Trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình đi trước, tiểu luận đi sâunghiên cứu đề tài “ Thể tỉ trong ca dao người Việt xứ Nghệ” với hi vọng sẽ đưa ra được một mô hình có hệ thống t
Trang 1MỞ ĐÂU
1 Lí do chọn đề tài
Ca dao là cây đàn muôn điệu của trái tim, là tiếng nói tình cảm sâu lắngcủa nhân dân lao động Trong kho tàng Văn học dân gian Việt Nam, ca dao luônđược coi là viên ngọc quý long lanh, ngời sáng Đó là viên ngọc tỏa chiếu vẻ đẹpthuần khiết, thanh cao trong tâm hồn, tình cảm và trí tuệ con người Việt Namtrải qua nhiều thế hệ Kể từ khi lọt lòng mẹ cho tới lúc trưởng thành, có ai trongmỗi chúng ta chưa từng được một lần lạc vào thế giới của “con cò bay lả bay la”qua lời ru âu yếm của bà của mẹ Những lời ru thấm đẫm yêu thương cứ thếtừng ngày bồi đắp trong ta tình yêu mến, tự hào đối với ca dao dân tộc
Ca dao xứ Nghệ cũng như ca dao Việt Nam ngàn xưa tới nay vẫn làtiếng hát trữ tình làm lay động lòng người, mang một sức hấp dẫn lạ kỳ làm sayđắm biết bao trái tim Xứ Nghệ là nơi “địa linh nhân kiệt”, là vùng giáp nối giữahai miền Nam Bắc Chính vì lẽ đó xứ Nghệ có một kho tàng văn hóa dân gian vôcùng phong phú và đầy bản sắc Trong kho tàng đó nổi bật hơn cả là ca dao
Ca dao xứ Nghệ đóng góp một phần rất lớn cho nền văn hóa dân tộc chonên hiểu được những nét đặc sắc của ca dao xứ Nghệ sẽ giúp chúng ta hiểu sâuhơn nền văn hóa đậm bản sắc của dân tộc Ca dao xứ Nghệ nói riêng và ca daoViệt Nam nói chung đều được cấu tứ bởi ba thể: Phú, Tỉ, Hứng Trong đó thể tỉ
là thể được các tác giả dân gian sử dụng nhiều, góp phần rất lớn trong việc làmcho ca dao xứ Nghệ có những nét riêng biệt địa phương Khảo sát thể tỉ trong cadao người Việt xứ Nghệ sẽ giúp ta thấy được những nét riêng biệt độc đáo đó
Đó cũng là lí do mà tiểu luận đi vào khảo sát thể tỉ trong ca dao người Việt xứNghệ
Trang 2năm, có kinh nghiệm và đã gắn bó với mảnh đất Nghệ Tĩnh hàng chục năm, hơn
ai hết phó giáo sư Ninh Viết Giao đã có công sưu tầm, lựa chọn, phân loại hàngnghìn câu ca dao xứ Nghệ và có bài giới thiệu những đặc điểm, bản sắc riêngcủa ca dao xứ Nghệ
2.2 Trong công trình nghiên cứu về ca dao xứ Nghệ, đã có những bài viết
đi sâu vào việc tìm hiểu, so sánh sự khác nhau giữa ca dao xứ Nghệ với xứ Bắchoặc với các vùng khác ở miền Trung.Chẳng hạn:
Bài “ Bước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn vùng dânca”: Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ” của Lê Văn Hảo( Hội thảo khoa học văn học dân gian miền Trung lần thứ nhất)
Hay bài “ Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc”của nhà nghiên cứu Nguyễn Phương Châm ( Tạp chí văn hóa dân gian số 3, năm1997)
2.3 Ngoài ra các đề tài khóa luận, luận văn thạc sĩ cũng có sự quan tâmđặc biệt đến ca dao xứ Nghệ với những biểu hiện đa dạng về mặt hình thức củanó
- “ Một số phương tiện tu từ và biện pháp tu từ trong ca dao tình yêu đôilứa xứ Nghệ” ( Nguyễn Văn Liên, ĐHSP Vinh, 1999)
- “ Phương thức ẩn dụ trong ca dao Nghệ Tĩnh”( Nguyễn Thị Nga Sơn,
ĐH Vinh, 2006)
Qua các công trình nghiên cứu điểm trên, chúng ta thấy rằng việc nghiêncứu thể tỉ trong ca dao người Việt xứ Nghệ là một vấn đề khá mới Mặc dù ở cáccông trình nghiên cứu vấn đề này cũng đã được đề cập đến ở một vài khía cạnhhoặc trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng lại chưa được nghiên cứu tìm hiểu một cáchtrọn vẹn và hệ thống
Trên cơ sở kế thừa và phát huy những công trình đi trước, tiểu luận đi sâunghiên cứu đề tài “ Thể tỉ trong ca dao người Việt xứ Nghệ” với hi vọng sẽ đưa
ra được một mô hình có hệ thống trong việc tìm hiểu kho tàng ca dao xứ Nghệ
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tiểu luận nhằm hướng tới những mục đích sau:
Trang 3- Tiểu luận góp phần làm rõ và hệ thống hóa thể tỉ trong ca dao người Việt
xứ Nghệ để đạt tới một cái nhìn bao quát và hệ thống về thể này trong ca dao xứNghệ
- Chỉ ra giá trị của thể tỉ trong ca dao xứ Nghệ
- Thấy được cái hay, cái đẹp của thơ ca dân gian xứ Nghệ, cái hay cái đẹpcủa phương ngữ Nghệ Tĩnh
4 Phạm vi nghiên cứu
Thơ ca dân gian xứ Nghệ hết sức đa dạng và phong phú, gồm nhiều thểloại nhưng tiểu luận chỉ tập chung khảo sát thể tỉ trong ca dao người Việt xứNghệ trong cuốn “ Kho tàng ca dao xứ Nghệ” ( 2 tập) của các tác giả NguyễnĐổng Chi, Ninh Viết Giao, Võ Văn Trực, Nxb Nghệ An, năm 1996
Để có cơ sở đối chiếu với thể tỉ trong ca dao người Việt, chúng tôi khảosát thể tỉ trong cuốn Ca dao Việt Nam của tác giả Nguyễn Bích Hằng ( tuyển
chọn), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004.
