Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài cho công trình nghiên cứu của mìn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====o0o=====
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH
HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Người hướng dẫn khoa học:
ThS Nguyễn Thị Nhung
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu
của nhiều cơ quan, tập thể và cá nhân
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sỹ Nguyễn Thị
Nhung - người đã hướng dẫn tận tình chỉ bảo tôi trong việc xác định đề tài,
phương pháp nghiên cứu, gợi ý các nội dung và giúp tôi chỉnh sửa bài khóa
luận, hoàn thành được nhiệm vụ trong học tập
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới:
- Các thầy giáo cô giáo trong khoa Giáo dục chính trị - Trường Đại học
sư phạm Hà Nội 2, những người đã dạy tôi suốt 4 năm học qua
- Ban Giám hiệu nhà trường, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 nơi tôi
đang học, đã tạo điều kiện cho tôi được làm bài khóa luận này để hoàn thành
chương trình học
- Các cơ quan, các ban ngành, đoàn thể, cán bộ và người dân của huyện
Sóc Sơn đã giúp đỡ, cung cấp tài liệu cho tôi hoàn thành bài khóa luận này
- Cảm ơn gia đình, người thân, những người bạn đã luôn ở bên khích lệ,
động viên để tôi thực hiện bài khóa luận này
Bài khóa luận này là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứ khoa học,
song do điều kiện năng lực và thời gian hạn chế, bài khóa luận của tôi sẽ
không tránh khỏi những thiếu xót Tác giả mong được sự góp ý của các thầy
cô để công trình nghiên cứu được thêm hoàn thiện
Vĩnh Phúc, ngày 17 tháng 5 năm 2019
Người thực hiện
Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Trang 4BẢNG KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
IUCN : Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
LGH (Legend Hill Golf): sân golf Thanh Trì
FDI (Foreign Direct Investman): Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP (Gross Domestic Product): Tổng sản phẩm quốc nội
UBND: Uỷ ban nhân dân
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc USD (United States Dollar): Đồng đô la Mỹ
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của Khóa luận 4
7 Kết cấu Khóa luận 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.2 Vai trò của phát triển Kinh tế du lịch 13
1.3 Các tiêu chí để đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch 18
Chương 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY 21
2.1 Những điều kiện để phát triển Kinh tế Du lịch huyện Sóc Sơn, Hà Nội 21
2.2 Những thành tựu đạt được trong phát triển Kinh tế Du lịch của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 28
2.3 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong phát triển Kinh tế Du lịch của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 30
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH CỦA HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 35
Trang 63.1 Quan điểm và phương hướng phát triển Kinh tế Du lịch của huyện Sóc Sơn, Hà Nội 35 3.2 Một số giải pháp thúc đẩy phát triển Kinh tế Du lịch của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong thời gian tới 38
PHẦN KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của ngành kinh tế du lịch đã và đang góp phần thúc đẩy vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, tạo nhiều việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân, đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam Trong những năm vừa qua, ngành du lịch trên thế giới đang phát triển đáng kể, và không hề có dấu hiệu chậm lại trong những năm tới Đồng thời, trên thế giới, nhiều nước xem phát triển kinh tế du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, nằm trong chiến lược phát triển kinh tế của quốc gia Phát triển kinh tế
du lịch cũng là bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước, bảo vệ môi trường và thiên nhiên, giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội Vì vậy phát triển kinh tế du lịch có nhiều tác giả nghiên cứu nhưng vẫn còn nhiều tranh luận Huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội là một vùng đất với diện tích chủ yếu
về đồi núi, với điều kiện tự nhiên thuận lợi như khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai rộng lớn màu mỡ, thảm thực vật Địa hình của huyện Sóc Sơn có sự phân hóa nên sự phong phú về các hệ sinh thái, rất thuận lợi cho kinh tế du lịch sinh thái, tự nhiên Nơi đây cũng là nhân chứng sống của các công trình nhân văn đã tồn tại mấy nghìn năm lịch sử Ngoài ra, huyện Sóc Sơn có địa thế thuận lợi cho phát triển Kinh tế Du lịch như: là huyện giáp với bốn tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc và là huyện có sân bay quốc tế Nội Bài và có đường Quốc lộ 2, Quốc lộ 3 chạy qua, từ huyện đến trung tâm thành phố cách 40km về phía Tây Bắc Với những điều kiện nêu trên, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh
tế du lịch của thành phố Hà Nội và góp phần vào phát triển kinh tế du lịch của quốc gia
Trang 8Tuy nhiên, tình trạng phát triển kinh tế du lịch của huyện Sóc Sơn, Hà Nội còn manh mún, nhỏ lẻ và tự phát Chưa được đầu tư tổng thể, chưa thực
sự phát huy được hết tiềm năng cũng như thế mạnh của huyện Xuất phát từ
những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài cho công trình
nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
* Những công trình nghiên cứu du lịch, kinh tế du lịch, phát triển kinh tế du lịch nói chung:
Vấn đề du lịch và kinh tế du lịch đã được đề cập đến trong công trình nghiên cứu, sách, báo của nhiều học giả trong và ngoài nước với các mức độ, khía cạnh khác nhau Tiêu biểu như:
Năm 2000, tác giả Vương Lôi Đình, Đồng Ngọc Minh khoa Du lịch Đại
học Hải Dương, Thanh Đảo, Trung Quốc phối hợp biên soạn cuốn sách “Kinh
