Tính cấp thiết của chuyên đề Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh nghiệpnào, vốn được xem là điều kiện cần và đủ và là một trong những yếu tố quantrọng nhất kh
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của chuyên đề
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ loại hình doanh nghiệpnào, vốn được xem là điều kiện cần và đủ và là một trong những yếu tố quantrọng nhất khi doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế vận hành theo cơ chếthị trường đòi hỏi sự tự chủ cao về tài chính Vốn chủ sở hữu càng nhiều, khảnăng thanh toán cũng như khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh của doanhnghiệp càng cao Đặc biệt đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, phảihoạt động theo cơ chế thị trường không có sự bao cấp và ưu đãi của Nhà nướctrong khi tích luỹ tư bản hầu như chưa có, vốn ngân sách cấp không đáng kể,vốn đầu tư kinh doanh cần huy động bổ sung lại rất lớn Vì vậy, việc nghiêncứu tìm ra giải pháp cho công tác huy động vốn tại các doanh nghiệp cầnđược đặt ra một cách nghiêm túc Công ty Cổ phần Thương mại và du lịchThành Nam là một doanh nghiệp hoạt động đa chức năng, đa ngành nghề, lĩnhvực trong đó hoạt động kinh doanh xây lắp đóng vai trò chủ đạo, nhu cầu vốncho đầu tư cũng như sản xuất kinh doanh là hết sức lớn trong khi vốn chủ sởhữu chưa đủ để đầu tư trang bị thiết bị máy móc phục vụ thi công chứ chưanói đến đầu tư phát triển
2 Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về vai trò của hoạt
động huy động vốn tới sự phát triển phát triển của công ty, từ đó có sự vận dụng một cách hợp lý vào điều kiện cụ thể tại Công ty Cổ phần Thương Mại
và du lịch Thành Nam
Thứ hai, đánh giá thực trạng huy động vốn tại Công ty Cổ phần thương
mại và du lịch Thành Nam
Trang 2Thứ ba, xác định mục tiêu và định hướng cho Công ty đầu tư thời gian,
con người, vật chất vào hoạt động huy động vốn và từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn trong giai đoạn sắp tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động huy động vốn và vai trò củatăng cường huy động vốn tại công ty cổ phần thương mại và du lịchThành Nam
Phạm vi nghiên cứu là việc tăng cường huy động vốn tại công ty cổphần thương mại và du lịch Thành Nam
Do đó, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp tăng cường huy động vốn choCông ty Cổ phần Thương mại và du lịch Thành Nam là cần thiết về lý luận vàthực tiễn cho Công ty Cổ phần Thương mại và du lịch Thành Nam nói riêng
và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung Trước thực trạng đó, qua thời gianthực tập tại Công ty Cổ phần Thương mại và du lịch Thành Nam, được sựhướng dẫn của thầy Nguyễn Văn Hiệp và sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô,chú, anh, chị trong Công ty em chọn đề tài: “Một số giải pháp tăng cườngcông tác huy động vốn tại Công ty Cổ phần Thương mại và du lịch ThànhNam” làm nội dung nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
4 Kết cấu của chuyền dề
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
• Chương 1 Huy động vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường
• Chương 2 Thực trạng công tác huy động vốn tại Công ty Cổ phần
Thương mại và du lịch Thành Nam
• Chương 3 Một số giải pháp tăng cường công tác huy động vốn tại
Công ty Cổ phần Thương mại và du lịch Thành Nam
Trang 3Chương 1HUY ĐỘNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN
và trong các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp Như vậy, vốn làyếu tố số một của hoạt động sản xuất kinh doanh
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thànhlập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong mọi loại hìnhdoanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuấtkinh doanh Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việchuy động và sự luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình tháikhác nhau của tài sản và hiệu quả tài chính
- Thứ ba, vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định,
có như vậy mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh
Trang 4- Thứ tư, vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể cóđồng vốn vô chủ và không ai quản lý.
- Thứ năm, vốn được quan niệm như một hàng hóa đặc biệt, có thể mua bán
quyền sử dụng vốn trên thị trường.