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt đề tài này, chúng tôi đã vận dụng những phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại: để xác định được số lượng các ẩn dụ
6 Bố cục của tiểu luận
Ngoài các phần phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của tiểu luậnđược triển khai thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Những nội dung sử dụng thể tỉ trong ca dao người Việt xứ Nghệ Chương 3: Vai trò của thể tỉ trong biểu đạt nội dung ca dao người Việt xứ Nghệ
Trang 4- Đôi ta như chỉ mới xe
Như trăng mới mọc, như tre mới trồng
- Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
- Bố chồng như lông cánh phượng
Mẹ chồng như tượng mới tô
Nàng dâu là bồ chịu chửi
1.1.1 Khái niệm về ẩn dụ
Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi định nghĩa ẩn
dụ là “ Phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thểhiện cái này qua cái kia, mà bản thân cái được nói tới thì giấu đi một cách kínđáo:
Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
( Ca dao)
Gìn vàng giữ ngọc cho hay
Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời
( Nguyễn Du – Truyện Kiều)
Trang 5Thuyền và bến chỉ người con trai, con gái, người đi, người đợi Vàng,ngọc chỉ tình yêu.
Những ẩn dụ làm cho cái được nói tới có thêm ý nghĩa bổ sung, nhấnmạnh, biểu hiện cảm xúc Thuyền là yếu tố vô định, có thể ghé bến khác, cònbến thì không di dịch Vàng, ngọc là thứ quý giá Trong ẩn dụ văn học, sựchuyển nghĩa không chỉ xảy ra trong từ mà còn trong câu, trong hình tượng,trong quan hệ như câu ca dao trên đây.(Từ điển thuật ngữ văn học, trang 11, 12)
1.1.2 Khái niệm về so sánh
Như chúng ta đã biết, so sánh là một phương tiện tu từ nằm trong nhómcác phương tiện tu từ ngữ nghĩa, nó được sử dụng một cách phổ biến và là mộttrong những yếu tố làm nên điều kỳ diệu của ngôn ngữ
Từ trước đến nay, khái niệm về so sánh được các nhà phong cách học đềcập đến với nhiều định nghĩa và tên gọi khác nhau Ở đây chúng ta sử dụng địnhnghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn
“Từ điển thuật ngữ văn học”:
So sánh còn gọi là tỉ dụ, là “ Phương thức biểu đạt bằng ngôn từ một cáchhình tượng dựa trên cơ sở đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tươngđồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm,thuộc tính của hiện tượng kia
Chính vì thế, so sánh thường có hai vế Vế đầu là hiện tượng cần đượcbiểu đạt một cách hình tượng Vế sau là hiện tượng được dùng để so sánh Hai
vế này thường được nối liền với nhau bởi từ như hoặc các từ so sánh khác: bằng,hơn, kém Ví dụ:
Thân em như dải lụa đào
( Ca dao)
Văn học dân gian thường lấy những sự vật cụ thể hoặc những hiện tượng
tự nhiên làm chuẩn mực so sánh nhằm cụ thể hóa những hiện tượng trừu tượng
Trang 6Chẳng hạn:
Đôi ta như lửa mới nhen
Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu
( Ca dao)
Định nghĩa trên đã cho ta một cái nhìn khái quát về thể tỉ Để hiểu rõ hơn vềcấu tứ này của ca dao chúng ta sẽ lần lượt đi vào tìm hiểu những khía cạnh cụ thể
1.2 Về thể tỉ trong ca dao người Việt
- Ca dao là một bộ phận chiếm số lượng lớn nhất trong kho tàng văn họcdân gian Việt Nam Nó là bộ phận được sưu tầm và nghiên cứu khá sớm Ở mỗimiền, mỗi vùng đều có một kho tàng ca dao riêng: ca dao xứ Nghệ, ca dao – dân
ca Bình Trị Thiên, ca dao Thanh Hóa, ca dao ngạn ngữ Hà Nội…
Có thể nói, trong dòng chảy không ngừng của văn học dân gian Việt Nam,
ca dao đóng một vai trò cực kỳ quan trọng Ca dao là dòng sữa mẹ, là tấm lòngcha, là chiếc nôi ấm áp, là chiếc võng đu đưa, là làng mạc trong lũy tre xanh; làtấm gương soi dọi mọi điều tâm sự, mọi u uẩn của cõi lòng với mọi lành dữ,khen chê; là kho tri thức của quần chúng, lại là những đóa hoa đầy hương sắc…
Đó là âm hưởng của tiếng trời và cõi đời, của quá khứ và hiện tại hòa quyện vớinhau, nâng cánh cho nhau
Tóm lại, ca dao là kho vàng của nhân dân và của cả nhân loại
- Ca dao của người Việt hết sức phong phú và có giá trị Ca dao ngườiViệt rất hay dùng lối so sánh ví von để xây dựng hình tượng, biểu đạt ý tứ Cólối so sánh, ví von trực tiếp và trong lối này những liên từ “ giống như”, “ nhưlà”, “ như thể”… hay được dùng để thể hiện mối tương quan về mặt hình ảnhgiữa chủ thể với những sự vật và hiện tượng thiên nhiên được dùng làm hìnhtượng so sánh:
Cổ tay em trắng như ngà,Đôi mắt em liếc như là dao cau,Miệng cười như thể hoa ngâu,Cái khăn đội đầu như thể hoa sen…
Trang 7- Thuyền về có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
- Gặp đây mận mới hỏi đào:
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?
