BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG – SỨC KHỎE Ở VI
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG VIỆN KHOA HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
Tác giả: - ThS Nguyễn Hoàng Phương Lan;
- PGS.TS Phạm Văn Lợi;
- TS Đỗ Nam Thắng;
- TS Nguyễn Hải Yến
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ MÔI
TRƯỜNG – SỨC KHỎE Ở VIỆT NAM
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
PGS.TS Phạm Văn Lợi
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
ThS Nguyễn Hoàng Phương Lan
HÀ NỘI, NĂM 2012
Trang 2DANH SÁCH CÁN BỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Chủ nhiệm đề tài: ThS Nguyễn Hoàng Phương Lan - Viện Khoa học quản lý môi trường Danh sách người tham gia thực hiện đề tài:
1 PGS.TS Phạm Văn Lợi Viện Khoa học quản lý môi trường
2 TS Đỗ Nam Thắng Viện Khoa học quản lý môi trường
3 TS Nguyễn Hải Yến Viện Khoa học quản lý môi trường
4 ThS.Dương Xuân Điêp Viện Khoa học quản lý môi trường
5 ThS Nguyễn Thị Oanh Viện Khoa học quản lý môi trường
6 CN Tạ Thùy Linh Viện Khoa học quản lý môi trường
7 CN Nguyễn Thị Thu Thảo Viện Khoa học quản lý môi trường
8 CN Nguyễn Thị Ngọc Ánh Viện Khoa học quản lý môi trường
9 CN Trần Thu Hằng Viện Khoa học quản lý môi trường
11 ThS Vũ Thu Nga Chuyên gia sức khỏe môi trường
12 ThS Vũ Hải Nam Chuyên gia môi trường
13 ThS Tô Kim Oanh Trung tâm môi trường và phát triển cộng đồng
14 ThS Lê Đại Thắng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH, ẢNH TRONG BÁO CÁO 8
DANH MỤC BẢNG TRONG BÁO CÁO 9
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 10
BÀI TÓM TẮT 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1 Đặt vấn đề 14
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 16
1.2.1 Mục tiêu tổng quan của đề tài 16
1.2.2 Các mục tiêu cụ thể của đề tài 16
1.3 Cách tiếp cận của đề tài 17
CHƯƠNG 2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
2.2 Nội dung nghiên cứu 18
2.2.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe 18
2.2.2 Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái ở một số nước trên thế giới. 18
2.2.3 Phân tích, đánh giá hiện trạng áp dụng cách tiếp cận hệ sinh thái trong một số lĩnh vực ở Việt Nam. 19
2.2.4 Xác định các vấn đề môi trường-sức khỏe bức xúc hiện nay ở Việt Nam 19
2.2.5 Áp dụng thử nghiệm cách tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe của một làng nghề 19
2.2.6 Kinh nghiệm, đề xuất những điều chỉnh về thể chế, pháp lý để áp dụng phương pháp tiếp cận mới 20
2.3 Phương pháp nghiên cứu 20
CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG-SỨC KHỎE 22
3.1 Một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản 22
3.1.1 Hệ sinh thái 22
3.1.2 Môi trường sống của con người 22
3.1.3 Sức khỏe 23
3.1.4 Sức khỏe môi trường 23
3.1.5 Môi trường-sức khỏe 24
3.2 Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái 24
Trang 43.2.1 Khái niệm 24
3.2.2 Các nguyên lý cơ bản của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái 25
3.2.3 Các bước thực hiện tiếp cận hệ sinh thái 26
3.2.4 Điều kiện để vận dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái 31
3.2.5 Mối quan hệ giữa sức khỏe và hệ sinh thái 33
3.3 Cơ sở lý luận áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe 36
3.3.1 Khái niệm 37
3.3.2 Nội hàm của cách tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề môi trường-sức khỏe 38 3.3.3 Phạm vi ứng dụng của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề môi trường-sức khỏe 45
3.3.4 Khung nghiên cứu và các công cụ thiết yếu của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề môi trường-sức khỏe 46
3.4 Ưu và nhược điểm của việc áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái so với các phương pháp khác trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe 49
CHƯƠNG 4 KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ THỰC TIỄN TRIỂN KHAI ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƯỜNG-SỨC KHỎE TẠI VIỆT NAM 51
4.1 Trên thế giới 51
4.1.1 Định hướng chính sách và hành động ở cấp toàn cầu đối với hoạt động triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường - sức khỏe 51
4.1.2 Các lĩnh vực cụ thể áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề môi trường-sức khoẻ 54
4.2 Thực tiễn triển khai phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong một số lĩnh vực ở Việt Nam 58
4.2.1 Tiếp cận hệ sinh thái trong bảo tồn đa dạng sinh học 58
4.2.2 Tiếp cận hệ sinh thái trong môi trường nông-lâm-ngư nghiệp 61
4.2.3 Tiếp cận hệ sinh thái trong môi trường đô thị 65
4.2.4 Tiếp cận hệ sinh thái trong môi trường công nghiệp 68
4.2.5 Tiếp cận hệ sinh thái trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân 72
CHƯƠNG 5 CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG-SỨC KHỎE BỨC XÚC HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 74
5.1 Các vấn đề môi trường-sức khỏe bức xúc tại các khu đô thị, các vùng nông thôn, các khu công nghiệp 74
Trang 55.2 Nhận diện, phân tích những khó khăn, vướng mắc về cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý
của việc giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe 78
5.3 Xác định các ưu tiên trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe 81
CHƯƠNG 6 NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG – SỨC KHOẺ CỦA MỘT LÀNG NGHỀ TẠI VIỆT NAM 85
6.1 Lựa chọn làng nghề để áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường – sức khoẻ 85
6.1.1 Tổng quan về các vấn đề môi trường-sức khoẻ ở các làng nghề Việt Nam . 85
6.1.2 Các tiêu chí lựa chọn làng nghề áp dụng thí điểm phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường - sức khoẻ
6.1.3 Luận cứ khoa học và thực tiễn đối với việc lựa chọn làng nghề Tống Xá, Ý Yên, Nam Định để triển khai hoạt động thử nghiệm 91
6.2 Tổng quan các vấn đề môi trường – sức khoẻ tại làng nghề Tống Xá – làng nghề triển khai nghiên cứu điển hình 93
6.2.1 Giới thiệu chung 93
6.2.2 Thay đổi mô hình sử dụng đất và sinh thái do diễn biến dân số và gia tăng sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại làng nghề Tống Xá 94
6.2.3 Gia tăng chất thải và áp lực đối với các dịch vụ môi trường do diễn biến về phát triển kinh tế - xã hội tại làng nghề Tống Xá 95
6.2.4 Ô nhiễm môi trường và những tác động đối với sức khoẻ cộng đồng ở làng nghề Tống Xá……….97
6.3 Mục tiêu của chương trình áp dụng và các tiêu chí đánh giá hiệu quả 99
6.3.1 Mục tiêu và khung logic cho chương trình áp dụng 99
6.3.2 Đánh giá nguồn dữ liệu 101
6.3.3 Kế hoạch quan trắc môi trường và các chỉ tiêu đánh giá 102
6.3.4 Kế hoạch thăm khám sức khỏe người dân và các chỉ tiêu đánh giá 104
6.4 Các giải pháp can thiệp trên cơ sở áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường – sức khoẻ tại làng nghề thí điểm 106
6.4.1 Phương pháp tiếp cận sinh thái được triển khai tại làng nghề Tống Xá như thế nào? 106
6.4.2 Các giải pháp can thiệp cụ thể ở làng Tống Xá trên cơ sở áp dụng phương pháp tiếp cận sinh thái 111
6.5 Đánh giá hiệu quả áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường – sức khoẻ tại làng nghề thí điểm 119
Trang 66.5.1 Các kết quả đánh giá môi trường – sức khoẻ năm 2006, trước khi thực hiện các
giải pháp can thiệp trên cơ sở áp dụng toàn diện phương pháp tiếp cận HST 121
6.5.2 Các kết quả đánh giá môi trường – sức khoẻ năm 2011, sau khi triển khai thực hiện các giải pháp can thiệp trên cơ sở áp dụng toàn diện phương pháp tiếp cận HST .124
6.5.3 Khó khăn, thuận lợi trong việc áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái để giải quyết các vấn đề môi trường – sức khoẻ tại làng nghề thí điểm . 134
CHƯƠNG 7 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137
7.1 Triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khoẻ là cần thiết và khả thi trong bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam như hiện nay 137
7.2 Những thuận lợi đối với việc triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khoẻ ở Việt Nam 138
7.3 Những khó khăn đối với việc triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khoẻ ở Việt Nam 139
7.4 Kiến nghị 140
BÁO CÁO SỬ DỤNG KINH PHÍ CỦA ĐỀ TÀI 145
LỜI CẢM ƠN 148
TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
PHỤ LỤC 152
PHỤ LỤC 1 Thực tiễn triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khoẻ tại một số quốc gia 153
PHỤ LỤC 2 Kết quả phân tích chất lượng môi trường tại làng nghề Tống Xá 168
PHỤ LỤC 3 Kết quả điều tra, khảo sát tình trạng sức khoẻ cộng đồng tại làng nghề Tống Xá 169
PHỤ LỤC 4 Mẫu phiếu phục vụ điều tra, khảo sát tại làng nghề Tống Xá 173
Trang 7DANH MỤC HÌNH, ẢNH TRONG BÁO CÁO
Hình 3.1 Phân bố địa lý tác động sức khỏe của các bệnh truyền nhiễm qua véc-tơ truyền
bệnh trên toàn thế giới 34
Hình 3.2 Tiếp cận hệ sinh thái đảm bảo sự cân bằng giữa: quản lý môi trường, các yếu tố kinh tế và mong muốn của cộng đồng 36
Hình 3.3 Con người và các mối tương quan tương tác trong hệ sinh thái nông nghiệp ở Yubdo-Lagabato 40
Hình 3.4 Công cụ thiết yếu cho tiếp cận hệ sinh thái đối với sức khỏe con người 47
Hình 4.1 Tháp sức khỏe 56
Hình 4.2 Khái niệm quản lý hệ sinh thái đô thị 66
Hình 6.1 Diễn biến về phát triển hoạt động sản xuất làng nghề và cơ cấu kinh tế của làng Tống Xá 96
Hình 6.2 Mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất, vấn đề môi trường và sức khỏe tại làng nghề 107
Hình 6.3 Phối hợp liên ngành và thu hút sự tham gia của các bên liên quan trong giải quyết các vấn đề môi trường – sức khoẻ ở Tống Xá 110
Hình 6.4 Diễn biến tình hình sức khoẻ cộng đồng theo các tiêu chí đánh giá 130
Hình 6.5 Mô hình bệnh tật theo các nhóm bệnh 131
Hình 6.6 Diễn biến mô hình một số nhóm bệnh bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm 131
Hình 6.7 Tỷ lệ tử vong theo nguyên nhân 133
Hình 6.8 Một số nguyên nhân chính dẫn đến tử vong tại làng Tống Xá 134
Hình P 1.1 Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong ngành công nghiệp mỏ ở Goa, Ấn Độ 155
