Nhưng đó chỉ là những trang phục trong đời sống văn hoá, cuốn sách này không đi sâu tìm hiểu về trang phục cổ truyền của người Việt trong ca dao và vẻ đẹp của trang phục ấy.. Số lượng bà
Trang 1MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài ……… 5
2 Lịch sử vấn đề……… 6
3 Mục đích nghiên cứu……… 10
4 Phạm vi nghiên cứu……… 11
5 Phương pháp nghiên cứu……… 11
6 Đóng góp của khoá luận……… 12
7 Cấu trúc khoá luận……… 12
NỘI DUNG 13
Chương 1: Đặc điểm trang phục người bình dân trong ca dao 13
1.1.Đặc điểm hình thức trang phục người bình dân 13
1.1.1 Chủng loại trang phục 13
1.1.2 Chất liệu trang phục 24
1.1.3 Màu sắc trang phục 28
1.2 Đặc điểm vùng miền trong trang phục người bình dân 30
1.2.1 Trang phục người miền Bắc 31
1.2.2 Trang phục người miền Trung 37
1.2.3 Trang phục người miền Nam 42
Chương 2: Ý nghĩa biểu đạt của một số hình ảnh trang phục tiêu biểu trong ca dao 48
2.1 Hình ảnh dải yếm 49
2.1.1 Dải yếm – biểu tượng vẻ đẹp người con gái 50
2.1.2 Dải yếm – cầu nối giao duyên ……… …… 54
2.1.3 Dải yếm – biểu tượng tình yêu say đắm……… 60
2.2 Hình ảnh chiếc áo……….65
Trang 22.2.1 Cái áo – nguyên cớ tỏ tình……… 67
2.2.2 Chiếc áo – vật kết nối tình yêu 69
2.2.3 Chiếc áo – vật chứng tình yêu……… 72
2.2.4 Chiếc áo – nét đẹp tâm hồn người lao động……… 73
2.3 Hình ảnh chiếc nón……….… 76
2.3.1 Chiếc nón – vật dụng thân thuộc của người phụ nữ……… 76
2.3.2 Chiếc nón – sính lễ hỏi vợ……… 78
2.3.3 Chiếc nón – vật gửi gắm khát vọng, tâm tư thầm kín ……… 79
2.4 Hình ảnh chiếc khăn……… 85
2.4.1 Chiếc khăn – tín vật giao duyên……… 87
2.4.2 Chiếc khăn – vật gửi gắm tình yêu………88
KẾT LUẬN……… 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 94
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khoá luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
của các thầy, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam, khoa Ngữ Văn Tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô, đặc biệt là tới cô giáo Nguyễn
Thị Ngọc Lan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
HÀ THỊ DU
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khoá luận TÌM HIỂU TRANG PHỤC NGƯỜI
BÌNH DÂN TRONG CA DAO TRỮ TÌNH NGƯỜI VIỆT là kết quả
nghiên cứu của riêng tôi, có tham khảo ý kiến của những người đi trước,
dưới sự giúp đỡ khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Lan Khóa luận
không sao chép từ một tài liệu công trình có sẵn nào Nếu sai tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
HÀ THỊ DU
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam có 4000 ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước oanh liệt với một nền văn hóa đa dạng và lâu đời Bên cạnh những giá trị văn hóa tinh thần, cha ông ta từ hàng ngàn đời nay đã rất chú trọng tới văn hóa vật chất với những biểu hiện độc đáo về ẩm thực, trang phục, nhà cửa trong đó trang phục được xem là một trong những yếu tố quan trọng, góp phần làm nên diện mạo riêng biệt của con người Việt Nam Thực tế cho thấy “mặc” không chỉ là nhu cầu thiết
yếu của con người mà còn là một biểu hiện văn hóa Có thể nói: “Với ý nghĩa sâu
sắc về mặt văn hoá, xã hội về xu hướng thẩm mỹ của từng dân tộc, của từng con người, trang phục còn là biểu hiện của tinh thần dân tộc” [3, 03] Vì vậy, tìm hiểu
trang phục người Việt từ bất kỳ một góc độ nào, cũng là một việc làm ý nghĩa giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn một nét văn hóa đặc sắc – văn hóa “mặc” của người Việt Nam
Từ đời sống sinh hoạt thường nhật, trang phục - những vật thể rất đỗi quen thuộc và phổ biến với con người như manh áo, dải yếm, tấm khăn đi vào ca dao, lại trở thành biểu tượng cho cái đẹp, cái tình gói ghém những rung động riêng tư, sâu lắng của những tâm hồn bình dị nơi thôn dã Khám phá những lời ca dao nói về trang phục và nội dung biểu đạt của những hình ảnh trang phục trong việc chuyển tải các sắc thái tình cảm của người bình dân cũng là một cách cho ta cảm nhận sâu sắc hơn “điệu tâm hồn” đầy cảm xúc chân thực mà không kém phần tinh tế của họ
Xuất phát từ sự trân trọng những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc,
và lòng yêu mến những lời ca dao, cùng với ước muốn được làm sống lại những yếu tố đặc sắc ở phong tục tốt đẹp của dân tộc ngay trong sinh hoạt thường ngày
Trang 6Những yếu tố ấy có thể ít nhiều bị mai một qua sương gió thời gian mà việc khôi phục lại giá trị ban đầu của chúng còn chưa thực sụ thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Xuất phát từ nhiều lý do trên chúng tôi đã lựa chọn đề tài
Tìm hiểu trang phục người bình dân trong ca dao trữ tình người Việt
2 Lịch sử vấn đề
Chuyện “ăn” chuyện “mặc” từ lâu đã trở thành đối tượng quan tâm của các nhà nghiên cứu Quả thật ăn mặc vốn là chuyện bình thường, tất yếu hàng ngày mà cũng là điều trăn trở của muôn đời Ông cha ta từ xưa có vô số từ ngữ, thành ngữ
xác đáng mà đôi khi không thiếu chất khôi hài trào lộng về chuyện mặc: Người đẹp
vì lụa, Áo gấm đi đêm, Áo rách quần manh, Áo vũ cơ hàn, Quần là áo lượt, Xét
cho cùng trang phục chỉ là vẻ bề ngoài nhưng lại chi phối rất nhiều đến sự khinh trọng của xã hội Vì thế, mà từ xưa tới nay có biết bao điều phải cười ra nước mắt, ngậm ngùi chua xót xung quanh chuyện áo quần Nhất là vào buổi giao thời khi cái
cũ đang dần mất đi thế chỗ vào đó là cái mới mang nhiều nét Tây phương Cái đẹp
xưa cũ phôi pha, lạt mờ theo tháng năm, gây tiếc nuối cho bao người:
“Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi
Nào đâu cái yếm lụa sồi
Cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen
Nào đâu cái áo tứ thân
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân
Nói ra sợ mất lòng em
Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa”
(Chân quê - Nguyễn Bính) Con người sống không chỉ cần ăn ngon mà còn phải biết mặc đẹp, mặc lịch
sự, đảm bảo tính thẩm mỹ tạo ấn tượng trong giao tiếp Do vậy, mặc không đơn
Trang 7thuần chỉ để che thân, để giữ ấm cho cơ thể mà còn là một văn hoá, một nghệ thuật độc đáo, tế nhị mang nét đặc sắc riêng cho từng quốc gia dân tộc Không phải ngẫu nhiên mà dân gian cho rằng : “Hơn nhau tấm áo manh quần Cởi ra mình trần ai cũng như ai”, hay “Người đẹp vì lụa”
Do vậy, ta nên biết ơn những người đi trước trong mấy thế kỷ gần đây đã giành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề trang phục và sự bảo tồn những nét đẹp văn hoá của trang phục: Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp và đặc biệt là các nhà tạo mẫu, thiết kế trang phục truyền thống nổi tiếng: Cát Tường (áo dài Huế cách tân - 1939), Trần Lệ Xuân (áo dài cổ thuyền - 1960)…