1.1.1.2 Phân loại vốn
Để có thể quản lý vốn một cách có hiệu quả, doanh nghiệp cần phảiphân loại vốn Theo đó, tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụthể, mỗi doanh nghiệp có thể có các phương thức tạo vốn và huy động vốnkhác nhau Theo các giác độ tiếp cận khác nhau, vốn của doanh nghiệp có thểphân chia thành các loại khác nhau:
- Theo phương thức chu chuyển: vốn của doanh nghiệp bao gồm 2 loại lavốn cố định và vốn lưu động
+ Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các tàisản cố định nên quy mô của vốn cố định lớn hay nhỏ sẽ quyết định đến quy mô,tính đồng bộ của tài sản cố định, ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật
và công nghệ sản xuất, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Vốn lưu động: là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lưuđộng nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp đượcthực hiện thường xuyên lien tục Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trịngay trong 1 lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành 1 vòng luân chuyển khikết thúc một chu kì kinh doanh
Cách thức phân loại này rất quan trọng bởi vì vốn lưu động và vốn cốđịnh có hình thái tồn tại và vai trò khác nhau trong quá trình sản xuất, do đócần có các cơ chế quản lý khác nhau
- Theo thời gian huy động và sử dụng vốn: vốn được chia thành vốnthường xuyên và vốn tạm thời
Trang 5+ Vốn thường xuyên là lượng vốn cần thiết đảm bảo cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra một cách bình thường tại thờiđiểm mà nhu cầu vốn của doanh nghiệp thấp nhất, vốn thường xuyên mangtính chất dài hạn và được huy động từ những khoản vay dài hạn
+ Vốn tạm thời là phần chênh lệch giữa vốn thường xuyên với toàn bộkhối lượng vốn của doanh nghiệp, mức dao động vốn tạm thời sẽ thay đỏi tuỳthuộc vào tính chất kinh doanh của doanh nghiệp theo thời vụ, mức dao độngnày sẽ đạt mức tối đa tại thời điểm doanh nghiệp có nhu cầu vốn là cao nhất
và bằng không tại thời điểm nhu cầu về vốn của doanh nghiệp là thấp nhất,tức là lúc này doanh nghiệp chỉ có nhu cầu vốn thường xuyên Vốn tạm thờithường mang tính chất ngắn hạn, được huy động từ những khoản nợ ngắn hạn
để đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn phát sinh của doanh nghiệp
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu biến động
về vốn để từ đó có phương thức tài trợ cho phù hợp Nguồn vốn tạm thờithông thường được tài trợ bằng các khoản vốn ngắn hạn, có thời gian đáo hạnphù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh thời vụ, doanh nghiệp huy động từcác nguồn này khi nhu cầu vốn tạm thời tăng lên
- Theo phạm vi huy động vốn: được chia thành vốn trong doanh nghiệp vàvốn ngoài doanh nghiệp
+ Vốn trong doanh nghiệp là nguồn vốn được huy động từ chính bảnthân doanh nghiệp bằng những biện pháp như vay nội bộ, vay cán bộ côngnhân viên, trích từ lợi nhuận để lại, quỹ khấu hao và các quỹ đầu tư phát triển,thanh lý tài sản cố định, chênh lệch do đánh giá lại tài sản…Nhìn chung, hìnhthức huy động này đáp ứng được một phần nhu cầu về vốn cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Tuỳ thuộc vào chính sách, vị thế củadoanh nghiệp trên thị trường mà tỷ lệ nguồn vốn này trong doanh nghiệp khácnhau, thông thường nó chiếm khoảng 30- 40% tổng nguồn vốn
Trang 6+ Vốn ngoài doanh nghiệp là nguồn vốn được tạo thành từ việc đi vay,chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức khác có quan hệ đối tác, hợp tác…kinhdoanh với doanh nghiệp thông qua thị trường vốn, thị trường hàng hoá dịch
vụ, các trung gian tài chính, thị trường chứng khoán… Có thể coi đâu lànguồn vốn chủ yếu được các doanh nghiệp tích cực tiếp cận và huy động vì cókhả năng huy động được một khối lượng vốn lớn, đáp ứng nhu cầu ngày càngcao của các doanh nghiệp
- Theo nguồn hình thành: vốn chia thành vốn chủ sở hữu và nợ phải trả+ Vốn chủ sở hữu đây là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanhnghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trongcông ty cổ phần Có ba nguồn chính tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp củavốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh (lãi chưa phân phối) và tăng vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới
+ Nợ phải trả bao gồm các khoản tiền vay mà doanh nghiệp có tráchnhiệm trả trong vòng một chu kì kinh doanh ( nợ ngắn hạn) hoặc sau một chu
kì kinh doanh (nợ dài hạn)
1.1.1.3 Huy động vốn
Huy động vốn là một nội dung trong hoạt động tài chính của doanhnghiệp nhằm thu hút nguồn lực tài chính từ bên trong và bên ngoài doanhnghiệp thông qua một số kênh huy động vốn, chẳng hạn như: thị trường tàichính, các trung gian tài chính cũng như một số biện pháp khác, nhằm đápứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hiện nay có rất nhiềuhình thức huy động vốn doanh nghiệp có thể tiếp cận và lựa chọn
1.1.2 Vai trò của vốn với hoạt động doanh nghiệp
Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cầnphải có vốn Trong nền kinh tế thị trường, vốn là điều kiện tiên quyết, có ýnghĩa quyết định tới quá trình kinh doanh tiếp theo của hoạt động kinh doanh.Vốn phải được hình thành trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh và
Trang 7nó sẽ tiếp tục được bổ sung sau mỗi chu kỳ sản xuất Vốn của doanh nghiệpkhông thể bị mất đi, vì đồng nghĩa với mất vốn là nguy cơ phá sản.