Hình P 1.2 Mối quan tâm chung của các thành phần chính trong công nghiệp khai thác mỏ ở Goa, Ấn Độ 155
Trang 8DANH MỤC BẢNG TRONG BÁO CÁO
Bảng 3.1 Giá trị của các dịch vụ sinh thái 33
Bảng 3.2 So sánh ưu và nhược điểm của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái với phương pháp tiếp cận y sinh 49
Bảng 6.1 Tác động môi trường – sức khoẻ của hoạt động làng nghề 87
Bảng 6.2 Nồng độ bụi và hơi khí độc trong không khí xung quanh (µg/m3) 122
Bảng 6.3 Chất lượng nước mương tại các thôn thuộc làng nghề Tống Xá 123
Bảng 6.4 Hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu trầm tích tại Tống Xá 124
Bảng 6.5 Nồng độ bụi và hơi khí độc trong không khí xung quanh (µg/m3) (trung bình 1h) 125
Bảng 6.6 Chất lượng không khí trong khu vực sản xuất (µg/m3) 125
Bảng 6.7 Chất lượng khí thải sau hệ thống xử lý (µg/m3) 126
Bảng 6.8 Bảng so sánh chất lượng nước mặt tại làng nghề Tống Xá (mg/l) 127
Bảng 6.9 Chất lượng nước thải tại làng nghề thời điểm sau khi áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái (năm 2011) 128
Bảng 6.10 Hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu trầm tích tại Tống Xá (mg/kg) 129
Bảng P3.1 Tỷ lệ lượt người dân đến khám bệnh ở trạm y tế xã (%) 170
Bảng P3.2 Tỷ lệ lượt người dân đã đến điều trị ở trạm y tế xã hàng năm (%) 170
Bảng P3.3 Mô hình bệnh của người dân làng Tống Xá (%) 170
Bảng P3.4 Tỷ lệ người tử vong hàng năm tại địa bàn điều tra (%) 171
Bảng P3.5 Tỷ lệ số người dân làng Tống Xá đã tử vong chia theo nhóm tuổi (%) 171
Bảng P3.6 Tỷ lệ số người dân làng Tống Xá đã tử vong chia theo nguyên nhân (%) 171
Bảng P3.7 Tỷ lệ số người dân làng Tống Xá đã tử vong chia theo giới (%) 172
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
WHO Tổ chức Y tế thế giới
GNP Tổng sản lượng toàn cầu
IDRC Trung tâm Nghiên cứu phát triển quốc tế
UNEP Chương trình Môi trường Liên hợp quốc
ILO Tổ chức Lao động Quốc tế
UNDP Tổ chức Phát triển của Liên hợp quốc
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế
HELI Chương trình “Sáng kiến Liên kết giữa Môi trường và
Sức khỏe”
WSSD Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về phát triển bền vững UNF Quỹ Liên Hợp Quốc
WTO Tổ chức thương mại thế giới
CTR Chất thải rắn
Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Viện KHKT BHLĐ Viện Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ lao động
CHLB Cộng hòa Liên bang
AT-VSLĐ An toàn – Vệ sinh lao động
CES Trung tâm nghiên cứu văn hóa xã hội
UCT Trường đại học Católica de Temuco
HST Hệ sinh thái
Trang 10BÀI TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu khả năng áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe ở Việt Nam” được thực hiện với mục tiêu làm rõ được cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe, từ đó đề xuất được các nội dung phù hợp, xác định đối tượng và phạm vi áp dụng của phương pháp tiếp cận này trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe ở Việt Nam
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài đã thực hiện các nội dung sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe;
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái ở một số nước trên thế giới;
- Phân tích, đánh giá hiện trạng áp dụng cách tiếp cận hệ sinh thái trong một số lĩnh vực ở Việt Nam;
- Xác định các vấn đề môi trường-sức khỏe bức xúc hiện nay ở Việt Nam;
- Áp dụng thử nghiệm cách tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe của một làng nghề;
- Đúc rút kinh nghiệm, đề xuất những điều chỉnh về thể chế, pháp lý để áp dụng phương pháp tiếp cận mới
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu, đề tài áp dụng các phương pháp sau: phương pháp thống kê; phương pháp điều tra; phương pháp trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm; và phương pháp chuyên gia
Qua 03 năm triển khai thực hiện, đề tài đã đạt được những kết quả cụ thể sau:
Đề tài làm rõ được cơ sở lý luận của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe Các khái niệm, thuật ngữ, các nguyên lý
cơ bản, các bước thực hiện, điều kiện áp dụng phương pháp hệ sinh thái cũng như mối quan hệ giữa sức khỏe và hệ sinh thái được đề tài nghiên cứu chi tiết, cụ thể Cơ sở lý luận áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe cũng được làm rõ thông qua nội hàm, phạm vi ứng dụng, khung nghiên cứu, các thiết bị thiết yếu của cách tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề môi trường-sức khỏe và các ưu, nhược điểm của việc áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái so với các phương pháp khác trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe
Bên cạnh đó, đề tài cũng tập trung nghiên cứu các định hướng chính sách và hành động ở cấp toàn cầu đối với các hoạt động triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe và các lĩnh vực áp dụng
Trang 11cụ thể của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề môi trường-sức khoẻ của một số nước trên thế giới Trên cơ sở kinh nghiệm của một số trên thế giới và thực tiễn triển khai phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong một số lĩnh vực ở Việt Nam như tiếp cận hệ sinh thái trong bảo tồn đa dạng sinh học, trong môi trường nông nghiệp, trong môi trường đô thị, trong môi trường công nghiệp và tiếp cận hệ sinh thái trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, đề tài đã rút ra được những bài học về cách áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe ở Việt Nam
Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu và làm rõ được khả năng áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe tại làng nghề cơ khí, đúc kim loại Tống Xá, xã Yên Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Để làm rõ được khả năng áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái tại làng nghề, đầu tiên đề tài đặt
ra các tiêu chí, luận cứ khoa học và thực tiễn đối với việc lựa chọn làng nghề để áp dụng thí điểm phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe Dựa vào kết quả đánh giá tổng quan về các vấn đề môi trường-sức khỏe tại làng nghề, đề tài đã đưa ra các giải pháp can thiệp trên cơ sở áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe Sau khi triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe tại làng nghề, đề tài đã đánh giá được hiệu quả áp dụng của phương pháp này dựa trên kết quả đánh giá môi trường-sức khỏe trước khi thực hiện các giải pháp can thiệp trên cơ sở áp dụng toàn diện phương pháp tiếp cận hệ sinh thái (giai đoạn 2006-2007) và sau khi triển khai thực hiện các giải pháp can thiệp (giai đoạn
2011 - quý I/2012) Đề tài đã đúc rút ra được những thuận lợi, khó khăn trong quá trình áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái để giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe tại làng nghề thí điểm
Một số kết luận, kiến nghị của đề tài: Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật phục vụ quản lý Nhà nước về môi trường-sức khỏe, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái; Nâng cao nhận thức các cấp lãnh đạo và cộng đồng về nguyên tắc và nguyên lý khoa học của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái cũng như vấn đề môi trường-sức khỏe; Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin liên ngành về kinh tế - xã hội - môi trường-sức khoẻ ở quy mô toàn quốc; Để triển khai có hiệu quả phương pháp tiếp cận này, Tổng cục Môi trường cần phải có những định hướng và hướng dẫn kỹ thuật giúp các địa phương triển khai chương trình ở cấp địa phương theo đúng các nguyên tắc và nguyên lý khoa học của cách tiếp cận này
Trang 12Kết thúc quá trình nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả thực hiện đề tài đã gửi đăng tải một bài báo khoa học với tiêu đề “Hiệu quả áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe ở Việt Nam” trên Tạp chí Môi trường số 9/2012, trang 55-58 Ngoài ra, đề tài nghiên cứu còn đào tạo được 01 Thạc
sĩ chuyên ngành khoa học môi trường
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Đặt vấn đề
Nhận thức về mối liên hệ chặt chẽ giữa thể chất và tình trạng sức khỏe của con người với các yếu tố môi trường lý sinh, kinh tế và xã hội mà con người hàng ngày phải tiếp xúc và chịu tác động ngày càng được thể hiện rõ nét Ngày càng có nhiều bằng chứng xác thực cho thấy rõ sự cần thiết phải giải quyết các vấn đề môi trường nhằm cải thiện sức khỏe và sự thịnh vượng chung của con người (Nguyễn Văn Mạn, 2006)
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thực hiện năm 2002, khoảng 24% bệnh tật và 23% trường hợp tử vong trên thế giới có căn nguyên từ môi trường Trong số 102 loại bệnh được thống kê trong báo cáo “Sức khỏe toàn cầu” của WHO,
có tới 85 bệnh có căn nguyên từ môi trường Khoảng 80 đến 90% trường hợp tiêu chảy là do yếu tố môi trường, chủ yếu là do ô nhiễm nguồn nước và điều kiện vệ sinh không đảm bảo Ở các nước phát triển, khoảng 15-25% ca nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và 5-18% ca nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới có liên quan đến chất lượng môi trường, chủ yếu là tình trạng ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời Ở các nước đang phát triển, những tỷ lệ trên cao gần gấp đôi, tương ứng là 42% và 24% (WHO, 2006)
Các mô hình lý thuyết và thực nghiệm đều khẳng định rằng các loại bệnh có căn nguyên từ môi trường (ví dụ như viêm nhiễm cấp tính hệ hô hấp, sốt rét, sốt xuất huyết, tiêu chảy, giun sán, các loại bệnh nghề nghiệp, v.v ) đều có khả năng phòng ngừa được Theo ước tính của WHO, việc cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện vệ sinh sẽ giúp ngăn ngừa khoảng 45% số ca mắc sốt rét và nửa triệu ca tử vong
do sốt rét trên toàn cầu WHO cũng cho rằng sẽ kiểm soát được gần như tuyệt đối tình trạng mắc và tử vong do sốt xuất huyết nếu như thực hiện tốt công tác quản lý và đảm bảo vệ sinh ở các khu vực có nước ở trong hay xung quanh nhà ở (WHO, 2006)
