Văn bản này nêu rõ hơn mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng: “Trong thời gian tới, trước nhu cầu ñào tạo tăng nhanh của xã hội, số lượng các trường ñại học sẽ tiếp tục tăng, nếu không
Trang 1NHÌN XA HƠN CÁC TRƯỜNG ðẠI HỌC ðỈNH CAO:
HƯỚNG TỚI MỘT CÁCH TIẾP CẬN HỆ THỐNG
ðỐI VỚI CẢI CÁCH GIÁO DỤC ðẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Tháng 6 năm 2010
** ðây là bản thảo ðề nghị không ñược phổ biến hay trích dẫn nếu chưa có sự ñồng ý chính thức của các tác giả Mọi ý kiến ñóng góp cho bản thảo xin vui lòng
gửi cho Ben Wilkinson (ben_wilkinson@harvard.edu)
và Laura Chirot (laurachirot@gmail.com).**
Trang 2
Lời nói ựầu
đây là báo cáo nghiên cứu thứ hai do Trường New School và Chương trình Việt Nam thuộc
Trung tâm Ash tại Trường Kennedy, đại học Harvard thực hiện, với sự tài trợ của Chương trình
Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam Bài thứ nhất, ỘNhững nhân tố vô hình tạo nên
sự ưu tú: Hệ thống quản trị và cuộc tìm kiếm con ựường xây dựng một trường ựại học nghiên cứu ựỉnh cao cho Việt NamỢ hoàn tất vào tháng 6 năm 2009 và ựược bổ sung hoàn thiện vào
tháng 1 năm 2010 Hai ựề tài ựược UNDP tài trợ này bắt nguồn ý tưởng từ một công trình nghiên cứu có tắnh mở ựường từ mười năm trước của Tổ Công Tác về Giáo dục đại học và Xã hội do Giáo sư Henry Rovosky và Giáo sư Mamphela Ramphele thuộc đại học Cape Town làm ựồng chủ tịch Tổ Công Tác này ựược Ngân hàng Thế giới và Ủy ban Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) thành lập với nhiệm vụ nghiên cứu những thách thức trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục ựại học ở các nước ựang phát triển Kết quả nghiên cứu chắnh của
nhóm này ựã ựược công bố năm 2000 trong một bản báo cáo có tên ỘNhững mối ựe dọa và triển
vọng: Giáo dục ựại học ở các nước ựang phát triểnỢ.1
Bài nghiên cứu này do các tác giả Laura Chirot của Trường New School và Ben Wilkinson của Chương trình Việt Nam thuộc Trường Kennedy, đại học Harvard thực hiện Phần viết về tài chắnh giáo dục ựại học và sự mở rộng quy mô ựào tạo do Tiến sĩ Trần Thị Quế Giang, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright thực hiện; phần phụ lục có sự ựóng góp của Giáo sư Philip Altbach, Trường Boston College, Tiến sĩ Malcolm McPherson, Trường Kennedy thuộc đại học Harvard và Giáo sư Võ Tòng Xuân, đại học An Giang Bản dịch tiếng Việt là của Phạm Thị Ly
và Bùi Mạnh Hùng Trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu này, các tác giả ựã nhận ựược rất nhiều ý kiến ựóng góp và phản hồi từ nhiều cá nhân trong và ngoài nước Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những cá nhân sau ựây: Bob Kerrey, Trường New School; Markus Urek, Trường New School; Giáo sư Henry Rosovsky, đại học Harvard; Tom Vallely, Giáo sư David Dapice,
và Tiến sĩ Jonathan Pincus, Chương trình Việt Nam thuộc đại học Harvard; Giáo sư Philip Altbach; Phó Giáo sư Phạm Duy Nghĩa, Trường đại học Kinh tế TP Hồ Chắ Minh và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright; Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright; Tiến sĩ Phạm Thị Ly, đại học Hoa Sen; Giáo sư Huỳnh đình Chiến, đại học Huế; Giáo sư Võ Tòng Xuân, và nhiều người khác ở Việt Nam ựã dành thời gian chia sẻ tri thức và quan ựiểm của họ với chúng tôi Chúng tôi biết ơn các ựồng nghiệp tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright ựã nhiệt tình dành thời gian cho quá trình dịch và hiệu ựắnh bài viết Các bạn Christopher Behrer, Hoàng Bảo Châu, Nguyễn Thị Diễm My, Nguyễn Thục Minh và Văn Thị Quý ựã hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu và viết báo cáo này Chúng tôi cảm ơn UNDP ở Việt Nam về những hỗ trợ tri thức vô giá trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bài viết
1
Từ ựây ựược gọi tắt là ỘNhững mối ựe dọa và triển vọngỢ Toàn văn bài này có thể tải về từ trang web của Tổ Công
Tác: http://www.tfhe.net
Trang 3TÓM TẮT
Nhìn chung, hệ thống giáo dục và ñào tạo của nước ta ñang tụt hậu xa hơn so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Thực trạng này ñã sớm ñược phát hiện ðảng và Nhà nước ñã có nhiều nghị quyết và chủ trương ñúng ñắn mà chưa ñược thực hiện nghiêm túc Mấy năm qua, chúng ta ñã trăn trở tìm tòi cách giải quyết, nhưng tình hình chuyển biến rất chậm Cho ñến nay, vẫn còn những quan ñiểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau chưa ñược ñưa ra trao ñổi, bàn bạc ñể tìm ra phương sách chấn chỉnh có hiệu quả Sự yếu kém, bất cập kéo dài của hệ thống giáo dục và ñào tạo ñã có ảnh hưởng không nhỏ ñến sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội
ðại tướng Võ Nguyên Giáp, VietnamNet, 2007
Ở Việt Nam thời gian qua rất nhiều người ñồng tình có chung nhận ñịnh rằng giáo dục ñại học
thật sự cần một cuộc cải cách sâu rộng Nhận ñịnh chung thống nhất này là của nhiều giới, từ sinh viên và phụ huynh, những nhà trí thức và các chuyên gia giáo dục trong xã hội, cho tới các nhà hoạch ñịnh chính sách cấp cao nhất của chính phủ Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào nguồn nhân lực có chất lượng cao mà hệ thống giáo dục ñại học hiện nay chưa thể cung ứng ñược Ngày càng nhiều gia ñình chọn giải pháp gửi con ra nước ngoài học ñại học, thậm chí trung học ñể có thể tiếp nhận ñược những năng lực và phẩm chất cần thiết ñể có thể thành công trong một nền kinh tế toàn cầu ñang thay ñổi hết sức nhanh chóng Tuy nhiên, du học nước ngoài là con ñường chỉ dành cho một số ít người xuất sắc và may mắn
có ñiều kiện ðể phát triển một cách công bằng cho mọi người, tạo ñiều kiện cho nhân tài và phát huy cao nhất tiềm năng kinh tế của mình, Việt Nam phải cải thiện hệ thống giáo dục ñại học trong nước
Các nhà lãnh ñạo Việt Nam nhận thức rất rõ mức ñộ nghiêm trọng của tình hình này Từ năm
2005 ñã có Nghị quyết 14 của Chính phủ (Số 14/2005/NQ-CP) về “ðổi mới cơ bản và toàn diện nền giáo dục ñại học” Tiếp theo ñó là một loạt những chính sách và kế hoạch kêu gọi cải cách gần như tất cả mọi khía cạnh của hệ thống giáo dục ñại học trong nước Tháng 4 năm 2009 Bộ Chính Trị nhận ñịnh “Công tác quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém và là nguyên nhân chủ yếu của nhiều yếu kém khác.”2 Tháng Giêng năm 2010 Ban Cán sự ðảng Bộ GD&ðT ra nghị quyết
về “ðổi mới quản lý giáo dục ñại học” cho giai ñoạn 2010 – 2012 Văn bản này nêu rõ hơn mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng: “Trong thời gian tới, trước nhu cầu ñào tạo tăng nhanh của
xã hội, số lượng các trường ñại học sẽ tiếp tục tăng, nếu không có các giải pháp ñổi mới quản lý toàn diện, quyết liệt, có tính ñột phá thì không thể nâng cao ñược chất lượng ñào tạo…”3 Tháng
Năm năm 2010 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hoàn thành báo cáo ñiều tra về : “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, ñầu tư và ñảm bảo chất lượng ñào tạo ñối với giáo dục
ñại học” trong ñó chỉ ra những lỗ hổng trong quy ñịnh khung về trách nhiệm giải trình.4 Bản báo cáo này cũng ñưa ra cơ sở có tính thực tế cho các nỗ lực của chính phủ nhằm hoàn thiện bộ khung pháp lý ñồng thời xác ñịnh rõ ràng hơn trách nhiệm của các cơ quan nhà nước khác nhau
và của các trường ñại học
Trang 4ðây là phần thứ hai trong một nghiên cứu gồm hai phần do UNDP tài trợ liên quan tới thực hiện
cải cách giáo dục ñại học ở Việt Nam Cả hai phần ñều nhằm mục ñích hỗ trợ cho quy trình soạn thảo chính sách mà nhà nước ñang tiến hành Phần ñầu thảo luận về một mục tiêu quan trọng trong kế hoạch cải cách của nhà nước: xây dựng một trường ñại học ñỉnh cao Nội dung của phần này là những lập luận cho thấy cách tiếp cận mục tiêu xây dựng một trường hàng ñầu của Việt Nam hiện nay ñang ñề cao một cách quá mức những yếu tố ñầu vào chẳng hạn như ngân sách và
hạ tầng cơ sở, và do vậy làm giảm nhẹ tầm quan trọng của những nhân tố vô hình khác có ý nghĩa không kém phần quyết ñịnh ñối với kết quả ñầu ra, ñó là một cơ chế quản trị có hiệu quả Một hệ thống nhân sự dựa trên tài năng và phẩm chất, một chính sách kiên ñịnh ñảm bảo tự do trong nghiên cứu khoa học và mức ñộ tự chủ cao ñối với các vấn ñề quản lý ñiều hành và học thuật là ñiều kiện tiên quyết ñể ñạt ñược sự ưu tú trong giảng dạy và nghiên cứu, như có thể thấy
rõ trong trường hợp các trường hàng ñầu của Trung Quốc và Ấn ðộ Những nguyên tắc về quản trị nói trên có thể áp dụng với mọi tổ chức học thuật nhưng ñối với các trường ñại học nghiên cứu thì nó ñặc biệt tối quan trọng Những trường ñại học này kết nối các quốc gia với các hệ thống tri thức chung toàn cầu, ñồng thời thu hút và ñào tạo những học giả, những nhà khoa học
ưu tú nhất của các nước
Bài nghiên cứu thứ hai này nhìn xa hơn việc xem xét vấn ñề các trường ñỉnh cao ñể ñề xuất một
bộ khung chính sách mang tầm hệ thống nhằm xây dựng và triển khai một hệ thống giáo dục ñại học hiện ñại, rộng khắp và có chất lượng tại Việt Nam ðộng lực của những phân tích trong bài này là những câu hỏi bức thiết và phức tạp mà các nhà hoạch ñịnh chính sách giáo dục ñại học hiện ñang phải ñối mặt: ðâu là cái giá phải trả về mặt chất lượng ñào tạo khi mở rộng số lượng sinh viên? Cơ chế thị trường có vai trò gì trong giáo dục ñại học? Các trường ñại học và cao
ñẳng có thể làm gì trong việc giúp trang bị kiến thức và kỹ năng cho sinh viên ñể họ có thể ñóng
góp cho sự phát triển của ñất nước Việt Nam? Làm thế nào ñể các tiêu chuẩn ñược tuân thủ trong một hệ thống có tới gần hai triệu sinh viên và 400 trường ñại học và cao ñẳng? Liệu chế ñộ phân cấp có giúp ích gì không? Cái gì sẽ dẫn dắt quá trình chuyển ñổi từ hệ thống giáo dục ñại học do nhà nước kiểm soát sang một hệ thống gồm các trường tự chủ do nhà nước giám sát, như quan
ñiểm của Nghị Quyết 14? ðây là những câu hỏi mấu chốt mà mọi cải cách ở tầm hệ thống phải
tìm cách trả lời
Việt Nam thường ñược cho là nước có lợi thế của người ñi sau trong các cuộc cải cách kinh tế xã hội của mình nhờ các bài học từ kinh nghiệm quốc tế Tất nhiên diều này cũng ñúng trong lĩnh vực giáo dục ñại học Tại nhiều nước, phải mất nhiều thập kỷ cùng những nỗ lực ñồng bộ người
ta mới thiết lập ñược một mạng lưới các trường ña dạng ñể có thể vừa trang bị kiến thức cho số
ñông và vừa ñào tạo những người xuất chúng Cải cách giáo dục ñại học là một quá trình lâu dài
và những cải cách của Việt Nam cần tiến hành dựa trên cơ sở những bài học ñược ñúc kết trong quá trình cải cách ở các nước khác Nhiều văn bản chính sách ñã xác ñịnh những yếu tố mà kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng rất quan trọng ñối với việc cải cách hệ thống, ñó là mức ñộ tự chủ cao, hệ thống ñánh giá kiểm ñịnh chất lượng chặt chẽ, cùng với sự tham gia của cộng ñồng và doanh nghiệp Bài nghiên cứu này có mục ñích giúp tăng cường những nhận thức ấy thông qua việc ñúc rút kinh nghiệm quốc tế trong những bối cảnh gần gũi với tình huống của Việt Nam
Bộ GD&ðT ñã thực hiện một số bước ñi cụ thể ñể bắt ñầu quá trình ñổi mới Bộ ñã nâng cao yêu cầu về tính minh bạch, ñặc biệt là qua chính sách Ba Công Khai, và cho phép các trường ñại học
Trang 5có nhiều quyền kiểm soát hơn ựối với các quyết ựịnh liên quan tới tài chắnh và vận hành Các hệ thống giáo dục và thể chế thường thay ựổi rất chậm, phải mất một thời gian nữa người ta mới có thể xem xét và ựánh giá tác ựộng của những bước ựi ban ựầu này Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy những nỗ lực ựổi mới nói chung nhiều khi chỉ nhấn mạnh vào những ựợt vận ựộng và hội thảo ngắn ngày dành cho giới quản lý của các trường ựại học chứ không phải là những thay ựổi một cách sâu sắc cơ cấu của các chắnh sách quản lý và nhân sự, ựiều rất cần thiết cho những thay ựổi thể chế về lâu về dài Trong khi ựó, có một sự thật ựáng báo ựộng là hệ thống giáo dục ựại học hiện ựang chệch theo một hướng khác, như những gì mà dư luận trong nước ựã phản ánh và ựược xác nhận qua báo cáo ựiều tra năm 2010 về giáo dục ựại học của Quốc hội Bài nghiên cứu này cho thấy thương mại hóa ựang là một xu thế rất mạnh trong phát triển giáo dục ựại học Có thể thấy rõ ựiều này qua hình ảnh các lớp học chen chúc học sinh, các chương trình tại chức chủ yếu
là ựể tạo nguồn thu và những trường tư hoạt ựộng vì mục tiêu kinh doanh Xu thế phân cấp cũng
có thể thấy rõ với trách nhiệm ựược chuyển giao về cho chắnh quyền các ựịa phương và các trường ựại học ngay cả khi chưa có các cơ chế giải trình trách nhiệm phù hợp có thể bảo ựảm cho các quyền lợi chung của xã hội
Việt Nam cần một chiến lược có thể thực hiện ựược dựa trên những giả ựịnh có cơ sở, cùng với một lộ trình thực hiện ựể hướng dẫn việc xây dựng những chắnh sách cụ thể trong những vấn ựề liên quan, từ ựánh giá chất lượng tới vai trò của các trường ựại học ngoài công lập Tuy nhiên, dù
Bộ Giáo dục và đào tạo soạn thảo ựi, soạn thảo lại nhiều lần văn bản chiến lược phát triển, những người thực hiện bài nghiên cứu này nhận thấy trong nhiều lĩnh vực chủ chốt, có một khoảng cách lớn giữa mục tiêu của Việt Nam với những hành ựộng chắnh sách cần thiết ựể ựạt
ựược các mục tiêu ựó Dưới ựây là một số kết luận chắnh của bài nghiên cứu này dành cho các
nhà hoạch ựịnh chắnh sách phát triển giáo dục ựại học ở Việt Nam
Thứ nhất, một hệ thống giáo dục ựại học ựại chúng thực hiện tốt chức năng của mình là một hệ thống có sự phân chia thứ bậc một cách rõ ràng giữa các trường ựại học và các trường cao ựẳng dạy nghề nhằm ựáp ứng nhu cầu ựa dạng của sinh viên và của thị trường lao ựộng Các trường
ựại học nghiên cứu nằm ở vị trắ trên cùng trong hệ thống phân tầng này, ựáp ứng ựòi hỏi về khoa
học và tri thức ựỉnh cao của toàn xã hội Dưới ựó là một hệ thống gồm các trường cao ựẳng và
ựại học hai, ba và bốn năm, ựược phân loại theo mục ựắch ựào tạo chứ không phải theo chất
lượng, nhằm tạo ựiều kiện tiếp cận giáo dục cho số ựông sinh viên Kinh nghiệm quốc tế cho thấy yếu tố then chốt của việc mở rộng tiếp cận giáo dục bậc cao cho số ựông là hướng các sinh viên mới vào các chuyên ngành, thuộc các trường cao ựẳng cộng ựồng và kỹ thuật Các dạng thức tổ chức khác nhau ựược kết nối thành một hệ thống liên thông và thống nhất, cho phép sinh viên có thành tắch học tập tốt có thể chuyển tiếp lên bậc cao hơn Việc phân tầng giúp làm giảm
sự lãng phắ và dư thừa khi các trường ựại học ựua nhau mọc lên, ựồng thời giúp giảm áp lực ựối với ngân sách nhà nước
