Trên cơ sở khảo sát, thống kê nguồn ca dao của người Việt và một số bài dân ca của các dân tộc thiểu số, tác giả đã tìm hiểu những mô hình so sánh phổ biến trong ca dao so sánh cân bằng
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của ThS Nguyễn Thị Ngọc Lan - người hướng dẫn trực tiếp, cùng các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận
lợi để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài: Nghệ thuật so sánh
trong ca dao dân ca dân tộc thiểu số
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2010
Tác giả khoá luận
Lê Thị Nhung
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khoá luận: Nghệ thuật so sánh trong ca dao dân ca
dân tộc thiểu số Việt Nam là kết quả nghiêm cứu của riêng tôi
Khoá luận không sao chép từ một tài liệu, công trình nào đã công bố Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 01 tháng 05 năm 2010
Tác giả khoá luận
Lê Thị Nhung
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của khoá luận 10
7 Cấu trúc của khoá luận 10
NỘI DUNG Chương 1 Khảo sát các mô hình so sánh trong ca dao dân ca dân tộc thiểu số 11
1.1 So sánh cân bằng 12
1.1.1 Mô hình: A như B 12
1.1.2 Mô hình: A như B1, B2, B3 13
1.1.3 Mô hình: A (khuyết x) B 14
1.1.4 Mô hình: A bằng B 15
1.1.5 Mô hình: A là B 17
1.2 So sánh không cân bằng 19
1.2.1 Mô hình: A hơn B 19
1.2.2 Mô hình: A kém B 21
Chương 2 Nghệ thuật so sánh - Phương tiện miêu tả ngoại hình và thân phận của nhân vật trữ tình 23
2.1 Miêu tả ngoại hình 23
2.2 Miêu tả thân phận 35
Trang 4Chương 3 Nghệ thuật so sánh - Phương tiện biểu đạt thế giới tình cảm
của nhân vật trữ tình 48
3.1 Trạng thái thương - yêu 48
3.2 Trạng thái nhớ nhung 54
3.3 Trạng thái ước muốn, quyết tâm 59
3.4 Trạng thái băn khoăn, lo ngại, buồn đau 66 KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trải dài trên khắp mảnh đất Việt Nam là 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, mỗi vùng đất làm nên một dòng văn hoá riêng biệt, góp phần tạo nên một nền văn hoá đa bản sắc Nền văn học dân tộc được cấu thành từ nhiều bộ phận, trong đó ta không thể bỏ qua sự hiện diện của văn học các dân tộc thiểu
số Đây thực sự là những bông hoa mang hương sắc mới lạ, độc đáo đến từ vùng sơn cước xa xôi Bên cạnh những thành tựu về văn học viết, văn học dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng đạt được những giá trị cả về nội dung và hình thức
Nhìn lại hệ thống thể loại văn học dân gian của các dân tộc thiểu số có thể khẳng định: ca dao dân ca là một trong những thể loại chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, có ý nghĩa rất lớn trong đời sống sinh hoạt cũng như đời sống văn hoá của bà con vùng cao Trong những buổi họp bạn đêm xuân, trên nương rẫy hay trên đường đi chợ bản Tất cả đều có thể nảy sinh những cuộc
ca hát, đối đáp, giao duyên Không chỉ thế, mọi lĩnh vực của cuộc sống từ tình yêu đến tình bạn đến tình cảm gia đình, từ hiện thực lao động vất vả đến những đêm hội náo nhiệt hay mọi cung bậc tình cảm của con người đều được thể hiện một cách sinh động và chân thực Ca dao dân ca còn là nơi cất cánh của những ước mơ khát vọng Có thể nói, đến với ca dao dân ca, ta như được bắt gặp một điệu hồn đằm thắm thiết tha, một thế giới cảm xúc đầy màu sắc, hương vị Thêm nữa, ca dao dân ca các dân tộc thiểu số còn mang đặc trưng riêng của từng dân tộc Nhà thơ, nhà chiến sĩ cộng sản Hoàng Văn Thụ đã chỉ
ra nét độc đáo của thơ ca dân gian các dân tộc qua những lời thơ “Lượn” của dân tộc Tày
Trang 6Từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau “Si” ca nhiều tiếng, áo nhiều màu
Thực vậy, mỗi một cộng đồng dân tộc lại có những nét văn hóa phong tục riêng, có những phương thức lao động, sản xuất riêng Do vậy, ca dao dân
ca, đứa con đẻ của đồng bào, tất yếu phải mang trong mình những nét khác biệt đó Nghiên cứu những biểu hiện đặc sắc của ca dao dân ca các dân tộc thiểu số ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật thực sự là những vấn đề
vô cùng lý thú Với mong muốn góp phần tìm hiểu một trong những phương
tiện nghệ thuật nổi bật của thể loại này, chúng tôi lựa chọn đề tài: Nghệ thuật
so sánh trong ca dao dân ca dân tộc thiểu số Việt Nam Đây là một thủ pháp
được sử dụng thường xuyên và phổ biến trong ca dao dân ca Lối nói so sánh
ví von với những hình ảnh so sánh độc đáo thể hiện tư duy, quan niệm thẩm
mĩ cũng như tài năng nghệ thuật của nghệ sĩ dân gian
Một lí do nữa, xuất phát từ sự yêu thích ca dao dân ca các dân tộc thiểu
số của bản thân Âm điệu réo rắt của tiếng khèn, tiếng sáo hoà cùng tiếng hát trong trẻo, ngân nga giữa khung cảnh trập trùng đồi núi đã để lại những ấn tượng không thể nào quên đối với những ai yêu thích vốn văn hoá dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số Những cảm xúc đó đã trở thành động lực thúc đẩy chúng tôi lựa chọn đề tài này, với hi vọng sẽ mở rộng cho mình những kiến thức mới mẻ, thú vị về ca dao dân ca và đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số, giúp ích cho việc giảng dạy văn học dân gian ở trường phổ thông sau này
Trang 7giới nội tâm của con người Vì lẽ đó thủ pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao dân ca Việt Nam, từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, song mối quan tâm ấy mới chỉ tập trung chủ yếu vào ca dao dân ca người Việt Có thể kể đến
ý kiến của Trương Tửu trong Kinh thi Việt Nam - Tủ sách văn hoá Hàn Thuyên - Hoa Tiên (1940), Dương Quảng Hàm trong Việt Nam học sử yếu -
Nha học chính Đông Pháp (1943), Hà Châu trong Tạp chí văn học với bài viết
Cách so sánh trong ca dao ngày nay (1966) hoặc Đặng Văn Lung với bài
viết Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình đăng trên tạp chí văn học
số 10 (1968)
Đến những năm 70 trở về sau, vấn đề này được đề cập đến trong một số sách giáo trình và sách nghiên cứu:
Năm 1972, hai tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên trong giáo
trình Văn học dân gian đã nhấn mạnh: “Ca dao Việt Nam rất hay dùng lối so
sánh ví von để xây dựng hình tượng, biểu đạt ý tứ Có lối so sánh trực tiếp và trong lối này những liên từ “giống như”, “như là”, “như thể” hay được dùng để thể hiện mối tương quan về mặt hình ảnh giữa chủ thể với những sự vật và hiện tượng tự nhiên được dùng làm đối tượng so sánh” [5,48] Lời tổng