Ở cấp toàn cầu, nhận thức về mối liên hệ chặt chẽ giữa môi trường và sức khỏe đã có những chuyển biến rất tích cực kể từ năm 1972 khi mà lần đầu tiên vấn đề môi trường được đưa vào chương trình nghị sự chung ở cấp toàn cầu tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Môi trường ở Stockholm (Thụy Điển) Năm 1987, trong báo cáo của Ủy ban Brundtland, bảo vệ môi trường được xác định như yếu tố sống còn vì các thế hệ tương lai Năm 1992, tại Hội nghị của Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển tại Rio De Janeiro, con người được xác định là yếu tố trung tâm của tiến trình phát triển bền vững Năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất ở Bradin, 185 quốc
Trang 14gia đã thông qua Chương trình nghị sự 21 với mục tiêu chung là “Giảm thiểu các rủi
ro, tác hại và duy trì một môi trường có chất lượng đạt mức an toàn và không gây hại cho sức khỏe con người”
Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái là cách tiếp cận mới, mang tính đa ngành và tổng thể, ban đầu được xây dựng và phát triển chủ yếu nhằm vào mục tiêu giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý tài nguyên (đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp
và du lịch) để thay thế cho cách tiếp cận cổ điển theo ngành và lĩnh vực (là cách tiếp cận dễ dẫn đến những xung đột về lợi ích và thường không đáp ứng được yêu cầu thực
tế về bảo vệ môi trường do thiếu tính liên ngành) Cùng với thời gian, phương pháp tiếp cận hệ sinh thái ngày càng được hoàn thiện và được mở rộng khuôn khổ áp dụng sang nhiều lĩnh vực phát triển khác nhau
Việc áp dụng phương pháp tiếp cận này trong lĩnh vực sức khỏe môi trường đã bắt đầu được khởi xướng ở một số nước trên thế giới vào khoảng cuối những năm
1990 và đầu năm 2000 Trong đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ công bố năm 2003trên cơ sở những tranh cãi và thảo luận về những định nghĩa khác nhau, các nhà khoa học đã thừa nhận “cách tiếp cận hệ sinh thái cần phải coi con người và tính đa dạng về văn hóa của loài người là yếu tố không thể tách rời của nhiều hệ sinh thái khác nhau” Mục tiêu thiên niên kỷ một lần nữa được khẳng định rõ hơn “tình trạng tốt và tính bền vững của hệ sinh thái chính là yếu tố trọng tâm đảm bảo sức khỏe và hạnh phúc của con người” Với quan điểm tiếp cận này, hiện nay, phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
đã và đang được nhiều nước áp dụng trong các nghiên cứu khoa học cũng như phân tích chính sách, thể chế nhằm đề xuất các chính sách và biện pháp can thiệp để giải quyết các vấn đề về sức khỏe thông qua cải thiện và đảm bảo chất lượng các hệ sinh thái và môi trường mà hàng ngày con người phải tương tác và chịu tác động (Alcamo J., 2005)
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu và áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đã được triển khai khá nhiều trong các lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên như: nông nghiệp sinh thái (Trần Thanh Sơn, 2009), lâm nghiệp cộng đồng, bảo tồn đa dạng sinh học (Cục bảo vệ môi trường, 2004) và đã bắt đầu mở rộng áp dụng sang một số lĩnh vực phát triển khác như quản lý các khu công nghiệp, đô thị, v.v Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái ở Việt Nam mới chỉ chủ yếu nhằm vào mục tiêu giải quyết các vấn đề môi trường đơn lẻ như ô nhiễm môi trường, kiệt quệ và suy thoái tài nguyên
Trang 15Mặc dù hiểu biết về mối liên hệ hữu cơ giữa các vấn đề môi trường và sức khỏe
đã được nhận thức rõ ở các cấp, các ngành và trong nhiều nhóm cộng đồng thông qua một số chương trình môi trường-sức khỏe được triển khai ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương từ năm 2005 đến nay, song việc giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe ở Việt Nam vẫn còn được triển khai theo cách tiếp cận cổ điển “quản lý theo ngành” Việc nghiên cứu và ứng dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe ở Việt Nam còn chưa được quan tâm đầu tư
Việc áp dụng cách tiếp cận cổ điển đã giúp cải thiện khá rõ nét một số yếu tố môi trường quan trọng tác động đến sức khỏe cộng đồng như dịch vụ cấp nước sạch
và vệ sinh môi trường ở các vùng đô thị và nông thôn, y tế cộng đồng, v.v Tuy nhiên, cách tiếp cận cổ điển này cũng đã bộc lộ rõ nhiều điểm hạn chế như tính manh mún, thiếu nhất quán, không có tính liên ngành, chỉ giải quyết được những vấn đề mang tính ngắn hạn và trên thực tế không đáp ứng được các yêu cầu mới về bảo vệ môi trường cũng như giải quyết các vấn đề sức khỏe có liên quan đến yếu tố môi trường như: tác động của ô nhiễm không khí trong nhà do sử dụng nhiên liệu rắn ở các vùng nông thôn và trong các cộng đồng có thu nhập thấp; tác động của ô nhiễm không khí do giao thông và công nghiệp ở các vùng đô thị; tác động của ô nhiễm nước đến sức khỏe cộng đồng; nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh môi trường cho các nhóm cộng đồng có thu nhập thấp; giải quyết những vấn đề sức khỏe môi trường ở các làng nghề và các cụm/điểm tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn; kiểm soát tác động có hại của các yếu tố môi trường tới sức khỏe trẻ em; v.v
Đề tài này là nghiên cứu đầu tiên về khả năng áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe tại Việt Nam, từ đó đề xuất những điều chỉnh về thể chế, pháp lý để có thể áp dụng phương pháp này rộng rãi ở Việt Nam
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quan của đề tài
Làm rõ khả năng áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe ở Việt Nam
1.2.2 Các mục tiêu cụ thể của đề tài
1- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong việc giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe
Trang 162- Đề xuất các nội dung phù hợp, xác định đối tượng và phạm vi áp dụng của phương pháp tiếp cận này trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe ở Việt
Nam
1.3 Cách tiếp cận của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở định hướng của Luật Bảo vệ môi trường 2005
và các văn bản liên quan về bảo vệ môi trường-sức khỏe như: Chương trình Nghị sự
21 của Việt Nam (ban hành theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17 tháng 8 năm 2004), Chiến lược chăm sóc và bảo vệ nhân dân giai đoạn 2001-2010 theo Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2001, Các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế Các văn bản này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các phương pháp tiếp cận, công cụ quản lý môi trường-sức khỏe, bao gồm cả phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
Trong khuôn khổ nghiên cứu, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe ở Việt Nam và tính ứng dụng của phương pháp này Các vấn đề môi trường-sức khỏe ở đây được hiểu là mối liên quan giữa chất lượng môi trường và tình trạng sức khỏe của người dân sinh sống trong một hệ sinh thái nhất định
Khi đề xuất các biện pháp quản lý, đề tài sẽ áp dụng cách tiếp cận hệ thống và tiếp cận phát triển bền vững, đảm bảo rằng phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng đến việc phát triển của các thế hệ tương lai
Trang 17CHƯƠNG 2 PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: vấn đề ô nhiễm môi trường và sức khỏe cộng đồng Phạm vi nghiên cứu: đề tài giới hạn nghiên cứu khả năng áp dụng phương
pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe và áp dụng thí điểm tại một làng nghề lựa chọn
2.2 Nội dung nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, các nội dung chính cần thực hiện bao gồm:
2.2.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe
Các nội dung cụ thể bao gồm:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của cách tiếp cận hệ sinh thái
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của các vấn đề môi trường-sức khỏe
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của các cách tiếp cận giải quyết vấn đề môi sức khỏe, phân tích ưu, nhược điểm của từng cách tiếp cận
trường Phân tích các đặc tính, nội hàm, phạm vi, điều kiện áp dụng của cách tiếp cận
hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe
- Đánh giá và so sánh cách tiếp cận y sinh với cách tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe
2.2.2 Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái ở một số nước trên thế giới
Các nội dung cụ thể bao gồm:
- Khảo cứu các trường hợp áp dụng cách tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe trên thế giới
- Phân tích đánh giá các bài học thành công, thất bại của các trường hợp
- Những kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 182.2.3 Phân tích, đánh giá hiện trạng áp dụng cách tiếp cận hệ sinh thái trong một
số lĩnh vực ở Việt Nam
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái ở một số lĩnh vực như nông nghiệp, bảo tồn ĐDSH, đô thị, khu công nghiệp… tại Việt Nam
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, thành công, thất bại trong việc áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong các lĩnh vực nêu trên ở Việt Nam
2.2.4 Xác định các vấn đề môi trường-sức khỏe bức xúc hiện nay ở Việt Nam
- Khảo cứu các vấn đề môi trường–sức khỏe bức xúc tại các khu đô thị, các vùng nông thôn, các khu công nghiệp
- Nhận diện, phân tích những khó khăn, vướng mắc bất cập về cơ sở khoa học,
cơ sở pháp lý của việc giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe, cụ thể là xác định quan hệ nhân quả giữa chất lượng môi trường và tình trạng sức khỏe
- Xây dựng tiêu chí, xác định các ưu tiên trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe
2.2.5 Áp dụng thử nghiệm cách tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe của một làng nghề
Các nội dung cụ thể bao gồm:
- Xây dựng tiêu chí và lựa chọn một làng nghề để áp dụng cách tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe
- Điều tra, khảo sát, nhận diện các vấn đề môi trường-sức khỏe tại làng nghề này
- Xây dựng mục tiêu của chương trình áp dụng cách tiếp cận mới, xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả
- Xây dựng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái dựa vào 3 nội dung chính: tính liên ngành, sự tham gia của các bên liên quan và tính bình đẳng giới
- Triển khai áp dụng cách tiếp cận này
- Đánh giá hiệu quả của cách tiếp cận
- Phân tích thuận lợi, khó khăn của cách tiếp cận này
Trang 192.2.6 Kinh nghiệm, đề xuất những điều chỉnh về thể chế, pháp lý để áp dụng phương pháp tiếp cận mới
Các nội dung cụ thể bao gồm:
- Trên cơ sở áp dụng thử nghiệm nêu trên, phân tích khả năng áp dụng của cách tiếp cận theo các tiêu chí: tính phù hợp, tính hiệu quả, tính khả thi
Phân tích đề xuất giải pháp về thể chế, khoa học-công nghệ, tài chính…để triển
khai áp dụng phương pháp này
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung trên cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thống kê: Nghiên cứu kế thừa các tài liệu, mô hình, kỹ thuật, giải
pháp liên quan đã và đang được áp dụng để áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe ở trên thế giới Cụ thể đề tài đã kế thừa, thống kê các kết quả nghiên cứu, tài liệu, mô hình lý thuyết, cơ sở khoa học và nội hàm, các nguyên lý, các bước cơ bản thực hiện phương pháp tiếp cận; điều kiện để vận dụng phương pháp Bên cạnh đó, đề tài còn thống kê, kế thừa các kinh nghiệm thế giới và thực tiễn triển khai áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong các lĩnh vực khác nhau ở Việt Nam
Phương pháp điều tra: Điều tra, thống kê, phân tích hiện trạng môi trường-sức
khỏe, những tác động qua lại giữa các hệ sinh thái, môi trường và sức khỏe tại một làng nghề Thực hiện điều tra, thống kê, phân tích số liệu về chất lượng môi trường đất, nước, không khí và tình trạng sức khỏe người dân làng nghề Tống Xá từ năm 2006-2010
Phương pháp chuyên gia, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm: Tổ chức các cuộc họp,
hội thảo, khảo sát, trao đổi, làm rõ cơ sở lý luận của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái; trao đổi về kinh nghiệm áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe trên thế giới và ở Việt Nam Ngoài ra, các cuộc họp chuyên gia cũng được tổ chức nhằm lấy ý kiến xây dựng được phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe dựa vào ba nội dung chính
là tính liên ngành, sự tham gia của các bên liên quan và tính bình đẳng giới cũng như tính bền vững ở điều kiện cụ thể của Việt Nam Tìm hiểu các giải pháp để áp dụng phương pháp tiếp cận này, xây dựng các bảng hỏi, các câu hỏi phỏng vấn phục vụ cho việc triển khai thử nghiệm phương pháp này tại Việt Nam Các chuyên gia bao gồm chuyên
Trang 20gia y tế; chuyên gia môi trường trong các lĩnh vực sinh thái, không khí, nước, đất; chuyên gia thống kê
Phương pháp điều tra dịch tễ: Để đánh giá được hiệu quả áp dụng của phương pháp
tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe tại làng nghề thí điểm, nhóm nghiên cứu đã điều tra ngẫu nhiên 180 đối tượng người dân sinh sống, lao động, sản xuất tại làng nghề Các đối tượng điều tra đa dạng về độ tuổi, giới tính và ngành nghề lao động Việc điều tra các đối tượng được thực hiện thông qua cuộc phỏng vấn nhanh (phiếu điều tra, phỏng vấn) kết hợp với thăm khám lâm sàng
Phương pháp xử lý số liệu: Nhập, quản lý, làm sạch số liệu và phân tích số liệu
bằng phần mềm Excel với độ tin cậy > 95% Các số liệu trong cuộc điều tra, khảo sát dành cho đối tượng chính quyền xã, cán bộ y tế, chủ cơ sở sản xuất, hộ gia đình, người lao động, người dân tại làng nghề thông qua bộ phiếu điều tra, phỏng vấn về điều kiện làm việc tại các cơ sở sản xuất; nguyên, nhiên vật liệu tiêu thụ cho các cơ sở sản xuất; điều kiện kinh tế-xã hội, dân số, môi trường, sức khỏe người dân được nhóm nghiên cứu phân tích, tổng hợp và xử lý logic, khoa học, đảm bảo độ chính xác cao
Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu: Để đánh giá được chất lượng môi
trường tại làng nghề áp dụng thí điểm phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe, nhóm nghiên cứu đề tài đã thực hiện lấy mẫu không khí, nước, đất tại làng nghề Phương pháp phân tích xác định các thông số chất lượng môi trường không khí, nước đất được thực hiện theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia
Trang 21CHƯƠNG 3
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN HỆ SINH THÁI TRONG
GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG-SỨC KHỎE
3.1 Một số khái niệm và thuật ngữ cơ bản
3.1.1 Hệ sinh thái
Thuật ngữ hệ sinh thái được A.G Tansley đưa ra và định nghĩa năm 1935 trong bài báo với tiêu đề: “The use and the abuse of Vegetational concepts and terms”, đăng
ở tạp chí Ecology số 16, trang 284-307 Từ đó đến nay, thuật ngữ này được diễn giải
và trình bày tuy có khác nhau, nhưng nội dung căn bản vẫn giống nhau Cụ thể, khái niệm về hệ sinh thái là:
Hệ sinh thái (ecosystem) là tổ hợp của một quần xã sinh vật và môi trường vật
lý mà quần xã đó tồn tại, trong đó sinh vật tương tác với nhau và với môi trường để tạo nên chu trình vật chất và sự chuyển hóa năng lượng (Vũ Trung Tạng, 2000)
3.1.2 Môi trường sống của con người
Môi trường sống của con người là phần không gian mà con người tác động, sử dụng và bị nó làm ảnh hưởng (UNESCO, 1967)
Môi trường sống của con người bao gồm tất cả các nhân tố tự nhiên, xã hội bao quanh và có ảnh hưởng tới sức khỏe của con người Nói một cách khác môi trường là tập hợp các thành phần vật chất (tự nhiên và nhân tạo) và xã hội xung quanh con người Các thành phần tự nhiên của môi trường là các yếu tố hữu sinh (các loài động thực vật và các vi sinh vật) và các yếu tố vô sinh (đất, nước, không khí ) Các thành phần nhân tạo là tất cả các vật thể hữu hình do con người tạo nên (nhà cửa, đường xá, cầu cống ) Còn các thành phần xã hội là sự tổng hòa các quan hệ con người với nhau, có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và toàn thể cộng đồng
xã hội (Nguyễn Văn Mạn, 2006)
Chất lượng môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của con người và nó
bị chi phối không những bởi điều kiện tự nhiên mà còn bởi điều kiện kinh tế-xã hội Tại thành phố và các khu công nghiệp với mật độ dân số cao, tập trung nhiều loại hình sản xuất công nghiệp nên chất lượng môi trường có nguy cơ bị suy giảm do tác động của bụi, khí thải và nước bị ô nhiễm Ở nông thôn, chất thải chăn nuôi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón là nguyên nhân chính làm giảm chất lượng môi trường sống Chất thải chăn nuôi gây mùi hôi thối là môi trường sống thuận lợi của các loài
Trang 22sinh vật như: ruồi, nhặng có thể truyền bệnh cho con người (Nguyễn Văn Thưởng, 1999)
Bảo vệ môi trường sống là các hoạt động nhằm hạn chế và phòng ngừa những yếu tố bất lợi của tự nhiên và xử lý chất ô nhiễm do các hoạt động của con người tạo
ra, đồng thời điều chỉnh và tạo nên môi trường sống tiện nghi và bền vững cho con người
3.1.3 Sức khỏe
“Sức khỏe con người là nhân tố quan trọng nhất, quyết định sự hưng thịnh và bền vững của mọi nền kinh tế” Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (1946) thì
sức khỏe là trạng thái thoải mái về cả tinh thần, thể chất và xã hội chứ không chỉ đơn
thuần là vô bệnh, tật Khái niệm bệnh, tàn tật và tử vong được các nhân viên y tế đề cập tới nhiều hơn so với khái niệm về sức khỏe Do vậy khoa học sức khỏe gần như đã trở thành khoa học bệnh tật, vì nó tập trung chủ yếu vào việc điều trị các loại bệnh và chấn thương chứ không phải là nâng cao sức khỏe (Nguyễn Văn Mạn, 2006)
Mỗi điều kiện và hiện tượng của môi trường bên trong hay bên ngoài đều tác động nhất định đến sức khỏe Có sức khỏe có nghĩa là có sự thích ứng của cơ thể với môi trường, ngược lại bệnh tật là biểu thị sự không thích ứng Như vậy, sức khỏe là một tiêu chuẩn của sự thích ứng của cơ thể con người và cũng là một tiêu chuẩn của môi trường
Trạng thái sức khỏe của một cá nhân, của cộng đồng phản ánh phần nào hiện trạng chất lượng nước, không khí, thức ăn, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt
Sức khỏe không chỉ được đảm bảo bởi cuộc sống vật chất mà còn quy định bởi đời sống tinh thần (bản chất văn hóa và xã hội của con người)
Sức khỏe của cộng đồng hay sức khỏe của xã hội là sức khỏe chung, hiểu toàn diện là một hệ thống có tổ chức giữa con người, quan hệ và tác động lên nhau trong một môi trường hữu sinh và vô sinh với một môi trường xã hội bao gồm kinh tế, văn hóa, chính trị, tôn giáo
Mục đích cuối cùng của các biện pháp bảo vệ môi trường là tạo điều kiện thuận lợi cho con người trong lao động và sinh hoạt, đảm bảo một cuộc sống lành mạnh về thể chất và tinh thần
3.1.4 Sức khỏe môi trường
Hiện nay trên thế giới, vẫn còn nhiều tranh cãi về định nghĩa sức khỏe môi trường Sức khỏe môi trường là một thuật ngữ không dễ định nghĩa Mặc dù còn nhiều
Trang 23tranh cãi về định nghĩa thuật ngữ “Sức khỏe môi trường”, song trong các văn bản thỏa
thuận/hiệp định ở cấp quốc tế và nhiều quốc gia sử dụng thì sức khỏe môi trường là tất cả những khía cạnh liên quan đến sức khỏe, tình trạng ốm, bị bệnh và thương tật của con người do tác động từ các yếu tố môi trường vật lý, hóa học, xã hội và tâm lý
(theo định nghĩa của WHO) Hay nói cách khác, sức khỏe môi trường là tạo ra và duy trì một môi trường trong lành, bền vững để nâng cao sức khỏe cộng đồng
Thuật ngữ này đồng thời cũng được dùng để gọi chung cho các lý thuyết và thực tiễn về đánh giá, điều chỉnh, kiểm soát và phòng ngừa những yếu tố/thành phần môi trường có khả năng gây nên những tác động có hại cho sức khỏe con người của cả thế hệ hiện tại cũng như các thế hệ trong tương lai
Theo định nghĩa này, môi trường sống của con người cũng được hiểu một cách rộng hơn, là tổng thể các mối liên hệ tương hỗ giữa các yếu tố của môi trường vật lý, môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội và văn hóa (hay còn được hiểu là hành vi của chính con người) được liên kết rất chặt chẽ và giao thoa lẫn nhau (Dương Thị Tơ,
Tô Kim Oanh, 2006)
