1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty TNHH công nghiệp và thương mại ngân hoàng

66 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 593,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các khoản chi phí này bao gồm: chi phí thực hiện hoạt động liên doanh liên kết, chi phí cho thuê tài sản, chi phí mua bán các loại chứng khoán, chiết khấu thanh toán dành cho khách hàng,

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài.

Trong giai đoạn hiện nay việc phấn đấu tăng lợi nhuận là mục tiêu phấn đấu cuối cùng của bất kỳ một đơn vị, cá nhân hay tổ chức hoạt động kinh doanh nào Mỗi việc làm, mọi sự tính toán cuối cùng đều là làm sao hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể đem lại lợi nhuận cao nhất Tăng lợi nhuận sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm vốn tái sản xuất mở rộng kinh doanh, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước Vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị phải không ngừng tìm kiếm các giải pháp để tăng lợi nhuận Có thể nói, vấn đề nghiên cứu lợi nhuận doanh nghiệp, nghiên cứu các giải pháp tăng lợi nhuận doanh nghiệp cả về lý thuyết và thực tiễn luôn luôn mang ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Xuất phát từ nhận thức trên, sau một thời gian thực tập tại Công ty TNHH Công nghiệp và Thương Mại Ngân Hoàng Qua nghiên cứu tình hình hoạt động của công ty trong những năm gần đây, bên cạnh những kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học tập tại trường, cùng sự giúp đỡ của các Cô,Chú trong phòng Tài Chính –

Kế toán của công ty, và đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của Thầy Nguyễn Đăng Nam

em đã mạnh dạn đi sâu, tìm hiểu và nghiên cứu đề tài “ Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại Công ty TNHH Công nghiệp và Thương Mại Ngân Hoàng.

2 Mục đích nghiên cứu:

Hệ thống hoá lý thuyết chung về lợi nhuận của doanh nghiệp vừa Phân tích thực trạng lợi nhuận của công ty để thấy được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân từ đó đề xuất một số giải pháp tăng lợi nhuận của Công ty TNHH Công nghiệp và Thương Mại Ngân Hoàng

Trang 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là Lợi nhuận và các phương pháp tăng lợi nhuận của Công ty TNHH Công nghiệp và Thương Mại Ngân Hoàng

Phạm vi nghiên cứu: Tình hình và kết quả thực hiện lợi nhuận của Công ty TNHH Công nghiệp và Thương Mại Ngân Hoàng năm 2009,2010 và 2011

4 Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp thống kê để phản ánh tình hình hoạt động của Công ty TNHH Công nghiệp và Thương Mại Ngân Hoàng trong 3 năm 2009,2010 và 2011 Kết hợp phương pháp so sánh để so sánh các chỉ tiêu của các năm để thâý tình hình tăng trưởng của công ty Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp cùng các phương pháp nghiên cứu kinh tế khác làm cơ sở đưa ra những nhận định chính xác nhất về thực trạng của Công ty TNHH Công nghiệp và Thương Mại Ngân Hoàng

5 Kết cấu chuyên đề tốt nghiệp

Chương 1: Tổng quan về lợi nhuận của doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng tình hình lợi nhuận tại Công ty TNHH Công nghiệp và

Thương Mại Ngân Hoàng

Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng lợi nhuận Công ty TNHH Công

nghiệp và Thương Mại Ngân Hoàng

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm về lợi nhuận và nội dung lợi nhuận của doanh nghiệp.

1.1.1 Khái niệm về lợi nhuận.

Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận được coi là tiêu chí quan trọng, là mục tiêu cuối cùng mà mỗi doanh nghiệp đều hướng tới Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, người ta đều phải tính toán đến lợi nhuận mà mình có thể thu được từ hoạt động đó Bởi lợi nhuận có vai trò quyết định sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp Doanh nghiệp không thể tồn tại nếu như liên tục không tạo ra lợi nhuận Vậy lợi nhuận là gì?

Ta có thể hiểu đơn giản như sau: Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập thu được và các khoản chi phí đã bỏ ra để đạt được được thu nhập

đó trong thời kỳ nhất định

Công thức chung xác định lợi nhuận như sau:

Lợi nhuận = Tổng thu nhập - Tổng chi phí

1.1.2 Nội dung lợi nhuận của doanh nghiệp.

Nội dung của lợi nhuận bao gồm :

Trong nền kinh tế thị trường, với cơ chế hạch toán kinh doanh, phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng, doanh nghiệp có thể đầu tư vào nhiều hoạt động thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Do vậy, lợi nhuận thu được cũng đa dạng theo phương thức đầu tư của doanh nghiệp Kết cấu lợi nhuận của doanh nghiệp thương mại bao gồm:

a Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Đây là một bộ phận lợi nhuận lợi nhuận thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp

Lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh : là khoản chênh lệch giữa doanh thu

từ hoạt động kinh doanh trừ đi các chi phí cho hoạt động kinh doanh bao gồm giá

Trang 4

phí bán hàng, chi phi quản lí doanh nghiệp) và thuế phải nộp theo quy định (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp) Tức là:

LN từ HĐKD = DTT - Trị giá vốn hàng bán - Chi phí BH - Chi phí QLDN

+ Doanh thu thuần : là toàn bộ số tiền bán sản phẩm hàng hoá, cung ứng dịch

vụ trên thị trường sau khi trừ đi các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại, thuế gián thu

+ Trị giá vốn của hàng hoá đã tiêu thụ: Là trị giá vốn của thành phẩm, hàng hóa, lao vụ dịch vụ xuất bán trong kỳ

+ Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng hoá và dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ

+ Chi phí bán hàng : Là toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ như : chi phí bao gói sản phẩm, chi phí bảo quản hàng hoá, chi phí vận chuyển , tiếp thị, quảng cáo

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những chi phí cho việc quản lý kinh doanh, quản lý hành chính và phục vụ chung khác liên quan đến hoạt động của toàn doanh nghiệp

- Thuế phải nộp ở khâu tiêu thụ: Là những khoản thuế gián thu bao gồm: Thuế giá trị gia tăng nếu tính theo phương pháp trục tiếp, thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt nếu doanh nghiệp có sản xuất những hàng hoá dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt

Trong các loại lợi nhuận, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là phần

cơ bản nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp, thường chiếm tỷ trọng lớn Do

đó, để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp các nhà kinh tế chú ý đầu tiên đến lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp ngoài lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh còn có lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận khác

b Lợi nhuận hoạt động tài chính

Là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu từ hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính trong một thời kỳ nhất định

Trang 5

LN từ HĐTC = Thu nhập từ HĐTC - Chi phí HĐTC

Trong đó:

