
ở một số khía cạnh như:
- Làm thế nào để nền hành chính quan liêu truyền thống có thể ứng dụng nền quản lý công mới hướng tới khách hàng trong bối cảnh đất nước
đang chuyển đổi và cải cách hành chính?
- Liệu cơ chế “một cửa” có thật sự là một sự cải cách hay chỉ là diện mạo mới cho cách cung cấp dịch vụ trước đây, làm thế nào để nâng cáo chất lượng cơ chế “một cửa”?
Trang 27- Khung thể chế và văn hóa thống trị trong hệ thống đang kìm hãm các cải cách dịch vụ công theo những cách nào?
Đây là những bài học kinh nghiệm hữu ích đối với Việt Nam nhằm
nâng cao hơn nữa và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế “một cửa”, góp phần nâng cao chỉ số hài lòng người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 60% trong giai đoạn 2011-2015 và mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các
cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80% vào năm 2020 theo như Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra [3]
2.4 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại Việt Nam
Tại Việt Nam, thực hiện quyết định số 181/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong những năm qua, các địa phương đã tập trung triển khai thực hiện cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước các cấp từ cấp tỉnh, cấp huyện đến cấp xã để nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần từng bước làm thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa chính quyền và cá nhân, tổ chức theo hướng hành chính phục vụ, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức khi đến giao dịch tại cơ quan hành chính Nhiều
địa phương đã chủ động triển khai thực hiện cơ chế “một cửa, một cửa liên
thông” hiện đại tại UBND cấp huyện Trong số 700 đơn vị hành chính cấp huyện trong cả nước hiện đã có 686 đơn vị triển khai thực hiện cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” đạt 98% Những đơn vị hành chính cấp huyện cho
đến nay chưa triển khai thực hiện cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” đều
là các huyện đảo, các huyện mới thành lập
Cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” hiện đại cũng đã bắt đầu xuất hiện với việc áp dụng công nghệ thông tin, các trang thiết bị hiện đại tại một số địa phương từ những năm 2006 Tính đến nay 42/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đang triển khai cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” hiện đại tại UBND cấp huyện, trong đó có 9 tỉnh, thành phố triển
Trang 28khai ở tất cả các đơn vị hành chính cấp huyện là Bà Rịa - Vũng Tàu, Bắc Giang, Bắc Ninh, Ninh Bình, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng (không tính các huyện dảo của Hải Phòng và Đà Nẵng) Tính chung cả nước có 203/700 đơn vị hành chính cấp huyện đang triển khai cơ chế “một cửa, một cửa liên thông” hiện đại [3]
2.5 Tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại thành phố Hà Giang
Ngày 10/12/2003, UBND tỉnh Hà Giang đã ban hành kế hoạch và quyết định áp dụng cơ chế “một cửa” đối với 12 cơ quan thuộc UBND tỉnh, các huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn Đến nay toàn tỉnh đã có 18 sở, cơ quan thuộc UBND tỉnh và tất cả các huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn khai trương bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả”
Theo đặc thù mỗi đơn vị, nội dung công việc áp dụng giải quyết theo
cơ chế “một cửa” khác nhau, song tập trung vào các lĩnh vực: địa chính, cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, chấp thuận đầu tư, xây dựng, công chứng, chứng thực và chính sách xã hội…Nhiều đơn vị đã quan tâm tạo
điều kiện cả vật chất lẫn con người, để thực hiện tốt yêu cầu trên hầu hết bộ