kết này chắc hẳn bao hàm cả ca dao dân ca các dân tộc thiểu số vì trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi nhận thấy ca dao dân ca của đồng bào dân tộc cũng thường xuyên sử dụng lối so sánh trực tiếp và cách nói này đã góp phần tạo nên những hiệu quả bất ngờ trong việc “xây dựng hình ảnh” và “biểu đạt ý tứ” Năm 1978, xuất hiện hai công trình sưu tầm và biên soạn có giá trị: giáo
trình Lịch sử văn học Việt Nam (tập 1, Văn học dân gian, phần 2) của Bùi Văn Nguyên (chủ biên) và Tục ngữ cao dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan Cả hai khi đề cập đến hình thức nghệ thuật của ca dao đều đánh giá: “Thể tỷ là cách
diễn đạt bằng so sánh, ví von, là phương pháp diễn đạt thông thường của nhân dân qua hình tượng trong ca dao” [9,22] và so sánh được xem là một phương
Trang 8tiện nghệ thuật, có tác dụng rất lớn “trong sự diễn đạt tư tưởng, tình cảm” và
“làm cho lời thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết” [14,79] Bước đầu tìm hiểu ca
dao dân ca dân tộc thiểu số, chúng tôi cũng thấy rất rõ điều này
Năm 1995, trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học dân gian, GS Đỗ
Bình Trị, khi bàn tới những lối phô diễn ý tình trong ca dao đã đề cập tới một
lối nói bằng hình ảnh (lối tỷ) Ông khẳng định: “nói bằng so sánh, ví von là
một đặc điểm nổi bật của lối nói năng của quần chúng nhân dân nhiều dân tộc Chất liệu để so sánh chẳng lấy đâu xa mà chủ yếu là cảnh vật thiên nhiên làng quê và những vật quen thuộc, gần gũi trong lao động và sinh hoạt Do được diễn đạt bằng so sánh, ý tình trở nên bóng bẩy, ý nhị Lại do dùng những chất liệu ấy, hình ảnh so sánh thường giản dị mà vẫn giàu sức gợi cảm
vì nó tạo được âm vang trong lòng người, được người ta góp phần đẩy sức gợi cảm của nó đi xa hơn, sâu hơn trong miền kí ức” [15,50] Đây là những
gợi ý cần thiết, giúp chúng tôi nhìn nhận đầy đủ hơn vai trò của nghệ thuật so sánh trong việc biểu hiện nhân vật trữ tình
Năm 1998, với công trình nghiên cứu Những thế giới nghệ thuật trong
ca dao, TS Phạm Thu Yến đã đi vào khảo sát những “Đặc điểm của nghệ thuật so sánh trong ca dao trữ tình dân gian”, tác giả đã đưa ra các kiểu cấu
trúc so sánh trong ca dao như: so sánh trực tiếp và so sánh chìm Tác giả chỉ
ra những giá trị của việc sử dụng những thủ pháp nghệ thuật so sánh trong ca
dao: “nhờ biện pháp so sánh giá trị nhận thức, tạo hình và biểu cảm của ca
dao trở nên sâu sắc” [18,102] Có thể nói, với 15 trang viết khá công phu, đầy
đủ về nghệ thuật so sánh trong ca dao, bài viết đã đem lại những thông tin giá trị,
là cơ sở cho chúng tôi triển khai đề tài
Năm 1999, trong cuốn Những đặc điểm thi pháp của các loại hình
văn học dân gian GS Đỗ Bình Trị lại một lần nữa đưa ra những nhận xét
quan trọng về “hệ thống hình ảnh trong ca dao” “đặc biệt là những hình ảnh
Trang 9so sánh” Ông đánh giá: “trong ca dao, những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, ượng trưng được lựa chọn chủ yếu nhằm thể hiện nhân vật Nhân vật được thể hiện bằng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, tượng trưng một cách tập trung nhất, đa dạng nhất là các “cô gái và chàng trai” Từ đó ông chỉ ra một số
t-dạng so sánh cụ thể: “so sánh nâng cao” và “so sánh hạ thấp”, “so sánh hài
hoà” (thể hiện hai nhân vật đối xứng), “so sánh liên hợp” (nói bóng bẩy bằng hình ảnh )” [16,214] Đây là những gợi ý quan trọng giúp chúng tôi có
thể mở rộng vấn đề nghiên cứu
Cũng trong năm 1999, tác giả Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình Văn
học dân gian (giáo trình đào tạo giáo viên THCS, hệ Cao đẳng sư phạm, tái
bản lần thứ nhất) khi nói tới “thủ pháp nghệ thuật được dùng thường xuyên
trong ca dao truyền thống” đã chỉ ra: “so sánh là thủ pháp được dùng thường xuyên, phổ biến nhất trong ca dao, bao gồm so sánh trực tiếp (tỷ dụ), so sánh gián tiếp (ẩn dụ) Tỷ dụ là so sánh trực tiếp, thường có những quan hệ từ so sánh: “như”, “như thể”, “là”, “như là” đặt giữa hai vế” [17,228]
Nghệ thuật so sánh trong ca dao dân ca trở thành đối tượng nghiên cứu chính trong một số luận án thạc sỹ, đề tài khoa học, bài viết trên tạp chí chuyên ngành Có thể kể đến:
Năm 2000, trong luận án thạc sĩ khoa học Ngữ văn, tác giả Đỗ Thị Hoà
đã khảo sát và nhận diện: Đặc điểm của nghệ thuật so sánh trực tiếp trong
ca dao tình yêu người Việt [4] Trên cơ sở khảo sát, thống kê từ nguồn ca dao
của người Việt, tác giả xác lập một số kiểu cấu trúc so sánh phổ biến (so sánh triển khai, so sánh tương hỗ bổ sung và so sánh cân bằng) Đồng thời tác giả
đi sâu vào tìm hiểu giá trị của nghệ thuật so sánh trực tiếp trong ca dao tình yêu của người Việt (giá trị nhận thức, giá trị biểu cảm, giá trị thẩm mĩ) Đây là một công trình nghiên cứu đầy đủ và công phu nhất về nghệ thuật so sánh trong
ca dao người Việt Những tìm tòi mang tính khoa học này là cơ sở giúp chúng
Trang 10tôi liên hệ với ca dao dân ca dân tộc thiểu số trên phương diện khai thác những biểu hiện trạng thái tình cảm của nhân vật trữ tình
Năm 2007, đề tài khoa học cấp cơ sở của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan
viết về: Nghệ thuật so sánh với việc khắc hoạ nhân vật trữ tình trong ca
dao [7] Trên cơ sở khảo sát, thống kê nguồn ca dao của người Việt và một số
bài dân ca của các dân tộc thiểu số, tác giả đã tìm hiểu những mô hình so sánh phổ biến trong ca dao (so sánh cân bằng và so sánh không cân bằng với những dạng thức cụ thể của nó) Đồng thời, tác giả còn đi sâu vào việc tìm hiểu hiệu quả của nghệ thuật so sánh trong việc khắc hoạ nhân vật trữ tình Có thể nói, đề tài đã đóng vai trò quan trọng, định hướng cho chúng tôi triển khai
đề tài
Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan lại đưa ra bài viết đăng trên
tạp chí văn học Nghệ thuật so sánh trong ca dao dân ca một số dân tộc vùng
núi phía Bắc và Tây Nguyên [8] Tác giả đã đi sâu vào tìm hiểu hiệu quả của
thủ pháp so sánh trong việc miêu tả ngoại hình và nội tâm của nhân vật trữ tình ở ca dao dân ca một số dân tộc thiểu số Đây thực sự là những gợi ý quan trọng, đóng vai trò tiền đề cho chúng tôi thực hiện đề tài
Điểm lại lịch sử nghiên cứu về vấn đề này, có thể thấy: thủ pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ít nhiều đã được chú ý song hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung vào tìm hiểu nghệ thuật so sánh trong ca dao của người Việt (Kinh) mà chưa hướng mối quan tâm đến nghệ thuật so sánh trong mảng ca dao dân ca các dân tộc thiểu số Điều đó cho thấy đây còn là một vấn