tế Du lịch và Du lịch học” do NXB Trẻ ban hành Trong tác phẩm này, các
tác giả dã đề cập đến vấn đề nghiên cứu học thuật đối với các hoạt động du lịch trên cơ sở những thông tin chi tiết về du lịch, kinh tế du lịch, đặc điểm, các loại hình du lịch
Tiếp theo là công trình nghiên cứu của Robert Lanquar, cuốn sách “Kinh
tế Du lịch” người dịch Bùi Ngọc Chưởng, Phạm Ngọc Uyển đưa ra những
công cụ và phương tiện phân tích của Kinh tế học Du lịch và Kinh tế học về kinh doanh Du lịch
Bên cạnh những công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài, còn
có những công trình nghiên cứu về Du lịch và Kinh tế Du lịch trong nước Tiêu biểu là một số tác phẩm sau:
Cuốn “Kinh tế Du lịch” của tác giả Nguyễn Hồng Giáp (2002), đã làm
rõ khái niệm Kinh tế Du lịch, tiềm năng du lịch, đặc điểm các loại hình du lịch trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tác giả đưa ra được những tác động của
Trang 9Kinh tế Du lịch đến kinh tế, xã hội
*Công trình nghiên cứu về Sóc Sơn:
Nghiên cứu về phát triển Du lịch của huyện có bài luận văn “Nghiên cứu
phát triển du lịch huyện Sóc Sơn, Hà Nội” năm 2013 của Th.s Nguyễn Thị
Thu Hương Công trình nghiên cứu này đã đưa ra rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch của huyện nhưng chỉ chú trọng đến phát triển du lịch nhân văn - tâm linh Hơn nữa, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở bảo tồn và phát huy những giá trị nhân văn của du lịch tâm linh, chưa đi sâu đánh giá được vai trò của ngành du lịch huyện là một ngành kinh
tế trọng điểm Hiện nay, chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu về phát triển Kinh tế Du lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội Do vậy, khóa luận này là công trình đầu tiên Tuy nhiên tôi vẫn sử dụng những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế và phát triển du lịch của huyện làm tài liệu tham khảo và đưa ra lý luận chính xác nhất cho bài khóa luận của mình Cuối cùng, công trình nghiên cứu về du lịch huyện Sóc Sơn của thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hương đến nay đã được sáu năm, vì vậy có rất nhiều vấn đề
đã và đang thay đổi từng ngày, cho nên tôi chọn đề tài “Phát triển kinh tế du
lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu khóa luận của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
* Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu những lí luận chung về phát triển kinh tế du lịch
và phân tích đánh giá phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội hiện nay, từ đó đưa ra đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế du
lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa những lí luận chung về phát triển kinh tế du lịch
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn
Trang 10hiện nay, chỉ ra những thuận lợi và hạn chế trong phát triển kinh tế du lịch
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế du lịch ở huyện Sóc Sơn trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
*Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
*Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt không gian: đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế
du lịch trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Về mặt thời gian: đề tài quan tâm đến tình hình phát triển kinh tế du lịch của huyện Sóc Sơn từ năm 2010 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, đề tài sử dụng các phương pháp tiếp cận dưới góc độ kinh
tế chính trị, bên cạnh đó khóa luận sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn giải, quy nạp để nghiên cứu Các số liệu được lấy từ Phòng Kinh tế và Phòng Văn hóa – Thông tin của Huyện ủy – UBND
huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
6 Đóng góp của Khóa luận
Thông qua cơ sở lý luận và nghiên cứu thực trạng, khóa luận đã góp phần làm
rõ hơn một số lý luận chung về phát triển kinh tế du lịch Đồng thời, khóa luận đã nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế du lịch ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong thời gian gần đây, chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong quá trính phát triển kinh tế du lịch của huyện Sóc Sơn Khóa luận đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội thành ngành kinh tế mũi nhọn và đóng góp vào phát triển kinh tế
Trang 11xã hội
7 Kết cấu Khóa luận
Ngoài lời nói đầu, lời cảm ơn, danh mục viết tắt, phụ mục, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài bao gồm 3 chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế du lịch
Chương 2 Hiện trạng phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội từ năm 2010 đến nay
Chương 3 Phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế du lịch huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 12PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
*Khái niệm Du lịch
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, du lịch được công nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Quá trình phát triển của du lịch góp phần phản ánh tính chất và trình độ phát triển của lịch sử xã hội, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở các hình thái kinh tế xã hội khác nhau mà con người đã trải qua
Thời kỳ đầu xã hội nguyên thủy, con người cũng có sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác nhưng hoạt động di chuyển đó do những nguyên nhân như: những xung đột xảy ra trong xã hội hoặc phòng tránh thiên tai, hay là tìm một nơi phù hợp hơn để sinh sống Trên phạm vi toàn thế giới, hoạt động đi ra ngoài với mục đích là du lịch bắt đầu từ giai đoạn cuối xã hội chiếm hữu nô lệ Khi ngành thủ công nghiệp xuất hiện, quan hệ hàng hóa - tiền tệ hình thành và phát triển thì du lịch lại càng phát triển hơn