Trong nhiều văn bản chắnh sách, Việt Nam ựã xác nhận mục tiêu xây dựng mạng lưới phân tầng của hệ thống của các trường ựại học và cao ựẳng khu vực Nghị quyết 14 ấn ựịnh tới năm 2020 trong tổng số sinh viên mới vào trường 70 Ờ 80% sẽ theo học các chương trình chuyên ngành Tuy nhiên, ựến nay vẫn chưa có ựược một chắnh sách hay một cơ cấu tài chắnh cụ thể nào ựể hiện thực hóa hay giúp tăng cường những thế mạnh ựặc thù của các loại hình tổ chức trường khác nhau Trái lại, ựộng lực chắnh ựối với các trường dạy nghề, cao ựẳng và ựại học lại vẫn là tìm cách tăng nguồn thu nhập Hậu quả là sự nâng cấp ựại trà từ trường dạy nghề lên cao ựẳng và từ
Trang 6trường cao ựẳng lên thành ựại học và hàng loạt kế hoạch xây dựng các trường ựại học mới ở tất
cả các tỉnh Có một thực tế là phần lớn các tỉnh không có ựủ năng lực hay nhu cầu cho trường ựại học riêng của mình nhưng tỉnh nào cũng ựược lợi nếu có một hệ thống năng ựộng gồm các trường cao ựẳng cộng ựồng và các trường dạy nghề, phù hợp tình hình và yêu cầu riêng của ựịa phương mình Ở Việt Nam ngày nay, số lượng sinh viên ựang gia tăng nhưng hầu hết số tăng lên này là sinh viên theo học các chương trình ựại học không chắnh quy, chỉ tập trung vào một số ngành kinh tế và kinh doanh và thường có chất lượng thấp hơn các chương trình ựào tạo chắnh quy
Chúng tôi nhận thấy rằng Trung Quốc và các nước khác trong khu vực đông Nam Á tập trung nguồn lực và sự chú ý vào một nhóm nhỏ các trường ựỉnh cao trong khi trút trách nhiệm ựối với phần còn lại của hệ thống cho chắnh quyền cấp ựịa phương và cho thị trường Việt Nam cũng thể hiện xu hướng tương tự một cách ựáng quan ngại Việt Nam có kế hoạch vay 500 triệu ựô la Mỹ
từ các nguồn cho vay ựa phương ựể xây dựng bốn trường ựại học Ợkiểu mớiỢ nhằm tới cái ựắch là một vị trắ trong bảng xếp hạng 200 trường tốt nhất thế giới nào ựó trong vòng 10 năm tới, nhưng chưa có một chương trình hành ựộng chắnh sách nào cho việc xây dựng một hệ thống các trường
ựại học, trường kỹ thuật hay trường dạy nghề cấp vùng với chất lượng tốt Có vẻ như chiến lược
này là phó mặc những trường loại này cho thị trường Cho dù các trường ựại học nghiên cứu là một thành phần hết sức quan trọng trong các hệ thống giáo dục ựại học, việc tập trung một cách phiến diện cho các trường ựỉnh cao sẽ làm cho ựại ựa số sinh viên trong các trường ựại học và cao ựẳng khác bị bỏ rơi, tụt lại trong các chương trình hạng hai, chất lượng thấp Dẫu không có
uy thế quốc tế của các trường ựỉnh cao, các trường ựại học và cao ựẳng khu vực vẫn là cơ hội cho các sinh viên khó khăn và các ựịa phương có hoàn cảnh khó khăn, vẫn là cơ sở ựào tạo phần lớn lực lượng lao ựộng của Việt Nam Tại những nước mà các trường ựại học bị coi là không nhạy bén với việc ựáp ứng nhu cầu của kinh tế (chẳng hạn như Ai-len, Phần Lan) hay tại những nơi sinh viên tốt nghiệp các trường ựỉnh cao thường ra nước ngoài làm việc (như Ấn độ chẳng hạn) thì ựội ngũ lao ựộng có tay nghề lại do chắnh những trường ựại học loại thường và các trường kỹ thuật ựào tạo Trong chiến lược cải cách của mình các nhà hoạch ựịnh chắnh sách Việt Nam không nên bỏ qua những trường ở bậc thấp hơn trong hệ thống giáo dục
Chủ ựề thứ hai của bài nghiên cứu này là việc chuyển ựổi từ một hệ thống giáo dục ựại học do nhà nước kiểm soát sang một hệ thống do nhà nước giám sát không có nghĩa là giảm nhẹ tầm quan trọng trong vai trò của nhà nước Nhà nước là nhân vật chủ yếu ựịnh hướng việc hình thành một hệ thống giáo dục ựại học hiện ựại và ựược thiết kế một cách ựúng ựắn Trong hệ thống này, nhà nước cần tập trung vào một số ắt chức năng như quy hoạch và giám sát nhưng hiệu quả phải
ựược nâng cao hơn Một nghiên cứu gần ựây về Trung Quốc của tố chức OECD cho thấy hệ
thống giáo dục ựại học Trung Quốc ựang Ộthiếu quy hoạch ở tầm chiến lượcỢ nhưngỢ lại Ộthừa kiểm soát ở tầm vận hànhỢ Nhận ựịnh này cũng chắnh xác với tình hình ở Việt Nam Những quyết ựịnh quan trọng về chuyên môn hay về việc quản lý ựiều hành như ai thuộc diện ựược ựi học, ai ựược dạy, cái gì ựược phép giảng dạy là do nhà nước quyết ựịnh Trong khi ựó việc thực thi các chức năng quản lý trong yếu của nhà nước, như quy hoạch phát triển mạng lưới phân tầng hợp lý các trường, hay thực hiện những tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu thì lại rất yếu kém
Bài nghiên cứu này cũng ựưa ra lập luận rằng việc phân cấp cho các cơ quan quản lý nhà nước cấp thấp hơn cũng không phải là một giải pháp tốt Ở Việt Nam 63 tỉnh thành là những ựơn vị nhỏ lẻ và chắnh quyền cấp tỉnh còn hạn chế về kiến thức năng lực chuyên môn Không thể hy
Trang 7vọng viển vông rằng các Sở Giáo dục và đào tạo các tỉnh, xưa nay chỉ có nhiệm vụ quản lý hệ thống giáo dục tiểu học và trung học hay coi thi, nay lại có thể gánh thêm trách nhiệm quản lý các trường ựại học Trường ựại học là những ựơn vị phức hợp, giảng dạy các chuyên môn riêng Phân cấp quản lý cho các tỉnh không giúp ắch gì ựược cho ựà sa sút tiêu chuẩn hiện nay Một quy hoạch hệ thống và giám sát lành mạnh hơn (cả ở tầm quốc gia và ở cấp vùng) phải gắn với nhiều trường ựược tự chủ hơn nữa Các tổ chức chuyên ngành có một vai trò quan trọng trong việc hình thành nên bộ khung này Việc thiếu vắng một bộ khung giám sát phù hợp ở Việt Nam
ựã dẫn ựến tình trạng các trường ựại học ựược tự chủ nhiều hơn nhưng ựộng lực cải thiện chất
lượng lại ắt hơn
Các nước (cụ thể là các nước Tây Âu) chuyển ựổi từ một hệ thống giáo dục ựại học Ộdo nhà nước kiểm soátỢ sang một hệ thống Ộdo nhà nước giám sátỢ bằng cách thiết lập khuôn khổ chắnh sách cho việc ựiều tiết và khuyến khắch nâng cao tắnh tự chủ và trách nhiệm giải trình của các trường ựại học Những chắnh sách này - bao gồm quy trình bảo ựảm chất lượng và kế hoạch kiểm ựịnh, một hội ựồng trường vững mạnh, cơ chế phân bổ tài chắnh dựa trên kết quả hoạt
ựộng Ờ sẽ hình thành một hệ thống giáo dục ựại học tự chủ, có tắnh cạnh tranh với các tiêu chuẩn
không ngừng ựược nâng lên
Thứ ba, như ý kiến nhận xét của một số ựại biểu Quốc hội và các nhà bình luận, Ộxã hội hóaỢ không phải là giải pháp toàn diện cho mọi vấn ựề trong giáo dục ựại học của Việt Nam.5 Ở Việt Nam vẫn còn nhiều lẫn lộn về vai trò của thị trường trong lĩnh vực giáo dục ựại học Bài nghiên cứu này phân biệt tắnh Ợthị trườngỢ của giáo dục với Ợthương mại hóaỢ giáo dục Một thị trường
ựược vận hành tốt trong lĩnh vực giáo dục ựại học sẽ có ý nghĩa tắch cực đặc trưng của nó là sự
cạnh tranh lành mạnh giữa các trường trong việc thu hút sinh viên và nguồn tài chắnh trong phạm
vi một khuôn khổ tiêu chuẩn Quản trị ựại học theo hướng hiện ựại hóa ựối với hệ thống giáo dục
ựại chúng ựòi hỏi phải công nhận vai trò của thị trường và cần có một cấu trúc quản lý phù hợp
ựể giúp thị trường này vận hành Trái lại, thương mại hóa giáo dục có nghĩa là mua và bán kiến
thức hay bằng cấp dưới tác ựộng của các tắnh toán lợi nhuận Ở Việt Nam bộ khung ựiều tiết quản lý theo cơ chế thị trường mới trong giai ựoạn phát triển sơ khai, trong khi ựó thương mại hóa ựang là xu thế áp ựảo trong cả hai khu vực giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập Trong nhiều trường hợp những gì nhà nước gọi là Ộxã hội hóaỖ thực chất ựồng nghĩa với thương mại hóa
Hoạt ựộng giáo dục vì lợi nhuận có thể có vai trò ựóng góp tắch cực nhưng có giới hạn trong một
hệ thống giáo dục ựại học ựượcphân tầng Các tổ chức vì lợi nhuận có thể cung ứng hoạt ựộng
ựào tạo có chất lượng về kỹ năng máy tắnh, ngoại ngữ, quản trị kinh doanh và những ngành nghề
khác Các khóa học trong các lĩnh vực này không ựòi hỏi ựầu tư nhiều cho cơ sở phòng ốc hay xây dựng ựội ngũ giảng viên chuyên ngành Thị trường tiềm năng cũng ựặc biệt rộng lớn trong khi chất lượng ựầu vào thì thấp Tuy nhiên, ắt trường hoạt ựộng vì lợi nhuận nào ở Việt Nam có
ựủ nguồn lực ựể cung cấp các khóa ựào tạo về lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật Những
trường loại này thường không quan tâm ựến các ngành khoa học xã hội và nhân văn vì thị trường
5 Tại hội nghị tháng 3-2010, đại biểu đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Ờ Giáo dục Ờ Thanh thiếu niên và
Nhi ựồng của Quốc hội, nói: ỘXã hội hóa giáo dục theo tôi là vấn ựề rất lớn nên cần phải nghiên cứu kỹ hơn và cần những chắnh sách cụ thể từ cấp cao nhất Vấn ựề Ộvì lợi nhuậnỢ và Ộkhông vì lợi nhuậnỢ chúng tôi cũng thống nhất
với tên gọi này ựể ựề xuất kiến nghị lên Quốc hội làm rõ.Ợ Ộđổi mới giáo dục ựại học Ờ Cần tầm nhìn cao hơn, thấu
ựáo hơnỢ, 31-03-2010, <http://www.sggp.org.vn/giaoduc/2010/3/222190/>
Trang 8quá nhỏ Hơn nữa, ñộng cơ lợi nhuận sẽ khiến những tổ chức này tiếp nhận sinh viên dựa trên khả năng tài chính của họ chứ không phải là thiên hướng phát triển tri thức hay năng lực xứng
ñáng Xem xét theo hướng này thì quyết ñịnh cổ phần hóa ñại học công hoặc dựa nhiều vào
những trường ñại học ngoài công lập hoạt ñộng vì lợi nhuận sẽ có những hậu quả nghiêm trọng
ñối với tham vọng của Việt Nam về việc xây dựng một hệ thống giáo dục ñại học có chất lượng,
nhằm ñáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và xã hội
Thứ tư, những mục tiêu ñịnh lượng không khả thi hoặc mâu thuẫn với nhau không thúc ñẩy ñược chương trình cải cách giáo dục của chính phủ Nhiều cái cũng ñáng là mục tiêu phấn ñấu nhưng lại không ñược hỗ trợ bằng những chính sách hay nguồn lực cần thiết ñể thực hiện Một số mục tiêu khác lại chứa ñựng mâu thuẫn khiến việc theo ñuổi mục tiêu này sẽ làm phương hại ñến mục tiêu khác Ví dụ, Việt Nam muốn tăng tỉ lệ tuyển sinh vào các ngành kỹ thuật và công nghệ từ 21% hiện nay lên 35%, tăng số sinh viên theo học trong các ngành khoa học từ mức 2% hiện nay lên 12% 6 Mục tiêu này rất tuyệt vời vì kinh nghiệm quốc tế cho thấy muốn tăng trưởng thành công và bền vững trong các khu vực có giá trị gia tăng cao như chế tạo và công nghệ thông tin thì cần có một ñội ngũ kỹ sư ñông ñảo Các nước OECD và các nước châu Á ñã ñạt ñược mức tuyển sinh cao vào các ngành kỹ thuật và công nghệ nhờ mở rộng mạnh mẽ các trường và viện
kỹ thuật cùng với việc cung cấp những khoản học bổng và tín dụng cho sinh viên trong lĩnh vực này
Tuy nhiên, Nghị Quyết 14 ñồng thời cũng ñặt mục tiêu ñến năm 2020, 40% sinh viên ñại học, cao ñẳng sẽ học trong các trường ngoài công lập Sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào các trường
tư vì lợi nhuận tất yếu sẽ dẫn ñến bộ phận các ngành khoa học và công nghệ sẽ giảm ñi so với các ngành kinh doanh hay những ngành có khả năng sinh lời khác Hiện nay, ñại học ngoài công lập hoạt ñộng trong một bộ khung pháp lý mù mờ và hoàn toàn tùy thuộc vào nguồn học phí, do vậy các trường này sẽ không có khả năng cung cấp tài chính cho các phòng thí nghiệm, trang thiết bị và những giảng viên có ñủ năng lực cần thiết ñể ñưa các môn học công nghệ và kỹ thuật vào giảng dạy ðiều này còn ñúng hơn nữa cho các ngành khoa học thuần túy Vì vậy, việc có thêm nhiều ñại học ngoài công lập khó lòng dẫn ñến nhiều thành tựu hơn trong khoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ có những ñặc tính của hàng hóa công và nếu không ñược nhà nước
ñầu tư thích ñáng, thị trường sẽ không cung cấp ñủ thứ hàng hóa này
Những nhà hoạch ñịnh chính sách cũng có xu thế tỏ ra lạc quan một cách phi thực tế về số tiền các trường sẽ huy ñộng ñược từ khu vực tư nhân Ví dụ, Nghị quyết 14 ñặt mục tiêu ñến năm
2020, 25% nguồn thu của các trường ñại học là từ khoa học và công nghệ (thu từ cung cấp dịch
vụ, các khoản tài trợ cho nghiên cứu, bản quyền phát minh sáng chế v.v.) Bộ GD-ðT có ñiều chỉnh lại thành 20% trong dự thảo ðề án Phát triển Giáo dục 2009-20207 Mức thu hiện tại chỉ là 3,4% ða dạng hóa nguồn tài trợ giáo dục chắc chắn là mục tiêu quan trọng – ngân sách nhà nước không thể ñỡ nổi toàn bộ gánh nặng tài chính cho giáo dục ñại học trong khi khả năng tiền bạc từ gia ñình sinh viên còn khá hạn chế Tuy nhiên, Việt Nam cần thực tế hơn trong tính toán các ñóng góp từ các doanh nghiệp Tại những nước tiên tiến nguồn thu từ bản quyền và các khoản tài trợ có tính thương mại cho nghiên cứu dựa vào các quy chế ñối với quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ tiên tiến, thể hiện trình ñộ cao của tự chủ trong ñiều hành và chất
6 Quyết ñịnh số 121/2007/Qð-TTg
7 Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009 – 2020, Dự thảo lần thứ mười bốn
Trang 9lượng cao của các nghiên cứu ựể có thể thu hút tài trợ từ khu vực kinh doanh Những trường ựại học có ựược nguồn thu cao từ bản quyền và liên kết với doanh nghiệp chủ yếu là những trường trong các lĩnh vực y tế và công nghệ cao Về phắa cầu, các doanh nghiệp Việt Nam không thể hiện các nhu cầu ựủ bức thiết ựối với khoa học và kỹ thuật Các doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh chủ yếu dựa vào giá nhân công rẻ và khai thác tài nguyên tự nhiên Về phắa cung, các trường ựại học không phải là nguồn cung cho ựổi mới, ựiều này thể hiện qua danh sách nghèo nàn các bằng sáng chế phát minh và công bố quốc tế của Việt Nam Nếu không có những chuyển
ựổi quyết liệt về mặt tổ chức ở các trường ựại học và không hiện ựại hóa bộ máy nghiên cứu
khoa học vốn có từ thời kế hoạch hóa tập trung, thì các nguồn thu nhập trong lĩnh vực khoa học
và kỹ thuật từ khu vực tư nhân khó lòng có thể tăng lên một cách ựáng kể
Phát hiện cuối cùng của nghiên cứu này là tình trạng thiếu nguồn lực không phải là rào cản chắnh
ựối với sự phát triển của ngành giáo dục Việt Nam Hầu hết mọi thước ựo ựều cho thấy Việt Nam
ựã chi tiêu rất nhiều cho giáo dục Ở Việt Nam mức chi thực tế cho giáo dục ở tất cả các cấp học
(tiểu học, trung học và ựại học) ựã tăng 125% trong giai ựoạn 2001 Ờ 2008 Trong năm 2008, Việt Nam ựã phân bổ 20% ngân sách nhà nước cho giáo dục các cấp học, ngang bằng với các nước láng giềng có thu nhập trung bình, và cao hơn hẳn mức trung bình 16% của vùng đông Á Thái Bình Dương Tuy nhiên, chi tiêu giáo dục lại không hiệu quả và mất cân ựối về cơ cấu, nhất
là trong hai lĩnh vực: Thứ nhất, Việt Nam chi quá ắt cho giáo dục ựại học, tắnh theo tỷ lệ trong ngân sách giáo dục: chỉ khoảng 12% ngân sách giáo dục trong khi ựó mức chung toàn cầu là chi cho giáo dục ựại học chiếm khoảng một phần tư cho tới một phần ba tổng chi tiêu cho giáo dục Thứ hai, việc chi tiêu quá thiên về ựầu tư cơ bản và do vậy làm giảm phần chi thường xuyên, thể hiện thái ựộ coi trọng quá mức Ợphần cứngỢ trong giáo dục- nhà cửa phòng ốc và hạ tầng cơ sở,
mà sao lãng Ộphần mềmỢ Mức chi thường xuyên trung bình của các nước trong khu vực chiếm khoảng 86% trong tổng ngân sách chi cho giáo dục và chỉ 14% ựược dành cho ựầu tư cơ bản Năm 2008 chi thường xuyên của Việt Nam chiếm 72% tổng chi tiêu cho giáo dục và 28% cho
ựầu tư cơ bản