Tại bất kỳ một doanh nghiệp nào, ba vấn đề quan trọng đầu tiên cần phảigiải quyết là:(1) xác định được mục tiêu cho đầu tư dài hạn, (2) tìm được nguồntài trợ cho đầu tư đó và (3) đưa ra các quyết định tài chính cho hợp lý Như vậy,các vấn đề quan trọng này đều gắn liền với hoạt động liên quan đến vốn
Muốn cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, doanh nghiệpphải có đủ vốn đầu tư vào các giai đoạn khác nhau của quá trình đó Doanhnghiệp phải làm ăn có lãi thì vốn mới được bảo toàn và phát triển, đảm bảocho doanh nghiệp có khả năng tái sản xuất mở rộng, phát triển cả về chiềurộng và chiều sâu Thực tế đã chứng minh, có những doanh nghiệp có đầy đủkhả năng về yếu tố con người và cơ hội đầu tư nhưng vì không đáp ứng đủyêu cầu về tài chính nên đành bó tay
Như vậy, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Nó không chỉ đảm bảo duy trì hoạt động củadoanh nghiệp mà còn là tiềm lực, là điều kiện quyết định đối với sự phát triểncủa doanh nghiệp
1.1.3 Các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể, có thể có cácphương thức huy động vốn khác nhau Trong điều kiện kinh tế thị trường, cácphương thức huy động vốn cho doanh nghiệp được đa dạng hoá nhằm khaithác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cụ thể củaViệt Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển hoàn chỉnh nên việc khaithác vốn có những nét đặc trưng nhất định Sự phát triển nhanh chóng của nềnkinh tế và thị trường tài chính sẽ sớm tạo điều kiện để các doanh nghiệp mởrộng khả năng thu hút vốn vào kinh doanh
Sau đây là các nguồn vốn và các phương thức huy động vốn (hay còngọi là phương thức tài trợ) mà các doanh nghiệp có thể sử dụng
Trang 81.1.3.1 Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn của các chủ sở hữu hoặc các nhà đầu
tư đóng góp mà doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán Số vốn nàythuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có quyền chiếm hữu, sửdụng, chi phối và định đoạt Tuỳ vào từng loại hình doanh nghiệp mà mộtdoanh nghiệp sẽ có một hoặc nhiều chủ sở hữu vốn
Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận chủ yếu: Vốngóp ban đầu, lợi nhuận không chia, tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới
Bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải có một số vốn góp ban đầu nhấtđịnh do các cổ đông- chủ sở hữu góp khi doanh nghiệp được thành lập Tuỳtheo hình thức sở hữu của doanh nghiệp, sẽ quyết định tính chất và hình thứcvốn góp ban đầu của doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tưcủa Nhà nước, chủ sở hữu của các doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước Hiệnnay, cơ chế quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn của doanh nghiệp Nhànước nói riêng đang có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tế
Đối với các doanh nghiệp, theo Luật doanh nghiệp, chủ doanh nghiệpphải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.Chẳng hạn như, đối với công ty cổ phần, vốn do các cổ đông đóng góp là yếu
tố quyết định để hình thành công ty Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công
ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ Tuynhiên, các công ty cổ phần cũng có một số dạng tương đối khác nhau, do đócách thức huy động vốn cổ phần cũng khác nhau Trong các loại hình doanhnghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI), các nguồn vốn cũng tương tự như trên: tức là vốn có thể dochủ đầu tư bỏ ra, do các bên tham gia đối tác góp…Tỷ lệ và quy mô góp vốn
Trang 9của các bên tham gia công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau (như: luậtpháp, đặc điểm ngành kinh tế- kỹ thuật, cơ cấu liên doanh).
Giới hạn phát hành: Việc phát hành cổ phiếu có nhiều ưu thế so với các
phương thức huy động vốn khác nhưng cũng có những hạn chế và các ràngbuộc cần được doanh nghiệp cân nhắc kỹ lưỡng Giới hạn phát hành là mộtquy định ràng buộc có tính pháp lý: lượng cổ phiếu tối đa mà công ty đượcphép phát hành gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép Đây là một trong nhữngquy định của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước nhằm quản lý và kiểm soát chặtchẽ các hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán Tại nhiều nước, số cổphiếu được phép phát hành được ghi trong điều lệ của công ty, muốn tăng vốn
cổ phần thì trước hết cần phải được đại hội đồng cổ đông cho phép, sau đóphải hoàn tất những thủ tục quy định khác
Hầu hết các nước sử dụng giới hạn phát hành như một công cụ quantrọng nhằm kiểm soát và hạn chế các rủi ro cho công chúng Thông thườngmột công ty có thể phát hành một lần hoặc một số lần trong giới hạn số cổ
Trang 10phiếu đã được cấp phép phát hành Tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý vàkiểm soát quá trình phát hành chứng khoán tuỳ thuộc vào chính sách cụ thểcủa Nhà nước và Uỷ ban chứng khoán Nhà nước Ở Việt Nam hiện nay, hệthống văn bản pháp quy về chứng khoán mới được xây dựng và đang trongquá trình hoàn thiện để tạo điều kiện tốt hơn cho hoạt động huy động vốn củadoanh nghiệp và lưu chuyển vốn trong nền kinh tế.