đề khá mới mẻ, cần được khai thác kỹ lưỡng và toàn diện hơn nữa Với tinh thần ấy, kế thừa những thành quả nghiên cứu của thế hệ đi trước, chúng tôi mạnh dạn bắt tay vào việc triển khai đề tài nhằm mục đích tìm hiểu những biểu hiện độc đáo về ca dao dân ca các dân tộc thiểu số Việt Nam Từ đó thấy được đời sống tâm hồn phong phú và khoáng đạt của đồng bào vùng cao
Trang 113 Mục đích nghiên cứu
- Thấy được sự đa dạng, phong phú cũng như nét riêng của thủ pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao dân ca các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, trong việc biểu hiện thế giới cảm xúc của nhân vật trữ tình
- Nâng cao năng lực tư duy, cảm thụ thơ ca trữ tình dân gian và tiếp cận với các phương pháp nghiên cứu khoa học, giúp ích cho quá trình giảng dạy VHDG sau này
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Tư liệu
Chúng tôi tiến hành khảo sát thống kê ca dao dân ca các dân tộc thiểu
số dựa trên các tư liệu đã được công bố Cho nên tên đề tài của chúng tôi là:
Nghệ thuật so sánh trong ca dao dân ca dân tộc thiểu số Việt Nam song
thực tế không thể khảo sát tư liệu của 54 dân tộc Đây là lý do khách quan, xuất phát từ công tác sưu tầm, biên dịch còn chưa đầy đủ trong thời điểm hiện tại
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu lối so sánh trực tiếp và đã khảo sát được 390 lời ca dao có sử dụng lối so sánh trực tiếp của một số dân tộc miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Tuy chưa phải là tất cả, song là cơ sở để chúng tôi bước đầu tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đề tài
Ngoài ra, để tiện cho việc so sánh, đối chiếu chúng tôi còn khảo sát
sơ bộ một số lời ca dao người Việt
4.2 Nội dung
Trong ba chương của khoá luận, chúng tôi chủ yếu tìm hiểu nghệ thuật
so sánh trong ca dao dân ca các dân tộc thiểu số qua một số phương diện:
- Khảo sát các mô hình so sánh chủ yếu trong ca dao dân ca các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Trang 12- Khả năng miêu tả ngoại hình, thân phận và biểu đạt nội tâm nhân vật trữ tình của nghệ thuật so sánh Khám phá lối diễn đạt bằng hình ảnh so sánh trong ca dao dân ca các dân tộc để thấy được khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách điêu luyện, tinh tế của đồng bào các dân tộc thiểu số
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp phân tích, miêu tả, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Đóng góp của khoá luận
6.1 Về mặt lí luận
Bổ sung tư liệu và những kiến thức về nghệ thuật so sánh trong ca dao dân ca các dân tộc thiểu số, một vấn đề còn chưa được quan tâm thoả đáng
6.2 Về mặt thực tiễn
Tìm hiểu Nghệ thuật so sánh trong ca dao dân ca dân tộc thiểu số
Việt Nam, góp phần nâng cao kiến thức về văn học dân gian và có thể áp
dụng vào việc giảng dạy ca dao dân ca
7 Cấu trúc của khoá luận
Chương 1: Khảo sát các mô hình so sánh trong ca dao dân ca dân tộc thiểu số
Chương 2: Nghệ thuật so sánh - phương tiện miêu tả ngoại hình và thân phận của nhân vật trữ tình
Chương 3: Nghệ thuật so sánh - phương tiện biểu đạt thế giới tình cảm của nhân vật trữ tình
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHẢO SÁT CÁC MÔ HÌNH SO SÁNH TRONG CA DAO
DÂN CA DÂN TỘC THIỂU SỐ
“So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với
sự vật khác, miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, ng- ười nghe” [6,189] Đây là thủ pháp nghệ thuật được sử dụng hiệu quả trong
nhiều thể loại văn học dân gian như: thần thoại, sử thi, truyền thuyết Nhưng
ta dễ dàng nhận thấy thủ pháp so sánh được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong ca dao dân ca nói chung và ca dao dân ca dân tộc thiểu số nói riêng
So sánh thực chất là đối chiếu giữa một hình ảnh này với hình ảnh kia hoặc một vài hình ảnh khác không giống nhau về phạm trù nhưng dựa vào liên tưởng mà người ta có thể tìm ra những nét tương đồng nào đó về mặt nhận thức hoặc tâm lý Một phép so sánh đúng đắn bao giờ cũng có hai điều kiện:
- Đối tượng đưa ra so sánh là khác loại
- Giữa hai đối tượng phải có những nét tương đồng làm cơ sở so sánh
So sánh bao giờ cũng phải dựa vào hai đối tượng khác phạm trù tạo thành hai vế A và B Giữa hai vế bao giờ cũng có công cụ so sánh
Mô hình cấu tạo chung: AxB (x: là từ so sánh)
Từ cơ sở lý thuyết trên đây, chúng tôi bước đầu nhận diện các mô hình
so sánh trong ca dao dân ca dân tộc thiểu số Do không đủ điều kiện tìm hiểu
Trang 14ca dao dân ca dân tộc thiểu số từ nguyên bản tiếng dân tộc, chúng tôi khảo sát các mô hình so sánh này qua các văn bản đã được chuyển dịch sang ngôn ngữ phổ thông Việc làm này tuy có đôi chút hạn chế nhưng vẫn rất cần thiết bởi phải xác định được các mô hình so sánh chủ yếu thì mới thấy hết được vai trò
và ý nghĩa của so sánh trong việc miêu tả và biểu hiện nhân vật trữ tình
1.1 So sánh cân bằng
Đây là dạng thức so sánh phổ biến nhất trong ca dao dân ca dân tộc thiểu số Chúng tôi đã thống kê được 348 phiếu trong tổng số 390 phiếu, chiếm 89,2% Trong so sánh cân bằng, giữa hai đối tượng được đem ra so sánh là tương đương nhau, được nối với nhau bằng các quan hệ từ so sánh như: như, như thể, giống như, tựa như Tuy nhiên, trong những trường hợp khác nhau, mô hình này lại có sự biến tấu, sáng tạo vô cùng linh hoạt
1.1.1 Mô hình: A như B (có 161 lời / 348 lời, chiếm 46,3%)
Mô hình này thường sử dụng những từ so sánh là: giống như, tựa như,
như là, như thể thường “được dùng để thể hiện mối tương quan về mặt hình
ảnh giữa chủ thể với những sự vật, hiện tượng tự nhiên được dùng để so sánh” [7, 12]
mà thôi
Nhưng cũng có khi, giữa hai vế vẫn liên kết với nhau bằng những quan
Trang 15Thân anh như quạt vẽ rồng
Em như chiếu rách vào hàng bỏ quên
Ước gì mưa gió nổi lên Cho chiếc chiếu rách nằm trên quạt rồng
(Dân ca Mường)
Ở bài ca dao này, ta thấy giữa hai vế so sánh A (thân anh, thân em) và
vế B (quạt vẽ rồng, chiếu rách) vẫn được nối với nhau bằng quan hệ từ (như) Nhưng ở đây cơ sở so sánh lại được ẩn đi Tuy nhiên không phải thế mà câu