Ý kiến rộng rãi trong dư luận là chi tiêu cho giáo dục hiện rất lãng phắ và kém hiệu quả, tuy nhiên chẳng có trường nào ựược kiểm toán toàn diện Thay vì áp ựặt kỷ cương và thiết lập sự minh bạch trong các trường, nhà nước lại tăng mức học phắ tại tất cả các cấp giáo dục, từ tiểu học cho tới ựại học Nhưng nội dung bài nghiên cứu này lý giải rằng nếu các nguồn lực ựược chi tiêu một cách có hiệu quả hơn thì các trường ựại học và cao ựẳng ựã có thể có khả năng chi lương cho giảng viên cao hơn nữa Bài nghiên cứu cho rằng nhu cầu bức thiết nhất của giáo dục
ựại học hiện nay không phải là tăng nguồn thu mà là thay ựổi kiểu cách chi tiêu và tăng cường
tắnh hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực có ựược
Tóm lại, chắnh sách giáo dục ựại học ở Việt Nam có một ựặc ựiểm dễ nhận thấy, là một khoảng cách lớn và ựang gia tăng giữa những kế hoạch và mục tiêu ựầy tham vọng của chắnh phủ với thực tiễn xã hội Sự xa rời ngày càng tăng giữa xuất phát ựiểm và việc xác ựịnh mục tiêu không phải là ựặc ựiểm của riêng chắnh sách giáo dục ựại học hay của việc hoạch ựịnh chắnh sách ở Việt Nam Cải cách thể chế là một tiến trình khó khăn và gian khổ, liên quan ựến việc phải thay
ựổi mô thức khen thưởng và những mối lợi ựã tồn tại lâu nay Cũng dễ hiểu việc các chắnh trị gia
và cơ quan nhà nước thắch khơi gợi về viễn cảnh tương lai hơn là nói về một thực tế nghiệt ngã của một hệ thống vẫn còn ựang trong giai ựoạn ựầu cải cách Tuy nhiên, sự thành công phụ thuộc vào năng lực và mong muốn của các nhà hoạch ựịnh chắnh sách Việt Nam trong việc ựịnh ra
Trang 10những mục tiêu thực tế và hình thành chiến lược khả thi ñể ñạt ñược các mục tiêu ñó, trên cơ sở
ñánh giá khách quan hiện trạng và hiểu biết tường tận kinh nghiệm quốc tế
Có nhiều giải pháp chính sách cho những thách thức của giáo dục ñại học Việt Nam và nhà nước cũng ñã nhận thức ñược rất rõ tất cả những thách thức ấy Hầu như toàn bộ những ñiểm chúng tôi trình bày ở trên ñều ñã ñược nhà nước ñưa vào các văn bản chính sách và chủ trương Tuy vậy, ñã năm năm trôi qua kể từ ngày Nghị quyết 14 ñược công bố, có rất ít tiến bộ ñược thực hiện trong số những thay ñổi có tính chất cách mạng mà Nghị quyết ñã chỉ ra Suy cho cùng tầm nhìn táo bạo của Việt Nam chỉ có ý nghĩa thật sự nếu nhà nước có thể tập hợp ý chí chính trị ñể phá vỡ hiện trạng và theo ñuổi một cách quyết liệt mục ñích phấn ñấu cho một hệ thống giáo dục
ñại học rộng lớn, hiện ñại và có chất lượng ñể phục vụ sự phát triển của ñất nước Việt Nam Nếu ñiều này ñược thực hiện ñược thì những lợi ích mà nó có thể mang lại cho sự phát triển kinh tế
và xã hội của Việt Nam sẽ vô cùng to lớn
Trang 11Mục lục
Giới thiệu 13
Phần Một: Khung khái niệm 21
I S ự ñ a d ạ ng hoá h ợ p lý gi ữ a các nhóm tr ườ ng: M ộ t nguyên t ắ c có tính h ướ ng d ẫ n 21
II H ệ th ố ng các nhóm tr ườ ng 24
III Th ị tr ườ ng và Nhà n ướ c 25
IV ð ào t ạ o theo nhu c ầ u 29
Phần Hai: Vài nét sơ lược về hệ thống giáo dục ñại học Việt Nam 33
I Quy mô và ñị nh d ạ ng c ủ a h ệ th ố ng 33
A S ự m ở r ộ ng 33
B Các nhóm tr ườ ng 34
a Các tr ườ ng ñạ i h ọ c ñỉ nh cao 34
b Các tr ườ ng ñạ i h ọ c vùng 37
c Các ch ươ ng trình ñ ào t ạ o sau ñạ i h ọ c và các h ệ không chính quy 39
d Các tr ườ ng cao ñẳ ng và ñ ào t ạ o ngh ề 41
e Các tr ườ ng ñạ i h ọ c ngoài công l ậ p 43
II S ự ti ế n tri ể n c ủ a chính sách 44
A S ự ñ a d ạ ng hóa 46
B Ch ấ t l ượ ng và v ấ n ñề gi ả i trình trách nhi ệ m 46
C Qu ả n lý và quá trình phi t ậ p trung hóa 47
D Nh ữ ng ñổ i m ớ i ở c ấ p ñộ nhà tr ườ ng 48
E M ở r ộ ng quy mô ñ ào t ạ o và v ấ n ñề gi ả ng viên 49
III Tài chính giáo d ụ c 51
A Ngu ồ n chi ngân sách cho giáo d ụ c 52
B C ơ c ấ u và hi ệ u qu ả c ủ a chi cho giáo d ụ c 54
C Chia s ẻ gánh n ặ ng tài chính gi ữ a nhà n ướ c và nhân dân 58
D Các ngu ồ n thu ngoài ngân sách khác 60
Phần Ba: Các lĩnh vực chính sách quan trọng và kinh nghiệm quốc tế 63
I M ộ t c ơ c ấ u phân t ầ ng ñể tránh l ạ c h ướ ng v ề s ứ m ạ ng 63
II Các tr ườ ng thu ộ c nhóm th ứ hai và th ứ ba 65
A Nh ữ ng tr ườ ng cao ñẳ ng bách khoa và nh ữ ng tr ườ ng ñạ i h ọ c ñượ c nhà n ướ c c ấ p ñấ t: ngu ồ n k ỹ n ng công ngh ệ cho s ự phát tri ể n 66
B Các tr ườ ng cao ñẳ ng c ộ ng ñồ ng: “Nh ữ ng tr ườ ng dành cho ti ế p c ậ n ph ổ c ậ p” 69
III V ấ n ñề ch ấ t l ượ ng và s ự tham gia c ủ a qu ố c t ế 71
Trang 12A Ki ể m ñị nh và B ả o ñả m Ch ấ t l ượ ng 71
B Qu ố c t ế hóa các tiêu chu ẩ n nh ư m ộ t chi ế n l ượ c nh ằ m nâng cao ch ấ t l ượ ng 74
IV Tài tr ợ d ự a vào thành qu ả ho ặ c s ứ m ạ ng ……… 77
V Các tr ườ ng ñạ i h ọ c ngoài công l ậ p 80
Phần Bốn: Kết luận và khuyến nghị 86
A Y ế u t ố chính tr ị c ủ a c ả i cách và v ấ n ñề khó kh ă n trong th ự c hi ệ n……… ….77
B Khuy ế n ngh ị ……… 79
Phụ lục I Trường ðại học An Giang: Một trường hợp nghiên cứu ñiển hình về trường ñại học cấp tỉnh ……….99
Phụ lục II: Quan ñiểm của quốc tế: Bài học của Ấn ðộ và Trung Quốc………113
Phụ lục III: Giáo dục ñại học và tăng trưởng kinh tế………125
Phụ lục IV: Tóm tắt “Những nhân tố vô hình tạo ra sự ưu tú: Quản trị và Cuộc tìm kiếm con ñường xây dựng mộ ñại học nghiên cứu ñỉnh cao ở Việt Nam” 135
Phụ lục V: Các bảng cho Phần 2, mục III, Tài chính của Giáo dục ñại học……….…137
Trang 13NHÌN XA HƠN CÁC TRƯỜNG ðẠI HỌC ðỈNH CAO:
HƯỚNG TỚI MỘT CÁCH TIẾP CẬN HỆ THỐNG
ðỐI VỚI CẢI CÁCH GIÁO DỤC ðẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Tháng 6 năm 2010
… Cho ñến nay có rất ít nỗ lực phân tích toàn diện về các hệ thống giáo dục ñại học ðiều này không có nghĩa là chúng ta ñang trở lại những hệ thống kế hoạch tập trung như trước ñây – không phải thế Thay vì vậy, nó ñưa ra khả năng cân bằng ñịnh hướng chiến lược với sự ña dạng mà hiện nay chúng ta ñang thấy trong hệ thống giáo dục ñại học ở khắp các nước phát triển Sự ña dạng này – một sự ñáp ứng với những ñòi hỏi ngày càng tăng – ñã ñưa những nhà cung cấp dịch vụ giáo dục mới vào hệ thống (nhất là từ thành phần tư nhân) và khuyến khích những loại trường mới hình thành Nó hứa hẹn làm tăng sự cạnh tranh và rút cục là nâng cao chất lượng Thật không may là triển vọng này sẽ khó lòng trở thành hiện thực nếu như sự ña dạng hóa tiếp tục diễn ra một cách hỗn loạn và vô tổ chức
Tổ Công Tác về Giáo dục ðại học và Xã hội, “Những mối ñe dọa và triển vọng: Giáo
dục ñại học ở các nước ñang phát triển”
Giới thiệu
Việt Nam ñã xác ñịnh mục tiêu phát triển ñầy tham vọng là về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện ñại vào năm 2020 Giáo dục ñại học sẽ là nhân tố trọng yếu ñể xây dựng một lực lượng lao ñộng có kỹ năng cần thiết ñể ñạt ñược tham vọng này Bộ GD&ðT, cũng như Quốc hội, gần ñây ñã ñưa ra hàng loạt chính sách cải cách giáo dục ñại học nhằm nâng cao chất lượng ñào tạo, mở rộng cơ hội vào ñại học cho người dân và ñổi mới quản lý nhà nước Báo cáo này nhằm cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng chính sách ấy thông qua việc ñề xuất một khuôn khổ có tính ñịnh hướng về cải cách hệ thống giáo dục ñại học Việt Nam Cụ thể là, chúng tôi ñưa ra khái niệm một hệ thống “ña dạng hóa một cách hợp lý” (rational differentiation), ñặc
ñiểm của nó là một hệ thống phân tầng rõ ràng gồm các trường ñược ñịnh hướng nhằm ñáp ứng
những nhu cầu ña dạng của thị trường lao ñộng và của xã hội Hệ thống này có thể ñược sử dụng như một nguyên tắc tổ chức nhằm biến mục tiêu thành những chính sách có hiệu quả Mặc dù Việt Nam, như nhiều nước khác, ñã và ñang tập trung vào việc phát triển một số trường ñại học
nghiên cứu tinh hoa, báo cáo này quan tâm ñến hệ thống giáo dục ñại học– mạng lưới các
trường, bao gồm các ñại học vùng, các trường cao ñẳng và trường dạy nghề, những trường ñang
ñào tạo phần lớn lực lượng lao ñộng của cả nước trong mọi lãnh vực từ kỹ thuật ñến y tế và kinh
doanh Một hệ thống giáo dục ñại học có chất lượng và có khả năng thích nghi có thể ñào tạo
ñược những con người có ñủ năng lực sẽ giúp Việt Nam tạo ra và duy trì những thành tựu ấn
tượng ñã có từ khi ñổi mới Ngược lại, một hệ thống tù ñọng, chất lượng thấp có nguy cơ làm cho những tham vọng của Việt Nam bị trật khỏi ñường ray
Trang 14Hệ thống giáo dục ñại học Việt Nam ñang bùng nổ sau mười lăm năm tăng trưởng nhanh chóng Trong khoảng từ năm 1990 ñến 2008, lượng sinh viên của hệ thống tăng gấp mười ba lần và số trường ñại học – cao ñẳng cũng tăng gấp hơn ba lần Trong phần lớn quãng thời gian này, những
sự ñổi mới về mặt hệ thống quản trị ñại học ñược thực hiện ở cấp trường và cấp hệ thống là rất ít
ỏi, dù rằng trong hai năm qua nhịp ñiệu cải cách ñã tăng ñáng kể Nhu cầu xã hội bất tận ñã làm
bùng nổ một thị trường giáo dục ñại học bao gồm ñủ kiểu chương trình ñào tạo của trường công cũng như trường tư, nhưng thị trường này hoạt ñộng trong một khuôn khổ luật pháp chưa hoàn thiện và bị thương mại hóa một cách quá ñáng Trách nhiệm giải trình và tiêu chuẩn chất lượng thì yếu kém, nhất là ở hệ không chính quy, vốn chiếm tới một nửa tổng số sinh viên Kết quả là, các nhà lập pháp Việt Nam ñang ñặt vấn ñề về việc liệu mô hình mở rộng ñại học theo kiểu hiện nay có thể ñứng vững ñược hay không Tháng 2 – 1010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ñã trực tiếp kêu gọi tăng cường chất lượng và cải tiến công tác quản lý trong việc phát triển giáo dục ñại học
Ý KIẾN | Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
1 Cần quán triệt nhận thức: phát triển quy mô giáo dục ñại học phải ñi ñôi với ñảm bảo và nâng cao
chất lượng ñào tạo Kiên quyết chấm dứt tình trạng không kiểm soát ñược chất lượng ñào tạo Cần
tạo ra cơ chế và ñộng lực trong quản lý nhà nước và quản lý của các cơ sở ñào tạo ñể thực hiện mục
tiêu ñảm bảo và nâng cao chất lượng ñào tạo
2 Coi việc ñổi mới quản lý giáo dục ñại học bao gồm quản lý nhà nước về giáo dục ñại học và quản
lý của các cơ sở ñào tạo là khâu ñột phá ñể tạo ra sự ñổi mới toàn diện của giáo dục ñại học, từ ñó
ñảm bảo và nâng cao chất lượng ñào tạo, nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học một cách bền
vững.8
Rõ ràng là Việt Nam sẽ phải tiếp tục tăng số sinh viên và xây dựng thêm nhiều trường mới: số người vào ñại học vẫn còn thấp nếu so với các nước trong vùng,9 với chỉ 15% trong số hơn một triệu thí sinh thi ñại học tìm ñược một chỗ trong các giảng ñường Nhưng, như Tổ Công Tác ñã nhận thấy, và chúng tôi ñã trích dẫn ở phần trên, sự mở rộng này cần phải tiến hành với một tầm nhìn chiến lược ñược thiết kế một cách thận trọng
ðổi mới kinh tế ñặt ra những ñòi hỏi ngày càng tăng ñối với hệ thống giáo dục ñại học Việt
Nam ñã ñạt ñược tăng trưởng bằng cách chuyển lực lượng lao ñộng từ nông nghiệp sang những nghề nghiệp có năng suất cao trong công nghiệp và dịch vụ Vượt qua giai ñoạn phát triển kinh
tế và nhân lực ban ñầu này, sự có mặt của ñội ngũ kỹ sư và quản lý có trình ñộ cao sẽ ngày càng quan trọng hơn
Nguồn vốn con người ñã và ñang là nút thắt cổ chai trong sự phát triển của Việt Nam Các doanh nghiệp nước ngoài ñều nói về những khó khăn của họ khi tìm kiếm nhân sự ở Việt Nam, khiến
Trang 15họ phải cắt giảm quy mô ựầu tư.10 Nhưng một lực lượng lao ựộng có kỹ năng không chỉ là ựòi hỏi của các nhà ựầu tư nước ngoài như Intel và Foxconn; nó cũng sẽ là một ựiểm quan yếu ựể có thể hình thành những doanh nghiệp nội ựịa có tầm cỡ và có năng lực cạnh tranh; những doanh nghiệp trong nước sẽ dẫn dắt sự tăng trưởng của Việt Nam sẽ là mũi nhọn hội nhập vào dây chuyền sản xuất toàn cầu Diễn ựàn Kinh doanh Việt Nam, nơi tập hợp những nhà kinh doanh trong nước và quốc tế, do Bộ Kế hoạch và đầu tư và Tập ựoàn Tài chắnh Quốc tế của Ngân hàng Thế giới thành lập, rất nhiều lần nêu ý kiến về việc nguồn cung lao ựộng có trình ựộ cao là một trở ngại chủ yếu Thực ra, trong một báo cáo gần ựây nhất, Diễn ựàn này ựã cho thấy theo các kết quả khảo sát thì chắnh sự thiếu hụt nguồn nhân lực là nguyên nhân sâu sắc gây ra thất bại của các doanh nghiệpViệt Nam.11
Ý KIẾN| Giáo sư Phạm Duy Hiển*
Từ khi bắt ựầu quá trình cải cách theo ựịnh hướng kinh tế thị trường cách ựây hơn hai thập kỷ, thu
nhập tắnh trên ựầu người của Việt Nam ựã vượt lên trên ngưỡng 1.000 USD, ựưa ựất nước ựến vị trắ
Ộthu nhập dưới trung bìnhỢ Tuy vậy, vẫn có một sự thật là kinh tế Việt Nam tập trung quá mức vào
những bộ phận có giá trị gia tăng thấp như nông nghiệp, khai thác tài nguyên thiên nhiên, sản xuất
công nghiệp nhẹ Nếu Việt Nam muốn tiến lên trên thang bậc về giá trị gia tăng và hội nhập dây
chuyền cung ứng toàn cầu, chúng ta cần nhiều hơn những doanh nghiệp lớn với lao ựộng trình ựộ cao,
nhất là trong những lĩnh vực khoa học công nghệ, hơn là những gì mà hệ thống giáo dục hiện nay có
khả năng tạo ra.12
*Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam
Chỉ cần lấy một vắ dụ về vai trò của giáo dục ựại học ựối với tiến trình phát triển của Việt Nam: Việt Nam xác ựịnh mục tiêu trở thành một Ộquốc gia mạnh về công nghệ thông tinỢ trong thập kỷ tới;13 nhưng việc thiếu hụt những kỹ sư trình ựộ cao ựã là rào cản cho hàng trăm doanh nghiệp nhỏ về công nghệ thông tin của Việt Nam trong việc trở thành những công ty lớn.14 Kinh nghiệm quốc tế từ Ấn độ ựến Ai-len ựều cho thấy rõ phải có một số lớn các kỹ sư bậc trung ựể cung cấp nguồn nhân lực cho công nghiệp phần mềm thì mới mong thành công.15 Trong lúc Viện Khoa
10
John Ruwitch, ỘFirms struggle to hire skilled professionals in VietnamỢ [Các doanh nghiệp chật vật tìm lao ựộng
trình ựộ cao ở Việt Nam], Reuters, 12-5-2009
< http://www.reuters.com/article/idUSPEK46232520090513 > Truy cập 13-5-2009.
11 Diễn ựàn doanh nghiệp Việt Nam (2008), Báo cáo về cuộc khảo sát môi trường kinh doanh 2008 (Report on Business Environment Sentiment Survey 2008) (chuyên ựề Diễn ựàn Doanh nghiệp Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam, 1- 12-2008).
12 Phạm Duy Hiển, ỘNghiên cứu so sánh năng lực nghiên cứu của các nước đông Nam Á và kết luận cho Việt
NamỢ, Higher Education (sắp xuất bản) 2010
13
Phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Doãn Hợp, ỘThông tin và Truyền thông sẽ là mũi nhọn
mở ựườngỢ, Thanh niên, 17-2-2010
http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201008/20100217093545.aspx
14
Xuân Thi, ỘCông nghiệp phần mềm Việt Nam: Nhận dạng tiềm năngỢ, Sài Gòn Tiếp Thị, 29-8-2009,
http://sgtt.com.vn/Thoi-su/Khoa-giao/56392/Cong-nghiep-phan-mem-Viet-Nam-Nhan-dang-tiem-nang.html
15 Ashish Arora and Alfonso Gambardella, ed., ỘFrom Underdogs to Tigers,: Rise and growth of the software
industry in Brazil, China, India, Ireland, and IsraeỢ [ Từ kẻ thất bại trở nên người thành công: Sự nổi bật và tăng trưởng của ngành phần mềm ở Brazil, Trung Quốc, Ấn độ, Ai-len và Israel], (Oxford: Oxford University Press,
2005).