Trong nhiều năm trở lại đây, mảng văn hoá trang phục cũng chiếm được sự quan tâm hơn của các nhà nghiên cứu Tuy đây mới chỉ là những bài viết rải rác trên các báo điện tử nhưng nội dung nghiên cứu cho thấy sự đầu tư rất công phu của các tác giả
Năm 1987, Viện mỹ thuật Việt Nam có cho xuất bản cuốn Trang phục Việt
Nam với sự tham gia biên soạn của nhiều nhà nghiên cứu Cuốn Trang phục Việt
Nam (dân tộc Việt) giới thiệu trang phục của dân tộc Việt từ xưa tới nay và trang
phục của một số tổ chức chung (quân đội, tôn giáo ) trong xã hội Việt Nam hiện
đại Trang phục Việt Nam là một cuốn sách khá mới mẻ, có tính chuyên biệt trong
nghiên cứu về trang phục Nhưng đó chỉ là những trang phục trong đời sống văn hoá, cuốn sách này không đi sâu tìm hiểu về trang phục cổ truyền của người Việt trong ca dao và vẻ đẹp của trang phục ấy
Từ thực tế đời sống đi vào trong ca dao, trang phục trở thành một đề tài nổi bật, góp phần phản ánh sinh động đời sống bình dị, dân giã của người bình dân đồng thời tạo nên nét văn hoá mang tính dân tộc, tính địa phương vô cùng rõ nét Tuy nhiên, tìm hiểu về sở thích, thói quen trang phục của người bình dân trong ca dao còn khá mờ nhạt
Trang 8Cho tới thời điểm này hầu như chưa có một công trình chuyên biệt về trang phục của người bình dân trong ca dao, mà việc nghiên cứu mới chỉ manh nha và nằm rải rác ở một số bài viết
Năm 1990, Giáo sư Phạm Thị Nhung trong bài phát biểu tại hội trường 40
Rue La Fontaine, Pais 16 về “Những nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam xưa qua
ca dao” đã cho rằng: thời gian trôi qua y trang của phụ nữ có nhiều đổi thay nhưng tựu trung thời nào phụ nữ cũng thích điểm trang và có ý ăn mặc diêm dúa đôi chút cho tôn thêm cái nhan sắc của mình Xuất phát từ những gợi ý này mà
chúng tôi tiến hành khảo sát các lời ca dao về trang phục để tìm ra ý nghĩa đích thực của nó trong đời sống văn hóa người Việt
Năm 1998, tác giả Nguyễn Xuân Lạc trong cuốn “Văn học dân gian trong
nhà trường” có viết về hình tượng chiếc áo trong ca dao và thơ trữ tình người Việt Tác giả đã chỉ ra chiếc áo trong ca dao đã hoàn toàn mất hẳn chức năng thông thường của mình để trở thành tín vật của tình yêu, thành biểu tượng cho vẻ đẹp tâm hồn của người dân lao động Và sau này trong thơ trữ tình Việt Nam chiếc
áo cũng xuất hiện khá phổ biến mang theo nỗi nhớ niềm thương của những người yêu nhau nhưng phải xa cách Chúng tôi căn cứ vào tài liệu này, đi tìm vẻ đẹp tâm
hồn người lao động trong ca dao qua hình ảnh chiếc áo tứ thân, áo bà ba,…
Năm 2003, tác giả Trần Thị Trâm có bài viết “Điều kỳ diệu của đôi dải
yếm” in trong tuyển tập mười năm tạp chí văn học và tuổi trẻ - NXBGD Trong bài
nghiên cứu này người viết đã cho ta thấy sức gắn kết mạnh mẽ của dải yếm trong
tình yêu đôi lứa giúp những người yêu nhau vượt qua được cơn lạnh lòng đáng sợ trong đêm đông giá buốt Và cũng chính bởi sự gần gũi , thân thương của đôi dải
yếm nên nó đã trở thành vật biểu trưng của tình yêu đã đến độ sâu nặng vững bền,
một tình yêu trong sáng thuỷ chung Chính những gợi ý này của tác giả đã giúp
chúng tôi chú trọng đặc biệt tới dải yếm trong quá trình nghiên cứu đề tài Tuy nhiên, nói về trang phục trong ca dao thì dải yếm chỉ là một bộ phận trong chỉnh
Trang 9thể rộng lớn, phong phú của trang phục Việt mà thôi Như thế bài viết của tác giả chưa bao quát hết được toàn bộ nét đặc sắc của văn hoá mặc mà các tác giả dân gian gửi gắm
Năm 2007, Thạc sĩ Lê Tấn Thích trong bài viết “Dải yếm - biểu tượng văn
hoá của người Việt trong ca dao tình yêu” in trên inweblogs com, có rất nhiều thú
vị khi làm sáng tỏ những biểu tượng ẩn sau những lời ca dao thấm đượm ý tình của
dân gian Theo Lê Tấn Thích dải yếm mang ba biểu tượng: thứ nhất là biểu tượng
cho vẻ đẹp người con gái, thứ hai nó chính là chiếc cầu nối để đôi lứa gặp gỡ, tình
tự giao duyên, và cuối cùng nó biểu tượng cho một tình yêu thiêng liêng, son sắt diệu kỳ Phải nói rằng việc khảo sát đầy công phu này của tác giả đã định hướng
một cách rõ nét cho bước đi của chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Năm 2008, tác giả Trần Văn Chi trong bài viết “Chiếc nón lá trong đời
sống văn hoá” in trên Vnreview.com chỉ ra nguồn gốc của chiếc nón lá và ý nghĩa
của nó trong đời sống văn hoá người Việt Từ những ý nghĩa này tác giả có liên hệ với hình ảnh chiếc nón trong ca dao Thông qua hình ảnh chiếc nón quen thuộc trong đời sống hàng ngày tác giả dân gian đã gửi gắm biết bao tâm tư tình cảm, những nỗi tủi hờn của nàng dâu trẻ
Đầu năm 2009, nhà nghiên cứu Đỗ Đức Nhuận trong bài “Phất phơ hai
dải yếm đào” in trên VnExpress đã đưa ra ý kiến của mình về chiếc yếm trong ca
dao Bài viết không chỉ nêu ra công dụng của chiếc yếm trong đời sống sinh hoạt:
dùng để che ngực và đồng thời là món trang sức của các cô gái đang độ xuân thì
đồng thời còn giúp phô bày sự quyến rũ của các cô gái: “cái cò lặn lội bờ ao Phất
phơ hai dải yếm đào gió bay” Từ gợi ý này chúng tôi nghĩ đến sợi dây gắn kết
giữa chiếc yếm trong đời sống văn hoá với hình ảnh dải yếm đào trong ca dao Có thể nói những gợi mở mang tính tiền đề này góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu một cách kỹ lưỡng về biểu tượng dải yếm - một biểu tượng ẩn trong ca dao tình yêu
Trang 10Năm 2010 nhà nghiên cứu Lê Đức Đồng trong bài viết “cái ăn” “cái mặc”
trong ca dao đồng bằng Sông Cửu Long” đăng trên baocantho.com.vn Tác giả
nhận thấy vấn đề trang phục là một vấn đề chứa đựng rất nhiều điều thú vị Nó
không chỉ có ý nghĩa phân biệt đẳng cấp con người trong xã hội mà nó còn là một biểu hiện văn hoá của con người trong đời sống Tác giả đã đi sâu vào hình ảnh
chiếc áo bà ba - một trong những trang phục đặc trưng của miệt vườn sông nước Cửu Long Mặc dù đây mới chỉ là bài viết ngắn nhằm thể hiện một vài suy nghĩ của tác giả khi bàn về vấn đề trang phục của người bình dân qua ca dao song thực
sự lại là những gợi ý có giá trị, tạo tiền đề cho quá trình nghiên cứu của chúng tôi
Tháng 12/2010, trên báo điện tử chuyenthoigian.net có bài viết “Dải yếm
đào trong ca dao yêu thương tình nghĩa” đã khẳng định tầm quan trọng, sự đa dạng của dải yếm trong đời sống văn hoá của ngưòi Việt Chính những đánh giá
nhận định này đã giúp chúng tôi định hướng cụ thể hơn nội dung nghiên cứu của
- Góp phần tìm hiểu và lý giải cụ thể hơn về một vấn đề nghiên cứu còn
khá mới mẻ: Tìm hiểu trang phục người bình dân trong ca dao trữ tình người Việt Qua đó thấy được những biểu hiện đa dạng về đặc điểm cũng như ý nghĩa
biểu đạt của trang phục người bình dân
- Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học đồng thời nâng cao khả năng cảm thụ, phân tích ca dao, phục vụ cho việc giảng dạy văn học dân gian sau này ở trường phổ thông
Trang 114 Phạm vi nghiên cứu
4 1 Tư liệu nghiên cứu
- Do giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu những bài ca dao viết
về trang phục của người Việt Những bài ca dao thuộc chủ đề này của các dân tộc
thiểu số không thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng tôi
- Nguồn tài liệu mà chúng tôi sử dụng là những kiến thức thức thực tế được tích góp từ những thế hệ đi trước, từ cuộc sống của chính bản thân và những công trình sưu tầm, biên soạn về trang phục được đăng tải trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng Qua khảo sát và thống kê chúng tôi tìm được 137 lời ca dao có hình ảnh các trang phục thân thuộc trong đời sống hàng ngày Số lượng bài
ca dao này được thu thập từ các trang báo điện tử như: inweblogs.com (Dải yếm -
biểu tượng văn hóa của người Việt trong ca dao tình yêu), chuyenthoigian.net (Dải yếm đào trong ca dao yêu thương tình nghĩa), Soixam.com (Ca dao tục ngữ về
trang phục), Vnreview.com (Chiếc nón lá trong đời sống và văn hóa),…
4.2 Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật nhất trong trang phục người bình dân như: đặc điểm hình thức (chủng loại, chất liệu, màu sắc) và đặc điểm vùng miền (biểu hiện về thói quen, phong cách trang phục quen thuộc của người bình dân ba miền Bắc - Trung - Nam) được phản ánh qua ca dao Đồng thời đi sâu vào khai thác nội dung biểu đạt của một số hình ảnh trang phục quen thuộc của người bình dân Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Do đặc điểm, yêu cầu và mục đích của đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
a Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
b Phương pháp phân tích, bình giảng
c Phương pháp so sánh
Trang 12Tìm hiểu trang phục người bình dân trong ca dao trữ tình người Việt góp
phần nâng cao kiến thức về ca dao và có thể vận dụng linh hoạt vào việc giảng dạy thể loại này trong trường phổ thông
7 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khoá luận của chúng tôi được triển khai thành hai chương:
Chương 1: Đặc điểm trang phục người bình dân trong ca dao
Chương 2: Ý nghĩa biểu đạt của một số hình ảnh trang phục tiêu biểu
trong ca dao
Trang 13
NỘI DUNG
Chương 1
ĐẶC ĐIỂM TRANG PHỤC
NGƯỜI BÌNH DÂN TRONG CA DAO
Trang phục gồm tất cả những vật để che thân mình, làm đẹp cho hình hài, vóc dáng, lại tiện chống đỡ với những hiện tượng, những thực thể thiên nhiên có ảnh hưởng đến thân thể Đó là nón để che đầu; áo, quần, yếm, váy để che thân; giày dép giúp đôi chân sạch sẽ, đạp được lên chông gai; rồi cái vòng đeo ở cổ, ở tai, ở tay; cái khăn vấn trên đầu; bộ dây xà tích đeo ở thắt lưng; cả cách vấn tóc; cả hàm răng cũng tham gia vào hệ trang phục làm đẹp cho con người Ca dao có câu:
Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền Bốn thương răng ánh hạt huyền kém thua Năm thương dải yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng
Chỉ nói tới sáu cái để mà thương yêu thì bốn cái thuộc về trang phục: tóc đuôi gà, răng nhuộm đen ánh, dải yếm đeo bùa, nón thượng quai có tua thao Thế cũng đủ biết, trang phục có ý nghĩa như thế nào đối với vẻ đẹp của con người
Trong ca dao, trang phục của người bình dân được miêu tả cụ thể với những đặc điểm riêng biệt mà không kém phần đa dạng với các chủng loại, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu và trang phục cũng trở nên có hồn cốt, chứa đựng dấu
ấn vùng miền
1.1 Đặc điểm hình thức trang phục người bình dân
1.1.1 Chủng loại trang phục
Trang 14Khảo sát trong ca dao chúng tôi nhận thấy, trang phục của người bình dân gồm có đồ mặc phía trên, đồ mặc phía dưới và một số phụ kiện đi kèm
1.1.1.1 Trang phục mặc trên
Đồ mặc phía trên ổn định nhất qua các thời đại của phụ nữ là cái yếm Yếm
là đồ mặc mang tính chất thuần túy Việt Nam, do phụ nữ tự cắt may, nhuộm lấy, với nhiều kiểu cổ, nhiều màu phong phú: yếm nâu để đi làm hằng ngày ở nông thôn, yếm trắng thường ngày ở thành thị, yếm hồng, yếm đào, yếm thắm… dùng
vào ngày lễ hội
Yếm đào – Nguồn: vietthuc.org
Yếm dùng để che ngực cho nên trở thành biểu tượng của nữ tính và có sức quyến rũ mãnh liệt:
Ba cô đội gạo lên chùa Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Trang 15Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu
Yếm và những bộ phận của yếm trở thành biểu tượng của tình yêu:
Chiếc yếm có mặt từ thuở trong nôi tới khi có sự gặp gỡ Đông Tây, để từ
đó người phụ nữ lựa chọn, nhập thân chiếc yếm cổ truyền vào chiếc nịt ngực hiện đại Ngày nay, trong cuộc sống hàng ngày, người ta không còn mặc yếm nữa Nhưng không phải vì thế mà giá trị nghệ thuật của nó bị mất đi Ta có thể thấy những chiếc áo yếm đơn giản mà cuốn hút kỳ lạ không thể thay thế được Và cũng chính vì vậy mà nó vẫn tiếp tục là nguồn cảm hứng sáng tác không chỉ cho thơ ca hiện đại mà còn cho các nhà tạo mẫu Những bộ trang phục cách tân dựa trên hồn của chiếc áo yếm luôn luôn chứa đầy sự khám phá và sáng tạo Ở một nơi nào đó rất xa, có lẽ chiếc áo yếm vẫn còn tồn tại ngay cả trong cuộc sống thường ngày
Để đối phó với khí hậu nóng bức, phụ nữ khi làm lụng nhất là trong bóng râm, dù vào thời Hùng Vương hay đầu thế kỉ XX vẫn thường mặc váy - yếm với hai tay và lưng trần Phụ nữ nhiều dân tộc ít người đến nay vẫn mặc váy cởi trần
Đàn ông khi lao động thường cởi trần Các thành ngữ “váy vận, yếm mang” (đối với phụ nữ) và “cởi trần đóng khố” (đối với nam giới) miêu tả rất chính xác
trang phục truyền thống Cách mặc với mục đích đối phó với môi trường tự nhiên này dần trở thành một quan niệm về cái đẹp của người Việt Nam cổ truyền:
Đàn ông đóng khố đuôi lươn Đàn bà mặc áo hở lườn mới xinh
Chiếc yếm đã góp phần tôn vinh vẻ đẹp của người con gái, làm cho những người khác phái phải nao lòng và nhiều khi khơi dậy cả những khát vọng trần tục :
Trang 16Ba cô đội gạo lên chùa Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu
Ngoài chiếc yếm giành riêng cho phụ nữ khi lao động và trong những hoạt động bình thường, nam nữ thường mặc áo ngắn, có hai túi phía dưới, có thể xẻ tà hai bên hông hoặc bít tà, ngoài Bắc gọi là áo cánh, trong Nam gọi là áo bà ba, áo
có đính cúc nhưng khi mặc phụ nữ thường không đính cúc vừa để cho mát, vừa để
hở cái yếm làm duyên:
Xăm xăm trong Phủ đi ra
Áo đen nút bạc xinh đà quá xinh
Trang 17
Áo bà ba trên sông – Nguồn: Vietthuc org
Dù ở đâu khi nào đi nữa, người ta cũng dễ dàng say đắm trước vẻ đẹp mộc mạc, duyên dáng của chiếc áo bà ba, và nhớ người con gái trong chiếc áo bà ba nền
nã đó đến nao lòng…Tuy nhiên, trang phục được coi là quốc phục của dân tộc Việt lại là áo dài