3.1.5 Môi trường-sức khỏe
Tương tự như “sức khỏe môi trường”, thuật ngữ “môi trường-sức khỏe” cũng rất khó định nghĩa và cho đến nay chưa có một định nghĩa cụ thể Tuy nhiên theo nhóm
nghiên cứu, môi trường-sức khỏe là vấn đề gồm hai vế có liên quan mật thiết với nhau
đó là vấn đề môi trường và vấn đề sức khỏe Giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe
có nghĩa là sẽ phải đồng thời giải quyết cả hai vấn đề môi trường (ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất) và vấn đề sức khỏe cộng đồng (hệ quả liên quan trực tiếp đến chất lượng môi trường) Việc giải quyết vấn đề môi trường giúp cải thiện sức khỏe từ nguyên nhân gốc rễ, phòng ngừa bệnh tật, duy trì sức khỏe con người và môi trường lâu dài, bền vững
3.2 Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
3.2.1 Khái niệm
Tiếp cận hệ sinh thái hay còn gọi là tiếp cận sinh thái trong quản lý là một chiến lược quản lý tổng hợp do UNESCO đề xuất trong những năm gần đây "Hệ sinh thái" ở đây được hiểu là một phức hệ động của các quần xã thực vật, động vật, vi sinh vật và môi trường tự nhiên của chúng tác động qua lại lẫn nhau như một đơn vị chức năng Cách tiếp cận hệ sinh thái được định nghĩa là cách tiếp cận “quản lý tổng hợp đất, nước và các sinh vật nhằm thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài
Trang 24nguyên này” Theo cách tiếp cận này, con người được thừa nhận là một bộ phận cấu thành của hệ sinh thái (Gill Shepherd, 2004)
Việc áp dụng cách tiếp cận sẽ đạt tới sự cân bằng 3 mục tiêu của công việc bảo tồn: bảo tồn, sử dụng bền vững và công bằng trong chia sẻ lợi ích khai thác nguồn lợi Con người với tính đa dạng văn hoá cũng là một thành phần trong hệ sinh thái
Tiếp cận hệ sinh thái linh hoạt về qui mô áp dụng và luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý ĐDSH bên ngoài khu vực được bảo vệ, đồng thời xác định những khu bảo vệ luôn có vai trò sống còn trong công tác bảo tồn Ngoài ra, phương pháp còn nắm bắt và tối ưu hóa các lợi ích
Tiếp cận hệ sinh thái là khung cơ bản cho hành động của Công ước về ĐDSH
và bao gồm 12 nguyên lý Các nguyên lý này tác động qua lại và bổ sung cho nhau tạo nên một tổng thể trong quản lý tổng hợp (Smith and Maltby, 2003)
3.2.2 Các nguyên lý cơ bản của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
Các nguyên lý cơ bản của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái được Gill Shepherd
đề xuất cụ thể như sau (Gill Shepherd, 2004):
1 Những mục tiêu của quản lý đất, nước và môi trường sống là một vấn đề của
sự lựa chọn xã hội
2 Quản lý nên được phân cấp đến cấp quản lý phù hợp nhất và thấp nhất
3 Các nhà quản lý hệ sinh thái nên xem xét những ảnh hưởng (thực tế hoặc tiềm năng) của các hoạt động mà họ thực hiện đến những hệ sinh thái lân cận và các hệ sinh thái khác
4 Nhận thức rõ những lợi ích có thể đạt được từ quản lý là thực sự cần thiết để hiểu và quản lý hệ sinh thái trong mọi bối cảnh kinh tế Mỗi một chương trình quản lý hệ sinh thái nên bao gồm:
a) Giảm những khiếm khuyết của thị trường gây ảnh hưởng tiêu cực đến ĐDSH;
b) Khuyến khích để thúc đẩy sử dụng bền vững và bảo tồn ĐDSH;
c) Nội tại hóa chi phí và lợi ích của một hệ sinh thái ở cấp độ khả thi nhất
5 Bảo tồn cấu trúc và chức năng hệ sinh thái để duy trì dịch vụ hệ sinh thái nên được xem là một mục tiêu ưu tiên của tiếp cận hệ sinh thái
6 Hệ sinh thái nên được quản lý trong phạm vi chức năng của nó
Trang 257 Tiếp cận hệ sinh thái nên được thực hiện ở một phạm vi không gian và thời gian phù hợp
8 Nhận ra sự khác nhau về phạm vi không gian, những tác động trễ do đặc thù của một hệ sinh thái nhằm thiết lập mục tiêu quản lý hệ sinh thái dài hạn
9 Công tác quản lý cần xác định sự thay đổi là không thể tránh khỏi
10 Tiếp cận hệ sinh thái nên tìm kiếm sự cân bằng thích hợp, sự hòa nhập của việc bảo tồn và sử dụng ĐDSH
11 Tiếp cận hệ sinh thái nên xem xét các dạng thông tin có liên quan bao gồm những kiến thức khoa học, bản địa và địa phương, sự đổi mới và thực tiễn
12 Tiếp cận sinh thái nên thu hút sự tham gia của các bên có liên quan trong một
xã hội và những kiến thức khoa học
3.2.3 Các bước thực hiện tiếp cận hệ sinh thái
12 Nguyên lý tiếp cận hệ sinh thái được chia thành 5 bước, mỗi bước liên quan đến một phạm vi các hoạt động khác nhau
Bước 1: Xác định các nhóm liên quan chính, xác định khu vực hệ sinh thái và phát triển mối quan hệ giữa các bên và hệ sinh thái
Những nguyên lý liên quan đến bước 1 gồm nguyên lý 1, 7, 11 và 12 Quá trình triển khai bước 1 thường gặp khó khăn trong việc xác định các nhóm liên quan chính, xác định khu vực sinh thái và phát triển mối quan hệ giữa chúng Đây là những khâu tiêu tốn khá nhiều thời gian và công sức để đạt được tính khả thi Cụ thể:
Xác định các bên liên quan
- Nguyên lý 1 và nguyên lý 12 nhấn mạnh sự tham gia của xã hội vào việc lựa chọn hệ sinh thái và các mục tiêu quản lý ở một phạm vi nhất định
- Các nguyên lý đòi hỏi sự phân tích của các bên liên quan, tuy nhiên không đề
ra tiêu chuẩn lựa chọn xã hội và kiến thức xã hội (mặc dù trong thực tế điều này khá cần thiết)
Phân tích các bên liên quan
Trước tiên đánh giá các bên liên quan chính, sau đó bên liên quan thứ hai hoặc thứ ba, và đánh giá rõ quan điểm của từng bên Bên liên quan chính là những người phụ thuộc vào tài nguyên và đóng vai trò tích cực trong quản lý nguồn tài nguyên đó Bên liên quan thứ hai và thứ ba là những bên có tiếng nói, bao gồm cán bộ chính
Trang 26quyền địa phương và những người sống gần nguồn tài nguyên nhưng không quá phụ thuộc vào nó (bên liên quan thứ hai); các cán bộ cấp quốc gia và các tổ chức bảo tồn cấp quốc tế (bên liên quan thứ ba)
Tiếp theo, cần đánh giá năng lực quản lý và cam kết của các bên liên quan về lĩnh vực hệ sinh thái; thiết lập diễn đàn để các bên liên quan gặp mặt thường xuyên
+ Xem xét những giới hạn về hành chính, luật pháp và văn hóa, đơn giản hóa thông tin liên lạc với các thể chế hiện hữu (nguyên lý 11);
+ Nắm bắt được rằng các ý tưởng dài hạn có thể bị hạn chế bởi những vấn đề được xem là quản lý ngắn hạn hiệu quả
+ Chấp nhận rằng những phần thiết yếu của các khu vực hệ sinh thái được lựa chọn ban đầu có thể được xem xét lại và sẽ không phải là trách nhiệm của các cá nhân hay các nhóm cụ thể nào
Xây dựng mối quan hệ logic giữa các bên liên quan và khu vực
Khi đã xác định rõ các đối tượng là các bên liên quan, đối tượng có mối quan tâm nhất đến quản lý từng khu vực trong hệ sinh thái, từ đó có thể xác định được ranh giới hệ sinh thái và các cá nhân, các nhóm hoặc tổ chức có liên quan Đây là những đối tượng có thể bảo vệ, quản lý và ra quyết định trong thời gian trung hạn và dài hạn Kết quả khu vực đó sẽ được các bên liên quan quản lý ở các cấp độ khác nhau trong phạm vi tổng thể hệ sinh thái
Các chuyên gia bảo tồn sẽ duy trì tầm nhìn dài hạn, tuy nhiên thực tế việc điều phối và quản lý sẽ được xây dựng từ dưới lên trên thông qua diễn đàn của các bên liên quan
Bước 2: Phác họa cấu trúc, chức năng của hệ sinh thái và thiết lập cơ chế quản lý, giám sát
Các nguyên lý liên quan đến bước 2 gồm: nguyên lý 2, 5, 6, 10
Trang 27Cấu trúc và chức năng hệ sinh thái
- Làm thế nào chúng ta có thể xác định được những đặc tính cấu trúc và chức năng của một hệ sinh thái là những yếu tố cần thiết để cung cấp những sản phẩm và dịch vụ hệ sinh thái? Làm thế nào chúng ta có thể xác định một hệ sinh thái bị đe dọa bởi việc sử dụng và khai thác quá mức (nguyên lý 5 và nguyên lý 6)?
Trước mắt sự phối hợp giữa các nhà khoa học và các cư dân địa phương tại khu vực hệ sinh thái là một cách làm tương đối hiệu quả Với cách làm này mỗi nhóm có thể bổ trợ kiến thức cho nhau
Sự cân đối giữa bảo tồn và sử dụng ĐDSH sẽ đạt được thông qua việc ra những quyết định với sự tham gia của các bên liên quan và sự thống nhất về việc phân công quản lý với mục đích rõ ràng đối với từng phần của hệ sinh thái (nguyên lý 10)
Kiến thức ban đầu thường không đầy đủ, song nó sẽ được bổ sung theo thời gian nếu các phương pháp được thiết lập với sự nhất trí cao Tiếp cận hệ sinh thái đòi hỏi thực tế có nghĩa chỉ giải quyết những vấn đề không phải là lý tưởng về mặt lý thuyết
Quản lý hệ sinh thái
Áp dụng nguyên lý 2 nhằm triển khai các hoạt động với các bên liên quan tại địa phương Trong trường hợp quan điểm về quyền sở hữu và trách nhiệm của địa phương khác với quan điểm chính thống thì các quan điểm này vẫn được tôn trọng và xem xét nếu các nhóm liên quan chính cam kết hợp tác quản lý dài hạn
Trong trường hợp cần thiết phải chấp nhận một phần hệ sinh thái sẽ thuộc quyền sở hữu riêng nếu việc quản lý hệ sinh thái đó mang lại hiệu quả Tuy nhiên, sẽ phải làm rõ một số nội dung như sau: Những vùng nào hoặc khía cạnh nào của hệ sinh thái mà người dân địa phương muốn trực tiếp quản lý; muốn có sự giúp đỡ, hỗ trợ; hoặc muốn người khác quản lý
Quản lý hệ sinh thái ở “cấp thấp nhất và phù hợp nhất” (nguyên lý 2) là quản lý
ở nhiều cấp khác nhau,từ nông dân, các nhóm cộng đồng, huyện, quốc gia và thậm chí quốc tế Khi các vấn đề liên quan đến cấu trúc, chức năng hệ sinh thái và sức khỏe được sáng tỏ thì bức tranh tổng thể về quản lý sẽ được triển khai và giám sát theo thời gian
- Sử dụng diễn đàn các bên tham gia đã phát triển ở bước 1 và kinh nghiệm của các thành viên trong diễn đàn để đưa ra các chủ đề thảo luận và xác định rõ khu vực Việc xác định các khu vực bao gồm các khu vực có nhu cầu bảo vệ hệ sinh thái cao
Trang 28nhưng quản lý còn yếu, các khu vực có sự liên kết chưa chặt chẽ Diễn đàn cũng có thể xác định và xem xét các vấn đề điều phối quản lý cấp bách khác
Bước 3: Xác định tầm quan trọng của các vấn đề kinh tế có ảnh hưởng đến hệ sinh thái và các cư dân hệ sinh thái
Nguyên lý 4 được áp dụng trong bước 3 Xác định các vấn đề kinh tế có ảnh hưởng đến hệ sinh thái và cư dân hệ sinh thái là rất quan trọng Những vấn đề kinh tế nào sẽ điều tiết sự lựa chọn quản lý trong hệ sinh thái?