Trang 16học Công nghệ Ấn ựộ ựược xếp hạng là một trong những cơ sở ựào tạo ựại học nổi tiếng nhất trong thế giới ựang phát triển, thì thực ra chắnh những trường công nghệ hạng hai mới là nơi cung ứng một số lớn lao ựộng có kỹ năng ựã cho phép công nghệ phần mềm của Ấn độ cất cánh.16
Sự phát triển của giáo dục ựại học cũng có một ý nghĩa hết sức quan trọng về xã hội và chắnh trị Giáo dục ựại học mở ra con ựường ựể có thu nhập cao và có một cuộc sống tốt hơn, nhưng những gia ựình nghèo ở Việt Nam thì có rất ắt khả năng theo ựuổi giáo dục ựại học.17 Nếu những
xu hướng hiện nay vẫn tiếp tục, Việt Nam có thể sẽ rơi vào cảnh ngộ của các nước láng giềng
đông Nam Á nơi giới tinh hoa từ bỏ hệ thống giáo dục của nước mình và người nghèo bị bỏ lại
cho những trường hạng hai trong nước Con số du học sinh tự túc tăng nhanh chưa từng có là một tiếng chuông báo ựộng Có lẽ sự trỗi dậy của những ựòi hỏi căn bản nhất ựối với giáo dục
ựại học, sự không hài lòng ngày càng tăng của công chúng ựối với hệ thống giáo dục hiện tại, ựã
làm cho việc cải cách trở thành một nhu cầu chắnh trị cấp bách Như một nhà hoạch ựịnh chắnh sách cao cấp của Việt Nam ựã nói với các tác giả bài này, ỘTôi ựã từng nghĩ rằng nông dân Việt Nam muốn có nhiều ựất ựai và kỹ thuật nông nghiệp hiện ựại hơn, nhưng giờ ựây tôi hiểu ra rằng
họ không có mong muốn nào lớn hơn là một nền giáo dục tốt hơn cho con cái họỢ đối với hàng triệu gia ựình Việt Nam, sự công bằng của hệ thống giáo dục là nhân tố trọng yếu trong nhận thức của họ về nỗ lực của nhà nước nhằm ựạt ựược tăng trưởng cùng với sự bình ựẳng Nhà nước cũng nhận thức rất rõ về nhu cầu khẩn thiết này Tháng 4 năm 2009, Bộ Chắnh trị ra nghị quyết nhận ựịnh rằng Ộgiáo dục và ựào tạo chưa thực sự là quốc sách hàng ựầuỢ đây là một sự thừa nhận ựáng ngạc nhiên trong bối cảnh những năm gần ựây các quan chức nhiều lần viện dẫn khẩu hiệu Ộgiáo dục và ựào tạo là quốc sách hàng ựầuỢ.18
Việc chuyển sang hệ thống giáo dục ựại chúng với cơ chế quản trị hiện ựại là một quá trình cực
kỳ phức tạp ựặt ra những thử thách nghiêm trọng ựối với tất cả các chắnh phủ.19 Nhà nước Việt Nam ựã có những bước ựi quan trọng nhằm bắt ựầu quá trình ựổi mới Nghị quyết 14, ra ựời năm
2005, công nhận những ựiểm yếu của hệ thống giáo dục hiện tại và kêu gọi Ộựổi mới căn bản và toàn diệnỢ Năm năm gần ựây chúng ta ựã chứng kiến việc áp dụng những sáng kiến mới về chắnh sách chạm ựến từng nhân tố của hệ thống; những nỗ lực này vẫn ựang tiếp tục trong năm
2010, với trọng tâm cụ thể là những vấn ựề về chất lượng và quản lý ở cấp ựộ hệ thống Nhà nước ựã có ựược sự tắn nhiệm khi cho phép diễn ra những cuộc tranh luận mạnh mẽ và cởi mở về tương lai giáo dục ựại học của quốc gia Từ cuộc tranh luận này, các học giả Việt Nam và quốc
tế ựã ựóng góp nhiều nghiên cứu chắnh sách về vấn ựề cải cách giáo dục ựại học.20
liệu của OECD: Những chắnh sách Giáo dục đại học, Paris: OECD, 1974
20
Hai nghiên cứu bằng tiếng Anh gần ựây là của Ngân hàng Thế giới nhan ựềViệt Nam: Giáo dục ựại học và kỹ
năng cho tăng trưởng, Báo cáo số 44428-VN, 05/2008; và Cải cách giáo dục ựại học ở Việt Nam: Thách thức và ưu
Trang 17Tuy nhiên, chúng ta cũng ựã thấy có những mâu thuẫn trong quá trình xây dựng chắnh sách có thể ựe dọa làm xói mòn những nỗ lực làm một cuộc cách mạng trong giáo dục ựại học của Việt Nam đó là:
( 1 ) Những mục tiêu cao ngất so với quá trình thực hiện yếu kém: Việt Nam ựã
xác lập một loạt mục tiêu ựầy tham vọng nhằm xây dựng một hệ thống giáo dục ựại học Ờ cao ựẳng rộng lớn, ựa dạng, có ựịnh hướng nghiên cứu và theo những chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, những mục tiêu này có xu hướng thiên về ựịnh lượng và thường là không khả thi hoặc không tương thắch với những mục tiêu khác về chất lượng Những mục tiêu này thường
là không ựược kèm theo một lộ trình thực hiện Xin nêu một vắ dụ, số sinh viên nhập học ở các trường tư ựược ựề xuất là sẽ tăng lên ựến 40% tổng số sinh viên trước năm 2020 so với 12% trong năm 2009 Tuy nhiên, các nhà làm chắnh sách lại rất chậm làm rõ khuôn khổ pháp
lý cho các trường tư;21 và kết quả là hầu hết các trường tư hoạt ựộng như những doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận, tràn ngập những chương trình ựào tạo pha trộn giữa kinh tế / kinh doanh và vi tắnh Một mục tiêu khác dự tắnh sinh viên học ngành kỹ thuật và công nghệ sẽ tăng ựến 35% tổng số sinh viên từ nay ựến 2020 so với 21% trong năm 2009 Hầu hết các nước thuộc OECD và các nước châu Á có khoảng 20 Ờ 30% tổng số sinh viên theo học ngành
kỹ thuật và công nghệ;22 và các nước ựạt ựược trình ựộ cao trong lĩnh vực này ựều ựã theo
ựuổi quyết liệt những chắnh sách thúc ựẩy việc ựào tạo các ngành kỹ thuật, chẳng hạn như
các học bổng có mục tiêu, cho vay học phắ, và mở rộng thêm các trường cao ựẳng kỹ thuật Việc xây dựng chắnh sách cần bắt ựầu với việc ựánh giá một cách thực tế những ựiều kiện nền tảng.23 Trong một số trường hợp, khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế xa ựến nỗi không
có một chắnh sách khả thi nào có thể thu hẹp ựược khoảng cách ấy Những mục tiêu không thực tế tạo ra các chỉ trắch giễu cợt và bởi vậy có thể xói mòn thẩm quyền và năng lực của nhà nước trong việc thúc ựẩy sự thay ựổi
những lĩnh vực khác của kinh tế và xã hội, phân cấp là nền tảng trong lịch trình cải cách của nhà nước Thuật ngữ này ựược dùng ựể bao quát tất cả những gì miêu tả sự chuyển giao thẩm quyền xây dựng các quy ựịnh, thẩm quyền về tài chắnh, và việc quản lý thực hiện cho những
ựơn vị quản lý nhỏ hơn, về nguyên tắc ựó là các trường và chắnh quyền các tỉnh.24
Những
tiên do Grant Harman và ựồng tác giả chủ biên chủ biên (The Netherlands: Springer, 2010) Các nghiên cứu bằng
tiếng Việt có rất nhiều và toàn diện, ựăng trên báo chắ, phỏng vấn, sách trắng và báo cáo Nghiên cứu này rút tỉa từ những bài viết của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, các phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, Giáo sư Phạm Phụ và những người khác
24
Một bài báo viết rằng mùa thu năm 2009, trong dự thảo sửa ựổi Luật Giáo dục có nêu ỘCác hoạt ựộng kiểm tra, giám sát hiệu quả và chất lượng của các trường ựại học và cao ựẳngỢ sẽ do ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện)
Trang 18phương diện khác nhau của phân cấp nên ựược tách bạch Một mặt, các trường ựại học cần tự chủ trong những quyết ựịnh về quản lý và ựào tạo ựể năng ựộng và hữu hiệu hơn Mặt khác, các trường ựại học sẽ chỉ chú trọng trách nhiệm giải trình với cộng ựồng xã hội của họ khi nào họ có mối gắn kết chặt chẽ hơn và trách nhiệm sâu sắc hơn ựối với kinh tế và xã hội ựịa phương.25 Về mặt này phân cấp là một ựịnh hướng chắnh sách ựúng ựắn Tuy nhiên, về mặt khác, những khung quy ựịnh có tắnh chất quốc gia và vùng miền cũng rất quan trọng Sự áp
ựặt những tiêu chuẩn tối thiểu về tổ chức và về học thuật sẽ phải ựến từ cấp cao hơn là cấp
tỉnhỜtừng tỉnh trong số 63 tỉnh của Việt Nam sẽ không có ựủ nguồn lực con người hay tài
chắnh ựể giám sát hệ thống con của họ Vấn ựề thứ hai là kế hoạch chiến lược Một hệ thống giáo dục ựại học Ờ cao ựẳng hữu hiệu ựược tạo thành với một mạng lưới các trường với những nét riêng nhưng có những sứ mạng khác nhau và bổ sung cho nhau nhằm ựáp ứng nhu cầu ựa dạng của xã hội Tác ựộng của nhân tố phân cấp ựối với việc lập kế hoạch giáo dục là
ựiều ựã có thể thấy rõ Nhiều trường không có một sứ mạng phù hợp rõ ràng Việc nâng cấp
lan tràn các trường cao ựẳng thành ựại học là một vắ dụ cho thấy tình trạng thiếu tầm nhìn chiến lược Những xu hướng hiện nay cho thấy hệ thống giáo dục ựại học sẽ có ựược nhiều lợi ắch hơn với việc tăng cường, chứ không phải giảm ựi, một kế hoạch chiến lược và sự giám sát hữu hiệu Bởi vì Việt Nam không có truyền thống có các tổ chức cấp vùng vững mạnh (kiểu như những tổ chức ở trên các tỉnh), cho nên sự giám sát này chắc chắn sẽ phải là giám sát ở tầm quốc gia
(3) đào tạo cho nhu cầu trước mắt so với ựòi hỏi của xã hội tương lai: Nhà nước Việt Nam
nhắm tới một hệ thống giáo dục ựại học nhằm Ộựào tạo theo nhu cầu xã hộiỢ Nỗ lực của các nhà lãnh ựạo tập trung vào việc tìm hiểu chắc chắn nhu cầu của giới doanh nghiệp và khuyến khắch các trường ựưa ra những chương trình ựào tạo trong những lĩnh vực ấy đây là một sự theo ựuổi quan trọng có thể củng cố theo cách tiếp cận từ dưới lên ựể ựiều hành các trường cao ựẳng và trung học nghề hướng vào việc thực hiện sứ mạng ựáp ứng nguồn nhân lực trung cấp.26 Tuy nhiên, có một yêu cầu thứ hai và có tắnh chất dài hạn ựòi hỏi sự can thiệp của nhà nước, ựó là những ựòi hỏi trong tương lai về khoa học và công nghệ Vào năm 2005, 50% sinh viên Việt Nam ựang học trong hai ngành là sư phạm và kinh tế/kinh doanh trong khi tỉ lệ nhập học trong các ngành kỹ thuật, công nghệ và khoa học tự nhiên còn thấp.27 Khoa học và công nghệ mang lại lợi ắch công rất to lớn Nhu cầu của các doanh nghiệp hiện nay không
thực hiện, và dựa trên các quy ựịnh do Bộ GD&đT ban hànhỢ Hải Hà, ỘGiám sát ựại học sẽ không còn là Ộựặc
quyềnỢ của Bộ?Ợ, VnEconomy, 3 -10-2009,
http://vneconomy.vn/20091003071959917P5C11/giam-sat-dai-hoc-se-khong-con-la-dac-quyen-cua-bo.htm
25
Báo cáo Phát triển năm 2010 về Việt Nam của Ngân hàng Thế giới phân biệt giữa trách nhiệm giải trình từ trên xuống (trách nhiệm trước nhân dân về việc phục vụ) và từ dưới lên (trách nhiệm tuân thủ luật pháp, quy ựịnh, tiêu chuẩn) Văn bản này nêu rõ ỘCả hai loại trách nhiệm giải trình này ựều cần thiếtẦựặc ựiểm xác ựịnh trách nhiệm từ dưới lên là hệ thống thứ bậc, chắnh sách khen thưởng và trừng phạt, trong lúc trách nhiệm giải trình từ trên xuống là góp ý của khách hàng, thông tin khách hàng và sự tham gia vào quá trình ra quyết ựịnh.Ợ Có thể ựọc tại: http://wwwr.worldbank.org/vn/vdr.
26 Một nghiên cứu gần ựây về thị trường lao ựộng Việt Nam cho rằng phương thức tiếp cận vấn ựề ựào tạo nghề ở Việt Nam thường có xu hướng giải quyết vấn ựề "từ trên xuống" (top-down), và ựược xuất phát từ phắa cung lao ựộng, hơn là từ phắa nhu cầu của ngành Kết quả là chúng ta ựã không có những lao ựộng tay nghề cao, có thể tuyển dụng ựược Ian Coxhead và các ựồng tác giả, ỘLao ựộng và tiếp cận việc làm thị trường lao ựộng: Việc làm, và đô thị hoá ở Việt Nam ựến năm 2020: Học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế,Ợ Dự Án 00050577, đóng góp xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tháng 12-2009.
27 Ngân hàng Thế giới, 2008, 26.
Trang 19phản ánh những kỹ năng cần thiết ñể ñưa Việt Nam vào con ñường công nghiệp tri thức trong mười năm sắp ñến
(4) Thương mại hóa so với lợi ích công: Nhà nước ñang chuyển phần trách nhiệm tài chính ñối
với giáo dục ñại học nhiều hơn cho xã hội và các trường tư Tăng học phí là một biểu hiện của xu hướng này Một biểu hiện khác là tăng số lượng các trường tư Biểu hiện thứ ba là sự thương mại hóa các chương trình ñào tạo ở cả trường công lẫn trường tư Các trường vì lợi nhuận có thể ñưa vào hệ thống giáo dục sự cạnh tranh cần thiết Tuy nhiên, giáo dục rất dễ bị tổn thương trước tình trạng hoạt ñộng không như mong ñợi của thị trường, và nhà nước cần can thiệp ñể khuyến khích thị trường ñem lại những dịch vụ mà xã hội mong muốn, hoặc trực tiếp cung cấp những dịch vụ ñó thông qua các tổ chức của nhà nước, tức là các trường ñại học công Sự can thiệp này có thể bao gồm những việc như lập kế hoạch và ñịnh hướng chiến lược, tài trợ cho các tổ chức nghiên cứu và hướng dẫn về khoa học, bảo ñảm sự công bằng xã hội, cải tiến thông tin thị trường và chủ ñộng kiểm soát chất lượng Câu hỏi quan yếu bởi vậy không phải là trường công hay trường tư, mà là một cơ chế khuyến khích ñối với cả trường công lẫn trường tư
soát chặt chẽ về quản lý và về những vấn ñề ñào tạo với một nỗ lực không thể hiểu nổi nhằm kiềm chế sự mở rộng hỗn loạn của hệ thống; tuy vậy cho ñến gần ñây họ vẫn chưa áp ñặt
ñược tiêu chuẩn về chất lượng và trách nhiệm giải trình cho các trường Việc chuyển sang hệ
thống giáo dục ñại học ñại chúng ñòi hỏi nhà nước phải từ bỏ cơ chế “xin cho” và chuyển sang vai trò là người ñiều chỉnh hệ thống một cách công bằng Dù có chính thức công nhận hay không, rõ ràng là ñang có sự bùng nổ trong thị trường giáo dục ở Việt Nam Cũng như bất cứ thị trường nào khác, thị trường giáo dục cần có một cơ chế hoạt ñộng ñược quy ñịnh một cách hợp lý ñể có thể hoạt ñộng hiệu quả, trong ñó các trường cạnh tranh với nhau về nguồn tài trợ và nguồn sinh viên Với một hệ thống giám sát, nhà nước sẽ có ít chức năng
hơn –vì các trường nhận trách nhiệm về việc tổ chức nội bộ và các chương trình ñào tạo của mình –nhưng nó cần phải thực hiện những chức năng ấy một cách hiệu quả hơn –bao gồm
việc bảo ñảm tiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng ñể bảo vệ người học, ñem lại một hướng ñi chung, và ñầu tư cho những hoạt ñộng giáo dục và nghiên cứu mà thị trường sẽ không mang lại
Giải quyết những mâu thuẫn trên ñây ñòi hỏi một cách tiếp cận chiến lược ñể cải cách nhằm ñạt
ñược mục tiêu, bao quát ñược mọi mục tiêu, nguyên tắc, phương tiện, những chính sách cụ thể
về hoạt ñộng và lộ trình cần thiết nhằm ñạt ñược những mục tiêu ấy Ở Việt Nam, việc xây dựng chính sách giáo dục có xu hướng lẫn lộn phương tiện và mục ñích; chiến lược chứa ñựng những mục tiêu chi tiết và những quy ñịnh ñược soạn thảo ñi soạn thảo lại, nhưng từng bộ phận của bộ khung các quy ñịnh ấy không cấu thành ñược một tầm nhìn hay một chiến lược chặt chẽ, nghĩa là chính sách này thường mâu thuẫn với chính sách khác ðây là chỗ mà kinh nghiệm quốc tế có ý
nghĩa quan trọng Việt Nam có thể học hỏi nhiều từ kinh nghiệm các nước –tích cực và tiêu cực
–trong việc biến những mục tiêu (chẳng hạn mở rộng các trường tư, tăng cường số sinh viên học
khoa học kỹ thuật hay dùng giáo dục ñại học – cao ñẳng ñể hỗ trợ cho công nghệ phần mềm khi
nó mới khởi sự) thành những hoạt ñộng chính sách hữu hiệu Như nhận ñịnh của Tổ Công Tác trích dẫn ở ñầu bài, không có mâu thuẫn nào ñược nêu trên ñây là vấn ñề của riêng Việt Nam Cần lưu ý là trong các nước phát triển cũng như ñang phát triển, cải cách thường diễn ra rất
Trang 20giống hình thức ñáp ứng với áp lực về nhu cầu ngày càng tăng của sinh viên, về tình trạng cấp bách của giáo dục ñại học phải thích ứng với thị trường, và áp lực của ngân sách công.28 Trong khi hiếm có khả năng nhập khẩu trực tiếp mô hình của nước ngoài, hoặc ñó không phải là ñiều
ñáng mong muốn, thì có rất nhiều thứ có thể học ñược từ các nước ñã từng ñi qua giai ñoạn
chuyển ñổi từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục ñại chúng Bản báo cáo này sẽ ñưa ra các ví dụ từ Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn ðộ, Ai-len, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ
Bản báo cáo này gồm bốn phần Phần thứ nhất ñề xuất một hệ thống nguyên tắc tổ chức bao gồm
sự ña dạng hóa, vai trò của thị trường và của nhà nước, vấn ñề ñào tạo theo nhu cầu; ñể giúp làm
rõ những vấn ñề phức tạp nảy sinh trong cuộc thảo luận về giáo dục ñại học và sự phát triển của Việt Nam Phần hai chú trọng ñến tình hình hiện nay ở Việt Nam, tập trung vào quy mô và hình dạng hiện nay của hệ thống, những sáng kiến lập kế hoạch chính sách có tính ñịnh lượng và ñịnh tính, và vấn ñề tài chính cho giáo dục Phần ba thảo luận về những kinh nghiệm quốc tế có thể mang lại những chỉ dẫn hữu ích cho cơ cấu quy ñịnh và chính sách nhằm ñịnh hình một hệ thống
có tính chất ña dạng hóa ở Việt Nam Những vấn ñề ñược ñề cập chi tiết bao gồm: sự phát triển của các trường kỹ thuật công nghệ, những liên kết ở cấp vùng, kiểm ñịnh chất lượng và quốc tế hóa, vấn ñề tài chính, và vai trò của các trường ñại học tư Phần bốn ñánh giá những thách thức
mà Việt Nam phải ñương ñầu trong việc ñưa những mục tiêu của mình thành việc thực hiện cải cách toàn diện, và ñưa ra một số ñề xuất về chính sách
Có bốn Phụ lục kèm theo bản báo cáo này Trong Phụ lục I, Giáo sư Võ Tòng Xuân, người sáng lập và nguyên hiệu trưởng ðại học An Giang, ñã ñưa ra bằng chứng minh họa những cơ hội và khó khăn mà một trường ñại học vùng ñồng bằng sông Cửu Long trong hệ thống giáo dục ñại học Việt Nam phải ñương ñầu Phụ lục II, do Giáo sư Philip Altbach của ðại học Boston (Hoa Kỳ) viết, xem xét những nhân tố của quá trình chuyển ñổi sang giáo dục ñại chúng ở Trung Quốc
và Ấn ñộ và ý nghĩa của những kinh nghiệm ấy ñối với Việt Nam Phụ lục III trình bày quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giáo dục ñại học và ñánh giá vai trò của giáo dục sau trung học trong
việc tăng cường sức cạnh tranh của Việt Nam Phụ lục IV là tóm tắt bản báo cáo “Những nhân tố
vô hình tạo ra sự ưu tú: Quản trị ðại học và Cuộc tìm kiếm con ñường xây dựng một trường ñại học nghiên cứu ñỉnh cao cho Việt Nam”, do Trường New School và Trung tâm Ash của Trường
Kennedy, ðại học Harvard thực hiện vào tháng 6 năm 2009, và Phụ lục V là một số bảng thống
kê về tài chính trong giáo dục ñại học của Việt Nam
28
D Bruce Johnstone, “Các vấn ñề tài chính và quản lý giáo dục ñại hoc: báo cáo tình hình về cải cách toàn thế giới” (“The Financing and Management of Higher Education: A Status Report on Worldwide Reforms”) (Hội nghị Quốc tế về GDðH, UNESCO, Paris, 10-1998) http://www.worldbank.org/html/extdr/educ/postbasc.htm.
Trang 21Phần Một: Khung khái niệm
I S ña dng hoá hp lý gia các nhóm trưng: Mt nguyên t c có tính h ng dn
Một nhận thức sâu sắc và trọng yếu ñược nêu trong bản báo cáo “Mối ñe dọa và triển vọng” của
Tổ Công Tác là: ñặc ñiểm của một nền giáo dục ñại học hiệu quả là sự ña dạng hóa trong hệ thống về sứ mạng của từng nhóm trường Trường ñại học nghiên cứu tinh hoa, trường ñại học vùng, trường nghề, trường sư phạm, trường cao ñẳng cộng ñồng, tất cả ñều có vai trò của mình,
và mỗi nhóm trường như thế ñều có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra một “hệ sinh thái” giáo dục ñại học lành mạnh nhằm ñáp ứng những nhu cầu ña dạng của xã hội Cấu trúc cơ bản của một hệ thống ña dạng hóa theo chiều thẳng ñứng là một hình tháp, với các trường nghiên cứu chọn lọc nằm trên ñỉnh và một hệ thống ñại chúng gồm các trường tổng hợp ña ngành, các trường kỹ thuật và dạy nghề nằm ở phần ñáy, ñược thiết kế ñể ñào tạo số ñông sinh viên Phần lớn sinh viên sẽ hướng vào các trường kỹ thuật bách khoa, cao ñẳng cộng ñồng, các trường ñại học tập trung cho ñào tạo, các hệ ñào tạo từ xa và giáo dục thường xuyên Một số ngày càng nhiều các trường thuộc nhóm này sẽ là các trường tư Một hệ thống có sự phân tầng sẽ có một thứ bậc khá khắt khe giữa các trường, từ ñó thúc ñẩy sự cạnh tranh giữa các nhóm trường Nguồn lực tài chính sẽ ñược ña dạng hóa Sinh viên sẽ ñược trải ra nhiều ngành học khác nhau Hệ thống này có sự kết nối phù hợp, ñưa ra một lộ trình phấn ñấu cho sinh viên ñể ñi từ cao ñẳng
ñến ñại học và các bậc học cao hơn nữa Các trường sẽ xây dựng một mạng lưới liên kết giữa các ñịa phương nhằm chia sẻ kỹ năng chuyên môn và trang thiết bị, cũng như ñể tránh trùng lặp và
lãng phí Các trường ñại học ñỉnh cao sẽ gắn kết với các trường cao ñẳng và ñại học khác, còn hệ thống giáo dục ñại học sẽ gắn kết với các trường phổ thông và tiểu học, nhờ ñó những trường ở cấp thấp sẽ ñược hưởng lợi từ kết quả nghiên cứu của những trường ở bậc cao hơn
Việc ña dạng hóa và phân tầng ñáp ứng hiệu quả về mặt chi phí ñối với việc cân bằng giữa mở rộng số người vào ñại học nhằm ñáp ứng nhu cầu xã hội và nguồn lực tài chính công hạn hẹp Nhà nước không thể ñủ sức ñào tạo tất cả sinh viên trong các trường ñại học nghiên cứu và ñại học công.29 Việt Nam tìm cách nâng cao năng lực và kết quả nghiên cứu khoa học của mình và
do vậy ñang làm nhiều việc ñể xây dựng những trường ñại học tinh hoa Việc các trường ñại học hàng ñầu thực hiện ñào tạo và nghiên cứu nhiều lĩnh vực chuyên ngành trong ñó có khoa học tự nhiên và nghiên cứu về văn hóa sẽ phục vụ lợi ích công Sinh viên có thể dè dặt ñối với khoa học
tự nhiên vì triển vọng nghề nghiệp không rõ ràng, năng lực cải tiến khoa học của ñất nước phụ thuộc vào việc duy trì những ngành học này Nhưng bộ phận các trường chuyên về nghiên cứu này lại phụ thuộc vào một hệ thống giáo dục ñại chúng vững mạnh có thể chống ñỡ cho nó trong việc ñào tạo số ñông sinh viên Các trường thuộc nhóm thứ hai và nhóm thứ ba có năng lực tốt, quy mô rộng lớn, dễ tiếp cận sẽ cung ứng giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật có chất lượng và làm giảm áp lực lên các trường ñại học nghiên cứu Không có các trường thuộc nhóm hai và ba mà ai cũng có thể tiếp cận ñược, về mặt chính trị, thật khó biện minh ñược cho việc ñổ tiền của vào các trường ñỉnh cao.30 Theo quan ñiểm của Tổ Công Tác, “Một hệ thống ñược phân tầng sẽ là một
29
Philip Altbach và Patti McGill Peterson, chủ biên , “Higher Education in the New Century: Global Challenges
and Innovative Ideas” [Giáo dục ðại học trong Thế kỷ mới: Thách thức toàn cầu và những ý tưởng sáng tạo]
Rotterdam, the Netherlands: Sense Publishers, 2007), xviii.