+ Thu nhập từ hoạt động tài chính có thể gồm : thu nhập do chia liên doanh, lợi tức cổ phiếu, lãi tiền gửi, thu nhập từ việc cho thuê tài sản, hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá chứng khoán đã trích năm trước nhưng không sử dụng hết, chiết khấu thanh toán được hưởng khi mua, thu nhập tài chính khác

+ Chi phí hoạt động tài chính: là các khoản chi phí đầu tư tài chính ra ngoài doanh nghiệp, nhằm sử dụng hợp lý các nguồn vốn, tăng thêm thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Các khoản chi phí này bao gồm: chi phí thực hiện hoạt động liên doanh liên kết, chi phí cho thuê tài sản, chi phí mua bán các loại chứng khoán, chiết khấu thanh toán dành cho khách hàng, chi phí lập dự phòng giảm giá chứng khoán, chi phí tài chính khác

Trên cơ sở xác định lợi nhuận từ các hoạt động khác nhau, tổng lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định như sau:

Tổng LN của DN = LN từ HĐSXKD + LN từ HĐTC + LN khác

Việc xác định chính xác lợi nhuận có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp Nó đảm bảo phản ánh đúng kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, là cơ sở cho việc đánh giá năng lực hoạt động của doanh nghiệp trên thương trường, đồng thời là cơ sở cho việc phân phối đúng đắn

Trang 6

lợi nhuận tạo ra để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên liên tục.

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên chúng ta không thể coi lợi nhuận là chỉ tiêu duy nhất để so sánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp bởi

vì nó có một số hạn chế nhất định Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, nó chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan những nhân tố khách quan và có sự bù trừ lẫn nhau Vì vậy, nếu chỉ căn cứ vào mức lợi nhuận thì không thể phản ánh đúng hết và không thấy được sự tác động của từng yếu tố đến lợi nhuận thu được của doanh nghiệp

Do điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện vận chuyển, thị trường tiêu thụ, thời điểm tiêu thụ có khác nhau làm cho lợi nhuận thu được giữa các doanh nghiệp

là không giống nhau

Các doanh nghiệp cùng loại nếu quy mô sản xuất kinh doanh khác nhau thì lợi nhuận thu được cũng sẽ khác nhau, ở những doanh nghiệp lớn nếu công tác quản lý kém nhưng số lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghiệp có quy

mô nhỏ nhưng công tác quản lý tốt hơn

Vì vậy, để đánh giá và so sánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau, ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối các nhà quản trị còn phải sử dụng đến các chỉ tiêu tương đối Đó là tỷ suất lợi nhuận hay còn gọi là mức doanh lợi

1.1.3 Tỷ suất lợi nhuận

Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tương đối cho phép so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các thời kỳ khác nhau, giữa kế hoạch với thực tế trong một doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành nghề kinh doanh Có một

số cách tính tỷ suất lợi nhuận sau đây:

Trang 7

1.1.3.1 Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng

Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước hoặc sau thuế của sản phẩm tiêu thụ với doanh thu tiêu thụ sản phẩm đạt được trong kỳ Đây là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Công thức tính như sau:

Tst = P/T * 100

Trong đó:

Tst: Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng.

P: Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ (trước hoặc sau thuế).

T: Doanh thu bán hàng trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng doanh thu mà doanh nghiệp thu được trong kỳ

sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế

1.1.3.2 Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh

Là quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận trước hoặc sau thuế đạt được với số vốn kinh doanh bình quân trong kỳ (bao gồm vốn cố định và vốn lưu động)

Công thức tính như sau:

Tsv = P/Vbq * 100

Trong đó:

Tsv : Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh.

P : Lợi nhuận trước (hay sau thuế ) trong kỳ

Vbq: Tổng số vốn kinh doanh bình quân trong kỳ.

Chỉ tiêu này phản ánh: Mỗi đồng vốn kinh doanh ở trong kỳ có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế Việc sử dụng tỷ suất lợi nhuận vốn

có thể đánh giá trình độ sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao hay thấp

Trang 8

1.1.3.3 Tỷ suất lợi nhuận giá thành

Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước hoặc sau thuế của sản phẩm tiêu thụ so với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ

Công thức tính như sau:

Tsg = P/Zt x 100

Trong đó:

Tsg : Tỷ suất lợi nhuận giá thành.

P : Lợi nhuận tiêu thụ trong kỳ.

Zt : Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ.

Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế về tiêu thụ sản phẩm Thông qua tỷ suất lợi nhuận giá thành có thể thấy rõ hiệu quả của chi phí bỏ vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong kỳ, nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận tiêu thụ và việc quản lý chi phí trong kỳ

1.1.3.4 Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với số vốn mà các chủ sở hữu tự bỏ ra trong quá trình kinh doanh

Tỷ suất này được tính như sau:

Tvcsh = Pst/ Vcsh x 100

Trong đó:

Tvcsh : Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.

Pst : Lợi nhuận sau thuế.

Vcsh : Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ

Trong các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn, các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp quan tâm nhiều nhất đến chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, chỉ tiêu này thể hiện một đồng vốn mà chủ doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ mang về cho họ bao nhiêu đồng lợi nhuận

Trang 9

Thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận sẽ giúp chúng ta có thể đánh giá được một cách chính xác, đầy đủ tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp đồng thời đánh giá so sánh được chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp với nhau một cách hoàn chỉnh hơn Chính vì vậy để đánh giá về chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đòi hỏi các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải biết kết hợp nghiên cứu cả chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối và chỉ tiêu lợi nhuận tương đối

1.2 Vai trò của lợi nhuận đối với hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh

tế thị trường

.1.2.1 Đối với doanh nghiệp

Một doanh nghiệp khi bắt tay vào sản xuất kinh doanh ở mỗi thời kỳ khác nhau đều đặt cho mình những mục tiêu nhất định Tuy nhiên, dù là mục tiêu nào đi chăng nữa thì cái đích cuối cùng phải là lợi nhuận Lợi nhuận cũng là một trong những yếu

tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung Đối với doanh nghiệp lợi nhuận có những vai trò làm tăng nguồn vốn của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp có vốn thực hiện tái sản xuất mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nâng cao hiệu quả lao động như mua sắm máy móc, dây chuyền công nghệ hiện đại sử dụng trong sản xuất

1.2.2 Đối với nền kinh tế

Thứ nhất: Doanh nghiệp là bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế, sự hoạt động hiệu quả cuả các doanh nghiệp là một trong những bước đệm quan trọng nhất giúp cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định

Thứ hai: Nền kinh tế tăng trưởng nhanh hay chậm phụ thuộc vào quy mô tích lũy, chính quy mô tích lũy sẽ quyết định đến quy mô tăng trưởng Doanh nghiệp muốn tăng trưởng nhanh thì phải có vốn để tái sản xuất mà nguồn chủ yếu để tái sản xuất là lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong quá trình sản xuất kinh doanh Thứ ba: Khi có lợi nhuận cao thì doanh nghiệp có thể tiến hành tái sản xuất

Trang 10

Tăng trưởng kinh tế sẽ tác động ngược trở lại tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và là động lực cho các doanh nghiệp có điều kiện phát triển.