‘‘Vào dịp lễ hội người Việt thường mặc áo dài, từ thế kỉ XIX đến sau 1975
ở miền Trung và miền Nam, cũng như một số vùng miền Bắc, người ta mặc áo dài thường xuyên, kể cả khi lao động nặng nhọc Áo dài đã trở thành trang phục được
ưa chuộng nhất hiện nay đối với phụ nữ Nó thường được lựa chọn mặc trong những dịp đặc biệt, long trọng: cưới hỏi, tiệc tùng, họp mặt…’’[7] Áo dài trắng
còn trở thành trang phục bắt buộc tại nhiều trường phổ thông cấp ba ở Việt Nam
Và theo đánh giá của một tờ báo ở Nhật dường như chỉ có dáng người con gái Việt Nam là mặc áo dài đẹp nhất
Trang 18
Áo dài Việt – Nguồn: Wapadia.mobi
Vì sự phổ biến của nó, áo dài đã trở thành biểu tượng quốc gia, đại diện cho giá trị văn hóa Việt Nam:
Áo dài chẳng nệ quần thưa Bẩy mươi có của cũng vừa mười lăm
Có người cho rằng tiền thân của áo dài là áo tứ thân và áo ngũ thân Nhưng chiếc áo phổ biến hơn cả là áo tứ thân Áo tứ thân may từ bốn mảnh vải, hai mảnh sau ghép liền ở giữa sống lưng, đằng trước là hai tà, áo không có khuy, khi mặc bỏ
buông hoặc buộc thắt hai vạt vào nhau Theo sách Văn hiên thông khảo của Mã
Đoan Lâm ở Giao Chỉ thời xưa: “người có địa vị trong xã hội đều mặc áo dài… Lễ lạt thì mặc thêm áo rộng màu thâm trùm lên, gồm bốn vạt, gọi là tứ thân”[11]
Chiếc áo tứ thân trở thành trang phục quen thuộc, giản dị tôn lên vẻ đẹp của các bà thời xưa:
Áo nâu ai mặc nên xinh Cho duyên em lịch, cho tình ai say
Hoặc:
Thương ai chiếc áo nâu sòng Chít khăn mỏ quạ lạnh lùng nắng mưa
Trang 19Chiếc áo tứ thân còn giúp xe kết tình yêu, khỏa lấp nỗi nhớ mong vô bờ của các chàng trai, cô gái đang yêu:
Áo tứ thân em treo trên mắc Đêm anh nằm anh đắp lấy hơi
Áo tứ thân – Nguồn: Soixam.com
Dịp hội hè, phụ nữ hay mặc áo lối mớ ba mớ bẩy tức là nhiều cánh lồng vào nhau Tuy nhiên, với phong cách tế nhị, kín đáo, truyền thống, người phụ nữ Việt mặc áo dài màu thâm hoặc màu nâu phía bên ngoài lấp ló, phía bên trong mới
là áo cánh nhiều màu Ở Nam Bộ, nơi khí hậu nóng quanh năm áo mới được thay bằng áo cặp (hai cái) Trang phục của người Việt bao giờ cũng gồm hai phần đồ mặc trên và đồ mặc dưới khác hoàn toàn với kiểu trang phục liền thân của người phương Tây
1.1.1.2 Trang phục mặc dưới
Đồ mặc phía dưới tiêu biểu hơn cả, ổn định hơn cả của người phụ nữ Việt Nam qua các thời đại là cái váy
Trang 20
Thiếu nữ trong váy yếm xưa – Nguồn: lamdep.ipvnn.com
Từ thời Hùng Vương, phụ nữ đã mặc váy, lối mặc đó được bảo lưu một cách kiên trì ở nhiều nơi cho đến tận giữa thế kỉ này Nó là đồ mặc điển hình của phụ nữ Đông Nam Á và phổ biến đến mức, ở một số dân tộc Đông Nam Á, không chỉ phụ nữ mà cả nam giới cũng mặc váy Sỡ dĩ như vậy là vì mặc váy không chỉ mát, đối phó hiệu quả với khí hậu nóng bức mà còn rất phù hợp vối công việc đồng áng
Là thứ đồ mặc phía dưới đặc thù của phương Nam, chiếc váy khác hẳn với chiếc quần có nguồn gốc từ gốc du mục Trung Á: thứ đồ mặc này phù hợp với công việc chăn nuôi, cưỡi ngựa và khí hậu phương Bắc giá lạnh Với âm mưu đồng hóa, phong kiến Trung Hoa đã nhiều lần thay thế cho chiếc váy của phụ nữ nước
ta Đến thời thuộc Minh, chiếc quần phụ nữ có lẽ đã được phổ biến ở một bộ phận thị dân Bởi vậy vào năm 1665, vua Lê Huyền Tông đã ra chiếu chỉ cấm phụ nữ không được mặc quần để bảo tồn quốc tục mặc váy Trong khi đó, để tạo nên sự đối lập với Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã ra lệnh cho trai gái Đàng Trong mặc quần áo Bắc quốc (Trung Hoa) để tỏ sự biến đổi Đến năm 1828, vua
Trang 21Minh Mạng tiếp tục học theo Trung Hoa một cách triệt để, ra chiếu chỉ cấm dân mặc váy, và đã gây nên sự phản ứng mạnh mẽ trong dân chúng ở vùng Bắc Hà :
Tháng tám có chiếu vua ra Cấm quần không đáy người ta hãi hùng Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải lột quần chồng sao đang?
Có quần ra quán bán hàng Không quần ra đứng đầu làng trông quan!
Phản ứng bởi lẽ người dân Việt rất tự hào về chiếc váy, rất tự tin vào bản sắc và bản lĩnh văn hóa của mình:
Cái trống thì thủng hai đầu Bên ta thì có, bên Tàu thì không
Đối với nam giới, đồ mặc ban đầu là chiếc khố Khố là một mảnh vải dài quấn một hoặc nhiều vòng quanh bụng và luồn từ trước ra sau, đuôi khố thường thả phía sau (đôi khi thả về phía trước)
Chiếc khố thời xưa – Nguồn: congtruongit.com
Trang 22Khố mặc mát, phù hợp với khí hậu nóng bức và dễ thao tác trong lao động
Vì vậy, nó không chỉ là đồ mặc điển hình thời Hùng Vương mà còn được duy trì ở
bộ phận dân chúng khá lâu về sau này Nó cũng thành một trong những tiêu chí đánh giá cái đẹp của con người:
Đàn ông đóng khố đuôi lươn Đàn bà mặc áo hở lườn mới xinh
Sau này, khi cơn bão văn hóa phương Tây du nhập vào, chiếc quần du mục
trở thành trang phục ưa thích của nam giới ‘‘Quần nam giới có hai loại: quần lá
tọa và quần ống sớ Quần lá tọa cho ống rộng và thẳng, đũng sâu, cạp quần to bản Khi mặc người ta buộc dây thắt lưng ra ngoài cạp rồi thả phần cạp thừa phía trần rủ xuống ra ngoài thắt lưng Quần lá tọa là loại quần sáng tạo phù hợp với môi trường khí hậu nóng bức ở nước ta, ngoài ra còn rất thích hợp khi làm đồng áng Ngày lễ hội, nam giới dùng quần ống sớ: quần màu trắng có ống hẹp, đũng cao, gọn gàng, đẹp mắt’’ [7] Đi liền với quần áo bao giờ cũng là các phụ kiện đi
kèm, chính các phụ kiện này đã góp phần tạo ra nét riêng cho mỗi kiểu trang phục
1.1.1.3 Phụ kiện đi kèm
Thắt lưng là bộ phận phụ với mục đích ban đầu là phục vụ cả nam lẫn nữ, giữ cho đồ mặc dưới khỏi tuột, rồi phát sinh lên mục đích giữ áo dài cho gọn và mục đích thứ ba là tôn tạo cái đẹp cơ thể của phụ nữ:
Hỡi cô thắt dải lưng xanh Ngày ngày thấp thoáng bên đình chờ ai?
Trước đường xe ngựa bời bời Bụi hồng mờ mịt ai người mắt xanh
Dải thắt lưng thường đi liền với chiếc yếm tạo ra vẻ đẹp mềm mại, quyến
rũ cho các quý cô thời xưa Chính vì vậy trước khi đi lấy chồng người con gái bao giờ cũng muốn quà hồi môn của mình là bộ trang phục đẹp và phổ biến này:
Trang 23Con lạy cha hai lạy một quỳ Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm hồng Thắt lưng đũi tím, bộ nhẫn đồng con đeo tay
Khi lao động đồng áng, người Việt Nam thường đi chân đất, khi hội hè hoặc ở thành thị thì đi dép (dép dừa, dép cói, dép cao su,…), đi guốc (làm bằng gỗ…), trên đầu đội khăn Phụ nữ trước đây để tóc dài và vấn tóc bằng một mảnh vải dài cuộn lại để trên đầu, đuôi tóc để chừa ra một ít Vì thế ca dao mới có câu:
Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Mái tóc thề của người con gái đương thì xuân sắc đã làm cho biết bao chàng trai phải mê đắm, bối rối:
Tóc ngang lưng vừa chừng em búi
Để chi dài bối rối lòng anh?