30 Philip Altbach, “Empires of Knowledge and Development” [ðế chế Kiến thức và Phát triển], trong World Class
Worldwide: Transforming Research Universities in Asia and Latin America [Vấn ñề ñại học ñẳng cấp quốc tế trên toàn thế giới: Những trường ñại học nghiên cứu trong quá trình chuyển ñổi ở châu Á và châu Mỹ La tinh], Altbach
và Balan chủ biên (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 2007), tr 5 – 6 Ted Tapper và David Palfreyman,
Trang 22kết quả lai ghép giữa mục tiêu ñạt ñến sự ưu tú và nền giáo dục ñại chúng, cho phép mọi mục tiêu ñều ñạt ñược trong một hệ thống và sử dụng một nguồn lực hạn chế”.31
Chỉ một kiểu trường không thể ñáp ứng ñược một phổ rộng các nhu cầu kinh tế và xã hội ñặt ra cho giáo dục ñại học Ngày nay người ta mong ñợi ở giáo dục ñại học nhiều chức năng ña dạng:
ñào tạo, nghiên cứu (cả nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng), chuyển giao công nghệ
quốc tế, phát triển xã hội, phát triển ñịa phương và vùng, cũng như hỗ trợ sự phát triển của xã hội dân sự.32 Các nhà chính trị và mọi người dân ñều có kỳ vọng cao về những kết quả cụ thể: “Có một sự trùng hợp giữa nhu cầu xã hội nhiều hơn, năng lực công nghệ cao hơn, và kỳ vọng xã hội lớn hơn (nhưng không nhất thiết là nguồn lực mạnh hơn).”33 Sự ña dạng hóa về sứ mạng như vậy
ñáp ứng ñược những nhu cầu ña diện bằng cách giúp các trường tránh quá tải và làm việc với
những lợi thế so sánh của mình Các trường kỹ thuật và các ñại học nghiên cứu phục vụ những
ñối tượng sinh viên có những mục tiêu khác nhau, nhưng cả hai ñều quan trọng như nhau ñối với
một hệ thống giáo dục ñại học ưu tú.34
Sự thay ñổi cơ cấu kinh tế ñòi hỏi phải có sự phân hóa trong sứ mạng của các trường Sự phân công lao ñộng liên quan tới quá trình công nghiệp hóa kích thích nhu cầu có nhiều loại kỹ năng nghề nghiệp khác nhau, chẳng hạn như cơ khí, hóa học, ñiện tử, kỹ nghệ dân dụng, quản lý, kế toán, tài chính, tiếp thị, thông tin, dịch vụ truyền thông, bên cạnh những ñòi hỏi vẫn tiếp tục ñối với các ngành nghề truyền thống như y khoa chẳng hạn Việc quản lý ñiều hành tinh tế hơn của các tổ chức và doanh nghiệp lớn ñòi hỏi năng lực làm việc nhóm, có kỹ năng giải quyết vấn ñề,
có tư duy sáng tạo và phân tích Cùng lúc ñó có nhu cầu ngày càng cao về khả năng chuyên môn cùng với kiến thức tổng quát và những kỹ năng cho phép con người bắt kịp sự thay ñổi nhanh chóng của những tiến bộ trong kiến thức và công nghệ Tổ Công Tác cho rằng, “ða dạng hóa các trường là một sự ñáp ứng hợp logic ñối với việc tăng cường chuyên môn hóa và tầm quan trọng của tri thức Trong nhiều trường hợp, cả những trường mới thành lập và những trường ñược tái cấu trúc ñều có thể phục vụ lợi ích công tốt nhất bằng cách tập trung vào những mục tiêu ñược xác ñịnh rõ ràng cho những ñối tượng sinh viên cụ thể.”35
ða dạng hóa và liên thông có thể làm tăng bình ñẳng xã hội Trong một hệ thống liên thông,
những cấp học thấp ñược coi là những bậc thềm ñể bước tới những chương trình ñào tạo cao hơn Có nhiều chỗ khác nhau ñể người ta có thể bước vào và bước ra hệ thống giáo dục Không phải tất cả mọi sinh viên ñều cần hay ñều có khả năng ñể ñược ñào tạo tại các trường ñại học
nghiên cứu – nhưng những sinh viên giỏi vì hoàn cảnh gia ñình khó khăn không thể trực tiếp vào
ñược ñại học nên có cơ hội vào các trường cao ñẳng rồi từ ñó chuyển lên những bậc học cao
hơn.36 Một ñặc ñiểm của việc mở rộng cơ hội tiếp cận ñại học ñối với các loại sinh viên ngày
“Converging Systems of Higher Education?” [Các Hệ thống Giáo dục ðại học có cùng ñưa ñến một mô hình
không?] trong “Structuring Mass Higher Education: The Role of Elite Institutions” [Cấu trúc Giáo dục ðại học ñại
chúng: Vai trò của các trường tinh hoa], 324.
34 David E Bloom và Henry Rosovsky, “Higher Education and International Development” [Giáo dục ñại học và
Phát triển Quốc tế] Khoa học Hiện tại, Tập 81, Số 3, 10-8-2001, http://www.ias.ac.in/currsci/aug102001/252.pdf.
Trang 23càng ña dạng là nhu cầu lựa chọn các hình thức học tập linh hoạt hơn Chỉ một số người có nhu cầu hoặc có khả năng, trong ñó có khả năng tài chính, ñể theo ñuổi những chương trình ñào tạo
ñại học và sau ñại học theo kiểu truyền thống Nhiều người sẽ thấy rằng hoàn cảnh của họ (về
thu nhập, lịch làm việc, tình trạng gia ñình, việc ñi lại, v.v.) có khó khăn trong việc theo học toàn thời gian Một hệ thống giáo dục ñem lại nhiều lựa chọn giữa học bán thời gian, học các khóa ngắn hạn hay hệ giáo dục thường xuyên sẽ mang ñến cho những người vừa học vừa làm cơ hội thứ hai, thứ ba, và tiếp nữa ñể nâng cao kỹ năng theo cách có thể làm tăng thu nhập và phúc lợi của họ.37 Công nghệ sẽ giúp các trường bố trí các chương trình ñào tạo phù hợp với nhu cầu cụ thể của người học
Sự ña dạng hóa, hay tái ña dạng hóa tiến triển nhằm ñáp ứng với môi trường bên ngoài, chẳng hạn sự nhất quán của chính sách nhà nước về tài chính và kiểm ñịnh chất lượng, và những nhân
tố về nhu cầu bao gồm nhu cầu của sinh viên và của thị trường lao ñộng.38Các nhóm trường với những sứ mạng khác nhau cần ñược phân biệt bằng nguồn ngân sách, bằng tiêu chuẩn quy ñịnh
và cơ chế quản trị Chẳng hạn, các trường ñại học nghiên cứu ñòi hỏi nhiều tự chủ hơn các trường cao ñẳng cộng ñồng vì các trường nghiên cứu có tham vọng ñạt ñến tiêu chuẩn toàn cầu trong nghiên cứu và giảng dạy ở nhiều chuyên ngành khác nhau Cơ cấu quản trị của các trường này phải ñem lại cho họ tự do ñể có thể cạnh tranh với những trường tốt nhất thế giới và ñem lại những khích lệ cho họ ñể làm ñiều ñó Trái lại, các trường cao ñẳng cộng ñồng thực hiện một chương trình ñào tạo cơ bản với ñịnh hướng ñào tạo nghề thay vì nghiên cứu Cơ chế quản trị của các trường này cần giúp nó ñáp ứng với những nhu cầu của cộng ñồng ñịa phương
Tầm nhìn về một hệ thống ñược ña dạng hóa cần ñược xem là nền tảng của việc chuyển sang hệ thống giáo dục ñại chúng của Việt Nam Mặc dù Nghị quyết 14 cho thấy nhà nước ñã nhận ra nhu cầu về một hệ sinh thái giáo dục ñại học ña dạng và Quyết ñịnh 121 (ban hành năm 2007; sẽ
ñược thảo luận trong phần sau) ñã ñặt ra một tầm nhìn cụ thể, nhưng những chính sách khích lệ
hiện có chưa phù hợp ñể khuyến khích sự ña dạng hóa theo cách ñặt trọng tâm ở cấp trường và công nhận lợi thế so sánh của từng trường Hiện nay không có một sự phân biệt rõ ràng về vai trò
và chức năng giữa các trường, và có một xu thế rất mạnh hướng về những kiểu chương trình (hệ
ñại học chính quy và không chính quy) và các ngành (kinh tế và kinh doanh) mang lại nguồn thu
học phí cao Theo số liệu năm 2005, một nửa sinh viên Việt Nam hiện nay tập trung vào hai ngành: kinh tế hoặc kinh doanh và sư phạm.39 Tỉ lệ sinh viên trong các ngành kỹ thuật và công nghệ là 21%, và chỉ 2% trong khoa học tự nhiên.40
Việc theo ñuổi một hệ thống giáo dục ña dạng hóa ở Việt Nam cũng buộc phải ñối mặt với sự giải thích về phương diện xã hội về nhu cầu xã hội khổng lồ ñối với tấm bằng ñại học Một nhân
tố có thể thấy rất rõ là văn hóa Việt Nam rất coi trọng tấm bằng ñại học Những yêu cầu tuyển dụng ở cả cơ quan nhà nước lẫn tư nhân cũng có vai trò quan trọng trong hiện tượng chạy theo bằng cấp Việc tuyển dụng và xét thăng chức phụ thuộc vào chỗ có bằng ñại học hay không,
37 Ngân hàng Thế giới 2003; 2006 Samih W Mikhail, “Thay cho khu vực giáo dục sau trung học: hơn cả giáo dục
ngoài trường ñại học, (The Alternative Tertiary Education Sector: More than Non-University Education)”, Báo cáo
của Ngân hàng Thế giới, 2008, tr 34.
38 Van Vught, tr 157
39 Ngân hàng Thế giới, Việt Nam: Giáo dục ñại học và Kỹ năng cho tăng trưởng, 26.
40
Báo cáo 329/BC-UBTVQH12 26-5-2009; Phiếu Khảo sát ðại học của Bộ GD&ðT, 2005 Hoàng Ngọc Lữ, “Bằng
cấp không có lỗi – luật pháp cũng ‘phân biệt ñối xử”, Tuổi Trẻ, 01-09-2009,
http://tuoitre.vn/Giao-duc/334574/Bang-cap-khong-co-loi.html.
Trang 24cùng với việc sở hữu những chứng chỉ, văn bằng khác (chẳng hạn, văn bằng hai của chương trình tại chức hay chứng chỉ Tiếng Anh, tin học).41 Lẽ tự nhiên là giới trẻ không muốn giới hạn triển vọng tương lai của mình với những văn bằng hai như thế.42 Văn hóa thay ñổi rất chậm, nhưng sự
ñầu tư có tính ñến những mức ñộ ñịnh hướng nghề nghiệp khác nhau trong hệ thống có thể sẽ
giúp sinh viên và các nhà tuyển dụng tiến một bước dài trong việc thay ñổi quan niệm về chất lượng và sự hữu dụng của những tấm bằng không phải là bằng ñại học
II H th ng các nhóm trưng
Một hệ thống ñược ña dạng hóa có ba tầng bậc hay ba nhóm trường: các trường ñại học nghiên cứu, các ñại học vùng, và các trường cao ñẳng cộng ñồng/trường dạy nghề.43 Dọc theo các lớp này là hàng ngũ các trường nghề Mỗi nhóm trường như thế có ñặc ñiểm là một mạng lưới các
mối quan hệ liên kết giữa các trường cả trong phạm vi hệ thống – liên thông của sinh viên, việc chia sẻ chuyên môn và trang thiết bị – lẫn quan hệ với các tổ chức bên ngoài (ở ñịa phương,
trong vùng, trong nước và quốc tế)
Ở Việt Nam, các nhóm cơ sở ñào tạo ñại học, cao ñẳng và dạy nghề có rất nhiều tên gọi và một
phần trong số ñó trực thuộc Bộ GD&ðT Tuy nhiên nhiều trường lại trực thuộc các Bộ khác hoặc trực thuộc chính quyền ñịa phương Ở ñây chúng ta cần nhấn mạnh là tên gọi không quan trọng bằng việc xác ñịnh rõ ñặc ñiểm Sự phân loại sau ñây chỉ có ý nghĩa tổng quát Việc ñối xử với các kiểu trường tương tự bằng một cơ chế ñiều tiết chung có thể giúp loại trừ sự thiếu nhất quán và hợp lý hóa mạng lưới các trường công lập của Việt Nam, cụ thể là các trường thuộc nhóm thấp
Nên nhấn mạnh rằng những trường này có những hình thức khác nhau ở những nước khác nhau,
và không có một cấu trúc có thể áp dụng một cách phổ quát cho những hệ thống ñược ña dạng hóa.44 Nguyên tắc trọng yếu của một hệ thống ba lớp ñược nắm bắt trong khung dưới ñây
BOX 1 | Các nhóm trường tập hợp thành một hệ sinh thái giáo dục ñại học ña dạng
Các trường ñại học nghiên cứu ñỉnh cao Các trường ñỉnh cao có những liên kết quốc tế và gắn với dòng
chảy tri thức của quốc tế Nó thực hiện những nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, và ñạt ñược sự ưu tú trong nhiều chuyên ngành Những trường này có tính chọn lọc rất cao và ñào tạo những sinh viên giỏi nhất của ñất nước Nhiều người sau khi tốt nghiệp sẽ tiếp tục những chương trình ñào tạo cao học có tính chất tinh hoa Qua thời gian, các trường ñại học nghiên cứu ñỉnh cao sẽ xây dựng ñược những chuyên ngành mạnh Ở phần lớn các nước những trường này là trường công và ñược tài trợ rộng rãi bằng tài chính công; nó cũng ñồng thời là những tổ chức phi lợi nhuận Các trường ñỉnh cao ñóng vai trò dẫn ñầu trong hệ thống giáo dục quốc gia Tốt nhất là dùng các trường này ñể ñẩy mạnh tư duy sáng tạo và hợp
có các dự án xây dựng bốn trường “ñẳng cấp quốc tế”, tuy nhiên cũng báo hiệu ñịnh hướng chính sách về phía một
hệ thống ñược ña dạng hóa rõ hơn theo chiều thẳng ñứng , với một vài trường nghiên cứu ñỉnh cao ñứng trên các trường ñại học khác ðiều này ñược thể hiện trong Quyết ñịnh số 121/2007/Qð-TTg
44 Tapper và Palfreyman, 321-333.
Trang 25tác với các trường thuộc những cấp ựộ khác trong hệ thống, cũng như với hệ thống trung học và tiểu học.45
Các trường ựại học vùng Các ựại học vùng là tâm ựiểm của hệ thống giáo dục ựại học hiện ựại Sứ mạng cơ
bản của những trường này là ựào tạo một số lớn sinh viên ựại học và cao học ựể họ bước vào Ộgiai cấp bậc trung về chuyên mônỢ trong những lĩnh vực như nông lâm nghiệp, sản xuất, quản trị hành chắnh công, kỹ thuật và sư phạm, với ựịnh hướng ựáp ứng các nhu cầu của vùng và của ựịa phương.46 Các ựại học vùng thực hiện một số nghiên cứu có tắnh chất vận dụng, giúp phổ biến kiến thức trong cộng ựồng Những trường này
có một sứ mạng thực tiễn ựược bày tỏ hiển ngôn Các trường Khoa học và công nghệ ứng dụng có thể xếp vào loại này Ở Việt Nam, hầu hết các trường như thế là trường công
Các trường cao ựẳng và dạy nghề Các trường cao ựẳng hai hay ba năm trang bị cho sinh viên những kỹ
năng bậc trung cho nhu cầu lao ựộng hiện tại Họ có mối quan hệ mạnh mẽ với kinh tế và cộng ựồng ựịa phương Họ cũng mở rộng cửa vào ựại học cho một phân khúc lớn của dân số, nhất là những sinh viên nghèo, ựồng thời mang lại một con ựường ựạt ựến những bằng cấp cao hơn cho họ Các trường cao ựẳng giúp sinh viên nâng cao kiến thức và kỹ năng cơ bản, chuẩn bị cho một số người tiếp tục vào ựại học Các trường cao ựẳng mở rộng quy mô ựào tạo và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người thông qua những chương trình học tập suốt ựời, ựào tạo tại chức, và những khóa học dành cho người lớn Với quy mô nhỏ và ựôi khi nằm ở những vùng xa xôi hẻo lánh, những trường cao ựẳng này có thể hưởng lợi từ cái mà Tổ Công Tác gọi là Ộphổ biến học tậpỢ Ờ một kho dữ liệu về các chương trình ựào tạo dành cho những trường tương tự với nhau, một hệ thống công nghệ thông tin dùng chung, và những thiết bị cùng chia sẻ
Các trường nghề Trường nghề và các khoa cung cấp các chương trình ựào tạo kỹ thuật trong kinh doanh, y
khoa, luật và sư phạm Những trường này có thể là trường công hoặc trường tư và thường ựược thành lập trên cơ sở hợp tác với các ựối tác quốc tế Những chương trình liên kết ựào tạo bằng MBA ựặc biệt rất phổ biến ở Việt Nam
đào tạo từ xa Công nghệ thông tin và truyền thông mở ra cơ hội tiếp nhận giáo dục ựại học bằng cách tiếp
cận những sinh viên vì lý do xa xôi hay vì những lý do chuyên môn hay tài chắnh không thể theo học những trường ựược tổ chức theo kiểu truyền thống đào tạo từ xa có thể là một phương tiện có hiệu quả cao về mặt chi phắ, nhưng tiêu chuẩn chất lượng thường là có vấn ựề.47
III Th trưng và Nhà n c
Trong một hệ thống giáo dục ựại học ựa dạng, những kiểu trường tương tự cạnh tranh với nhau
quyết liệt ựể giành sinh viên và giành nguồn tài trợ trong một thị trường lành mạnhỜnhưng cũng
chịu sự giám sát, thường là của nhà nước, ựể bảo ựảm những hành vi cạnh tranh là theo hướng
ựạt ựược những mục tiêu có ắch lợi cho xã hội Vai trò thắch hợp của thị trường và của nhà nước
có lẽ là vấn ựề ựã làm nảy sinh một cuộc tranh luận sôi nổi nhất ở Việt Nam
Ý KIẾN | Nguyên đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Trân
Có một thị trường trong giáo dục là ựiều tất yếu ẦVì khách quan có cầu và có cung, thị trường cho hoạt
ựộng giáo dục ựại học ựã và ựang phát triển ở nước ta Quản lý nhà nước chậm trễ trực diện với thực tế này
45 điều này có thể bao gồm khuyến khắch hợp tác giữa các nhà quản lý, thực hiện những nghiên cứu ứng dụng, và ựưa ra những cách tiếp cận ựể giúp cứu vãn sự thiếu hụt (về phương pháp giảng dạy, quản lý ựiều hành, hay nội dung môn học).
