Bởi vậy, tiếp cận hệ sinh thái có thể được sử dụng để tìm kiếm một sự cân bằng thích hợp giữa việc bảo vệ và sử dụng sự đa dạng sinh học ở những vùng có nhiều người sử dụng tài nguyên và
Trang 1Ấn phẩm về quản lý hệ sinh thái Số 3
Tiếp cận hệ sinh thái Năm bước thực hiện
Gill Shepherd
Trang 3Tiếp cận hệ sinh thái
Năm bước để thực hiện
Trang 4Việc quy định về các thực thể trong tài liệu
này và việc trình bày các tài liệu không phản
ánh bất cứ quan điểm nào của IUCN liên
quan đến tư cách pháp lý của bất kỳ quốc
gia, lãnh thổ hay khu vực nào, cũng như về
các cơ quan có thẩm quyền của họ và việc
phân định ranh giới quốc gia hay lãnh thổ
Quan điểm được thể hiện trong ấn phẩm
này không nhất thiết phản ánh quan điểm
của IUCN.
Ấn phẩm này được xuất bản với kinh phí hỗ trợ
từ Chính phủ Hà Lan.
Cơ quan xuất bản:
IUCN, Gland, Switzerland và Cambridge,
rõ nguồn gốc
Các tổ chức hoặc cá nhân không được phép tái bản ấn phẩm này để kinh doanh hay vì mục đích thương mại mà không được sự đồng
ý trước bằng văn bản của nơi giữ bản quyền
Trích dẫn:
Shepherd, Gill (2004) Tiếp cận Hệ sinh thái:
Năm bước để thực hiện IUCN, Gland,
Switzer-land and Cambridge, UK vi + 30 trang.
ISBN: 978-2-8317-1188-1 Ảnh:
Trang bìa: Road into Bermi village, Babati, Tanzania, Gill Shepherd, ph; Back (l-r): Wild
pig hunter, Indonesian Papua, Gill Shepherd, ph; Dry acacia woodland, western Sudan, Jim Harvey, ph; Mangrove forest, Panama,
Marieke Wit, ph.
Thiết kế Mỹ thuật:
Patricia Halladay Graphic Design
In tại: Luck House Graphics Nơi lưu giữ ấn phẩm:
IUCN Publications Services Unit 21 9c Huntingdon Road, Cambridge CB3 ODL, United Kingdom
Tel: +44 1223 277894, Fax: +44 1223 277175; E-mail: info@books.iucn.org; http://www iucn.org
Một cuốn catalogue những ấn phẩm của cũng sẵn có để sử dụng?
Sách này được in trên giấy không có Clo phân
tử, couché matte 115 gsm.
Trang 5Tiếp cận hệ sinh thái
Năm bước để thực hiện
Gill Shepherd
Lãnh đạo chuyên đề về tiếp cận hệ sinh thái
Ủy ban về quản lý hệ sinh thái
IUCN - Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
Trang 6Tiếp cận hệ sinh thái đặt con người và việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên của họ hướng trực tiếp đến trọng tâm của việc
ra quyết định Bởi vậy, tiếp cận hệ sinh thái có thể được sử dụng để tìm kiếm một sự cân bằng thích hợp giữa việc bảo vệ và
sử dụng sự đa dạng sinh học ở những vùng có nhiều người sử dụng tài nguyên và các giá trị quan trọng của thiên nhiên Chính vì vậy nó thích hợp đối với các nhà chuyên môn và những người sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, các vùng bảo tồn, quy hoạch đô thị và nhiều lĩnh vực khác
Tài liệu này được xuất bản bởi Gill Shepherd, lãnh đạo chuyên đề về tiếp cận hệ sinh thái của ủy Ban IUCN về quản
lý hệ sinh thái, đưa chúng ta đi từ lý thuyết của tiếp cận đến các bước thực tiễn để cải thiện nó Tài liệu làm rõ Tiếp cận thông qua việc cung cấp những hướng dẫn về cách sử dụng tiếp cận như thế nào trong lập kế hoạch các hoạt động thực
tế Cả Hội nghị thứ 9 về Hội đồng hỗ trợ cho tư vấn khoa học, công nghệ và kỹ thuật (SBSTTA) của Ủy ban bảo tồn và đa dạng sinh học (CBD) và Hội nghị lần thứ 7 của các bên liên quan đối với CBD đã hoan nghênh sự ra đời của cuốn tài liệu hướng dẫn này về ứng dụng của tiếp cận hệ sinh thái
Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến bà Gill Shepherd về sự hiểu biết sâu sắc và những đóng góp to lớn của bà trong các công việc của IUCN, CEM về tiếp cận hệ sinh thái Tôi cũng xin cảm ơn các thành viên khác của Ban điều hành CEM đã cung cấp nhiều thông tin, nội dung, và gửi lời cảm ơn tới ông Joachim Gratzfeld của Chương trình quản lý hệ sinh thái IUCN về những
kỹ năng hiệu đính tỷ mỉ của ông
Tài liệu được xuất bản với sự tài trợ của Tổng giám đốc của tổ chức Hợp tác quốc tế (DGIS), Bộ Ngoại giao Hà Lan Chúng tôi cũng cảm ơn DGIS đã tài trợ kinh phí cho hầu hết các nghiên cứu được sử dụng để minh họa 5 bước cho việc thực hiện Tiếp cận hệ sinh thái trong cuốn tài liệu này
Dr Hillary Masundire
Chủ tịch, Ủy ban IUCN về Quản lý hệ sinh thái
Chúng tôi hoan nghênh ý kiến của bạn về tính hữu ích của tài liệu hướng dẫn này; liên hệ với chúng tôi: cem@iucn.org
Trang 7Nghiên cứu điển hình, thu hẹp (Biên giới Niger-Nigeria) 25
B ư ớ c E Q u ả n l ý k h ả n ă n g t h í c h ứ n g về t h ờ i gi a n 26
Nghiên cứu điển hình, chương trình lâm nghiệp đa bên (Tỉnh Papua, Indonesia) 27
Trang 89 Những người chăn nuôi gia súc di cư về phía nam,
tây Sudan, Jim Harvey
10 Phụ nữ Fulbe đang cho gia súc ăn, biên giới
Niger-Nigeria, Mike Mortimore
11 Chăn thả gia súc trên đất cây keo, tây Sudan
14 Phụ nữ đi ngang qua đồng, cao nguyên Indonesian
Papua Gill Shepherd
15 Tập huấn PR cho nam giới, cao nguyên Indonesian
Papua Gill Shepherd
16 Bán gỗ làm củi đun, Bermi village, Babati, Tanzania
Trang 9T i ế p c ậ n h ệ s i n h t h á i : N ă m b ư ớ c t h ự c h i ệ n 1
Giới thiệu
Tiếp cận hệ sinh thái là một chiến lược để quản lý tổng hợp đất, nước và các tài nguyên sống nhằm tăng cường bảo vệ và
sử dụng bền vững theo hướng công bằng Nó là khung cơ bản cho hành động của Hiệp định về Đa dạng sinh học (CBD)
và bao gồm 12 nguyên lý (trang 2) Khi xem xét làm thế nào để có thể thực hiện tốt
nhất tiếp cận hệ sinh thái, đã có một vài nỗ lực để xếp hạng các nguyên lý theo mức
độ quan trọng hoặc theo chủ đề
Trong khi những nỗ lực này khá thú vị về mặt khái niệm, vẫn có những khoảng trống
đó là sự trợ giúp về mặt thực tiễn trong việc áp dụng lĩnh vực tiếp cận hệ sinh thái
Ủy ban IUCN về Quản lý hệ sinh thái (CEM) đã xây dựng tài liệu này nhằm lấp đầy
khoảng trống này
Chúng tôi đã tập hợp nhiều Các nguyên lý Tiếp cận Hệ sinh thái thành một tiếp cận
chung để thúc đẩy những thảo luận, lập kế hoạch và hành động từng bước
Đương nhiên, ta không thể giải quyết từng khía cạnh của một hệ sinh thái một cách
đơn lẻ cho dài hạn và những khía cạnh này có thể được xem xét giải quyết sớm
trong những nội dung mô tả dưới đây và sẽ được kiểm tra thường xuyên Tuy nhiên,
tiếp cận này nâng cao khả năng chủ động bởi vì nó khuyến khích cả nhà nghiên cứu và các cán bộ thực địa tập trung vào một nhóm vấn đề tại một thời điểm
Trong cách tiếp cận này, hệ sinh thái, các cư dân của nó, những thách thức, cơ hội hiện hữu có thể dần thấy và quản lý được thành trọng tâm
T i ế p c ậ n h ệ s i n h t h á i : N ă m b ư ớ c t h ự c h i ệ n 1
Trang 1012 Nguyên lý của Tiếp cận hệ sinh thái
1 Những mục tiêu của quản lý đất, nước và môi trường sống là một vấn đề của sự lựa chọn xã hội
2 Quản lý nên được phân cấp đến cấp quản lý phù hợp nhất và thấp nhất
3 Các nhà quản lý hệ sinh thái nên xem xét những ảnh hưởng (thực tế hoặc tiềm năng) của các hoạt động họ thực hiện tới những hệ sinh thái lân cận và các hệ sinh thái khác
4 Nhận thức rõ những lợi ích có thể đạt được từ quản lý, đó là sự cần thiết thường xuyên để hiểu được và quản lý hệ sinh thái trong một bối cảnh kinh tế Mỗi một chương trình quản lý hệ sinh thái như thế này nên bao gồm:
(i) Giảm những khiếm khuyết của thị trường làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự đa dạng sinh học;
(ii) Khuyến khích để thúc đẩy việc sử dụng bền vững và bảo tồn sự đa dạng sinh học và
(iii) Nội tại hóa chi phí và lợi ích của một hệ sinh thái ở một cấp độ khả thi nhất
5 Việc bảo tồn cấu trúc và chức năng hệ sinh thái, để duy trì dịch vụ hệ sinh thái nên được xem như là một mục tiêu ưu tiên của tiếp cận hệ sinh thái
6 Hệ sinh thái nên được quản lý trong phạm vi chức năng của nó
7 Tiếp cận hệ sinh thái nên được thực hiện ở một phạm vi không gian và thời gian phù hợp
8 Nhận ra được sự khác nhau phạm vi không gian và những tác động trễ do đặc thù của một hệ sinh thái, mục tiêu của quản lý
hệ sinh thái nên được thiết lập cho dài hạn
9 Quản lý phải nhận ra sự thay đổi là không thể tránh khỏi
10 Tiếp cận hệ sinh thái nên tìm kiếm sự cân bằng thích hợp và sự hòa nhập của việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học
11 Tiếp cận hệ sinh thái nên xem xét tất cả các dạng của thông tin có liên quan, bao gồm những kiến thức khoa học và bản địa
và địa phương, sự đổi mới và thực tiễn
12 Tiếp cận sinh thái nên thu hút sự tham gia của tất cả các bên có liên quan của một xã hội và những kiến thức khoa học
Trang 11Năm bước thực hiện tiếp cận
hệ sinh thái như sau:
Bước A Xác định các nhóm có liên quan chính, xác định khu vực hệ sinh thái và
phát triển mối quan hệ giữa các bên và hệ sinh thái
Bước B Phác họa cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái và thiết lập cơ chế để
quản lý và giám sát nó
Bước C Xác định tầm quan trọng của các vấn đề kinh tế sẽ có ảnh hưởng đến hệ
sinh thái và các cư dân hệ sinh thái
Bước D Xác định những tác động có thể xảy ra của hệ sinh thái này tới các hệ sinh
thái lân cận
Bước E Xây dựng các mục tiêu dài hạn, và các giải pháp linh hoạt để đạt được
những mục tiêu này
Trang 12A Bước A bao gồm những vấn đề khó khăn nhất:
Việc xác định đồng thời khu vực hệ sinh thái
và các nhóm liên quan là những người sẽ
hỗ trợ sự lựa chọn và quản lý khu vực đó là rất quan trọng Dù bắt đầu với việc xác định khu vực hay xác định các nhóm có liên quan thì cũng sẽ tốn thời gian và công sức để đạt được một công việc khả thi
Chúng ta bắt đầu với các vấn đề về các bên
có liên quan Với nhiều nỗ lực trước đây về quản lý sự đa dạng sinh học đã cố gắng gắn các bên liên quan vào một khu vực đã được lựa chọn mà không xem xét đến những hàm
ý rộng hơn về tiếp cận sinh thái, nhấn mạnh vào sự lựa chọn của xã hội
7 Tiếp cận hệ sinh thái nên được thực hiện ở một phạm vi không gian và thời gian phù hợp
11 Tiếp cận hệ sinh thái nên xem xét tất cả các dạng của thông tin có liên quan, bao gồm thông tin khoa học, thông tin bản xứ và kiến thức, sự đổi mới
và thực tiễn của địa phương
12 Tiếp cận sinh thái nên thu hút sự tham gia của tất cả thành phần
có liên quan của một xã hội và những kiến thức khoa học
Trang 13B ư ớ c A : N g h i ê n c ứ u đ i ể n h ì n h , x á c đ ị n h c á c b ê n l i ê n q u a n 5
A
Bước A: Nghiên cứu điển hình, xác định các bên liên quan
Bocas del Toro Archipelago, Panama
Nguồn tài nguyên chính được quản lý ở khu vực này là hệ sinh thái biển Các bên có liên quan – ngư dân, phụ nữ và các cư
dân địa phương - đã thương lượng về quyền quản lý các dãy san hô và khu vực đánh bắt thông qua việc thiết lập các
ban thủy sản địa phương (COLOCOPES) Với sự trợ giúp của 2 tổ chức phi chính phủ (NGOs) là thành viên của IUCN:
Fundación Promar và Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên(TNC), các ban thủy sản đã xây dựng đề xuất về các quy định cho việc quản
lý đánh bắt thông qua Bocas del Toro Archipelago.
Các nhóm COLOCOPES đã xác định 7 khu bảo tồn nguồn lợi thủy sản cộng đồng ,
bao gồm cả vùng cấm đánh bắt (để cho sinh sản) và các nguồn thủy sản có chất
lượng cao (ở đó việc khai thác cần được quy định chặt chẽ hơn) Các nhóm COLOCOPES
cũng đã tạo ra được các hiệp hội đánh bắt vùng, khu vực đảo (ADEPESCO) để khuyến
khích vị trí đàm phán của họ đối với các tổ chức thể chế khác có quyền lực hơn.
Các ban ngành địa phương của chính phủ chịu trách nhiệm kiểm soát các nguồn lợi
thủy sản và các khu vực bảo tồn không ngừng tăng cường sự hỗ trợ cho ý tưởng bảo
tồn quản lý thủy sản cộng đồng Hiện nay, các cuộc họp giữa ADEPESCO và chính
quyền địa phương diễn ra thường xuyên để giám sát và đối phó với các vấn đề phát
sinh
Tiếp tục ở trang 7
Trang 14A Xác định các bên liên quan
Cả Nguyên lý 1 và Nguyên lý 12 nhấn mạnh đến sự tham gia của xã hội vào sự lựa chọn
hệ sinh thái và các mục tiêu quản lý, và ở một phạm vi của các kỹ năng cần thiết
Nguyên lý không đề ra tiêu chuẩn nào để lựa chọn một phần của xã hội, và kiến thức của
nó đối với các phần khác mặc dù điều này sẽ cần thiết trong thực tiễn Điều này đòi hỏi một sự phân tích các bên liên quan
Phân tích các bên liên quan
Xác định các bên liên quan chính với sự quan tâm vào hệ thống sinh thái đã đề xuất Trước tiên đánh giá bên liên quan chính sau đó bên liên quan thứ hai hoặc thứ ba và đánh giá đánh giá rõ quan điểm của họ
Bên liên quan chính
Là những người gần như phụ thuộc vào tài nguyên, mà họ thường đóng vai trò tích cực trong quản lý nguồn tài nguyên đó và họ phải được xem là nhóm liên quan chính.
Bên liên quan thứ hai và thứ ba
Là những bên mà tiếng nói của họ có trọng lực, có thể được đánh giá là bên liên quan thứ hai và thứ ba bao gồm cán bộ chính quyền địa phương và những người sống gần nguồn tài nguyên nhưng không quá phụ thuộc vào nó (thứ hai); và các cán bộ cấp quốc gia và các
tổ chức bảo tồn quốc tế (thứ ba).
Bước A (tiếp)
Trang 15B ư ớ c A : N g h i ê n c ứ u đ i ể n h ì n h , x á c đ ị n h c á c b ê n l i ê n q u a n 7
A
Bước A: Nghiên cứu điển hình, xác định các bên liên quan (tiếp theo)
Tổ chức quản lý khu bảo tồn hưởng ứng ADEPESCO như là một sự hỗ trợ quan trọng cho Công viên hải duơng quốc gia
Isla Bastimentos, trong khi đó các cơ quan quản lý tài nguyên biển rất quan tâm đến áp lực ngày càng lớn lên, nguồn lợi thủy
sản của địa phương và sẵn sàng xem xét những đề xuất xây dựng để giải quyết áp lực này Fundación Promar và TNC, cùng
với các cơ quan quản lý quốc gia chịu trách nhiệm quản lý tài nguyên biển đang thử nghiệm xem liệu một quy định luật
mới về biển có là sự mở cửa phù hợp cho việc bảo tồn nguồn lực thủy sản của
cộng đồng Cơ quan quản lý các khu vực bảo tồn quốc gia quan tâm đến tiếp cận
này nhưng một điều băn khoăn là việc phát triển du lịch nhanh chóng ở quần
đảo Bocas del Toro Archipelago có thể cần có sự bảo vệ nghiêm ngặt hơn các
điều khoản quy định của các khu bảo tồn nguồn lực thủy sản cộng đồng Về ý
tưởng, các kế hoạch của họ sẽ hỗ trợ và bảo vệ cả các bên liên quan địa phương
và nguồn lực thủy sản của họ Tất cả những nhà quản lý hệ sinh thái – hỗ trợ một
phần và cạnh tranh một một phần, hoạt động ở các cấp khác nhau – đang học
cách làm việc cùng nhau để giải quyết áp lực ngày càng ra tăng lên hệ sinh thái.
Trong trung hạn, các vấn đề quản lý khả năng thích ứng có thể khuyến khích một
bước để bao gồm những tác động của các khu vực vùng cao lân cận các nguồn lợi
biển bởi vì ngư dân ngày càng nhận thức được những tác động của các dòng phù
sa từ lục địa và các hòn đảo đến hệ sinh thái biển
Trang 16A Bước A (tiếp) Đánh giá năng lực quản lý và cam kết của các bên liên quan về lĩnh vực hệ sinh thái.
Thiết lập diễn đàn các bên có liên quan để họ gặp mặt thường xuyên Các bên liên quan chính có thể không có nhiều kinh nghiệm để phát biểu trong những sự kiện như thế này
và có thể cần sự giúp đỡ trong thảo luận các vấn đề và chuẩn bị các bài trình bày cho diễn đàn chính
Phân tích khu vực
Độ rộng của khu vực sinh thái sẽ được lựa chọn thế nào và sử dụng tiêu chuẩn nào để
lựa chọn? Một kích thước và phạm vi thích hợp (Nguyên lý 7) phải thoả mãn các tiêu chí
Nắm bắt được rằng các ý tưởng dài hạn có thể hạn chế bởi những cái thường được
•
xem là đơn vị quản lý hiệu quả trong ngắn hạn
Trang 17B ư ớ c A : N g h i ê n c ứ u đ i ể n h ì n h , x á c đ ị n h c á c b ê n l i ê n q u a n 9
A
Bước A: Nghiên cứu điển hình, xác định vùng hệ sinh thái
Drylands in Niger-Nigeria
Sahel nằm ở vùng biên phía Nam của vùng Sahara, có khả năng về chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp Sahel là một ví dụ
điển hình về cách xác định vùng hệ sinh thái trong cách nhìn của những người khai thác tài nguyên thường xuyên và
gắn bó nhất.
Do vùng đất khô hạn như thế này rất rộng và rất hỗn tạp, và có nhiều điều cần biết
về nó Các vùng đất khô hạn đòi hỏi các cư dân phải rất linh hoạt, tìm cách thích
nghi và sáng tạo do lượng mưa khác nhau theo mùa và theo chu kỳ dài Ở vùng biên
giới Niger-Nigeria, những người chăn nuôi gia súc phải di chuyển vật nuôi của họ vài
trăm km từ phía Bắc lên phía Nam hàng năm, theo mùa mưa và có cỏ cho gia súc
Các nông dân cư trú tại chỗ trồng hoa màu dọc theo đường dốc Nam – Bắc nơi có
lượng mưa tăng dần nhưng thưa thớt và không đều Những vùng đất khô hạn cũng
tồn tại ngay cùng với những khu vực có lượng mưa cao hơn ở xa, do sự dịch chuyển
những nông dân thiếu việc làm sang các vùng khô hạn hơn nhưng cũng tạo cơ hội
nhập cư lao động và thị trường cho các cư dân vùng đất khô hạn này.
Người dân - và việc khai thác cảnh quan và sự đa dạng sinh học là trung tâm của
quản lý hệ sinh thái Bảo tồn, sản xuất và tính bền vững đều phụ thuộc vào những quyết định của các nhà chức trách địa
phương, đa số những người nông dân sản xuất nhỏ hoặc những người chăn nuôi gia súc Những quyết định này tuân theo
những kỹ thuật mới
Tiếp tục ở trang 11
Trang 18A Bước A (tiếp) • Chấp nhận rằng những phần thiết yếu của các khu vực hệ sinh thái được lựa chọn ban đầu sẽ không phải là trách nhiệm của các cá nhân hay các nhóm cụ thể, sau
đó những đường biên giới có thể được suy xét lại
Xây dựng mối quan hệ logic giữa các bên liên quan và khu vực
Khi đã xác định rõ ràng những ai là các bên liên quan và ai có mối quan tâm nhất đến quản lý khu vực nào trong hệ sinh thái, sau đó ta có thể xác định cả danh giới hệ sinh thái và các cá nhân, các nhóm hoặc tổ chức có liên quan, họ là những người có thể bảo
vệ, quản lý và ra quyết định với những giới hạn này, cho một thời gian từ trung hạn đến dài hạn
Kết quả sẽ là một bức khảm của các khu vực, được quản lý bỏi các bên liên quan khác nhau, ở các cấp độ khác nhau trong phạm vi tổng thể hệ sinh thái
Trong khi các chuyên gia bảo tồn sẽ duy trì các tầm nhìn dài hạn, thực tiễn của việc điều phối và quản lý sẽ cần được xây dựng từ dưới lên, thông qua diễn đàn các bên liên quan, chứ không phải do chỉ định từ trên xuống
Trang 19B ư ớ c A : N g h i ê n c ứ u đ i ể n h ì n h , x á c đ ị n h c á c b ê n l i ê n q u a n 11
A
Bước A: Nghiên cứu điển hình, xác định vùng hệ sinh thái (tiếp)
Hoặc các hình thức quản lý, sự khuyến khích về kinh tế, sự thương lượng về cạnh tranh hoặc xung đột và thế mạnh của trách
nhiệm tập thể.
Hệ sinh thái không có mục tiêu, sự áp đặt về lãnh thổ ở trong vùng này, một vùng mà hệ thống kênh rạch bề mặt hầu như
không có và sự bồi đắp là một khái niệm chỉ có một ít giá trị Hơn nữa, các nhóm sử dụng tài nguyên (nhóm liên quan) xác
định hệ sinh thái cho riêng họ bởi vì chúng liên quan đến sinh kế và những mối quan
tâm về kinh tế của họ Điều này được các nông dân địa phương, những người khai
thác gỗ, những người chăn thả gia súc và những người làm thuốc hiểu rõ ở một cấp
độ và những người chăn nuôi gia súc từ vùng khác đến lại hiểu ở một cấp độ khác và
chính phủ, các tổ chức quốc tế hiểu ở một cấp độ khác nữa.
Chính vì vậy hệ sinh thái được xác định bởi các mối quan tâm kinh tế của những
người sử dụng tài nguyên vì đó là giá trị của sự đa dạng sinh học Hệ sinh thái khác
nhau về kích thước, khác nhau giữa các nhóm sử dụng tài nguyên này so với các
nhóm khác Điều này tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt cho những tài nguyên nhất định
ở khu vực này và trong những mùa vụ nhất định, nhưng là sự bổ trợ hữu ích ở những
thời điểm khác và ở một địa điểm khác Khung thể chế cho quản lý việc tiếp cận,
hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên là không thể tách rời từ ngay hệ sinh
thái đó Những hệ sinh thái này đã được thay đổi từ nhiều thiên niên kỷ do việc khai thác, và chúng có thể tiếp tục được thay
đổi không chỉ do việc khai thác và mùa mà còn xu hướng dài hạn hơn như sự xâm lấn của sản xuất nông nghiệp và sự thâm
canh sử dụng đất
Trang 20B Bước B liên quan đến việc phác họa cấu trúc và chức năng hệ sinh thái, thiết lập những cơ
chế quản lý và giám sát nó
Cấu trúc và chức năng
hệ sinh thái
Làm thế nào chúng ta có thể xác định được những đặc tính của cấu trúc và chức năng một hệ sinh thái, là những yếu tố cần thiết
ưu tiên của tiếp cận hệ sinh thái
6 Hệ sinh thái nên được quản lý trong phạm vi những giới hạn chức năng của nó
10 Tiếp cận hệ sinh thái nên tìm kiếm sự cân bằng phù hợp, và tổng hợp của việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học