Khuyến khích và không khuyến khích
Điểm a và b của nguyên lý 4 tập trung làm giảm những tác động tiêu cực của thị trường đến ĐDSH và khuyến khích bảo vệ, sử dụng hợp lý ĐDSH Cả hai nhiệm
vụ này đều yêu cầu những phân tích sâu ở giai đoạn đầu của quản lý hệ sinh thái Ví
dụ, những khuyến khích mang tính tiêu cực (hoặc trợ cấp) khiến người dân khai thác
tài nguyên một cách không bền vững
- Vấn đề có thể mang tính địa phương không phù hợp hoặc không theo luật
quốc gia, ví dụ, một số cán bộ địa phương bắt ép phải hối lộ để khai thác tài nguyên từ
hệ sinh thái Trong trường hợp nghiên cứu điển hình của Mekong, việc sử dụng nước không bền vững về mặt môi trường do sự quan tâm nhiều đến nhu cầu sử dụng nước của người giàu hơn người nghèo Những khích lệ mang tính tích cực (những kiến thức, hiểu biết sâu rộng hay tiếng nói có trọng lượng trong việc ra quyết định ở cấp quốc gia, cấp vùng) sẽ dẫn đến việc sử dụng hợp lý tài nguyên nước Điều quan trọng
là chúng ta có thể hiểu và lượng hóa được các lợi ích về kinh tế để giúp quản lý hệ sinh thái tốt hơn
- Phân tích kinh tế sẽ làm sáng tỏ vấn đề Sự thay đổi và biến động liên tục của thị trường sẽ tạo ra sự thay đổi không ngừng của những khuyến khích tiêu cực và tích cực đối với việc phá vỡ hay bảo vệ ĐDSH
- Nội tại hóa chi phí và lợi ích của một hệ sinh thái (nguyên lý 4, điểm c) là điểm cốt lõi trong tiếp cận hệ sinh thái Tránh tập trung những lợi ích vào một hệ sinh thái hoặc một tiểu hệ sinh thái và đẩy các chi phí sang đối tượng khác Luôn luôn làm
việc “với” và không “chống lại” nền kinh tế địa phương Trong trường hợp phải đối
mặt với những thách thức về chính trị thì hệ thống phải được thiết lập đúng chỗ để người chăm sóc hệ sinh thái có quyền kiểm soát lợi ích mà hệ sinh thái đó mang lại,
và người gây ra những chí phí về môi trường phải chịu trách nhiệm cho những việc họ làm
Trang 29Bước 4: Xác định những tác động có thể xảy ra của hệ sinh thái này tới các hệ sinh thái lân cận
Những nguyên lý liên quan đến bước 4 gồm: nguyên lý 3, 7
- Quản lý thích ứng theo không gian liên quan đến những tác động có thể của
hệ sinh thái tới những vùng hệ sinh thái lân cận Mặc dù đã có những nỗ lực để nội tại hóa chi phí và lợi ích, tuy nhiên những thay đổi trong quản lý của một hệ sinh thái có thể làm ảnh hưởng đến những hệ sinh thái lân cận (nguyên lý 4, điểm c)
- Một vài tác động không thể biết trước chắc chắn sẽ xảy ra Ví dụ, một số hoạt
động về chăn nuôi và sản xuất nông nghiệp không được cho phép trong hệ sinh thái này thì nó sẽ diễn ra ở hệ sinh thái khác
- Rõ ràng quản lý là phải thích ứng Nếu quản lý tốt một hệ sinh thái thì sẽ quản
lý tốt những hệ sinh thái lân cận trong một khoảng thời gian nhất định
Bước 5: Xây dựng các mục tiêu dài hạn và các giải pháp linh hoạt để đạt được những mục tiêu này
Những nguyên lý liên quan đến bước 5 gồm: nguyên lý 7, 8, 9
Việc lập kế hoạch quản lý thích nghi liên quan đến những mục tiêu dài hạn và các biện pháp linh hoạt để đạt được mục tiêu đó Những nguyên lý trong bước cuối cùng này nhấn mạnh rằng khi xác định được mục tiêu dài hạn, những vấn đề không biết trước sẽ điều chỉnh những mục tiêu này hoặc cho ta biết các biện pháp mới để đạt được mục tiêu
Để giải quyết được những thách thức, cần thường xuyên kiểm tra những mục tiêu dài hạn và các công cụ quản lý để đạt được mục tiêu đó Quản lý hiệu quả đòi hỏi phải có những phương pháp giám sát phù hợp để phát hiện sớm vấn đề Cũng cần có
sự minh bạch và mối quan hệ tin tưởng giữa các bên liên quan trong vấn đề cần thảo luận
Quản lý thích ứng theo thời gian đòi hỏi năng lực tìm ra nguyên nhân, đưa ra giải pháp giải quyết các vấn đề để rút kinh nghiệm cho các nguyên lý tiếp cận hệ sinh thái khác (đặc biệt nguyên lý 4, liên quan đến các vấn đề kinh tế) Từ đó có thể hiểu được những khía cạnh chưa đúng và thiết kế những giải pháp mới nhằm đạt mục tiêu
đề ra
Trang 303.2.4 Điều kiện để vận dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
a Khuôn khổ, đối tượng áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
Lồng ghép phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành kinh tế xã hội khác nhau, bao gồm cả những ngành chưa nhận thức rõ ràng hoặc thậm chí có thái độ phản đối phương pháp tiếp cận này Vì vậy, cần có tài liệu hướng dẫn lồng ghép phương pháp tiếp cận hệ sinh thái để giúp hiểu rõ hơn vấn đề
Nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của chức năng hệ sinh thái cũng như chưa nhận diện rõ ràng tầm quan trọng của các dịch vụ hệ sinh thái ảnh hưởng to lớn đến quyết định đối với phúc lợi kinh tế-xã hội của con người và đời sống động vật hoang dã Việc áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái có thể đem lại lợi ích đáng
kể do các cơ chế mới cho phép con người nhận thức rõ các giá trị kinh tế của các chức năng hệ sinh thái Cộng đồng sẽ hiểu hơn về các vấn đề sinh thái (một cơ sở vững chắc của phương pháp tiếp cận) khi thực hiện chương trình nâng cao nhận thức về các
hệ sinh thái
Việc lồng ghép phương pháp tiếp cận hệ sinh thái vào các ngành có liên quan đến tài nguyên thiên nhiên như tài nguyên nước, nông nghiệp, thuỷ sản, lâm nghiệp, tài nguyên đất là phương án hợp lý Chìa khoá vận dụng kết quả phương pháp tiếp cận
hệ sinh thái là áp dụng phương pháp này vào quản lý các hệ thống sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, sử dụng đất Khi các hệ thống sản xuất này được phân tích, đánh giá trên quan điểm sinh thái học thì hoạt động quản lý chúng sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội và môi trường, nâng cao đời sống cho những người sinh sống dựa vào tài nguyên Vận dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái thường giúp giảm chi phí, cụ thể giảm đầu tư vào phân bón và thuốc trừ sâu, trừ cỏ
Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ thì việc mô tả phương pháp tiếp cận hệ sinh thái còn quá phức tạp, chưa rõ ràng trong định nghĩa nên khó phổ biến rộng rãi
Do vậy, cần thiết phải xây dựng bản hướng dẫn cụ thể mang tính khả thi, tính thực tiễn cao hơn để nâng cao nhận thức và tăng cường áp dụng có kết quả phương pháp tiếp cận hệ sinh thái (Nguyễn Khoa Lân, 2010)
b Phân cấp quản lý
Tính linh hoạt của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái có thể áp dụng ở bất kỳ quy mô nào từ một trang trại cho đến quy mô vùng hoặc xuyên quốc gia Khu vực áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái có thể được xác định tuỳ theo từng vấn đề giải
quyết Ví dụ, ở cấp địa phương, trong quản lý dịch hại tổng hợp, phương pháp tiếp cận
hệ sinh thái có thể áp dụng từ quy mô một trang trại nhỏ cho đến những khu vực lớn
Trang 31Tuy vậy, cũng có đề xuất cho rằng nên áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái để giải quyết từng vấn đề cụ thể Vì vậy quy mô quản lý phù hợp phải được xác định theo từng trường hợp cụ thể, từng vấn đề được giải quyết
Một cách hiểu khác của thuật ngữ “cấp quản lý thấp nhất phù hợp” là một lưu vực sông, khu bảo tồn sinh quyển hay một vùng sinh thái, nếu khu vực này có đầy đủ các yếu tố, điều kiện để hệ sinh thái thực hiện chức năng của mình và thường là ở cấp đem lại lợi ích sinh kế và môi trường cho cộng đồng Theo cách hiểu này thì các hoạt động chủ yếu được quản lý ở cấp địa phương, làng xã và cộng đồng Các hoạt động này không nhất thiết phải đáp ứng tất cả những yêu cầu cụ thể của phương pháp tiếp cận hệ sinh thái (Gill Shepherd, 2004)
c Phối hợp phương pháp tiếp cận hệ sinh thái từ trên xuống và từ dưới lên
Các kết quả nghiên cứu cho thấy cấp quản lý có vai trò rất quan trọng nhằm đạt được sự tham gia cần thiết của đối tác để thực hiện phương pháp tiếp cận hệ sinh thái Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp này ở quy mô cảnh quan, sẽ không thể phân cấp quản lý tới cấp địa phương do có khó khăn như thiếu năng lực, thiếu kỹ năng cũng như sự yếu kém về tổ chức (sự thiếu kinh nghiệm của các cán bộ quản lý địa phương trong đàm phán, thảo luận và quan hệ với các cơ quan chức năng và nhà tài trợ)
Để giải quyết các khó khăn này, kết quả nghiên cứu cho thấy, cần thiết lồng ghép các vấn đề vào các hoạt động của các ngành kinh tế và của các cấp chính quyền Trong trường hợp này phương pháp tiếp cận ưu việt là phối hợp các phương pháp tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên
d Toàn cầu hóa và phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
Ở cấp toàn cầu, thương mại có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng, đưa người sản xuất và người tiêu dùng toàn thế giới đến gần nhau hơn Nhiều mặt hàng thương mại đa quốc gia đã có tác động lớn tới ĐDSH và các chức năng của hệ sinh thái Mặc
dù người dân địa phương có thể thu được lợi nhuận từ các hoạt động thương mại đó, nhưng lợi nhuận không nhiều vì người dân ít được tiếp cận với thị trường hoặc là ít có