46 Sachi Hatakenaka, Giáo dục ựại học cho thế kỷ ở Thổ Nhĩ Kỳ: Quy mô và Cấu phần (Higher Education in Turkey
for the 21st Century: Size and Composition), Ngân hàng Thế giới 2006, 36-39
47
đào tạo từ xa dựa trên Internet ở Việt Nam bị cấm ựối với các trường nước ngoài; các trường ựại học Việt Nam có các chương trình ựào tạo từ xa có cấp bằng, tổ chức ở các tỉnh, trong ựó phương tiện học là hàm thụ và gặp gỡ giảng viên không thường xuyên
Trang 26là tự gây cho mình những khó khăn lúng túng, và ngăn trở sự phát triển lành mạnh của thị trường Kêu gọi các thành phần kinh tế, các cá nhân ñầu tư vào giáo dục, dành những ưu ñãi về thuế, về ñất ñai nhưng “cấm lợi dụng các hoạt ñộng giáo dục vì mục ñích lợi nhuận” bằng rất nhiều ñiều kiện “phải xin” và “ñược cho”48,
là chưa ñủ, thoạt nhìn vào tưởng là chặt chẽ và kín kẽ, nhưng thực ra ñầy mâu thuẫn và khe hở.49
Cần phân biệt giữa “thị trường” trong giáo dục ñại học và “thương mại hóa” giáo dục ñại học Một thị trường thực hiện tốt chức năng của mình trong giáo dục ñại học sẽ cho phép cạnh tranh lành mạnh giữa các trường tương tự ñể giành sinh viên và nguồn tài trợ Các trường ñại học cạnh tranh ñể xây dựng uy tín mạnh mẽ trong sinh viên và giảng viên trong các chuyên ngành cụ thể
Họ cố gắng tuyển dụng những học giả có tính sáng tạo nhất, có năng suất cao nhất ñể tạo ra những công trình nghiên cứu tốt nhất Các trường tư cạnh tranh với các trường công Tất cả những ñiều này diễn ra trong khuôn khổ của các tiêu chuẩn và ñược giám sát Hiện ñại hóa việc quản trị ñại học trong một hệ thống giáo dục ñại chúng sẽ ñòi hỏi chúng ta phải công nhận vai trò của thị trường, và xây dựng một cơ cấu quy ñịnh phù hợp ñể nó có thể hoạt ñộng Thương mại hóa, về mặt khác, có nghĩa là mua và bán dịch vụ ñào tạo hoặc bằng cấp với ñộng cơ lợi nhuận
Ở Việt Nam, bộ khung pháp lý ñể ñiều tiết thị trường vẫn còn ở giai ñoạn sơ khai; trong lúc
thương mại hóa ñang là xu hướng thống trị ở cả hai thành phần ñại học công và tư ðể những nhân tố tích cực của một hệ thống theo ñịnh hướng thị trường có thể hình thành, nhà nước cần chống lại những khuynh hướng tiêu cực của thương mại hóa giáo dục
48 “Xin – cho” là một cụm từ tiếng Việt phổ biến ñể chỉ khuôn khổ kiểm soát quan liêu, thường là không rõ ràng, về
việc tổ chức mối quan hệ giữa nhà trường và nhà nước, trong ñó các trường phải xin phép nhà nước về từng quyết ñịnh trong việc tuyển sinh, ñào tạo, ngân sách, v.v
(1) ðem lại một kế hoạch và ñịnh hướng chiến lược tổng quát: Các nhà lãnh ñạo cấp vùng và cấp quốc
gia có trách nhiệm dẫn dắt hệ thống giáo dục một cách tổng quát, xây dựng những chiến lược khả thi nhằm ñạt ñược những mục tiêu thực tế Tổ Công Tác gọi ñây là “một cấu trúc phối hợp và hợp lý” cho hệ thống giáo dục ñại học
(2) Xây dựng quy ñịnh về chất lượng, về trách nhiệm giải trình và về sự minh bạch: Nhà nước xác ñịnh
các tiêu chuẩn cho các trường công và trường tư, buộc họ phải áp dụng thông qua hệ thống kiểm ñịnh chất lượng, ñánh giá hoạt ñộng, và kiểm toán nội bộ Theo Tổ Công Tác, “Các trường ñại học sẽ nở hoa kết trái trong một môi trường mà các quy ñịnh pháp lý khuyến khích sự ñổi mới và thành tựu, ñồng thời làm nản lòng sự tham nhũng, lãng phí và bóc lột những người học không ñược cung cấp ñầy ñủ thông tin”
(3) Hỗ trợ những chuyên ngành cốt yếu: Giáo dục ñại học và việc nghiên cứu khoa học có những lợi ích
Trang 27Chúng ta cần xác ñịnh rõ các trường dạy nghề vì lợi nhuận có vai trò nhất ñịnh trong một hệ thống giáo dục ñược ña dạng hóa Các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục vì lợi nhuận có thể mang lại ñào tạo chất lượng cao về kỹ năng vi tính, ngoại ngữ và quản trị kinh doanh Họ cạnh tranh trên cơ sở uy tín với sinh viên và các nhà tuyển dụng, do vậy trường nào tốt nhất sẽ có thể thu học phí cao nhất và tái ñầu tư vào cơ sở vật chất và ñội ngũ giảng viên Tuy nhiên, các trường vì lợi nhuận không thể thực hiện ñược hai nhiệm vụ hết sức cốt yếu Một là, họ sẽ không ñầu tư vào những ngành thâm dụng nhiều tiền trong khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, kỹ thuật và khoa học nhân văn Những trường ñại học ña ngành thực sự không thể trang trải nổi chi phí của mình trong thực tế nếu chỉ dựa vào học phí Một hệ thống giáo dục chạy theo lợi nhuận sẽ ñào tạo ra
quá nhiều kế toán viên và cử nhân ngoại ngữ – những lĩnh vực có thể kiếm ra tiền nhiều theo
quan ñiểm của sinh viên, cũng như không ñòi hỏi ñầu tư vào các phòng thí nghiệm và việc
nghiên cứu – và sẽ không ñào tạo ñủ các nhà xã hội học hay sinh học Hai là, các trường vì lợi
nhuận sẽ nhận sinh viên dựa trên khả năng trả tiền của người học, chứ không phải dựa trên phẩm chất và thành tích Mặc dù những hình thức trợ giúp tài chính khác nhau có thể giúp sinh viên vào ñược những trường này, nhìn chung một hệ thống chạy theo lợi nhuận sẽ loại trừ những sinh viên tài năng nhưng xuất thân trong gia ñình nghèo Bởi vậy, trong một hệ thống giáo dục ñại học ñược vận hành tốt, vai trò của các trường vì lợi nhuận nhất thiết nên ñược giới hạn trong một
số ngành ứng dụng
ðể có thể vận hành tốt những chức năng hết sức cốt yếu này, nhà nước cần tự ñịnh hướng mình
từ chỗ “kiểm soát” ñến chỗ “giám sát”.51 Chúng ta cần nhấn mạnh sự khác nhau giữa kiểm soát
và giám sát hay ñiều chỉnh Giáo dục ñại học Việt Nam bị kiểm soát cao ñộ Tự chủ ñại học vẫn hết sức hạn chế, với sự kiểm soát của Bộ GD&ðT về quyết ñịnh nhân sự, về việc ñào tạo và quản lý ñiều hành nhà trường, cũng như về tiêu chuẩn tuyển sinh Tuy nhiên, theo tự ñánh giá của Bộ GD&ðT, hiện ñang thiếu những quy ñịnh ñể bảo ñảm tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu mà các trường phải ñáp ứng hay phải tuân thủ triệt ñể theo luật ñịnh.52 Bộ GD&ðT cũng tự nhận là hết sức khó khăn trong việc giám sát hệ thống giáo dục hiện nay và ñó là hậu quả trực tiếp của
50 Chẳng hạn, ở Thái Lan, việc giảm sút hỗ trợ của nhà nước và cạnh tranh giữa các trường ñã dẫn ñến việc “các trường ñại học công sẽ phải hủy bỏ hoặc kết hợp lại những chương trình cấp bằng không có ñịnh hướng thị trường”
Gamon Savatsomboon, (“The Liberalization of Thai Education: Point of no return” [Tự do hóa trong Giáo dục Thái
lan: không thể lùi lại”] (Boston: Trung tâm Giáo dục ðại học Quốc tế, 2006),
http://www.bc.edu/bc_org/avp/soe/cihe/newsletter/Number42/p9_Savatsomboon.htm
51 Tổ Công Tác ñã rút ra sự phân biệt này như sau: “Sự kiểm soát của nhà nước ñối với giáo dục ñại học có khuynh hướng chôn vùi nhiều nguyên tắc cơ bản của quản trị hiệu quả” Trái lại “Sự giám sát của nhà nước có mục tiêu cân bằng giữa trách nhiệm của nhà nước nhằm bảo vệ và thúc ñẩy lợi ích công với nhu cầu của từng trường về tự chủ và
tự do học thuật” Tổ Công Tác, 53.
52 Báo cáo 760/BC-BGDðT, 10-11
xã hội mà chúng ta không thể có ñược nếu giao nó cho thị trường Giáo dục ñại học ñược giao phó cho một mình thị trường sẽ ñổ xô về những ngành học do thị trường ñịnh hướng.50 Việc ñem lại những chương trình ñào tạo và công trình nghiên cứu trong những ngành ít cám dỗ người học, từ khoa học kỹ thuật ñến văn hóa học và nghệ thuật là một loại lợi ích công ñòi hỏi phải có sự hỗ trợ của nhà nước
(4) Bảo vệ công bằng xã hội: Giáo dục ñại học là một phương tiện mạnh mẽ tạo ra thay ñổi xã hội Những
sinh viên tài năng từ những gia ñình nghèo cần có cơ hội ngang bằng với những sinh viên nhà giàu Những chương trình trợ giúp tài chính cho sinh viên mà mọi ñối tượng ñều có cơ hội tiếp cận, cùng với một hệ thống ñại học mở và có tính chất liên thông sẽ giúp bảo vệ sự công bằng trong cơ hội giáo dục
Trang 28việc thiếu các trọng tâm Nguyễn Minh Thuyết, ựại biểu Quốc hội cho rằng giao những nhiệm vụ này cho các trường ựại học sẽ giúp các nhà hoạch ựịnh chắnh sách giáo dục dành nỗ lực của mình cho việc giải quyết những vấn ựề ở tầm quốc gia
Sự nở rộ các chương trình liên kết, ựào tạo tại chức, ựào tạo từ xa là triệu chứng cho thấy những tiêu chuẩn ở cấp ựộ hệ thống yếu kém, kết hợp với sự kiểm soát quá ựáng của nhà nước, ựã khuyến khắch xu hướng thương mại hóa ở các trường công như thế nào Trong một nỗ lực duy trì
sự kiểm soát ựối với việc mở rộng hệ thống giáo dục, Bộ GD&đT quy ựịnh mức trần học phắ và chỉ tiêu tuyển sinh một cách nghiêm ngặt ựối với các trường; nhưng ựể ựáp ứng nhu cầu vô tận
về bằng cấp, các trường ựã mở ra ựủ mọi loại hình ựào tạo tại chức, từ xa, liên kết, nơi họ có thể thu học phắ cao hơn nhằm bổ sung cho ngân sách thiếu hụt của mình Một khi những hoạt ựộng này không bị giám sát có hiệu quả, sẽ xuất hiện những trường hợp tham nhũng trong ựào tạo như chúng ta có thể thấy qua nhiều trường hợp ựã ựược ghi nhận (xem Phần 2)
Tư nhân hóa là một chủ ựề nhạy cảm ở mọi quốc gia, và sự lên án Ộthương mại hóaỢ trong giáo dục phổ biến ở mọi nơi Tuy nhiên, phản ứng với thị trường diễn ra khác nhau ở các nước khác nhau: giáo dục có ựịnh hướng thị trường không ựơn giản có nghĩa là Ộchuyển hướng một chiều từ
Ổnhà nướcỖ (ựược hiểu là quan liêu và phi thị trường) sang Ổthị trườngỖ (ựược hiểu là phi nhà nước và hoạt ựộng như một tập ựoàn)Ợ54 Có thể rút ra một sự tương phản giữa ựổi mới có mục
ựắch nhằm tăng cường cạnh tranh trong một hệ thống do nhà nước giám sát và thực tế tư nhân
hóa với sự thiếu vắng các tiêu chuẩn ở tầm hệ thống Ở Tây Âu và các nước đông Á mới công nghiệp hóa, nhà nước ựã thử dùng áp lực thị trường ựể tạo cạnh tranh giữa các trường, chuyển vai trò của nhà nước từ kiểm soát sang giám sát.55Trái lại, ở Việt Nam, Trung Quốc và Ấn độ, tư nhân hóa tự nó về cơ bản là biểu lộ việc nhà nước chuyển giao trách nhiệm của mình trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục hoặc trách nhiệm về tài chắnh cho các gia ựình, các trường tư hay chắnh quyền ở các ựịa phương.56 Viết về sự thay ựổi cơ cấu quản trị ựại học ở đông Á, K.H Mok
53 Lan Anh và Ngọc Lành, ỘChất lượng giáo dục ựại học: Vướng ở ựâu? Và giải thế nào?Ợ, Nhà Báo và Công Luận,
12-11-2009, nao/C55CE8F57B636A40/.
http://congluan.vn/Item/VN/Vandehomnay/Chat-luong-Giao-duc-Dai-hoc:-Vuong-o-dau-va-Giai-the-54 Ka-Ho Mok, 216.
55 World Bank, 2003, 67, 72 Jamil Salmi, Ộ Autonomy From the State vs Responsiveness to MarketsỢ [Quyền tự
chủ ựối lại với ựào tạo theo nhu cầu thị trường], Chắnh sách Giáo dục đại học tập 20 (2007): 223-242.
56
Devesh Kapur cho rằng ở Ấn độ, thương mại hóa ựã núp dưới hình thức Ộtư nhân hóaỢ, không phải như kết quả của một chắnh sách thận trọng, mà là do nhà nước mất khả năng ựiều khiển ỘKết quả là, nó là một hình thức tư nhân hóa, trong ựó nhận thức luận và những cột trụ của nhà trường còn rất yếuỢ Devesh Kapur and Pratap Bhanu Metha,
Ý KIẾN | đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết
Là cơ quan quản lý nhà nước, Bộ phải làm những công việc sau: Một là ban hành hoặc tham mưu ựể cấp
có thẩm quyền ban hành chắnh sách và văn bản quy phạm pháp luật Thứ hai, tổ chức thực hiện chắnh sách, thi hành pháp luật Thứ ba, là kiểm tra, thanh tra, xử lý đấy là nhiệm vụ quản lý nhà nước Hiện nay, Bộ ựang làm thay các trường quá nhiều, cho nên việc to thì không làm ựược (như việc xây dựng quy chuẩn, tiêu chuẩn), trong khi ựó, lại căng ra làm những việc nhỏ như tổ chức các kỳ thi tốt nghiệp THPT, tuyển sinh đH,Ầ đấy là việc của cơ sở, không phải việc của Bộ53
Trang 29cho rằng:
So sánh và ựối lập giữa các dự án thị trường hóa và tư nhân hóa trong các nước [đông Á] này, chúng
ta có thể cho rằng ựối với Hồng Kông và Singapore, chiến lược cải cách theo hướng thị trường hóa là nhằm nâng cao hiệu quả hoạt ựộng của các trường, chứ không chỉ ựơn thuần là vấn ựề giải quyết những khó khăn về tài chắnh; trong lúc ựó thị trường hóa giáo dục ựại học ở Trung Hoa lục ựịa cơ bản
là ựể giải quyết vấn ựề năng lực còn hạn chế của hệ thống trong việc cung cấp các dịch vụ giáo dục ựại học cho người dân 57
Cải cách ựại học ở Tây Âu rơi vào loại thứ nhất đức và Pháp, những nước có nhiều trường ựại học nghiên cứu lâu ựời và nổi tiếng, cũng ựang tìm cách cứu vãn tình trạng lạc hậu về nghiên
cứu và quá ựông sinh viên trong một lớp bằng cách áp dụng cạnh tranh giữa các trường Ờ một
ựiều xưa nay chưa hề có.58
Ở hai quốc gia này tồn tại một truyền thống lâu ựời xem giáo dục ựại học như một thứ quyền căn bản của người dân và các trường ựại học ựược xem như cơ quan nhà nước Cả hai nước này ựang giao quyền tự chủ cho hiệu trưởng các trường ựại học về nhân sự và tài chắnh, thúc giục họ tìm kiếm các nguồn tài chắnh từ bên ngoài, xây dựng liên kết với các doanh nghiệp, và gia tăng các kết quả nghiên cứu Những chắnh sách khắch lệ thành tắch hoạt
ựộng ựang ựược sử dụng thay thế cho việc bao cấp tràn lan trước ựây với một tinh thần mới:
Ộvăn hóa dựa trên kết quảỢ59 Một bộ phận của quá trình chuyển ựổi này là gia tăng sự phân tầng giữa các trường ựại học Ở đức, nơi tất cả các trường xưa nay ựược ựối xử ngang nhau, nhà nước
ựang tập trung nguồn lực vào một vài trường hàng ựầu thông qua cạnh tranh về ỘSáng kiến tạo ra
sự Ưu tú.Ợ60
IV đào to theo nhu cu
Việt Nam muốn tạo ra một hệ thống giáo dục ựại học nhằm ựào tạo nguồn nhân lực cho sự tăng trưởng ựang tiếp diễn của quốc gia và cho phát triển con người Như ựã trình bày ở phần trên, một sự sắp xếp ựa dạng các loại hình trường phục vụ cho những ựối tượng sinh viên và nhu cầu thị trường lao ựộng khác nhau sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giữa kỹ năng ựược dạy trong trường
ựại học với ựòi hỏi của thị trường Từ năm 2007 khi Bộ GD&đT khởi ựầu chiến dịch Ộựào tạo
theo nhu cầu xã hộiỢ, nhiều việc ựã ựược thực hiện theo trách nhiệm của nhà nước nhằm xác
ựịnh nhu cầu hiện nay của các doanh nghiệp và dự ựoán nhu cầu của tương lai.61
đáp ứng nhu
Cải cách Giáo dục đại học Ẩn độ: Từ chủ nghĩa xã hội chưa chắn chắn ựến chủ nghĩa tư bản chưa chắn chắn (Indian Higher Education Reform: From Half-Baked Socialism to Half-Baked Capitalism.), 1.
57 K.H Mok, ỘSimilar Trends, Diverse Agendas: Higher Education reforms in East AsiaỢ[ỘNhững xu hướng tương
tự, những quy hoạch ựa dạng: Cải cách giáo dục ựại học ở đông ÁỢ] Globalisation, Societies and Education tập 1,
Trang 30cầu của xã hội sẽ là một nguyên tắc quan trọng của những cải cách sắp tới, bởi vậy sẽ rất hữu dụng khi phân biệt ba loại nhu cầu kinh tế và xã hội khác nhau
Một là, có những ựòi hỏi hiện tại của khu vực doanh nghiệp Một nền giáo dục thực sự ựược ựịnh hướng theo nhu cầu sẽ không ựược quyết ựịnh từ trên xuống, mà là ựược thiết kế theo những nhu cầu thực tế của cộng ựồng và của các doanh nghiệp Các trường ựại học ựáp ứng tốt với xã hội và kinh tế có một cơ chế tổ chức ựể cảm nhận ựược những thay ựổi trong sinh viên, trong xã hội và nhu cầu của thị trường lao ựộng ựể cập nhật chương trình ựào tạo cũng như các ngành ựào tạo của mình theo những thay ựổi ựó.62 Những cuộc khảo sát về lao ựộng do nhà nước tài trợ có thể
ựẩy mạnh thêm quá trình này.63 Những mối liên kết ựược coi là quan trọng nhất nằm ở các
trường thuộc nhóm thứ hai và thứ ba của hệ thống giáo dục Ờnhững ựại học vùng, những trường
cao ựẳng cộng ựồng và những trường kỹ thuật Chất lượng, vấn ựề ựược coi trọng ở những trường ựược giao nhiệm vụ phục vụ cộng ựồng này, có thể ựóng một vai trò trọng yếu trong việc
ựáp ứng ựòi hỏi của các doanh nghiệp về lực lượng lao ựộng trình ựộ cao
Tuy có một số ngoại lệ ở mọi cấp, các trường ựại học, cao ựẳng Việt Nam có khuynh hướng tách rời với nhu cầu của các doanh nghiệp.64 Các doanh nghiệp nói chung không thấy trường ựại học
là một nguồn tri thức kỹ thuật mới nhất và ngược lại các trường ựại học, các trường nghề cũng không có những thông tin cập nhật về nhu cầu của khu vực doanh nghiệp Các trường nghề và trung cấp kỹ thuật trong hệ thống giáo dục nói chung có trách nhiệm trong việc cung cấp lực lượng lao ựộng trình ựộ trung cấp cho nhu cầu của thị trường Việt Nam ựã có những cố gắng giúp các trường có nhiều thông tin hơn về nhu cầu của các doanh nghiệp thông qua những hội thảo và ựợt vận ựộng theo kiểu chiến dịch Một chiến lược ựưa các doanh nghiệp tham gia trực tiếp hơn vào giáo dục, thông qua các chắnh sách yêu cầu các công ty ựào tạo người lao ựộng của mình, và ngược lại, gắn trực tiếp vai trò tư nhân vào cơ cấu quản trị của nhà trường, có lẽ sẽ thắch hợp.65
Vấn ựề thứ hai là, trong một môi trường mà ựòi hỏi về các kỹ năng ựang thay ựổi nhanh chóng, những kỹ năng mềm của Ộthế kỷ 21Ợ sẽ cần nhiều ựiểm nhấn hơn, nhất là ở một trình ựộ giáo dục
mà mục ựắch của nó là tạo ra những người có khả năng sẵn sàng trong công việc cho thị trường lao ựộng Nói hẹp hơn, ựào tạo theo nhu cầu không thể ựược coi như một triết lý giáo dục tối thượng Tuy cần nhiều thời gian ựể xây dựng ựược các chương trình ựào tạo, các kỹ năng chuyên ngành có thể trở thành lỗi thời rất nhanh, trên cơ sở những xu hướng công nghệ và thị trường mà
64 Trần Ngọc Ca và Nguyễn Võ Hùng, Ộ Sự biến ựổi vai trò của các viện hàn lâm trong nền kinh tế tri thức: trường hợp Việt NamỢ , Lund University Research Policy Institute 2/2008, http://www.fpi.lu.se/_media/en/
research/UniDev_DP_Vietnam.pdf.