Du lịch được phát triển thêm một bước kể từ khi lực lượng sản xuất có những yếu tố biến đổi về chất Biểu hiện là vào cuối thế kỷ XVII, bắt đầu diễn
ra cuộc cách mạng giao thông trên thế giới, đầu máy hơi nước được sử dụng rộng rãi trong các ngành đường sắt, đường bộ, đường thủy, trong đó ngành công nghiệp sản xuất ô tô được chú trọng hơn bao giờ hết Chỉ trong một thời gian ngắn, trên khắp châu Âu, châu Mỹ, mạng lưới đường sắt được hình thành Giao thông trở thành yếu tố quan trọng thúc đẩy giao lưu mạnh mẽ của con người ở các vùng đất khác nhau làm cho du lịch trở thành hiện tượng đại chúng và cũng từ đó xuất hiện hàng loạt các loại hình du lịch của mọi tầng lớp khác nhau trong xã hội
Trang 13Khoa du lịch và khách sạn trường Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, đã
đưa ra khái niệm: “Du lịch là ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ
chức hướng dân du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của du lịch Các hoạt động đó đem lại lợi ích kinh tế, chính trị - xã hội cần thiết cho đất nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”
Trong Luật Du lịch Việt Nam, tại điểm 1, điều 4, chương I “Du lịch” được
nêu như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con
người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [6]
Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp Hoạt động du lịch không chỉ có đặc điểm văn hóa - xã hội Thực tiễn ở nhiều nươc trên thế giới đã chứng minh rằng hoạt động du lịch không chỉ đem lại lợi ích kinh tế
mà còn cả lợi ích chính trị, văn hóa, xã hội
* Khái niệm kinh tế du lịch:
“Cùng với sự phát triển của hoạt động du lịch là hoạt động kinh doanh
du lịch Kinh tế du lịch từng bước trở thành một bộ phận hợp thành của hoạt động kinh tế xã hội, lấy sự phát triển các loại hình kinh doanh du lịch, biến các tài nguyên du lịch của một quốc gia, một vùng lãnh thổ thành những hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho du khách Trên thế giới du lịch dần dần được xã hội hóa, số lượng người đi du lịch ngày một đông, xuất hiện nhu cầu cần phải được giải quyết như: đảm bảo chỗ ăn, chỗ ở, chỗ ngủ cho những người tạm thời sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Để đáp ứng nhu cầu đó, đã xuất hiện những nghề mới trong dân chúng ở các vùng có tài nguyên du lịch như: kinh doanh du lịch, nhà hàng, môi giới, hướng dẫn viên
Trang 14du lịch…”Hàng loạt các cơ sở chuyên phục vụ như: khách sạn, quán ăn, cửa hàng, tiệm giải khát, dịch vụ cho thuê, giặt là, mát xa…cùng các tổ chức du lịch và đội ngũ phục vụ du khách lần lượt ra đời Từng bước hình thành một ngành nghề mới là ngành kinh doanh du lịch và theo đó xuất hiện một thị trường mới là thị trường du lịch Giải thích quá trình vận động phát triển của kinh tế du lịch, có nhiều cách tiếp cận khác nhau Rõ ràng khi nói đến kinh tế
du lịch là phải nói làm du lịch (yếu tố kinh doanh), trong đó phải trả lời được các câu hỏi: Ai làm? Làm thế nào? Làm cho ai? Làm để làm? Ngoài ra, do du lịch là ngành kinh tế đặc biệt nên trong khái niệm cũng phải thể hiện được tính đặc biệt của nó
Một kết luận về khái niệm Kinh tế du lịch được nhắc tới trong từ điển
Bách khoa Việt Nam: “Kinh tế du lịch là một loại hình kinh tế có tính đặc thù
mang tính du lịch và thường được xem như ngành công nghiệp không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức việc khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước ( tài nguyên thiên nhiên, phong cảnh, kinh tế, văn hóa, lịch sử…) nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, tổ chức buôn bán, xuất nhập khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch”[16] Như vậy, kinh tế du lịch là tổng hòa các mối
quan hệ giữa các hiện tượng kinh tế với kinh tế, kinh tế với xã hội của hoạt động du lịch, hình thành trên cơ sở phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa và nhu cầu về đời sông vật chất, tinh thần của con người trong xã hội ngày càng không ngừng được nâng cao
Thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên sử dụng trong báo cáo
“Chiến lược bảo tồn thế giới” do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN)
đề xuất năm 1980 Mục tiêu tổng thể của chiến lược là đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ tài nguyên sinh vật, nhấn mạnh tới tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi bảo tồn tài nguyên sinh vật
Trang 15Hầu hết các khái niệm sau này đều đồng nhất rằng, nội hàm của phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, bền vững về kinh tế, bền vững về tài nguyên môi trường và bền vững về văn hóa xã hội Du lịch được coi là ngành “công nghiệp không khói” lớn nhất trên phạm vi toàn thế giới, góp phần tích cực vào
sự phát triển kinh tế của các quốc gia, bảo tồn giá trị văn hóa có tính toàn cầu cũng như có tác động đến mọi khía cạnh về tài nguyên và môi trường
* Khái niệm phát triển kinh tế du lịch bền vững:
Khái niệm phát triển kinh tế du lịch bền vững: “Là sự phát triển kinh tế
du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của các thế hệ tương lai”[4] Theo đó, trong
quá trình phát triển phải đảm bảo được sự bền vững về kinh tế, bền vững về tài nguyên môi trường và bền vững về văn hóa xã hội.Trong đó, bền vững về kinh tế cần được hiểu là sự phát triển ổn định lâu dài của du lịch, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng của kinh tế - xã hội, đem lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt người dân địa phương.“Mức sống của người dân địa phương được cải thiện từ du lịch thì họ sẽ có lý do để bảo vệ nguồn thu nhập này bằng cách bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo vệ các giá trị văn hóa truyển thống để du khách tiếp tục tới, qua đó xóa đói giảm nghèo, đem lại cơ hội nâng cao mức sống cho người dân địa phương, tăng trưởng kinh tế cho những vùng còn khó khăn.”
