1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hà nội trong ca dao người việt

44 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 443,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thuở mang gươm đi mở nước Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long Huỳnh Văn Nghệ Từ lâu Thăng Long - Hà Nội đã trở thành niềm thương nhớ của rất nhiều người.. Trong mục Đất nước và con

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khoá luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của cô La Nguyệt Anh - Thạc sỹ, Giảng viên tổ Văn học Việt Nam cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Tác giả khóa luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm

ơn trân trọng nhất tới các thầy cô

Hà Nội, tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Chung

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Khoá luận: Hà Nội trong ca dao người Việt được hoàn thành dưới sự

hướng dẫn trực tiếp của cô La Nguyệt Anh Tôi xin cam đoan rằng:

- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

- Kết quả này không trùng với kết quả của bất kỳ tác giả nào đã được công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 05 năm 2010

Sinh viên

Nguyễn Thị Thanh Chung

MỤC LỤC

Trang 3

Mở đầu 4

Chương 1: Lịch sử, địa lý, văn hóa Hà Nội trong ca dao 10

Trang 4

Từ thuở mang gươm đi mở nước Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long

(Huỳnh Văn Nghệ)

Từ lâu Thăng Long - Hà Nội đã trở thành niềm thương nhớ của rất nhiều người Vùng đất địa linh nhân kiệt ấy cũng là nguồn cảm hứng bất tận đối với văn thơ

Hà Nội mang trong mình bề rộng của thời gian cũng như chiều sâu văn hoá lịch sử Chính vì thế mà thi ca bình dân cũng như thi ca bác học đã có không ít kiệt tác ngợi ca Thăng Long tứ trấn Đi vào tìm hiểu một Hà Nội cổ kính, thâm u và trầm mặc trong ca dao xưa mang lại cho bạn đọc ấn tượng về một Hà Nội hào hoa

Trong chương trình giảng dạy Văn học dân gian ở các cấp học (từ Mầm non, Tiểu học, Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông đến các trường Cao

đẳng, Đại học), Hà Nội luôn chiếm một vị trí quan trọng trong những bài ca

về tình yêu quê hương đất nước

Bên cạnh đó sự yêu mến, tự hào về Hà Nội đã thôi thúc tác giả khoá

luận lựa chọn đề tài Hà Nội trong ca dao người Việt Đây cũng là một việc

làm thiết thực hướng tới đại lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long - Đông Đô

- Hà Nội

2 Lịch sử vấn đề

Hà Nội từ lâu đã thu hút sự quan tâm và là điểm đến của nhiều người Hơn thế nữa một ngành khoa học nghiên cứu về Hà Nội cũng đã và đang dành

được sự yêu mến - ngành Hà Nội học

Đã có không ít công trình qui mô nghiên cứu về Hà Nội như Hà Nội nghìn xưa (Trần Quốc Vượng), Văn hoá Thăng Long - Hà Nội hội tụ toả sáng (Trần Văn Bính), Hà Nội thành phố nghìn năm (Nguyễn Vinh Phúc)…

Trang 5

Các nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian, Văn học dân gian cũng dành

khá nhiều trang viết về Hà Nội Và tới ca dao Hà Nội hiện lên là một Hà Thành vừa hào hoa, thanh lịch vừa cổ kính, hiện đại

Trên cơ sở những tư liệu hết sức khiêm tốn của mình về Hà Nội, chúng tôi dành sự chú ý đặc biệt tới những sưu tầm, biên soạn, những bài viết, những nghiên cứu có liên quan đến đề tài khóa luận

Trước hết là những gợi mở từ những sưu tầm, biên soạn về ca dao

Năm 1950, cuốn Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan được xuất

bản lần đầu Ngoài việc sưu tầm tục ngữ, ca dao, dân ca phần chuyên luận

trước mỗi nội dung có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trong mục Đất nước

và con người qua tục ngữ, ca dao, tác giả đã dành cho “giang sơn gấm vóc”[12, 133] những lời ngợi ca, đặc biệt là những dòng viết về Hà Nội: “Hà Nội, kinh đô xưa của nước ta, nay là thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được dân tộc ta coi là một đô thành không những đẹp mà còn là một nơi tích tụ những cái thiêng liêng nhất của Tổ quốc, vì Hà Nội vốn

là một đô thành đầu não đã đứng vững hàng nghìn năm qua nhiều phen khói lửa…” [12, 136] “Hà Nội còn có nhiều đặc sản mà văn hóa dân gian thường nói đến”, “Hà Nội có Ngọc Hà là nơi trồng nhiều hoa đẹp…, vùng Bưởi thời xưa có nghề làm giấy bản rất phát đạt” “Người đất Kinh kỳ ngày xưa có tiếng là thanh lịch”, “cả ăn lẫn mặc Hà Nội có nhiều cái làm cho người ta dễ mến” [12, 145; 150] Những lời khen tặng đó cũng là những nhận xét hết sức

xác đáng về đất và người Thăng Long – Hà Nội

Năm 1972, cuốn Ca dao ngạn ngữ Hà Nội của nhóm biên soạn Triêu

Dương, Phạm Hòa, Tảo Trang, Chu Hà được tái bản Đây là một tập hợp khá

đầy đủ những bài ca dao về Thăng Long - Hà Nội trích từ Ca dao sưu tầm ở

Hà Nội và có bổ sung Với một bố cục rõ ràng qua năm chương: Chương 1: Địa lý và phong cảnh (câu 1-31), Chương 2: Lịch sử và truyền thống đấu

Trang 6

tranh (câu 32 - 69), Chương 3: Nghề nghiệp và đặc sản (câu 70 -118), Chương 4: Phong tục và sinh hoạt (câu 119 -175), Chương 5: Tình yêu và hôn nhân (câu 176 - 238) [5, 205], sưu tầm trên như trong Lời nói đầu các tác giả đã: “đáp ứng phần nào yêu cầu tha thiết của đồng bào muốn hiểu biết thêm đất nước tươi đẹp và con người thanh lịch, kiên cường của thủ đô ta”[5,

7] Với chúng tôi, đây là định hướng đầu tiên và hết sức quí báu cho hướng nghiên cứu của đề tài

Năm 2002, cuốn Thăng Long – Hà Nội qua ca dao ngạn ngữ do Giang Quân tuyển chọn được xuất bản Như Lời giới thiệu của soạn giả

“Trong kho tàng ca dao dân gian Việt Nam có biết bao câu ca nói về Thăng Long – Hà Nội, ca ngợi cảnh đẹp, ca ngợi con người, phản ánh đời sống xã hội nơi kinh thành hoa lệ” Sưu tầm trên đã “tập hợp những câu ca xưa có liên quan, nghĩa là trong câu, trong bài phải có những địa danh, con người hoặc

sự kiện đã xảy ra ở kinh đô - dù chỉ là cái cớ để biểu đạt tình cảm khác và những câu mang đặc thù phản ánh tính cách người Kẻ Chợ, tính chất nghề nghiệp của riêng vùng Hà Nội” Dù vậy tác giả cũng rất khiêm nhường:

“Cuốn sách phổ thông này chỉ mong góp phần nhỏ cho người Hà Nội, nhân dân cả nước và những người đi xa thủ đô, và Tổ quốc hiểu thêm về Hà Nội xưa, để càng thêm yêu vùng đất và con người hôm nay” [15]

Cách đây không lâu, năm 2008, Nguyễn Kiều Liên đã tuyển chọn và

xuất bản cuốn Ca dao về Hà Nội Trong Lời nói đầu, tác giả giới thiệu:

“Ngoài ca dao xưa về Hà Nội, chúng tôi có mạnh dạn đưa thêm một số ca dao mới về Hà Nội được trích từ những câu thơ, bài thơ quen thuộc mang phong cách ca dao dễ thuộc, dễ nhớ ”[11, 7]

Các sưu tầm trên đã giúp chúng tôi hình dung về một Hà Nội ngàn năm văn hiến Cùng với đó là những gợi mở chúng tôi tiếp nhận từ các bài viết, các công trình nghiên cứu

Trang 7

Năm 2002, trong một đề tài cấp bộ nói về Tinh thần yêu nước qua các thể loại văn học dân gian (Tiến sĩ Vũ Tố Hảo chủ biên), ở bài Tinh thần yêu nước trong ca dao, mục 1 Yêu nước trước hết là yêu quê hương đất nước, tác giả Nguyễn Xuân Kính viết: “Nói đến đất nước là trước hết phải kể Thăng Long – Hà Nội” [8, 107] Sự khẳng định đó là điểm nhấn quan trọng khi nói về vị trí của

Thăng Long – Hà Nội trong tâm thức của những người Việt Nam yêu nước

Cũng nói đến Tình yêu thiên nhiên quê hương đất nước, trong Dân ca Việt Nam những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp, Lê Văn Chưởng viết:

“tình cảm của người Việt Nam như là điểm hội tụ giữa quá khứ với hiện tại, giữa vật chất với tinh thần, giữa người với người Cho nên Kinh đô Cổ Loa thời An Dương Vương, Thăng Long thời Đại Việt, Huế thời triều Nguyễn, Hà Nội thời hiện đại hiện diện trong tâm thức người Việt không những là biểu tượng của quê hương mà còn là niềm tự hào dân tộc”[4, 128]

Nói về Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ (năm 2004), tác giả Trần Thúy Anh nhận xét: “Với Thăng Long - Đông Đô -

Hà Nội, ta có folklore Kẻ Chợ, những con người thanh lịch như hoa nhài, hoa mai, với những làng ven đô trồng rau “Dưa La, cà Láng…”, trồng hoa “Đất Ngọc Hà, hoa Hữu Tiệp…”, làm giấy “Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”… thật sự là niềm ngưỡng vọng của cả nước”[1, 91]