ca trở nên tối nghĩa, khó hiểu Ta có thể cảm nhận được ngay đây là một khát vọng về tình yêu đôi lứa vượt lên trên mọi rào cản của sự phân biệt giai cấp Nhân vật trữ tình đã mong ước làm thay đổi trật tự xã hội để cho “chiếu rách” sánh bên “quạt rồng” Đây là quan niệm vô cùng cao đẹp và trong sáng về tình yêu Ở đó không có sự góp mặt của tiền bạc, địa vị
Hay:
Em như con ốc bò rờ rẫm trên mảng đá
Biết đường đi mà không biết lối lại
Em như con ốc bò sờ sệt trên đầu bờ
Biết đường đi mà không biết lối về
(Dân ca Mèo)
Ở đây cơ sở so sánh cũng được ẩn đi, bài ca chỉ nêu ra hai vế so sánh A (em) và B (con ốc) được nối với nhau bằng quan hệ từ (như) Đây là lời trách móc của chàng trai đối với người anh yêu Anh trách cô quá nhút nhát, ngây ngô như con ốc thu mình trong lớp vỏ không dám đứng lên bảo vệ tình yêu của mình Trách cô quá nhẹ dạ đi tin lời người ngoài mà lại không tin lời của chàng trai vì thế nên tình yêu của họ đã bị chia lìa, tan vỡ
1.1.2 Mô hình: A như B1, B2, B3 (có 116 lời / 348 lời, chiếm 33,3%)
Trang 16Đây cũng là mô hình xuất hiện nhiều trong ca dao Ở kiểu so sánh này, một vế A có thể được so sánh với hai hay nhiều vế B liên tiếp nhằm dụng ý nhấn mạnh một đặc điểm hay một trạng thái cảm xúc nào đó
Nếu trời làm anh với em lìa nhau đó
Giống như ngựa đứt cương
Trâu tuột trão
(Dân ca Ê-đê)
Sự chia lìa trong tình yêu được so sánh với “ngựa đứt cương”, “trâu tuột trão” nhằm nhấn mạnh tình yêu của nhân vật trữ tình Tình yêu ấy vô cùng sâu sắc, nếu bị chia lìa tan vỡ thì cuộc đời của họ cũng trở nên vô nghĩa Dòng hồi ức, nỗi nhớ mong cũng được diễn tả bằng hàng loạt hình ảnh
so sánh
Đã từng mong dựa vào em
Như ống tre dựa vách Như lúa cậy nhờ đồng Như búi tóc mượt cậy nhờ mặt trâm hình hoa sen trang điểm Như thân gái lìa quê hương nương tựa tình yêu
Như gà cỏ nương nhờ cành cao ngủ ngon đêm vắng Như don trên núi sống nhờ hốc hang
Như sông rộng cậy nguồn tuôn mãi Như sao hôm cậy nhờ trăng rằm lên giúp khiêng bầu trời Như hang ngang tầng cây cậy nhờ rồng vào ở vui ấm Như người dưới trần gian sống nương tựa bản mường Như chuối ngự nương cuốn buồng nải lớn
(Dân ca Thái)
1.1.3 Mô hình: A (khuyết x) B (Có 39 lời / 348 lời, chiếm 11,2%)
Trang 17Trong mô hình này, chỉ xuất hiện hai vế A và B mà không xuất hiện quan hệ từ so sánh Có thể nói đây là một dạng so sánh chìm nhưng chưa hẳn
là ẩn dụ vì chủ thể chưa ẩn hoàn toàn mà là sự kết hợp giữa so sánh và ẩn dụ
Mặt em đỏ hồng hoa vông Hai cánh tay thon dài con chỉ
“con chỉ” Dù không xuất hiện quan hệ từ so sánh nhưng người đọc vẫn thấy được ngoại hình rạng rỡ, hồng hào, đáng yêu của cô gái
Tương tự:
Thân em hãy còn trắng trong vẹn vẹn Chén rượu đầy nguyên chưa đổ bên nào
(Dân ca Thái) Trong câu ca này, quan hệ từ đã không xuất hiện nhưng ta vẫn thấy được dụng ý so sánh ngầm của nhân vật trữ tình Đây là lời bộc bạch của một
cô gái đang tới tuổi cập kê Cô đã ví tâm hồn mình như “chén rượu đầy nguyên chưa đổ bên nào”, một lời tâm sự thật chân thành mà sâu sắc Qua đó
ta thấy được tâm hồn trong trắng, trái tim còn trinh nguyên chưa trao gửi cho
ai của cô gái Ở đó ta còn cảm nhận được một lời mời gọi đầy thiết tha, sâu lắng của cô
1.1.4 Mô hình: A bằng B (có 20 lời / 348 lời, chiếm 5,7 %)
Trang 18Với mô hình so sánh này, giữa hai vế A và B được nối với nhau bởi quan hệ từ so sánh ngang bằng như: bằng, ngang bằng, xem bằng, cũng bằng
Nhà anh chỉ bằng một tấc cỏ gianh Ruộng rẫy anh chỉ bằng một gang đất cằn
(Dân ca Xê-đăng) Đây là lời ca khiêm tốn, nhún nhường của một chàng trai khi nói với cô gái mà anh yêu Qua cách so sánh “nhà” bằng “một tấc cỏ gianh”, “ruộng rẫy” bằng “một gang đất cằn”, chàng trai như muốn giãi bày về hoàn cảnh của mình Và hơn thế nữa chàng còn muốn tìm sự cảm thông, chia sẻ từ phía cô gái để cô có thể mạnh dạn vượt qua những rào cản về vật chất sánh duyên cùng anh
Hay:
Vườn tình xa bằng cánh tay Vườn tình xa bằng ngón út
Mà bây giờ vườn tình xa nhau hẳn
(Dân ca Thái) Đây là lời ca đau xót của một chàng trai khi người yêu đã đi lấy chồng Trước kia, khi còn yêu nhau, được ở bên nhau thi khoảng cách thật gân gũi, tình yêu thật nồng nàn Thế nhưng giờ đây, “vườn tình” đã xa ngàn dặm, chẳng bao giờ họ có thể gặp mặt nhau được nữa Chỉ con một mình chàng trai với nỗi nhớ nhung da diết:
Cách biệt em ngàn năm không còn gặp Biết bao giờ lại thấy mặt em
Buồn lòng anh, ước mơ chẳng thấy
(Dân ca Thái) Trong ca dao người Việt, ta cũng bắt gặp mô hình so sánh này:
Trang 19Ví dụ:
Phận gái lấy được chồng khôn
Xem bằng cá vượt vũ môn hoá rồng
Người con gái trong xã hội xưa, việc chọn chồng đều do cha mẹ quyết định, sắp đặt Do vậy, may mắn thì gặp được một người chồng tốt, bằng không sẽ phải chịu cay đắng cả đời Có lẽ vì thế mà cô gái đã so sánh việc “lấy được chồng khôn” ngang bằng với “cá vượt vũ môn hoá rồng”, một
kì tích, một niềm vinh dự lớn lao Bởi cô gái ấy sẽ có được một chỗ dựa vững chắc cho cả cuộc đời
Hoặc:
Vắng mặt nhân ngãi một ngày
Ngang bằng bác mẹ đem đầy biển đông
Ở đây, nỗi khổ khi “vắng mặt nhân ngãi” đã được so sánh với nỗi khổ
“đem đầy biển đông” Cách so sánh thật giản dị mà vẫn khiến cho người đọc hiểu được tình cảm sâu nặng cũng như sự nhớ thương người yêu của nhân vật trữ tình
“Có thể thấy, mô hình A bằng B, dù vế A được so sánh với vế B trong quan hệ ngang bằng nhưng vế B thường sáng tạo theo phương thức phóng đại (ngoa dụ) Đây là phương thức cường điệu một mức độ, tính chất, đặc điểm nào đó của sự vật Nó có tác dụng nhấn mạnh hơn ý nghĩa của đối tượng so sánh và vì vậy nó mang sắc thái biểu cảm cao trong việc diễn tả bằng hình ảnh của ca dao” [7,16]
1.1.5 Mô hình: A là B (có 12 lời / 348 lời, chiếm 3,5%)
Mô hình này giữa hai vế A và B được liên kết với nhau bằng quan
hệ từ “là” Theo tác giả Đinh Trọng Lạc thì đây là một dạng so sánh ẩn dụ (từ
Trang 20“là” có chức năng liên hệ so sánh ngầm) Ở đây, “từ “là” đóng vai trò như từ
“như”, nếu thay “là” bằng “như” thì nội dung biểu đạt không hề thay đổi, nhưng rõ ràng về sắc thái biểu cảm thì lại khác nhau Bởi từ “là” nghiêng về khẳng định nhiều hơn” [7,17]
ta có thể cảm nhận được bằng thị giác, khứu giác Để qua cách so sánh đó, chàng trai thể hiện khát khao tình yêu mãnh liệt của mình:
Nhưng vợ chồng tình ái Đổi sao được em ơi
(Dân ca Giáy) Đây là lời ca đau xót của một người con gái lấy chồng mà không có hạnh phúc Vì vậy, cô đã thử giả định tình nghĩa vợ chồng so sánh với “trâu,