Mận hỏi thì đào xin thưa:
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
- Đã mang lấy cái thân tằmKhông vương tơ nữa cũng nằm trong tơ…
Như vậy, trong cấu tứ của ca dao người Việt thể tỉ có vị trí hết sức quantrọng Thể tỉ đã góp phần tạo nên diện mạo, bản sắc của ca dao người Việt nóichung Khi đi vào ca dao của từng địa phương, từng vùng cụ thể, thể tỉ lại gópphần tạo nên những nét bản sắc riêng biệt của địa phương đó Chúng ta sẽ đi vàotìm hiểu những nét bản sắc riêng của ca dao người Việt ở xứ Nghệ được thể hiệnqua thể tỉ
Trang 81.3 Về thể tỉ trong ca dao người Việt xứ Nghệ
Xứ Nghệ - một vùng đất có nhiều điểm khác biệt về địa lí, lịch sử, dân cư,ngôn ngữ và văn hóa Xứ Nghệ có một kho tàng thơ ca dân gian phong phú, đadạng gồm nhiều thể loại khác nhau, trong đó ca dao là thể loại ổn định, phản ánh
rõ nét các đặc điểm địa phương Ca dao xứ Nghệ tập hợp thành một kho tàng đồ
sộ, có nhiều nét độc đáo và tinh tế cả về nội dung lẫn hình thức
Ca dao người Việt nói chung và ca dao xứ Nghệ nói riêng đều được cấu tứbởi ba thể: thể phú, thể tỉ và thể hứng Trong đó, các tác giả dân gian xứ Nghệkhi xây dựng hình tượng và biểu đạt ý tứ của mình qua kho tàng ca dao thường
sử dụng thể tỉ Chính vì thế, thể tỉ có tần số xuất hiện nhiều, góp phần lớn trongviệc tạo nên những nét riêng biệt độc đáo của kho tàng ca dao xứ Nghệ
Thể tỉ gồm so sánh ( ví von) và ẩn dụ cho nên khi khảo sát thể tỉ trong cadao người Việt xứ Nghệ chúng ta sẽ tập trung khảo sát hai phương thức tu từ sosánh và ẩn dụ
1.3.1 Phương thức ẩn dụ
Khảo sát 4.157 bài ca dao của người Việt xứ Nghệ trong cuốn Kho tàng cadao xứ Nghệ ( tập 1, 2) của các tác giả Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, VõVăn Trực chúng tôi thống kê được 365 ẩn dụ, nếu tính trung bình thì khoảng hơn
11 bài ca dao xuất hiện một ẩn dụ Các ẩn dụ xuất hiện trong các đề tài như sau:
- Đề tài đặc điểm địa phương xứ Nghệ có 79 ẩn dụ trong 419 bài ca dao
- Đề tài tình yêu nam nữ có 150 ẩn dụ trong 1.894 bài ca dao
- Đề tài quan hệ gia đình và hôn nhân có 75 ẩn dụ trong 457 bài ca dao
- Đề tài cuộc sống trong xã hội nông nghiệp có 17 ẩn dụ trong 416 bài ca dao
- Đề tài quan niệm lao động và kinh nghiệm đời sống có 23 ẩn dụ trong
Trang 91.3.2 Phương thức so sánh
Dựa vào văn bản Kho tàng ca dao xứ Nghệ, tập 1, 2 chúng tôi thống kêđược 435 bài sử dụng phương thức so sánh trong tổng số 4.157 bài ca dao, nếutính trung bình thì khoảng hơn 9 bài ca dao xuất hiện một so sánh Có những bài
ca dao ngắn sử dụng 3,4 phương thức so sánh Phương thức so sánh được sửdụng ở các đề tài như sau:
- Đề tài đặc điểm địa phương xứ Nghệ có 32 bài sử dụng phương thức sosánh trong 419 bài ca dao
- Đề tài tình yêu nam nữ có 230 bài sử dụng phương thức so sánh trong1.894 bài ca dao
- Đề tài quan hệ gia đình và hôn nhân có 63 bài sử dụng phương thức sosánh trong 457 bài ca dao
- Đề tài cuộc sống trong xã hội nông nghiệp có 19 bài sử dụng phươngthức so sánh trong 416 bài ca dao
- Đề tài quan điểm lao động và kinh nghiệm cuộc sống có 29 bài sử dụngphương thức so sánh trong 271 bài ca dao
- Đề tài phê phán thói hư tật xấu và phong tục lạc hậu có 30 bài sử dụngphương thức so sánh trong 291 bài ca dao
- Đề tài tinh thần dân tộc và quan hệ giai cấp có 32 bài sử dụng phươngthức so sánh trong 409 bài ca dao
Như vậy, số lượng các bài ca dao sử dụng phương thức so sánh trong khotàng ca dao xứ Nghệ cũng rất phong phú
Chương 2: Những nội dung sử dụng thể tỉ trong ca dao người Việt xứ Nghệ.