Trân trọng và kế thừa những thành tựu trên chúng tôi đi sâu tìm hiểu

một cách hệ thống về Hà Nội trong ca dao người Việt Hi vọng khóa luận sẽ

là một bông hoa nhỏ góp phần làm phong phú thêm vườn hoa đầy hương sắc khi tiếp cận với mảnh đất ngàn năm văn hiến này

3 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài: Hà Nội trong ca dao người Việt, khóa luận hướng tới các

mục đích sau:

Trang 8

Tìm hiểu một cách hệ thống về Hà Nội trên các phương diện: địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hóa, con người,

Từ đó thêm hiểu, thêm yêu mến, tự hào về Thăng Long - Hà Nội

Góp phần vào việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu Văn học dân gian nói chung, những bài ca dao về tình yêu quê hương đất nước nói riêng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Việc thực hiện khảo sát đề tài này nhằm cung cấp cho bạn đọc góc nhìn

về Hà Nội xưa qua ca dao với sự hiểu biết khá đầy đủ về lịch sử, địa lý, phong cảnh, văn hoá, con người Hà Nội

Qua đó thờm yờu Hà Nội và thấy được chiều sâu vẻ đẹp con người Hà Nội qua ca dao

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài khoá luận đặt ra vấn đề nghiên cứu về

Hà Nội trong ca dao người Việt, cho nên chúng tôi chọn xuất phát điểm từ

những vấn đề có liên quan đến Hà Nội được phản ánh qua ca dao người Việt

- Phạm vi nghiên cứu: Với đề tài này, tư liệu chính để khóa luận khảo sát

và tìm hiểu là hai cuốn: Ca dao - ngạn ngữ Hà Nội [5]; Ca dao về Hà Nội [11]

Ngoài ra, có sử dụng những tư liệu liên quan đến Thăng Long - Đông

Đô - Hà Nội, gắn với địa danh, cảnh vật, con người, lịch sử, văn hóa Hà Nội… cả xưa và nay

6 Phương pháp nghiên cứu

Do đặc điểm, yêu cầu và mục đích nghiên cứu, khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp hệ thống

- Phương pháp phân tích, bình giảng

Trang 9

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

7 Đóng góp của khoá luận

- Với đề tài: Hà Nội trong ca dao người Việt, khóa luận góp một cái

nhìn tổng quan hơn về Hà Nội từ truyền thống lịch sử, địa lý, các danh lam, thắng cảnh đến văn hoá, con người Hà Nội

- Trên cơ sở cái nhìn tổng hợp, bao quát về Hà Nội khóa luận góp một tiếng nói nhỏ thể hiện tình yêu, niềm tự hào về Hà Nội ngàn năm văn hiến - trái tim hồng của cả nước

8 Bố cục khóa luận

Khóa luận chia thành 3 phần: mở đầu, nội dung, kết luận

Phần nội dung chính gồm hai chương như sau:

Chương 1: Lịch sử, địa lý, văn hóa Hà Nội trong ca dao

Chương 2: Con người Hà Nội trong ca dao

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ, ĐỊA LÝ, VĂN HÓA HÀ NỘI

TRONG CA DAO 1.1 Hà Nội - lịch sử và tên gọi

Hà Nội đang tiến dần tới đại lễ kỉ niệm một ngàn năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội Trải qua bao biến động Hà Nội vẫn đứng vững kiên

cường và bất khuất, trở thành “chiếc nôi hồng lịch sử”, “trái tim cả nước”

Theo sử cũ thời Hùng Vương dựng nước, kinh đô đặt ở Phong Châu, vùng đất Thăng Long – Hà Nội lúc đó là một vùng quê Khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, dưới thời An Dương Vương, Cổ Loa (nay thuộc Đông Anh ngoại thành Hà Nội) được Thục Phán chọn làm kinh đô nước Âu Lạc Hơn một ngàn năm tiếp sau đó, dưới thời phong kiến phương Bắc xâm lược, nhiều lần dải đất tương ứng với địa bàn Hà Nội ngày nay đã trở thành kinh

đô, thủ phủ của cả nước Thời Hai Bà Trưng (từ năm 40 – 43 sau công

nguyên) “đô kì đóng cõi Mê Linh” Thế kỷ thứ sáu, kinh đô nước Vạn Xuân

của Lý Bí là Long Biên Thế kỷ thứ tám, dưới thời Phùng Hưng, Đại La (thuộc nội thành Hà Nội ngày nay) lại được chọn là nơi định đô…

Trong thăng trầm của lịch sử có lúc kinh đô đã được định ở Hoa Lư (Ninh Bình) Đến thế kỉ XI khi nhà Lý thay nhà Tiền Lê, đất nước bước vào một vận hội mới vua Lý Công Uẩn lại chọn thành Đại La làm đất đóng đô… Truyền thuyết kể rằng khi vua Lý Thái Tổ đến bên sông Cái (Sông Hồng) có rồng vàng hiện trên sông rồi bay lên trời cao Vua cho là điềm lành đã đổi Đại

La thành Thăng Long – Rồng bay:

Năm một nghìn không trăm mười Vua Lý Thái Tổ cho dời thành xưa

Về Thăng Long dựng kinh đô Muốn dân chung dựng cơ đồ ông cha

Trang 11

Lâu đài thành quách nguy nga

Có phố, có chợ thật là đông vui

Có sông Hồng thuyền tới lui

Có hồ nước mát thoảng mùi hương sen

Cửa ô, xóm phố nối liền Thăng Long tấp nập trăm miền khơi thông

Vua Lý đã chọn đất rồng Ngàn năm bền vững Thăng Long Kinh kỳ

Sự lựa chọn sáng suốt của vị vua Triều Lý đã tạo đà cho đất nước phát triển hưng thịnh Tên gọi Thăng Long đã gắn bó chặt chẽ với lịch sử dõn tộc:

Nghìn năm còn mãi sử xanh Vua Lý Thái Tổ dời thành lập đô

Về Thăng Long dựng cơ đồ Nghìn năm bền vững thủ đô Lạc Hồng

Thành Thăng Long là nơi chứng kiến biết bao kỡ tớch anh hựng:

Lạy trời cho cả giú lờn Cho cờ vua Bỡnh Định bay trờn kinh thành

Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Minh

và tự xưng là Bình Định Vương Câu ca cũng là ước vọng của nhân dân mong cho nghĩa quân Lê Lợi mau chóng thắng lợi giải phóng đất nước Ở một câu

Đó cũng là nơi Nguyễn Huệ - Quang Trung làm nên nghiệp lớn:

Trang 12

Vua Quang Trung thắng quõn Thanh Đỳng mựng năm Tết vào thành Thăng Long

Muụn dõn nụ nức đún mừng Phố phường làng trại tưng bừng cờ hoa

Với cuộc hành quừn thần tốc, bất ngờ sỏng mồng năm Tết Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung cựng cỏc tướng sĩ Tõy Sơn dũng cảm tiờu diệt đồn Ngọc Hồi, Khương Thượng, tiến vào kinh thành Thăng Long, quột sạch 29 vạn quừn Thanh ra khỏi kinh thành Thăng Long, đồng thời mở ra giai đoạn hợp nhất đất nước từ Bắc đến Nam Tại kinh thành Thăng Long muụn dõn nụ nức đún mừng, phố phường rợp cờ hoa

Bờn cạnh đú thủ đụ ngàn năm văn hiến của chỳng ta cũn được gọi với nhiều tờn gọi khỏc nhau Kinh Kỳ, Thượng kinh, Tràng An:

- Nhất cao là nỳi Ba Vỡ Nhất lịch, nhất sắc Kinh Kỳ, Thăng Long

- Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu khụng thanh lịch cũng người Tràng An

- Chẳng thanh cũng thể hoa mai Chẳng lịch cũng thể con người Thượng kinh

Cũng có lúc Thăng Long được gọi là Đông Đô (đời Hồ) và Đụng Kinh (đời Lờ) Dưới triều Mạc Đụng Kinh lỳc này đó cú những phố chợ buụn bỏn tấp nập, nhiều phường thủ cụng nổi tiếng như: Nghi Tàm, Thụy Chương dệt vải; Yờn Thỏi làm giấy; Hàng Đào nhuộm điều; tranh Hàng Trống… Vỡ vậy

trong dõn gian Kẻ Chợ là tờn gọi phổ biến cho Thăng Long – Đụng Kinh bấy giờ

Đến nay cũn lưu truyền những cõu ca dao:

- Trờn trời cú sao tua rua

Ở dưới Kẻ Chợ cú vua đỳc tiền Ruộng tư điền ai khụng cày cấy

Trang 13

Hỏi cụ mỡnh cú lấy anh chăng Mười hai cửa bể anh đó cắm đăng Cửa nào lắm cỏ anh quăng chài vào Đường ra Kẻ Chợ xem voi Kỡa bói tập trận nhà chũi bắn cung Bắn con ngựa hồng bỏo tiền bỏo hậu Cỏc quan vừ thần mặc ỏo nậu thắt lưng xanh Khẩu sỳng vỏc vai chõn anh quỳ đạp Anh đỏnh trận này, anh đuổi trận này giả nợ nhà vua

Bừ cụng dói nắng dầm mưa

Khi nhà Nguyễn nắm quyền trị vỡ, kinh đụ được chuyển vào Huế, Thăng Long trở thành một trấn lỵ của trấn Bắc Thành Năm 1831, vua Minh Mạng bỏ cỏc trấn, lập ra cỏc tỉnh lỵ Toàn quốc được chia thành 29 tỉnh,

Thăng Long thuộc tỉnh Hà Nội Với hàm nghĩa nằm trong sụng, tỉnh Hà Nội

khi đú gồm bốn phủ, mười lăm huyện, nằm giữa sụng Hồng và Sụng Đỏy

Năm 1945, Cỏch mạng thỏng Tỏm thành cụng Hà Nội được chọn là

Thủ đụ đất nước Mảnh đất “lắng hồn sụng nỳi ngàn năm” lại ghi nhận một

thời khắc thiờng liờng của lịch sử: Ngày 2 - 9 - 1945 tại Quảng trường Ba Đỡnh, Bỏc Hồ đó đọc bản tuyờn ngụn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dõn chủ Cộng hoà:

Mựa thu cỏch mạng thành cụng Thăn Long rợp búng cờ hồng tung bay Người Hà Nội tay nắm tay Diễu hành lớp lớp hàng ngay nối hàng

Ba Đỡnh tiếng Bỏc õm vang Tuyờn ngụn độc lập lời vàng non sụng

Trang 14

Toàn dân chỉ một tấm lòng Quyết giữ độc lập một lòng theo cha

Non sông ta lại về ta Muôn người chung hát bài ca vang trời

Hà Nội cả một rừng người Hân hoan vui sướng toả ngời Thăng Long

Từ nay con cháu Tiên Rồng Thoát ách nô lệ cờ hồng giương cao

Sau ngày thành lập nước, chúng ta phải đối mặt với thù trong giặc ngoài Hà Nội tiếp tục ghi những trang sử vàng chúi lọi:

Hà Nội thủ đô anh hùng Trận Điện Biên Phủ đánh tung giặc trời

“Bê năm hai” Mỹ rụng rời Cúi đầu thất bại trước người Thăng Long

Từ đó đến nay, Hà Nội luôn giữ vai trò thủ đô của quốc gia Việt Nam thống nhất.Thăng Long – Hà Nội trở thành một trong những Thủ đô lâu đời nhất trên thế giới, là nơi kết tinh tinh hoa của dân tộc, hội tụ nhân tài của đất nước :

Thăng Long - Hà Nội đô thành Nước non ai vẽ nên tranh họa đồ

Cố đô rồi lại tân đô Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây

Cùng với những thăng trầm của lịch sử, mảnh đất này khi là kinh đô vương quốc, khi bị ngoại xâm chiếm đóng, nhưng rồi lại trở về với nhân dân, luôn giữ vai trò trung tâm chính trị - văn hóa của cả nước Hào khí Thăng Long – Hà Nội tỏa chiếu đi khắp mọi miền của Tổ quốc, trở thành niềm tự hào chung của đất nước Việt Nam, tiếp thêm sức mạnh cho mỗi người dân

Trang 15

Thủ đô, mỗi người dân Việt Nam sống, chiến đấu, lao động và học tập vì hạnh phúc lớn của dân tộc

1.2 Địa lý và văn hóa Hà Nội

Thăng Long - Hà Nội như vua Lý nhận định: “ở vào nơi trung tâm Trời Đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi Xem khắp đất Việt ta chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời” (Chiếu dời đô – Lý Công Uẩn, theo bản dịch của Nguyễn Đức Vân trong Thơ văn Lý Trần tập 1)

1.2.1 Nói, sông, hồ Hà Nội

Trong non sông gấm vóc chung của một Việt Nam thống nhất có non sông đất nước riêng của từng địa phương Xứ Đoài có núi Tản, sông Đà Quê hương quan họ có núi Thiên Thai, có sông Cầu nước chảy lơ thơ… Xứ Nghệ

có Hồng Lĩnh, Lam Giang Quảng Trị có non Mai bất khuất, sông Hãn kiên cường Quảng Ngãi có sông Trà, núi Ấn…

Cũng vậy, trong vũ trụ tinh thần của người dân Hà Nội có núi, sông riêng Thăng Long lấy núi Tản làm án, sông Nhị làm đai Chiều thu gió lộng, đứng trên đường Cổ Ngư bên bờ hồ Tây, xa xa Ba Vì, Tam Đảo viền một dải lam mờ Sông Nhị (sông Cái, cũng là Hồng Hà) là tấm lụa đào, chiếc thắt lưng điều thắt đáy lưng ong Hà Nội:

Đồng Xuân sông Nhị chạy dài Mây quang non Tản chiếu ngời Thăng Long

Nếu như mỗi thủ đô trên thế giới đều gắn liền với văn minh của một dũng sụng, Paris (gắn liền với sụng Xen), London (gắn liền với sông Thêm), Matxcơva (gắn liền với sụng Vonga) thỡ Việt Nam của chỳng ta gắn với văn

Trang 16

minh sông Hồng Hà Nội trải qua nghìn năm đã nhận vào mình tinh hoa văn hóa Hồng Hà :

Sông Hồng nước đỏ dồn trôi Bãi ngô, ruộng lúa nhà tôi yên bình Cảnh quê hương thật hữu tình Mùa xuân làng mở hội đình đông vui Gái trai nấu thổi cơm thi Đặng kia đấu vật nơi thì cờ người Đâu đâu cũng tiếng nói cười Già như trẻ lại đến mười tuổi xuân

Nhị Hà (sụng Hồng) đoạn chảy qua Hà Nội đó hoà cùng đời sống văn hoá tinh thần không thể thiếu của con người Hà Thành