Trang 21ngựa, củi”, những thứ có thể mua bán dễ dàng Nhưng trong thâm tâm của cô vẫn ý thức được đây là một tình cảm thiêng liêng, không dễ gì thay đổi, cho
dù cuộc sống không được như ý thì vẫn phải cam chịu, không có lựa chọn khác được
Hay trong ca dao Việt cũng có kiểu so sánh này:
Anh về kiếm vợ cho xong
Em là tép nhỏ lộn rong khó tìm
Thoảng đọc ta có cảm nhận đây là lời nói tự nhún mình của một cô gái
Cô đã tự ví mình như một loài “tép nhỏ”, tầm thường Nhưng ngẫm nghĩ sâu
xa ta lại thấy dường như đây là lời của một chàng trai Chàng đã ví cô gái mà mình đang theo đuổi như “tép nhỏ lộn rong” khiến anh phải vất vả tốn công tốn sức mà vẫn không đạt được kết quả như ý Vì vậy, cuối cùng chàng đã quyết định “về kiếm vợ cho xong” Câu nói có chút gì hờn dỗi, trách móc nhẹ nhàng
1.2 So sánh không cân bằng
Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thấy tỉ lệ những bài ca dao so sánh không cân bằng chiếm một khối lượng rất ít so với so sánh ngang bằng, chỉ chiếm 42 lời / 390 lời, chiếm 10,8% Thế nhưng không vì thế mà vai trò của
nó bị lu mờ So sánh không cân bằng đã phát huy hiệu quả cao độ trong việc tạo hình và biểu cảm Trong so sánh không cân bằng, cán cân so sánh bao giờ cũng nghiêng về một phía, khẳng định sự vượt trội của đối tượng này khi đem
so sánh với đối tượng kia Giữa hai vế A và B được nối với nhau bằng các quan hệ từ biểu thị sự hơn, kém
1.2.1 Mô hình: A hơn B (có 9 lời / 42 lời, chiếm 21%)
Với mô hình này, “chúng tôi thấy so sánh giữa hai vế nhưng mức độ so
sánh thường nghiêng về vế A” [12,17]
Yêu anh như nước xô xuống thác
Trang 22Xoáy hơn nước đổ thác Mạnh hơn nước vượt ghềnh Tràn hơn nước xuống ruộng bậc thang
(Dân ca Giáy) Cách bộc lộ tình yêu thật táo bạo của cô gái Tình yêu của cô thật mãnh liệt, mạnh mẽ hơn tất cả “nước đổ vực, nước vượt thác, nước xuống ruộng bậc thang” Đó là một tình yêu say đắm và dường như dòng thác tình yêu đang cuồn cuộn chảy trong trái tim cô gái
Hay:
Trần thế sao có người đẹp xinh
Như mây che rợp cả vùng trời
Ước chi ta được cùng người đẹp
Sướng gì hơn chung sống một nơi
(Dân ca Dao)
Ở đây, khát khao được nên duyên vợ chồng cùng với người con gái xinh đẹp đã được chàng trai đặt cao hơn tất cả Đối với chàng trai, cô gái là niềm ước mong vô cùng lớn lao Chính vì thế được nên duyên cùng với cô là một niềm hạnh phúc vô bờ, không gì so sánh được
Tương tự:
Anh ra đi, ra đi Tìm cô nàng nhanh nhảu
Còn nhanh nhảu hơn em
Tìm cô nàng tươi xinh
Đẹp hơn em bội phần
(Dân ca Lô Lô)
Trang 23Có lẽ khi đã theo đuổi cô gái mà không được đáp lại, chàng trai đã tự ái
bỏ về đi tìm một cô gái khác Đọc câu ca, ta thấy được tình yêu vô cùng mãnh liệt nhưng vẫn còn chút gì nông nổi của tuổi trẻ
Cách so sánh cũng khá phổ biến trong ca dao người Việt, chẳng hạn:
Đêm nằm tàu chuối có đôi
Hơn nằm chiếu mén lẻ loi một mình
Nhân vật trữ tình dẫn ra hai hình ảnh so sánh “nằm tàu chuối có đôi” hơn “nằm chiếu mén lẻ loi một mình” Qua đó ta thấy được một quan niệm thật cao đẹp và trong sáng của người bình dân xưa về tình yêu Theo họ, dù có sống trong đói khổ, nghèo nàn mà vẫn có tình yêu, vẫn yêu thương nhau còn hơn là sống trong giàu sang phú quý mà cô độc, “lẻ loi một mình” Đây thật
sự là quan niệm tiến bộ về một tình yêu chân chính, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn
1.2.2 Mô hình: A kém B (có 32 lời / 42 lời, chiếm 79%)
Ở mô hình này, giữa hai vế A và B được liên kết với nhau bằng các quan hệ từ so sánh như: không bằng, chẳng bằng, chưa bằng
tự ví mình chẳng bằng những thứ tầm thường, rẻ rúng nhất “nước bọt trong miệng”, “hòn đất”, “vẩy bùn” Qua đó, ta thấy sự đau xót, uất hận trong tâm
sự của chàng Bởi vì nghèo, vì hèn kém mà chàng trai đã bị người yêu bội
Trang 24bạc, đi lấy một người khác giàu sang phú quý Lời ca như tự trách mình nhưng cũng trách người thật khéo léo mà sâu sắc biết bao
Hay:
Anh e rằng anh chẳng bằng em Miệng không khéo bằng nhau
(Dân ca Giáy) Đây cũng là lời giãi bày khiêm tốn, hạ mình của một chàng trai Chàng
tự coi mình kém cỏi hơn cô gái, đặt cô ở vị trí cao hơn nhằm trao mọi quyền quyết định tình yêu thuộc về cô gái Thật khôn khéo, chàng trai vừa có thể bộc lộ được tình cảm của mình mà vừa thể hiện được sự tôn trọng đối với người anh yêu
Trong ca dao của người Việt, ta cũng bắt gặp mô hình so sánh này:
Đêm nằm ở dưới bóng trăng
Thương cha, thương mẹ chẳng bằng thương em
Nhân vật trữ tình đã đem so sánh giữa tình thương đối với cha
mẹ và tình thương đối với người yêu Dù tình cảm mẫu tử là vô cùng thiêng liêng, dù cha mẹ là người nuôi dưỡng, chăm sóc từ thuở lọt lòng đến khi trưởng thành Thế nhưng, khi tình yêu lên tiếng thì ngay lập tức nó đã được đặt ở vị trí số một Tình yêu ấy cao hơn tất cả, không gì có thể so sánh được Bởi hơn ai hết, chàng trai ý thức được rằng cô gái ấy là một nửa cuộc đời của mình, sẽ gắn bó với anh cho tới khi đầu bạc răng long
Quá trình khảo sát, thống kê cho thấy phép so sánh cân bằng chiếm ưu thế hơn so với so sánh không cân bằng Nhưng không phải vì thế mà so sánh không cân bằng không tạo cho mình được một chỗ đứng Cả hai dạng mô hình so sánh này đều phát huy một cách có hiệu quả vai trò miêu tả và biểu hiện đời sống tâm hồn phong phú của đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 25Như vậy, “so sánh là một dạng thức phổ biến trong lời ăn tiếng nói
hàng ngày, bởi không có gì làm cho người ta hiểu nhanh điều mình nói bằng một sự so sánh cụ thể” [7,23] Qua các mô hình so sánh ta thấy được khả
năng liên tưởng vô cùng phong phú, tinh tế của người bình dân ca, đồng thời cũng thấy được tâm hồn bay bổng, lãng mạn mà vô cùng chân thực, mộc mạc của họ Bên cạnh đó, nghệ thuật so sánh còn có tác dụng trong việc diễn tả một cách bóng bẩy, hấp dẫn những tình ý sâu xa
Trang 26CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT SO SÁNH - PHƯƠNG TIỆN
MIÊU TẢ NGOẠI HÌNH VÀ THÂN PHẬN
CỦA NHÂN VẬT TRỮ TÌNH
Biện pháp tu từ so sánh là một hình thức biểu đạt đơn giản nhất của lời
nói hình ảnh Goolup từng khẳng định “hầu như bất kì sự biểu đạt nào cũng
có thể chuyển thành hình ảnh so sánh” Paolo đã tổng kết “sức mạnh của so sánh là nhận thức” Dựa vào so sánh, ta có thể hiểu một cách sâu sắc và toàn
diện về sự vật, sự việc So sánh tu từ làm tăng thêm tính hình ảnh và tính biểu cảm cho câu văn, câu thơ Đồng thời, so sánh cũng là biện pháp giúp chúng ta bày tỏ lòng yêu ghét, khen chê, thái độ hành động hay phủ định đối với sự vật
Trong thơ ca trữ tình nói chung và ca dao dân ca nói riêng, so sánh
đư-ợc sử dụng vô cùng hiệu quả trong việc khắc hoạ nhân vật trữ tình “Nhân vật
trữ tình được thể hiện bằng hình ảnh so sánh, ẩn dụ, tượng trưng một cách tập trung nhất là cô gái và chàng trai” [16,215]
Trang 27Còn các dân tộc thiểu số, vẻ đẹp của người thiếu nữ cũng là một đề tài được khai thác rất nhiều Bằng tư duy nghệ thuật riêng, bằng lối so sánh độc đáo ta thấy hiện lên vẻ đẹp của những sơn nữ, đặc biệt là vẻ đẹp ấy lại được khúc xạ qua lăng kính tâm hồn của những chàng trai đang yêu Nhờ có tình yêu nồng nàn say đắm mà các thiếu nữ được miêu tả vô cùng tình tứ, lộng lẫy
Áo mình tô dấu son Thân em hồng nước rượu
Vợ ai kia, bạn chung đời ai đấy Mặt em tươi sáng hoa sen Chải đầu hoa đào phủ tóc
(Dân ca Mường) Đây là tiếng hát của một chàng trai khi “phải lòng” một cô gái xinh đẹp
và muốn làm quen với cô Trong con mắt của chàng trai si tình, người đẹp hiện lên thật rạng rỡ, xinh tươi với những nét so sánh độc đáo Ở đây quan hệ
từ đã không xuất hiện làm cho đối tượng so sánh và đối tượng dùng để so sánh như hoà làm một Cô gái hiện lên giữa muôn vàn người khác vẫn mang những nét nổi bật không thể hoà lẫn, gây ấn tượng đặc biệt đối với chàng trai Tất cả vẻ đẹp của người thiếu nữ đều được quan sát và miêu tả một cách cụ thể Từ chiếc áo cô mặc như có dấu riêng, một dấu son đỏ thắm, đến nước da hồng hào như vừa mới uống rượu Cách so sánh đầy thú vị, nước da của cô gái không chỉ trắng trẻo mà ta còn cảm nhận được sự hồng hào tươi tắn của làn da ấy Qua đó ta thấy được sự trẻ trung, khoẻ khoắn của người thiếu nữ Tiếp đến, chàng trai miêu tả khuôn mặt và mái tóc:
Mặt em tươi sáng hoa sen Chải đầu hoa đào phủ tóc Gương mặt của em được ví với “hoa sen” Hoa sen là một loài hoa bình
dị, vô cùng quen thuộc nhưng đây lại là loài hoa tượng trưng cho sự cao quý,
Trang 28thanh tao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” Khuôn mặt ấy rạng rỡ, tươi sáng như đoá hoa kia Đây chính là một vẻ đẹp dung dị, chân phương nhưng vẫn ngời lên sự cao quý, sang trọng Còn mái tóc của nàng thì sao? Mái tóc ấy được so sánh với “hoa đào nở” Cách so sánh ấy khiến ta hình dung ra hình ảnh một mái tóc vừa dày, vừa dài lại vô cùng mượt mà, óng ả Vẫn sử dụng loài hoa quen thuộc với cuộc sống hàng ngày làm đối tượng để so sánh, đã giúp hiện lên vẻ đẹp của người thiếu nữ thật gần gũi mà vẫn sang trọng, đài các Đây chính là vẻ đẹp rạng ngời của tuổi thanh xuân Chính nhờ ngoại hình
đó mà cô gái đã hút hồn chàng trai, khiến trái tim chàng đập sai nhịp Qua cách so sánh ấy, ta cũng thấy được sự ngưỡng mộ và một tình yêu rất kín đáo,
tế nhị mà chàng trai muốn gửi tới người thiếu nữ
Vẫn bắt trong mạch cảm xúc ấy, đến với ca dao dân ca Thái, vẻ đẹp của
cô gái lại được miêu tả:
Thân em như sao tỏ Mặt mình như sao băng Sao băng còn kém sáng trong
Cha nuôi em lột xác hóa rồng
Mặt em như cô gái kinh Lưng mình như cô gái Lự Điểm trang dáng đẹp như rồng
(Dân ca Thái) Hay:
Mình em như sao băng Mặt em sáng như sao tua rua Sao tua rua mà còn kém trong
(Dân ca Thái)
Trang 29Những hình ảnh của thiên nhiên là một kho thi liệu vô cùng phong phú
để lấy làm đối tượng so sánh Hình ảnh “sao tỏ”, “sao băng”, đã được chàng trai lựa chọn để làm nổi bật lên vẻ đẹp của cô gái Ở cô gái toát lên một vẻ đẹp vừa dịu dàng, vừa tinh khôi như ánh sáng của những ngôi sao vậy Ánh sáng ấy không rực rỡ chói lòa như ánh sáng của mặt trăng, mặt trời nhưng ánh sáng ấy lại hiền hòa và luôn luôn cháy sáng trong xa xăm của vũ trụ Không chỉ thế vẻ đẹp của cô gái còn vô cùng thuần khiết, trong sáng hơn cả “sao băng” Lấy “sao băng” làm điểm tựa để làm bật lên sự rạng ngời của khuôn mặt người thiếu nữ Bằng cách so sánh hơn, chàng trai đã đưa cô gái mà mình yêu tới những gì tinh túy, lung linh nhất của trời đất Thêm vào đó là hai câu thơ:
Mặt em như cô gái Kinh Lưng mình như cô gái Lự
Đọc hai câu thơ ta không khỏi ngỡ ngàng trước lối so sánh độc đáo Thông thường trong ca dao dân ca, thiên nhiên luôn được đưa vào làm tiêu chuẩn cho cái đẹp Nhưng ở hai câu này không phải là thiên nhiên nữa mà là chính con người Con người đã trở thành trung tâm, làm thước đo cho cái đẹp Cách so sánh “Mặt em như cô gái Kinh / Lưng mình như cô gái Lự” đầy sáng tạo mới mẻ Với cách so sánh này đã làm bật lên hình ảnh một cô gái thông minh, xinh đẹp, khỏe khoắn Và khi thiếu nữ ấy được điểm trang thì “dáng đẹp như rồng”, một vẻ đẹp quý phái, đài các
Với người Giáy, những chàng trai lại miêu tả vẻ đẹp của người mình yêu bằng cách nói riêng:
Mắt em hiền như phật
Như Piềng-pì mùa xuân
Hoa lê trắng nhú mầm
(Dân ca Giáy)
Trang 30Đôi mắt là “cửa sổ của tâm hồn”, có lẽ vì thế đôi mắt luôn là đề tài
đư-ợc quan tâm nhiều và miêu tả trong ca dao dân ca Ở người Việt, vẻ đẹp của đôi mắt đặc biệt được chú ý tới sự sắc sảo, nhanh nhẹn và thông minh “Đôi mắt em liếc như là dao cau” Nhưng với đồng bào thiểu số thì họ lại quan tâm đến sự hiền từ của đôi mắt Đôi mắt ấy được so sánh là “hiền như phật”, một
vẻ đẹp phúc hậu, nhân từ Không chỉ thế, hình ảnh so sánh liên tiếp ngay sau
đó “Như Piềng-pì mùa xuân / Hoa lê trắng nhú mầm” Câu ca dao diễn tả sự trong sáng, tươi vui của đôi mắt Còn gì đẹp hơn là loài hoa nở vào mùa xuân Chàng trai đã lựa chọn những gì đẹp nhất, tươi tắn nhất của thiên nhiên để miêu tả người yêu của mình
Con gái có một người
Giống bông hoa Pa-đê Giống mặt trăng vừa mọc Giống như trăng lưỡi liềm mùng một
… Con gái có một người
Giống bông hoa Đa-vai Giống quả dưa vừa mọc Giống như trái dưa leo Giống như con cá Linh
(Dân ca Hơ-rê) Hay tương tự:
Gầu Mông xinh đẹp như
Hoa mạch lan nở lưng đồi
Xay Mông xinh đẹp như
Hoa dưa, hoa bí nở ven sông
(Dân ca Mèo)
Trang 31Nếu như diễn tả vẻ đẹp của người thiết nữ, ca dao Việt lại lựa chọn những hình ảnh so sánh như hoa hồng, hoa sen, hoa cúc
Má em như thể bông sen
Ngón tay hoa huệ, miệng em hoa hồng Thì ở đây, chàng trai Hơ-rê đã lấy ngay những thi liệu có sẵn trong thiên nhiên rừng núi, cách so sánh này đã thể hiện rõ được nét văn hóa của vùng sơn cước Hai loài hoa “Pa-đê” và “Đa-vai” là hai loài hoa dân dã và gần gũi với cuộc sống nhân dân đã được so sánh để làm nổi bật lên vẻ đẹp tư-
ơi tắn xinh đẹp mà bình dị của người thiếu nữ Hình ảnh của cô gái còn được
so sánh với “mặt trăng vừa mọc”, “trăng lưỡi liềm mùng một”, như “quả dưa vừa mọc”, như “trái dưa leo”, như “con cá Linh” Tất cả những hình ảnh này không phải lấy nơi nào xa xôi mà được chàng trai nhặt ngay trong cuộc sống hằng ngày, trong thiên nhiên núi rừng Nhờ cách so sánh ấy, ta thấy được vẻ đẹp giản dị, tươi non, tràn đầy sức sống của tuổi trẻ Qua đó, ta còn thấy được tâm hồn chất phác cũng như quan niệm thẩm mĩ của người bình dân xưa
Ta cũng bắt gặp vẻ đẹp tương tự trong ca dao của người Ê-đê:
Mắt em xinh tựa quả cà
Má em như quả mơ kia chín hồng
Vế em đùi ếch nào hơn Môi em tựa chiếc cầu vồng ban trưa Nói cười tựa tiếng chiêng khua ngân dài
(Dân ca Ê-đê) Hay:
Ơ kìa em hỡi
Bắp vế em như cọng môn Bắp đùi em như cây chuối
Trang 32Thân em như lá cót
Em đẹp quá, em ơi
(Dân ca Gia-Lai) Dường như vạn vật xung quanh đều được các nghệ sĩ dân gian lấy làm thi liệu và đưa vào trong thơ ca một cách tự nhiên, không hề gượng ép Từ chim muông, hoa lá… đều có thể được dùng để so sánh, liên tưởng Chính nhờ cách so sánh ví von, dân dã ấy ta thấy toát lên vẻ đẹp trẻ trung tươi tắn của người thiếu nữ “Đôi mắt em” tròn xinh dễ thương, nhỏ bé tựa “quả cà”,
“má em” hồng như “quả mơ kia chín” Câu ca gợi lên cho người đọc nhiều liên tưởng thú vị Khuôn mặt của người thiếu nữ hiện lên rất ngây thơ, xinh tươi với nước da trắng mịn và đôi gò má hồng hào, tươi thắm Đây chính là vẻ đẹp tràn đầy sức sống Thêm nữa đôi môi của cô gái thì được so sánh với hình ảnh “cầu vồng ban trưa” Cầu vồng xuất hiện vào buổi trưa là lúc cầu vồng rực rỡ nhất, đẹp nhất Lựa chọn hình ảnh này để miêu tả đôi môi của người thiếu nữ, chàng trai đã gợi lên sự căng mọng, hồng tươi của đôi môi ấy Và chính đôi môi ấy lại cất lên những âm thanh rộn ràng, ríu rít Âm thanh trong trẻo tựa “tiếng chiêng khua ngân dài” hòa quyện với toàn bộ vẻ đẹp của người thiếu nữ, càng khiến cho tràng trai say đắm, si mê nàng hơn
Vẻ đẹp của người thiếu nữ còn được nói đến rất nhiều trong ca dao dân
ca của các đồng bào khác:
Mặt em đằng trước
Như mặt trời vừa mọc
(Dân ca X-rê) Hay:
Anh thương em thật lòng
Bởi em đẹp xinh như trăm hoa đua nở
(Dân ca Ê-đê)
Trang 33Hoặc:
Nhìn thấy em như hoa nở bên đồi
(Dân ca Mèo) Không đi vào miêu tả từng chi tiết, đường nét của người thiếu nữ, như-
ng qua cách so sánh với “mặt trời mới mọc”, “hoa nở”, người đọc cũng hình dung ra vẻ đẹp của người thiếu nữ Vẻ đẹp ấy cũng vô cùng xinh xắn, tươi tắn làm say đắm biết bao chàng trai
Vừa chân thực, gần gũi vừa mang sắc thái ước lệ tượng trưng, những hình ảnh so sánh bao giờ cũng đem đến sự liên tưởng mới mẻ trong nhận thức của con người:
Bóng em lấp loáng như sao mới mọc Dáng em lấp loáng như vành trăng non Hình em vằng vặng như trăng đêm mời bảy
Ta tìm gặp người, người ơi
(Dân ca Vân Kiều) Miêu tả bóng dáng của cô gái, chàng trai đưa ra hình ảnh của vũ trụ trăng sao với những cung bậc khác nhau nhằm miêu tả vẻ đẹp của cô một cách sinh động “Bóng em lấp loáng như sao mới mọc”, ngôi sao mới mọc là ngôi sao có ánh sáng lung linh, huyền ảo nhất, cũng như bóng em rất thướt tha, thoắt ẩn thoắt hiện khiến cho chàng trai phải mỏi mắt kiếm tìm Còn hình ảnh “vành trăng non” và “trăng đêm mời bảy” mang ý nghĩa về một vẻ đẹp tròn trịa, đầy đặn, viên mãn
Không chỉ lấy những hình ảnh diễm lệ tự thiên nhiên như trăng, sao… làm đối tượng để so sánh mà các chàng trai Vân Kiều còn nói:
Bóng em in xuống nước trong
Chao ôi, như giọt nước đọng trên lá môn
(Dân ca Vân Kiều)
Trang 34Vẫn là “bóng em” nhưng ở đây hình dáng của em được phản chiếu qua lăng kính là một hồ nước trong Chính qua làn nước trong veo ấy đã làm cho bóng em trở nên lung linh, duyên dáng hơn Vẻ đẹp ấy ngỡ ngàng khiến chàng trai phải kinh ngạc thốt lên “Chao ôi, như giọt nước đọng trên lá môn” Cách so sánh và thái độ đầy bất ngờ trước vẻ đẹp của cô gái đã giúp người đọc có thể hình dung ra “dáng em” trong sáng, nhỏ nhắn và tràn đầy sức sống Không dừng lại ở phía miêu tả một cách tổng thể vẻ đẹp của thiếu nữ,
ca dao dân ca các dân tộc thiểu số còn chú trọng miêu tả ở một số chi tiết trên
cơ thể và khuôn mặt của nàng
Tay ngón búp măng sữa
Mày tựa trăng khuyết nửa
(Dân ca Giáy)
Vẻ đẹp của cô gái được miêu tả qua hình ảnh ngón tay và cặp lông mày Ngón tay được so sánh với “búp ong sữa” gợi ra ở độc giả sự liên tưởng tới những ngón tay trăng trẻo, mịn màng, thon dài Còn lông mày thì được so sánh như “trăng khuyết nửa” Đôi lông mày ấy vừa cong vừa dài, in rõ nét trên khuôn mặt thanh tú Cả hai hình ảnh đều gợi ra vẻ đẹp của một cô gái trẻ trung, đang ở độ tuổi thanh xuân, lứa tuổi đẹp nhất của đời người
Giờ hãy xem các chàng trai Ê-đê miêu tả người yêu của mình:
Chân em đỏ đẹp như chân chim câu non Móng tay em hồng son như móng chim ó Dáng em đi tựa chim Gơ-rú lợn vòng
Đã tròn, se càng thêm tròn lẳn
(Dân ca Ê-đê) Trong con mắt của chàng trai Ê-đê, người con gái mà anh yêu thương hiện lên rõ ràng tới từng chi tiết nhỏ “Bàn chân” của nàng bé bỏng, dễ th-ương như “chân chim câu non” Với chàng trai đôi chân ấy cần được che chở,
Trang 35bao bọc Nhìn đôi chân ấy, chàng trai càng dấy lên trong mình tình yêu mãnh liệt và khát khao được bảo vệ cho người mình yêu “Móng tay em hồng son như móng chim ó”, sắc hồng của móng tay cho ta thấy sự khỏe mạnh và sức sống của người thiếu nữ Còn “dáng em” thì duyên dáng uyển chuyển như
“chim Gơ-rú lượn vòng” Chàng trai lấy thi liệu từ ngay trong núi rừng Tây Nguyên để miêu tả vẻ đẹp của cô gái Một vẻ đẹp đậm chất Tây Nguyên tràn đầy sức sống, càng ngắm càng say, càng nhìn càng yêu
Chân tay em như khuôn đúc Mặt mũi em sắc sảo như chim diều
(Dân ca Mạ)
Ở chàng trai Mạ, vẻ đẹp người thiếu nữ không được so sánh với bất kỳ
sự vật nào của thiên nhiên mà được so sánh với một khuôn mẫu, khuôn mẫu
lý tưởng do con người tạo ra Theo chàng trai, đó là vẻ đẹp tuyệt mỹ, được coi
là khuôn mẫu chuẩn cho tất cả mọi người Đây chính là một vẻ đẹp đạt tới sự hoàn hảo
Mặt mũi em sắc sảo như chim diều
Chàng trai chú ý nhiều tới độ sắc sảo của khuôn mặt Thật tinh tế khi chàng trai đã lấy “chim diều” làm đối tượng để so sánh Đây là một loài chim nhanh nhẹn và thông minh Ở đây, khuôn mặt của cô gái được miêu tả với sự sắc sảo, nhanh nhẹn Qua đó chàng trai cũng thể hiện khát khao muốn được cùng em nên đôi cũng xây đắp hạnh phúc Bởi chính em là mẫu người vợ đảm đang biết lo toan, vun vén cho cuộc sống gia đình
Và ở những bài ca dao của những cô gái đã về nhà chồng khi nhớ lại thời con gái trẻ trung thì lại nói về mình:
Ngón tay thon mềm như hạt đậu non
(Dân ca Mèo)
Trang 36Bàn tay ấy vừa trắng trẻo, vừa nhỏ nhắn, mũm mĩm Bàn tay ấy có chút
gì còn non nớt, bé bỏng cần được yêu thương chăm sóc Ấy thế mà cha mẹ tham mâm cao cỗ đầy đã vội gả bán em cho nhà người, để rồi cô gái đau đớn kêu lên:
Tóc con còn đang xanh mềm như lông chim câu
Mẹ cha đã gả con cho nhà người,con chẳng làm nổi công việc
Tóc con còn đang mềm óng như lông con vịt
Mẹ cha đã gả con cho nhà người, con chẳng làm nổi công việc
(Dân ca Mèo) Người Kinh có câu “ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên” Người con gái than trách cho số phận của mình, trách cha mẹ nỡ gả chồng khi tuổi đời còn quá trẻ Qua cách so sánh “Tóc con còn đang xanh mềm như lông chim câu / Tóc con còn đang mềm óng như lông con vịt”, ta cũng thấy được cô gái đang ở độ tuổi mới lớn, vừa chập chững bước vào tuổi thanh xuân còn nhiều bỡ ngỡ Vậy mà cô đã bị gả bán cho nhà người Để rồi công việc không ai bảo ban, dạy dỗ, cô thì còn lóng ngóng, vụng về Vì thế nên phải chịu cảnh nhà chồng ghét bỏ, một thân một mình chịu tủi nhục trong sự cô đơn khắc khoải
Giọng nói tiếng cười của người thiếu nữ cũng làm say đắm các chàng trai:
Em yêu mặt cười tươi tiếng giòn Mặt cười vui tiếng êm
Đon đả chào khách xa đến Tiếng đi và tiếng lại tưng bừng
Như đàn tiên, tiếng ngọt ngào trên vách
(Dân ca Thái) Nhìn người con gái dễ thương, nhanh nhẹn đon đả mời chào những
vị khách khi tới nhà mình chơi, chàng trai dường như bị choáng ngợp bởi
Trang 37giọng nói này Có lẽ vì thế, để diễn tả sự êm đềm, trong trẻo của tiếng nói chàng trai đã dùng tiếng “đàn tiên” để so sánh Tiếng nói của cô gái cũng thánh thót, ngọt ngào như tiếng đàn vậy Cũng chính “tiếng đàn” ấy đã gieo vào lòng chàng trai một bản tình ca rộn ràng, say đắm Hay ta cũng gặp một bài ca tương tự:
Em mở miệng nói xuôi như nước
Em cúi đầu như bước gãy cầu thang
Ba bậc một chân em bước như nhảy
(Dân ca Tày - Nùng) Bên cạnh vẻ đẹp xinh xắn đáng yêu của những cô gái, ta còn bắt gặp những câu ca miêu tả ngoại hình của chàng trai So với khối lượng câu ca miêu tả các cô gái thì số lượng các bài ca miêu tả những chàng trai là rất ít Sau đây chúng tôi xin đưa ra một số câu tiêu biểu, đặc sắc
Bạn ơi, tôi thấy con trai đẹp như trái Pơ-li-kô Màu da nó tựa gan nai
Người con trai chẳng có cánh tay
Người con trai giống gốc đá chằng chịt
(Dân ca Hơ-rê) Qua những hình ảnh so sánh, ta thấy hiện lên chân dung của một chàng trai khoẻ mạnh, vạm vỡ Khuôn mặt chàng tròn trịa, đáng yêu như “trái Pơ-li-kô” với nước da ngăm đen rắn rỏi như “gan nai” Cách so sánh mộc mạc nhưng đã cho thấy hình ảnh chàng trai khoẻ mạnh, tràn đầy sinh lực Chính chàng sẽ là mẫu hình lý tưởng cho một người chồng tốt Bởi chàng sẽ là ngư-
ời trụ cột vững chắc của gia đình, có khả năng lao động để nuôi vợ, nuôi con Với những chàng trai như vậy thì những vật dụng mà chàng sử dụng cũng rất đẹp
Mũi dao chàng cong tựa vảy cá
Trang 38Chàng mang cung cầm ná cánh cong như đuôi bò cạp
(Dân ca Mạ)
Có lẽ trong con mắt của cô gái, tất cả những gì thuộc về chàng trai đều rất tốt đẹp Nó phải cân xứng với diện mạo khôi ngô, tuấn tú để làm tăng thêm
sự dũng cảm và khoẻ mạnh của chàng
Không chỉ thế, giữa đại ngàn rừng núi tiếng nói của chàng trai lại:
Giọng vang vang như chim gọi mùa xuân
(Dân ca Ê-đê) Tiếng nói sang sảng, vang vọng của chàng trai được ví với tiếng chim gọi mùa xuân Tiếng nói ấy có sức mạnh làm lay động núi rừng và làm thức tỉnh biết bao con tim Nó cũng đủ sức lôi cuốn rất nhiều những cô gái xinh đẹp
Như vậy, qua hàng loạt các hình ảnh so sánh trong ca dao dân ca của đồng bào các dân tộc thiểu số, ta thấy, chiếm một vị trí vô cùng lớn trong những hình ảnh được đem ra so sánh là thi liệu lấy từ thiên nhiên: cỏ cây, hoa lá, chim muông, trăng sao Ở đây thiên nhiên đã được lấy làm thước đo cho cái đẹp và văn chương đã mở rộng cửa để thiên nhiên ùa vào một cách đầy sinh động mà không hề khiên cưỡng Phải hòa nhập với thiên nhiên, phải sống gần gũi với thiên nhiên biết bao thì những nghệ nhân dân gian mới có thể sáng tác ra những câu ca, những phép so sánh mới mẻ đầy thú vị Và với cách nói, lối so sánh hồn nhiên giản dị, ta không những thấy được vẻ đẹp tâm hồn cùng những quan niệm thẩm mĩ của nhân dân lao động thiểu số mà còn thấy được hương vị của văn hóa miền sơn cước xa xôi
2.2 Miêu tả thân phận
“Cảm hứng thân phận trong ca dao dân ca chủ yếu là những cảm nhận, những nỗi niềm, những ước muốn thầm kín” [7,29] của những con ng-
Trang 39ười chịu nhiều bất hạnh trong cuộc sống Số lượng các bài ca dao này cũng chiếm một vị trí quan trọng trong kho tàng ca dao dân ca các dân tộc thiểu số
Thân anh như hoa mẫu đơn trước nhà
Em như quả đậu leo cành cây khô
Quả đậu còn có người xin làm giống Hoa đơn để già bỏ không
(Dân ca Tày - Nùng) Nhân vật trữ tình đã sử dụng những hình ảnh dân dã thậm chí còn tầm thường để so sánh với thân phận của anh và em “Hoa mẫu đơn” là một loài hoa bình thường mọc dại ven đường, ít ai dể ý Còn “quả đậu” thì cũng chẳng cao quý hơn Mượn hai hình ảnh đó, nhân vật trữ tình muốn nói đến thân phận thấp kém, hèn mọn của mình Thế nhưng, nếu như “quả đậu già” thì vẫn còn
sử dụng được, vẫn còn có “người xin làm giống”, chứ “hoa mẫu đơn để già” thì chỉ là một thứ bỏ đi, không có tác dụng gì Câu ca như một tiếng thở dài bởi nhân vật trữ tình đã ý thức được thân phận của mình Số kiếp của con người bị khinh rẻ, coi thường
Thân anh như hoa đào trong vườn Thân em như ỏi ưởng bờ ruộng
Ỏi ưởng không vừa mắt, trâu giẫm
Cỏ gianh không vừa ý, trâu chê
(Dân ca Tày - Nùng) Vẫn là so sánh thân phận để làm nổi bật lên nỗi khổ của những con người bèo bọt, con sâu cái kiến “Hoa đào trong vườn” thì được nâng niu, quý trọng Còn “ỏi ưởng bờ ruộng” thì lại bị đối xử tàn nhẫn “trâu giẫm, trâu chê”
Sự đối lập giữa thân phận của anh và em đã cho ta thấy được sự bất công trong xã hội trọng nam khinh nữ Trong xã hội đó người phụ nữ phải chịu muôn vàn cay đắng Bởi họ chính là nạn nhân trực tiếp Họ không có quyền quyết định cuộc sống, hạnh phúc, tương lai của mình mà bị định đoạt bởi