Trang 10Trong đời sống hàng ngày, quần chúng đã cảm xúc, suy nghĩ và phát ngônbằng ca dao Ca dao là hơi thở, là máu thịt của quần chúng lao động Bao nỗiniềm, bao hi vọng, bao kiếp sống buồn vui, đau khổ, hạnh phúc… của nhân dânlao động từ thế hệ này qua thế hệ khác đã gửi gắm vào ca dao Ca dao đã len lỏivào các ngõ ngách của tâm hồn, làm thao thức và trăn trở bao con tim, khơi dậybao đắm say, làm rạng sáng bao trí tuệ, làm sống dậy bao kỉ niệm của con người.
Ở đây có xao xuyến băn khoăn, có yêu thương da diết, có nhớ nhung khắc khoải,rạo rực nồng nàn…Nhưng cũng có những xót xa ngậm ngùi, giận hờn căm uất,mỉa mai chê trách, thương thân tủi phận… của bao kiếp người làm nên một bảnsắc rất riêng của người dân xứ Nghệ.Tất cả những điều đó được thể hiện quaphương thức so sánh và ẩn dụ mà tác giả dân gian đã sử dụng trong kho tàng cadao xứ Nghệ, làm nên một diện mạo ca dao xứ Nghệ mang một sức hấp dẫn lạ
kỳ làm say đắm biết bao trái tim.Trong khuôn khổ của tiểu luận, chúng tôi cốgắng tìm hiểu những dấu hiệu bản sắc văn hóa của con người xứ Nghệ qua thểtỉ
2.1 Đề tài đặc điểm địa phương xứ Nghệ.
Ở đề tài đặc điểm địa phương xứ Nghệ, các tác giả dân gian xứ Nghệ đã
sử dụng 79 ẩn dụ trong 419 bài ca dao và 32 bài sử dụng phương thức so sánhtrong 419 bài ca dao Đó là một con số không nhỏ cho thấy ở đề tài này thể tỉđược sử dụng khá nhiều
Có thể nói rằng, so với ca dao ngoài Bắc, ca dao xứ Nghệ không thực sựmượt mà, bay bướm và trau chuốt Bởi vì người dân xứ Nghệ thường xuyên phảichống chọi với thiên nhiên khô cằn, cay nghiệt; những cuộc đấu tranh dai dẳngvới bọn thống trị gian ác, xảo quyệt; những trận chiến anh dũng đánh đuổi giặcngoại sâm; những cảnh vất vả cay dắng luôn phơi bày trước mắt; cái đói rétthiếu thốn luôn hành hạ; những thất vọng luôn dày vò… Cuộc sống ấy đã tạocho ca dao xứ Nghệ một giọng điệu riêng, một sắc thái riêng biệt
Trang 11Cuộc sống của những người dân xứ Nghệ luôn luôn đối phó với nhữngkhó khăn bất trắc đã làm cho họ có cách nói bộc trực thẳng thắn nhiều khi đi đếncộc cằn, bốp chát và có phần sống sượng:
Nói dến cái khó khăn, khắc nghiệt của vùng quê xứ Nghệ ca dao thể hiện: Hoàng Mai đi có về không
Đất Đồng Lao vừa cao vừa thấp,
Đi lấp tấp vấp cảy ( sưng) chân
(Tập 1, trang 147)
Thiên nhiên luôn bạc bẽo và khe khắt đối với người dân xứ Nghệ Cảnhsống thiếu thốn lại dày vò Ngô khoai thay cơm là chủ yếu Cuộc sống của ngườidân thật gian khó:
Muốn ăn cơm hẩm mắm troi,
Thì về Kẻ Sáo, Kẻ Ngòi mà ăn
Trang 12Bây giờ đi nước mỏi vai,
Mai sau đi hán, đi hài mỏi chân
(Tập 1, trang 133)
Hậu Luật là đất đồng chiêm,
Lấy dao bổ củi lấy liềm bổ cau
Ai lên bãi Sởi mà coi,
Thừa tiền tậu ruộng, thừa soi đúc bù
(Tập 1, trang 1780
Ai xuôi, ai lên, ai về… hình như ở mỗi vùng quê, bà con xứ Nghệ cũngđều tự hào về sản vật đặc biệt hoặc sự giàu có của làng mình,vùng mình với mộtgiọng yêu mến thiết tha
Nếu như trong ca dao người Việt, hoa là biểu tượng xuất hiện trong nhiềubài ca dao thì trong ca dao xứ Nghệ hoa cũng là biểu tượng đáng chú ý Không ítbài ca dao xứ Nghệ dùng hoa để nói về người con gái đẹp.Vì sắc đẹp của ngườicon gái bao nhiêu chàng trai phải ngẩn ngơ, say đắm, si mê và rồi cả thất vọng:
Hoa hỡ hoa hời