1.1.2 Các loại hình kinh tế du lịch
Kinh doanh lưu trú:
“Đặc điểm kinh doanh của ngành lưu trú: Diễn ra trong một khoảng thời gian: thời gian phục vụ phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, là hoạt động diễn ra một cách liên tục, kinh doanh mang tính thời vụ, diễn ra trên cùng một không gian (khách đến tận doanh nghiệp để tiêu dùng), do nhiều bộ phận
Trang 16nghiệp vụ khác nhau đảm nhận, tổ chức quá trình kinh doanh phụ thuộc vào nhu cầu của khách, tính độc lập tương đối của các bộ phận, sự phối kết giữa các bộ phận cùng phục vụ khách, đòi hỏi dung lượng vốn lớn (do yêu cầu tiện nghi cao của khách), tính thời vụ kinh doanh nên tiêu hao nguồn vốn lớn vì vậy vấn đề cần đặt ra là hạn chế tính thời vụ và quản lí chặt chẽ các hoạt động bảo trì, bảo dưỡng Sử dụng nhiều lao động do: sẵn sàng phục vụ, số lao động trở thành một trong những tiêu chuẩn của chất lượng phục vụ, lao động có thể thay thế nhau, mức độ thay thế nhân viên ca, đối tượng phục vụ là khách du lịch: đa dạng về quốc tịch, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, tính cách, sở thích,” Các loại hình cơ sở kinh doanh du lịch lưu trú tại Việt Nam: Khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại, nhà nghỉ du lịch
Kinh doanh ăn uống:
Nhà hàng: “là cơ sở ăn uống phổ cập nhất trong các loại hình cơ sở ăn
xuất các món ăn, đồ uống chất lượng cao, phong phú về chủng loại, đồng thời cũng tạo ra môi trường, khung cảnh thuận lợi cho khách nghỉ ngơi vi chơi, để thực hiện nhiệm vụ trên cần có: Các loại kho phù hợp, đúng tiêu chuẩn để bảo quản và dự trữ các loại thực phẩm bia, rượu, nước ngọt; phòng ăn phải được trang trí đầy đủ, tiện nghi, đẹp mắt; ban nhạc chơi khá, chương trình đã được chọn lọc và thay đổi thường xuyên, có sàn nhảy, ánh đèn màu; có nhân viên phục vụ bàn với tay nghề cao, ăn mặc lịch sự, đúng quy định, ân cần, chu đáo với khách, giao tiếp bằng các ngôn ngữ thông dụng”
Phân loại nhà hàng: Buffet (là một dạng nhà hàng phục vụ với số lượng
hợp lí các món ăn nóng và lạnh), Snack (là một dạng nhà hàng ăn rẻ, phục vụ rất nhanh theo phương thức tại quầy hoặc bàn Thực đơn đơn giản đến mức tối
đa thường giới hạn ở các loại bánh bột, bánh kẹp thịt, và một món ăn được chế
Trang 17biến ngay trước mặt khách), Coffee shop (là một dạng nhà hàng có phương thức phục vụ hỗn hợp với đội ngũ nhân viên phục vụ thu gọn, thực đơn đơn giản), Nhà hàng đặc sản (là một dạng nhà hàng chuyên sâu vào việc chế biến
và phục vụ các đặc sản của một nước, hoặc một vùng miền), Grill (là nhà hàng mang tính truyền thống trong phương thức phục vụ, vì vậy phải rất chú ý đến việc trang trí nội thất và tạo dựng sảnh xung quanh Thực đơn chủ yếu là thịt hoặc cá và được nướng và chế biến ngay trước mặt khách), nhà hàng chính
(thường mở cửa làm việc khách ăn sáng, chủ yếu là khách nghỉ tạo khách
sạn), Super club (là loại nhà hàng cao cấp rất đắt với thực đơn phong phú và chất lượng phục vụ cao nhất), quán bar (bar công cộng và bar phục vụ), quán
điểm tâm giải khát (là loại hình ăn uống được khách du lịch ưa chuộng nhất
Nơi đây phục vụ những món ăn điểm tâm, một số món ăn đặc sản địa phương)
Kinh doanh lữ hành:
Khái niệm hoạt động lữ hành: “là hoạt động nhằm thực hiện một
chuyến đi từ nơi này đến nơi khác bằng nhiều loại phương tiện khác khau với nhiều lí do và mục đích khác nhau và không nhất thiết phải quay trở lại điểm xuất phát” Kinh doanh lữ hành: “là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián qua các trung gian hay văn phòng đại diện tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn viên du lịch” Các doanh nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại
lý lữ hành Quy trình kinh doanh lữ hành, bao gồm 4 bước: bước 1 là sản xuất hàng hóa, du lịch; bước 2 là tiếp thị ký kết hợp đồng du lịch; bước 3 là tổ chức thực hiện hợp đồng; bước 4 là thanh quyết toán hợp đồng và rút kinh nghiệm
Doanh nghiệp lữ hành: “là các đơn vị có tư cách pháp nhân độc lập
được thành lập nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch, ký kết các hợp
Trang 18đồng du lịch và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch trọn gói cho kinh doanh du lịch” Ngoài ra chương trình du lịch còn có thể tiến hành các hoạt
động trung gian, bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt dộng kinh doanh tổng hợp khác nhau đảm bảo nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu cho đến khâu cuối cùng Phân loại doanh nghiệp lữ hành: doanh nghiệp lữ hành thuộc sở hữu Nhà nước (do Nhà nước đầu tư), doanh nghiệp lữ hành tư nhân (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty liên doanh, công ty có vốn 100% nước ngoài) Vai trò của doanh nghiệp lữ hành trong ngành kinh tế du lịch:“thứ nhất là tổ chức các hoạt động trung gian, bán và tiêu thụ sản phẩm của các nhà cung cấp dịch vụ, rút ngắn hoặc xóa bỏ khoảng cách giữa khách du lịch với các cơ sở kinh doanh du lịch; thứ hai là tổ chức các chương trình du lịch trọn gói, các chương trình này nhằm liên kết sản phẩm du lịch như vận chuyển, lưu trú, tham quan, vui chơi, giải trí,… thành một sản phẩm thống nhất hoàn hảo, đáp ứng nhu cầu của khách; thứ ba
là các công ty lữ hành lớn với cơ sở vật chất kĩ thuật phong phú từ các công ty hàng không tới các chuỗi khách sạn, hệ thống ngân àng đảm bảo phục vụ tất
cả các nhu cầu du lịch của khách từ đầu tiên đến cuối cùng.”
Đại lý lữ hành: “Là tất cả các tổ chức hoặc cá nhân thực hiện chức năng
tư vấn cho khách, bán các chương trình du lịch cho khách” Đại lý du lịch
“là tất cả văn phòng đại diện bán hoặc tư vấn lữ hành” Đặc điểm của đại lý
lữ hành: đại lý chỉ quan tâm đến việc tiêu thụ sản phẩm công ty để hưởng hoa hồng, đại lý chỉ có chức năng thương mại cho công ty, là người đại diện cho khách hàng đặt mua sản phẩm dịch vụ từ công ty và cuối cùng là nếu có những vấn đề bất thường xảy ra đều có sự tham gia đều có sự tham gia chịu trách nhiệm của nhà cung cấp và các công ty lữ hành Hệ thống sản phẩm của các đại lý lữ hành bao gồm có: dịch vụ hàng không, dịch vụ lưu trú ăn uống, các dịch vụ khác, cung cấp các dịch vụ lữ hành bằng tàu thủy
Kinh doanh du lịch vận chuyển:
Trang 19Kinh doanh vận chuyển du lịch là cung cấp dịch vụ vận tải giao thông cần thiết để giúp khách di chuyển từ vùng này sang vùng khác, quốc gia này sang quốc gia khác trong quá trình du lịch Kinh doanh vận chuyển du lịch là điều kiện cho sự ra đời và phát triển của ngành du lịch, là nguồn thu ngoại tệ
du lịch và thu hồi tiền tệ quan trọng.“Các hình thức giao thông du lịch: Hình thức giao thông hiện đại (Hình thức giao thông du lịch đường bộ, hình thức giao thông du lịch bằng đường hàng không, hình thức giao thông du lịch bằng đường thủy, hình thức giao thông du lịch bằng đường sắt, hình thức giao thông du lịch bằng đường cáp treo) và các phương tiện giao thông du lịch truyền thống”(xe đạp, thuyền rồng, bè tre,…)
Kinh doanh dịch vụ du lịch bổ sung:
“Các dịch vụ bổ sung: Dịch vụ làm sống động hơn cho kỳ nghỉ và thò gian nghỉ (như vui chơi, giải trí), dịch vụ làm dễ dàng việc nghỉ lại của khách, dịch vụ tạo điều kiện thuận tiện trong thời gian khách nghỉ lại, các dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu đặc biệt của con người,”dịch vụ thương mại, kinh doanh hàng lưu niệm, kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ làm đẹp và chăm sóc sắc đẹp,…
1.2 Vai trò của phát triển Kinh tế du lịch
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
“Phát triển du lịch nội địa: trong phạm vi một quốc gia, sự phát triển của ngành kinh tế du lịch sẽ tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân Chẳng hạn, việc sản xuất ra đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kĩ thuật… góp phần làm tăng thêm tổng thu nhập quốc nội (GDP).”Hoạt động kinh tế du lịch sẽ“tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng Hay nói cách khác, kinh tế du lịch tác động vào việc làm cân đối cấu trúc của thu nhập và chỉ tiêu của nhân dân theo các vùng.”Du lịch nội địa là ngành kinh tế huy động tốt nhất kết cấu vật
Trang 20chất kinh tế- xã hội, các nguồn lực khác nhau của các thành phần kinh tế cho phát triển kinh tế quốc dân nói chung và mỗi vùng, mỗi địa phương nói riêng.“Ngoài ra, việc phát triển tốt du lịch nội địa sẽ góp phần củng cố sức khỏe cho nhân dân lao động và do vậy góp phần làm tăng năng suất lao động
xã hội Đồng thời du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất - kĩ thuật của du lịch quốc tế được hợp lí hơn Vào trước và sau thời vụ du lịch, khi khách quốc tế vắng có thể sử dụng cở sở vật chất - kĩ thuật ấy vào phục vụ khách du lịch nội địa Theo cách đó, vừa có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của du lịch nội địa vừa tập trung được cơ sở vật chất - kĩ thuật Phát triển du lịch quốc tế: Trong phạm vi quốc tế, sự phát triển của du lịch tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.”Trong lĩnh vực xuất khẩu, du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả rất cao Tính hiệu quả cao trong kinh doanh du lịch thể hiện trước hết ở chỗ, du lịch là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mĩ nghệ,
đồ cổ phục chế, nông lâm sản… theo giá bán lẻ cao hơn Được trao đổi thông qua con đường du lịch, các hàng hóa sẽ được xuất khẩu mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc tế
Củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế
Kinh tế du lịch góp phần củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế thông qua các mặt sau: Một là: để đạt được mục tiêu phát triển ngành kinh tế
du lịch, các tổ chức quốc tế mang tính chất chính phủ và phi chính phủ về du lịch đã tác động tích cực với nhau nhờ đó mà hình thành những mối quan hệ kinh tế Hai là: kinh tế du lịch quốc tế phát triển, nhiều du khách có xu hướng khám phá những miền đất lạ, đi đến nhiều điểm du lịch trong một chuyến hành trình của mình Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đi lại thuận tiện cho quá
Trang 21trình du lịch của khách mà ngành giao thông quốc tế đã không ngừng quan tâm đầu tư phát triển Ba là:“du lịch quốc tế như một đầu mối “xuất - nhập khẩu” ngoại tệ, góp phần làm phát triển qun hệ ngoại hối quốc tế Tại Việt Nam, kinh tế du lịch là cầu nối giao lưu quốc tế có quan hệ chặt chẽ với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước Trong kinh doanh du lịch quốc tế, khách
du lịch quốc tế có thể là thương nhân Mở rộng du lịch quốc tế gắn liền với tăng lượng khách phục vụ, trong đó sự đi lại, tìm hiểu thị trường của khách thương nhân được chú trọng Từ đó, du lịch thúc đẩy đầu tư, buôn bán quốc tế,…”Tuy nhiên, điều kiện hiện nay nước ta còn nghèo nàn, lạc hậu, thiếu vốn đầu tư nên cần phải hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam thì điều đó càng có ý nghĩa to lớn Bản thân hoạt động kinh doanh du lịch cũng phát triển theo hướng quốc tế hóa, vì khách du lịch thường đến nhiều nước trong một chuyến
đi du lịch dài ngày Hình thức liên doanh, liên kết ở phạm vi quốc tế cao, đến lượt nó kích thích đầu tư nước ngoài vào du lịch và tăng cường chính sách mở cửa Thực tiễn phát triển kinh tế ở Thái Lan, Singgapo, Malaysia,… đã chọn
du lịch là một hướng mở cửa cảu nền kinh tế
Góp phần phát triển các ngành kinh tế khác
“Phát triển kinh tế du lịch có thể kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực Trước hết, hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành, yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành là cơ sở cho các ngành khác”(như giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, bưu điện, hải quan, điện lực,…)“phát triển, đối với nền sản xuất xã hội, du lịch mở ra một thị trường tiêu thụ hàng hóa Mặt khác,
sự phát triển du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường,
ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các cơ sở vật chất - kỹ thuật ở các ngành kinh tế khác Phát triển du lịch sẽ mở mang , hoàn thiện các cơ sở hạ tầng kinh tế như mạng lưới giao thông, mạng lưới điện
Trang 22nước, các phương tiện thông tin đại chúng… Đặc biệt là ở những vùng phát triển du lịch, do xuất hiện nhu cầu đi lại, vận chuyển, thông tin liên lạc,… của khách du lịch, cũng như những điều kiện cần thiết cho cơ sở kinh doanh du lịch hoạt động nên các ngành này phát triển.”Ngoài ra,“du khách không chỉ dừng lại ở điểm du lịch mà trước đó và sau đó du khách còn có nhu cầu đi lại giữa các điểm du lịch, trên cơ sở đó ngành giao thông vận tải phát triển.”Đối với những vùng lạc hậu, xa xôi hẻo lánh, kinh tế khó khăn không thích hợp phát triển công nghiệp thì phát triển kinh tế du lịch sẽ có ý nghĩa quan trọng đến việc xóa đói, giảm nghèo, dần đi đến làm giàu Đồng thời, sự phát triển của ngành kinh tế du lịch sẽ trực tiếp tăng thu nhập tài chính của nước nơi đón tiếp Ngoài ra, du lịch phát triển còn “đánh thức” một số ngành sản xuất thủ công mỹ nghệ truyền thống của các dân tộc Khách du lịch rất thích mua các
đồ lưu niệm mang tính dân tộc, đó là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ cổ truyền Nhờ vậy, nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền như: nghề khảm, sơn mài, tạc tượng, làm tranh lụa, làm gốm sứ,… có điều kiện phục hồi và phát triển Kinh tế du lịch“là hoạt động kinh doanh cần nhiều sự hỗ trợ liên ngành Nhiều khu vực khác cũng được hưởng lợi thông qua hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch, như xây dựng, in ấn và xuất bản, sản xuất, bảo hiểm, vận tải, lưu trú, bán lẻ, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tài chính Như vậy, có thể khái quát các vấn đề về chính sách du lịch bao trùm một chuỗi lớn các lĩnh vực và lợi ích, góp phần nâng mức tăng trưởng chung của nền kinh tế Các ngành dịch vụ có giá trị cao như ngân hàng, hàng không, bưu chính viễn thông, du lịch… được khai thác và đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân.”