phận “Tiếp nhận và trả kết quả” có bảng niên yết quy định, thủ tục hành chính, phí, lệ phí và thời gian giải quyết các loại công việc Cán bộ được bố trí tại bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả” cơ bản có trình độ, năng lực và phẩm chất tốt Với những cố gắng trên, đến nay thông qua bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả” ở các huyện và một số ngành trong tỉnh đã giải quyết
được hơn một triệu hồ sơ về các lĩnh vực: cấp giấy phép kinh doanh, lĩnh
vực tài nguyên và môi trường, cấp giấy phép xây dựng, công chứng, chính sách xã hội
Tại UBND thành phố Hà Giang và UBND huyện Bắc Quang đã thực hiện mô hình “một cửa điện tử”, trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, tạo điều kiện cho công dân theo dõi quá trình giải quyết hồ sơ Tuy nhiên vẫn còn hạn chế: cơ sở vật chất ở các xã, huyện vùng cao như phòng làm việc, trang thiết bị cần thiết để phục vụ cho bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả” ở nhiều nơi, nhất là cấp cơ sở còn nhiều thiếu thốn [3]
Trang 29Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại UBND thành phố Hà Giang - Tỉnh Hà Giang
+ Tại bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả” của UBND thành phố Hà Giang
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Giang - Tỉnh
Hà Giang
- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 20 tháng 1 năm 2014 đến ngày 25 tháng 4 năm 2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình quản lý và sử dụng
- Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên nhân văn
3.3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Hà Giang
* Điều kiện kinh tế của thành phố Hà Giang
- Tăng trưởng kinh tế
- Cơ cấu thành phần kinh tế
Trang 30- Điện lưới, thông tin liên lạc
3.3.1.3 Tình hình quản lý và sử dụng đất của thành phố Hà Giang
- Tình hình quản lý đất đai tại thành phố Hà Giang
- Tình hình sử dụng đất đai tại thành phố Hà Giang
3.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện cơ chế “một cửa” tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008 – 2013
3.3.2.1 Quá trình triển khai đề án “một cửa” tại thành phố Hà Giang
- Quá trình triển khai đề án “một cửa” giai đoạn 2008 – 2011
- Quá trình triển khai đề án “một cửa” giai đoạn 2012 - 2013
3.3.2.2 Đánh giá kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008-2013
- Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2008
- Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2009
- Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2010
- Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2011
- Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2012
- Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang năm 2013
- Kết quả thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008 - 2013
Trang 313.3.2.3 So sánh kết quả trước và sau khi thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang
3.3.3 Đánh giá ý kiến của cán bộ, công dân về việc thực hiện cơ chế
“một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố
Hà Giang
3.3.3.1 Ý kiến của cán bộ về việc thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản
lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang
3.3.3.2 Ý kiến của người sử dụng đất, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức về việc
thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang
3.3.4 Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân tồn tại trong quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008 – 2013
3.3.4.1 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2008-2011
3.3.4.2 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai tại thành phố Hà Giang giai đoạn 2012-2013
3.3.4.3 Nguyên nhân tồn tại
3.3.5 Đề xuất một số giải pháp về công tác thực hiện cơ chế “một cửa” tại thành phố Hà Giang
Trang 32- Tài liệu, số liệu đã được công bố tại Tài nguyên và môi trường thành phố Hà Giang
3.4.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Điều tra phỏng vấn cán bộ địa chính và đối tượng sử dụng đất để tìm