Hoa thơm chi lắm cho ta miệt mà
Trang 13Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,
Non xanh nức biếc như tranh họa đồ
(Tập 1, trang 129)
Dẫu chịu muôn vàn gian khổ bởi thiên nhiên khe khắt, bởi đói kém liênmiên nhưng bà con xứ Nghệ không khoanh tay, bao thế kỷ ròng rã đã khai khẩncày bừa làm cho đất đai thành thuộc, xóm làng trù mật không kém bất cứ mộtnơi nào trên bản đồ của Tổ quốc, ta không khỏi cảm phục cánh tay gân guốc củacon người xứ Nghệ Trên quê hương xứ Nghệ, ở đâu bà con cũng tự hào về sảnvật dặc biệt hoặc sự giàu có của làng mình, vùng mình với một giọng yêu mếnthiết tha:
Đâu vui bằng đất Văn Thai,
Trên thì đường cái, dưới hai dãy thuyền
(Tập 1,trang133)
Giàu như Cồn Đống nhiều gà,
Sang như Thổ Hậu lắm cà lắm rau
(Tập 1, trang 150)
Ai qua Phượng Kỷ, Tràng Sơn
Gạch vôi nghề cũ đâu hơn chốn này
Trang 14lĩnh vững vàng trong cuộc sống, đã thường xuyên vật lộn với cõi thiên nhiênkhô cằn khắc nghiệt, hun đúc con người xứ Nghệ trở nên cứng cỏi, gang thép.
2.2 Đề tài tình yêu nam nữ
Thể hiện tính cách, tình cảm của con người xứ Nghệ rõ ràng và đầy đủ là
ở bộ phận ca dao về tình yêu đôi lứa, về hôn nhân và gia đình.Trong đề tài tìnhyêu nam nữ, ta thấy mọi cung bậc cũng như mọi mức độ của tình yêu đôi lứađược thể hiện qua 150 ẩn dụ và 230 bài sử dụng phép so sánh trong 1.894 bài cadao về tình yêu nam nữ trong kho tàng ca dao xứ Nghệ
Ẩn dụ là nhu cầu tự thân của ca dao, ở đây ta bắt gặp những lời ướm hỏitình tứ, những câu trao duyên tế nhị, những lời xe kết thiết tha, những nỗi muộnphiền tủi nhục, những số phận cay đắng, những cuộc tình trái ngang do nhiềunguyên nhân như bị ép buộc, nghèo, dở dang…Tất cả các cung bậc tình cảm,các trạng thái nhớ thương, chờ đợi, nôn nao, khắc khoải nhưng cũng hết sức lànhmạnh, trong sáng của con người xứ Nghệ được thể hiện khá rõ ràng:
Chăn kia nửa đắp nửa hờ,
Gối kia nửa đợi nửa chờ duyên em
( Tập 1, trang 259)
Ở câu ca dao trên, chăn gối cũng biết đợi chờ, nhớ nhung, hẹn ước nhưcon người vậy Chăn, gối là những đồ vật hết sức gần gũi với con người nhưng ởđây chăn là nửa đắp nửa hờ còn gối là nửa đợi nửa chờ thể hiện trạng thái, tâmtrạng của con người Ẩn dụ chăn gối nửa đợi nửa chờ chính là tâm trạng củachàng trai đang yêu khao khát chờ đợi tình yêu được đền đáp Tình yêu củachàng trai hết sức mãnh liệt, khắc khoải nhưng cũng tràn đầy hi vọng
Hay trong câu ca dao:
Mận nhớ đào đứng ngồi say tỉnh,
Đào nhớ mận những ngóng cùng trông
Muốn cho đào mận vợ chồng,
Đào yêu mận nhớ não nùng thương thay
( Tập 1, trang 329)
Trang 15Nhớ, đứng, ngồi, say, tỉnh, ngóng cùng trông, yêu, nhớ não nùng…lànhững biểu hiện các cung bậc cảm xúc của trai gái yêu nhau Mận, đào là hailoài cây, hai thứ hoa của mùa xuân – mùa tươi mới nhất, mùa của lễ hội, mùacủa trai gái lứa đôi dập dìu Nếu trong ca dao người Việt, ẩn dụ mận - đào là lời
tỏ tình của chàng trai với cô gái thì trong ca dao xứ Nghệ, mận – đào thể mộtcung bậc khác của tình yêu đó là nỗi nhớ khắc khoải, cháy bỏng của người contrai và người con gái khi xa cách nhau trong tình yêu
Để thể hiện tính chất bấp bênh, không vững trong tình yêu đôi lứa ca dao
xứ Nghệ dùng những hình ảnh: “ đò trùng triềng”, “ thuyền lênh đênh”, “ đứngnúi này trông núi nọ”…