65 Ian Coxhead và các ựồng tác giả, ỘLao ựộng và tiếp cận việc làm thị trường lao ựộng: Việc làm và đô thị hoá ở Việt Nam ựến năm 2020: Học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế,Ợ Dự án 00050577, Ộđóng góp xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế Ờ xã hộiỢ, 12-2009
Trang 31các công ty không thể dự ựoán trước Các doanh nghiệp không thể lúc nào cũng xác ựịnh ựược chắnh xác những kỹ năng mà họ muốn sinh viên tốt nghiệp phải có; hoặc họ sẽ tìm kiếm những
kỹ năng chung, có tắnh chất nền tảng, ựối lập với những kỹ năng chuyên môn hẹp là cái mà họ có thể xây dựng trong quá trình làm việc Trong nhiều trường hợp, những lời phàn nàn của các doanh nghiệp Việt Nam về thời gian tái ựào tạo nhân viên mới ựã phản ánh sự thiếu hụt kỹ năng mềm của sinh viên, như tư duy sáng tạo, kỹ năng truyền thông và giải quyết vấn ựề, hơn là những kỹ năng cứng cụ thể Các chương trình ựào tạo cần bổ sung một mô hình học tập và kiến tạo tri thức cho mọi thành phần kinh tế điều này sẽ ựòi hỏi những nỗ lực nhằm thắch nghi các phương pháp dạy và học với sự gắn bó của sinh viên nhằm khắc ghi và củng cố thói quen phân tắch phản biện cũng như khả năng truy vấn và học tập suốt ựời
Cuối cùng, ựòi hỏi của thị trường hiện nay không nhất thiết dự ựoán ựúng cho ựòi hỏi của tương lai Nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn có xu hướng duy trì quy mô nhỏ và cạnh tranh trên cơ sở giá nhân công rẻ chứ không phải công nghệ mới Tuy nhà nước không thể dự ựoán tốt hơn so với các doanh nghiệp những kỹ năng kỹ thuật nào là cần thiết trong mười năm tới, nhưng nhà nước có thể ựem lại sự hỗ trợ ựặc biệt cho việc ựào tạo khoa học và kỹ thuật trước khi thị trường xuất hiện nhu cầu Theo Tổ Công Tác, ỘKhoa học và công nghệ về mặt nào ựó có ựặc
ựiểm của hàng hóa công Ờ và những lực lượng thị trường thường ắt có nhu cầu về nghiên cứu
khoa học hơn là xã hội mong muốn Do vậy chắnh phủ các nước (trong từng nước cũng như trong sự phối hợp với nhau) cần hành ựộng ựể bù ựắp những khiếm khuyết của thị trường.Ợ66Trong bài phân tắch về vai trò của giáo dục ựại học, cao ựẳng ựối với phát triển công nghiệp kỹ thuật cao ở một số nước, Sachi Hatakenaka kết luận:
Một ựiều hiển nhiên là có hai loại Ộựáp ứngỢ Một là nhằm ựáp ứng cho những nhu cầu hiện ựang tồn tại, và loại thứ hai, nhằm ựáp ứng cho những nhu cầu lường trước Loại trước là một vấn ựề các trường
có thể dễ dàng thực hiện Ờ mặc dù nó ựòi hỏi một số năng lực nhất ựịnh của tổ chức đáp ứng với những nhu cầu của tương lai thì khó hơn ựối với từng trường và thực ra thì ựó là nơi nhà nước phải có vai trò Nhiều chắnh phủ ựã ựóng một vai trò cốt yếu trong việc xây dựng những chương trình khoa học
cơ bản và ựào tạo kỹ thuật rất tốt trước khi thị trường có nhu cầu về những ngành ựó, và ựiều này ựã trở thành một sự ựầu tư quan trọng khởi sự cho một chuỗi các sự kiện mới có thể sẽ xảy ra.67
Khi những nước công nghiệp mới ở đông Á tiến ựến giai ựoạn sự tăng trưởng trong sản xuất buộc họ phải phổ biến những kỹ năng tinh tế hơn cho ựại bộ phận dân chúng, họ ựã tăng số sinh viên vào ựại học thông qua một hệ thống trường học ựa dạng với trọng tâm là ựào tạo khoa học
và kỹ thuật Trung Quốc gần ựây tập trung vào việc mở rộng hệ thống giáo dục ựại chúng và ựầu
tư vào việc ựào tạo khoa học và công nghệ trong một vài trường ựỉnh cao của hệ thống giáo dục Những nền kinh tế mới và tăng trưởng nhanh ở châu Âu chẳng hạn như Phần Lan hay Ai-len ựã thành lập những trường bách khoa lớn nhằm ựột phá vào bộ phận dịch vụ công nghệ cao.68Những kinh nghiệm này sẽ ựược thảo luận trong Phần Ba
ựầy ựủ trong ỘNhững nhân tố vô hình tạo ra sự ưu túỢ Dan Breznitz, ỘInnovation and the State: Political Choices
and Strategies for Growth in Israel, Taiwan and IrelandỢ [ Sáng kiến và Nhà nước: Sự Lựa chọn Chắnh trị và Chiến lược Tăng trưởng ở Israel, đài Loan và Ai-len], (New Haven: Yale University Press, 2007), 155-156.
Trang 32Như ñã ñề xuất trong phần trên về các chủ ñề cho cải cách giáo dục ñại học Việt Nam, trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ trình bày về vấn ñề giáo dục ñại học Việt Nam và khung chính sách
ñã tiến triển như thế nào trong việc ñáp ứng những yêu cầu của xã hội kể từ khi ðổi Mới cũng
như sẽ bàn về những sáng kiến chính sách trong tương lai
Trang 33Phần Hai: Vài nét sơ lược về hệ thống giáo dục ựại học Việt Nam
Tốc ựộ mở rộng của hệ thống giáo dục ựại học Việt Nam trong hai thập kỷ qua ựã vượt sự phát triển của hành lang pháp lý và quy phạm Tuy nhiên từ khi có Nghị quyết 14 năm 2005 việc soạn thảo luật ựã tăng tốc với việc ban hành các văn bản luật, các kế hoạch phát triển liên quan tới hầu hết mọi mặt, mọi cấp ựộ trong ngành giáo dục ựại học Việt Nam Phần Hai chú trọng ựến những thay ựổi gần ựây của hệ thống giáo dục ựại học và những sáng kiến chắnh sách mới kèm theo
Mở ựầu phần này trình bày những quan sát về mức ựộ mở rộng của hệ thống, các nhóm trường
và rào cản cho việc ựa dạng hóa các trường Phần tiếp theo phân tắch tiến triển của khung chắnh sách nói chung Phần cuối trình bày tình hình tài chắnh của giáo dục, với lưu ý cụ thể ựến vấn ựề
đà Nẵng, TP Hồ Chắ Minh, và Cần Thơ Chỉ riêng Hà Nội và TP HCM ựã chiếm 40% tổng số
các trường và khoảng 70% tổng số sinh viên.69 Hiện nay chỉ trừ một tỉnh, còn lại tất cả 62 tỉnh thành khác ựều có ắt nhất một cơ sở ựào tạo bậc ựại học hay cao ựẳng Tăng số lượng sinh viên
ựã trở thành một quan tâm lớn của nhà nước, và số sinh viên trong cùng thời gian trên ựã tăng từ
130.000 ựến trên 1,7 triệu Một nửa số sinh viên này là thuộc các chương trình ựào tạo Ộkhông chắnh quyỢ (một thuật ngữ chung ựể chỉ các loại hình ựào tạo hệ tại chức,ựào tạo từ xa, văn bằng 2Ầ) Tổng số sinh viên Việt Nam năm 2005 là 15% dân số trong ựộ tuổi học ựại học Ờ một sự gia tăng ấn tượng từ con số 2% trong những năm ựầu của thập kỷ 1990
Tuy số lượng sinh viên tăng lên nhanh chóng như vậy, kể từ năm 1987 số giảng viên chỉ tăng lên gấp ba lần Tỉ lệ sinh viên/giảng viên ựã tăng từ 6 lần trong năm 1990 ựến 13 lần trong năm 1995
và 29 lần trong năm 2000 Trong mười năm vừa qua tốc ựộ phát triển số lượng giảng viên ựã
ựược nâng cao hơn Tuy vậy, trong năm 2009 tỉ lệ sinh viên trên giảng viên vẫn còn là 28/1
Giảng viên có bằng thạc sĩ hiện nay chiếm 37,3% tổng số giảng viên trong các trường ựại học Ờ cao ựẳng; và số giảng viên có bằng tiến sĩ chỉ chiếm 10%.70
69 Số trường này tắnh ựến năm 2009, Báo cáo của Bộ GD&đT 760 tr 17 Số sinh viên dựa trên tài liệu 2004 VHLSS, trắch dẫn trong Ngân hàng Thế giới 2008, 64.
70
Số giảng viên có bằng tiến sĩ tăng từ 4.471 năm 1999 lên ựến 6.217 năm 2008 nhưng trong vòng mười năm qua kể
từ năm 1999, tỷ lệ chung số giảng viên ựại học có trình ựộ tiến sĩ trong thực tế ựã giảm từ 14,75% năm 1999 xuống còn 10,16% năm 2008.
Trang 34Bảng 1: Sự gia tăng số lượng giảng viên, sinh viên, và số trường ñại học71
nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên và Nhi ñồng của Quốc hội, nói:“Quy mô và
cơ cấu ngành nghề ñào tạo của hầu hết các trường mới thành lập ñều do các trường tự quyết
ñịnh, không cần xem xétnhu cầu thực tế”72
B Các loại hình trường
Có một sự phân công lao ñộng trong gần 400 trường ñại học, cao ñẳng Việt Nam Các ðại học Quốc gia và một số ít trường ñào tạo chuyên ngành giữ vị trí cao nhất trong hệ thống Có một nhóm nhỏ các trường ñại học vùng ña ngành quy mô lớn ða số các trường ñại học – cao ñẳng thiên về dạy nghề, nhiều trường trong số các này mới ñược thành lập hay nâng cấp và một số là trường ngoài công lập Bên cạnh nhóm này là những chương trình ñào tạo “không chính quy” ñã nói ở trên và nảy nở nhanh chóng trong những năm gần ñây Trong phần này chúng tôi sẽ ñưa ra một tóm tắt khái quát về những loại trường chủ yếu ñã cấu thành hệ thống giáo dục ñại học Việt Nam ngày nay
a Các trường ñại học ñỉnh cao
71 Bộ GD&ðT, ðề án “ðổi mới cơ chế tài chính giáo dục 2009 – 2014”, 2009,
http://moet.gov.vn/?page=1.24&view=1242 và tính toán của các tác giả
72
Mở trường dễ dãi: không nên thương ñịa phương kiểu ñó”, VietnamNet, 16-04-2010,
http://vietnamnet.vn/chinhtri/201004/Mo-truong-de-dai-Khong-nen-thuong-dia-phuong-kieu-do-904777/
Trang 35Các ðại học Quốc gia Việt Nam ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh ñã ñược thành lập giữa thập kỷ
1990 bằng cách tập hợp các trường ñại học hiện ñang hoạt ñộng lại thành hai trường ñại học nghiên cứu ña ngành mới Giám ñốc các ðại học Quốc gia do Thủ tướng trực tiếp bổ nhiệm, và những trường này có nguồn ngân sách ñược phân bổ dồi dào hơn so với các trường khác Một số trường thành viên của các ðại học Quốc gia là những trường có uy tín cao ở Việt Nam, ví dụ như
ðại học Bách khoa TP HCM (thuộc ðại học Quốc gia TP HCM) Bên cạnh các ðại học Quốc
gia là một số các trường ñào tạo chuyên ngành như ðại học Ngoại thương Hà Nội, Học viện Ngoại giao Việt Nam và Học Viện Quân Y Những trường này thu nhận những sinh viên có năng lực tốt qua kỳ thi tuyển sinh ñại học quốc gia có tính cạnh tranh rất cao
Các trường ñại học hàng ñầu của Việt Nam còn yếu kém về nghiên cứu khoa học và có khuynh hướng bị tách rời với dòng chảy tri thức toàn cầu So sánh với các nước khác trong khu vực, Việt Nam không có nổi dù chỉ là một trường có chất lượng ñược quốc tế công nhận Trong một bài báo năm 2010, Giáo sư Phạm Duy Hiển cho thấy toàn bộ hệ thống nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam, bao gồm cả các trường ñại học và các viện nghiên cứu (nơi nhận khá nhiều ngân sách nghiên cứu và phát triển từ nguồn tài chính công), có số lượng bài viết ñược
ñăng trên các tạp chí có bình duyệt quốc tế ít hơn so với một trường ñại học hàng ñầu của Thái
Lan.73 Giáo sư Hiển thấy rằng ñiểm mạnh của các trường ñại học nghiên cứu Việt Nam chủ yếu
là trong lĩnh vực toán học và vật lý lý thuyết–những lĩnh vực mà ông cho rằng ít quan hệ ñối với
những thách thức về vấn ñề con người, kinh tế và môi trường mà Việt Nam phải ñương ñầu trong quá trình phát triển của mình Năng lực trong nước về nghiên cứu trong các lĩnh vực liên
quan ñến những sản phẩm xuất khẩu trọng yếu của Việt Nam–nông nghiệp, chế biến thực phẩm, tài nguyên thiên nhiên–cũng như dược phẩm, hải dương học và khoa học về không khí ñều rất
yếu kém.”74
Kết quả hoạt ñộng nghiên cứu nghèo nàn của các trường ñỉnh cao ở Việt Nam phần lớn có thể
ñược quy cho chính sách ñối với giảng viên Mức lương chính thức thấp khiến giảng viên dành
quá nhiều thời gian cho việc giảng dạy, thường là trong những chương trình ñào tạo liên kết hoặc các hệ ñào tạo không chính quy ở các tỉnh xa hoặc ở các trường tư.75 Giảng viên ñược tưởng thưởng do việc giảng dạy càng nhiều càng tốt trong khi họ không có hoặc có rất ít khuyến khích tham gia nghiên cứu khoa học ðiều này tạo ra cái mà Giáo sư Hoàng Tụy gọi là “nghịch lý lương/thu nhập”, khi lương chính thức chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng thu nhập của giảng viên.76 Tác ñộng tiêu cực của chính sách lương có thể thấy rõ trong nhiều vấn ñề của toàn bộ hệ thống giáo dục, nhưng ñặc biệt không có tác dụng tốt trong các trường ñại học nghiên cứu, nơi
mà khối lượng công việc giảng dạy cần giảm ñi ñể tạo ñiều kiện cho việc tìm tòi khoa học và tri thức
Mức ñộ tự chủ thấp và trách nhiệm giải trình kém ñã làm giảm hiệu quả của các trường ñại học
73 Các trường ñại học Thái Lan cũng có tỉ lệ trích dẫn trung bình cao, và tỉ lệ các tác giả nội ñịa cao tương ứng, ñiều
ñó cho thấy số lượng nghiên cứu ở các trường Thái Lan tương phản với tại các trường nước ngoài ở Thái Phạm Duy Hiển, 7.
74 Phạm Duy Hiển, 8.
75 University Lecturers living on… extra jobs,” Vietnamnet, 04 September 2009,
http://english.Vietnamnet.vn/education/2009/09/866925/ “Giảng viên ñại học có sống ñược bằng lương?” 6-9-2009 http://www.sgtt.com.vn/detail55.aspx?ColumnId=55&newsid=56442&fld=HTMG/2009/0903/56442