Giải quyết việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp
Những năm qua, chủ trương thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tế theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ của lãnh đạo huyện Sóc Sơn đã bước đầu phát huy hiệu quả Đặc biệt, thực hiện
Trang 23quyết định số 1956 của Thủ tướng Chính phủ, huyện đã chuyển mạnh từ đào tạo theo năng lực sẵn có của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên huyện sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động và yêu cầu của thị trường Nhờ vậy, tỉ lệ lao động qua đào tạo được cải thiện, số lao động được giải quyết hàng năm tăng.“Quy hoạch, phát triển các làng nghề truyền thống theo hướng bền vững, đầu tư khoa học công nghệ, tích cực hỗ trợ nhân dân về vốn, kiến thức, thị trường để nhân dân có thể sản xuất ra những mặt hàng theo nhu cầu của thị trường du lịch, vừa đáp ứng nhu cầu lao động tại chỗ, vừa thúc đẩy kinh tế phát triển Đây cũng là một trong những giải pháp tích cực góp phần giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn hiện nay.”
Quảng bá hình ảnh đất nước
“Thông qua hoạt động du lịch, du khách có được sự giao lưu, hiểu biết lẫn nhau làm gia tăng sự đoàn kết quốc tế, hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc Du lịch cũng chấp nhận các hình thức giao lưu văn hóa khác nhau, kể cả trao đổi quan điểm và luyện tập các ngôn ngữ khác nhau Thông qua hoạt động du lịch còn có thể làm tăng sự hiểu biết của du khách đối với cảnh quan thiên nhiên, đất nước, con người, lịch sử văn hóa xã hội của quốc gia, nhờ vậy tinh thần yêu tổ quốc, yêu quê hương được tăng lên và có tình thần trách nhiệm xây dựng đất nước giàu mạnh, lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ môi trường Du lịch làm tăng nhận thức của địa phương về giá trị kinh
tế của các khu vực tự nhiên và văn hóa, qua đó có thể khơi dậy niềm tự hào đối với những di sản của quốc gia và địa phương cũng như quan tâm đến việc giữ gìn chúng.”Du lịch không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ” mà còn là ngành “xuất khẩu vô hình” hàng hóa du lịch Đó là các cảnh quan thiên nhiên, khí hậu và ánh sáng mặt trời vùng nhiệt đới, những giá trị của những di tích lịch sử - văn hóa, tính độc đáo trong tuyền thống và phong tục tập quán.“Phát
Trang 24triển du lịch có lợi cho việc bảo vệ và phát triển văn hóa dân gian Ngoài việc cung cấp các hoạt động tham quan di tích văn vật du ngoạn phong cảnh thiên nhiên, du lịch còn có tác dụng bảo vệ văn hóa, làm đẹp môi trường và thúc đẩy sự phát triển của văn hóa dân tộc Khách biết thêm về văn hóa của nước chủ nhà, biết âm nhạc, nghệ thuật, các món ăn truyền thống và ngôn ngữ của nước đó Tạo hình ảnh mới, người nước ngoài được biết thêm về cộng đồng người dân nước họ du lịch.”
1.3 Các tiêu chí để đánh giá sự phát triển kinh tế du lịch
* Chỉ tiêu đánh giá về kinh tế
Khía cạnh phát triển kinh tế du lịch về kinh tế gồm một số nội dung cơ bản: Một là giá trị hàng hóa và dịch vụ đem lại; Hai là quy mô sử dụng các nguồn lực sản xuất; Ba là chỉ tiêu đánh giá về chuyển dịch cơ cấu Để đánh
giá mô hình này có phát triển thì chúng ta phải xem xét các yếu tố trên
Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ
Thứ nhất để đánh giá một mô hình kinh tế có phát triển hay không, đầu tiên chúng ta sẽ căn cứ vào mức doanh thu mà ngành du lịch đem lại hay nói cách khác đó chính là giá trị sản lượng hàng hóa của ngành du lịch
Ta có công thức:
Công thức tính: G ∑ ∑
Trong đó:
G: Giá trị sản lượng hàng hoá du lịch
Qij: sản lượng sản phẩm (i) của ngành du lịch (j) trong một năm
Pi: Đơn giá của một đơn vị sản phẩm (i) trong năm hiện tại (thực tế) hoặc tại một năm được chọn làm gốc (cố định)
Chỉ tiêu đánh giá quy mô sử dụng các nguồn lực sản xuất
Chỉ tiêu này cho thấy bình quân mỗi địa điểm du lịch sử dụng bao nhiêu đất đai, lao động, tiền vốn vào sản xuất, kinh doanh
Trang 25Công thức tính: nj
Trong đó:
Nj: Mức độ sử dụng nguồn lực (j) trong địa điểm du lịch đó
Nj: Tổng nguồn lực (j) sử dụng của các địa điểm du lịch
N: Tổng số địa điểm du lịch trong kỳ
Chỉ tiêu đánh giá sự chuyển dịch về cơ cấu
Cơ cấu ngành du lịch thể hiện mối quan hệ giữa số lượng địa điểm du lịch của từng loại hình so với tổng thể
Công thức tính: tj =
Trong đó:
tj: Tỷ lệ địa điểm du lịch loại (j) trong tổng số các địa điểm du lịch
Lj: Số địa điểm du lịch loại (j)
TT: Tổng số các địa điểm du lịch trong kỳ
*Chỉ tiêu đánh giá về xã hội
“Phát triển kinh tế du lịch về xã hội được đánh giá bằng các tiêu chí, như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa Ngoài ra, bền vững về xã hội là sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn.”