Cha mẹ cho em chiếc đò nghiêng
Đò trùng triềng đôi mạn em ôm duyên trở về
( Tập 1, trang 253)
Hình ảnh “ đò nghiêng”, “ đò trùng triềng” trung tâm ẩn dụ đặt trong cấutrúc ẩn dụ có sức khơi gợi trạng thái bấp bênh, không cân đối, chao đảo của đò.Trạng thái nghiêng, trùng triềng ấy có giá trị biểu hiện thật hợp logic, chính xác,tinh tế tình trạng bấp bênh, chao đảo, không vững vàng của tình duyên trục trặc.Phép ẩn dụ vừa tương đồng về nét nghĩa hình tượng, vừa giàu sức khơi gợi xúccảm buồn chán phiền muộn của cô gái
Để thể hiện nét nghĩa khập khiễng, không tương xứng trong tình yêu đôilứa các tác giả dân gian xứ Nghệ sử dụng những hình ảnh: “ trầu cay cuốngkhông cay”, “ dây ngắn chạc giếng sâu”, “ cá nhỏ đó thưa”, “ công vun vén câyhồng đực”, “ tuổi xuân không gặp hội hoa tàn gặp nhau”…
Trang 16Để thể hiện nét nghĩa không tương xứng về giá trị trong tình yêu đôi lứacác tác giả dân gian xứ Nghệ sử dụng những hình ảnh: “ Ngồi trên đống bạc cânlấy chì”, “ bèo sông bèo ao”, “ gạo giã ba lần, vo nước đục, vần than rơm”, “ cầuván cầu tre”, “ tiên sa vườn bầu”…
Mượn tên gọi của ngoại giới để biểu hiện những ý nghĩa xúc cảm của thếgiới nội tâm, người dân xứ Nghệ đã vật chất hóa, hình tượng hóa, tâm trạng hóanhững hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống xã hội môi trường nông nghiệp để thểhiện quan niệm về sắc thái, cung bậc tình cảm trong tình yêu
Trang 17duyên nhau thì làm” Điều tưởng cũ mòn nhàm chán ít sức gợi được chọn dùng,đặt đúng lúc đúng chỗ bỗng dậy lên một sức sống như sức sống của con tim yêuđương trong lồng ngực trẻ đập nhịp đập gấp gáp, háo hức, vồ vập và xiết bao dadiết, đó là giai điệu của tình yêu lửa cháy.
Còn đây là mối tình đang gặp trúc trắc, trục trặc:
Duyên kia đương trúc trắc,
Phận kia đương trục trặc
Bởi vì tại cành mai,
Sương sa giọt ngắn giọt dài,
Hai đứa kháp mặt nhau hoài mà nỏ cảm thương
( Tập 1, trang 270)
Chàng trai và cô gái đã từng thề non hẹn biển trao duyên gửi phận nhưngchẳng hiểu vì lí do nào đó, cô gái chê chàng trai nên lơ là tình cảm, nhạt nhẽo lờigắn bó, thề ước xưa kia làm cho tình duyên của hai người trở nên trúc trắc, trụctrặc Dư vị bài ca dao không ngọt ngào, đằm thắm, quấn quýt như những bài cadao về tình yêu ta từng biết mà quặn lại, xoắn lại đau nhói đến tận tâm can, nấclên trong cổ họng Tất cả điều đó được thể hiện thông qua ẩn dụ “ cành mai”trong bài ca dao
So với ca dao miền Bắc, ca dao xứ Nghệ không được nhuần nhị, duyêndáng, ý vị Nhưng mỗi chữ trong bài ca dao lại chắc nịch như đinh đóng cột,biểu thị thái độ dứt khoát, rõ ràng tạo cho người đọc một cảm hứng thẩm mĩriêng:
Anh thương em nỏ nói khi đầu
Bây giờ cưởi đã bá ngành dâu đi rồi
( Tập 1, trang 222)
Ân dụ “ cưởi đã bá ngành dâu” biểu thị người con gái đã có chồng giãibày với chàng trai ngỏ ý muốn yêu thương mình, bây giờ em đã có chồng rồi,phải phụ thuộc vào chồng không có sự lựa chọn nào nữa Cưởi là phát âm củacửi một loài thực vật không sống độc lập mà phải sống nhờ, sống dựa trên thân
Trang 18cây khác Ngành là từ biến âm địa phương của cành ( cành cây) mà cụ thể đây làcành dâu Ẩn dụ “ cưởi bá cành dâu” thật giản dị, dễ hiểu nhưng hết sức độcđáo, có vẻ như thô mộc nhưng mang tính hình tượng sâu sắc.