hiểu những thuận lợi và khó khăn trong thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính nhà nước về đất đai thông qua bộ câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Chia đối tượng phỏng vấn ra làm 2 nhóm:
Nhóm 1: Các cán bộ bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả”, cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường với 10 phiếu điều tra
Nhóm 2: Đối tượng sử dụng đất tham gia giao dịch tại bộ phận “Tiếp nhận và trả kết quả” với 40 phiếu điều tra
Phỏng vấn được thực hiện theo bộ phiếu điều tra ở phần phụ lục Mỗi câu hỏi trong bộ phiếu điều tra sẽ tương ứng là một chỉ tiêu trong hệ thống bảng biểu
3.4.2 Phân tích và xử lý số liệu
3.4.2.1 Phương pháp thống kê
Thống kê các số liệu đã thu thập được về kinh tế, xã hội; kết quả đạt
được trong cải cách hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý
hành chính nhà nước về đất đai
3.4.2.2 Phương pháp so sánh
Từ số liệu thu thập kết quả đạt được về cải cách hành chính, thực hiện cơ chế “một cửa” trong quản lý hành chính Nhà nước về đất đai so sánh với kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về đất đai trước khi thực hiện cải cách hành chính, áp dụng cơ chế “một cửa”
3.4.2.3 Phương pháp xử lý số liệu: số liệu đã được xử lý bằng Excel, Word…
3.4.3 Phương pháp tổng hợp
- Là phương pháp thống nhất liệt kê toàn bộ các yếu tố, các nhận xét
mà khi ta sử dụng các phương pháp có được thành một kết luận hoàn thiện,
đầy đủ Vạch ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hóa các vấn đề trong
nhận thức tổng hợp
Trang 33Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tình hình quản lý và sử dụng đất của thành phố Hà Giang
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Hà Giang
* Vị trí địa lý
Thành phố Hà Giang là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Giang trong toạ độ địa lý từ
22045' đến 22048' vĩ độ Bắc và từ 104047' đến 105003' kinh độ Đông Phía Bắc, Tây và Nam giáp huyện Vị Xuyên; phía Đông Nam giáp huyện Bắc Mê Nằm ở khu vực trung tâm của tỉnh Hà Giang, cách cửa khẩu Thanh Thuỷ 23 km và cách thành phố Tuyên Quang khoảng 153 km
* Địa hình
Thành phố Hà Giang nằm trong địa hình chuyển tiếp giữa các huyện núi
đá vùng cao và các huyện vùng thấp, nên địa hình được chia thành hai dạng:
- Địa hình đồi núi thấp: tập trung nhiều ở khu vực phía Tây xã Phương
Độ, một phần ở xã Ngọc Đường và phường Quang Trung Địa hình này có độ
cao thay đổi từ 100 – 700m, địa hình đồi bát úp hoặc lượn sóng
- Địa hình thung lũng: Gồm các dải đất bằng thoải hoặc lượn sóng ven sông Lô và sông Miện Tập trung nhiều ở phía Bắc xã Phương Độ, Phương Thiện dọc theo Quốc Lộ 2, Khu vực giáp ranh phường Ngọc Hà và xã Ngọc Đường
* Đặc điểm khí hậu
- Nhiệt độ bình quân cả năm 22,7oC, nền nhiệt độ được phân hóa theo mùa khá rõ rệt, trong năm có 5 tháng nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 20oC (tháng 12 đến tháng 4 năm sau); tổng tích ôn đạt trên 8.200oC
- Lượng mưa bình quân hàng năm 2.430 mm nhưng phân bố không
đồng đều Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, lượng mưa chiếm
khoảng 90% tổng lượng mua cả năm, đặc biệt tập trung vào các tháng 7, 8,
9 nên thường gây úng ngập cục bộ ở các vùng thấp trũng
Trang 34- Độ ẩm không khí bình quân cả năm khoảng 84%, tuy nhiên trong mùa khô, độ ẩm trung bình giảm khá mạnh chỉ còn khoảng 63%
* Chế độ thủy văn
Thành phố Hà Giang chịu ảnh hưởng chủ yếu của chế độ thuỷ văn của
hệ thống các sông và suối nhỏ, trong đó sông Lô là lớn nhất, đoạn chảy qua thành phố dài gần 30 km, mực nước mùa cạn là 96,74 m; mùa lũ là 101,0 –
104 m Lưu lượng dòng chảy trung bình 156 m3/giây, cao nhất là 1.760
m3/giây, thấp nhất là 105 m3/giây Tốc độ dòng chảy lớn nhất là 1,29 m/giây; tốc độ dòng chảy nhỏ nhất mùa cạn kiệt là 0,17 m/giây
* Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên rừng:
Thành phố Hà Giang có diện tích đất rừng 9.546,07 ha, chiếm 83,47% diện tích tự nhiên Trong đó rừng sản xuất có 4.597,83 ha, chiếm 48,16% tổng diện tích
đất lâm nghiệp, chủ yếu là rừng trồng nguyên liệu giấy; rừng phòng hộ có
3.196,71 ha, chiếm 33,49%; rừng đặc dụng có 1.751,53 ha, chiếm 18,35%
- Tài nguyên đất đai và thổ nhưỡng: Đất đai của thành phố Hà Giang
được hình thành do hai nguồn gốc phát sinh gồm đất hình thành tại chỗ do
phong hóa đá mẹ và đất hình thành do phù xa sông bồi tụ do đó có thể chia
- Tài nguyên nước:
+ Nước mặt: tài nguyên nước mặt của thành phố bao gồm các con sông chính như sông Lô, sông Miện và hệ thống các suối, hồ, ao khác + Nước ngầm: hiện nay thành phố đang có một số giếng khoan nước ngầm ở độ sâu trên 100m với lưu lượng từ 0,1 – 0,3 l/s
- Tài nguyên khoáng sản:
Trang 35Kết quả điều tra cho thấy trên địa bàn thành phố Hà Giang không có tài nguyên khoáng sản nào có trữ lượng lớn; đáng quan tâm nhất là một số loại khoáng sản như: Mangan, sét, đá vôi…Hiện nay cơ bản mới chỉ thực hiện khai thác đá vôi, cát sỏi xây dựng ở quy mô nhỏ phục vụ nhu cầu tại chỗ; trong tương lai có thể khai thác sét, mangan theo phương pháp công nghiệp
- Tài nguyên nhân văn:
Thành phố Hà Giang có một nền văn hoá lâu đời thuộc niên đại đồ
đồng Đông Sơn, với trên 20 dân tộc anh em cùng sinh sống đã tạo nên sự đa
dạng về phong tục, tập quán, văn hoá truyền thống và lễ hội
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Hà Giang
4.1.2.1: Điều kiện kinh tế của thành phố Hà Giang
* Tăng trưởng kinh tế
- Nền kinh tế từ năm 2011 - 2013 liên tục tăng trưởng ổn định và năm sau luôn cao hơn năm trước, tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố năm
2011 thực hiện đạt 18,52%, năm 2012 thực hiện đạt 19,11%, năm 2013 thực hiện đạt 19,85% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng các ngành du lịch, dịch vụ, thương mại - công nghiệp xây dựng
* Cơ cấu thành phần kinh tế:
+ Nông nghiệp - lâm nghiệp: 5,08%
+ Công nghiệp - xây dựng: 24,12%
+ Thương mại – dịch vụ: 70,44%
* Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
- Khu vực kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp:
Khu vực kinh tế nông lâm ngư nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của thành phố, giá trị sản xuất của ngành năm 2011 đạt 49,64 tỷ
đồng, năm 2012 đạt 79,0 tỷ đồng, năm 2013 đạt 98,8 tỷ đồng Đã quy
hoạch được vùng rau chuyên canh 100,00 ha, lúa chất lượng cao 180,00 ha, cây chè 236,00 ha, thảo quả 121,5 ha (đang cho thu hoạch 70,00 ha) tích cực phủ xanh đất trống đồi núi trọc, làm giàu vốn rừng, bảo vệ cảnh quan môi trường, định hình đầu tư phát triển vùng chuyên màu….phù hợp với
Trang 36điều kiện đất đai từng xã, phường
Chăn nuôi: Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 1,72 tỷ đồng, tăng bình quân 1,8%/năm
- Khu vực kinh tế công nghiệp – xây dựng:
Khu vực kinh tế công nghiệp và xây dựng của thành phố trong thời gian vừa qua đã đạt được một số thành tựu nhất định Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 đạt 175,50 tỷ đồng, năm 2012 đạt 194,40 tỷ đồng, đến năm 2013 đã tăng lên 326,00 tỷ
- Khu vực kinh tế thương mại - dịch vụ:
Là ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, giá trị sản xuất liên tục tăng, năm 2011 đạt 429,35 tỷ đồng, năm 2012 đạt 908,0 tỷ đồng, năm 2013 đạt 955,0 tỷ đồng
+ Thương mại: Các dịch vụ thương mại, vận tải, bưu chính viễn thông, khách sạn, nhà hàng, tín dụng phát triển cả về số lượng, chất lượng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu xã hội
+ Du lịch: Với vị thế giáp ranh Khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thuỷ, nơi diễn ra các hoạt động buôn bán trao đổi thương mại, giao lưu văn hoá giữa tỉnh Hà Giang với tỉnh Vân Nam Trung Quốc, với các chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần đây lượng khách du lịch
đến Hà Giang đã gia tăng mạnh, mỗi năm có khoảng 35.000 lượt khách du
lịch quốc tế; Khách du lịch nội địa đến Hà Giang hàng năm trên 90.000 lượt người
Trong 5 năm qua, hoạt động kinh tế thương mại đã đem lại nguồn thu lớn cho nhân dân Có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế của thành phố
4.1.2.2 Thực trạng phát triển xã hội của thành phố Hà Giang
Trang 37Nguồn lao động của thành phố khá dồi dào, nhưng số lao động hầu hết
được đào tạo và chuyên sâu Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của thành phố
chiếm 76,0%
- Văn hóa - giáo dục:
Các hoạt động về văn hóa, nghệ thuật ngày càng phát triển rộng khắp với nhiều hình thức hoạt động đa dạng, phong phú và thiết thực, thu hút
được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia
Mạng lưới trường lớp học được phát triển 8/8 xã, phường Đến năm
2012 toàn thành phố có 34 trường học, 519 lớp học và 1.025 giáo viên Trong đó khối mầm non có 191 lớp, 3.230 học sinh; khối tiểu học có 161 lớp, 2.864 học sinh
- Y tế:
Hệ thống công trình y tế trên địa bàn thành phố tương đối hoàn chỉnh Hiện nay, trên toàn Thành phố có 6,19 ha đất sử dụng vào mục đích y tế, bao gồm: bệnh viện Đa Khoa tỉnh Hà Giang quy mô 500 giường, Bệnh viện lao và phổi tỉnh Hà Giang quy mô 100 giường, bệnh viện Đông y quy
mô 100 giường, Trạm xá D40 quy mô 25 giường, trạm xá Biên phòng tỉnh quy mô 15 giường, Trung tâm kiểm nghiệm, Trung tâm sốt rét, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS
- Điện lưới thông tin liên lạc
Hệ thống điện lưới quốc gia được chú trọng đầu tư, nâng cấp và phát triển rộng khắp Nguồn điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất của thành phố
được đảm bảo từ nguồn điện Quốc gia thông qua trạm 110KV Hà Giang và
một trạm phát điện điêzen dự phòng, công suất 450KW Tiêu chuẩn cấp
điện sinh hoạt năm 2012 đạt 670kwh/người/năm Tỷ lệ hộ sử dụng điện
lưới quốc gia của thành phố đạt 99,98%
Mạng lưới bưu chính viễn thông của thành phố được đầu tư ngày càng hiện đại và đồng bộ Các dịch vụ bưu chính cơ bản đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu của nhân dân như bưu phẩm, bưu kiện, dịch vụ cộng thêm
Trang 38(chuyển phát nhanh, ghi sổ ), dịch vụ chuyển phát nhanh EMS, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ tiết kiệm bưu điện
Hệ thống truyền thanh, truyền hình đã được xây dựng, sửa chữa, nâng cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, các chủ trương chính sách, đường lối của Đảng và pháp luật của nhà nước đến người dân Tính đến nay toàn Thành phố đã có 100% dân số được nghe đài tiếng nói Việt Nam, 100% dân số được xem đài truyền hình
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Giang
* Những thuận lợi, lợi thế:
- Thành phố Hà Giang có cửa khẩu biên giới quốc gia Thanh Thủy là cầu nối giao lưu về kinh tế, thương mại, trao đổi hàng hóa, phát triển dịch
vụ xuất nhập khẩu của thành phố với Trung Quốc
- Rừng là thế mạnh tiềm năng của thành phố, cùng với sự thích hợp của tài nguyên đất với những loại cây đặc sản có giá trị kinh tế như hồi, quế, sở và cây ăn quả Khả năng đảm bảo an toàn lương thực là điều kiện thuận lợi cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố
- Hệ thống hạ tầng cơ sở kỹ thuật đã được đầu tư tương đối hoàn chỉnh
và phát huy tác dụng, là một trong những khâu đột phá trọng tâm cho phát triển kinh tế xã hội của thành phố trong những năm tới
- Vận dụng các cơ chế chính sách từ các chương trình mục tiêu, phát huy lợi thế của khu cửa khẩu biên giới quốc gia Thanh Thủy để tăng nguồn lực
đầu tư, làm tăng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội, thay đổi diện mạo nông thôn,
từng bước cải thiện đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn
* Những khó khăn, hạn chế:
- Là một thành phố trẻ và ở trên miền núi rẻo cao, cách xa trung tâm văn hóa - chính trị - xã hội của thủ đô Hà Nội Địa hình bị chia cắt phân dị phức tạp, cùng với sự biến đổi khí hậu, hay sảy ra lũ quét, sạt lở đất gây trở ngại lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, hạn chế trong việc tiếp cận khoa học, công nghệ, giao lưu kinh tế cũng như sự thu hút đầu tư từ nước ngoài