76 Hoàng Tụy, “Năm mới, chuyện cũ”, Tia Sáng, 2-2007.
Trang 36vùng và ựại học ựỉnh cao của Việt Nam Các ựại học và viện nghiên cứu của Việt Nam vẫn ựang chịu sự kiểm soát hành chắnh của một hệ thống tập trung cao ựộ Nhiều quyết ựịnh liên quan ựến những hoạt ựộng cốt lõi của nhà trường, như số lượng sinh viên ựược tuyển, lương giảng viên, học hàm học vị, chương trình ựào tạo ựều ựược xác lập bởi các nhân tố bên ngoài Hệ thống này trong thực tế ựã coi trường ựại học là một ựơn vị hành chắnh của nhà nước đồng thời, các trường ựược che chắn khỏi sự cạnh tranh và không bị buộc phải ựạt ựược những tiêu chuẩn hoạt
ựộng tối thiểu, hay phải tuân thủ một cơ chế trách nhiệm giải trình nào Việc cung cấp ngân sách
không thực sự gắn với kết quả hoạt ựộng của nhà trường, hiệu trưởng hiếm khi nào bị thay thế Các trường cũng không hề cảm thấy áp lực cạnh tranh trong việc thu hút sinh viên, bởi vì nhu cầu theo học ựại học còn cao
Năng lực quản lý và quyền tự chủ ựại học hạn chế của các trường ựã khiến giới doanh nghiệp không quan tâm tới việc xây dựng quan hệ với các trường ựại học, và các trường cũng có rất ắt phát minh sáng chế có thể thương mại hóa Trong một báo cáo về vai trò của các trường ựại học
ở Việt Nam trong hệ thống ựổi mới công nghệ, Trần Ngọc Ca và Nguyễn Võ Hưng cho rằng hầu
hết các hoạt ựộng phát minh sáng chế ựổi mới công nghệ ở các công ty, xắ nghiệp là:
Ầkhông có cơ sở khoa học mà về bản chất chỉ là giải pháp tình thế ẦVới kiểu ựổi mới này Ầ giới khoa học cần có khả năng hỗ trợ cho việc cải tiến công nghệ ở các xắ nghiệp một cách hiệu quả Cho ựến nay lý
do khiến họ chưa làm ựược ựiều ựó, là vì các trường và các tổ chức quản lý chúng có trách nhiệm rất hạn chế Kết quả là sự khập khiễng rõ ràng giữa sản xuất với bộ phận khoa học kỹ thuật trong hỗ trợ cho cải tiến kỹ thuật , có lẽ không có gì ựáng ngạc nhiên khi nhiều doanh nghiệp muốn tự mình làm nghiên cứu và hợp tác với các ựối tác kinh doanh của họ.77
Những mối liên hệ giữa các doanh nghiệp và giáo sư có khuynh hướng không chắnh thức và tùy thuộc vào quan hệ cá nhân, hoặc có ựộng cơ là những khoản thu nhập ngắn hạn cho nhà trường
Cổ phần hóa các trường ựại học công lập ựược ựề xuất và ựược coi là một biện pháp giải quyết cho tình trạng lỏng lẻo trong quan hệ giữa nghiên cứu trong các trường ựại học và hoạt ựộng của các doanh nghiệp.78 Tuy nhiên, các trường ựại học nghiên cứu trên thế giới ựều hoạt ựộng như những tổ chức không vì lợi nhuận, bất kể ựó là trường công hay trường tư, bất kể trọng tâm của
họ là nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu có tắnh chất thương mại Các trường vì lợi nhuận sẽ không coi nghiên cứu là ưu tiên; nhu cầu của họ là lợi nhuận, ựiều không thể có từ những nghiên cứu khoa học chuyên sâu và tốn kém
Tóm lại, một số các trường ựại học hàng ựầu của Việt Nam tuy có cung ứng chất lượng ựào tạo cao cho một số sinh viên ựại học ựặc biệt thông minh, nhưng không thực hiện ựược những nhiệm
vụ trung tâm liên quan tới nghiên cứu khoa học, giúp Việt Nam áp dụng những tiến bộ của tri thức thế giới và tạo ra những tri thức có thể ựóng góp cho sự phồn vinh và thịnh vượng của xã hội
Có một vấn ựề là hiện nay không thấy rõ những trường nào hiện ựang ựược coi là thuộc những trường hàng ựầu đánh giá qua tình trạng ảm ựạm về năng lực nghiên cứu của Việt Nam, thì thử nghiệm về các ựại học quốc gia không phải là thành công cho lắm79 Nhà nước ựã chỉ ựịnh mười
Trang 37bốn trường Ộựại học trọng ựiểm quốc giaỢ ựể trở thành các trường ựại học nghiên cứu, bao gồm các đại học Quốc gia, một vài Ộựại học vùngỢ như Huế, Cần Thơ và Thái Nguyên; và một số trường ựại học chuyên ngành ở cấp quốc gia như đại học Kinh tế Quốc dân, đại học Sư phạm
TP Hồ Chắ Minh, và đại học Nông nghiệp Hà Nội Các trường ựại học khác thực chất là các trường ựại học dạy nghề và thuộc cấp tỉnh, nhưng phải tuân thủ theo cùng những quy ựịnh về
ựịnh mức số giờ tối thiểu dành cho nghiên cứu Sự phân loại này thêm rối do sự tham gia quản lý
của nhiều bộ khác nhau Giáo sư Phạm Phụ thấy rằng có sự khác biệt khá lớn giữa những loại trường chắnh thức ựược chỉ ựịnh là ựại học nghiên cứu ở Việt Nam:
Trong khi ựó, nhà nước cũng xác ựịnh rõ rằng các trường hiện hữu không thể là nền móng cho
việc xây dựng các trường ựại học nghiên cứu ựỉnh cao tầm cỡ quốc tế mà ựất nước ựang cần và
ựã có kế hoạch xây dựng từ bốn ựến năm trường ựại học nghiên cứu Ộkiểu mớiỢ với ắt nhất 500
triệu ựô-la Mỹ vay ựa phương, những trường ựược mong ựợi là sẽ ựạt tới vị trắ top 200 của thế giới trước năm 2020 (ở Hà Nội, đà Nẵng, TP Hồ Chắ Minh và Cần Thơ) Trường ựầu tiên trong
số này, đại học Việt đức, ựã ựi vào hoạt ựộng Các trường ựỉnh cao tinh hoa vô cùng tốn kém,
và hầu hết các nước chỉ có một vài trường có thể ựếm trên ựầu ngón tay như thế Chúng tôi ựã từng cho rằng cải cách cơ chế quản trị sẽ là mấu chốt ựể tạo ra một trường ựại học nghiên cứu tinh hoa ở Việt Nam để tăng cường những ựiều kiện về cơ chế quản trị thắch hợp, cung cấp tài chắnh ựầy ựủ cho nghiên cứu và phòng thắ nghiệm, và ựể thu hút ựược những giảng viên xuất sắc, Việt Nam sẽ cần tập trung cho việc xây dựng chỉ một hay hai trường ựại học như thế
b Các trường ựại học vùng
Việt Nam có một số những trường ựại học vùng ựa ngành ựược xây dựng khá vững mạnh, trong
ựó một vài trường có uy tắn cao trong việc gắn với nghiên cứu và ựào tạo ở ựịa phương Trường đại học Cần Thơ lấy trọng tâm quan trọng về khoa học nông nghiệp, rất phù hợp cho ựịa phương
của trường là khu vực ựồng bằng sông Cửu Long Trường đại học Nha Trang dẫn ựầu về ngành nuôi trồng thủy sản Các trường ựại học ở đà Nẵng và Huế thu hút sinh viên của cả miền Trung Như ựã miêu tả trên ựây, không có một chắnh sách rành mạch phân biệt rõ ràng các trường ựại học ựỉnh cao với các trường tập trung vào ựào tạo và các ựại học vùng thiên về ứng dụng Các trường ựại học vùng có những hạn chế về nguồn lực và phải chịu sự ựiều hành từ trung ương và
do vậy hạn chế về khả năng ựào tạo chất lượng cao cho một số lượng ựông sinh viên và phục vụ
80 Phạm Phụ, 11.
Ý KIẾN | Giáo sư Phạm Phụ
ỘThế nhưng [ở tầng các trường ựại học nghiên cứu này], có trường có mức chi phắ ựơn vị (CPđV) chỉ khoảng 300 Ờ 350 USD/SV, chỉ bằng khoảng 2/3 mức CPđV trung bình hiện nay trong cả nước, có trường có số SV chắnh quy chỉ chiếm 26,6% tổng số SV, có số SV Ộsau đHỢ chỉ chiếm khoảng 3% [trong tổng số sinh viên], có nhiều trường còn ựào tạo ở cấp cao ựẳng, có trường có tỷ lệ SV trên thầy giáo lên ựến trên 30/1, có một số trường có tỷ lệ tiến sĩ trên giảng viên chỉ khoảng trên dưới 10% Ợ80
Trang 38cho các nhu cầu ñịa phương Câu chuyện về ðại học An Giang, một trong những trường ñại học vùng năng ñộng nhất Việt Nam, là một minh họa Phụ lục 1 của bản báo cáo này là bài viết của người sáng lập và hiệu trưởng danh dự của ðại học An Giang, Giáo sư Võ Tòng Xuân Trong bài này, Giáo sư Xuân ñã phản ánh tác ñộng của sự kiểm soát của trung ương ñối với hoạt ñộng của các trường Ông cũng cho thấy tình trạng kém hợp tác giữa các tỉnh cũng có thể ngăn cản sự phát triển của các trường ñại học mới, thực sự mang tính khu vực Trường ðại học An Giang ñược thành lập năm 2000 với nhiệm vụ trở thành một ñại học vùng thứ hai trong vùng ñồng bằng sông Cửu Long;81 nhưng ñến 2003, các tỉnh lân cận ñã thành lập ñại học riêng của họ, thực chất ñã khiến An Giang trở lại thành một ñại học của tỉnh
Các trường ñại học kỹ thuật và ñại học vùng cần nhắm vào việc ñào tạo cho số ñông sinh viên trong nhiều lĩnh vực khác nhau Với nỗ lực phân hóa rõ hơn về sứ mạng, Việt Nam ñã nhấn mạnh giáo dục ñại học ñịnh hướng nghề nghiệp Lộ trình cải cách Giáo dục ñại học ñưa ra sự phân biệt giữa ñào tạo nghiên cứu và ñào tạo ñịnh hướng nghề nghiệp và ñặt mục tiêu có 70–80% sinh viên trong các trường ñào tạo nghề và các ngành ứng dụng Tuy nhiên, những sáng kiến nhằm xây dựng mối quan hệ sâu sắc hơn giữa các trường cao ñẳng kỹ thuật và ñại học với doanh nghiệp tại ñịa phương vẫn còn rất nhiều trở ngại, như Giáo sư Xuân ñã nêu ở phần trên Một bài viết của Giáo sư Nguyễn Minh Hồng về Chương trình Giáo dục ñại học ðịnh hướng
Nghề nghiệp Việt Nam–Hà Lan (PROFED) ñã minh họa những thách thức trong việc thực hiện
một chương trình ñịnh hướng nghề nghiệp ở một trường ñại học mới ñược nâng cấp gần ñây ở tỉnh Hưng Yên.82 Nhằm xây dựng những chương trình ñào tạo kỹ năng bậc ñại học trong lĩnh
Ý KIẾN | Giáo sư Võ Tòng Xuân
Có những quy ñịnh áp ñặt từ bên ngoài xác ñịnh bao nhiêu sinh viên trường ðại học An Giang
ñược phép tuyển hàng năm, học phí và thang lương ñược quyết ñịnh như thế nào Chúng tôi phải
dành một quỹ thời gian ñáng kể cho học quân sự và chính trị Chúng tôi gặp những hạn chế trong
việc ñưa ra các khóa ñào tạo ngắn hạn theo cách một trường ñại học cộng ñồng phải làm ñể phục
vụ cho những sinh viên lớn tuổi Trong chính sách tuyển sinh chúng tôi buộc phải theo kỳ thi
tuyển sinh quốc gia cứng nhắc và tốn kém Ai cũng biết là quy trình tuyển sinh ñại học hiện nay
tạo ra rào cản lớn cho sinh viên trên ñường vào ñại học; tuy thế ở phía sản phẩm ñầu ra, khi sinh
viên hoàn tất việc học của mình, thì có rất ít sự kiểm soát về chất lượng…
…Mặc dù ðại học An Giang vốn ñược coi là một ñại học vùng phục vụ cho nhiều tỉnh của ñồng
bằng sông Cửu Long, nhiều năm qua phần lớn sinh viên (khoảng 80%) vẫn là người ở tỉnh An
Giang Trong 4 năm ñầu, sinh viên từ các tỉnh ðồng Tháp, Kiên Giang tăng từ khoảng 2% ñến
ñỉnh cao 7–11% trong năm 2003 trước khi giảm xuống 2 – 4% năm 2009 … Có nhiều nhân tố
giải thích cho xu hướng này Trước hết, những sinh viên giỏi nhất có lẽ muốn học những ngành
có uy tín và có trình ñộ cao hơn (của ðại học Cần Thơ) Hai là, ñến 2004 hầu hết các tỉnh ở ñồng
bằng sông Cửu Long ñều ñã xây dựng trường ñại học của mình
Trang 39vực công nghệ thông tin và kỹ thuật ñiện, nhóm nghiên cứu PROFED ñã khảo sát rất kỹ các doanh nghiệp vùng ñồng bằng sông Hồng ñể xác ñịnh các kỹ năng của một kỹ sư mà các công ty trông chờ và lấy ý kiến góp ý của giới doanh nghiệp về việc cải cách chương trình ñào tạo của nhà trường Giảng viên ñược cho phép ñặc biệt ñể tự thiết kế chương trình giảng dạy, tăng cường
ứng dụng thực tế và học cách giải quyết vấn ñề cũng như làm việc nhóm và kỹ năng giao tiếp
Tuy nhiên, những rào cản về mặt thể chế ñể phổ biến rộng rãi những chương trình như vậy vẫn còn rất nặng nề Mặc dù các giảng viên trẻ rất nhiệt tình với chương trình và phương pháp giảng dạy mới, lương cơ bản ở mức thấp vẫn thúc ép giảng viên ñi dạy càng nhiều càng tốt ñể có thêm thu nhập và không khuyến khích ñầu tư cho thiết kế chương trình Sự cứng nhắc về mặt quản lý hành chính cũng khuyến khích tính thụ ñộng và khuynh hướng tuân theo chương trình khung của
Bộ GD&ðT Nguồn tài chính không ñủ cho các chương trình mới khiến rất khó duy trì những sáng kiến cải tiến nếu không tăng học phí trong các chương trình ñào tạo kỹ thuật hay các khóa
ñặc biệt.83 Bài báo của Giáo sư Hồng khẳng ñịnh: “Một cách cụ thể, chúng tôi kết luận rằng quá trình cải cách trong giáo dục ñại học ñòi hỏi những thay ñổi ở cấp khoa (từ dưới lên) là sự thay
ñổi từ nguyên tắc xem giảng viên là trung tâm ñến lấy sinh viên là trung tâm; và ở cấp trường là
sự thay ñổi từ quản lý bằng mệnh lệnh ñến hỗ trợ và ñáp ứng có chất lượng; nhưng những cải cách như thế chỉ có thể thành công khi thực hiện ñồng thời với những thay ñổi ở tầm hệ thống.”84
c Các chương trình ñào tạo sau ñại học và các hệ không chính quy
Những trường ñại học ñỉnh cao và ñại học vùng gắn chặt với những chương trình ñào tạo cao học
và phi chính quy ñang chịu rất ít sự giám sát Năm 1991, Việt Nam bắt ñầu tăng cường ñào tạo sau ñại học ðến năm 2009, số học viên cao học ñã tăng gấp bốn lần, từ 12.653 năm 2000 ñến 47.000 năm 2008; và số nghiên cứu sinh tiến sĩ tăng hơn gấp ñôi, từ 2.581 ñến 5.900 Các chương trình hệ không chính quy và chương trình liên kết cấp bằng mọc lên như nấm Việc tuyển sinh vào các chương trình ñại học chính quy vẫn rất nghiêm ngặt, với chỉ 15% sinh viên vượt qua kỳ thi tuyển sinh vào ñại học, bởi vậy, những con ñường ít cạnh tranh hơn ñể vào ñại học sẽ rất hấp dẫn (tiêu chuẩn ñể ñược nhận vào học các chương trình thuộc hệ không chính quy này thì thấp hơn nhiều) Những chương trình ñào tạo tại chức, liên kết, từ xa này thường do một trường ở thành phố cùng với ñối tác là một trung tâm ñào tạo hay một trường cao ñẳng, ñại học ở
ñịa phương nào ñó, tổ chức cho sinh viên tại chỗ hoặc sinh viên các tỉnh Một số trường lớn,
trong ñó có các trường thành viên của ðại học Quốc gia và các trường trong số 14 trường trọng
ñiểm quốc gia, ñang vận hành hàng loạt những chương trình liên kết như thế trong phạm vi cả
nước.85
Các trường ñại học về mặt tài chính dựa vào các chương trình liên kết hoặc thuộc hệ không chính
quy này, nhất là lương bổ sung cho cán bộ giảng viên–một lý do khiến Bộ GD&ðT khó mà áp
ñặt sự kiểm soát về chất lượng.86
Tuy trần học phí và chỉ tiêu tuyển sinh ñối với các khóa ñào tạo
83 Có thể thấy nhiều rào cản tương tự ñã cản trở việc thực hiện Chương trình Tiên tiến ở một số khoa trong các trường ñại học Việt Nam và ñối tác Báo cáo của Nhóm ñặc trách giáo dục Việt Nam – Hoa Kỳ, 1-2009, Việt Nam.
84 Nguyễn Minh Hồng, 1.
85 Tuổi Trẻ, “Loạn liên kết ñào tạo: Bài 1: Cỡ nào cũng liên kết”, 23-2-2007.
86 Trả lời chất vấn của Quốc hội năm 2006, Bộ GD&ðT thừa nhận rằng “Hệ tại chức là nguồn thu chủ yếu của các trường ñại học hiện nay Chúng tôi nhận thức rõ thiếu sót của việc ñào tạo, nhưng giải pháp cho nó thì phải theo lộ trình Tiến quá nhanh tới việc kiểm soát chặt chẽ hơn sẽ làm ảnh hưởng tới “nồi cơm” của họ” Xem
http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2006/11/3B9F0C55/
Trang 40chắnh quy ựược quy ựịnh nghiêm ngặt ngay cả ựối với những trường ựược Ộtự chủ tài chắnhỢ87, thì những chương trình không chắnh quy này vẫn là chỗ tự do của các trường, trong ựó các trường ựược quyết ựịnh số lượng sinh viên ựược tuyển và mức thu học phắ.88 Các chương trình
ựào tạo tại chức, từ xa và liên kết ở nhiều trường có quy mô còn lớn hơn nhiều so với các chương
trình chắnh quy (Xem Bảng 1)
Bảng 2: Sinh viên nhập học theo hệ ựào tạo đại học Huế và đại học đà Nẵng 89
Chắnh quy Không chắnh quy Từ xa
Tiêu chuẩn ựào tạo ở các chương trình liên kết và chương trình hệ tại chức và ựào tạo từ xa có khuynh hướng thấp hơn so với các chương trình chắnh quy do cùng một trường tổ chức thực hiện: ựặc ựiểm của những chương trình này là quá ựông sinh viên, cơ sở vật chất nghèo nàn và thời gian lên lớp bị cắt xén.90 Một số chương trình liên kết kể cả những chương trình với ựối tác nước ngoài, có ắt hoặc không có quan hệ gì tới chuyên ngành ựào tạo của các trường.91
BOX 3 | Những chương trình ựào tạo không chắnh quy về ngành Luật
đào tạo luật là vắ dụ về một lĩnh vực tăng khủng khiếp của các chương trình ựào tạo không chắnh
quy.92 Việt Nam có 25 trường và viện có ựào tạo về luật, gồm các trường chủ yếu là ở Cần Thơ, TP Hồ
Chắ Minh, Hà Nội, Huế, đà Nẵng và Vinh cũng như các trung tâm ựào tạo liên kết Trong ựó có 5.600
sinh viên hệ chắnh quy; 14.000 là sinh viên tại chức, từ xa, văn bằng hai(10.000 trong các chương trình
tại chức, 3.000 từ xa, 1.000 trong chương trình văn bằng hai); và 540 là học viên cao học và tiến sĩ Nói
cách khác, khoảng 70% tổng số sinh viên ựang ựược tổ chức học vào cuối tuần, buổi tối, hay hàm thụ
Trong số 10.000 sinh viên theo học bán thời gian, nhiều người thi rớt trong kỳ thi tuyển sinh ựại học;
số còn lại là công chức nhà nước của các tỉnh Học phắ của hệ chắnh quy là 240.000 VND/tháng năm
2009, tương ựương khoảng 1,2 triệu VND/học kỳ, trong lúc hệ tại chức phải ựóng 2 triệu VND/học kỳ
và từ xa là 2,5 triệu VND/học kỳ Trường luật ở cả hai đại học Quốc gia Hà Nội và TPHCM tuyển
sinh chắnh quy và không chắnh quy với số lượng ngang bằng nhau (1600Ờ1800 sinh viên mỗi hệ)
Tình trạng ựào tạo không chắnh quy trong ngành luật minh họa mối mâu thuẫn trong hướng phân hóa
hiện nay ở Việt Nam Một mặt, những chương trình cấp chứng chỉ và bằng ựại học linh hoạt mang lại
ngoài ngân sáchỢ Thanh Nien, ỘTuyển sinh ngoài ngân sách thiếu công khaiỢ, 25-8-2009.
89 Nguyễn Ngọc Trân, ỘMột số vấn ựề của GD-DH ở Huế Ờ đà Nẵng), Báo đất Việt, 22-3-2010,
http://www.baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Mot-so-van-de-cua-GDDH-o-Hue Da-Nang/20103/85220.datviet.
90 ỘỘNở rộỢ ựại học Ộxé ràoỢ liên kết ựào tạoỢ, VietnamNet, 25-8-2009.
91
Tuổi Trẻ, ỘLoạn liên kết ựào tạo: Bài 1: Cỡ nào cũng liên kếtỢ, 23-2-2007 Tháng 1 năm 2010 báo Pháp Luật ựưa
câu chuyện về một chương trình liên kết ở TP Hồ Chắ Minh với 600 sinh viên, có vẻ như không có chút liên quan thực sự nào tới một trường ựại học nào cả.
92 Số liệu này lấy từ một cuộc khảo sát do UNDP tài trợ về ựào tạo ngành luật ở Việt Nam, thực hiện trong năm
2009, do Phạm Duy Nghĩa cung cấp cho các tác giả Xem thêm: ỘGần 50% sinh viên luật là thắ sinh trượt ựại học
chắnh quyỢ, VietnamNet, 18/3/2010
http://Vietnamnet.vn/giaoduc/201003/Gan-50-SV-luat-la-thi-sinh-truot-DH-chinh-quy-899425/
... data-page="25">tác với trường thuộc cấp ựộ khác hệ thống, với hệ thống trung học tiểu học. 45
Các trường ựại học vùng Các ựại học vùng tâm ựiểm hệ thống giáo dục ựại học ựại... class="page_container" data-page="32">
Như ñã ñề xuất phần chủ ñề cho cải cách giáo dục ñại học Việt Nam, phần chúng tơi trình bày vấn ñề giáo dục ñại học Việt Nam khung sách
đã tiến triển việc ñáp ứng yêu... tăng tốc với việc ban hành văn luật, kế hoạch phát triển liên quan tới hầu hết mặt, cấp ựộ ngành giáo dục ựại học Việt Nam Phần Hai trọng ựến thay ựổi gần ựây hệ thống giáo dục ựại học sáng kiến