Quả đúng như vậy, các tác giả dân gian xứ Nghệ sáng tác ca dao, xâydựng các ẩn dụ một cách hồn nhiên, không cầu kì Họ tìm một cách nói giản dị,mộc mạc như chính suy nghĩ và chính cuộc sống của họ vậy
Ví von xuất hiện trong ca dao tình yêu đôi lứa xứ Nghệ rất nhiều (230bài / 1.894 bài) Có những bài ca dao ngắn sử dụng 3, 4 tỉ dụ liền
Mượn vật mẫu ví là những sự vật cụ thể, quen thuộc để diễn tả đời sốngnội tâm phong phú, sâu sắc, phức tạp với nhiều trạng thái, cung bậc khác nhau…phép so sánh ( ví von) là một phương tiện sắc bén để khám phá, nhận thức, biểuhiện đời sống tinh thần tình yêu đôi lứa:
Chẳng hạn:
Em như hoa nở trên cành
Anh như con bướm lượn vành khát khao
( Tập 1, trang 298)
Tình anh em được ví với “ bướm hoa”, chọn hình ảnh hoa nở trên cành vívới em như khơi gợi bao hương sắc, bao sức sống đầy hấp dẫn khêu gợi…Tương xứng với sức quyến rũ của hoa là hình ảnh bướm được chọn ví như anh
Trang 19đang lượn vành khát khao: hình ảnh sống động, tiêu biểu gợi tả cả nỗi đam mê,đắm say một cách tự nhiên với cả niềm khát khao đến cuồng nhiệt Vật mẫu vívừa quen thuộc, gần gũi với tâm thức người dân xứ Nghệ vừa giàu sức gợi hình
và biểu cảm có tác động mạnh đến những mơ ước thầm kín của tuổi trẻ trongmùa tình ái ngọt ngào
Đôi ta như giấy trắng cả tờ
Đừng nghi mà tội đừng ngờ mà oan
( Tập 1, trang 286)
Vật mẫu ví “ giấy trắng cả tờ” vừa gợi tả tâm hồn, tình yêu, tấm lòngtrắng trinh tuyệt đối, chưa hề vấy bẩn dù là một chút, vừa rưng rưng xúc động đềcao tình yêu trong trắng trọn vẹn vô ngần Đó là phẩm giá là linh hồn và giá trịcủa tình yêu đích thực Hình ảnh ấy là biểu trưng vẻ đẹp tâm hồn cao khiết, tìnhyêu thánh thiện, nên có sức lay gọi đối với bạn tình ( Mình em như tấm lụa đào– dám đâu xé lẻ vuông nào cho ai)
Người Nghệ cũng sử dụng những vật mẫu ví người yêu như “ hoa tàn nhịrơi”, “ bí cắt non”, “ bèo dạt sóng”, “ rau muống vượt bờ héo khô”, rồi nỗi nhớ “như cau đổ bão, vờ đưa ma”:
Trang 20Những sắc thái, cung bậc trong tình yêu được thể hiện qua nhiều lối ví von:Thương ai rồi lại nhớ ai
Mặt buồn rười rượi như khoai mới trồng
( Tập 1, trang 412)
Lựa chọn sử dụng hình ảnh “ khoai mới trồng” gợi tả sự héo úa, vàng vọtvừa bị cắt đứt khỏi gốc rễ, lìa khỏi thân, rũ rượi có tác dụng khắc họa một cáchsinh động, điển hình khuôn mặt tiều tụy buồn rầu của chủ thể khi xa vắngthương nhớ bạn tình…Hình ảnh “ khoai mới trồng” đã dồn nén nỗi sầu héo, xót
xa thiếu sức sống của người tương tư đồng thời bộc lộ khát vọng cháy bỏngmuốn gặp gỡ bạn tình…
Anh nói với em như nứa chẻ hai
Em nói với anh như bó giang riết chặt, giừ biết lấy ai chuyện trò
( Tập 1, trang 222)
Hình ảnh ví “ nứa chẻ hai” gợi tả sự tách bạch, sáng rõ, dứt khoát như ýnguyện, tình cảm của anh cũng sáng tỏ, dễ hiểu, thuận chiều như việc chẻ nứavậy Hình ảnh “ em nói với anh như bó giang riết chặt” gợi tả tính chất chặt chẽ,chắc chắn không thể lỏng lơi được ví như tình cảm và ý nguyện của em cũngtròn trịa, trọn vẹn, chắc chắn như vậy
Mình em như giấy trắng cả tờ
Lòng son một mực đợi chờ bút nghiên
( Tập 1, trang 340)
Hình ảnh ví em như “ giấy trắng cả tờ”, “ lòng son” là hình ảnh đẹp dung
dị , gần gũi, dễ hiểu vừa cụ thể vừa biểu trưng “ Lòng son” là tình cảm, tâm hồntrinh trắng như giấy trắng cả tờ, còn trinh nguyên chưa hề vướng bẩn Dựa vào
sự tương đồng về màu sắc, phẩm chất trắng trong tinh khiết giữa tâm hồn trinh