Trang 39- Tiềm lực kinh tế của thành phố vùng biên giới địa đầu tổ quốc còn nhỏ bé, điểm xuất phát kinh tế còn thấp, phát triển chưa thật sự mạnh và chưa cân đối với tiềm năng và yêu cầu của sự phát triển Sản xuất vẫn còn mang tính tự cung, tự cấp, khả năng phát triển quy mô sản xuất hàng hóa chưa cao Chưa tạo được những bước “đột phá” của nền kimh tế phát triển
- Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật tuy đã được cải thiện song chưa đáp
ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của thành phố Tuyến đường
quốc lộ 2 là tuyến đường huyết mạch của thành phố tuy đã được cải tạo duy
tu bảo dưỡng nhưng đến nay có một vài đoạn đã xuống cấp gây khó khăn cho các phương tiện đi lại
- Dân cư phân bố không đồng đều, gây khó khăn trở ngại cho việc đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất, hạn chế sự phát triển kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Một khó khăn nữa đối với thành phố Hà Giang là một thành phố biên giới, miền núi, vừa phải phát triển kinh tế, vừa phải củng cố quốc phòng an ninh, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
4.1.4 Tình hình quản lý và sử dụng đất của thành phố Hà Giang
4.1.3.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai
* Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đã ban hành
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003 và chỉ đạo của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường), trong thời gian từ năm 2003 đến nay, UBND thành phố Hà Giang đã ban hành nhiều quyết định, văn bản chỉ
đạo, hướng dẫn chuyên môn để thực thi pháp luật về đất đai Công tác quản
lý đất đai trên địa bàn thành phố đã đi vào nề nếp, ngày càng chặt chẽ hơn, quỹ đất đã được giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
* Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính
Trang 40Thực hiện Chỉ thị 364/CT-HĐBT ngày 06/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc hoạch định địa giới hành chính ở cả 3 cấp tỉnh, thành phố, xã; Nghị định số 104/2005/NĐ-CP ngày 09/8/2005 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính, thành lập phường, xã thuộc thành phố Hà Giang và huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang; Nghị định số 64/2006/NĐ-CP ngày 23/6/2006 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường của Thành phố Hà Giang và huyện Vị Xuyên, tỉnh
Hà Giang Đến nay thành phố Hà Giang đã hoàn thành việc phân định ranh giới hành chính giữa các xã, phường trong thành phố với các huyện trong tỉnh Hiện tại thành phố Hà Giang có 08 đơn vị hành chính cấp cơ sở, trong
đó có 05 phường và 03 xã
* Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
- Về khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất:
Trong những năm gần đây, thành phố đã thực hiện nhiều hoạt động
điều tra, khảo sát, đánh giá đất đai làm cơ sở đề ra và thực thi nhiều chương
trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố như:
+ Điều tra đất đang sử dụng của các tổ chức thuộc diện Nhà nước giao
đất, cho thuê đất (theo Chỉ thị 245/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ)
+ Kiểm tra việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi,
+ Đánh giá đất đai theo hướng địa chất công trình
- Công tác lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất:
Thành phố Hà Giang đã thành lập được và quản lý 05 loại bản đồ, hiện nay vẫn đang tiếp tục cố gắng hoàn thiện bản đồ địa chính cho toàn bộ
2 xã Phương Độ và Phương Thiện
* Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001 - 2010 đã được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang phê duyệt
- Sau Luật Đất đai năm 2003, UBND tỉnh đã chỉ đạo Uỷ ban nhân thành phố thực hiện việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010