Thứ tư: Lợi nhuận còn là một nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp Từ đó, nó góp phần thỏa mãn nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng bảo vệ tổ quốc, giữ vững an ninh xã hội, duy trì bộ máy hành chính, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

1.2.3 Đối với người lao động

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp muốn tiến hành một cách thường xuyên liên tục và có hiệu quả thì không thể thiếu được yếu tố lao động Vì vậy vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp là cần phải biết quan tâm đáp ứng yêu cầu của người lao động để họ nhiệt tình hăng say với công việc, phát huy hết năng lực của mình Lợi nhuận là nguồn để trích lập các quỹ bao gồm : quỹ khen thưởng, quỹ

dự phòng trợ cấp mất việc làm Đây chính là cơ sở để từng bước đáp ứng được nhu cầu đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Tăng lợi nhuận sẽ góp phần làm cho đời sống của người lao động từng bước được cải thiện

1.2.4 Đối với nhà đầu tư

Trước khi bỏ vốn cho một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó, các nhà đầu

tư luôn muốn biết đồng vốn của mình bỏ ra có sinh lời hay không Lợi nhuận sau thuế mà doanh nghiệp có khả năng thu được chính là tương lai mà họ kỳ vọng Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp là một căn cứ giúp nhà đầu tư có thể cân nhắc để ra những quyết định đúng đắn Nếu doanh nghiệp hoạt động thua lỗ, không đạt hiệu quả như mong muốn thì tất yếu sẽ có sự di chuyển vốn đầu tư sang lĩnh vực khác

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự tiến hành hạch toán kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình Không có lợi nhuận doanh nghiệp sẽ không mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh, không có điều kiện để thay đổi công nghệ sản xuất cũng như ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

Trang 11

vào trong quá trình sản xuất Thêm nữa, sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường luôn buộc các doanh nghiệp phải gồng mình lên để tồn tại Để có thể lấy được thế chủ động của mình trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này, động lực chủ yếu để giúp các doanh nghiệp chiến thắng không gì khác đó chính là lợi nhuận, Vì thế, lợi nhuận trở thành điều kiện quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

Việc phấn đấu tăng lợi nhuận là vấn đề thời sự nóng hổi vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay Để có thể tăng được lợi nhuận điều quan trọng là các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến sự tăng giảm lợi nhuận, để từ đó đề ra những biện pháp phát huy những nhân tố tích cực cũng như để hạn chế và loại trừ những ảnh hưởng tiêu cực

1.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp

Trong tổng số lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được ở trong kỳ thì lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là bộ phận chủ yếu chiếm tỷ trọng lớn nhất Do vậy khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp ta tập trung nghiên cứu vào các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh:

1.3.1 Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến doanh thu tiêu thụ

a Khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ

Khối lượng sản phẩm sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ Khi sản phẩm sản xuất ra càng nhiều thì khả năng tăng doanh thu sẽ càng lớn Khối lượng sản phẩm sản xuất còn phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp, tình hình tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm, việc ký kết hợp đồng tiêu thụ, việc giao hàng, vận chuyển và thanh toán tiền hàng Song nếu khối lượng sản phẩm sản xuất ra quá lớn trong khi đó nhu cầu tiêu dùng chỉ ở một mức độ nhất định, sản xuất vượt quá nhu cầu thị trường dẫn đến hiện tượng cung lớn hơn cầu, sản phẩm sản xuất ra không thể tiêu thụ được, hàng hoá bị ứ đọng Ngược lại, nếu khối lượng sản phẩm sản xuất ra không đáp ứng đủ nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp chưa khai thác được phần thị trường đang bỏ trống dẫn đến việc đánh mất các cơ hội trong quá trình kinh doanh, giảm doanh thu gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Việc xác định đúng đắn

Trang 12

nhu cầu của thị trường để đề ra kế hoạch sản xuất và tiêu thụ phù hợp là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của các doanh nghiệp.

b Chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ có ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cung ứng, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu ở những doanh nghiệp sản xuất mặt hàng với nhiều thứ hạng phẩm cấp khác nhau, sản phẩm nào có phẩm cấp cao thì giá bán sẽ cao hơn Vì vậy chất lượng chính là giá trị được tạo ra thêm trong sản phẩm Khi một doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm hay cung ứng dịch vụ có chất lượng cao sẽ góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp, tạo ra sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường Đây là một trong những điều kiện quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Ngày nay người tiêu dùng không chỉ đòi hỏi sản phẩm của doanh nghiệp cần phải tốt mà còn phải đẹp, vì thế nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã kiểu dáng sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng sẽ giúp doanh nghiệp tăng nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm Ngược lại những sản phẩm kém chất lượng không đúng với yêu cầu của khách hàng trong hợp đồng thì đơn vị mua hàng có quyền từ chối sản phẩm phải bán ra với giá thấp, doanh thu giảm và quan trọng hơn nữa là huỷ hoại uy tín của doanh nghiệp trên thị trường Kết cấu mặt hàng tiêu xã

hội càng phát triển thì nhu cầu của người tiêu dùng càng tăng lên, do đó hoạt động

sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng trở nên đa dạng phong phú hơn Mỗi doanh nghiệp thường tiến hành sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng với kết cấu khác nhau Mỗi mặt hàng có giá bán và chi phí sản xuất kinh doanh khác nhau nên lợi nhuận đem lại từ các mặt hàng cũng có sự khác khau Tuy nhiên khi thay đổi kết cấu mặt hàng tiêu thụ đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải chú ý đến các đơn đặt hàng, bởi lẽ trong cơ chế thị trường việc giữ uy tín đối với khách hàng là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp Nếu như việc thay đổi kết cấu mặt hàng vừa làm tăng lợi nhuận đồng thời vừa hoàn thành kế hoạch sản xuất theo đơn đặt hàng thì đây là một thành tích của doanh nghiệp, nó thể hiện sự năng động nhạy bén cuả các nhà quản trị doanh nghiệp trong việc nghiên cứu, nắm bắt, kịp thời đáp ứng nhu cầu của thị trường