“Công bằng xã hội và phát triển con người, chỉ số phát triển con người (HDI) là tiêu chí cao nhất về phát triển xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh.”
“Phát triển kinh tế du lịch về xã hội chú trọng vào sự công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều
Trang 26kiện sống chấp nhận được Phát triển kinh tế du về xã hội gồm một số nội dung chính: Một là, ổn định dân số, phát triển nông thôn để giảm sức ép di dân vào đô thị; Hai là, giảm thiểu tác động xấu của môi trường đến đô thị hóa;
Ba là, nâng cao học vấn, xóa mù chữ; Bốn là, bảo vệ đa dạng văn hóa; Năm
là, tăng cường sự tham gia của công chúng vào các quá trình ra quyết định.”
*Chỉ tiêu đánh giá về môi trường
“Phát triển kinh du lịch về môi trường Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên Bền vững về môi trường là khi sử dụng các yếu tố tự nhiên đó, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm Đó là bảo đảm
sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế.”
“Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường
và cải thiện chất lượng môi trường sống Phát triển kinh tế du lịch về môi trường đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho người dân
và các sinh vật sống.”
“Phát triển kinh tế du lịch về môi trường gồm những nội dung cơ bản: Một
là, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo; Hai là, phát triển không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; Ba là, bảo vệ đa dạng sinh học; Bốn là, kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; Năm là, bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm; Sáu là, giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm, cải thiện và khôi phục môi trường những khu vực ô nhiễm ”
Trang 27Chương 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH HUYỆN SÓC SƠN, HÀ NỘI TỪ NĂM 2010 ĐẾN NAY
2.1 Những điều kiện để phát triển Kinh tế Du lịch huyện Sóc Sơn, Hà Nội
2.1.1 Tiềm năng Kinh tế Du lịch
*Điều kiện tự nhiên
Sóc Sơn là một huyện của Thủ đô Hà Nội, nằm ở khu vực miền Bắc Việt Nam Nằm ở khu vực có vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi để phát triển ngành kinh tế du lịch
Hình 2.1 Bản đồ địa lý hành chính huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Trang 28“Huyện Sóc Sơn là một trong 5 huyện ngoại thành Hà Nội Với diện tích
314 km2, rộng nhất trong số 14 quận huyện toàn thành phố Hà Nội Với diện tích 314 Km2, rộng nhất trong số 14 quận huyện của thành phố, chiếm 1/3 tổng diện tích toàn thành phố và dân số chiếm khoảng 1/10 tổng dân số toàn thành phố Sóc Sơn là một trong năm huyện ngoại thành Hà Nội, có vị trí nămg ở phía bắc và cách trung tâm thủ đô khoảng 35 Km Đặc điểm nổi bật của Sóc Sơn so với các huyện khác thể hiện ở vị trí địa lý, địa hình đất đai và những tiềm năng phát triển kinh tế trong tương lai Vị trí của huyện là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du nên địa hình phức tạp, đất đai khá đa dạng và phần lớn là đất bạc màu.”Sóc Sơn giáp“thị xã Phổ Yên thuộc tỉnh Thái Nguyên về phía bắc, huyện Yên Phong thuộc tỉnh Bắc Ninh và huyện Hiệp Hòa thuộc tỉnh Bắc Giang về phía đông và đông bắc, về phía tây bắc giáp thành phố Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc và phía nam giáp các huyện Mê Linh và Đông Anh của Hà Nội.”Huyện Sóc Sơn có 25 xã và một thị trấn gồm: Bắc Phú, Bắc Sơn, Minh Trí, Nam Sơn, Tân Hưng, Trung Giã, Tân Minh, Tiên Dược, Phú Cường, Đông Xuân, Đức Hòa, Hiền Ninh, Hồng Kỳ, Kim
Lũ, Mai Đình, Minh Phú, Phù Linh, Phù Lỗ, Phú Minh, Quang Tiến, Tân Dân, Thanh Xuân, Việt Long, Xuân Giang, Xuân Thu và thị trấn Sóc Sơn
* Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên: Tài nguyên rừng (Huyện Sóc Sơn hiện có 4557ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng là 3953ha Địa hình núi thấp và đồi gò Sóc Sơn là hệ thống núi thấp và đồi gò, là một phần kéo dài về phía Đông của dãy núi Tam Đảo, có độ cao trung bình từ 200- 300m so với mặt nước biển Các đỉnh núi cao nhất là: Hàm Lợn (485m), Cảnh Tay (332m), núi Đền Sóc (308m),… Điểm thấp nhất là 20m Địa hình đất đồi gò Sóc Sơn
có thể chia làm 2 vùng, : vùng núi thấp và vùng đồi Tập trung diện tích tại các xã: Hiền Ninh, Quang Tiến, Tiên Dược, Hồng Kỳ, Nam Sơn, Bắc Sơn,…