cơ hội quảng cáo cho sản phẩm của mình
Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái là một khuôn khổ tiềm năng phù hợp để điều tiết thương mại nhằm đảm bảo cho sự bền vững của hệ thống xuất khẩu, phân phối đồng đều lợi ích cũng như chi phí môi trường và bảo vệ ĐDSH Phương pháp tiếp cận
hệ sinh thái còn là một khuôn khổ phù hợp để thương mại toàn cầu không ảnh hưởng tiêu cực tới các mục tiêu, các quy định của tổ chức thương mại thế giới
Trang 323.2.5 Mối quan hệ giữa sức khỏe và hệ sinh thái
Tính liên tục không bị phá vỡ của các hệ thống hỗ trợ thiên nhiên của trái đất
rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sức khoẻ của con
người Một nghiên cứu của nhà khoa học Mỹ đã ước tính lợi ích mà thiên nhiên đem
lại cho chúng ta nếu tính bằng tiền sẽ khoảng trên 30 nghìn tỷ đô la Mỹ mỗi năm, lớn
hơn rất nhiều lần tổng sản lượng toàn cầu (GNP) (McNeely, 1999) Bảng 3.1 trình bày
kết quả ước tính của các nhà kinh tế sinh thái về giá trị mà các dịch vụ sinh thái đem
lại cho con người
Bảng 3.1 Giá trị của các dịch vụ sinh thái Dịch vụ sinh thái
(do các hệ sinh thái cung cấp một cách tự nhiên, không phải trả
tiền)
Giá trị kinh tế
(Tỷ đô la Mỹ) Hình thành và bảo vệ đất 17,100
Lưu giữ và quay vòng dinh dưỡng 2,300
Điều tiết khí hậu 1,800
Sản xuất lương thực và cung cấp nguyên liệu thô 800
Hệ sinh thái hỗ trợ việc duy trì cuộc sống trên hành tinh của chúng ta như thế
nào vẫn đang là một vấn đề phức tạp trong ngành khoa học sinh học mà sự hiểu biết
về nó còn hạn chế Sự hỗ trợ của hệ sinh thái bao gồm cả các chức năng “sống còn”
như điều hoà nồng độ oxi, oxit cacbon và hơi nước trong khí quyển, lọc các chất gây ô
nhiễm trong nước sinh hoạt, điều hoà nhiệt độ và lượng mưa toàn cầu, cấu tạo đất và
Trang 33giữ độ phì nhiêu của đất, tạo phấn hoa và cung cấp thực phẩm, năng lượng và đặc biệt
là nguồn nguyên liệu quý giá cho ngành dược phẩm Ngày nay, con người phụ thuộc rất nhiều vào các hệ thống và các quá trình sinh học cơ bản trong tự nhiên để đảm bảo nguồn lương thực, thực phẩm, sức khỏe, cách thức hưởng thụ cuộc sống của mình Con người tạo ra lương thực, thực phẩm, dược phẩm và nhiều sản phẩm công nghiệp
từ các thành phần tự nhiên Nguồn tài nguyên sinh học còn phục vụ các nhu cầu giải trí của con người Lợi ích của các nguồn tài nguyên sinh học là rất lớn, song không chỉ hạn chế về mặt sinh học Tính ĐDSH còn có ý nghĩa và giá trị đặc biệt quan trọng về văn hoá và xã hội (Costanza, 1997)
Song, theo đánh giá trong báo cáo về sức khỏe toàn cầu của WHO năm 1997 thì hiện khoảng 60% các dịch vụ và lợi ích mà các hệ sinh thái phục vụ cho cuộc sống của con người trên toàn thế giới (nguồn nước sạch, khả năng làm sạch không khí, ổn định khí hậu) đang bị suy thoái hoặc bị khai thác quá mức Cũng trong báo cáo đánh giá này, nhóm công tác về đánh giá hệ sinh thái toàn cầu cũng cảnh báo là các hậu quả xấu do suy thoái các hệ sinh thái sẽ trực tiếp tác động đến sức khoẻ con người và những tác động này sẽ ngày càng trầm trọng hơn trong 50 năm tới đây (WHO, 1997)
Hình 3.1 Phân bố địa lý tác động sức khỏe của các bệnh truyền nhiễm qua vectơ truyền
bệnh trên toàn thế giới (WHO, 2004, Báo cáo Sức khỏe Toàn cầu)
Trước đó, năm 1993, trong một báo cáo nghiên cứu chính sách “Khảo sát về sức khỏe”, Ngân Hàng Thế giới đã khẳng định việc cải thiện môi trường sống sẽ giúp giảm khoảng 40% số ca mắc tiêu chảy, và 30% số ca mắc bệnh mắt hột, bệnh sán
Nghiên cứu của WHO các khu vực thực hiện năm 2002, trình bày trong Báo cáo Sức khỏe Toàn cầu năm 2004
Số ca chết do các bệnh truyền nhiễm qua các vectơ
truyền bệnh/triệu dân
Trang 34máng Báo cáo này cũng khẳng định, những biện pháp can thiệp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sống ở gần nơi sinh sống giúp cải thiện đáng kể chất lượng sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển
Các nhà khoa học cũng khuyến cáo rằng suy giảm chức năng và thoái hoá các
hệ sinh thái sẽ làm tăng các loại bệnh do véc-tơ truyền bệnh gây nên như sốt xuất huyết, tả, và là nguyên nhân làm xuất hiện nhiều loại bệnh mới (lạ) hoặc làm bùng phát lại các dịch bệnh lây nhiễm trước đây (cúm, dịch hạch, v.v.) Việc làm suy giảm các hệ sinh thái sẽ dẫn đến làm giảm khả năng đạt được các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà tổ chức Liên Hợp Quốc đã đề ra cho toàn thế giới
Một trong những hỗ trợ quan trọng là vai trò của các hệ sinh thái trong việc kiểm soát sự xuất hiện và lan truyền của các bệnh nhiễm khuẩn thông qua việc duy trì
sự cân bằng giữa loài ăn thịt và con mồi, các vật chủ, vectơ và các loài kí sinh ở thực động vật và con người Chức năng bảo vệ ĐDSH này gần đây mới được đánh giá đúng Những ví dụ về các bệnh truyền nhiễm ở người có thể bị ảnh hưởng của việc thay đổi sự cân bằng trên là bệnh sốt rét do phá rừng; bệnh Lyme do sự thay đổi về số lượng quả đấu và số lượng loài vẹt chân đen, chuột chân trắng và tuần lộc đuôi trắng; sốt xuất huyết Argentina do sự thay thế các đồng cỏ tự nhiên bằng các cánh đồng ngô độc canh và bệnh tả do hiện tượng tảo nở hoa, phần nào do nước biển ấm lên và lượng nước và phân thải ra (McNeely, 1999)
Ví dụ điển hình nhất về việc thay đổi số lượng loài mang tác nhân gây bệnh (các vectơ) có thể làm xuất hiện một loại bệnh truyền nhiễm chết người là ‘hiện tượng bùng phát hội chứng bệnh phổi hantavirus ở Tây nam nước Mỹ’ diễn ra vào đầu thập niên 1990 Thời kỳ hạn hán 6 năm ở vùng “Tứ giác” (khu vực ở phía Tây nam nước
Mỹ nơi các bang arizona, Colorado, Utah và New Mexico gặp nhau) chấm dứt vào cuối mùa đông và sang xuân năm 1993 với những cơn mưa rào và tuyết rơi khác thường Hạn hán đã làm giảm số lượng trong quần thể các loài cú, rắn và cáo, các loài
kẻ thù tự nhiên của loài chuột hươu, trong khi đó lượng mưa tăng lên đã dẫn đến một
vụ mùa hạt thông bội thu và châu chấu sinh sôi nảy nở cung cấp thức ăn cho loài chuột hươu Hậu quả là số lượng chuột hươu tăng lên gấp 10 lần vượt qua cả mức giới hạn Trong giai đoạn này, 17 người đã mắc phải hội chứng bệnh phổi nghiêm trọng, phần lớn trong số này là dân bản địa và 13 trong số họ đã chết Người ta phát hiện hantavirus có trong nước bọt và chất bài tiết của loài chuột này Khi số lượng chuột lớn hơn nguy cơ mà con người tiếp xúc và bị nhiễm virus này cũng lớn hơn Sự bùng phát dịch bệnh này là do sự thay đổi về khí hậu nhưng sự bùng phát các bệnh truyền nhiễm ở người cũng có thể xảy ra nếu số lượng các loài bị thay đổi do nguyên nhân
Trang 35khác ví dụ như săn bắn quá mức một loài kẻ thù tự nhiên nào đó của loài mang vectơ Hiện vẫn chưa biết trong môi trường tồn tại bao nhiêu loài virus hay các tác nhân truyền nhiễm khác có hại cho con người đang được kiểm soát bởi sự cân bằng tự nhiên trong các hệ sinh thái và ĐDSH (Costanza, 1997)
3.3 Cơ sở lý luận áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi trường-sức khỏe
Trước đây phương pháp tiếp cận hệ sinh thái thường được sử dụng trong lĩnh vực sinh học và sinh thái học Trong một vài thập kỷ gần đây, khái niệm này được sử dụng rộng rãi hơn trong một số lĩnh vực khác, ví dụ như sinh thái đô thị, sinh thái nông nghiệp, sinh thái công nghiệp và gần đây là trong lĩnh vực sức khỏe môi trường
Các cách tiếp cận truyền thống đa phần tập trung vào phát triển kinh tế và xã hội đã gây tổn hại đến môi trường nghiêm trọng và chính sức khỏe con người Trong khi đó, tiếp cận hệ sinh thái tạo ra sự cân bằng giữa quản lý môi trường, các yếu tố kinh tế và cộng đồng, tạo ra sự phát triển bền vững (hình 3.2) Cách tiếp cận này chính
là một phần của phát triển bền vững Các giải pháp không những có chi phí thấp hơn
so với các biện pháp điều trị y tế mà còn cải thiện sức khỏe từ nguyên nhân gốc rễ, phòng ngừa bệnh tật, và duy trì sức khỏe con người và môi trường lâu dài,bền vững
Hình 3.2 Tiếp cận hệ sinh thái đảm bảo sự cân bằng giữa: quản lý môi trường, các yếu tố kinh tế và mong muốn của cộng đồng (Jean Lebel, 2003)
Chương trình tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề sức khỏe con người của Tổ chức Nghiên cứu Phát triển Quốc tế của Canada (IDRC) nhằm nâng cao sự quan tâm đối với mối liên kết giữa sức khỏe và môi trường đã tạo ra bước ngoặt phát triển công tác cải thiện sức khỏe cộng đồng và sức khỏe sinh thái
Môi trường
Cộng đồng
Phương pháp tiếp cận truyền thống Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
Trang 36Để hiểu được cách tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết các vấn đề môi sức khỏe ta cần hiểu rõ khái niệm, nội hàm và phạm vi áp dụng của phương pháp này
trường-3.3.1 Khái niệm
Theo Tổ chức Nghiên cứu Phát triển Quốc tế của Canada (IDRC), cách tiếp
cận sinh thái đối với vấn đề sức khỏe (ecosystem approach to human health, hay viết tắt là ecohealth) được định nghĩa là “phương pháp nghiên cứu về các tác động đến sức khỏe con người và chất lượng môi trường trong mối tương quan giữa các thành phần của một hệ sinh thái” Nói một cách khác, cách tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn
đề sức khỏe nhằm tìm hiểu “phương thức bảo vệ và nâng cao sức khỏe của con người thông qua cải tiến cách thức quản lý môi trường” Theo cách tiếp cận này, hệ sinh thái được nhìn nhận như một công cụ để cải thiện sức khỏe
Cách tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề môi trường-sức khỏe được
đề xuất nhằm góp phần thực hiện nguyên tắc số 1 của Tuyên bố Rio về Môi trường và Phát triển: “Con người là trung tâm của các mối quan tâm về phát triển bền vững Con người có quyền được hưởng một cuộc sống lành mạnh hài hòa với thiên nhiên”
Học giả người Canada, Jean Lebel là một trong những nhà khoa học đầu tiên đề xuất phương pháp tiếp cận sinh thái trong giải quyết các vấn đề sức khỏe, đã có một lý
luận khá rõ ràng và đơn giản về cách tiếp cận này, đó là “sức khỏe con người phụ thuộc vào môi trường xung quanh - để con người có sức khỏe cần có môi trường trong lành” (Jean Lebel, 2003)
Cho đến nay, việc áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường-sức khỏe đã trở nên phổ biến tại các nước phát triển
và một số nước đang phát triển nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của hai lĩnh vực: môi trường và sức khỏe, thông qua các giải pháp có tính tổng hợp, liên ngành Theo cách tiếp cận này, đối với vấn đề sức khỏe, cần nhìn nhận rằng con người là một bộ phận cấu thành của hệ sinh thái và sức khỏe con người phụ thuộc vào môi trường sống, môi trường tự nhiên Để cải thiện sức khỏe, phòng chống bệnh tật, ngoài việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, chúng ta cần áp dụng những giải pháp nâng cao chất lượng môi trường sống Đối với lĩnh vực môi trường, cần nhìn nhận rằng bảo vệ môi trường chính là bảo vệ hệ thống trợ giúp cuộc sống (life support systems) và vì vậy góp phần bảo vệ và nâng cao sức khỏe con người Với quan điểm bảo vệ môi trường
vì sức khỏe con người, cách tiếp cận mới này khuyến nghị “kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững” chứ không ủng hộ
Trang 37trường phái cực đoan cho rằng cần bảo vệ môi trường để gìn giữ trạng thái nguyên thủy ban đầu (Jean Lebel, 2003), [Hộp 1]
Hộp 1: Đặc điểm của cách tiếp cận hệ sinh thái trong sức khỏe môi trường (H.N.B
Đảm bảo tính bình đẳng xã hội và giới
Các kết quả nghiên cứu hỗ trợ cho quá trình xây dựng chính sách và chiến lược hành động;
3.3.2 Nội hàm của cách tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề môi trường-sức khỏe
Sự cân bằng giữa sức khỏe hệ sinh thái và con người sống trong hệ sinh thái đó
là tâm điểm của phương pháp tiếp cận mới này Trong quá trình nghiên cứu không chỉ
có các nhà khoa học tham gia còn có thành viên của cộng đồng địa phương, Chính phủ và các bên liên quan
Cách tiếp cận hệ sinh thái trong giải quyết vấn đề sức khỏe con người gồm 3 nội hàm chính: tính liên ngành, sự tham gia của các bên liên quan và tính bình đẳng giới (Jean Lebel, 2003)
• Tính liên ngành: hàm ý về sự nhìn nhận bao quát các vấn đề sức khỏe liên
quan đến hệ sinh thái Tính liên ngành thể hiện ở sự cần thiết của tất cả các thành phần của cả 3 nhóm trên và đưa ra các kết luận trọn vẹn về các vấn đề
• Sự tham gia của các bên liên quan: nhằm tăng cường sự tham gia và phối
hợp chặt chẽ của cộng đồng, các nhà khoa học và các cơ quan quản lý
• Tính bình đẳng giới: cần phân tích vai trò tương ứng của nam giới và nữ
giới và các nhóm xã hội khác nhau Nam giới và nữ giới có trách nhiệm khác nhau và mức độ ảnh hưởng khác nhau trong việc ra quyết định Vì vậy, cần đảm bảo tính bình
Trang 38đẳng về giới, dân tộc, các nhóm xã hội khác nhau khi tham gia quyết định có tác động đến môi trường-sức khỏe
a) Tính liên ngành
Khi các nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau cùng các nhà quản lý từ cá nhân đến cộng đồng hoạt động, nghiên cứu với cùng chung 1 mục tiêu, thì được xem như họ đang hoạt động trong giới hạn liên ngành Các nhà khoa học sử dụng cách tiếp cận liên ngành để tạo ra cái nhìn bao quát, rõ ràng về những tác động khác nhau của một vấn đề thông qua sự phối hợp chặt chẽ với cộng đồng địa phương cũng như các nhà quản lý
Cách tiếp cận mang tính liên ngành khác với các nghiên cứu khoa học thực nghiệm như hóa học, vật lý và các khoa học lý thuyết, chẳng hạn như toán học Nó cũng khác với cách tiếp cận đa ngành, trong đó nghiên cứu các hiện tượng giao thoa giữa hai ngành gần nhau, chẳng hạn như sự chồng chéo giữa sinh học và hóa học tạo
ra ngành hóa sinh
Xuất phát điểm từ sự phức tạp, đa dạng của các mối tương tác giữa các thành tố trong hệ sinh thái bao gồm con người, các thành phần môi trường, các yếu tố kinh tế,
xã hội, đòi hỏi những chiến lược nghiên cứu tích hợp vượt quá khuôn khổ đơn ngành
và liên ngành Ví dụ về sự đa dạng, phức tạp của các mối tương tác trong hệ sinh thái nông nghiệp được minh họa ở hình 3.3
Trang 39Hình 3.3 Con người và các mối tương quan tương tác trong hệ sinh thái nông
nghiệp ở Yubdo-Lagabato (Jean Lebel., 2003)
Chính vì thế, trong cách tiếp cận này, các nhà nghiên cứu từ những lĩnh vực khác nhau tập hợp thành 1 nhóm cùng nghiên cứu, trao đổi, chia sẻ thông qua một ngôn ngữ chung tạo ra cái nhìn từ nhiều khía cạnh để tìm ra gốc rễ của một vấn đề Do
đó kiến thức riêng cũng như chung được phát triển Đây chính là cốt lõi của tính liên ngành – nội hàm của cách tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề môi trường-sức khỏe
Hơn thế, tính liên ngành hàm ý sự tham gia không chỉ của các nhà khoa học mà còn có sự tham gia của các đại diện cộng đồng và các thành phần khác – những thành phần không phải nhà khoa học như các tổ chức phi chính phủ, Chính phủ, doanh
Giảm năng suất
* Chuồng nuôi trong nhà
* Nấu ăn trong nhà
Sức khỏe và dinh dưỡng
* Bệnh tật
Bệnh dịch
Năng suất lương thực
* Giảm năng suất
Năng suất chăn nuôi
• Sức kéo và sản lượng thấp
* Ốm yếu, bệnh dịch
Nạn đói, nhiễm độc thức phẩm
Xói mòn, ô
nhiễm chất hữu
cơ
HỆ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Trang 40nghiệp…, những người có khả năng cung cấp thêm các kiến thức liên quan đến vấn
đề Cộng đồng địa phương cũng là thành viên không thể thiếu trong nhóm nghiên cứu này, họ chính là những người chịu tác động trực tiếp từ môi trường và bệnh dịch Thông qua điều tra xã hội, khảo sát thực địa của chương trình nghiên cứu, cộng đồng địa phương mới có cơ hội bày tỏ những mong muốn của mình với các nhà khoa học
và các nhà chức trách
Như vậy, cách tiếp cận hệ sinh thái mang tính liên ngành tạo cơ hội cho mọi người cùng lắng nghe và chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức, bày tỏ nguyện vọng và hướng đến một tiếng nói chung, tầm nhìn mới nhằm giải quyết các vấn đề sức khỏe một cách bền vững
Các chương trình áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề sức khỏe của IDRC thường bắt đầu với các nhóm chuyên gia từ nhiều lĩnh vực khác nhau Đây là một bước quan trọng đầu tiên để tạo ra tính đa ngành Đối với một số vấn đề phức tạp, một ngành đơn lẻ không thể cung cấp đủ kiến thức cần thiết để giải quyết được vấn đề môi trường và tình hình sức khỏe Vì vậy, nhóm nghiên cứu khoa học được thành lập từ tám chuyên ngành: nhà nghiên cứu bệnh học, bác sĩ chuyên ngành
ký sinh trùng, chuyên gia y tế công cộng, nhà nông học, bác sĩ thú y, nhà nhân chủng học, nhà xã hội học, và nhà thống kê học Thành phần này phụ thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu, từng điều kiện thực tế ở địa phương Trước khi tiến hành nghiên cứu, các chương trình dự án nhất thiết phải tổ chức các cuộc hội thảo để thu thập ý kiến, xác định vấn đề quan tâm, vấn đề ưu tiên và phạm vi nghiên cứu Hội thảo có sự tham gia của tất các chuyên gia của các nhóm ngành trên, chính quyền trung ương – địa phương, tổ chức phi chính phủ, cộng đồng địa phương… Việc tổng hợp các ý kiến, nguyện vọng tại những cuộc hội thảo này đặc biệt quan trọng trong việc xác định đúng mối quan tâm lớn nhất của cộng đồng, điều đó quyết định sự đồng thuận và thành công ban đầu của dự án
Những thách thức của tính liên ngành
Mặc dù, về mặt lý thuyết, tính liên ngành được đánh giá cao trong cộng đồng các nhà khoa học, song nó vẫn còn là một thách thức đối với từng dự án áp dụng phương pháp tiếp cận hệ sinh thái đối với vấn đề sức khỏe Thách thức bắt nguồn từ chính tính liên ngành của phương pháp Các vấn đề vượt ra ngoài khuôn khổ của một chuyên ngành riêng đòi hỏi phải có khả năng tổng hợp tốt cũng như nhạy cảm với những thế mạnh và hạn chế của chuyên ngành khác Vì vậy, điều khoản nghiên cứu là