Trang 13

c Giá bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ

Trong trường hợp các nhân tố khác không có gì thay đổi việc thay đổi giá bán cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận Nếu giá thành sản phẩm sản xuất hay chi phí kinh doanh không đổi thì việc nâng cao giá bán sẽ có thể làm cho lợi nhuận tăng Vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp là phải biết dung hoà mối quan hệ giữa giá bán và khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ, nếu doanh nghiệp tăng giá bán trong điều kiện không phù hợp sẽ làm cho khối lượng sản phẩm tiêu thụ bị giảm sút, gây ứ đọng vốn, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận Giá bán tăng hay giảm một phần quan trọng là do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định, do vậy để đảm bảo có doanh thu và lợi nhuận doanh nghiệp cần phải đưa ra chính sách giá hợp lý

d Thị trường tiêu thụ và phương thức tiêu thụ, khả năng thanh toán tiền hàng

Đây là một nhân tố có ảnh hưởng khá lớn đến doanh thu tiêu thụ Nhắc đến thị trường phải xét đến cả phạm vi thị trường và khả năng thanh toán của thị trường Nếu sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất ra phù hợp với nhu cầu thị trường được thị trường chấp nhận thì việc tiêu thụ sản phẩm sẽ dễ dàng hơn Bên cạnh đó việc lựa chọn phương thức tiêu thụ cũng có ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp muốn bán được hàng cần phải dành sự ưu đãi nhất định đối với người mua bằng cách đưa ra những phương thức tiêu thụ một cách phù hợp với từng đối tượng Nhận thức được điều này sẽ giúp các doanh nghiệp có thể tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận

1.3.2 Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chi phí

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều nhân

tố Có thể chia ra làm 3 nhóm nhân tố chủ yếu sau đây:

a Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ

Hiện nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ

ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, với những công nghệ mới, những phát minh mới để làm thay đổi bộ mặt của nền sản xuất Các máy móc thiết bị hiện đại được

Trang 14

triệt để, đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất đồng thời tránh được sự lãng phí Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật có thể trực tiếp làm tăng năng suất suất lao động, tiết kiệm thời gian lao động, nhờ vậy sẽ giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm.

b Tổ chức lao động và sử dụng con người

Lao động là một trong ba yếu tố không thể thiếu được của quá trình sản xuất, việc tổ chức lao động một cách khoa học sẽ tạo ra được sự kết hợp hài hoà giữa các yếu tố sản xuất, loại trừ tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy, đồng thời có tác dụng đối với việc nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm Do khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển nên các doanh nghiệp cũng cần phải kết hợp việc đào tạo bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người lao động trong quá trình sản xuất,tiếp thị giới thiệu cho người tiêu dùng

c Tổ chức quản lý sản xuất và tài chính

Khi tổ chức quản lý sản xuất đạt đến một trình độ cao có thể giúp doanh nghiệp xác định được định mức sản xuất và phương thức sản xuất tối ưu, từ đó có thể tiết kiệm các chi phí trong quá trình sản xuất và hạ giá thành sản phẩm Việc bố trí hợp lý các khâu sản xuất có thể hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, hạ thấp tỷ lệ phế phẩm

Các biện pháp tài chính như khen thưởng, khuyến khích các cá nhân, tổ, đội có thành tích cao, cùng với các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, ví dụ như quản lý tốt vật tư cung ứng và dự trữ có thể đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra một cách liên tục mà vẫn tránh được tình trạng ứ đọng vốn hoặc mất mát vật

tư, hoặc việc đẩy mạnh sự chu chuyển vốn làm giảm nhu cầu vay vốn có thể giảm bớt chi phí lãi vay, quản lý tốt các khoản phải thu, phải trả tăng vòng quay của vốn, tiết kiệm các khoản chi phí bằng tiền không cần thiết cũng đều góp phần tích cực làm giảm chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, để từ đó có điều kiện tăng lợi nhuận

1.3.3 Sự quản lí của Nhà nước

Nhà nước có chức năng cơ bản là quản lý và điều tiết nền kinh tế tạo môi trường kinh doanh có lợi cho doanh nghiệp Công cụ để nhà nước thực hiện chức

Trang 15

năng này là các chính sách kinh tế- xã hội của nhà nước như: khuyến khích đầu tư vào các khu vực chậm phát triển, khuyến khích sản xuất những mặt hàng trong nước sản xuất được, bảo vệ hàng trong nước bằng các chính sách mậu dịch, thuế Những chính sách này không chỉ tác động đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mà còn tác động trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp Vì khi điều kiện sản xuất tốt hơn thì chi phí sản xuất giảm, giá thành sản phẩm hạ hoặc thị trường ổn định sẽ tạo điều kiện cho sản xuất được liên tục, thuận lợi từ đó làm cho lợi nhuận tăng lên.

Trang 17

1.4 Phương hướng và biện pháp chủ yếu góp phần làm tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp

Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mình mà mỗi một doanh nghiệp sẽ đưa ra những biện pháp khác nhau để có thể tăng lợi nhuận Nhìn chung để tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiện nay có những hướng sau đây

1.4.1 Tăng doanh thụ tiêu thụ sản phẩm

a Đầu tư mở rộng thị phần tiêu thụ sản phẩm

Đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường được gần 20 năm, đất nước ta đã hội nhập WTO, nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, mức sống của nhân dân ngày càng được nâng cao, đồng thời thị trường còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác

Với tình hình trên, muốn mở rộng thị phần tiêu thụ của mình thì các doanh nghiệp phải thực hiện các biện pháp như: hoạch định rõ các khu vực khách hàng, đâu là khách hàng thường xuyên, đâu là khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp để

từ đó có chính sách phù hợp như chào đón, tiếp xúc khách hàng, tận dụng khả năng tiềm tàng của thị trường, tăng cường quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp ra thị trường bằng công tác quảng cáo, tiếp thị, thăm dò ý kiến người tiêu dùng

Đầu tư mở rộng thị phần tiêu thụ ngày nay mang một vị trí quan trọng trong tổng thể kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp Qua đó giúp doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường, hoà nhập và tận dụng tối đa tiềm năng của thị trường

Trang 18

b Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm:

Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm không chỉ là tăng khả năng cạnh tranh của mỗi sản phẩm trên thị trường mà còn là biện pháp tăng doanh thu tiêu thụ sản phẩm Nâng cao chất lượng sản phẩm là một công tác không thể thiếu được trong môi trường kinh doanh hiện nay

Để làm được như vậy, ngoài việc phải có biện pháp quản lý và sử dụng lao động hợp lý, nâng cao trình độ tay nghề công nhân viên, doanh nghiệp phải tiến hành đầu tư theo chiều sâu như: mua sắm thêm máy móc thiết bị hiện đại, áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới

c Xây dựng chính sách giá cả hợp lý:

Giá cả sản phẩm là một yếu tố quan trọng người mua cân nhắc khi tiêu dùng một hàng hoá nào đó Sản phẩm của doanh nghiệp làm ra muốn tiêu thụ được thì giá cả phải phù hợp với túi tiền của khách hàng Việc định giá có thể được thực hiện theo hai phương hướng sau:

- Định giá theo quan hệ cung cầu trên thi trường: giá cả sản phẩm của doanh nghiệp lên xuống theo giá cả thị trường

- Định giá sản phẩm để mở rộng thị trường: đây là chính sách vừa để cạnh tranh vừa để tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Việc định giá sản phẩm thấp hơn giá

cả trên thị trường làm tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa bán ra, xét trên 1 đơn vị sản phẩm thì lợi nhuận đơn vị giảm xuống, nhưng xét trên tổng thể toàn doanh nghiệp thì tổng lợi nhuận không giảm mà còn tăng lên Tuy vậy, giải pháp này không phải lúc nào cũng khả thi, mà nó còn phụ thuộc vào tiềm năng của thị trường

và khả năng tài chính của doanh nghiệp

d Tổ chức tốt công tác tiêu thụ sản phẩm và lựa chọn hình thức thanh toán phù hợp:

Ngày nay, để nâng cao doanh thu tiêu thụ sản phẩm và cung cấp sản phẩm đến tay các “thượng đế”, hình thức bán sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng đa dạng hơn Để tăng cường công tác tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể tổ chức các

Trang 19

hình thức bán hàng như: bán hàng qua đại lý, bán hàng trả góp, bán trực tiếp, chuyển hàng đến tay người tiêu dùng hơn nữa còn có thể bán hàng qua điện thoại, qua mạng internet

Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn cần có các biện pháp tài chính nhằm khuyến khích khách hàng mua hàng với khối lượng nhiều, thanh toán nhanh, bằng các hình thức: chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán Các hình thức thanh toán này ngoài tác dụng như trên còn có tác dụng tạo mối quan hệ mật thiết giữa doanh nghiệp và khách hàng, tạo mối quan hệ làm ăn lâu dài

1.4.2 Phấn đấu giảm chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm

Đây là phương thức cơ bản và lâu dài đối với mọi doanh nghiệp Trong điều kiện giá bán và mức thuế đã được xác định thì lợi nhuận ròng của một đơn vị sản phẩm tăng thêm hay giảm đi là do giá thành sản phẩm quyết định Để hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận các doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp sau:

a Phấn đấu tăng năng suất lao động

Năng suất lao động phản ánh năng lực sản xuất của người lao động, biểu hiện bằng số sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hay thời gian cần thiết để tạo ra một đơn vị sản phẩm Do đó, tăng năng suất lao động là tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một khoảng thời gian nhất định hay giảm số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Điều này làm cho chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm giảm đi Bên cạnh đó việc tăng năng suất lao động kéo theo sự giảm đi của hàng loạt các loại chi phí, đặc biệt là chi phí cố định kết tinh trong đơn

vị sản phẩm Để tăng năng suất lao động doanh nghiệp cần:

- Đầu tư đổi mới quy trình công nghệ, hiện đại hoá máy móc thiết bị

Sự tiến bộ của khoa học công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thay đổi quy trình công nghệ, cải tiến máy móc hiện đại sao cho phù hợp với nhu cầu của quá trình sản xuất, từ đó giúp cho doanh nghiệp có thể tăng năng suất lao động, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận

- Tăng cường quản lý, sử dụng có hiệu quả máy móc thiết bị

Trang 20

Việc tăng cường sử dụng máy móc thiết bị phải đồng thời tiến hành trên cả hai hướng: vừa tăng số lượng máy móc thiết bị trên đầu người lao động vừa phải phát huy hết công suất nâng cao hiệu quả sử dụng máy

- Sắp xếp bố trí lao động một cách hợp lý

Sắp xếp bố trí lao động một cách hợp lý nhằm tạo nên sự đồng bộ thống nhất tạo ra sự kết hợp hài hoà giữa các khâu, các công đoạn của quá trình sản xuất Điều này giúp doanh nghiệp có thể sử dụng thời gian lao động một cách hiệu quả, tăng năng suất lao động

- Nâng cao trình độ tay nghề và ý thức trách nhiệm cho ngưòi lao động

Các doanh nghiệp cần thiết phải thực hiện công tác đào tạo và bồi dưỡng cho người lao động để nâng cao trình độ tay nghề, lớp bồi dưỡng nghiệp vụ bán hàng cho nhân viên đồng thời quan tâm chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động Ngoài tiền lương cần thiết phải có những chính sách khen thưởng hợp lý, tạo ra môi trường làm việc bình đẳng, thoải mái để khuyến khích người lao động hăng say làm việc, gắn lợi ích của mình với lợi ích tập thể Từ đó góp phần tăng năng suất lao động cho doanh nghiệp

b Tiết kiệm nguyên vật liệu

Đối với các các doanh nghiệp sản xuất, khoản chi về nguyên liệu vật liệu thông thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp tiết kiệm được khoản chi phí này thì sẽ có tác dụng rất lớn đến việc hạ giá thành sản phẩm Muốn vậy doanh nghiệp cần thực hiện tốt các công việc sau:

- Thực hiện tốt công tác cung ứng nguyên vật liệu

Ngay từ khi lập kế hoạch cung ứng vật tư phải có sự phù hợp với kế hoạch sản xuất về tiến độ cung ứng và khối lượng cung ứng, tránh tình trạng sản xuất bị gián đoạn do thiếu nguyên vật liệu hay bị ứ đọng vốn do dự trữ vốn tồn kho quá lớn Các doanh nghiệp cũng phải thường xuyên xem xét nghiên cứu để tìm nguồn nguyên liệu có chất lượng tốt, giá cả hợp lý

- Tăng cường tổ chức quản lý nguyên vật liệu một cách hiệu quả nhất

Trang 21

Tổ chức quản lý nguyên vật liệu sao cho nguyên vật liệu dùng trong sản xuất không bị mất mát hao hụt, thường xuyên kiểm tra nguyên vật liệu tồn kho có đảm bảo cả về chất lượng và số lượng hay không; nếu phát hiện ra hàng bị mát mát, hay kém chất lượng cần phải có biện pháp xử lý kịp thời

- Xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu:

Nghiên cứu, xây dựng định mức tiêu hao nguyên vật liệu, đồng thời thường xuyên rà soát kiểm tra định mức tiêu hao nhằm kịp thời điều chỉnh mới cho phù hợp Tích cực cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ nhằm tiết kiệm nguyên vật liệu

c Xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý gọn nhẹ, hiệu quả

Vịêc xây dựng bộ máy quản lý gọn nhẹ không chồng chéo phù hợp với đặc điểm riêng của từng ngành giúp các doanh nghiệp có thể giảm bớt các khoản chi phí liên quan đến nhân công và đặc biệt là khoản chi phí quản lý Song song với việc rút gọn bộ máy quản lý, doanh nghiệp cũng cần phải tuyển chọn đào tạo những cán bộ công nhân viên có trình độ cao, đáp ứng nhu cầu công việc

1.4.3 Tổ chức sử dụng vốn và nguồn vốn có hiệu quả

Trong cơ chế thị trường để tạo ra lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả Đối với vốn cố định doanh nghiệp cần phải lựa chọn cho mình một phương pháp khấu hao thích hợp, tận dụng tối đa năng lực hiện có, kết hợp với việc xử lý nhanh chóng số tài sản không cần dùng và thanh

lý để nhanh chóng quay vòng vốn, tránh được hao mòn vô hình và hữu hình Đối với vốn lưu động, doanh nghiệp cần quản trị tốt các khoản phải thu, phải trả tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn, cần quản trị tốt vật tư hàng hoá tồn kho để tránh ứ đọngvốn, tránh mất mát hư hỏng qua đó tăng nhanh số vòng quay vốn lưu động Như vậy có thể tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ gía thành sản phẩm

Về nguồn vốn, tuỳ thuộc điều kiện của mình các doanh nghiệp sẽ xây dựng cơ cấu nguồn vốn hợp lý, điều quan trọng là các doanh nghiệp phải biết sử dụng ảnh hưởng tích cực của đòn bẩy tài chính để tăng lợi nhuận nhưng vẫn giữ được tính tự chủ về mặt tài chính

Trang 22

Trên đây là những biện pháp cơ bản để tăng lợi nhuận trong doanh nghiệp Nhưng trong thực tế, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các yếu tố khác nhau: điều kiện tự nhiên, qui mô sản xuất, tình hình tài chính Vì vậy, không có một biện pháp nào có thể được sử dụng chung cho tất cả các doanh nghiệp Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp tìm ra các giải pháp thích hợp cho riêng mình.

Trang 23

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY TNHH CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠ NG MẠI NGÂ N HOÀNG

2.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Công Nghiệp và TM Ngân Hoàng

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Ngân Hoàng được thành lập ngày 12/12/2003, theo giấy chung nhan dang ky kinh doanh số 0102010767 do Sở Kế Hoạch và Đầu Tư thành phố Hà Nội cấp

Tên đầy đủ: Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Ngân Hoàng

Tên giao dịch quốc tế : NGAN HOANG INDUSTRY AND TRADING COMPANY LIMITED

Tên viết tắt : NGAN HOANG CO.,LTD

Trụ sở : 328 Bà Triệu - P.Lê Đại Hành - Hai Bà Trưng - Hà Nội

để kinh doanh để đạt hiểu quả cao Đồng thời công ty cũng luôn đào tạo và duy trì đội ngũ công nhân có tay nghề cao, đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao,vững vàng bên cạnh đó,công ty luôn tập trung tìm kiếm thị trường tiệu thụ tiềm năng Thị trường tiêu thụ của công ty thường như là các Ngân hàng các tỉnh, các quỹ tín dụng, các doanh nghiệp

Với những nỗ lực trong suốt những năm qua, Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Ngân Hoàng đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, là một trong những Công ty chuyên về thiết bị ngân hàng, tin học, viễn thông có chất lượng, quy mô hoạt động kinh doanh ngày càng được mở rộng và là đại lý của

Trang 24

chuyển giao công nghệ ra đời hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thiết bị khoa học, thí nghiệm, hiệu trắc địa, giảng dạy và đo lường tự động Đặc biệt sau nhiều năm hoạt động trong cơ chế thị trường, công ty đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quản

lý và tổ chức sản xuất kinh doanh, tích luỹ thêm vốn và năng lực sản xuất Quan hệ của Công ty với các đối tác ngày càng được mở rộng, nhờ vậy doanh thu hàng năm không ngừng tăng trưởng ở mức cao và ổn định

2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh.

2.1.2.1 Đặc điểm tổ chức quản lý

Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Ngân Hoàng là một doanh

nghiệp tổ chức quản lý theo mô hình một cấp: đứng đầu là giám đốc, tiếp đến

là các phòng ban, có nhiệm vụ trực tiếp giúp việc cho giám đốc

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty

2.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của lãnh đạo và các phòng ban công ty

Giám đốc:

Là một trong những sáng lập viên đầu tiên, chỉ đạo điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh của Công ty, ban hành quy định và các quyết định cuối cùng, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Doanh nghiệp

Trang 25

Phó giám đốc:

Là một trong những sáng lập viên của Doanh nghiệp cộng tác viên đắc lực của giám đốc, có nhiêm vụ quản lí và giám sát chặt chẽ mọi hoạt động kinh doanh của Công ty

Phòng kinh doanh:

Có nhiệm vụ chính là đem được sản phẩm tới tay khách hàng, ngoài ra họ còn

có nhiệm vụ là đào tạo nhân viên mới, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, xây dựng các

kế hoạch kinh doanh của Công ty dựa trên các hợp đồng đã ký.s

Nhiệm vụ:

- Lập kế hoạch tiêu thụ các sản phẩm của Công ty

- Dự thảo và chỉnh lý các hợp đồng kinh tế theo đúng pháp luật, quản lý và theo dõi thực hiện tốt các hợp đồng kinh tế đã ký kết

- Tổ chức làm tốt công tác thống kê báo cáo

- Tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm

Phòng kế toán: Công ty là một đơn vị hạch toán kinh tế độc lập được tổ

chức theo mô hình hạch toán tập trung Vì thế phòng kế toán có chức năng theo dõi, ghi chép, phản ánh các nhiệm vụ kinh tế phát sinh trong công ty

Trang 26

● Kho:

Có nhiệm vụ giao nhận hàng hóa Sắp xếp hàng hóa trong kho đảm bảo kho hàng luôn gọn gàng, dễ dàng trong việc nhập xuất hàng hóa Điều hành công tác vận chuyển hàng hóa

Đây là sơ đồ theo kiểu trực tuyến chỉ huy Giám đốc tập trung toàn bộ quyền lực dưới quyền điều khiển của mình Công ty tận dụng ưu điểm của hình thức tổ chức này là mọi quyết định đều đươc thực hiện một cách nhanh chóng, sản xuất kinh doanh linh hoạt, phản ứng kịp thời đối với những biến động nhanh chóng của thị trường

Tuy nhiên hình thức này cũng có những nhược điểm Công ty chú ý khắc phục: không tập trung được trí tuệ tập thể nên sản xuất kinh doanh dễ gặp rủi ro vì hầu như các quyết định phụ thuộc vào ý chủ quan của ban lãnh đạo

2.1.2.3 Về sản xuất kinh doanh.

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ về quy trình kinh doanh hàng hóa của Công ty

Do đặc điểm hoạt động là một công ty thương mại với chức năng chính là phân phối các sản phẩm có thương hiệu, là người trung gian trong việc đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng Vì vây, quy trình hoạt động kinh doanh của Công

ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Ngân Hoàng là khá đơn giản: Công ty nhập hàng từ các đơn vị sản xuất về kho, sau đó quản lý và thực hiện chức năng phân phối đưa sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp đến người tiêu dùng Trong các công đoạn nhận hàng từ nhà sản xuất hoặc đơn vị uỷ quyền của nhà sản xuất, đến công đoạn quản lý, phân phối thì một công đoạn không thể thiếu được đó chính là công đoạn kiểm tra giám sát Việc kiểm tra giám sát này nhằm mục đích đảm bảo quy trình kinh doanh của công ty được thực hiện đúng, chính xác, hợp lý

2.1.3 Tình hình hoạt động của công ty 3 năm 2009, 2010 và 2011

Trang 27

Mặc dù nền kinh tế đang có nhiều biến động như hiện nay, đặc biệt ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Nhưng với sự nỗ lực phấn đấu không ngừng nên tình hình tài chính của công ty vẫn được duy trì ổn định Điều này được thể hiện rõ ở bảng cân đối kế toán dạng tóm tắt trích từ những năm gần đây như sau:

Bảng 2.1 : Bảng tài sản và nguồn vốn năm 2009- 2011

Trang 28

Qua bảng phân tích trên ta thấy tổng tài sản và nguồn vốn của công ty tăng mạnh từ năm 2009 - 2011 Điều này thể hiện quy mô kinh doanh của công ty ngày càng được mở rộng, đang phát triển ổn định Mặc dù ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng tình hình tài chính vấn giữ được ổn định và phát triển đều ở các năm Đây là một tín hiệu đáng mừng của công ty Có được kết quả như vậy là nhờ sự nỗ lực làm việc, nhanh nhạy bén của ban lãnh đạo công ty trong chiến lược phát triển của công ty trong tương lai Từ bảng trên ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu của công ty tăng mạnh từ năm 2008 - 2011 Cụ thể vốn chủ sở hữu năm 2010 so với năm 2009 là 1276 triệu đồng tương ứng với 15.89% Năm 2011 tăng so với năm 2010 là 1439 triệu đồng tương ứng với 15.46% Qua đây ta thấy công ty đã đầu

tư ngày càng nhiều vào sản xuất để mở rộng quy mô Vốn chủ sở hữu tăng một phần do công ty đã vay vốn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng để mở rộng Tính đến năm 2011 vốn chủ sở hữu là 10744 triệu đồng Đồng thời khoản nợ phải trả của công ty cũng tăng thêm cả nợ ngắn hạn và dài hạn Do quy mô sản xuất được mở rộng nên ta cũng thấy chỉ tiêu hàng tồn kho của công ty tăng lên đáng kể giữa các năm Đây cũng là điều hợp lý vì khối lượng hàng hóa phải dự trữ nhiều cho quá trình tiêu thụ Hơn nữa ta thấy công ty có định mức về lượng tiền trong lưu thông rất hợp lý Qua chỉ tiêu tiền và các khoản tương đương tiền có thể thấy năm

2010 tăng so với năm 2009 là 113 triệu đồng, tương ứng 13.3% Năm 2011 tăng so với năm 2010 là 88 triệu đồng tương ứng là 9.18% Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế đồng tiền bị mất giá nhiều nên công ty không để lượng tiền mặt lớn Như chúng ta biết lượng tiền mặt tồn quỹ nhiều sẽ không tốt, đặc biệt trong điều kiện kinh tế như hiện nay thì không nên Do đó công ty đã ứng phó kịp thời không

để lượng mặt nhiều mà thay vào đó ta thấy các chỉ tiêu như hàng tồn kho và tài sản

cố định của công ty đều tăng

Qua phân tích trên ta thấy tình hình tài chính của công ty rất ổn định mặc dù trong nền kinh tế biến động Điều này cho thấy khả năng phát triển của công ty trong thời gian tới rất tốt

- Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Công nghiệp và

Thương mại Ngân Hoàng Thực tế trong 3 năm 2009, 2010 và 2011 được phản ánh

ở bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy:

Trang 29

Bảng 2.2 BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH

ĐVT: VNĐ

Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch

2010/2009

Chênh lệch 2011/2010

Trang 30

Từ bảng ta thấy tổng doanh thu thuần năm 2010 đạt 8.851.912.696 đồng tăng so với năm 2009 là 534.520.560 đồng tương ứng với mức tăng là 6.42% Mức tăng năm

2011 so với năm 2010 là 677.480.221 đồng, tương ứng tăng 7.65% Như vậy, doanh thu trong 3 năm tăng đáng kể và đều nhau, có được kết quả đó là nhờ sự nhanh nhạy bén ứng phó kịp thời của ban lãnh đạo công ty Mặc dù trong nền kinh

tế nhiều biến động và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế như hiện nay, nhưng ta thấy kết quả kinh doanh của công ty vẫn đều giữa các năm Tuy kết quả của năm 2011 tăng lên không nhiều như năm 2010 so với năm 2009 nhưng kết quả kinh doanh vẫn duy trì được ổn định Đây là một dấu hiệu tốt là một điều kiện để công ty phát huy hơn nữa ở các kỳ kinh doanh tiếp theo Bên cạnh đó ta cũng thấy giá vốn hàng bán giữa các năm tăng khá cao và đều nhau Cụ thể giá vốn năm 2010 tăng so với năm 2008 là 420.856.694 đồng, tương ứng với mức tăng là 5.6% Năm

2011 tăng so với năm 2009 là 489.304.332 đồng, tương ứng mức tăng 6.18% Giá vốn hàng bán tăng chứng tỏ sản lượng tiêu thụ của công ty tăng lên, quy mô sản xuất được mở rộng Đây là một dấu hiệu tốt vì điều này chứng tỏ sản phẩm của công ty được thị trường ưa chuộng

Mặt khác các khoản chi phí bán hàng và quản lý của công ty cũng tăng lên giữa các năm Khi giá vốn hàng bán tăng thì các khoản chi phí này tăng ta thấy cũng hợp lý Hơn nữa ta cũng thấy các khoản chi phí khác, thu nhập khác, chi phí tài chính, doanh thu tài chính cũng tăng lên giữa các năm Điều đó góp phần làm lợi nhuận trước thuế tăng lên Cụ thể năm 2010 tăng so với năm 2009 là 70.103.682 đồng tương ứng tăng 8.9% Năm 2011 tăng so với năm 2010 là 98.498.961 đồng tương ứng tăng 10.38% Qua đây ta càng thấy kết quả kinh doanh của công ty luôn được duy trì phát triển ổn định Lợi nhuận tăng góp phần mở rộng quy mô sản xuất

Từ đó tạo được nhiều việc làm, nâng cao đời sống người lao động

Như vậy qua phân tích các chỉ tiêu của báo cáo kết quả kinh doanh ta thấy được tình hình kinh doanh của công ty rất ổn định Mặc dù nền kinh tế có nhiều biến động, nhưng công ty vẫn duy trì được kết quả của mình đều qua các năm Đấy cũng là nhờ sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn thể cán bộ nhân viên trong công ty