Sau khi phát hành, phần lớn những cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầutư- các cổ đông (shareholder) Những cổ phiếu này gọi là những cổ phiếuđang lưu hành trên thị trường Tuy nhiên, có thể chính công ty phát hành mualại một số cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó Những cổphiếu được công ty mua lại như vậy gọi là cổ phiếu ngân quỹ
Mệnh giá và thị giá: Giá trị ghi trên mặt cổ phiếu gọi là mệnh giá (par
value), giá cả của cổ phiếu trên thị trường gọi là thị giá Giá trị của cổ phiếuđược phản ánh trong sổ sách kế toán của công ty gọi là giá trị ghi sổ (bookvalue), đó cũng chính là mệnh giá của các cổ phiếu đã phát hành
Mệnh giá không chỉ được ghi trên mặt cổ phiếu mà còn được ghi rõ tronggiấy phép phát hành và trên sổ sách kế toán của công ty Tuy nhiên, mệnh giáchỉ có ý nghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối với khoảng thời gian ngắn sau khi
cổ phiếu được phát hành Thị giá phản ánh sự đánh giá của thị trường đối với
cổ phiếu, phản ánh lòng tin của các nhà đầu tư đối với hoạt động của công ty
Quyền hạn của cổ đông: Các cổ đông nắm giữ cổ phiếu thường chính là
những người sở hữu công ty, do đó họ có quyền trước hết đối với tài sản và sựphân chia tài sản hoặc thu nhập của công ty Cổ đông có quyền tham gia kiểmsoát và điều khiển các công việc của công ty Tuy nhiên, thông thường có một sốlượng cổ đông của công ty, nên mỗi cổ đông chỉ có một quyền lực giới hạn nhấtđịnh trong việc bỏ phiếu hoặc chỉ định thành viên của ban giám đốc, một sốcông việc hay những vấn đề đặc biệt cần có sự nhất trí của đại đa số cổ đông
Trang 11Các phương thức bỏ phiếu: Tuỳ theo quy định trong điều lệ công ty, có
thể hình thành các phương thức bỏ phiếu khác nhau Hai phương pháp được
sử dụng rộng rãi là bỏ phiếu theo đa số và bỏ phiếu gộp Bỏ phiếu theo đa số(majority voting) là việc cổ đông có thể dùng mỗi lá phiếu để bầu một ngườiquản lý, các chức danh sẽ được bầu riêng rẽ Điều này rõ ràng có lợi chonhững người đang nắm đa số cổ phiếu của công ty vì họ có thể tạo áp lựcmạnh hơn bằng số cổ phiếu nắm giữ Cơ chế bỏ phiếu gộp (cumulativevoting) cho phép cùng bỏ phiếu cho một số ứng cử viên nào đó, tức là một cổđông có thể dồn toàn bộ số phiếu có trong tay cho một ứng cử viên được ưachuộng Đây là lý do tại sao một số các cổ đông thiểu số ủng hộ cơ chế bỏphiếu gộp
Trong điều lệ công ty có quy định rõ về phạm vi những sự vụ cần được
đa số (trên 50%) cổ đông tán thành và những vấn đề cần được tuyệt đại đa số(75% trở lên) cổ đông nhất trí Huy động vốn qua phát hành cổ phiếu phải xétđến nguy cơ bị thôn tính bởi vấn đề chống thôn tính, bảo vệ công ty trước sựxâm thực bằng cổ phiếu của các công ty khác là một khía cạnh đặc biệt Dovậy, phải tính đến tỷ lệ cổ phần tối thiểu cần duy trì để giữ vững quyền kiểmsoát của công ty
Cổ phiếu ưu tiên
Cổ phiếu ưu tiên thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổphiếu được phát hành, tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc sử dụng cổphiếu ưu tiên lại là thích hợp Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có
cổ tức cố định, người chủ của cổ phiếu ưu tiên có quyền được thanh toán lãitrước các cổ đông thường Nếu số lãi trong kỳ chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổđông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kỳ đó.Việc giải quyết chính sách cổ tức được nêu rõ trong điều lệ công ty Phần lớncác công ty cổ phần quy định rõ: công ty có nghĩa vụ trả hết số lợi tức chưa
Trang 12thanh toán của các kỳ trước cho các cổ đông ưu tiên, sau đó mới thanh toáncho các cổ đông thường.
Các cổ phiếu ưu đãi có thể được chính công ty phát hành chuộc lại (thuhồi lại) khi công ty thấy cần thiết Những trường hợp như vậy cần quy định rõmột số điểm sau:
- Trường hợp nào thì công ty có thể mua lại cổ phiếu
- Giá cả khi công ty mua lại cổ phiếu
- Thời hạn tối thiểu không được phép mua lại cổ phiếu
Trong thực tế, ở một số nước, như Mỹ, rất hiếm khi cổ đông ưu tiên cóquyền bỏ phiếu một cách đầy đủ, tuy nhiên, nếu có ít nhất 2/3 cổ đông ưu tiênnhất trí về một vấn đề nào đó thì ban lãnh đạo công ty phải xem xét ý kiến của
họ Trong trường hợp các cổ phiếu ưu tiên không được trả cổ tức thì các cổđông của những cổ phiếu đó có thể có được quyền bỏ phiếu
Một vấn đề rất quan trọng cần quan tâm khi phát hành cổ phiếu ưu tiên,
đó là thuế Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công
ty, cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế, đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên.Mặc dù vậy, cổ phiếu ưu tiên vẫn có những ưu điểm đối với cả công ty pháthành và cả nhà đầu tư
1.1.3.2 Nguồn vốn vay nợ
Để bổ sung vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể
sử dụng nợ từ các nguồn: tín dụng ngân hàng; tín dụng thương mại và vaythông qua phát hành trái phiếu
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại
Vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhấtkhông chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối vớitoàn bộ nền kinh tế quốc dân Sự hoạt động và phát triển của các doanh
Trang 13nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng thương mạicung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn.
Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sửdụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trênthương trường Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngânhàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặcbiệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu củadoanh nghiệp
Theo thời hạn, vốn vay ngân hàng có thể được phân loại thành: vay dàihạn (thường tính 3 năm hoặc 5 năm trở lên), vay trung hạn (từ 1- 3 năm) vàvay ngắn hạn (dưới 1năm), tiêu chuẩn và quan niệm về thời gian để phân loạitrong thực tế không giống nhau giữa các nước và có thể khác nhau giữa cácngân hàng thương mại
Tuỳ theo tính chất và mục đích sử dụng, ngân hàng cũng có thể phân loạicho vay thành các loại như: cho vay đầu tư tài sản cố định, cho vay đầu tư tàisản lưu động, cho vay để thực hiện dự án Cũng có thể phân loại cho vay theongành kinh tế, theo lĩnh vực phục vụ hoặc theo hình thức bảo đảm tiền vay.Nguồn vốn tín dụng ngân hàng có nhiều ưu điểm nhưng nguồn vốn nàycũng có những hạn chế nhất định, đó là những hạn chế về điều kiện tín dụng,kiểm soát của ngân hàng và chi phí sử dụng vốn (lãi suất)
Điều kiện tín dụng: các doanh nghiệp muốn vay tại các ngân hàng
thương mại cần đáp ứng được những yêu cầu đảm bảo an toàn tín dụng củangân hàng, doanh nghiệp phảo xuất trình hồ sơ vay vốn và những thông tincần thiết mà ngân hàng yêu cầu Trước tiên, ngân hàng phải phân tích hồ sơxin vay vốn, đánh giá các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc kế hoạchsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, các bảo đảm tiền vay
Trang 14Sự kiểm soát của ngân hàng: Một khi doanh nghiệp vay vốn ngân hàng,
doanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích và tìnhhình sử dụng vốn vay Sự kiểm soát này nói chung không gây khó khăn chodoanh nghiệp, tuy nhiên, trong một số trường hợp làm cho doanh nghiệp cócảm giác bị kiểm soát
Lãi suất vay vốn: phản ánh chi phí sử dụng vốn Lãi suất vay vốn ngân
hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kỳ, nếulãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí vốn lớn và làmgiảm thu nhập của doanh nghiệp Có những thời kì ở nước ta, lãi suất vay vốnkhá cao và thiếu tính cạnh tranh ảnh hưởng tới việc đầu tư mở rộng sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp cũng thường khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại(commercial credit) hay còn gọi là tín dụng của người cung cấp (suppliers’credit) Nguồn vốn này hình thành một cách tự nhiên trong quan hệ mua bánchịu hàng hóa, dịch vụ, nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức
to lớn không chỉ với các doanh nghiệp mà cả đối với nền toàn bộ nền kinh tế.Trong một số doanh nghiệp, nguồn vốn tín dụng thương mại dưới dạng cáckhoản phải trả (accounts payable) chiếm tới 20% tổng vốn, thậm chí có thểchiếm tới 40% tổng nguồn vốn
Đối với doanh nghiệp, tài trợ bằng nguồn vốn tín dụng thương mại làmột phương thức tài trợ rẻ, tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh, hơn thế,
nó còn tạo khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâubền Các điều kiện ràng buộc cụ thể có thể được ấn định khi hai bên ký hợpđồng mua bán hay hợp đồng kinh tế nói chung Tuy nhiên, cần nhận thấy tínhchất rủi ro của quan hệ tín dụng thương mại khi quy mô tài trợ quá lớn
Chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn tín dụng thể hiện qua lãi suấtcủa khoản vay, đó là chi phí lãi vay, sẽ được tính vào giá thành sản phẩm haydịch vụ Khi mua bán hàng hóa trả chậm, chi phí này có thể ẩn dưới hình thức
Trang 15thay đổi mức giá, tuỳ thuộc quan hệ và thoả thuận cụ thể giữa các bên Trong
xu hướng hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các hình thức tín dụngngày càng được đa dạng hoá và linh hoạt hơn, với tính cạnh tranh hơn; do đócác doanh nghiệp cũng có nhiều cơ hội để lựa chọn nguồn vốn tài trợ cho hoạtđộng của doanh nghiệp
Phát hành trái phiếu công ty
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người pháthành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người chovay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể,
và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn
Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi khi phát hành trái phiếu lànên lựa chọn loại trái phiếu nào là phù hợp nhất với điều kiện cụ thể củadoanh nghiệp và tình hình trên thị trường tài chính Việc lựa chọn trái phiếuthích hợp là rất quan trọng vì nó liên quan đến chi phí trả lãi, cách thức trả lãi,khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của trái phiếu Trước khi quyết định pháthành cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhược điểm mỗi loại trái phiếu Trên thịtrường tài chính nhiều nước hiện nay thường lưu hành những loại trái phiếucông ty sau:
• Trái phiếu có lãi suất cố định: loại trái phiếu này thường được sửdụng nhiều nhất, phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh nghiệp, lãi suấtđược ghi ngay trên mặt phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của nó, cảdoanh nghiệp (người đi vay) và người giữ trái phiếu (người cho vay) đều biết
rõ mức lãi suất của khoản nợ trong suốt thời gian tồn tại (kỳ hạn) của tráiphiếu Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được quy định rõ Để huyđộng vốn trên thị trường bằng trái phiếu, phải tính đến mức độ hấp dẫn củatrái phiếu, phụ thuộc những yếu tố:
- Lãi suất của trái phiếu: người đầu tư muốn hưởng mức lãi suất caonhưng doanh nghiệp phát hành trái phiếu phải cân nhắc lãi suất có thể chấp
Trang 16nhận được đối với trái phiếu của họ Lãi suất của trái phiếu phải được đặttrong tương quan so sánh với lãi suất trên thị trường vốn, đặc biệt phải tínhđến sự cạnh tranh với trái phiếu của các công ty khác và trái phiếu Chính phủ,khi đó để phát hành thành công trái phiếu, cần quy định mức lãi suất tráiphiếu sao cho có thể cạnh tranh được với mức lãi suất đó Một ràng buộc khác
là chi phí lãi vay mà công ty phải trả cho các trái chủ, nếu đưa thêm các yếu
tố khuyến khích vào trái phiếu thì có thể không cần nâng cao mức lãi suất
- Kỳ hạn của trái phiếu: là yếu tố rất quan trọng không những đối vớicông ty phát hành mà cả đối với nhà đầu tư Khi phát hành, doanh nghiệp phảicăn cứ vào tình hình thị trường vốn và tâm lý dân cư mới có thể xác định kỳhạn hợp lý
- Uy tín của doanh nghiệp: không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng cóthể thu hút được công chúng mua trái phiếu vì nhà đầu tư phải đánh giá uy tíncủa doanh nghiệp thì mới quyết định có mua hay không, các doanh nghiệp có
uy tín và vững mạnh thì dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu ra côngchúng để huy động vốn
Trong việc phát hành trái phiếu cũng cần chú ý tới mệnh giá của tráiphiếu vì nó có thể liên quan đến sức mua của công chúng, đặc biệt là ở ViệtNam khi phát hành trái phiếu, doanh nghiệp cần xác định một mức mệnh giávừa phải để nhiều người có thể mua được, tạo sự lưu thông dễ dàng cho tráiphiếu trên thị trường
• Trái phiếu có lãi suất thay đổi: tuy gọi là lãi suất thay đổi nhưng thực
ra loại này có lãi suất phụ thuộc vào một số nguồn lãi suất quan trọng khác.Chẳng hạn như lãi suất LIBOR (London Interbank Offered Rate) hay lãi suất
cơ bản (Prime Rate) Trong điều kiện có mức lạm phát cao và lãi suất thịtrường không ổn định, doanh nghiệp có thể khai thác tính ưu việt của loại tráiphiếu này Do các biến động của lạm phát kéo theo sự dao động của lãi suấtthực, các nhà đầu tư mong muốn được hưởng một mức lãi suất thoả đánh khi
Trang 17so sánh với tình hình thị trường Do vậy, một số người ưa thích trái phiếu thảnổi Tuy vây, loại trái phiếu này có một số nhược điểm:
- Doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi phí lãi vay của tráiphiếu, do đó gây khó khăn cho việc lập kế hoạch tài chính
- Việc quản lý trái phiếu cũng đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do doanhnghiệp phải thông báo các lần điều chỉnh lãi suất
• Trái phiếu có thể thu hồi (callable bond): một số doanh nghiệp lựachọn cách phát hành những trái phiếu có thể thu hồi, tức là doanh nghiệp cóthể mua lại vào một thời gian nào đó Trái phiếu loại này phải được quy địnhngay khi phát hành để người mua trái phiếu được biết Doanh nghiệp phải quyđịnh rõ về thời hạn và giá cả khi doanh nghiệp chuộc lại trái phiếu, thôngthường, người ta quy định thời hạn tối thiểu mà trái phiếu sẽ không bị thu hồi.Loại trái phiếu này có những ưu điểm sau:
- Có thể được sử dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn sử dụng, khikhông cần thiết, doanh nghiệp có thể mua lại các trái phiếu, tức là giảm sốvốn vay
- Doanh nghiệp có thể thay nguồn tài chính do phát hành trái phiếu loạinày bằng một nguồn tài chính khác thông qua mua lại các trái phiếu đó
Tuy nhiên, nếu không có những hấp dẫn nào đó thì trái phiếu loại nàythường không được ưa thích
• Chứng khoán có thể chuyển đổi: các doanh nghiệp, đặc biệt các công
ty Mỹ, thường phát hành những chứng khoán kèm theo những điều kiện cóthể chuyển đổi được Sự chuyển đổi cho phép các bên (doanh nghiệp, ngườiđầu tư) có thể lựa chọn cách thức đầu tư có lợi và thích hợp Một số hình thứcchuyển đổi như:
- Giấy bảo đảm (warrant): người sở hữu giấy bảo đảm có thể mua một sốlượng cổ phiếu thường được quy định trước với giá cả và thời gian xác định
Trang 18- Trái phiếu chuyển đổi (convertible bond) là loại trái phiếu cho phép có thểchuyển đổi thành một số lượng nhất định các cổ phiếu thường, nếu thị giá của cổphiếu tăng lên thì người giữ trái phiếu có cơ may nhận được lợi nhuận cao.