Nhưng Ba Vì, sông Cái là non sông chung của cả quê hương buổi đầu của toàn dân tộc, miền châu thổ Bắc Việt Nam Non sông thật riêng tư của Hà Nội cổ là núi Nùng và sông Tô Lịch Hà Nội nằm giữa một vùng sông nước với những ngã ba sông, lại có núi Nùng trấn trung tâm, Ba Vì, Tam Đảo, Sóc Sơn bao phía bắc, tạo nên thế “rồng cuộn hổ ngồi” Theo tài liệu để lại, núi ấy

ở xế Cửa Bắc ngày nay, trong Hoàng Thành Thăng Long cận dòng Tô Lịch cũ (nay là phố Phan Đình Phùng) Núi Nùng vốn chỉ là một gò cao trên doi đất bồi nổi ven sông Bên cạnh núi Nùng, sông Tô Lịch - một nhánh con của sông Cái là linh hồn của Hà Nội:

Sông Tô nước chảy quanh co Cầu Đông sương sớm, quán Giò trăng khuya

Vốn là sông thiên nhiên, dòng Tô qua bốn nghìn năm đượm sắc hương huyền thoại, đượm chất thơ và đượm màu lịch sử Cũng như con người, con sông có một đời sống riêng Cũng như mọi con sông qua thời gian vượt không

Trang 17

gian, sông mang nhiều tên sông Tô Lịch, sông Lương Bài, sông Địa Bảo… Tên sông và dòng sông đã vào thơ và vào sử

Con sông Tô Lịch chảy giữa đô thành đem lại cảnh hữu tình cho vùng đất ngàn năm văn vật:

Sông Tô một dải lượn vòng Xanh tươi đồng lúa, nhãn, hồng, bưởi, na

Lênh đênh ba bốn thuyền kề Thuyền ra Kẻ Chợ, thuyền về sông Dâu

Có lúc dòng sông trở thành là đối tượng để cô gái bày tỏ tấm lòng của mình đối với chàng trai:

Nước sông Tô vừa trong vừa mát

Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh Dừng chèo muốn tỏ tâm tình Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu

Cách nói bao nhiêu, bấy nhiêu là lối so sánh rất quen thuộc trong ca dao Cũng lấy đối tượng dòng sông chàng trai đang nhắn gửi tấm lòng đối với

Không chỉ bày tỏ, bộc lộ tình yêu đôi lứa, sụng trở thành đối tượng để người con xa quê hương gửi gắm nỗi lòng mình:

Anh về quê mẹ thăm nhà Mêng mang sóng nước Hồng Hà chảy xuôi

Trang 18

Cho dù ở mãi xa xôi Lòng tôi vẫn gửi ở nơi quê nhà

Dòng sông như hoà cùng đời sống văn hoá tinh thần không thể thiếu của con người làm nên cảnh hữu tình, chứng kiến bao đổi thay của làng xóm, quê hương

Ở Hà Nội bờn cạnh sụng thỡ hồ là nét đặc trưng riêng của Hà Thành:

Khen ai khéo hoạ dư đồ Trước sông Nhị Thuỷ, sau hồ Hoàn Gươm

Hà Nội là vùng đất địa linh nhân kiệt, thế rồng cuộn hổ ngồi bao quanh

Hà Nội có con sông lớn, giữa thành phố còn có hồ nước trong xanh:

Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn Hỏi ai gây dựng nên non nước này?

Không phải chúng ta mà hàng trăm năm trước đây, ngay cả Nguyễn Du khi đã là một ông quan tam phẩm của triều đình Huế nhân việc đi sứ mà được

ghé qua Hà Nội đã thảng thốt kêu lên “Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long”

(Không ngờ đã bạc đầu mà vẫn còn được nhìn thấy Thăng Long)

Không nhiều thủ đô trên thế giới có được một thắng cảnh như Hồ Gươm! Bờ Hồ là chứng nhân cho sự lên xuống, trồi sụt của bao thân phận người hàng thế kỉ

Giữa lòng một thành phố chật chội và náo nhiệt, sát gần khu phố cổ, là một mặt nước tĩnh lặng trong vòng tay cổ thụ xanh ngát bốn mùa Ta để lại sau lưng mình bụi bặm và bao nỗi lo âu cực nhọc trần thế Trong giây phút ta bỗng có nước, có rừng, tâm hồn ta chùng lại, ngỡ ngàng như vừa bước vào thế giới của những giấc mơ

Trang 19

Ta sững người vì mặt nước xanh ngắt màu lục gọi ta về với dĩ vãng ngay giữa lúc ta đang vật lộn với hiện tại nhọc nhằn Đó là mỹ cảm Hồ Gươm! Một nhà thơ Hy Lạp với tâm hồn nhạy cảm của mình, mới gặp Hồ

Gươm lần đầu đã nhận ra cái “lẵng hoa giữa lòng thành phố - mà sông Hồng

là dải lụa bao quanh”

Ở hai câu ca dao đầu:

Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn

Cảnh vật được tác giả dân gian xưa nhìn bao quát từ xa đến gần Ban đầu là cảnh Kiếm Hồ, quay ống kính gần hơn là cầu Thê Húc cong cong uốn lượn, cuối cùng là chùa Ngọc Sơn Hồ Gươm là biểu tượng của Hà Nội xung quanh tên gọi hồ Gươm gắn liền với truyền thuyết trả gươm của vua Lê Lợi, người dân Hà Nội quen gọi Hồ Gươm bằng một cái tên nôm na là Bờ Hồ

Gắn liền với truyền thuyết trả gươm của Lê Thái Tổ và sau đó được minh quân trọng văn hóa là Lê Thánh Tông vun đắp, chăm chút, sau hàng trăm năm Hồ Gươm trở nên đệ nhất danh thắng của kinh kì Trải mấy đời chúa Trịnh, quanh Hồ san sát biệt điện, li cung, lâu đài dinh thự của các ông hoàng bà chúa xen lẫn cùng đền chùa miếu mạo và nhà ở của thị dân

Dưới triều Nguyễn, Hồ được sửa sang do công những nhà hảo tâm và nho sĩ đương thời đặc biệt là danh sĩ Nguyễn Văn Siêu Nhà văn lỗi lạc được đánh giá là có thể làm mờ văn chương thời tiền Hán này đã dụng công thiết kế quần thể kiến trúc đền Ngọc Sơn với dáng dấp ngày nay

Hồ Gươm như là một chứng nhân lịch sử:

Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn Hỏi ai gây dựng nên non nước này?

Đài Nghiên, Tháp Bút là biểu tượng cho sự hiếu học, cần cù của người dân Hà Thành Không chỉ vậy đó còn là câu hỏi mang sức gợi lớn:

Trang 20

Hỏi ai gõy dựng nờn non nước này?

Phải chăng đõy là lời nhắc nhở thế hệ sau hóy viết tiếp truyền thống hiếu học của cha ụng để Hà Nội mói là thủ đụ ngàn năm văn hiến của chỳng ta:

Thăng Long cảnh đẹp như tranh

Hồ Gươm, tháp Bút giữa dòng cổ xưa Lung linh làm nước tháp Rùa Gợi miền cổ tích như vừa hôm qua Ngọc Sơn bóng trúc la đà Cầu cong Thê Húc như là cảnh tiên Trời in mây nước nối liền Bức tranh thiên cổ giữa miền dân gian

Câu ca dao gợi lên cảnh đẹp của Hà Thành với sông hồ uốn lượn xung quanh Đây là một bức tranh thiên cổ giữa miền dân gian:

Hồ Gươm - ngọc giữa đô thành Thiên thu vẫn đẹp, vẫn xanh sắc trời

Và vẻ đẹp giống như bức tranh mực nước:

Gió đưa cành trúc la đà Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói toả ngàn sương Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ Tiếng chuông chùa - cành trúc - làn khói toả tạo nên không gian Hà

Nội cổ kính, thâm nghiêm, trầm mặc Tiếng chày vọng lại đều đều của làng nghề làm giấy dó làm cho không gian như được kéo rộng ra theo cả ba chiều: chiều sâu, chiều rộng, chiều cao

Ngợi ca vẻ đẹp của hồ Hà Nội còn có bao câu ca dao khác:

Thăng Long cảnh đẹp nên thơ

Tây Hồ trong sáng ngẩn ngơ lòng người

Trang 21

Thiờn nhiờn đó ban tặng cho nơi đõy nhiều ưu đói Bức “dư đồ ” ấy khiến

dõn gian phải trầm trồ :

- Khen ai khộo họa dư đồ Giữa nơi thành thị cú hồ trong xanh…

- Thăng Long Hà Nội đụ thành Nước non ai vẽ nờn tranh họa đồ

Nghệ sĩ dõn gian khụng chỉ ngợi ca vẻ đẹp tự nhiờn của Hà Nội, ẩn

đằng sau chữ “khộo”, chữ “vẽ” ấy là niềm tự hào về một “thiờn nhiờn thứ hai” với “Phố phường sầm uất văn minh rợp trời”

Từ xa xưa, Hà Nội đã được biết đến với ba mươi sáu phố phường và là nơi phồn hoa đụ hội bậc nhất Ca dao cũn ghi:

Phồn hoa thứ nhất Long Thành Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ Thực ra phố và phường khỏc nhau Ngày trước phường ngoài nội dung chỉ những tổ chức của người cựng làm một nghề như phường chốo, phường thợ… cũn mang ý nghĩa: chỉ những khu vực địa lý được coi là đơn vị hành chớnh cấp cơ sở ở Kinh thành Thăng Long Sử cũ cũn ghi Thăng Long đời Trần cú sỏu mươi mốt phường Đời Lờ gộp lại thành ba mươi sỏu phường Dư địa chớ của Nguyễn Trói ghi rừ: “Thượng Kinh là Kinh đụ… cú một phủ hai huyện Phủ là Phụng Thiờn, huyện là Thọ Xương và Quảng Đức Mỗi huyện đều cú 18 phường” [Dẫn theo 7] Những phường này cú thể phõn thành ba

Trang 22

loại: phường làm nghề nông, phường thợ thủ công, phường buôn bán Sang thế kỷ XIX, triều Nguyễn chủ trương hạ uy thế cố đô Thăng Long, đổi Thăng Long thành Hà Nội, chia nhỏ ba mươi sáu phường thành một trăm năm mươi nhăm (155) thôn trại

Phố nguyên nghĩa là nơi bán hàng, theo như cách gọi ngày nay là cửa hiệu Song do các phố tập trung ken sát nhau thành một dãy dài nên các dãy gồm nhiều phố ấy cũng được gọi là phố Dần dần từ phố với nghĩa là một dãy các cửa hàng lấn át từ phố nguyên nghĩa là một cửa hàng Và thế là phố với

các tên như Hàng Bạc, Hàng Mành… hình thành để chỉ những con đường mà

hai bên có các cửa Hàng Vàng, Hàng Bạc, Hàng Mành…

Theo đó có thể hiểu trong một phường có nhiều phố Ví dụ phường Đông Các có phố Hàng Bạc, Hàng Giày, Hàng Mắm… Mçi phè kinh doanh mÆt hµng riªng nh­: Hµng Bạc chuyªn bán vàng, bạc; Hµng Da lµm s¶n xuÊt c¸c mÆt hµng vÒ da:

Rủ nhau chơi khắp Long Thành

Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Bài, Hàng Khay

Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn Phố Mới, Phúc Kiến, Hàng Than Hàng Mã, Hàng Mắm, Hàng Ngang, Hàng Đồng

Hàng Muối, Hàng Nón, Cầu Đông Hàng Hòm, Hàng Đậu, Hàng Bông, Hàng Bè Hàng Thùng, Hàng Bút, Hàng Tre Hàng Vôi, Hàng Giấy, Hàng The, Hàng Gà

Quanh đi đến phố Hàng Da

Ngày đăng: 31/10/2015, 09:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy Anh (2004), Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao - tục ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua một số ca dao - tục ngữ
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
2. Trần Văn Bính (2004), Văn hoá Thăng Long - Hà Nội hội tụ và toả sáng, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Thăng Long - Hà Nội hội tụ và toả sáng
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
3. Lý Khắc Cung (2004), Văn vật ẩm thực đất Thăng Long, Nxb Văn hoá Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn vật ẩm thực đất Thăng Long
Tác giả: Lý Khắc Cung
Nhà XB: Nxb Văn hoá Dân tộc
Năm: 2004
4. Lê Văn Chưởng (2004), Dân ca Việt Nam những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân ca Việt Nam những thành tố của chỉnh thể nguyên hợp
Tác giả: Lê Văn Chưởng
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2004
5. Triêu Dương, Phạm Hòa, Tảo Trang, Chu Hà (sưu tầm và biên soạn) (1972), Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, Nxb Hội Văn nghệ Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao ngạn ngữ Hà Nội
Tác giả: Triêu Dương, Phạm Hòa, Tảo Trang, Chu Hà (sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Hội Văn nghệ Hà Nội
Năm: 1972
6. Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2003), Ca dao dân ca - Đẹp và hay, Nxb Trẻ, Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao dân ca - Đẹp và hay
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
7. Trần Độ (1989), Văn hóa Việt Nam tổng hợp, Ban Văn hóa Văn nghệ Trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam tổng hợp
Tác giả: Trần Độ
Năm: 1989
8. Vũ Tố Hảo (2002), Tinh thần yêu nước qua các thể loại văn học dân gian, Đề tài cấp bộ Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần yêu nước qua các thể loại văn học dân gian
Tác giả: Vũ Tố Hảo
Năm: 2002
9. Vũ Ngọc Khánh (2008), Văn hóa dân gian người Việt, Nxb QĐND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian người Việt
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2008
10. Nguyễn Xuân Kính (2009), Kho tàng ca dao người Việt, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2009
11. Nguyễn Kiều Liên (2006), Ca dao về Hà Nội, Nxb Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao về Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Kiều Liên
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2006
12. Vũ Ngọc Phan (2003), Tục ngữ ca dao dõn ca Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao dõn ca Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2003
13. Nguyễn Vinh Phúc (2009), Các thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Vinh Phúc
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2009
14. Vũ Quần Phương (2000), Thơ Hà Nội, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hà Nội
Tác giả: Vũ Quần Phương
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2000
15. Giang Quân (2002), Thăng Long - Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng Long - Hà Nội trong ca dao ngạn ngữ
Tác giả: Giang Quân
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2002
16. Trần Quốc Vượng - Vũ Tuân Sán (2009), Hà Nội nghìn xưa, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Nội nghìn xưa
Tác giả: Trần Quốc Vượng, Vũ Tuân Sán
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2009
17. Trần Quốc Vượng (2009), Trên mảnh đất ngàn năm văn vật, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên mảnh đất ngàn năm văn vật
Tác giả: Trần Quốc Vượng
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w