Trang 31

2.2 Thực trạng lợi nhuận của Công ty TNHH Công nghiệp và Thương mại Ngân Hoàng.

2.2.1 Tình hình chung về lợi nhuận của Công ty

Căn cứ vào bảng 2.2 cho thấy kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Công nghệ và Thương mại Ngân Hoàng nhìn chung tăng so với các năm trước, Tốc độ tăng của năm 2011 lớn hơn tốc độ tăng của năm 2010 so với năm

2009 và chỉ tiêu phản ánh rõ nhất về tình hình hoạt động của Công ty là lợi nhuận Lợi nhuận của Công ty TNHH Công nghệ và Thương mại Ngân Hoàng bao gồm: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ các hoạt động khác Năm 2009 tổng lợi nhuận kế toán trước thuế là 787.548.286 đồng trong đó có 821.576.502 đồng là lợi nhuận thu được từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng 89,4% tổng lợi nhuận, lợi nhuận từ hoạt động tài chính là 390.420.400 đồng chiếm tỷ trọng 8,5% tổng lợi nhuận và lợi nhuận khác là 236.244.170 đồng chiếm tỷ trọng 2,2% tổng lợi nhuận Năm 2010 tổng lợi nhuận kế toán trước thuế là 948.651.968 đồng trong đó có 3.839.006.000 đồng là lợi nhuận thu được từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng 89,4% tổng lợi nhuận, lợi nhuận từ hoạt động tài chính là 444.559.111 đồng chiếm tỷ trọng 8.1% tổng lợi nhuận và lợi nhuận khác là 313.223.455 đồng chiếm tỷ trọng 2,5% tổng lợi nhuận Năm 2011 tổng lợi nhuận kế toán trước thuế là 1.047.150.92 đồng trong đó có 8.233.475.000 đồng là lợi nhuận thu được từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ chiếm tỷ trọng 99,8% tổng lợi nhuận, lợi nhuận

từ hoạt động tài chính là (51.141.000) đồng chiếm tỷ trọng (1)% tổng lợi nhuận và lợi nhuận khác là 68.689.000 đồng chiếm tỷ trọng 1,2% tổng lợi nhuận Những số liệu trên cho thấy Lợi nhuận của Công ty chủ yếu là thu được từ hoạt động sản suất kinh doanh, đối với hoạt động tài chính và hoạt động khác có lợi nhuận nhưng lợi nhuận nhỏ riêng năm 2009 doanh thu từ hoạt động tài chính nhỏ hơn chi phí tài chính do vậy lợi nhuận từ hoạt động tài chính mang dấu âm do đó làm tổng lợi nhuận của công ty giảm tuy nhiên tỷ lệ giảm không lớn không ảnh hưởng nhiều đến kết quả của công ty

Trang 32

Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty

TNHH Công nghiệp và Thương mại Ngân Hoàng.

Trang 33

Trong 3 năm 2009, 2010 và 2011 cùng với sự tăng lên của doanh thu thì giá vốn hàng bán cũng tăng lên qua các năm cụ thể năm 2010 doanh thu thuần tăng 534.520.560 đồng tương đương với 6,04%, giá vốn năm 2010 tăng 420.856.694 đồng tương đương với 5,32% Nhìn chung, tốc độ tăng của giá vốn hàng bán nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu mặc dù chêch lệch không quá lớn Năm 2011 doanh thu thuần là 9.529.392.917 đồng tăng 677.480.221 đồng tương ứng với 7.11% so với năm 2010 Điều này đã cho thấy phần nào công tác quản lý giá thành nói chung của toàn công ty có dấu hiệu tốt.

Lợi nhuận gộp của công ty trong năm 2010 tăng 113.663.866 đồng tương ứng với tỷ lệ 12,15% so với năm 2009 Năm 2011 lợi nhuận tăng 188.175.889 đồng tương ứng với tỷ lệ 16,75% Để xác định được lợi nhuận thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ của công ty ta cần xác định được chi phí bán hàng trong năm Chi phí bánh hàng năm 2009 là 235.240.392 đồng, năm 2010 là 324.255.758 đồng tăng 89.015.366 đồng so với năm 2009 tương ứng với 27,45% Năm 2010 so với năm 2009 thì tốc độ tăng của chi phí bán hàng là 27.45% lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu 6,04% cho thấy tình hình quản lý chi phí bán hàng năm 2010 không tốt, sang đến năm 2011 tình hình quản lý chi phí bán hàng càng xấu đi cụ thể năm

2010 tốc độ tăng của chi phí bán hàng 36.49% lớn hơn rất nhiều tốc độ tăng của doanh thu 7.11% Lợi nhuận trước thuế từ bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng dần qua các năm cụ thể: năm 2009 lợi nhuận từ bán hàng và cung cấp dịch vụ là 586.336.110 đồng, năm 2010 lợi nhuận từ bán hàng và cung cấp dịch vụ là 610.984.610 đồng tăng so với năm 2009 số tiền là 24.648.500 đồng tương ứng 4,03%.Sang năm 2011 lợi nhuận từ bán hàng và cung cấp dịch vụ là 612.882.777 đồng tăng so với năm 2010 số tiền là 1.898.167đồng tương ứng 0,31%

2.2.2 Những đánh giá về tình hình lợi nhuận của Công ty TNHH Công nghệ và Thương mại Ngân Hoàng.

2.2.2.1 Những kết quả Công ty đã đạt được

a Về tình hình thực hiện doanh thu tiêu thụ sản phẩm

Ngày đăng: 09/11/2015, 16:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty - Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty TNHH công nghiệp và thương mại ngân hoàng
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty (Trang 24)
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ về quy trình kinh doanh hàng hóa của Công ty - Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty TNHH công nghiệp và thương mại ngân hoàng
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ về quy trình kinh doanh hàng hóa của Công ty (Trang 26)
Bảng 2.1 : Bảng tài sản và nguồn vốn năm 2009- 2011 - Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty TNHH công nghiệp và thương mại ngân hoàng
Bảng 2.1 Bảng tài sản và nguồn vốn năm 2009- 2011 (Trang 27)
Bảng 2.2. BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH - Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty TNHH công nghiệp và thương mại ngân hoàng
Bảng 2.2. BẢNG BÁO CÁO KẾT QUẢ KINH DOANH (Trang 29)
Bảng 2.5: Hiệu quả sản xuất kinh doanh - Lợi nhuận và các giải pháp tăng lợi nhuận tại công ty TNHH công nghiệp và thương mại ngân hoàng
Bảng 2.5 Hiệu quả sản xuất kinh doanh (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w