Có thể phủ ra ngoài mái tóc dài yểu điệu ấy là cái vấn tóc đi kèm chiếc khăn vuông chít hình mỏ quạ, hoặc hình đồng tiền vào mùa nóng Chiếc khăn mỏ quạ đã trở thành biểu tượng đẹp của người phụ nữ xưa làm bao chàng trai mê đắm:
Nhìn em khăn vuông mỏ quạ
Để anh trong dạ tơ vương
Nhìn em khăn vuông mỏ quạ
Để anh hóa đá vì người
Chiếc khăn mỏ quạ còn làm cho bao anh chàng ngày đêm thầm thương trộm nhớ bóng hồng của mình, nhớ dáng tảo tần chịu mưa nắng, nhớ chiếc áo nâu phai màu vì sương gió thời gian, và cả chiếc khăn mỏ quạ “lạnh lùng nắng mưa” :
Thương ai chiếc áo nâu sòng Chít khăn mỏ quạ lạnh lùng nắng mưa
Trang 24Ấy là cách ăn mặc của phụ nữ còn đàn ông trước đây để tóc dài búi lại thành một búi tròn trên đầu gọi là búi tó, búi củ hành Khi làm lùng người đàn ông vấn khăn đầu rìu, khăn rằn, lúc sang trọng thì đội khăn xếp Chiếc khăn xếp đã trở thành phụ kiện trang phục lịch sự, tiêu chí của cái đẹp một thời:
Thấy anh áo lượt xênh xang Đồng hồ quả quýt nhẫn vàng đeo tay
Cái ô lục soạn cầm tay Cái khăn xếp nếp, cái dây lưng điều
Trên khăn hoặc thay cho khăn là nón để che mưa nắng Nón thường có khung tre và lợp lá gồi Nón chóp nhọn đầu, nón thúng rộng vành, nón ba tầm có quai giữ, nón quai thao là loại phổ biến hơn Xứ Huế nổi tiếng với chiếc nón bài thơ mảnh dẻ Chiếc nón là trang phục không thể thiếu với phụ nữ Việt Nam mọi thời đại Chiếc nón thành tín vật giao duyên:
Nón em nón bạc quai thao Thì em mới dám trao tay chàng cầm
Chiếc nón quai thao hay thấy trong những đám hội làng, hội hát trở thành hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp người con gái:
Ai làm chiếc nón quai thao
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh
Chiếc nón theo chân các cô gái ra đồng, lên xe hoa về nhà chồng, sẻ chia bao tâm sự thầm kín không biết nói ra cùng ai:
Tròng trành như nón không quai Như thuyền không lái như ai không chồng
Ngoài nón ra ta thấy mũ cũng là loại đồ đội đầu phổ biến, ôm sát và kín tóc (miền Nam gọi là nón) Vua xưa đội mũ miện, quan văn xưa đội mũ cánh chuồn, tướng ra trận đội mũ trụ, sư sãi và người già đội mũ ni (là loại mũ có diềm che kín
tai và gáy, bởi vậy mới có thành ngữ “mũ ni che tai”)… Thời bây giờ không còn
Trang 25những loại mũ này nữa thì lại xuất hiện mũ cối và mũ lưỡi trai…Chiếc mũ xuất hiện trong đời sống văn hóa thì nhiều nhưng đi vào trong ca dao thì hiện chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào để có thể tiến hành khảo sát
Như vậy, ở mỗi một thời kì người Việt luôn có những trang phục khác nhau cho phù hợp Những trang phục ấy vừa đảm bảo tính thẩm mỹ, vừa thể hiện cách ứng xử linh hoạt của người Việt với khí hậu nóng bức nơi miền nhiệt đới và công việc nhà nông vất vả Mỗi một miền quê của dân tộc Việt lại có cách ăn mặc khác nhau làm toát lên nét đẹp riêng không thể lẫn của từng vùng miền
1.1 2 Chất liệu trang phục
Theo các nhà nghiên cứu Trương Chính và Đặng Đức Siêu trong “Sổ tay
văn hóa người Việt” thì từ rất xa xưa, con người đã biết quan tâm đến trang phục
Trên nhiều đồ đồng, đồ gốm Đông Sơn có in dấu vải Vải ở đây chưa hẳn là vải dệt bằng bông sợi mà được làm từ vỏ cây Từ vải bằng vỏ cây sui đã tiến đến “vải chuối tiêu” (tiêu cát) Đây là thứ vải được làm từ thân cây chuối Thân cây chuối được xé ra như tơ, dệt thành vải gọi là tiêu cát, màu vàng nhạt rất đẹp Tiếp đó lại đến chất liệu vải từ bông cây gạo, gọi là vải cát bối hay vải cát bá Ngoài vải bông thô còn có vải cát bá mịn Vải đẹp đến mức trở thành cống phẩm giá trị trong thời
kỳ phong kiến phương Bắc đô hộ Đến thời kỳ độc lập tự chủ “người Việt Nam
chúng ta đã sản xuất được lụa, gấm, vóc, đoạn đủ để triều đình dùng, không phải mua hàng của nhà Tống” Đến nhà Trần, “người trong nước mặc lụa thâm, cổ áo khâu bằng là, đội khăn dệt bằng tơ nhuộm màu xanh thẫm” Đầu đời Lê, Đông Đô
có những phường chuyên dệt lụa, nhuộm điều Không chỉ quan tâm đến chất liệu, người Việt còn chú trọng tới kiểu cách của trang phục Căn cứ vào những
tượng người, hình người chạm khắc trên trống đồng, thạp đồng có thể thấy “người
Lạc Việt mặc áo chui đầu,cài khuy bên trái, đàn ông có khăn khố, đàn bà có váy áo thêu” Về sau theo chính sách đồng hóa của phong kiến phương Bắc, trang phục có
phần thay đổi giống với người phương Bắc: “khuy cài bên trái đổi sang bên phải”
Trang 26Bấy giờ đàn ông đóng khố kiểu chữ “đinh” còn đàn bà mặc váy Trong thực tế, chiếc váy đã từng tồn tại rất lâu ở miền Bắc Họ xem váy là thứ trang phục tất yếu phải có, nên tới năm 1828 khi vua Minh Mạng ra lệmh cấm mặc váy, đã gây bàng hoàng trong dư luận: “Tháng tám có chiếu vua ra Cấm quần không đáy người ta hãi hùng’’ Thời bấy giờ mọi tầng lớp trong xã hội đều mặc váy, chiếc váy chính là trang phục cổ truyền của người Việt Tuy nhiên, mỗi một tầng lớp lại lựa cho mình những chất liệu trang phục và kiểu cách khác nhau sao cho phù hợp với vị trí của mình trong xã hội Khác với tầng lớp quý tộc, trang phục của người bình dân thường là vải thô hoặc nhiều loại vải được làm ra từ chính bàn tay lao động cần mẫn của mình đó là tơ lụa Trong quan niệm của người lao động xưa, ăn mặc đúng với bản chất tầng lớp mình cũng là một trong tiêu chí đánh giá đạo đức:
Bậu đừng nhỏng nhảnh quần lãnh áo lương
Vải bô bậu mặc cho thường thì thôi
Trong lao động vất vả quanh năm “chân lấm tay bùn’’, “bán mặt cho đất,
bán lưng cho trời”, người lao động thường lựa cho mình những chiếc áo vải thô,
nhuộm nâu hoặc đen, ít khi dùng màu khác trừ dịp hội hè, đình đám Ngày xưa, để nhuộm vải người ta dùng củ nâu, tro bếp (với người Bắc Bộ), vỏ cây trâm bầu, trái mặc nưa (với người Nam Bộ)… Chiếc áo vải thô màu nâu, màu đen đã trở thành biểu tượng cho bản tính mộc mạc, giản dị, chân thật của người lao động:
Áo đen ai nhuộm cho mình Cho duyên bậu thắm cho tình anh thương
Đó là trong lao động còn khi hội hè, lúc giao tiếp chốn đông người, hay vào những dịp quan trọng, họ thường mặc những trang phục được làm ra từ những chất liệu vải đẹp hơn: tơ tằm, lụa, vóc, nhiễu, thay cho chiếc áo trúc bâu thô sơ:
Yếm này em ngả màu hồng Yếm này em nhuộm mấy công hỡi nàng
Khi xưa lụa hãy còn vàng
Trang 27Khen ai khéo nhuộm cho nàng, nàng ơi
Hay:
Hỡi cô yếm trắng loà xoà Yếm nhiễu, yếm vóc hay là trúc bâu Hay là lụa bạch bên Tàu Người cắt cũng khéo, người khâu cũng tài
“Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX trang phục có nhiều thay đổi cả về
chất liệu và kiểu dáng, nhiều loại vải: the, lĩnh, lượt…được sử dụng phổ biến” [9]
Đi vào trong ca dao chiếc áo the, chiếc quần lĩnh, trở thành biểu tượng vẻ đẹp thanh lịch của các chàng trai, cô gái xưa:
Quần thâm lĩnh Bưởi cạp điều Hột vàng quấn cổ ra chiều giàu sang
Sau này Nguyễn Nhược Pháp cũng thể hiện nỗi ngây ngất của mình trước
cô gái đang tuổi mới lớn trong trang phục truyền thống đẹp xinh:
Khăn nhỏ đuôi gà cao
Em đeo chiếc dải yếm đào Quần lĩnh áo the mới Tay em cầm chiếc nón quai thao
Đò đi qua bến Đục mọi người ngắm nhìn em…
(Hôm qua em đi chùa Hương) Như vậy, trang phục của người bình dân chủ yếu được làm từ các chất liệu
đơn giản không hiếm có và quá qúy giá như các chất liệu trong cuốn “Sổ tay văn
hoá” ghi lại Phần lớn những chất liệu đẹp và hiếm có đều dùng làm cống phẩm
hoặc nạp cho triều đình Trang phục của người bình dân đa số được may từ các loại vải trúc bâu nhuộm nâu non (đối với các cô gái trẻ), và nâu đậm (đối với những người có tuổi), hoặc làm từ vải tơ tằm (loại vải phổ biến do nghề trồng dâu nuôi tằm phát triển) Gắn với kiểu dáng, chất liệu trang phục người bình dân cũng rất
Trang 28chú ý tới màu sắc trang phục bởi nó là một trong những nhân tố làm cho trang phục thêm hấp dẫn
1.1.3 Màu sắc trang phục
Màu sắc là phần quan trọng giúp tạo ra vẻ đẹp của trang phục Thời xưa, màu sắc truyền thống ưa thích của người miền Bắc là màu nâu gụ - màu của đất, còn màu ưa thích của người Nam Bộ là màu đen - màu của bùn, bên cạnh đó người Huế lại chuộng màu tím trang nhã Sở dĩ các màu trầm tối được lựa chọn một phần
là do phong cách tế nhị, kín đáo, truyền thống của người Việt, nhưng mặt khác là
do quy định của triều đình thời bấy giờ
“Ở thời kỳ độc lập tự chủ (kỷ nguyên đại Việt), đời sống kinh tế chính trị
ổn định, nghề trồng dâu nuôi tằm phát triển, việc bang giao với bên ngoài làm cho thị trường vải vóc phục vụ nhu cầu ăn mặc ngày một phong phú Mỗi tầng lớp lại
có những trang phục mang chất liệu và màu sắc khác nhau thời kỳ này Vua mặc áo Hoàng bào, quan lại mặc áo bào gấm, áo bào vóc tuỳ theo chức quan Màu sắc của trang phục được phân rõ: quan nhất phẩm màu tía, nhị phẩm màu đại hồng, tam phẩm màu đào hồng Quan liêu, sĩ phu mặc áo dài tứ thân, màu thâm Tầng lớp thứ dân mặc áo tứ thân, quần thâm, thắt lưng lụa, tuyệt đối không dùng màu vàng Đàn ông thường cởi trần hoặc mặc áo màu đen bằng the”[9]
“Sang tới thời Lê Mạc do cơ cấu chính trị trong triều đình có nhiều thay đổi nên lối phục sức của tầng lớp quý tộc cũng thay đổi: vua mặc áo hoàng bào màu đại ngọc, chúa mặc áo bào tía… học trò và dân thường mặc áo thâm, dân quê mặc áo vải thô màu trứng” [9]
Như vậy, không chỉ do yêu cầu trong lao động mà do cả sự quy định của quốc gia, người bình dân chỉ được mặc màu đen, màu nâu là chủ yếu Do vậy, trong ca dao ta bắt gặp chiếc áo nâu sồng, áo bà ba đen cứ trở đi trở lại như một mô típ, một ám ảnh nghệ thuật:
Trang 29Áo nâu ai mặc nên xinh Cho duyên em lịch cho tình ai say
áo bà ba nhuộm đen, một trang phục mang đặc trưng của người dân Nam Bộ Chiếc áo đen đi vào trong ca dao trở thành bài học đạo lý, tình nghĩa giữa những con người với con người, về quan niệm sống tràn đầy lạc quan tin tưởng của nhân dân lao động:
Áo đen chẳng lẽ đen hoài Nắng mưa cũng trổ, cũng phai sắc màu
Hay:
Áo đen tra nút cũng đen Anh về thăm mẹ bao lâu lại về?
Cư dân đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, làm
nông nghiệp buộc con người phải quanh năm “một nắng hai sương”, “chân lấm
tay bùn” Trong điều kiện thời tiết hai mùa mưa nắng rõ rệt, màu sắc trang phục
của người dân đồng bằng sông Cửu Long xưa thường chọn gam màu chủ đạo là màu đen, nâu sậm, ít khi dùng màu trắng Những gam màu tối đó vừa sạch vừa dễ giặt giũ không phải quá giữ gìn, hợp với lao động Màu sắc trầm tối, kết hợp với kiểu dáng đơn giản, chiếc áo bà ba đen mặc vào tạo ra vẻ dung dị, chân thật, thuần phác của người dân vùng sông nước Cửu Long
Trang 30Bên trong chiếc áo, bao giờ người phụ nữ cũng vận kèm chiếc yếm đào
“Yếm đào thường có nhiều màu nhưng tuyệt nhiên không dùng màu vàng bởi đây
là màu giành cho vua chúa Yếm màu hoa đào bị coi là màu lẳng lơ, không đứng đắn, phụ nữ lao động không mặc loại yếm này” (loại này chỉ dùng cho các kỹ nữ)
[9] Họ thường chọn loại yếm có màu xanh hồ thuỷ, màu hoa hiên, hoặc thiên thanh Lúc lao động bùn đất thường mặc yếm nâu, khi hội hè, đình đám mặc yếm
đỏ, yếm trắng… Nhờ các màu sắc này mà vẻ trẻ trung quyến rũ của người phụ nữ được tôn lên bội phần:
Chiều quê thơ thẩn ruộng cà Giọng cô yếm thắm sao mà véo von Chiều quê trong lúa xanh non Vẫn cô yếm thắm xinh ròn ngây thơ
Chúng tôi tiến hành khảo sát 73 câu ca dao có hình ảnh chiếc yếm trong đó
có tới 57 câu ca dao nhắc tới hình ảnh chiếc yếm đào, yếm đỏ (chiếm 78%)
Như vậy, trừ màu vàng còn lại các màu sắc khác đều có trong trang phục người bình dân, nhưng phổ biến hơn cả vẫn là màu nâu, màu đen (đối với áo) và màu đỏ (đối với yếm) Các màu sắc ấy biểu trưng cho đời sống giản dị của người bình dân, đồng thời những màu sáng tươi như: đỏ, xanh… lại cho ta thấy sức trẻ trung quyến rũ, vẻ đẹp tiềm ẩn của người phụ nữ lao động mà sương gió thời gian không thể vùi lấp
1.2 Đặc điểm vùng miền trong trang phục người bình dân
Trang phục là nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi vùng miền Nó
không chỉ gói gọn trong yếu tố “ăn chắc mặc bền” mà còn là một nghệ thuật
Trang phục của các dân tộc Việt Nam hết sức phong phú và đa dạng,và mỗi trang phục của từng vùng miền lại có nét riêng độc đáo Chẳng hạn, người miền Bắc thường hay mặc áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ, đeo dải yếm Người miền Trung duyên dáng, mềm mại trong chiếc áo dài, chiếc nón bài thơ mảnh dẻ Không
Trang 31giống thế, người Nam bộ lại khỏe mạnh, chất phác trong chiếc áo bà ba, cái khăn rằn quấn ngang đầu Ta thấy mỗi một vùng đất lại có những đặc trưng không thể nhầm lẫn đây chính là nét độc đáo của dân tộc Việt Điểm riêng của mỗi vùng đất được xem như những cánh hoa góp phần làm tăng vẻ đẹp trọn vẹn của bông hoa văn hóa Trong bài nghiên cứu này, do khuôn khổ giới hạn của đề tài, người viết chỉ xin được đề cập đến nét đặc trưng của trang phục ba miền Bắc - Trung - Nam
mà thôi Để qua đây, chúng ta nhận thấy được vẻ đẹp, sự phong phú độc đáo về văn hóa trang phục mỗi miền của dân tộc Việt dù rằng dân tộc ấy đã được nuôi dưỡng bởi một nền văn hóa
1.2.1 Trang phục người miền Bắc
Nếu “cái ăn” cũng được xem là một nét văn hóa của con người chứ không phải đơn thuần là một động thái sinh học tầm thường như nhiều người vẫn nghĩ, thì “cái mặc” lại càng có nhiều ý nghĩa văn hóa hơn trong đời sống Mặc không chỉ để che thân thể cho con người, mà nó còn mang ý nghĩa phân biệt đẳng cấp con người trong xã hội :
Hơn nhau tấm áo manh quần Thả ra mình trần ai cũng như ai
Do vậy, “cái mặc” trở thành một nét đẹp văn hóa, một biểu hiện văn hóa của đời sống con người Trong ca dao - dân ca vùng đồng bằng Bắc Bộ, cái mặc thường được miêu tả đi liền với cái đẹp, cái tình
Chiếc áo tứ thân, khăn mỏ quạ, chiếc nón quai thao là nét duyên dáng của người phụ nữ Kinh Bắc Hình ảnh của những trang phục này đã in đậm vào trong