nữ chưa vướng bụi trần với tờ giấy trắng phau để dựng lên một vật mẫu ví thậtchính xác, hợp lí vừa vật chất hóa vẻ đẹp trong trắng trong tình cảm, vừa bộc lộmột nềm tự hào, tự tôn về phẩm chất “ giá sạch tuyết trong” của mình vừa thểhiện tấm lòng mong ước thiêng liêng, chờ mong đón nhận sự trao gửi, ban tặnghạnh phúc ở phía bạn tình…
Trang 21Qua phép so sánh trong ca dao tình yêu đôi lứa xứ Nghệ ta thấy vật mẫu
ví là những hình ảnh quen thuộc trong thế giới tự nhiên, vật thể nhân tạo nhưnhững dòng sông, con đò, bến nước, những gió trăng, mây núi, những ongbướm, cá chim, những dâu tằm rồng rắn, những giang nứa, cau trầu, ao sen, đàoliễu… những ếch cày, bờ ruộng, những kim chỉ, dầu đèn, những khóa rương, bìasách, những bí bầu, bèo nước… tất cả những cảnh vật, đồ vật thân quen gần gũi
ấy đều được mượn để kí thác, chuyển tải câu chuyện tình mộc mạc, bình dị, hồnnhiên rất mực trong sáng của những chàng trai cô gái làng quê xứ Nghệ
2.3 Đề tài quan hệ gia đình và hôn nhân
Trong kho tàng ca dao xứ Nghệ, ở đề tài quan hệ gia đình và hôn nhân thể
tỉ được sử dụng khá nhiều với 75 ẩn dụ trong 457 bài ca dao và 68 bài sử dụngphép so sánh trong 457 bài ca dao
Các tác giả dân gian xứ Nghệ đã chọn những sự vật, hiện tượng gần gũi,thân thuộc trong khu vực địa phương để làm ẩn dụ trong ca dao:
Ai ơi đợi với tôi cùng,
Tôi còn gỡ mối tơ hồng chưa xong
( Tập 1, trang 443)
Nỗi nhớ khắc khoải của người con trai và người con gái khi yêu dành chonhau thật đúng là trăm mối tơ vò với nhiều cung bậc Tất cả những diễn biến nộitâm vừa mơ hồ, huyền ảo, vừa sâu kín tế nhị không dễ gì nhận ra đó lại được tácgiả dân gian nói bằng một sự vật cụ thể “ gỡ mối tơ hồng” Tình yêu lứa đôi làvấn đề tế nhị, trừu tượng, khó diễn đạt vì nó vô hình, vô ảnh nhưng dân gian đãdùng ẩn dụ mối tơ hồng để diễn tả, qua đó hình tượng nghệ thuật được xác lập
có một dáng vẻ cụ thể và một ý nghĩa sâu xa
Còn đây là tình cảnh bi đát, đáng thương của người con trai:
Bướm đừng lẻo đẻo theo hoa
Hoa kia cụp lại, bướm đà tính sao?
( Tập 1, trang 452)
Hoa cụp lại tức là hoa từ chối bướm là để nói người con gái từ chối tìnhyêu của người con trai Mượn hình ảnh bướm theo hoa để nói về tình cảm của
Trang 22người con trai dành cho người con gái nhưng không được đáp lại, tác giả dângian xứ Nghệ muốn thể hiện một trạng thái tình cảm khổ đau trong tình yêu.
Nếu như trong ca dao người Việt vườn đào tượng trưng cho tình yêu nam
nữ, cho những mối tình duyên của đôi lứa thì ca dao xứ Nghệ lại dùng biểutượng vườn xuân với cách nói đầy vẻ tiếc nuối:
Đi qua ướm hỏi vườn đào,
Vườn xuân trong ấy ai vào hay chưa?
Trách tình những kẻ đi trưa,
Vườn xuân đã chật lưa đâu mà ngồi
( Tập 1, trang 470)
Trong ca dao ở đề tài quan hệ gia đình và hôn nhân các tác giả dân gian
xứ Nghệ thường sử dụng loại ẩn dụ ngụ ngôn để tập trung phê phán những thóixấu của con người trong đời sống Đó là thái độ thiếu đứng đắn, thiếu nghiêmtúc trong tình yêu của chàng trai, vì quá tham lam, ích kỷ nên phải chịu kết cục
bi đát đáng chê cười:
Một bầy cá lội sông sâu,
Anh ngồi híp mắt buông câu ngồi chờ
Anh câu con diếc, anh tiếc con rô,
Anh câu con cá gáy, anh dò con trê
Quá trưa mặt mày ủ ê,
Vì chưng tham quá nên về giỏ không
( Tập 1, trang 486)
Để nói về tình cảm gia đình gắn bó, hôn nhân mặn nồng ca dao xứ Nghệ
sử dụng hình ảnh bướm ong sum họp, phượng hoàng sánh đôi:
Từ ngày thiếp bén duyên chàng,
Bướm ong sum họp, phượng hoàng sánh đôi
( Tập 1, trang 498)
Nhưng khi tình cảm không gắn bó, hôn nhân không thành thì ca dao xứNghệ lại thể hiện ở nhiều góc cạnh với nhiều lí do khác nhau: