1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf

87 342 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Người hướng dẫn PGS. TS Dương Xuân Ngọc
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tình hình đó, tác giả đã chọn đề tài về sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm đề tài luận nghiên cứu.. 2002; Bùi Thị T

Trang 1

LUẬN VĂN:

Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà

Nội trong quá trình công nghiệp hoá,

hiện đại hoá

Trang 2

Mở Đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chúng ta biết rằng, mọi biến động của phong trào cách mạng thế giới đều diễn ra từ những thay đổi to lớn trong cuộc đấu tranh giai cấp ở mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Ngày nay, các cuộc đấu tranh giai cấp đã lan rộng trên phạm vi thế giới Bởi lẽ, thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Nội dung của thời đại ngày nay là đấu tranh xoá bỏ giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội mới là xã hội xã hội chủ nghĩa

và cộng sản chủ nghĩa; đấu tranh cho thắng lợi của hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Đặc trưng của thời kỳ quá độ là sự cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Vì vậy, trong thời kỳ quá độ còn tồn tại đan xen cả cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái phản tiến bộ, cho nên đấu tranh giai cấp trở nên phức tạp hơn bao giờ hết Tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trong thời đại ngày nay đã thay đổi cục diện chính trị thế giới và đang tác động trực tiếp tới đường lối chính trị của mỗi quốc gia dân tộc, nhất là đối với các nước đang theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có nước ta Vì vậy, nghiên cứu vấn đề giai cấp và sự biến động giai cấp luôn luôn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách

ở nước ta hiện nay, quá trình đó tác động mạnh tới cơ cấu xã hội -giai cấp, làm cho quan điểm, ý thức giai cấp cũng đang có sự biến động khác nhau Hiện nay, dưới những tác động từ nhiều yếu tố, nhất là quá trình CNH, HĐH đất nước, giai cấp công nhân cũng đang có biến động mạnh mẽ về số lượng, chất lượng, có ảnh hưởng lớn đến khả năng, vai trò lãnh đạo và sự thành công của công cuộc đổi mới đất nước Sự biến động này thể hiện tập trung ở các thành phố lớn nơi có tốc độ phát triển kinh tế -

xã hội nhanh, có sự đa dạng các giai tầng xã hội Một trong những thành phố là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước, đang có biến động giai cấp mạnh mẽ nhất ở nước ta, đó là Thủ đô Hà Nội Vì vậy sự biến động giai cấp ở Hà Nội có tính chất đại diện để nghiên cứu sự biến động giai cấp công nhân nói riêng, giai cấp nói chung ở nước ta hiện nay

Trang 3

Xuất phát từ tình hình đó, tác giả đã chọn đề tài về sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm đề tài luận nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề giai cấp luôn là vấn đề trung tâm trong mỗi thời kỳ cách mạng, vì vậy, nó cũng là vấn đề được tập trung nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Có nhiều công trình nghiên cứu tập tung trực tiếp vào vấn đề giai cấp như: PTS Nguyễn

Đình Lê: Biến đổi cơ cấu giai cấp xã hội miền Bắc 1954 - 1975, Nxb Văn hoá Thông tin, H.1999; Đề tài KX 07 - 05, PTS Nguyễn Quang Ngọc(Chủ biên): Cơ

cấu xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam, Nhà in Giao thông,

H.1995; Đề tài KX 07 - 05, PGS, PTS Đỗ Nguyên Phương (chủ biên): Thực trạng

và xu thế phát triển cơ cấu xã hội nước ta trong giai đoạn hiện nay, Xí nghiệp in

15, H 1995; PGS, TS Trần Phúc Thăng: Xu hướng biến động của cơ cấu xã hội giai

cấp Việt Nam trong thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, H.1992;

Tổng liên đoàn lao động Việt Nam: Xu hướng biến động của giai cấp công nhân

trong những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Lao động, H.2001; Đỗ Khánh Tặng: Đặc điểm và xu hướng biến đổi cơ cấu giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ; Bùi Đình Bôn: Giai cấp công nhân Việt Nam vai trò xu thế biến động về cơ cấu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,

Luận án tiến sĩ; PGS, TS Dương Xuân Ngọc: Giai cấp công nhân trong sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nxb Chính trị quốc gia, H 2004; PGS Cao

Văn Lượng(chủ biên): Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sự phát triển giai cấp

công nhân, Nxb Chính trị quốc gia, H 2001; PGS, PTS Dương Xuân Ngọc: Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thành lực lượng đi dầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Lao động, H 1998; Đề tài KX 07 - 05: Những đặc trưng và xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam đang đổi mới, H

1996; GS, TS Trần Hữu Tiến: Vấn đề quan hệ xã hội giai cấp trong thời kỳ quá độ

lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu lý luận, số 1/1996, tr.17; PGS,

PTS Đỗ Nguyên Phương: Về sự phân tầng xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện

nay, H 1994; GS,TS Hoàng Chí Bảo: Cơ cấu xã hội giai cấp ở nước ta lý luận và thực tiễn, Nxb Thông tin lý luận, H.1992; Lê Ngọc Triết: Xu hướng biến đổi cơ cấu

xã hội của giai cấp nông dân ở Nam Bộ Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết

Trang 4

học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, H 2002; Bùi Thị Thanh Hương:

Đặc điểm và xu hướng biến đổi của giai cấp nông dân nước ta trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, H.2000;

Quản Văn Trung: Sự biến đổi của cơ cấu xã hội giai cấp ở Việt Nam trong quá

trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa,

Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, H.1999;

Nguyễn Chí Tâm: Giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh; Đặc điểm và xu

hướng biến động trong công cuộc đổi mới, Luận án thạc sĩ Triết học, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, H.; Nguyễn Văn Bang: Những biểu hiện mới của

cuộc đấu tranh giai cấp trong điều kiện kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Luận án thạc sĩ Triết học, Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các công trình trước đây tuy đã nghiên cứu về giai cấp nhưng mới chỉ tập trung vào nghiên cứu cơ cấu xã hội giai cấp, hoặc nghiên cứu một giai cấp ở một thời kỳ cụ thể, còn về xu hướng biến động giai cấp công nhân thành phố Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì chưa có đề tài nào nghiên cứu Vì

vậy, tác giả chọn đề tài này làm vấn đề nghiên cứu

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn

a Mục đích của luận văn:

Nghiên cứu xu hướng biến động giai cấp công nhân ở thành phố Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp định hướng để phát triển giai cấp công nhân thành phố Hà Nội

b Nhiệm vụ của luận văn:

- Tìm hiểu sự tác động của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến sự biến động giai cấp công nhân ở thành phố Hà Nội

- Tìm hiểu thực trạng biến động của công nhân thành phố Hà Nội hiện nay

- Chỉ ra những xu hướng biến động của giai cấp công nhân(về số lượng, chất lượng; kết cấu xã hội giai cấp; ý thức chính trị, quan điểm giai cấp) trong thời gian tới

- Nêu ra một số giải pháp định hướng sự biến động giai cấp công nhân ở thành phố Hà Nội

Trang 5

c Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung vào nghiên cứu xu hướng biến động cơ cấu xã hội giai cấp của giai cấp công nhân thành phố Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

b Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp: lịch sử - lôgic, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp, trừu tượng và cụ thể, trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét, đánh giá và kết luận

5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Bước đầu luận văn chỉ ra được những xu hướng biến động cơ bản của giai cấp công nhân thành phố Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trên

cơ sở đó đưa ra được một số giải pháp thiết thực nhằm định hướng cho sự biến động giai cấp, góp phần tạo động đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần tìm hiểu sâu hơn về giai cấp công nhân và xu hướng biến động của giai cấp công nhân ở nước ta Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập các vấn

đề về giai cấp nói chung cũng như giai cấp công nhân nói riêng ở nước ta

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm

2 chương, 5 tiết

Trang 6

Chương 1

Giai cấp công nhân và Những nhân tố tác động đến

xu hướng biến động của giai cấp công nhân

thành phố Hà Nội

Trong lịch sử loài người, hình thức người lao động làm công, làm thuê cho chủ đã xuất hiện từ rất sớm, nhưng họ xuất hiện với tư cách là một giai cấp thì chỉ trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa mới có Trong một số quan niệm về giai cấp, các học giả tư sản cho rằng giai cấp là tập hợp những người có cùng một chức năng, một lối sống, một hệ tư tưởng hoặc giai cấp là tập hợp những người có cùng điều kiện xã hội hoặc cùng bậc thang xã hội… Những quan điểm đó không đem lại cho chúng ta một sự hiểu biết sâu sắc nào về giai cấp, nhất là với một giai cấp cụ thể như giai cấp công nhân Chỉ đến khi chủ nghĩa Mác ra đời mới cung cấp cho chúng ta sự hiểu

biết về giai cấp công nhân một cách có hệ thống

1.1 Quan điểm mác xít về giai cấp công nhân

Giữa thế kỷ XIX, hai lãnh tụ vĩ đại C.Mác - Ph.Ăngghen đã sáng lập ra một học thuyết mới, kế thừa và phát triển những tư tưởng tiến bộ trong lịch sử Các nhà

lý luận mác xít đã phát hiện ra nguồn gốc, bản chất của giai cấp, và mỗi một hệ thống giai cấp xã hội trong lịch sử đều có một hệ thống sản xuất nhất định tương ứng với nó, chính sự phát triển của sản xuất đã đưa đến sự phân công lao động trong

xã hội Đồng thời, sự phân công lao động lại thúc đẩy sự phát triển của sản xuất, nâng cao năng suất lao động, đó là nguồn gốc cơ bản dẫn tới sự xuất hiện chế độ tư hữu và phân chia giai cấp trong xã hội, hình thành xã hội có giai cấp Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp ra đời trong xã hội tư bản

Khái niệm giai cấp công nhân, theo quan niệm của Mác - Ăngghen, có nhiều tên gọi khác nhau, được thể hiện trong nhiều tác phẩm của hai ông Trong tác

phẩm Gia đình thần thánh (1845) C.Mác đã đặt ra vấn đề "giai cấp vô sản thực sự là gì" Trong các tác phẩm như Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1844), Tình cảnh giai cấp công nhân Anh (1844-1845), Những nguyên lý của chủ

nghĩa cộng sản (1847) và Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) Mác - Ăngghen đã

Trang 7

đưa ra một số khái niệm để biểu đạt về khái niệm giai cấp công nhân như: "giai cấp công nhân", "giai cấp vô sản","giai cấp vô sản công nghiệp","giai cấp vô sản hiện đại","giai cấp công nhân hiện đại","giai cấp công nhân công xưởng nhà máy",'giai cấp công nhân đại cơ khí"… Để giải thích cho những tên gọi đó các ông gọi họ là

"lao động làm thuê","giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ sống dựa vào bán sức lao động của minh","giai cấp của những người hoàn toàn không có của"… Mác - Ăngghen

dù có diễn đạt dưới nhiều tên gọi khác nhau nhưng đều muốn nói tới vị trí, thân phận của những người công nhân trong thời kỳ đó Thực chất vị trí của những người công nhân trong xã hội là không thể thay đổi trong khi các tên gọi của họ có sự khác nhau Sự khác nhau đó là sự khác nhau về công việc cụ thể của họ trong cỗ máy bóc lột của chủ nghĩa tư bản mà thôi

Trong tác phẩm Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản, Ph.Ăngghen đặt

vấn đề giai cấp vô sản là gì? và ông trả lời rằng: giai cấp vô sản là một giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc bán lao động của mình, chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ số tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn bộ sự sống còn của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình chuyển biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của cuộc cạnh tranh không gì ngăn nổi [16, tr.456] Để trả lời cho câu hỏi giai cấp

vô sản ra đời như thế nào? Ph.Ăngghen viết: giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra; cuộc cách mạng này xảy ra ở Anh vào nửa sau của thế kỷ trước [16, tr.457]

Trong tác phẩm Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh, Ph.Ăngghen đã

nhận xét rằng "người công nhân, chỉ được nhà tư sản xem như một loại tư bản, loại

tư bản này tự nộp mình cho chủ xưởng sử dụng và được chủ xưởng trả lợi tức dưới danh nghĩa tiền lương"[15, tr.355]

Giai cấp công nhân là giai cấp làm thuê hiện đại, họ là sản phẩm của nền đại công nghiệp (chỉ có trong chế độ tư bản chủ nghĩa) họ vì mất hết các tư liệu sản xuất của bản thân nên buộc phải bán sức lao động của mình Nếu trước đây họ được làm chủ tư liệu sản xuất thì lao động của họ là lao động thủ công, là sử dụng công

cụ lao động, thì nay họ mất hết tư liệu sản xuất của bản thân, buộc phải làm việc với

Trang 8

máy móc hiện đại, phải lệ thuộc vào nhà tư bản và lệ thuộc vào máy móc của nhà tư bản

Đến tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) C.Mác - Ph.Ăngghen

đã có những dữ liệu cần thiết để trình bày đầy đủ, rõ ràng hơn về giai cấp công nhân, các ông chỉ rõ nguồn gốc ra đời của giai cấp công nhân Về nguồn gốc kinh

tế, C.Mác - Ph.Ăngghen cho rằng sự ra đời của giai cấp vô sản gắn với nền công nghiệp hiện đại, từ mục đích phát triển quy mô sản xuất và tích luỹ tư bản của nhà

tư sản "trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là thực sự cách mạng Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”[16, tr.610], giai cấp vô sản là hạt nhân, là bộ phận cơ bản, là đại biểu tiêu biểu của nền sản xuất hiện đại Về nguồn gốc xã hội, giai cấp công nhân được tuyển mộ từ trong tất cả các giai cấp, tầng lớp của xã hội Chính vì vậy, mà giai cấp công nhân ra đời, tồn tại, phát triển là một tất yếu khách quan, cuộc đấu tranh chống áp bức, bất công trong xã hội do giai cấp công nhân chống giai cấp

tư sản cũng là một tất yếu khách quan

Cùng với việc chỉ ra nguồn gốc ra đời của giai cấp công nhân, C.Mác - Ph.Ăngghen còn chỉ ra những đặc trưng chủ yếu của giai cấp công nhân, trong mục

chú thích của "tư sản và vô sản" của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản,

C.Mác - Ph.Ăngghen chỉ ra rằng, giai cấp vô sản là giai cấp những người công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân nên buộc phải bán sức lao động để sống Vậy đặc trưng chủ yếu của giai cấp công nhân là: không có tư liệu sản xuất, lợi ích của giai cấp vô sản đối lập trực tiếp với lợi ích của giai cấp tư sản, địa vị xã hội là người làm thuê và bị bóc lột, giai cấp công nhân có bản chất cách mạng, hiện thân của lực lượng sản xuất hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, có tinh thần quốc tế trong sáng, cao cả, có tính tổ chức, kỷ luật cao, tình đoàn kết giai cấp…

Về mục tiêu của giai cấp công nhân - những người kiên quyết nhất trong các đảng cộng sản - là "không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản

Trang 9

Về xu hướng phát triển của giai cấp công nhân, Mác - Ăngghen cho rằng số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân không ngừng tăng lên cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của nền đại công nghiệp

Trong quan niệm về giai cấp công nhân, V.I.Lênin đã bổ sung thêm những đặc trưng mới, những thuộc tính mới của giai cấp công nhân, nhất là sau thành công của Cách mạng tháng Mười Nga, nhà nước xã hội chủ nghĩa Xô Viết đã ra đời V.I.Lênin đã khẳng định rằng sau khi cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp lãnh đạo trong xã hội, lật đổ ách thống trị của giai cấp tư sản, một giai cấp cầm quyền, không còn ở vào địa vị bị áp bức, bóc lột như trước Giai cấp công nhân trở thành một giai cấp thống trị về chính trị trong xã hội, có vai trò xây dựng một chế độ xã hội mới, thủ tiêu chế độ xã hội cũ, cùng toàn thể nhân dân lao động và giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới tiến tới xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, một xã hội không có giai cấp Xu hướng của giai cấp công nhân là tiến tới tự thủ tiêu mình với tính cách là một giai cấp

Theo V.I.Lênin, giai cấp công nhân sau cách mạng vô sản không còn là giai cấp vô sản như nghĩa đen của nó nữa mà bây giờ giai cấp công nhân là một giai cấp thống trị về chính trị, có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ tư bản, chế độ người bóc lột người, đồng thời với sứ mệnh đó là nhiệm vụ giữ gìn thành quả cách mạng, tạo nên một xã hội mới với cuộc sống mới,

tự do và hạnh phúc

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ tài ba của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thấm nhuần tư tưởng, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin qua thực tiễn đấu tranh của cách mạng Việt Nam, đã khẳng định rằng muốn cứu nước và giải phóng dân tộc

Trang 10

không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản Hồ Chí Minh cho rằng vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân là vô cùng quan trọng, đó là "hòn đá thử vàng"phân biệt người cộng sản và kẻ cơ hội, ai không thấy được sức mạnh của giai cấp công nhân, không thấy được khả năng lãnh đạo của giai cấp công nhân thì người đó không phải kà người cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo không chỉ trong các cuộc kháng chiến cứu quốc mà còn cả trong xây dựng đất nước Muốn thực hiện đúng vai trò làm chủ, giai cấp công nhân phải quản lý tốt kinh tế, quản lý tốt xí nghiệp, làm cho năng suất lao động không ngừng được nâng cao, của cải xã hội ngày càng nhiều Phải là một đội ngũ tiên phong trong các phong trào kinh tế - xã hội đất nước

Trong một số bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta thấy quan niệm của Người về giai cấp công nhân nhìn chung thể hiện một số nội dung như sau:

- Trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam, người công nhân là những người lao động làm thuê trong các xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ của chủ nghĩa tư bản đế quốc, họ bị giai cấp tư bản đế quốc bóc lột nặng nề theo chính sách khai thác thuộc địa của đế quốc Pháp, người công nhân đa số bị cưỡng bức trở thành người làm thuê và hoàn toàn mất tự do

- Công nhân là những người đấu tranh dũng cảm nhất, cách mạng nhất

- Nhờ có chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận cách mạng soi đường, công nhân

đã giành được chính quyền, trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng

- Giai cấp công nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử là xoá bỏ chế độ bóc lột của tư bản chủ nghĩa, thực hiện chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản Giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình khi có Đảng tiên phong, có liên minh công nông vững chắc, có công đoàn bảo vệ quyền lợi cho giai cấp công nhân

- Sau khi cách mạng thắng lợi, giành được chính quyền nhà nước, người công nhân cùng với các tầng lớp nhân dân lao động khác trở thành người làm chủ tư liệu sản xuất trong xã hội, quản lý và phân phối các sản phẩm xã hội

1.2 Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam

Trang 11

Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Những người công nhân Việt Nam đầu tiên xuất hiện là hệ quả của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất(năm 1897) Thời kỳ trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918), giai cấp công nhân Việt Nam mới chỉ có 10 vạn người, trình độ thấp kém, chủ yếu là lao động nặng nhọc và bằng lao động chân tay Đến thời kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai (1924 - 1929), với việc

mở rộng quy mô và lĩnh vực khai thác của thực dân Pháp số lượng công nhân đã tăng lên 22 vạn, chiếm 1,2% dân số

Giai cấp công nhân Việt Nam tuy ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt như vậy, nhưng khi hình thành với tư cách là một giai cấp vô sản thì họ đã trở thành một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế, có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế Cùng với quá trình phát triển đất nước, với đặc thù riêng và những điều kiện lịch sử cụ thể nên giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng

Cùng với sự có mặt của các nhà tư bản Pháp, với sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nước ta, giai cấp công nhân đã được hình thành

và trưởng thành cả về số lượng và chất lượng Tốc độ tăng trưởng về số lượng công nhân trong một số ngành khá nhanh, chẳng hạn như ngành mỏ vào năm 1904 có

4000 công nhân thì đến năm 1908 đã có 9000 công nhân, như vậy trong vòng 4 năm

số lượng công nhân đã tăng 2,25 lần Tính toàn bộ giai cấp công nhân đến 1906 ở Việt Nam đã có khoảng 55000 công nhân chuyên nghiệp, làm việc trong các xí nghiệp của tư bản Pháp, đó là chưa kể đến một số công nhân làm theo mùa vụ ở các

xí nghiệp tư sản Việt Nam và Hoa kiều

Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng đông đảo hơn theo đà phát triển đầu tư và mở rộng quy mô sản xuất ở các ngành kinh tế Đến năm 1929, số công nhân làm việc trong doanh nghiệp của các nhà tư sản Pháp là hơn 22 vạn người Bên cạnh đó, số công nhân làm việc cho các doanh nghiệp của tư sản Việt Nam ước tính khoảng vài vạn người Trong giai cấp công nhân Việt Nam, bộ phận đông đảo nhất là công nhân đồn điền: 81188 người chiếm 36,8% tổng số công nhân Lực lượng này phân bố chủ yếu ở các vùng cao nguyên Nam Trung kỳ và Tây Nam kỳ Công nhân mỏ có 53240 người, chiếm 24% tổng số công nhân, tập trung chủ yếu ở

Trang 12

vùng Quảng Yên, Đông Triều Công nhân các ngành công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải và thương nghiệp gồm 86622 người, chiếm 39,2% tổng số công nhân tập trung ở thành thị như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn, Chợ Lớn…[14, tr.23]

Một bộ phận giai cấp công nhân Việt Nam là những người bị tuyển mộ cưỡng bức, đặc biệt là số công nhân đồn điền, một số khác chỉ vô sản hoá nửa vời như là số công nhân theo mùa vụ, phu công nhân Trình độ học vấn của giai cấp công nhân Việt Nam rất thấp, số người mù chữ chiếm một tỷ lệ không nhỏ Do việc

sử dụng rộng rãi lao động thủ công trong các ngành sản xuất kinh doanh nên tính chất vô sản hiện đại của họ cũng bị hạn chế Đây cũng là do đặc thù của việc bóc lột triệt để của giới chủ, muốn tận dụng sức lao động của công nhân vào bất cứ công việc nào có thể, trong hầm mỏ, công việc đào than, xúc, chuyền than… đều bằng lao động chân tay Giới chủ tận dụng lao động chân tay ở công nhân là để tiết kiệm chi phí cho nhiên liệu máy móc, chính điều này đã đẩy một bộ phận công nhân vào tình trạng sức khoẻ yếu kém và dẫn đến tử vong Điều kiện sống và lao động của công nhân nói chung là rất cực khổ, trong đó họ phải làm việc 10h /ngày thậm chí 12

- 16h /ngày, với tiền công rẻ mạt, lại thường xuyên bị đánh đập bởi đốc công, cai…

Bị áp bức, bóc lột và đối xử nặng nề như vậy nên giai cấp công nhân Việt Nam sớm có tinh thần đoàn kết giai cấp, sớm nhận ra được ý thức giai cấp và nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Các phong trào đấu tranh do giai cấp công nhân Việt Nam tổ chức ngày càng nhiều ý thức giai cấp, tinh thần cách mạng của giai cấp công nhân ngày càng được nâng lên, kinh nghiệm đấu tranh được rèn luyện theo các cuộc đấu tranh bằng nhiều hình thức khác nhau Đồng thời lại được tăng cường truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam bởi lãnh tụ Hồ Chí Minh và các cá nhân xuất sắc của giai cấp công nhân Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập năm 1930, giai cấp công nhân Việt Nam đã chính thức giành lấy ngọn cờ lãnh đạo và đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi, giải phóng dân tộc và độc lập tự do hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam

Thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân - cách mạng Việt Nam đã đập tan chế độ thực dân phong kiến, xoá bỏ chế độ

Trang 13

người bóc lột người giành lấy chính quyền và kiên quyết bảo vệ vững chắc chính quyền đó Trường kỳ 30 năm đấu tranh đánh đuổi kẻ thù ngoại xâm, năm 1975, giai cấp công nhân đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh đuổi giặc Mỹ ra khỏi biên giới Việt Nam, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất hai miền Nam - Bắc, thống đất nước đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng xã hội mới, thực hiện sứ mệnh lịch sử vẻ vang, đem lại hạnh phúc cho nhân dân Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo giai cấp công nhân đã góp phần đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đem lại động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, chấn hưng đất nước

Trước những yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước và dân tộc, giai cấp công nhân Việt Nam luôn giữ vững vai trò lãnh đạo của quá trình cách mạng, luôn

là lực lượng đi đầu trong công cuộc đổi mới, quyết định đến xu hướng biến động và phát triển xã hội, giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội Việt Nam, giai cấp công nhân thực sự là lực lượng chính trị quan trọng, là

cơ sở xã hội chủ yếu của Đảng và Nhà nước, của cách mạng Việt Nam, của sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.3 Những nhân tố tác động đến xu hướng biến động của giai cấp công nhân thành phố Hà Nội

1.3.1 Những nét đặc thù của Hà Nội tác động đến sự biến động của giai cấp công nhân

Hà Nội là Thủ đô của cả nước, nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ Phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên; phía Nam giáp tỉnh Hà Tây, Hưng Yên; phía Đông giáp tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hà Tây

Hà Nội có tổng diện tích 920 km2 (chiếm 0,28% diện tích cả nước), dân số trên 3 triệu người, trong đó người sống ở nội thành khoảng 1,8 triệu và hàng chục vạn người cư trú tạm thời và vãng lai

Trang 14

Hà Nội hiện có 9 quận nội thành gồm: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai

Bà Trưng, Tây Hồ, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên, và 5 huyện ngoại thành gồm: Gia Lâm, Thanh Trì, Sóc Sơn, Đông Anh, Từ Liêm

Là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội lớn nhất của cả nước, có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng, có chiều sâu về lịch sử, văn hoá, Hà Nội trở thành trung tâm giao lưu và có tầm ảnh hưởng sâu rộng về mọi mặt tới các vùng lân cận và cả nước

*Về lịch sử, văn hoá và chính trị

Theo chính sử của nước ta, mùa Thu năm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn - vị vua khai sáng triều Lý) đã dời đô từ Hoa Lư (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) về thành Đại La, đổi tên kinh thành là Thăng Long, nay là Thủ đô Hà Nội Theo mốc lịch sử đó, đầu năm 2010, Thủ đô Hà Nội sẽ tròn 1000 năm tuổi [36; tr.465]

Về địa chính trị, địa văn hoá của thành Đại La, trong bài Chiếu hỏi ý kiến về việc dời đô, Lý Công Uẩn, với thiền sư Vạn Hạnh, đã vạch rõ: “Thành Đại La ở trung tâm bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi vị trí ở giữa bốn phương đông, tây, nam, bắc; tiện hình thế núi sông sau trước ở đó, địa hình rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất phong phú, tốt tươi Xem khắp nước Việt ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội

họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương”.[36; tr.18]

Chiếu dời đô đã xác định vị trí chiến lược về địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hoá của thành Đại La Vì vậy, sau khi thành Đại La trở thành kinh thành Thăng Long, chỉ trong vòng một vài thế kỷ, Thăng Long đã được xây dựng về mọi mặt và trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá lớn nhất và tiêu biểu nhất cho cả nước Thành quách, đê điều, các loại kiến trúc cung đình, dân gian, tôn giáo, văn hoá…tất cả hoà quyện với thiên nhiên tạo nên dáng vẻ riêng của kinh thành Rồng bay mang đậm tính dân gian và tính dân tộc

Tất cả những giá trị văn hoá đó đã thẩm thấu trong đời sống tinh thần và phong cách của người Hà Nội Chính chiều sâu của nền văn hoá đó đã tác động

Trang 15

mạnh mẽ tới cách thức tổ chức đời sống cá nhân và đời sống cộng đồng, tới nhận thức tư tưởng, tới văn hoá ứng xử với môi trường xã hội và môi trường tự nhiên, hình thành nên tác phong, tính cách tạo ra nét khác biệt giữa người Hà Nội với con người ở những vùng văn hoá khác

“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

*Về mặt kinh tế - xã hội

Theo GS.TS Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”[35; tr.210, 221], nếu đô thị phương Tây được hình thành một cách tự phát khi có một trong ba điều kiện: là nơi tập trung đông dân, có sản xuất công nghiệp, là nơi tập trung buôn bán và chức năng chủ yếu của đô thị phương Tây là chức năng kinh tế, thì ở Việt Nam, đô thị chủ yếu thực hiện chức năng hành chính Vì vậy, mặc dù trở thành kinh đô từ năm 1010 nhưng cho đến thế kỷ XVI - XVIII, kinh tế Thăng Long mới phát triển chủ yếu là nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp (buôn bán nhỏ), trong

đó thương nghiệp giữ vai trò chi phối Chỉ đến những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ

XX, bộ mặt kinh tế Hà Nội mới có những biến đổi to lớn Sau khi đế quốc Pháp xâm lược nước ta, hầu hết các xí nghiệp và công ty lớn của tư bản Pháp đặt trụ sở chính tại

Hà Nội, như các công ty luyện kim và mỏ Đông Dương (1899), bông vải sợi Bắc Kỳ (1900), điện nước Đông Dương (1900), rượu Đông Dương (1901)…Các hiệu buôn lớn của tư bản Pháp cũng đua nhau mọc lên tại Hà Nội, chia nhau nắm giữ độc quyền thương mại Có thể kể tới một số hãng buôn như: Boi Lăngđri (Boy Landry), Poăngxa

và Vâyrê (Poinsaud et Vegret), Liên hiệp thương mại Đông Dương, Ngân hàng Đông Dương, một chi nhánh của Ngân hàng Pháp cũng đóng trụ sở chính tại Hà Nội và chi phối chặt chẽ mọi hoạt động của các xí nghiệp, công ty, hãng buôn của tư bản Pháp trên thị trường Đông Dương

Điều đặc biệt quan trọng là với sự tác động của ngành công nghiệp của đế quốc Pháp đã làm cho Hà Nội thực sự trở thành trung tâm kinh tế không chỉ của cả nước mà còn cả ở Đông Dương Nền công nghiệp đó đã làm biến đổi sâu sắc kết cấu kinh tế và kết cấu giai cấp xã hội

Trang 16

Về kết cấu kinh tế, mặc dù trên thực tế các ngành sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng tính chất của nền sản xuất đã thay đổi hẳn, nó mang tính công nghiệp, các nông sản là sự bóc lột thậm tệ đối với nông dân phục vụ trực tiếp cho ngành công nghiệp của Pháp Bên cạnh đó một số ngành công nghiệp như khai thác mỏ, luyện kim đã thu hút nhiều lao động tạo ra một kết cấu xã hội giai cấp mới

Biểu hiện rõ nhất về kết cấu xã hội giai cấp là thời kỳ này tầng lớp tư sản người Việt được hình thành, và quan trọng hơn cả là sự hình thành và phát triển đội ngũ công nhân mới của Hà Nội Đội ngũ công nhân này là những nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hoá vì ruộng đất của họ bị đế quốc và phong kiến hùa nhau cướp đoạt Như vậy, chính sự bóc lột của đế quốc Pháp và sự tác động to lớn của ngành công nghiệp đã làm xuất hiện giai cấp công nhân Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung Thời kỳ đầu, tư bản Pháp chủ trương chỉ mở nhỏ giọt một số cơ sở chế biến cho nhu cầu của đời sống và công việc khai thác của chúng, đồng thời chỉ sản xuất tại chỗ những hàng bán ngay ở Việt Nam mà không cạnh tranh với ngành công nghiệp của nước Pháp Quá trình tập trung và phát triển công nhân vì vậy diễn

ra chậm

Sau khi các nhà máy của thực dân Pháp được xây dựng ở một số thành phố lớn, những người nông dân đã rời bỏ làng quê ra tìm công ăn việc làm tại các thành phố, vùng mỏ, đồn điền Từ đó cơ cấu xã hội ở thành thị bắt đầu thay đổi Thành thị trở thành nơi đan xen, tồn tại của nhiều giai cấp, nhiều thành phần xã hội khác nhau

và nó cũng thể hiện tính không thuần nhất trong từng kết cấu giai cấp và các thành phần xã hội khác nhau đó Tất cả những điều đó nó tạo ra ở thành thị một kết cấu xã hội giai cấp hết sức phức tạp

Trong những năm đổi mới, kinh tế Hà Nội đã có sự thay đổi về chất Cơ cấu

kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá: từ công nghiệp - nông nghiệp (cuối những năm 70 đầu những năm 80), chuyển thành: công - nông nghiệp - dịch vụ - kinh tế đối ngoại(giữa những năm 80); công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp - kinh tế đối ngoại(đầu những năm 90), và hiện nay đang chuyển theo hướng

Trang 17

2000 2001 2005 2010

1 Công nghiệp 38,0 39,1 41,5 42,0 - 42,5

2 Nông nghiệp 3,8 3,6 3,0 1,8 - 2,0

3 Dịch vụ 52,8 57,3 55,5 56,0 - 56,5 Nguồn: [2, tr.5]

Kinh tế Hà Nội có tốc độ phát triển nhanh, liên tục và tương đối toàn diện so với các địa phương khác trong cả nước Thời kỳ 1986 - 1991 tốc độ tăng trưởng GDP đạt khoảng 8%/năm, đến thời kỳ năm 1991 - 1992 tăng lên 9%(tốc độ chung của cả nước thời kỳ này là 7,2%) Năm 1995 tốc độ tăng trưởng GDP là 15%(cả nước 9,5%), 1996 tăng 13% (cả nước 9,3%), 1997 tăng 12,5%(cả nước tăng 8,8%),

1998 tăng 9,2%(cả nước tăng5,8%), 2001 tăng 10,3%, năm 2003 tăng 11,1%[2;

tr.18], năm 2004 tăng 11,12% [3; tr.35]

Cơ cấu kinh tế thay đổi đã kéo theo sự thay đổi của cơ cấu lao động: lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên rất nhanh, lao động trong nông nghiệp giảm cả tương đối và tuyệt đối(công nhân, lao động trong nông nghiệp giảm

từ 40,09% năm 1995 xuống còn 30,18% năm 2000 và 20,06% năm 2004) Hiện nay, Hà Nội vẫn là trung tâm kinh tế lớn của cả nước với 29.408 doanh nghiệp đang hoạt động trên các lĩnh vực sản xuất khác nhau đã thu hút nhiều lao động, nhất là lao động từ các vùng lân cận, làm cho lao động Hà Nội không ngừng tăng lên

Trong lĩnh vực công nghiệp: ngoài 9 khu công nghiệp vốn có, Hà Nội cũng đầu tư vào xây dựng 5 khu công nghiệp tập trung, 2 khu công nghiệp vừa và nhỏ, giải quyết hơn 26 vạn lao dộng có việc làm ổn định Công nhân, lao động trong

Trang 18

và các tỉnh lân cận Công nhân, lao động trong toàn ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 37,99% năm 1995 lên 45,36% năm 2000 và 50,62% năm 2004

Trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại đến năm 2000, trên địa bàn thành phố đã có

382 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn hơn 7,5 tỷ USD Nhiều thị trường mới được khai thác, mở rộng thay thế thị trường xuất khẩu truyền thống bị hạn hẹp

Với tốc độ phát triển như hiện nay, Hà Nội sẽ có bước phát triển vững chắc

và trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước trong thế kỷ XXI

1.3.2 Đặc điểm của giai cấp công nhân thành phố Hà Nội

Giai cấp công nhân Hà Nội được hình thành từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX Đại bộ phận công nhân Hà Nội xuất thân từ nông dân lao động ở các làng, xã ven nội thành và các huyện ngoại thành và một lực lượng không nhỏ thợ thuyền Hà Nội vốn là nông dân lao động các tỉnh đồng bằng, trung du Bắc Kỳ và một số vùng Trung Kỳ, vì sưu cao, thuế nặng, mất mùa đói kém tìm đến Hà Nội bán sức lao động cho các chủ tư sản trở thành công nhân

Có thể nói, giai cấp công nhân Hà Nội mang cả những đặc điểm chung của giai cấp công nhân, vừa mang đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam, vừa mang những nét đặc thù do sự tác động của những điều kiện riêng có của Hà Nội

Giai cấp công nhân Việt Nam nói chung, giai cấp công nhân Hà Nội nói riêng cũng là sản phẩm và chủ thể của nền sản xuất công nghiệp Nhưng, không phải là sản phẩm và chủ thể của nền kinh tế trong đó sự phát triển kinh tế tuân theo quy luật tự nhiên của sự phát triển sức sản xuất và phân công lao động xã hội đem lại, mà là sự áp đặt, sự thống trị của đế quốc Pháp vào nước ta Trước khi thực dân

Trang 19

Pháp xâm lược, nước ta vẫn là nước phong kiến (mặc dù đã xuất hiện một số mầm mống của kinh tế hàng hoá TBCN, nhưng chính sách trọng nông ức thương của triều đình Nguyễn làm cho nó thui chột) Về mặt xã hội, vẫn bao gồm hai giai cấp

cơ bản là địa chủ phong kiến và nông dân Khi thực dân Pháp và nước ta, chúng đã

cố duy trì phương thức áp bức bóc lột phong kiến với thủ đoạn bóc lột của chủ nghĩa thực dân tạo ra sự bần cùng hoá không thể tránh khỏi của nhân dân lao động, đồng thời cũng dẫn đến sự phân hoá xã hội ngày càng mạnh mẽ ở thành thị lẫn nông thôn “Khi đế quốc Pháp đã đặt một hình thức chế độ tư bản trên đất Việt Nam thì tất cả các giai cấp trong nước đều phải nằm trong quá trình phát triển của CNTB thực dân, phải chuyển biến theo quá trình ấy”[4, tr.30]

VI.Lênin cũng chỉ rõ: “Một trong những đặc tính căn bản nhất của chủ nghĩa

đế quốc chính là ở chỗ nó đẩy nhanh sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong các nước lạc hậu nhất” [13, tr.171]

Công, thương nghiệp thuộc địa phát triển, về khách quan đã dẫn tới sự nảy sinh lớp người làm thuê ăn lương, trong số đó có một số trở thành những người vô sản công nghiệp hiện đại

Một điều kiện đặc thù của Hà Nội làm cho giai cấp công nhân hình thành và phát triển là Hà Nội được Pháp coi là một trong những thành phố lớn nhất Đông Dương nên nhiều nhà máy xí nghiệp đã được xây dựng từ rất sớm và họ đã có một trình độ chuyên môn, kỹ thuật nhất định Họ làm việc trong những nhà máy, xí nghiệp mà tính chất của nền sản xuất cao hơn các vùng khác trong cả nước Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Hà Nội đã xuất hiện nhiều công ty thương mại lớn của tư bản Pháp Nhiều nhà máy, xí nghiệp được xây dựng nhằm mục đích phục

vụ chính quyền thực dân Pháp và bọn thống trị bóc lột công nhân bản xứ, vơ vét tài nguyên đưa về chính quốc Trong bản thống kê về tình hình công nghiệp do Mơfore lập năm 1907, ở Bắc Kỳ có tất cả 85 xí nghiệp với 15.300 công nhân người Việt làm

việc [11; tr.12]

Đến năm 1909, ở Bắc Kỳ có tới 100 nhà máy và công xưởng với 22.000 công nhân người Việt[11; tr.12], trong đó Hà Nội là một trung tâm lớn Trong những năm 1926 - 1927, tổng số doanh nghiệp lớn về công nghiệp và thương mại ở

Trang 20

Hà Nội là 707, trong đó người Việt (tư sản Việt Nam) có 300 Hàng nghìn công

nhân đã thu hút vào guồng máy sản xuất kinh doanh của tư sản người Việt

Đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX, số lượng công nhân trong các nhà máy lớn của Pháp và trong một số xưởng của tư bản bản xứ (không kể công nhân các công trường xây dựng, các ngành phục vụ buôn bán) là gần một vạn trong tổng

số 12 vạn dân Hà Nội lúc đó, và trong tổng số 220.000 công nhân cả nước

Khác với sự ra đời của công nhân các nước TBCN ở phương Tây, phần đông

là xuất thân từ dân nghèo thành thị, công nhân Việt Nam nói chung, công nhân Hà Nội nói riêng chủ yếu xuất thân từ những nông dân còn gắn bó nhiều với ruộng đất Nhưng, điều kiện đặc thù của Hà Nội có những khác biệt so với các vùng khác là những người gia nhập vào đội ngũ những người vô sản ở Hà Nội xuất thân từ nhiều nguồn khác nhau: một bộ phận xuất thân từ nông dân lao động ở các làng xã ven nội

và các huyện ngoại thành bị tước mất ruộng đất; một lực lượng không nhỏ thợ thuyền vốn là nông dân lao động các tỉnh đồng bằng, Trung du Bắc kỳ và một số vùng Bắc Trung Kỳ…đã phiêu bạt lên Hà Nội Điều này làm cho công nhân Hà Nội vừa mang bản sắc vùng kinh kỳ, vừa hoà trộn bản sắc của nhiều địa phương trong

cả nước Những bản sắc này được hoà hợp, thống nhất lại trong quá trình hình thành

và phát triển đội ngũ công nhân Hà Nội Mặt khác, chính điều này tạo ra sự đan xen phức tạp trong cơ cấu thành phần giai cấp Sự đan xen này nếu thống nhất được nó

sẽ tạo ra sức mạnh to lớn, nhưng nó cũng tiềm ẩn những yếu tố mất đoàn kết trong phong trào công nhân

Trong các nhà máy, xí nghiệp của Thực dân Pháp, công nhân bị bóc lột rất nặng nề và chịu sự đàn áp rất tàn bạo, dã man Vì vậy, ngay từ rất sớm công nhân đã tiến hành đấu tranh chống lại sự đàn áp đó Lúc đầu là những hình thức sơ khai, càng về sau công nhân càng trưởng thành về ý thức chính trị và vươn lên trở thành một lực lượng chính trị độc lập và lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân Thủ đô trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Thời kỳ đầu, công nhân còn tiến hành đấu tranh sơ khai, nhưng càng về sau công nhân Hà Nội càng trưởng thành về chính trị vươn tới nắm lấy vũ khí đặc thù của giai cấp: bãi công Cuộc bãi công đầu tiên là của công nhân hãng Liên hiệp

Trang 21

thương mại Đông Dương (LUCI)(1909) mặc dù bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, nhưng từ đó đội ngũ công nhân Hà Nội đã bước lên vũ đài chính trị với tư cách là một lực lượng mới mẻ trong phong trào dân tộc, và cũng từ đó phong trào đã chứa đựng trong mình yếu tố căn bản dẫn tới một phong trào phát triển độc lập Cùng với việc tiến hành các cuộc bãi công, đội ngũ công nhân Hà Nội tiếp tục tham gia tích cực vào các phong trào yêu nước khác Mặc dù vậy, nhìn chung, cho đến hết năm

1926 phong trào công nhân Hà Nội vẫn mang tính tự phát Tuy nhiên, trong từng cuộc đấu tranh cụ thể đã thể hiện trình độ tự giác nhất định của giai cấp công nhân

Năm 1928, với sự ra đời của Tổng công hội Hà Nội đã đánh dấu bước trưởng thành nhanh chóng của đội ngũ công nhân Tháng 3/1929, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập tại ngôi nhà số 5D phố Hàm Long - Hà Nội Đây là một sự kiện đánh dấu sự phát triển về chất của phong trào công nhân Hà Nội nói riêng và phong trào công nhân Bắc Kỳ nói chung Từ đó, mục tiêu, nội dung, phương pháp hoạt động của tổ chức công hội Hà Nội có bước phát triển mới

Đến đầu năm 1937, Hà Nội có 20 chi bộ được thành lập, Thành uỷ Hà Nội được khôi phục và tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động thành phố Đến giữa năm 1937, tại Hà Nội có 24 Hội ái hữu, thực chất

là các công hội đỏ, hoạt động theo nghiệp đoàn.Từ đó, Hà Nội trở thành một trong hai trung tâm có phong trào công nhân mạnh trong cả nước thời kỳ vận động dân chủ Tính chất rộng rãi, trình độ tổ chức cao, tính kỷ luật vô sản tự giác của phong trào công nhân ngày càng được khẳng định trong giai đoạn từ 1938 - 1945

Từ sau Cách mạng tháng Tám, chỉ trong một thời gian ngắn, tổ chức công nhân cứu quốc ở Hà Nội đã có sự phát triển nhảy vọt về số lượng, từ chỗ 2000 hội viên đã phát triển lên 10.000 hội viên Điều này cũng đã tạo ra một sức mạnh tương ứng về chất lượng Bên cạnh đó, tổ chức công đoàn cũng phát triển mạnh mẽ Đến tháng 10/1946, Hà Nội đã có 26 công đoàn cơ sở, với 15.000 đoàn viên công đoàn Tới 19/12/1946 số đoàn viên lên tới 20.000 người

Công nhân Hà Nội sớm trưởng thành về tư tưởng, chính trị, tổ chức hơn so với công nhân ở các vùng khác trong cả nước, bởi lẽ công nhân Hà Nội được làm việc, được tôi luyện trong một hoàn cảnh điển hình Đó là một mảnh đất mà luôn

Trang 22

diễn ra sự đấu tranh quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa các lực lượng xã hội khác nhau Kể cả thời Pháp và Mỹ đều coi Hà Nội là một trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng cần đặt trung tâm đầu não, là nơi tập trung các thế lực

tư bản Nhà nước, tư bản tư nhân nước ngoài và thế lực không nhỏ của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản Các lực lượng thù địch luôn coi Hà Nội là một sào huyệt trung tâm Về phía cách mạng ngay từ khi ra đời, Đảng cộng sản đã đặc biệt chú ý tới địa bàn Hà Nội Hà Nội không những là trung tâm kinh tế, mà còn là địa bàn tập trung đông công nhân, nhân dân lao động vốn là một tập hợp dân cư và một cộng đồng xã hội mang tính chất toàn quốc Chính vì thế Hà Nội trở thành nơi phân cực một cách tự nhiên thành hai trận tuyến: cách mạng và phản cách mạng - mỗi bên đều là lực lượng đại diện, tiêu biểu cho hai lực lượng cách mạng và phản cách mạng trong cả nước Hà Nội trở thành nơi chứa đựng mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp gay gắt nhất, và cuộc đụng độ giữa cách mạng và phản cách mạng cũng diễn ra ác liệt nhất Chính trong hoàn cảnh đó, công nhân Hà Nội đã sớm trưởng thành và trở thành phong trào cách mạng điển hình cho cả nước

Trước yêu cầu cấp bách của sự nghiệp khôi phục đất nước sau chiến tranh và

để giải quyết việc làm cho gần 8 vạn người, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp

và các xí nghiệp tư bản tư doanh ngày càng mở rộng tập hợp đông đảo lực lượng lao động Vì vậy số công nhân, lao động trong các nhà máy xí nghiệp ở Hà Nội không ngừng tăng lên

Tương ứng với quá trình khôi phục kinh tế, lực lượng công nhân, lao động

ngày càng đông đảo, trong đó công đoàn phát triển mạnh(xem biểu 1.2)

Bảng 1.2: Công nhân viên và công đoàn viên Hà Nội từ 1954 đến 1960

Trang 23

về nhận thức tư tưởng chính trị, ý thức ngày càng tốt hơn về vị trí tiên phong của giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thời kỳ khôi phục

và phát triển kinh tế giai đoạn 1969 - 1975, lực lượng công nhân tiếp tục tăng Năm

1969, công nhân tăng thêm 28%, gồm 176.000 người Nữ công nhân tăng 42% so với năm 1965 Điểm đáng chú ý là tỷ lệ cán bộ khoa học kỹ thuật trong công nhân

Hà Nội đã tăng rõ rệt Năm 1965, Hà Nội có 3000 cán bộ khoa học kỹ thuật, đến năm 1969 đã có 8000 người, tăng gấp hơn 2 lần [11; tr.207] Với lực lượng lao động to lớn đó tham gia vào sản xuất, Hà Nội đã trở thành hậu phương lớn, đóng góp một phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân ta, mở ra một kỷ nguyên mới: độc lập, tự do thống nhất và chủ nghĩa xã hội

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Hà Nội lại bắt tay vào quá trình xây dựng và kiến thiết nước nhà, công nhân và lao động Thủ đô tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong công cuộc kiến thiết đó

Từ cuối 1975 đến 1976, Nhà nước đã tăng cường cho Hà Nội hàng vạn lao động mới từ nhiều nguồn khác nhau: nông dân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ, học sinh phổ thông, chiến sĩ quân đội xuất ngũ… Sự biến động về cơ cấu đội ngũ, đã tác động đến chất lượng và trình độ nghề nghiệp của công nhân Hà Nội Đến cuối năm 1977, ở Hà Nội có 241.327 công nhân, trong đó 225.294 người là đoàn viên công đoàn, tham gia hoạt động ở 892 cơ sở Năm 1979, ngoại thành Hà Nội được

mở rộng nên đã nâng số lượng công nhân Hà Nội tăng vọt lên 469.659 người trong

đó có 410.903 đoàn viên công đoàn

Trang 24

Từ năm 1986, bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, công nhân thủ đô đã có biến đổi to lớn về số lượng và chất lượng Đội ngũ công nhân trên 50 vạn người, trong đó có hơn 142.000 công nhân kỹ thuật, công nhân lành nghề, 63.000 công nhân trí thức XHCN chiếm tỷ lệ 13,25% của cả nước, có nhiều người là chuyên gia đầu ngành Lao động nữ chiếm 48%, nữ công nhân kỹ thuật chiếm 50% là lực lượng chủ yếu trong sản xuất, kinh doanh, sự nghiệp [11; tr.268]

Thời kỳ xoá bỏ chế độ bao cấp, sản xuất - kinh doanh đã đi vào thực chất, làm cho đội ngũ công nhân, lao động Hà Nội có sự thay đổi về chất

Sau khi tổ chức sắp xếp lại sản xuất, các xí nghiệp đã phục hồi việc sản xuất, giải quyết được tình trạng thiếu việc làm và tạo ra nhiều việc làm mới Quý IV năm

1989, số lao động thiếu việc làm trên 40% đã giảm còn 30%, đến quý IV năm 1990 giảm còn 12% so với tổng số lao động Trong hai năm 1990 -1991 có 400 cơ sở đã giải quyết được 242.000 lượt công nhân, lao động tiếp tục có việc làm và tuyển thêm 7000 lao động mới [11,tr.284] Đặc biệt từ khi Nhà nước có chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân thì số doanh nghiệp tư nhân cũng ngày một tăng lên và giải quyết việc làm cho hàng trăm nghìn lao động

Nếu trước 1988, cả thành phố không có doanh nghiệp tư nhân nào hoạt động, thì sau Nghị định 27/NĐ-CP (8-3-1988) trên địa bàn thành phố đã có 100 doanh nghiệp

tư nhân ra đời 8 năm sau (1999), trên địa bàn thành phố đã có 4.449 doanh nghiệp tư nhân Số lao động trong các doanh nghiệp này lên tới 43.610 người (không kể lao động thời vụ) Sau khi triển khai Luật doanh nghiệp 4 năm, Hà Nội đã có 15.760 doanh nghiệp mới, thu hút 233.500 lao động (không kể lao động thời vụ) Ngoài ra, còn có 71.500 hộ kinh doanh cá thể, trong đó có 15.500 hộ sản xuất công nghiệp, thu hút 500.000 lao động [18; tr.108]

Thời kỳ hiện nay, công nhân Hà Nội có sự phân hoá trong đội ngũ nhanh và liên tục hơn so với công nhân ở các vùng kinh tế khác Đó là do có sự tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ hiện đại làm cho trình độ của lực lượng sản xuất thay đổi, phân công lao động cao Điều đó đòi hỏi công nhân phải không ngừng học tập và tự đào tạo để đáp ứng yêu cầu của công việc Đa số công nhân có tay nghề cao cố gắng học hỏi, tiếp cận với công nghệ tiên tiến và trở thành lực

Trang 25

lượng nòng cốt Mặt khác, Hà Nội còn là trung tâm khoa học của cả nước Hà Nội

là nơi tập trung của các Viện khoa học, Trung tâm nghiên cứu và các trường đại học, cao đẳng Những yếu tố trên tác động đã làm tăng xu hướng trí thức hoá công nhân Thực tế đã cho thấy là các khu công nghệ cao tập trung chủ yếu ở Hà Nội

Như vậy, nếu lấy mốc năm 1888 làm điểm khởi đầu của quá trình hình thành, thì đến nay đội ngũ công nhân và lao động thủ đô đã trải qua trên 100 năm xây dựng và trưởng thành Qua thời gian đó giai cấp công nhân Hà Nội không ngừng lớn mạnh, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, đi tiên phong trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần to lớn vào thắng lợi chung trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc

1.3.3 Tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến sự biến động của giai cấp công nhân Hà Nội

Nghiên cứu xu hướng biến động của giai cấp công nhân Hà Nội trong thời

kỳ CNH, HĐH chúng ta cần làm rõ, đánh giá đúng những yếu tố của CNH, HĐH và những tác động của nó đến giai cấp công nhân CNH, HĐH là quá trình phát triển tất yếu của xã hội loài người, là con đường giúp đất nước chúng ta thoát khỏi nguy

cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực Từ Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) đến nay Đảng ta luôn xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ

* Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

Tiến hành CNH, HĐH để phát triển kinh tế - xã hội là con đường tất yếu của mọi quốc gia trên thế giới Trong giai đoạn hiện nay, khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trên phạm vi toàn cầu, tạo ra những thay đổi lớn và có những thành tựu vượt bậc trong xã hội ở Việt Nam, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định " Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt".[8; tr.91]

Trên thực tế, không phải đến bây giờ chúng ta mới đặt vấn đề công nghiệp hoá lên vị trí quan trọng như hiện nay, mà bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX công nghiệp hoá đã được tiến hành ở nước ta, khi đó còn được gọi là "công nghiệp

Trang 26

hoá xã hội chủ nghĩa" Với nhận thức của thời kỳ đó cùng với việc học tập mô hình

công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, chúng ta đã tiến hành công nghiệp

hoá xã hội chủ nghĩa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp

lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ… nhằm xây dựng cơ

sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành công nghiệp hoá chúng ta đã không xuất phát từ đặc điểm, thực trạng kinh tế - xã hội đất nước và bối cảnh quốc tế dẫn đến một điều là hiệu quả của công nghiệp hoá rất thấp, thậm chí không có hiệu quả Các ngành kinh tế khác không phát triển do đó không đáp ứng được nhu cầu hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân, cùng với nó nền kinh tế phát triển mất cân đối và rơi vào khủng hoảng kéo dài Chúng ta đã phải trả giá cho nhận thức sai lầm đó

Giờ đây, Đảng ta đã có những nhận thức lại đúng đắn hơn trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, tổng kết lý luận và thực tiễn để đưa ra đường lối phát triển công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá CNH, HĐH của thời đại ngày nay là lấy giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ làm nền tảng và động lực Xuất phát từ đó, Đảng ta cho rằng để phát triển nền kinh tế từ thực trạng lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại phải tiến hành công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá

Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương khoá VII đã khẳng định nhận thức đúng đắn về sự gắn kết tất yếu và khoa học giữa công nghiệp hoá và hiện đại hoá là: "quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [7, tr.42]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu CNH, HĐH là một quá trình cải biến lao động thủ công thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại nhằm phát triển lực lượng sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để đạt được năng suất lao động xã hội hoá cao Đây là một quá trình vừa làm tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, vừa là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn liền với việc đổi mới công nghệ một cách

Trang 27

xã hội phát triển, hiện đại

Theo đó, nội dung cơ bản của CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân là:

- Chuyển lao động thủ công thành lao động sử dụng máy móc, đồng thời ứng dụng những thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, nâng cao hàm lượng chất xám trong sản xuất, từng bước phát triển kinh tế tri thức, để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH

- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình hình thành và biến đổi cơ cấu nền kinh tế quốc dân hợp lý

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã xác định mục tiêu của CNH, HĐH là: Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất -

kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình

độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng

và an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trước mắt, ra sức phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Vì thế, Đại hội IX khẳng định, phát triển kinh tế, CNH,

Trang 28

HĐH phải được xem là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI Và nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho CNH, HĐH đã cơ bản hoàn thành cho phép chuyển sang thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Trước hết là những tác động tích cực: trong nhiều năm qua, mặc dù Hà Nội

còn nhiều khó khăn, điều kiện còn nhiều thiếu thốn, nhưng chúng ta đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ, công nhân có trình độ khoa học kỹ thuật cao, đó cũng là nhờ có sự tác động tích cực của CNH, HĐH

Chúng ta đều biết rằng, mục tiêu cốt lõi của CNH, HĐH là tăng năng suất lao động xã hội, nhưng để tăng được năng suất lao động xã hội thì điều đặc biệt quan trọng là quá trình cải biến lao động, từ lao động thủ công thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến để phát triển lực lượng sản xuất CNH, HĐH phát huy khả năng lao động và sáng tạo của con người, làm ra một khối lượng của cải khổng lồ

mà trước đó, con người không thể hình dung nổi Đứng trước những yêu cầu của phát triển CNH, HĐH, đội ngũ cán bộ, công nhân của thủ đô đã không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ, đáp ứng nhu cầu sử dụng tốt những thiết bị máy móc hiện đại, thành thạo những quy trình công nghệ cao, đi tắt đón đầu những thàh tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới ứng dụng vào những ngành kinh tế quan trọng của đất nước Một số ngành nghề truyền thống như cơ khí , luyện kim và một số ngành nghề mới có vai trò mũi nhọn như ngành dầu khí, ngành bưu chính - viễn thông, hàng hải, hàng không, tin học, điện tử…cùng với các ngành nghề đó là các ngành dịch vụ cũng phát triển đa dạng như tài chính, ngân hàng, chuyển giao công nghệ Những ngành nghề yêu cầu phải có một đội ngũ công nhân có trình độ cao đủ sức làm chủ công việc của mình

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần tạo ra một đội ngũ cán bộ, công nhân có tác phong làm việc mới - tác phong công nghiệp Trong quá trình đổi mới,

mở cửa hội nhập, đẩy mạnh CNH, HĐH cách tư duy, tác phong mới của người lao động sẽ từng bước được hình thành và phát triển, phát huy trong sản xuất , tổ chức lao động và quản lý xã hội Bản thân người công nhân làm việc trong quy trình ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại phải là người luôn luôn tiếp thu những thành tựu

Trang 29

khoa học, thường xuyên được đào tạo và tiếp cận với khoa học công nghệ mới của thế giới Điều đó cho thấy CNH, HĐH đã góp phần thúc đẩy quá trình phát triển không chỉ trong lĩnh vực sản xuất mà còn góp phần thúc đẩy một lực lượng công nhân tiến bộ về trình độ khoa học kỹ thuật tức là xây dựng lực lượng sản xuất tiên tiến, đáp ứng cho sự nghiệp xây dựng đất nước Cùng với khả năng lao động cao là

sự phân công lao động xã hội và sự chuyên môn hoá sâu sắc đã tách biệt khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng làm cho kinh tế thị trường phát triển, thương nghiệp mở rộng quy mô và nhờ đó ngành công nghiệp phát triển Mối quan

hệ tác động qua lại giữa sản xuất và tiêu dùng, thương nghiệp và công nghiệp tạo nên nguồn động lực kích thích sản xuất

Hà Nội là trung tâm kinh tế - văn hoá của đất nước, việc tiến hành CNH, HĐH ở một trung tâm kinh tế lớn là một yêu cầu cấp bách Với một vị trí địa lý thuận lợi cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và hợp tác với các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp trong nước cũng như ở nước ngoài, Hà Nội tiến hành CNH, HĐH với những yêu cầu rất cao gắn liền với kỹ thuật và công nghệ hiện đại

Yêu cầu trước hết là trình độ của lực lượng lao động, hay trình độ của lực lượng sản xuất Tại sao CNH, HĐH lại cần lao động có trình độ cao, bởi lẽ chỉ có một lực lượng giai cấp công nhân có trình độ cao mới đáp ứng được những đòi hỏi của công việc của một nhà máy, một xí nghiệp, hay công xưởng hiện đại Người công nhân có trình độ cao có thể sử dụng được hệ thống máy móc hiện đại và xử lý được các tình huống mà máy móc có thể mang lại CNH, HĐH luôn gắn liền với khoa học và công nghệ hiện đại Chỉ có khoa học và công nghệ mới tạo ra bước đột phá mới thay đổi về chất của tư liệu sản xuất Sự phát triển đó không chỉ đem lại tính chất hiện đại cho các yếu tố tư liệu sản xuất, mà còn ở kỹ thuật, phương pháp, trình độ tổ chức và quản lý tiên tiến,… Nghĩa là từ thiết bị, con người, thông tin đến tổ chức, quản lý Điều này thể hiện rất rõ ở một số nước trên thế giới, trong các nước OEDC (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế), công nhân có trình độ cao hiện chiếm trên 60% lực lượng lao động [5, tr.5) Hiện nay ở Mỹ, 80% số ngành nghế mới là do các ngành theo loại hình tri tạo ra Công nhân truyền thống( công nhân

“cổ xanh”) làm nghề chế tạo không còn tới 17% Theo dự đoán của nhà quản lý

Trang 30

người Mỹ Pi-tơ Dva-ki, đến năm 2010 công nhân cổ xanh trong các nước OEDC sẽ chỉ còn 12% Sự phát triển của khoa học công nghệ vừa tạo ra tiền đề, vừa đòi hỏi bản thân người lao động nói chung, giai cấp công nhân nói riêng phải có tri thức cao, ngày càng phải vươn lên nắm bắt những thành tựu mới của khoa học công nghệ

để có đủ năng lực làm chủ những công nghệ tiên tiến trong quá triình sản xuất và hoạt động xã hội [19, tr.2] Chính vì vậy mà yếu tố trình độ, vấn đề trí tuệ của người công nhân là một vấn đề hết sức quan trọng để có thể đáp ứng những yêu cầu của CNH, HĐH tại Thủ đô

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn có những đòi hỏi người công nhân phải thực hiện những yêu cầu sau:

Thứ nhất, đó là tiêu chuẩn hoá Tiêu chuẩn hoá liên quan đến trình độ và

năng lực của người thợ đến thiết bị máy móc của quy trình sản xuất cho tới sản phẩm của nó Nếu tốc độ của người lao động không cao, năng lực sản xuất thấp thì

sẽ không đáp ứng được tiêu chuẩn và hậu quả là người lao động bị loại trừ, máy móc ngưng trệ, sản phẩm bị phế thải và cuối cùng nhà doanh nghiệp bị thất bại

Người công nhân trong các nhà máy không thể làm mọi việc như người nông dân hay thợ thủ công mà chỉ đảm nhận một nhiệm vụ nhất định với vài thao tác nhất định Nghĩa là khi lao động, họ phải đứng ở một vị trí xác định, phải được chuyên môn hoá ở độ cao, thành thạo trong những thao tác của họ Có như vậy họ mới thích ứng được với nền sản xuất công nghiệp có sự phân công lao động xã hội ngày càng tinh vi, phức tạp ở thời kỳ đầu, tiêu chuẩn hoá chưa trở thành một nguyên tắc cơ bản, bởi sản xuất vẫn chủ yếu là thủ công kết hợp với máy móc nên tính chất của lao động chưa phức tạp Nhưng càng về sau, nguyên tắc này càng tác động mạnh

mẽ tới đội ngũ công nhân, nhất là ở những nhà máy xí nghiệp có máy móc hiện đại

Thứ hai, là chuyên môn hoá Đây là yêu cầu bắt buộc của nền sản xuất công

nghiệp, chính yếu tố này tạo ra sự phân công lao động ngày càng sâu sắc trong các

xưởng và giữa những người thợ; đồng thời gây ra sự phân hoá trong hàng ngũ công

nhân: những người có trình độ kỹ thuật cao thích ứng với nền công nghệ hiện đại và những người lao động giản đơn, kỹ thuật thấp rất dễ rơi vào nguy cơ bị đuổi ra khỏi

Trang 31

nhà máy Công nhân đã được tiêu chuẩn hoá và đồng bộ hoá khi tham gia sản xuất

họ phải vận động theo nhịp độ của máy móc và tuân theo những quy định nghiêm ngặt về kỹ thuật mà không thể tự ý sửa đổi hay rời bỏ vị trí Chính điều này là sự tác động tiêu cực nhất đối với công nhân, làm cho họ “què quặt” về mặt thể xác và tinh thần như C.Mác đã chỉ ra Đối với công nhân Hà Nội, do sức sản xuất chưa phát

triển nên phân công lao động xã hội chưa cao nên chuyên môn hoá ở thời kỳ đầu

còn hạn chế Tuy nhiên, quá trình này sẽ thay đổi và có tác động mạnh tới giai cấp công nhân thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Thứ ba, đó là đồng bộ hoá Nền sản xuất công nghiệp có một đặc trưng quan

trọng đó là tập trung: tập trung máy móc, tập trung nguyên liệu, tập trung thợ trong một

cơ sở sản xuất….Vì vậy mỗi người thợ tham gia quá trình sản xuất đó đều phải thi hành đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, tạo ra sự phối hợp chặt chẽ đồng bộ giữa các cá nhân, để làm ra sản phẩm đúng quy cách

Qua phân tích trên cho thấy những yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH ở Hà Nội

là rất cao đối với người công nhân, đồng thời đó cũng là sự tác động mạnh mẽ tới người công nhân, đặc biệt là nó tác động tới sự biến động của giai cấp công nhân nói chung, tạo ra những xu hướng biến đổi khác nhau trong đội ngũ giai cấp công nhân

Hà Nội Đó là những tác động trong lĩnh vực lao động sản xuất, còn trong lĩnh vực

xã hội, văn minh công nghiệp cũng để lại những hệ quả xã hội to lớn, tác động trực tiếp tới đời sống của người công nhân

Qui tắc của sản xuất công nghiệp trong thời kỳ CNH, HĐH đòi hỏi mọi hoạt động của kinh tế và xã hội, tất cả đều phải được tiêu chuẩn hoá Nền giáo dục được

tổ chức theo yêu cầu của xã hội công nghiệp Giao thông, thông tin, bưu điện… phải được xây dựng để tạo ra sự nối kết giữa các thành thị, trung tâm kinh tế với nhau, giữa quốc gia và quốc tế Chính tiêu chuẩn hoá đòi hỏi hình thành trong đội ngũ giai cấp công nhân tác phong công nghiệp: khẩn trương, chính xác… xoá bỏ tác phong nông nghiệp cũ đã tồn tại từ lâu trong lối sống của người dân Việt Nam

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển làm cho thành phố mở rộng, số dân thành thị tăng lên, gia tăng tốc độ đô thị hoá và tăng nhân khẩu phi nông nghiệp

Trang 32

Một trong những tác động tiêu cực dễ nhận ra nhất đó là tỷ lệ thất nghiệp ở

Hà Nội diễn ra với tốc độ nhanh hơn Đối với một bộ phận giai cấp công nhân không đổi mới tư duy, phong cách làm việc công nghiệp thì sẽ sớm bị đào thải Trong quá trình chọn lọc đó, một số công nhân ở vào độ tuổi cao không theo kịp với nhịp độ và cường độ làm việc mà công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi cũng sớm rơi vào tình trạng thất nghiệp Những công nhân có trình độ thấp, không tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại, không chịu khó học hỏi, đào tạo và tự đào tạo thì cũng khó có cơ hội tìm việc làm ở những khu vực phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt, nếu không có sự định hướng đúng đắn thì sẽ dẫn đến sự phát triển tự do và hậu quả là mội trường sinh thái bị phá huỷ, môi trường sống sẽ bị ảnh hưởng nặng nề Khi công nghiệp hoá được đẩy mạnh các khu công nghiệp ra đời, nếu không xử lý tốt vấn đề nơi ăn ở cho công nhân sẽ tạo ra sự lộn xộn trong đời sống công nhân và chất lượng sống của công nhân sẽ rất thấp Do nhu cầu học tập ngày càng cao để nâng cao trình độ đã làm cho Hà Nội gia tăng số lượng người muốn tìm kiếm cơ hội việc làm tạo ra tình trạng dân cư tăng nhanh, kèm theo đó là tình trạng mất trật tự an toàn xã hội Văn minh công nghiệp xuất hiện cũng tác động làm cho nền tảng gia đình lớn, gia đình truyền thống của xã hội nông nghiệp bị tan vỡ Do các thành viên trong gia đình làm nhiều việc khác nhau ở các trung tâm công nghiệp, nhiều người thoát ly gia đình đi làm việc ở các thành phố Các chức năng then chốt của gia đình dần dần bị chia nhỏ, gia đình “hạt nhân” trở thành cấu trúc hiện đại của xã hội mới Điều đó sẽ gây khó khăn cho không chỉ người công nhân nói riêng mà còn gây khó khăn cho các nhà quản lý xã hội về vấn đề nhân sự, hộ khẩu v.v…

Mặt khác, chính quá trình tách rời lao động với sản phẩm lao động dễ tạo ra

sự “tha hoá” trong lao động như quan niệm của Mác chỉ ra Nếu điều này xảy ra, thì

Trang 33

đó chính là tác động tiêu cực nhất đối với người lao động Chính kinh tế thị trường phát triển tạo ra những mặt trái của xã hội: phân hoá giàu nghèo, nền tảng đạo lý xâm phạm đạo đức xã hội…

Những năm qua cơ cấu kinh tế Hà Nội có sự chuyển dịch nhanh chóng trong

đó tỷ trọng nông nghiệp giảm xuống còn tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên

Hà Nội trở thành là một trong những trung tâm kinh tế, trung tâm công nghiệp, dịch

vụ lớn nhất của cả nước Nhiều nhà máy, xí nghiệp, có tốc độ khoa học công nghệ cao tập trung ở Hà Nội đòi hỏi một đội ngũ công nhân có tay nghề thành thạo Thực

tế đó đã tác động góp phần nâng cao chất lượng của giai cấp công nhân Tốc độ đô thị hoá của Hà Nội diễn ra nhanh, là nơi thu hút mạnh lực lượng lao động của các vùng phụ cận làm cho khả năng cạnh tranh về trình độ lao động diễn ra mạnh mẽ

Do vậy, cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn ra quá trình chuyển dịch

cơ cấu lao động theo hướng lao động công nghiệp tăng lên cả về số tuyệt đối và tương đối; lao động nông nghiệp giảm cả tuyệt đối và tương đối, lao động dịch vụ cũng tăng lên cả về số tuyệt đối và tương đối Mặt khác, ngay trong nội ngành, lao động cũng có sự chuyển dịch Ví dụ: lĩnh vực công nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng gắn kết giữa cây công nghiệp sản xuất với công nghiệp xây dựng dựa trên tiến

bộ khoa học kỹ thuật, số lượng công nhân lao động ở các ngành công nghiệp và dịch

vụ tăng lên nhưng còn ở mức độ chưa cao, lực lượng lao động trong ngành dịch vụ ở

Hà Nội là 412 201 người (năm 1996) chiếm 37,99% Trong những năm tới, cùng với

sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, đội ngũ công nhân lao động trong các ngành công nghiệp, đặc biệt là trong ngành dịch vụ sẽ tăng lên nhanh chóng và chiếm một

tỷ lệ lơn trong lực lượng lao động xã hội

Chương 2

Xu hướng biến động của giai cấp công nhân thành phố Hà Nội thời kỳ hiện nay dưới tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá - Vấn đề và giải pháp

2.1 Xu hướng biến động của giai cấp công nhân thành phố Hà Nội thời

kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 34

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, giai cấp công nhân Hà Nội luôn có sự biến động mạnh mẽ Sự biến động đó thể hiện ở các mặt số lượng, chất lượng và đặc biệt giai cấp công nhân Hà Nội ngày càng có kết cấu xã hội phức tạp

Trong những năm 1954 - 1975, Hà Nội cũng như nền kinh tế ở miền Bắc nói chung từng bước trở nên thuần nhất với hai hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể; kinh tế cá thể ngày càng bị thu hẹp, kinh tế TBTN và kinh tế TBNN từng bước bị xoá bỏ Đến đầu năm 1975, ở miền Bắc, kinh tế XHCN (kinh

tế quốc doanh và kinh tế tập thể) chiếm 88,9% tổng sản phẩm xã hội Tương ứng với nền kinh tế này, cơ cấu giai cấp - xã hội cũng trở nên đơn giản và thuần nhất Công nhân, lao động thời kỳ này chủ yếu làm việc trong thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, chưa có sự khác nhau về trình độ, thu nhập nên chưa có sự biến động lớn

Từ năm 1976 đến năm 1986, thực hiện đường lối phát triển kinh tế do Đại hội IV và Đại hội V của Đảng đề ra, nền công nghiệp nước ta từng bước được chú trọng phát triển Cùng với quá trình đó, giai cấp công nhân đã có những biến động

về số lượng, chất lượng, nhưng do nền kinh tế nước ta vẫn là nền kinh tế tập trung, bao cấp với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể nên sự biến động đó chưa thực sự rõ nét

Từ năm 1986 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng

và lãnh đạo, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở rộng hợp tác liên doanh với nước ngoài, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã làm cho đời sống kinh tế xã hội có bước chuyển biến lớn Quá trình đó đã tác động mạnh mẽ đến cơ cấu xã hội giai cấp tạo ra sự biến động sâu sắc Một trong những giai cấp có biến động mạnh mẽ nhất là giai cấp công nhân Số lượng giai cấp công nhân Hà Nội tăng lên nhanh chóng Công nhân có mặt ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực kinh tế chủ chốt của toàn xã hội

Họ không chỉ làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ công nghiệp thuộc doanh nghiệp nhà nước, HTX (doanh nghiệp tập thể) mà còn bao gồm cả những công nhân làm việc trong doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh, TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Ngoài ra, đội ngũ công nhân cũng còn bao gồm những công nhân, lao động làm thuê, làm công hưởng lương trong các cơ sở

Trang 35

sản xuất, kinh doanh cá thể (cá nhân và hộ gia đình sản xuất, kinh doanh cá thể) Bên cạnh đó, chất lượng công nhân có những thay đổi rõ rệt Trình độ chuyên môn, tay nghề, ý thức chính trị, ý thức giai cấp được nâng cao, ngày càng khẳng định được địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp có sứ mệnh lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng đất nước

Sự biến động của giai cấp công nhân còn thể hiện ở xu hướng phân hoá trong đội ngũ công nhân ngày càng rõ rệt, tạo ra sự đa dạng hoá trong đội ngũ công nhân; hình thành những kết cấu xã hội giai cấp mới, có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của giai cấp công nhân

2.1.1 Sự biến động về số lượng của giai cấp công nhân Hà Nội

Trong những năm qua, dưới sự tác động của nhiều yếu tố, giai cấp công nhân

Hà Nội đã có sự biến động mạnh về số lượng

- Sự biến động của công nhân trong các doanh nghiệp phân theo ngành kinh tế

Sau khi Luật Doanh nghiệp ra đời, số doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên nhanh chóng đã thu hút một lượng lớn công nhân, lao động tham gia vào sản xuất

Theo số liệu thống kê, số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh của

Hà Nội trong 3 năm từ năm 2001 đến năm 2003 đã tăng lên nhanh chóng

Bảng 2.1: Số doanh nghiệp của Hà Nội qua các năm 2001, 2002, 2003

Số doanh nghiệp Tốc độ phát triển (%) 31/12/2001 31/12/2002 31/12/2003 2002/2001 2003/2002

6407 9460 11.813 147,65 124,87

Nguồn:[26, tr.211]

Tính đến 31/12/2004, Hà Nội có 29.408 doanh nghiệp, trong đó:

- Doanh nghiệp nhà nước: 387 doanh nghiệp (có 123 DNNN thuộc thành phố quản lý)

- Công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty nhà nước: 320 doanh nghiệp

- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 601 doanh nghiệp

Trang 36

- Các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp (công ty TNHH, công

ty tư nhân….): 28.100 doanh nghiệp[21, tr.5]

Chỉ tính riêng trong khối doanh nghiệp thì cùng với sự tăng lên về số lượng doanh nghiệp đã làm cho số lượng công nhân tăng lên nhanh chóng

Bảng 2.2: Số công nhân, lao động trong các doanh nghiệp ở Hà Nội

Với những số liệu ghi trên đã phản ánh sự biến động về số lượng của giai cấp công nhân Sự thay đổi của hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước đã khuyến khích các nhà doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường đầu tư, đã làm cho số lượng doanh nghiệp tăng lên với tốc độ cao, kéo theo

là tăng một khối lượng công nhân đông đảo Cũng từ đó lực lượng công nhân được thu hút vào làm việc ở các doanh nghiệp có những biến đổi khác nhau Đối với những doanh nghiệp làm ăn có lãi và có chế độ ưu đãi tốt cho công nhân thì thu hút được nhiều công nhân và ngược lại những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, công nhân dần chuyển sang các công ty khác, do đó, không chỉ là sự tăng lên về số lượng mà công nhân có sự dịch chuyển về số lượng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh

Trang 37

Tổng số 416.181 441.996 447.568 480.340 504.800 Nguồn: [3, tr.26, 27]

So sánh số công nhân, lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước của thành phố Hà Nội với một số thành phố khác cho thấy số công nhân, lao động trong khu vực nhà nước của Hà Nội vẫn chiếm tỷ lệ cao(12,17%)

Bảng 2.4: Lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước ở Hà Nội

Sở dĩ có số công nhân làm việc trong khu vực nhà nước ở Hà Nội vẫn chiếm

tỷ lệ cao (12,17%) là vì có một số công ty của Nhà nước đóng trên địa bàn Hà Nội vẫn còn là những công ty làm ăn phát đạt, một phần vì mặt hàng mà công ty sản xuất là những mặt hàng trọng yếu đối với nền kinh tế quốc dân nên vẫn thu hút công nhân đến làm việc Nếu so sánh số công nhân, lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước với công nhân lao động trong các loại hình doanh nghiệp khác ta thấy

số lượng công nhân ở các doanh nghiệp nhà nước nhiều hơn số công nhân làm ở khu vực ngoài nhà nước:

1 Doanh nghiệp nhà nước: 504.800 người

2 Doanh nghiệp ngoài nhà nước (HTX, Công ty TNHH, Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân): 308.186 người

3 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 39.663 người

So sánh về số lượng và tốc độ tăng của công nhân, lao động trong các loại hình doanh nghiệp trong vòng 5 năm trở lại đây từ năm 2000 - 2004( bảng 2.5):

Bảng 2.5: Số công nhân, lao động và tốc độ phát triển lao động trong các khu

vực doanh nghiệp tại Hà Nội qua các năm

Trang 38

vốn ĐTNN 46474 51790 54954 69599 74379 111,4 106,1 126,6 106,8 Khu vực

ở công ty cơ khí Hà Nội (tiền thân là Nhà máy cơ khí Hà Nội), năm 1974 có 2.570 công nhân; giai đoạn 1989 - 1993; sản xuất đình trệ, nhiều thiết bị, công cụ sản xuất ra phải bán thấp hơn giá thành sản xuất, đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn, số công nhân rời khỏi nhà máy (dưới nhiều hình thức) lên tới trên 1.500

người, dẫn đến số công nhân của nhà máy chỉ còn 600 - 700 người [20, tr.10]

Công ty dệt 8-3 Hà Nội (tiền thân là Nhà máy dệt 8-3) cũng gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi cơ chế: năm 1985, nhà máy có 7.380 công nhân (nữ chiếm 78%); đầu năm 1991, đã giảm 1730 người; từ năm 1992 đến tháng 7/1994, tiếp tục giảm 1.235 người; đến năm 1995, công ty chỉ còn 3.717 người, trong đó tuyển mới 274 người [20, tr.10]

Có nhiều nguyên nhân làm cho số lượng công nhân, lao động trong các DNNN giảm đi trong đó có nguyên nhân cơ bản là do một thời kỳ dài các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ nên phải giải thể, tiến hành sắp xếp lại nên công nhân ra khỏi nhà máy, xí nghiệp nhà nước chuyển sang làm ở khu vực ngoài nhà

Trang 39

nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Vì lý do đó mà số lượng công nhân liên tục có sự biến đổi

- Sự chuyển dịch của công nhân, lao động theo cơ cấu ngành nghề:

Nếu tính từ năm 1995 đến năm 2004, cơ cấu lao động ở Hà Nội đã có sự chuyển dịch lớn

+ Sự chuyển dịch có hướng tăng lên của công nhân, lao động trong nhóm ngành công nghiệp - xây dựng: từ 21,92% năm 1995, lên 24,46% năm 2000 và 29,32% năm 2004

+ Sự chuyển dịch của công nhân, lao động trong toàn ngành thương mại - dịch vụ tăng lên: từ 37,99% năm 1995 lên 45,36% năm 2000 và 50,62% năm 2004

+ Xu hướng giảm xuống của công nhân, lao động trong nông nghiệp: từ 40,09% năm 1995 xuống còn 30,18% năm 2000 và 20,06% năm 2004 [21, tr.1]

Còn lại, công nhân, lao động đang có xu hướng giảm ở xuống ở ngành khai thác mỏ và một số ngành sản xuất trực tiếp

Một số ngành công nghiệp then chốt trước đây như: Công nghiệp khai thác,

cơ khí, luyện kim, chế tạo máy…thu hút nhiều công nhân, nhưng hiện nay đang gặp khó khăn về công nghệ, thị trường tiêu thụ, vốn sản xuất Do vậy, đội ngũ công nhân các ngành này không tăng và có xu hướng giảm xuống trong 10 - 15 năm tới Trong khi đó, một số ngành như công nghiệp chế biến, xây dựng, dịch vụ, thương nghiệp, số lượng công nhân liên tục tăng Chỉ tính riêng lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước ở các ngành này đã là: Công nghiệp chế biến: 111488 trong tổng số 504800 công nhân; xây dựng 144254 trong tổng số 504800 công nhân; Thương nghiệp 48655 trong tổng số 504800 công nhân Sở dĩ số lượng công nhân ở những ngành này tăng lên là công nghiệp chế biến (sản xuất thực phẩm, đồ uống; sản xuất trang phục; đồ da, giầy, dép, chế biến gỗ…) chủ yếu phục vụ xuất khẩu, các doanh nghiệp thuộc ngành này làm ăn có hiệu quả, thu nhập của công nhân cao

Đối với ngành xây dựng, do tốc độ đô thị hoá nhanh nên yêu cầu xây dựng lớn, nhiều doanh nghiệp tập trung vào lĩnh vực này, nhất là lĩnh vực xây dựng cơ bản (nhà ở, giao thông, thoát nước, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao…) Ngoài

Trang 40

ra, một số ngành, lĩnh vực ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân như: tin học, điện tử, bưu chính viễn thông…cũng phát triển mạnh Do vậy, số công nhân trong các ngành này có tốc độ tăng tương đối nhanh

- Sự chuyển dịch về địa bàn, nghề nghiệp của công nhân

Hiện tượng thay đổi việc làm, nghề nghiệp của công nhân Hà Nội trong 5 năm qua có chiều hướng tăng, mặc dù khu vực doanh nghiệp nhà nước việc làm của công nhân Hà Nội ổn định hơn Theo kết quả điều tra về tình hình việc làm và tiền lương của công nhân cho thấy tỷ lệ công nhân có việc làm ổn định còn thấp Điều này cũng phản ánh xu hướng biến động về sự thay đổi nghề nghiệp, địa bàn làm việc của đội ngũ công nhân

Bảng 2.6: Tình hình việc làm và tiền lương của công nhân

trong các doanh nghiệp ở Hà Nội

Theo thời vụ Trả lời

Nghỉ việc thường xuyên Trả lời

TCTĐT và phát triển nhà Hà Nội 45 50 5 0

TCT xây dựng công trình GT 8 44 50 5 1

Công ty VPP Hồng Hà 30 56,7 13,3 0

Công ty Thiết bị đo điện 85 15 0 0

Cty Bóng đèn phích nước Rạng Đông 82 18 0 0

Công ty may 10 58 38 4 0

Công ty cơ khí Hà Nội 18 68 10 2

Công ty Dệt may Hà Nội 46 52 4 0

Ngày đăng: 27/06/2014, 19:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Hiện trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hà Nội - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 1.1 Hiện trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hà Nội (Trang 17)
Bảng 1.2: Công nhân viên và công đoàn viên Hà Nội từ 1954 đến 1960 - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 1.2 Công nhân viên và công đoàn viên Hà Nội từ 1954 đến 1960 (Trang 22)
Bảng 2.2: Số công nhân, lao động trong các doanh nghiệp ở Hà Nội - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.2 Số công nhân, lao động trong các doanh nghiệp ở Hà Nội (Trang 36)
Bảng 2.4: Lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước ở Hà Nội - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.4 Lao động đang làm việc trong khu vực nhà nước ở Hà Nội (Trang 37)
Bảng 2.6: Tình hình việc làm và tiền lương của công nhân - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.6 Tình hình việc làm và tiền lương của công nhân (Trang 40)
Bảng 2.7: Trình độ học vấn của công nhân ở một số thành phố ở nước ta - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.7 Trình độ học vấn của công nhân ở một số thành phố ở nước ta (Trang 48)
Bảng 2.8: Trình độ học vấn của công nhân, lao động Hà Nội - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.8 Trình độ học vấn của công nhân, lao động Hà Nội (Trang 49)
Bảng 2.9: Trình độ chuyên môn của công nhân, lao động Hà Nội - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.9 Trình độ chuyên môn của công nhân, lao động Hà Nội (Trang 50)
Bảng 2.12: Trình độ đội ngũ công nhân công ty cao su sao vàng năm 2001 - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.12 Trình độ đội ngũ công nhân công ty cao su sao vàng năm 2001 (Trang 51)
Hình thức học/ - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Hình th ức học/ (Trang 53)
Bảng 2.15: Đánh giá của công nhân về hoạt động của công đoàn - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.15 Đánh giá của công nhân về hoạt động của công đoàn (Trang 57)
Bảng 2.16: Đánh giá về quyền làm chủ của công nhân ở doanh nghiệp - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.16 Đánh giá về quyền làm chủ của công nhân ở doanh nghiệp (Trang 58)
Bảng 2.17: Các nguồn thông tin mà công nhân biết về Nghị quyết 18-NQ/TU - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.17 Các nguồn thông tin mà công nhân biết về Nghị quyết 18-NQ/TU (Trang 59)
Bảng 2.18: Những vấn đề công nhân cần biết - LUẬN VĂN: Sự biến động giai cấp tại thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá pdf
Bảng 2.18 Những vấn đề công nhân cần biết (Trang 60)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w