tư duy của con người thời xưa khi đánh giá về cái đẹp:
Chưa chồng nón thúng quai thao Chồng rồi nón rách quai nào thì quai
Sau này, khi bão táp của văn minh phương Tây ùa vào, con người bị cuốn
đi theo nó, cách ăn mặc cũng thay đổi theo hướng Âu hóa Điều này đã để lại bao
Trang 32tiếc nuối ngẩn ngơ trong lòng những chàng trai ưa chuộng vẻ đẹp thầm kín, dịu dàng xưa cũ :
Nào đâu cái yếm lụa sồi Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân
Nào đâu cái áo tứ thân Cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen
(Chân quê - Nguyễn Bính) Chiếc áo tứ thân giản dị ôm sát người gợi lên cái đẹp mềm mại của người phụ nữ xứ Bắc Cho tới nay vẫn chưa ai biết rõ được nguồn gốc chính xác của chiếc áo tứ thân, nhưng nếu ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc
áo tứ thân Việt với hai tà áo thướt tha đã tìm thấy qua các hình khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ cách nay khoảng vài nghìn năm
Chiếc áo tứ thân – Nguồn: lamdep.ipvnn.com
Trang 33
Chiếc áo tứ thân bình dị trong đời sống hàng ngày còn là nơi thể hiện tình yêu thương ngọt ngào, đằm thắm thủy chung của chàng trai với cô gái:
Áo tứ thân em treo trên mắc Đêm anh nằm anh đắp lấy hơi Nhớ em, em vẫn nhớ đời Quên em, em mới ra ngoài kiếp xưa
Nhưng cũng có khi chiếc áo tứ thân lại là nơi gửi gắm những lời trách móc,
giận hờn về sự xa cách, thiếu thủy chung, “có mới nới cũ” của đàn ông:
Áo đơn năm nút con rồng
Ở xa con phụng, lại gần con quy
Người phụ nữ xứ Bắc tảo tần, quanh năm “một nắng hai sương”, chăm chỉ
làm lụng, vì chồng con tới quên bản thân mình Nhưng ở họ vẫn toát lên cái đẹp đằm thắm dịu dàng trong cách ăn vận giản đơn:
Cổ tay em trắng như ngà Đôi mắt em sắc như dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
Chỉ bốn câu ca dao mà toát lên toàn bộ vẻ đẹp đoan trang, tươi trẻ, khỏe khoắn, dịu dàng của người phụ nữ xứ Bắc Qua làn da tay trắng như ngà, đôi mắt sắc, khuôn miệng có duyên và cái khăn đội đầu biểu hiện sự khéo léo, tinh tế, ta thấy được sự hài hòa, toàn diện về tính cách và ngoại hình của người phụ nữ xưa
Cái khăn được so sánh như bông hoa sen trong bài ca dao, chính là khăn
mỏ quạ Khăn vuông mỏ quạ là chi tiết không thể thiếu trong trang phục của người phụ nữ Kinh Bắc Nó đi liền với áo tứ thân, thắt lưng xanh, váy sồi, đôi dép cong… Khăn vuông mỏ quạ không phải ai cũng biết chít, bởi nó phải được chít cho vừa, cho hợp với khuôn mặt, tạo cho khuôn mặt như hình chiếc búp sen Còn nếu chít không đúng sẽ làm cho khuôn mặt trở nên đần, tối tăm Thực ra, khăn vuông mỏ
Trang 34quạ không đơn thuần chỉ là trang phục trên đầu thiếu nữ, mà còn là một nghệ thuật làm đẹp cần có của người con gái xứ Kinh Bắc Chợt nhớ có ai đó đã từng thốt lên câu:
Nhìn em khăn vuông mỏ quạ
Để anh trong dạ tơ vương
Nhìn em khăn vuông mỏ quạ
Để anh hóa đá vì người
Đó là trang phục của người con gái Kinh Bắc, nhưng nhắc đến cách ăn mặc của người phụ nữ xứ Bắc, ta không thể không nhắc đến trang phục của người Hà Nội
Trong kho tàng văn hóa dân gian có câu ngạn ngữ “ăn Bắc, mặc Kinh” để
chỉ nét đẹp của người kinh đô Thăng Long từ xưa tới nay qua trang phục mang đậm dấu ấn Hà thành cổ kính, thanh lịch
Người Hà Nội cho đến ngày nay vẫn còn truyền tụng nhau nhiều câu ca dao, tục ngữ ca ngợi vẻ đẹp của con người được quần áo tôn thêm gấp bội Với họ, người phụ nữ đẹp phải là:
Khăn nhung vấn tóc cho vừa
Đi giầy mõm nhái, đeo hoa cánh bèo Quần thâm lĩnh Bưởi cạp điều Hột vàng quấn cổ ra chiều giàu sang
Họ ưa chuộng vẻ đẹp thanh lịch, sang trọng, gọn gàng như chiếc quần thâm, cái cạp điều, đôi giày mõm nhái, cái khăn nhung mỏ quạ Chính điều đó dã tạo nên nét riêng không thể hòa lẫn, không thể phôi pha của người con gái Hà thành
Vẻ đẹp của người con gái thì như vậy còn công tử con nhà giàu, thị dân cũng có tiêu chí riêng:
Trang 35
Thấy anh áo lượt xênh xang Đồng hồ quả quýt, nhẫn vàng đeo tay
Cái ô lục soạn cầm tay Cái khăn xếp nếp cái dây lưng điều
Bên cạnh trang phục, sự thanh lịch, dịu dàng của người phụ nữ xứ Bắc còn thể hiện qua chiếc nón lá đội đầu:
Ra đường nghiêng nón tươi cười Như hoa mới nở, như người trong tranh
Hành động “nghiêng nón” gợi mở trong ta hình ảnh của người con gái kín đáo, ý tứ, có duyên như nụ hoa mới nở còn e ấp Cái nón không chỉ theo các bà, các chị, các cô ra đồng mà nó còn đi liền với họ trong mọi sinh hoạt, ngay cả khi lên xe hoa về nhà chồng Người con gái được mẹ đẻ trao cho chiếc nón lá với ý nghĩa mong con mình được chở che, trở thành người mẹ, người vợ đảm đang Chỉ một chiếc nón thôi mà gửi gắm bao tình yêu thương, sự lo lắng, quan tâm mong mỏi của người mẹ xứ Bắc khi con lập thành gia thất:
Cô kia đội nón đi đâu Tôi là phận gái làm dâu mới về
Mẹ chồng ác nghiệt đã ghê Tôi chẳng ở được, tôi về nhà tôi
Có thể vì vậy mà chiếc nón lá đã trở thành điều kì diệu, thành một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của chúng ta Chiếc nón đối với người phụ
nữ xứ Bắc không chỉ là một phục sức làm đẹp mà còn là vật che mưa, che nắng do vậy nó thường dầy dạn chứ không mỏng manh, không thêu thùa hoa lá như chiếc nón bài thơ của Huế
Ấy là trang phục mùa hè, còn về mùa đông, vẻ duyên dáng của nam thanh
nữ tú lại được tô điểm thêm bởi các loại khăn đội đầu hay khăn quấn cổ Có khi là
Trang 36khăn nhiễu hay khăn nhung có thêm một đoạn độn tóc để quấn quanh đầu Nam giới có khi dùng khăn rìu hay khăn xếp:
Giày ban bóng láng nuột nà Khăn xếp chữ nhất, quần là nếp tư
Vẻ đẹp lịch lãm, sang trọng của nam giới biểu hiện ra ngoài ngay qua trang phục, chỉ một họa tiết nhỏ nhất là chiếc khăn xếp nếp gọn gàng đã hé lộ tính cách của chàng trai ấy
Không giống người Nam Bộ thường khoác khăn rằn, chiếc khăn kẻ carô pha hai màu đen trắng giản đơn, bình dị, toát lên vẻ đôn hậu, thuần phác của con người nơi miệt vườn hoa trái phì nhiêu, quanh năm dập dờn sóng nước Người Bắc
Bộ thường chọn cho riêng mình những chiếc khăn có màu sắc trầm tối gợi vẻ sang trọng, bằng những chất liệu quý như: lụa, nhiễu, điều Sở dĩ có sự khác nhau như vậy bởi vì chiếc khăn không chỉ đơn thuần dùng để quấn cổ như người Nam Bộ mà
nó thường được dùng để vấn tóc, đội đầu Trong quan niệm của người xứ Bắc “cái
răng cái tóc là góc con người” vì thế chiếc khăn sang trọng, đẹp đẽ cũng làm tôn
lên nét riêng, vẻ hài hoà cho trang phục mặc trên người của họ
Nhìn chung, cách ăn mặc của người xứ Bắc biểu hiện một nền văn hóa lâu đời, đó là nền văn hóa gợi vẻ đẹp gọn gàng, thanh lịch, giản dị, nhưng vẫn không làm mất đi nét duyên dáng, dịu dàng của con người vùng đồng bằng Bắc Bộ Đi giữa cái ồn ào của cuộc sống thị thành bất chợt nghe thấy một câu hát dân ca, thấy thấp thoáng chiếc nón quai thao khoác hờ trên đôi vai mềm mại ta như được trở về với những giá trị truyền thống tự nghìn xưa của người dân vùng Bắc Bộ Và dù ở bất kỳ nơi đâu ngụp lặn trong bao nhiêu phôi pha, phá huỷ của thời gian nó vẫn giữ được những giá trị cho riêng mình
Trang 371.2.2 Trang phục người miền Trung
Người Trung Bộ thật thà,chất phác, giản dị ngay từ lời ăn tiếng nói, cho tới cách ăn mặc Tuy giản dị vậy, nhưng trong cách ăn mặc ấy vẫn toát lên được vẻ đằm thắm, mặn mà của người phụ nữ, vẻ đẹp khỏe khoắn, chất phác của nam giới
Nhắc đến miền Trung là ta nghĩ đến xứ sở của nắng mưa và bão cát Trong cái nắng, cái gió khắc nghiệt ấy, con người vẫn vươn lên, giản dị và bình tâm Phải chăng sự đối mặt thường xuyên với khó khăn đã làm nên bản lĩnh riêng, hơi thở riêng của người Trung Bộ Nổi lên giữa vùng đất quanh năm hạn hán và bão lũ ấy
là Huế mộng mơ Nơi đây được xem như là trung tâm văn hóa, là nơi tụ hội bao vẻ đẹp truyền thống của người Trung Bộ Nghiên cứu về nét đặc trưng trong trang phục của người miền Trung, người viết xin được lấy Huế làm thước đo chuẩn mực
để tìm ra nét độc đáo, đặc trưng riêng của Trung bộ so với các vùng miền khác trên nước ta
Có thể nói, nhắc tới Huế, tới con người Huế là ta nghĩ ngay tới chiếc áo dài, chiếc nón bài thơ, đến chiếc khăn chít, khăn vành… Chúng cùng với mái tóc thề của người con gái xứ Huế đã trở thành nét đằm thắm duyên thầm của mảnh đất mộng mơ
Áo dài Huế - Nguồn: donghuongtth.com
Trang 38Ở cái xứ sở mưa lắm, nắng nhiều này, ngay cả người buôn thúng bán bưng
cũng vương nét đoan trang Trong tấm áo dài bạc màu vì “một nắng hai sương”,
nối tay nối vạt vì thiếu vải hay may bằng nhung điều quyền quý, người phụ nữ vẫn dịu dàng đến e ấp, nhẹ như mây, hiền như lúa, thơm như sen mùa hạ trong hồ Nội
đô
Chiếc áo dài là trang phục quen thuộc của người miền Trung từ tầng lớp quý tộc cho tới bình dân Nó làm tôn thêm vẻ đẹp của các đức bà, các cung phi, hoàng hậu trong Tử Cấm Thành Nhưng nó cũng là trang phục làm ngời lên bao nét dịu dàng, duyên dáng của những cô gái chèo đò trên sông Hương… Dù ở vị trí nào trong xã hội, người phụ nữ Trung Bộ luôn chọn trang phục ưa thích là áo dài
Có thể vì vậy mà cho tới ngày nay áo dài vẫn không hề mất đi vị trí đặc biệt của mình Chiếc áo dài khiến người con gái như tự tin hơn:
trọng của hơn trọng tình, “nén bạc đâm toạc tờ giấy” Nhưng ở đây, ta không đề
cập đến nghĩa chính của câu ca dao này, người viết chỉ muốn mượn một ý trong câu ca dao “áo dài chẳng ngại quần thưa” để làm sáng tỏ sự thông dụng, hữu ích của chiếc áo dài trong đời sống của người Trung Bộ mà thôi
Nhưng dường như đã trở thành quy luật của cuộc sống, cái gì muốn tồn tại cũng đều phải trải qua sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử Chiếc áo dài Huế cũng
đã bao lần trầm bổng cùng thời gian
Nhà nghiên cứu văn hóa Huế Phan Thuận An cho biết: “Biến tấu của áo
dài xứ Huế gắn với những thăng trầm của lịch sử Thời Minh Mạng, để khắc phục
Trang 39sự ăn mặc thiếu đồng nhất tại các miền sau giai đoạn Trịnh - Nguyễn phân tranh, nhà vua ra sắc chỉ thống nhất y phục trong cả nước Các phi tần, người hầu, kẻ hạ đều mặc áo dài ngay cả khi vừa bước chân ra khỏi cấm cung Dân gian phải mặc quần, cấm váy Riêng với người lớn, áo dài trở thành trang phục bắt buộc khi ra đường” [10]
Màu áo dài mang đặc trưng xứ Huế là áo dài màu tím Màu tím của tà áo dài Huế không ngả màu quá đen, không tía quá đỏ mà chỉ đủ đậm như màu mực học trò trên trang giấy trắng Sau này khi có sự giao thoa văn hoá giữa các vùng miền người phụ nữ miền Bắc, miền Nam cũng mặc áo dài, việc may, mua áo dài không còn khó khăn nhưng người ta nếu có cơ hội vào Huế là phải may cho mình một chiếc áo dài, những người không có thời gian hay điều kiện vào Cố đô thì nhờ người mua vải, bởi như vậy họ thấy tin tưởng hơn, thấy mình đẹp hơn khi vận trên mình chiếc áo thướt tha mang hồn cốt của xứ sở mộng mơ, đậm chất văn hoá Nếu đem so tà áo dài của người Huế với chiếc áo tứ thân của người Bắc bộ, hay chiếc
áo bà ba của người Nam Bộ thì có lẽ chiếc áo dài Huế gợi lên nét quyến rũ hơn cả Tất nhiên ta hiểu rằng mọi sự so sánh đều khập khiễng nhưng nếu không đặc biệt thì tại sao áo dài Huế lại trở thành quốc phục mang quốc hồn quốc tuý, trở thành niềm tự hào, thành nét riêng của người Việt dù ở bất kỳ đâu trên trái đất này
Cùng với sự nền nã của màu sắc, vẻ kín đáo của kiểu dáng, nét dịu dàng, quý phái trong cử chỉ của người mặc, chiếc áo dài tím với tà áo lộng gió, cùng vành nón lá nghiêng che mái tóc thề, không biết tự bao giờ thành hình ảnh khó có thể thiếu khi người ta nhắc đến xứ sông Hương, núi Ngự
Các bạn nước ngoài khi tới Huế thường thốt lên: “Không đâu có loại trang
phục nữ nào kín đáo đến thế, cũng không có loại áo nào hở cho bằng, nhất là khi khoác trên mình những cô gái dịu dàng xứ Huế”[10] Bởi đủ dài tha thướt để hút
ánh mắt người ta theo vóc dáng thanh tao như bay, như múa trên phố Đủ kín để người ta ước tìm chỗ hở, chỗ nhô Càng đủ nhẹ để người ta thấy sức nặng quyến rũ
Trang 40của ánh mắt trong sáng, nụ cười e ấp, cử chỉ duyên dáng, rồi cảm nhận trái tim nhân hậu, dịu dàng của người phụ nữ vùng non thanh, thủy tú này
Đi liền với chiếc áo dài là chiếc quần chít ba màu trắng (một y phục quen thuộc của các bà, các cô ở Huế) Nhưng vẻ đẹp của bộ trang phục ấy sẽ thiếu đi nét duyên dáng nếu ta quên không khoác thêm chiếc nón bài thơ mảnh dẻ bên tay một cách nhẹ nhàng
Chiếc nón bài thơ duyên dáng thường đi kèm với chiếc áo dài Đối với người phụ nữ Huế chiếc nón bài thơ luôn là người bạn đồng hành Trong cuộc sống thường nhật, chiếc nón đối với người phụ nữ Huế rất thân thiết Chiếc nón không chỉ có chức năng che mưa che nắng, mà người phụ nữ Huế còn dùng làm đồ đựng, phương tiện quạt mát và cao hơn hết là chức năng làm đẹp, góp phần làm tăng thêm nét duyên dáng cho phụ nữ Huế Đặc trưng của người phụ nữ xứ Huế mộng
mơ là chiếc áo dài, đôi guốc và không thể thiếu là chiếc nón bài thơ Có lẽ vì thế
mà nghề làm nón ở Huế phát triển Ở Huế các làng sản xuất tập trung và nổi tiếng một thời như Triều Sơn, Đông Di, Tây Hồ, Phủ Cam… Và cũng chỉ có phụ nữ Huế với đôi tay mềm mại và tinh tế, điêu luyện kết hợp với tài năng của mình mới tạo
ra được những chiếc nón bài thơ, mang đậm phong cách Huế
Chiếc nón bài thơ này là kết quả của nhiều lần sàng lọc qua thực tế sử dụng che mưa, nắng Để làm ra những chiếc nón đẹp, người thợ làm nón phải chọn những lá non của cây cọ đem phơi khô, là phẳng để lợp nón Nón bài thơ là một sản phẩm tiêu biểu cho nghề nón Huế Với kỹ thuật tạo hình và cắt chữ trên giấy màu đậm, xếp chen giữa hai lớp lá nón, người thợ có thể làm tăng thêm phần mỹ thuật và nét duyên dáng cho người sử dụng với hình ảnh sông Hương núi Ngự, tháp chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền… Để rồi dưới ánh sáng mặt trời, thành nón mỏng làm nền để hiện lên sau mái tóc của người phụ nữ Huế cả một tác phẩm thi
và họa… :