1.1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến khả năng và hình thức huy động vốn của doanh nghiệp
1.1.4.1 Yếu tố chủ quan
- Chi phí vốn: để được sử dụng vốn, doanh nghiệp phải chịu một chi phínhất định, đây là khoản lợi tức trả cho người sở hữu vốn, các nhà đầu tư chỉchấp nhận cấp vốn cho doanh nghiệp khi họ được trả một khoản lãi xứngđáng Thông thường, người đi vay muốn trả lãi suất thấp, người cho vay lạimong muốn mức lãi suất cao, vì vậy lãi suất vay vốn là mức lãi suất tại đóngười cho vay và đi vay đều chấp nhận được
- Cơ cấu vốn: trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiệp hiếm khi chỉ
sử dụng một nguồn vốn để tài trợ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của mìnhngay cả khi đó là là nguồn có chi phí thấp hơn các nguồn khác Nguồn vốn tự
có thường không đủ lớn để tài trợ cho toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp,
do đó doanh nghiệp phải huy động vốn vay, tuy nhiên, việc duy trì tỷ trọngnguồn vốn tự có đủ lớn để đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp luôn làmột yêu cầu đặt ra đối với người cho vay Do mỗi nguồn vốn huy động có chiphí khác nhau, các nhà quản trị cần phải xây dựng được cơ cấu vốn tối ưu, cânnhắc chi phí và tỷ trọng của chúng, đảm bảo một tỷ lệ thích hợp giữa nguồnvốn chủ sở hữu và nợ vay sao cho lợi ích thu được là cao nhất
- Năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: một doanh nghiệpkinh doanh có lãi, tình hình tài chính lành mạnh sẽ dễ dàng được các ngânhàng, các tổ chức tín dụng quyết định cho vay vì khả năng hoàn trả nợ vaycủa doanh nghiệp cao, yếu tố rủi ro ít Đây là yếu tố có ảnh hưởng quan trọngtới khả năng huy động vốn của doanh nghiệp
- Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp: phản ánh trình độ sử dụng cácnguồn lực sẵn có của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết
Trang 19quả cao với chi phí thấp, một doanh nghiệp có hiệu quả sử dụng vốn cao đồngnghĩa với một doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao Đây là một yếu tốquyết định khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.4.2 Yếu tố khách quan
- Chính sách kinh tế vĩ mô: là yếu tố các doanh nghiệp buộc phải nắm rõ
và tuân thủ vô điều kiện Việc huy động vốn của doanh nghiệp ( nguồn huydộng, phương thức huy động, quy mô huy động) được quy định cụ thể phảithực hiện theo cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước được thể chế hoá bằngcác quy định, Nghị định của Chính phủ và các văn bản pháp luật khác
- Sự phát triển của thị trường tài chính: thị trường tài chính có ảnh hưởnglớn đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp, thị trường tài chính ViệtNam hiện nay chưa phát triển một cách toàn diện, các tổ chức tài chính trunggian tài chính chưa đủ tiềm lực để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn màhoạt động tài trợ ngắn hạn cũng chưa phát huy hết hiệu quả, vì thế, khả nănghuy động vốn của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế Trong tương lai, việcphát triển thị trường tài chính sẽ giúp các doanh nghiệp mở rộng khả năng hútvốn vào kinh doanh, đa dạng hoá các hình thức huy động vốn
1.2.1 Đặc điểm của công ty Cổ phần Thương mại và du lịch Thành Nam
1.2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Thương mại
Trang 20Trụ sở chính: 18 Nguyễn Du – Hai Bà Trưng – Hà Nội
Giám đốc: Nguyễn Quốc Khánh
Địa chỉ giao dịch: 142C – Lê Duẩn - Đống Đa – Hà Nội
Số điện thoại: 04.5184070
Số fax: 04.5184071
Thành lập theo Quyết định số 939/QĐ TCBĐ ngày 01.10.2000 của Tổngcục trưởng Tổng cục Bưu điện
Giấy phép đăng ký kinh doanh số 0103000382 ngày 31.05.2001 của Sở
Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp ngày 30/5/2001
Mã số thuế: 0101135243
Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần
Khi thành lập, công ty có vốn pháp định là: 5.000.000.000 đồng, trong đó30% là vốn của nhà nước và 70% là vốn thuộc quyền sở hữu của các cổ đôngCông ty
Phương pháp hạch toán kế toán: Hạch toán độc lập
Xếp hạng doanh nghiệp: Doanh nghiệp hạng III – Theo Quyết định số1523/QĐ - TCBĐ ngày 25/10/2001 của Tổng cục Bưu điện
Quá hình thành và phát triển của Công ty cổ phần Thương mại và du lịchThành Nam:
Công ty cổ phần Thương mại và du lịch Thành Nam là một doanh nghiệphoạt động trong lĩnh vực xây lắp các công trình mạng cáp phục vụ cho ngànhBưu chính Viễn thông Việt nam Tiền thân của Công ty là Trung tâm kỹ thuậtthương mại và du lịch Thành Nam thuộc Công ty công trình Bưu điện – TổngCông ty Bưu chính Viễn thông Việt nam Năm 2000 trước yêu cầu của và đòihỏi của thị trường đồng thời được sự cho phép của Tổng cục trưởng Tổng cụcBưu điện, Công ty cổ phần Thương mại và du lịch Thành Nam ra đời theoQuyết định số 939/QĐ TCBĐ ngày 01.10.2000 của Tổng cục trưởng Tổngcục Bưu điện và Giấy phép đăng ký kinh doanh số 0103000382 ngày31.05.2001 của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà nội
Trang 21Khi mới thành lập, bước đầu đi vào hoạt động với 35 cán bộ công nhânviên và số vốn pháp định là: 5.000.000.000đ, với đặc điểm hoạt động cònnhiều hạn chế, đơn điệu Danh thu chỉ đạt ở mức 5 đến 7 tỷ đồng/ năm, thunhập bình quân của người lao động đạt 1.000.000đ/ người/ tháng, việc làmkhông ổn định Song nhờ vào ban lãnh đạo của công ty, kết hợp với nỗ lựccủa cán bộ công nhân trong công ty, kiên trì từng bước mở rộng thị trườngnên công ty ngày càng phát triển Phát huy nội lực sẵn có của đơn vị mạnhdạn cải tiến sắp xếp mô hình cho phù hợp, tăng cường kiểm tra, quản lý điềuhành tập trung Đến ngày 31/12/2007 doanh nghiệp có vốn pháp định là25.000.000.000 đ doanh thu cũng không ngừng tăng lên qua các năm và đạtmức 75 tỷ vào năm 2007, đời sống cán bộ công nhân trong toàn công ty đượccải thiện, thu nhập bình quân của người lao động năm 2007 đạt 2.900.000đ/người/ tháng, thị trường được mở rộng Năm 2008 công ty đã trở thành mộttrong 3 công ty đứng đầu Việt Nam trong lĩnh vực xây lắp và thi công cáccông trình Viễn thông, cũng như là cung cấp các sanp phẩm cáp và thiết bịviễn thông…Năm 2009, doanh thu của công ty đạt 145 tỷ đồng, chứng tỏcông ty đang tiếp tục khẳng định vị trí của mình và phấn đấu trở thành đơn vịđứng đầu cả nước trong lĩnh vực thi công , xây lắp, sản xuất cáp và thiết bịviễn thông cũng như là các lĩnh vực khác về Thương mại và du lịch ThànhNam Chính vì kết quả sản xuất kinh doanh thu được đạt được nhiều thànhtích như vậy mà công tác tổ chức bộ máy quản lý, bộ máy nhân sự trong công
ty luôn gặp thuận lợi
1.2.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất tại công ty Cổ phần Thương mại và du lịch Thành Nam
1.2.1.2.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý tại công ty
Bộ máy quản trị của công ty được tổ chức theo mô hình tham mưu trựctuyến chức năng nghĩa là các phòng ban trong Công ty tham mưu trực tuyếncho ban giám đốc theo từng chức năng nhiệm vụ của mình, cùng ban giámđốc xây dựng chiến lược, đề ra các quyết định quản lý đúng đắn phù hợp vớitình hình thực tế cuả Công ty
Trang 22Sơ đồ: Sơ đồ bộ máy tổ chức quản lý Công ty CP Thương mại và du lịch
Thành Nam
Công ty đã xây dựng được bộ máy bộ máy quản lý khá hoàn thiện gồm:
- Giám đốc: là người đứng đầu công ty có quyền cao nhất, có nhiệm vụquản lý điều hành chung và chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ kếtquả hoạt động kinh doanh của công ty
- Phó giám đốc: là người hỗ trợ, giúp đỡ cho giám đốc và là người điềuhành trực tiếp các phòng ban
* Khối văn phòng công ty
- Phòng tổ chức hành chính: giúp giám đốc tất cả các công việc liên quanđến công việc hành chính trong công ty và có nhiệm vụ quản lý về văn thư,lưu trữ tài liệu, bảo mật, đối nội đối ngoại, quản lý về công tác xây dựng cơbản và hành chính quản trị, đời sống, y tế
- Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ xây dựng và tham mưu cho bangiám đốc các chính sách, chế độ tài chính, quản lý thu chi tài chính theo các
Kỹ Thuật
VP đại diện
TP
HCM
VP đại diện
TP
Đà Nẵng
XN Thươ
ng mại
và du lịch Thành Nam I
XN Xây lắp II
XN
tư vấn thiết kế Các
XN từ
3 đến 6
Ban quản
lý dự
án các
CT trọng điểm
Tru
ng tâm KT
VT tin học
Trang 23quy định tài chính kế toán hiện hành, phản ánh kịp thời, trung thực tình hìnhtài chính của công ty, tổ chức giám sát, phân tích các hoạt động kinh tế, từ đógiúp giám đốc nắm bắt cụ thể về tình hình tài chính của công ty
- Phòng kế hoạch - kỹ thuật: Chịu trách nhiệm các vấn đề kỹ thuật tronghoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
- Văn phòng đại diện TP HCM có chức năng quản lý các xí nghiệp 2, 4, 5
- Văn phòng đại diện TP Đà Nẵng có chức quản lý các xí nghiệp trựcthuộc của miền Trung
* Khối các xí nghiệp:
- Đại diện của khu vực miền Bắc có các xí nghiệp Thương mại và du lịchThành Nam 1, xí nghiệp xây lắp 3, xí nghiệp xây lắp 6, trung tâm kỹ thuậtviễn thông tin học, xí nghiệp tư vấn thiết kế cho các công trình xây lắp
- Đại diện của khu vực miền Nam có các xí nghiệp xây lắp 2, xí nghiệpxây lắp 4, xí nghiệp xây lắp 5
- Đại diện của khu vực miền Trung có Ban quản lý dự án các công trìnhtrọng điểm
Trong mỗi xí nghiệp có giám đốc, phó giám đốc, các nhân viên hànhchính, nhân viên kế toán, nhân viên kỹ thuật Họ cũng có chức năng giốngnhư các phòng hành chính, phòng kế toán, phòng kỹ thuật nhưng phạm vi của
họ hẹp hơn chỉ quản lý trong các xí nghiệp
1.2.1.2.2 Ngành, nghề kinh doanh chủ yếu
Theo Giấy chứng nhận ĐKKD số 0101135243 do Sở KHĐT TP.Hà Nộicấp ngày 20/05/2010, nhóm ngành nghề kinh doanh chính bao gồm:
Tư vấn, khảo sát, thiết kế các công trình thương mại và du lịch ThànhNam, điện lạnh, điện, điện tử tin học, các hệ thống chống sét, nội thất;