ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu là tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Sóc Trăng dựa trên những tiềm năng, hiện trạng đã tồn tại và phát triển ở
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ-DU LỊCH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ-DU LỊCH
-o0o -
DƯƠNG THỊ MỸ HẠNH MSSV: 6106668
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA
Trang 3Lời Cảm Ơn
Luận văn tốt nghiệp là bước cuối cùng đánh dấu sự trưởng thành của một sinh viên ở giảng đường đại học Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp của mình, em có dịp vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế và rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu để áp dụng cho công việc của mình sau này, đó cũng là nhờ sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, các bạn cùng những người thân trong gia đình
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban chủ nhiệm bộ môn Lịch Sử – Địa Lý – Du Lịch, khoa Khoa Học Xã Hội
& Nhân Văn, trường Đại Học Cần Thơ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để em thực hiện luận văn Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn đến cô Trần Thị Hoàng Anh, người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình trong suốt khoảng thời gian qua
Em xin chân thành gởi lời cảm ơn đến quý ban giám đốc cùng toàn thể cô chú, anh chị trong Sở Văn Hóa – Thể Thao – Du Lịch tỉnh Sóc Trăng, thư viện Thành Phố Cần Thơ, trung tâm học liệu Đại Học Cần Thơ, các cô chú quản lý ở các trụ sở xã, huyện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho quá trình thu thập tài liệu, thông tin có liên quan đến đề tài của mình
Em cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến với gia đình, người thân và bạn bè, đã động viên, ủng hộ em trong những lúc khó khăn, căng thẳng nhất
Do giới hạn về thời gian cũng như kiến thức hạn hẹp của mình, vì thế trong quá trình hoàn thành luận văn của mình em không thể tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết Rất mong sự đóng góp ý kiến chân thành từ phía quý thầy cô cùng toàn thể các bạn để khóa luận của em hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn Chúc tất cả mọi người sức khỏe và thành đạt
Cần Thơ, ngày… tháng…năm 2013
Dương Thị Mỹ Hạnh
Trang 4MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu ăn mặc, nghỉ ngơi và vui chơi giải trí của con người ngày một đòi hỏi ở mức độ cao hơn, chính vì thế du lịch ra đời nhằm đáp ứng cho con người những nhu cầu thiết yếu đó Du lịch phát triển dựa trên nhiều yếu
tố, bao gồm tài nguyên du lịch, khách du lịch, cơ sở vật chất kĩ thuật, sản phẩm du lịch và
thị trường du lịch
Văn hóa đặc trưng của từng vùng miền là một trong những yếu tố hàng đầu quyết định sự thu hút du khách cũng như quá trình phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng Việt Nam ta có 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó mỗi dân tộc lại mang những bản sắc văn hóa riêng, thể hiện ở nếp sống, tín ngưỡng, lễ hội, trang phục, hay những làng nghề truyền thống, điều này tạo nên nét đặc trưng riêng của mỗi dân tộc, mỗi vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam
Sóc Trăng cũng là một trong những tỉnh thành may mắn có những nét văn hóa đặc trưng tiêu biểu cho vùng ĐBSCL Sóc Trăng có hệ thống chùa chiềng độc đáo và đặc sắc không chỉ tiêu biểu cho lối kiến trúc như chùa Dơi, chùa Chén Kiểu, chùa Đất Sét, chùa Khleang, chùa Bốn Mặt; mà còn có các lễ hội văn hóa truyền thống như lễ Ok Om Bok,
lễ hội Chol Chnam Thmay, lễ Dolta; các làng nghề truyền thống nổi tiếng như làng đan đát Phú Tân, làng nghề dệt chiếu, làng nghề làm bánh pía Vũng Thơm Bên cạnh đó, Sóc Trăng có những tấm gương anh hùng có những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước như: anh hùng Thiều Văn Chỏi, nhà bác học Lương Định Của,… Chính từ sự đa dạng về các loại hình văn hóa đã tạo nên những nét phong phú về các sản phẩm du lịch văn hóa, góp phần mang lại cho khách du lịch những trãi nghiệm thú vị và hấp dẫn
Hiện nay việc khôi phục, củng cố, và phát triển các cơ sở văn hóa, giá trị truyền thống dân tộc tại địa bàn tỉnh Sóc Trăng là việc làm rất cần thiết, góp phần thúc đẩy, từng bước hoàn thiện khả năng đáp ứng du lịch, đồng thời cũng góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, bên cạnh đó tôn vinh nét đẹp văn hóa truyền thống, nhằm quảng bá, giới thiệu hình ảnh vùng đất và con người Sóc Trăng
Xuất phát từ những thực trạng trên đây tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng” nhằm mục đích tìm hiểu sâu
hơn về những điều kiện, cơ sở phát triển cũng như những thực trạng tồn tại của du lịch
Trang 5văn hóa trong sự phát triển du lịch chung của tỉnh, đồng thời thông qua đó đưa ra những
đề xuất nhằm hướng tới những giải pháp và phương hướng giúp mang lại hiệu quả cao cho nền du lịch văn hóa của tỉnh nhà trong việc khai thác tiềm năng du lịch hiện có của mình
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài nhằm mục đích phân tích và đánh giá tiềm năng, thực trạng phát triển của
du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng trong sự phát triển du lịch nói chung của tỉnh, đồng thời thông qua đó, đưa ra những định hướng phát triển phù hợp cùng một số giải pháp nhằm phát huy những tiềm năng sẵn có, góp phần vào quá trình phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch nói chung của tỉnh Sóc Trăng
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Sóc Trăng dựa trên những tiềm năng, hiện trạng đã tồn tại và phát triển ở các huyện trong địa bàn tỉnh, với xu hướng hội nhập và kinh tế phát triển như hiện nay thì việc nghiên cứu
về du lịch văn hóa là rất hết sức cần thiết, điều đó mang lại những kết quả to lớn trong quá trình định hướng những giải pháp phù hợp, khai thác du lịch văn hóa một cách có hiệu quả, đồng thời qua đó quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa, nâng cao giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương
4 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Du lịch văn hóa ở Việt Nam có tiềm năng phát triển khá lớn Với bề dày lịch sử hơn 300 năm, Đồng bằng sông Cửu Long là nơi giao thoa văn hóa của 4 dân tộc Việt- Hoa- Khơmer- Chăm, chính vì thế từ những nếp sống bình thường, giản dị nhưng lại chứa đựng những giá trị nhân văn vô cùng đặc sắc, điều đó thể hiện qua phong tục tập quán, đời sống văn hóa, nghệ thuật, trong việc thờ cúng, tế lễ, ẩm thực, sản xuất, kiến trúc nhà ở Trong đó phải kể đến có vô số những giá trị truyền thống thuộc về văn hóa, bao gồm cả về vật thể lẫn phi vật thể, dẫu trải qua nhiều thăng trầm nhưng vẫn hiện hữu
và phát triển đến ngày nay
Sóc Trăng cũng được xem là một tỉnh giàu tiềm năng về du lịch văn hóa, nhưng thực tế việc nghiên cứu chuyên về mảng đề tài này còn khá là hạn chế, tiêu biểu có những
tác phẩm nghiên cứu như: “Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở tỉnh Sóc Trăng” (2002) của Trần Hồng Liên, “Di tích lịch sử Sóc Trăng” (2009) của nhiều tác giả, mới đây tác phẩm “Lịch sử địa phương Sóc Trăng” được phát hành (2012) nhằm làm cơ sở giảng
dạy cho các em học sinh cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông Ngoài ra các tài liệu
Trang 6có liên quan về văn hóa của tỉnh cũng được nhắc đến trong nhiều cuốn sách như: “Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long (1993) của Trường Lưu, “Non nước Việt Nam ( 2007) của Vũ Thế Bình, “Tuyến điểm du lịch Việt Nam” (2006) của Bùi Thị Hải Yến “Du lịch ba miền” của Bửu Ngôn và một số quyển sách khác
Chính vì vậy tôi chọn đề tài này nhằm góp phần vào sự nghiệp phát triển du lịch văn hóa nói riêng và du lịch nói chung của tỉnh Sóc Trăng Bên cạnh đó, thông qua quá trình nghiên cứu tôi có dịp vận dụng các kiến thức đã học trên giảng đường vào thực tế, tích lũy thêm kinh nghiệm cùng những bài học thực tiễn để phục vụ cho quá trình nghiên cứu và cả tương lai nghề nghiệp sau này
5 QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU
5.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Quan điểm này dựa trên sự tương quan, tác động qua lại với nhau giữa yếu tố lãnh thổ và vấn đề nghiên cứu, đòi hỏi phải khai thác chúng ở nhiều khía cạnh khác nhau để đi tới cái nhìn toàn diện và tổng quát Đối với du lịch văn hóa thì quan điểm này thể hiện ở
sự kết hợp những nét đặc trưng tiêu biểu của nền văn hóa đó, gắn liền với yếu tố dân cư, địa bàn cư trú, nơi tồn tại những giá trị văn hóa hiện hữu Chính vì thế để khai thác hiệu quả đề tài nghiên cứu về du lịch văn hóa của Sóc Trăng, tôi đã vận dụng quan điểm này
để xem xét, đồng thời đưa ra những phương hướng, giải pháp cho việc quy hoạch, phát triển du lịch văn hóa của tỉnh một cách hợp lí và hiệu quả
5.2 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Đối với bất kì một đối tượng của sự vật hiện tượng nào khi chúng ta muốn hiểu rõ tường tận về chúng thì việc nghiên cứu từ nguồn gốc, xuất xứ sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Vì thế quan điểm này giúp tôi có một cái nhìn toàn diện, tổng thể về đối tượng cần nghiên cứu thông qua quá trình hình thành và phát triển của nó, qua đó có một cách nhìn mới về định hướng tương lai, góp phần hoàn thiện cũng như củng cố du lịch văn hóa tỉnh Sóc Trăng
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp thu nhập và xử lý thông tin
Việc tìm tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu đòi hỏi người viết phải biết tổng hợp, lựa chọn và sáng tạo từ các nguồn tài liệu khác nhau như: sách, báo, Internet,… từ
đó thông qua những kiến thức có sẵn có cộng với quá trình tìm tòi và sáng tạo ta sẽ xử lý
Trang 7những thông tin đó thành những kiến thức cơ bản liên quan đến đề tài phục vụ cần thiết cho quá trình nghiên cứu
6.2 Phương pháp bản đồ
Để tăng khả năng tin cậy những thông tin đã thu thập, việc sử dụng phương pháp bản đồ là vận dụng những hình ảnh, sơ đồ cùng bản đồ minh họa đó vào quá trình nghiên cứu, giúp sản phẩm nghiên cứu thêm sinh động, cụ thể, từ đó nhìn nhận vấn đề một cách thấu đáo, mang tính khách quan, đúng đắn
6.3 Phương pháp khảo sát thực tế
Phương pháp này bắt buộc tôi phải trực tiếp đến tận địa bàn nghiên cứu nhằm thu thập thông tin cần thiết, góp phần khai thác một cách triệt để vấn đề nghiên cứu qua cái nhìn sinh động và thực tế
Trang 8Thuật ngữ “Tourism” (Du lịch) hiện nay trở nên rất thông dụng Thuật ngữ này bắt nguồn
từ tiếng Hy Lạp và trở thành một từ trong tiếng Pháp “Tour”, có ý nghĩa là đi vòng quanh, đi dạo chơi… Trong tiếng Việt “Du lịch” là một từ Hán Việt, “Du” tức là du khảo,
du ngoạn: “Lịch” là một hành trình
Được thành lập tại Hà Lan từ năm 1925, Hiệp Hội các tổ chức du lịch quốc tế (
IUOTO – International of Union Official Travel Organization), từ hàng thập kỷ qua, khái niệm du lịch vẫn luôn là đề tài mang lại nhiều ý kiến và được các nhà nghiên cứu tranh luận
Theo luật du lịch Việt Nam ( 2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến
chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghĩ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Theo I.I.Pirojnic (1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời
gian rãnh rổi lien quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích nghĩ ngơi, giải trí, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa”
Tại Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch diễn ra ở Canada (1991) đã đưa ra
định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài nơi ở thường xuyên của mình trong một khoảng thời gian được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động để kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”
Trang 9Xét ở nhiều khía cạnh khác nhau thì du lịch vừa là một dạng hoạt động của con người lại vừa là một nghành kinh tế, người ta thường ví ngành du lịch là “con gà đẻ trứng vàng” Nguồn khách du lịch tăng lên theo thời gian, đồng nghĩa với doanh thu mang lại
từ du lịch cũng tăng theo, chính vì lẽ đó, ngành kinh tế du lịch đã hình thành và phát triển ngày một mạnh mẽ hơn với nhiều cách thức và loại hình đa dạng, phong phú
Đứng trên góc độ kinh tế du lịch được định nghĩa như sau: “Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp bao gồm các hoạt động: tổ chức, hướng dẫn du lịch: sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch”
Trong quá trình hoạt động du lịch các chủ thể có tác động qua lại lẫn nhau, trong
đó, khách du lịch được đóng vai trò trung tâm của toàn bộ hoạt động du lịch
Có thể biểu diễn công thức về du lịch như sau:
Du lịch = Đi lại + Lưu trú, nghĩ ngơi + Vui chơi, giải trí+ Tham quan, tìm hiểu
Tổng hợp từ những góc độ nêu trên, có thể định nghĩa về du lịch theo Tổ chức du lịch thế giới WTO (1994): “Du lịch là một tập hợp các hoạt động và du lịch đa dạng, liên
quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích giải trí, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức… Và nhìn chung là vì những lí do không phải để kiếm sống”
1.1.1.2 Phân loại du lịch
Hoạt động du lịch là lĩnh vực rất đa dạng và phức tạp Để phân du lịch thành những nhóm khác nhau, các nhà nghiên cứu du lịch ở Việt Nam dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau
Sau đây là một số cách phân loại du lịch:
Theo mục đích chuyến đi
Trang 11trong nền kinh tế của nhiều nước cũng như nền kinh tế toàn cầu
Du lịch mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều quốc gia Ở các nước du lịch phát triển thì nguồn ngoại tệ mà du lịch mang lại chiếm tới 20% hoặc cao hơn trong tổng nguồn thu nhập ngoại tệ của quốc gia đó
Bên cạnh đó, nhu cầu du lịch ngày càng đa dạng cũng góp phần hình thành những dịch vụ du lịch mới mẻ, góp phần khai thác các giá trị văn hóa tinh thần, và khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên vào sự phát triển kinh tế
Chức năng sinh thái
Du lịch có sự gắn bó và liên hệ mật thiết với môi trường xung quanh nó, thông qua các hoạt động du lịch mà con người trở nên yêu thiên nhiên và có ý thức hơn trong việc bảo tồn và sử dụng nó
Ngày nay việc giáo dục bảo vệ môi trường sinh thái được đưa vào du lịch góp phần đưa du lịch đến gần hơn với môi trường, việc tiếp xúc với thiên nhiên hùng vĩ, bao
la và thơ mộng, tâm lý con người trở nên thoải mái, dễ chịu và hoàn toàn cân bằng, trong khi phải thường xuyên làm việc và sinh sống ở thành thị, tiếp xúc với môi trường luôn bị khói bụi và tiếng ồn ô nhiễm Chính từ những trãi nghiệm này, họ thấy được môi trường
Trang 12thật sự có một ảnh hưởng rất lớn đến chuyến du lịch mà họ đang hưởng thụ Điều đó góp phần củng cố và nâng cao tình yêu thiên nhiên và ý thức giữ gìn môi trường tự nhiên ấy
Chức năng văn hóa – chính trị - xã hội
Đối với nhu cầu xã hội ngày một nâng cao thì những đòi hỏi trong hoạt động du lịch cũng không ngừng tăng lên, du lịch không chỉ góp phần thỏa mãn nhu cầu của con người, mà thông qua đó còn nâng cao nhận thức, mở rộng tầm hiều biết về nhiều lĩnh vực cho người dân
Sức khỏe là một vấn đề đáng quan tâm, trong khi đó, du lịch chẳng những giúp nâng cao sức khỏe, hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, mà còn có thể nâng cao thể lực và khả năng lao động Theo các nghiên cứu về sinh học cho thấy, nhờ chế độ nghỉ ngơi và
du lịch hợp lí mà bệnh tật của dân cư giảm trung bình 30%, bệnh về hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%, bệnh tiêu hóa giảm 20% (Crivôsep, Dorin 1981) Như vậy du lịch góp phần đáng kể các chi phí của xã hội trong việc khám và chữa bệnh, nâng cao số ngày làm việc và năng suất lao dộng xã hội
Đối với sự đoàn kết hữu nghị giữa các quốc gia thì du lịch lại đóng vai trò như chất xúc tác giúp tăng cường giao lưu, mở rộng quan hệ xã hội
Du lịch góp phần tuyên truyền và thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của đảng và nhà nước Qua các chuyến tham quan du lịch đến Việt Nam, khách nước ngoài sẽ trực tiếp chững kiến những thành tựu của đất nước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao
Du lịch cũng góp phần giáo dục lòng yêu nước, ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc Khi người Việt Nam đi du lịch khách nước ngoài chúng ta có dịp so sánh
và thấy được những ưu điểm và nhược điểm của đất nước mình so với quốc gia khác Như vậy, lòng yêu nước sẽ có cơ sở vững chắc hơn Mặt khác, mỗi khi đi xa người ta thường có tình cảm sâu đậm hơn với những gì mà thường ngày chúng ta thường thấy quá quen thuộc và quá gần gũi
Du lịch còn là nhân tố rất quan trọng góp phần củng cố hòa bình thế giới Vào năm
1967, WTO đã lấy chủ đề cho năm năm lịch là: “Du lịch là giấy thông hành của hòa bình”
Trang 131.1.2 Khái niệm, phân loại, vai trò tài nguyên của du lịch
1.1.2.1 Khái niệm tài nguyên du lịch
Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự
nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch , là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): “Tài nguyên du lịch là cảnh quan tự nhiên,
yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản
để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”
Có nhiều định nghĩa về tài nguyên du lịch, nhưng nhìn chung lại tất cả đều phản ánh đến mức cụ thể những giá trị mang cả yếu tố tự nhiên lẫn nhân tạo có khả năng khai thác vào du lịch
1.1.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch
a Tài nguyên du lịch tự nhiên
Địa hình: là những đặc điểm bên ngoài của bề mặt đất Địa hình biểu hiện bằng
các yếu tố như độ cao, độ dốc, trạng thái,… Người ta thường chia tổng quát địa hình thành ba dạng: miền núi, đồng bằng, biển và bờ biển
Địa hình miền núi thường rất đa dạng và có khả năng thu hút khách du lịch Có rất nhiều loại hình du lịch ở miền núi: du lịch thám hiểm, du lịch sinh thái, săn bắn, leo núi
và thể thao, du lịch mạo hiểm,… Địa hình núi thường có rừng, thác nước và hang động,…Vì vậy, miền núi có nhiều hướng phát triển du lịch
Địa hình biển và bờ biển có khả năng khai thác du lịch khá thuận lợi, nhất là du lịch biển: tắm biển, nghĩ biển, du tuỳen ra đảo, lăn biển và các loại hình du lịch thể thao Ngoài ra, biển có nhiều hải đảo nên khả năng khai thác rất đa dạng
Địa hình đồng bằng thường đơn điệu nên ít có khả năng trực tiếp phát triển du lịch Tuy nhiên đồng bằng thường là nơi tập trung sinh sống nên cũng có khả năng phát triển du lịch
Khí hậu: có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống con người Trước hết, trạng thái
của cơ thể con người gắn liền với các chỉ số sinh khí hậu, nhất là nhiệt độ và độ ẩm,
Trang 14những nơi có khí hậu thích hợp thì thuận lợi để phát triển du lịch nghĩ dưỡng Ví dụ ở Việt Nam, Sapa và Đà Lạt là hai điểm du lịch rất nổi tiếng
Khí hậu còn tạo ra nhịp điệu mùa của du lịch Thường thì mùa hè là mùa du lịch của các vùng bãi biển nhiệt đới mùa đông lại là mùa của các điểm du lịch thể thao ở các vùng ôn đới
Nước: có vai trò rất quan trọng đối với con người Du lịch đòi hỏi phải đảm bảo
cung cấp nước cho du khách Nước còn là môi trường có nhiều loại hình hoạt động du lịch: tắm, bơi lặn, du thuyền, lướt ván, câu cá, tham quan đáy biển…
Các hồ nước, thác nước, sông suối,… cũng là những yếu tố có giá trị nhiều mặt đối với
du lịch
Nguồn nước khoáng còn là tiềm năng để hình thành các khu du lịch nghĩ dưỡng Trên thế giới có nhiều điểm du lịch về nước khoáng
Tài nguyên sinh vật: cũng có giá trị du lịch rất to lớn Các vườn quốc gia, khu
bảo tồn thiên nhiên… là những nơi còn tồn tại nhiều loài động – thực vật nguyên sinh rất thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch sinh thái, tham quan nghiên cứu
b Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn được định nghĩa ngắn gọn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra Bao gồm tài nguyên vật thể và phi vật thể, tồn tại song song
và có mối quan hệ mật thiết với nhau
Di tích lịch sử văn hóa: là những gì tồn tại trong quá khứ Di tích được chia làm 4
Lễ hội: là những hình thức sinh hoạt của cộng đồng của dân cư Lễ hội tuy có
nhiều dạng nhưng thường bao gồm hai phần liên quan mật thiết với nhau Lễ hôi có sức hấp dẫn du lịch rất cao, bởi vậy người ta thường ví von lễ hội như một bảo tàng sống của
Trang 15cộng đồng điều đặc biệt ở lễ hội là du khách có thể hòa quyện vào không khí sôi động của phần lễ hội để chính mình cảm nhận chúng một cách chân thực nhất
Làng nghề thủ công: là những loại hình hoạt động kinh tế xã hội rất đa đạng, ở
nhiều lĩnh vực khác nhau vì thế cũng tạo ra nhưng sản phẩm hết sức phong phú tạo nên
sự hấp dẫn du lịch
Các đặc trưng văn hóa dân tộc: thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, như trang
phục, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, thói quen sinh hoạt kinh tế, văn hóa nghệ thuật,… chính từ đặc điểm này mà du lịch cũng rất thu hút
Sự kiện văn hóa – thể thao: các yếu tố cơ bản sau đây là những thể hiện:
Các hội chợ triễn lãm: Các hội chợ triễn lãm diễn ra rất đa dạng về loại hình và quy mô Nó tạo ra khả năng thu hút nhiều đối tượng khác nhau đến để mua sắm, tham quan, chia sẻ hoặc tìm kiếm cơ hội kinh doanh Trên thế giới hiện nay có rất nhiều loại lễ hội kết hợp với hình thức triển lãm nhằm mục đích quảng bá thương hiệu và du lịch lễ hội bia, lễ hội trái cây, lễ hội sôcôla, lễ hội hoa…
Các cuộc thi đấu thể thao, liên hoan âm nhạc, thi hoa hậu,… cũng là những yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự thu hút du lịch
Ngoài ra còn một số nhân tố khác cũng nằm trong nhóm tài nguyên du lịch nhân văn đó là:
- Bảo tàng: nơi đây được xem là những điểm tham qua rất có giá trị nhân văn, giúp cho du khách tìm hiểu về di tích, con người, sự kiện lịch sử, với nhứng chủ đề khá là tập trung và hấp dẫn du khách
- Công trình kiến trúc và các sản phẩm kinh tế: là những công trình do con người tạo ra với tầm cỡ vĩ mô, hoặc một sản phẩm kinh tế đặc trưng cho một vùng đất, một quốc gia, hay một khu vực Ví dụ: các cầu lớn, nhà hát, tháp, nhà máy thủy điện, các đập và hồ nước nhân tạo, các sản phẩm kinh tế khác
- Các giá trị văn hóa nghệ thuật, ẩm thực
1.1.2.3 Vai trò của tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch được xem là một yếu tố cơ bản để tạo nên sản phẩm du lịch
Nó đóng vai trò quan trọng và góp phần quyết định sự phát triển của du lịch Hơn thế nữa, tài nguyên du lịch còn có mối quan hệ mật thiết với môi trường kinh tế xã hội và các
Trang 16phân hệ khác Chính vì sự đa dạng, phong phú của tài nguyên du lịch đã góp phần tạo nên
sự hấp dẫn và thu hút đối với du khách Tài nguyên du lịch là yếu tố quan trọng mang tính quyết định đến quy mô, số lượng, chất lượng sản phẩm du lịch và hiệu quả hoạt động của du lịch mang lại
Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch, với mục đích nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu của khách hàng chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy
sự tương tác và quan hệ chặc chẽ giữa các loại tài nguyên du lịch và các loại hình du lịch Tuy nhiên mỗi tài nguyên du lịch không phải chỉ phát triển được một loại hình du lịch,
mà trên thực tế ta thấy tài nguyên du lịch đóng vai trò là tiền đề để phát triển du lịch, còn việc phát triển loại hình du lịch nào lại thuộc về tính chiến lược và nghệ thuật kinh doanh
du lịch Ví dụ, tài nguyên du lịch biển đảo có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch nghĩ dưỡng, thể thao, tham quan, hay tổ chức các lễ hội, festival biển,…
Trong hệ thống lãnh thổ du lịch, tài nguyên du lịch là yếu tố quyết định, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tạo nên các khu du lịch, điểm du lịch, cụm du lịch, tuyến du lịch,
đô thị du lịch và vùng du lịch – tức là những biểu hiện của việc tổ chức các hoạt động du lịch theo lãnh thổ Có thể nói rằng mọi quá trình tổ chức lãnh thổ du lịch đều bắt đầu và kết thúc bằng tài nguyên du lịch
1.1.3 Môi trường du lịch
1.1.3.1 Khái niệm môi trường du lịch
Môi trường du lịch theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nhân tố về tự nhiên, kinh tế
xã hội và nhân văn trong đó các hoạt động du lịch tồn tại và phát triển Môi trường có mối quan hệ mật thiết đối với du lịch Các hoạt động nhằm phát triển du lịch làm thay đổi các đặc tính vốn có của môi trường
Việc khai thác tiềm năng du lịch luôn luôn gắn liền và đồng nghĩa với việc khai thác các tài nguyên rừng, núi, sông, biển,… và các giá trị văn hóa, nhân văn khác Ngày nay, việc đưa các công trình nhân tạo như công viên giải trí, nhà bảo tàng, làng văn hóa cũng được xem là cách tập hợp những đặc tính của môi trường tự nhiên vào các công trình này, trên mô hình của một hang động, một quả đồi, một khu rừng hay một khúc sông,…
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mà sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với môi trường, nên môi trường du lịch có tác động tương tác, qua lại với nhau Vì vậy muốn phát triển du lịch thì việc quan tâm đến môi trường du lịch là hết sức cần thiết
Trang 171.1.3.2 Phân loại môi trường du lịch
a Môi trường du lịch tự nhiên
Môi trường tự nhiên là nhân tố cấu thành nên môi trường tự nhiên nói chung, bao gồm tập hợp các môi trường tự nhiên sống (hữu cơ) và không sống (vô cơ); trong đó có những đối tượng tự nhiên bị con người tác động và những đối tượng tự nhiên chưa bị con người tác động đến, cãi tạo khác nhau, song vẫn bảo tồn được một phần hoặc toàn bộ các đặc tính tự phục hồi và phát triển
Đối với môi trường du lịch tự nhiên, các nhân tố chủ yếu cần được xem xét là: môi trường địa chất, môi trường địa chất, môi trường không khí, môi trường sinh học, các sự
cố môi trường Tất cả những yếu tố này có tác động trực tiếp đến quá trình tồn tại và phát triển của tài nguyên du lịch nói chung và tài nguyên du lịch văn hóa nói riêng
b Môi trường du lịch nhân văn
Môi trường kinh tế - xã hội: là một bộ phận của môi trường du lịch nhân văn,
môi trường kinh tế xã hội có phạm vi tác động khá lớn, bao gồm những yếu tố chính sau: thể chế chính sách, trình độ phát triển khoa học công nghệ, mức độ phát triển cơ sở hạ tầng, môi trường đô thị và công nghiệp, mức sống người dân, tổ chức xã hội và quản lý môi trường và yếu tố trật tự, an toàn xã hội
Môi trường văn hóa – nhân văn: nằm trong yếu tố cấu thành nên môi trường du
lịch nhân văn liên quan trực tiêp đến con người và cộng đồng, bao gồm các yếu tố dân
cư, dân tộc, truyền thống và quan hệ cộng đồng, trình độ văn minh, chất lượng cuộc sống dân cư
Sự phong phú và đa dạng về văn hóa, dân tộc của một quốc gia, một vùng lãnh thổ nào đó sẽ tạo được sự hấp dẫn và những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch
1.1.3.3 Vai trò của môi trường du lịch
Môi trường du lịch có vai trò quan trọng, góp phần rất lớn đến sự phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng Chính từ sự đa dạng về các dạng tài nguyên du lịch ở mỗi loại môi trường đã làm nên sự phong phú cho các loại hình du lịch để du khách lựa chọn, trong đó du lịch văn hóa là một mảng quan trọng và thu hút khá đông thị hiếu của du khách hiện nay
Môi trường du lịch là nhân tố quyết định sự hình thành, phát triển của các khu, điểm du lịch dựa trên những tài nguyên du lịch Trong đó, nhân tố con người, dân cư, dân
Trang 18tộc là những yếu tố nằm trong môi trường du lịch nhân văn, bên cạnh đó những yếu tố thuộc về tự nhiên như môi trường không khí, địa chất, địa mạo lại thuộc mảng môi trường du lịch tự nhiên Chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy và hỗ trợ nhau trong quá trình hình thành và phát triển du lịch
1.2 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA
1.2.1 Khái niệm văn hóa
Trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm định
nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác của con người và môi trường tự nhiên xã hội của mình”
Theo nhận định cuả chủ tịch Phạm Văn Đồng lại cho rằng: “Nói tới văn hóa là
nói tới lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại và phát triển”
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc
sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt
ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”
UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập
đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Từ những nhận định trên ta có thể thấy rằng văn hóa là những giá trị vật chất tinh thần được hình thành và sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người
1.2.2 Phân loại văn hóa
Theo UNESCO (1986) thì các loại văn hóa được phân theo các dạng như sau:
Loại 0: Di sản văn hóa: di tích lịch sử, di sản khai quật, bảo tàng, kỷ niệm
Loại 1: In ấn và văn học: sách, sách truyền, báo, tạp chí, thư viện
Trang 19Loại 2: Âm nhạc: lễ hội, nhạc sống, nhà hát, nhà kịch, múa, nghệ thuật biểu diễn khác, băng đĩa
Loại 3: Nghệ thuật biểu diễn: biểu diễn lễ hội, biểu diễn ca nhạc, kịch, múa,… Loại 4: Nghệ thuật hình tượng, tranh vẽ: tranh vẽ, tượng, sắp đặt, đồ thủ công Loại 5: Điện ảnh, chụp hình: ảnh chụp, ảnh nghệ thuật sáng tạo, các loại ảnh khác Loại 6: Phát thanh, truyền hình: truyền thanh, truyền hình
Loại 7: Các hoạt động văn hóa xã hội: các hoạt động liên kết, thói quen xã hội, … Loại 8: Thể thao, giải trí: các trò chơi thể thao, giải trí
Loại 9: Thiên nhiên và môi trường: tập quán canh tác trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, chất lượng cuộc sống
1.2.3 Vai trò của văn hóa
Chức năng giáo dục: là một trong những chức năng quan trọng, tác động một
cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực của xã hội tạo ra Do đó, văn hóa đóng vai trò quyết định tạo nên nhân cách con người
Chức năng nhận thức: là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn
hóa Đối với con người không có nhận thức thì không thể tạo ra một hành động văn hóa nào Nâng cao trình độ nhận thức của con người chính là phát huy những tiềm năng của con người
Chức năng thẩm mỹ: cùng với nhu cầu thiết yếu của con người, cảm nhận và
hưởng thụ cái đẹp, văn hóa còn đóng vai trò chủ thể để con người tiếp nhận, đồng thời thanh lọc mình vươn tới cái đẹp, khắc phục những cái xấu của mình, góp phần hoàn thiện bản thân
Chức năng giải trí: đây là một trong những chức năng được thể hiện rõ nét nhất
ngoài các hoạt động lao động, sáng tạo, con người còn có những nhu cầu giải trí khác như: tham gia câu lạc bộ, lễ hội, ca nhach, biểu diễn nghệ thuật,…
Trang 201.3 TỔNG QUAN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA
1.3.1 Mối tương quan giữa văn hóa và du lịch
1.3.1.1 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch
Du lịch và văn hóa là hai thực thể gắn bó mật thiết với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong hoạt động kinh doanh du lịch
Để phân biệt khái niệm Văn hóa du lịch và Du lịch văn hóa, chúng ta tạm chất nhận cách lí giải như sau:
Du lịch văn hóa: là loại hình mà điểm đến là các địa chỉ văn hóa, kiến trúc, các lễ hội truyền thống dân gian,…
Văn hóa du lịch được hiểu theo hai nghĩa:
Một là: cách ứng xử của cán bộ du lịch trong hoạt động du lịch
Hai là: trình độ thao tác nghiệp vụ phục vụ trong du lịch
Văn hóa có vai trò to lớn trong việc đào tạo cũng như phát triển các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch đặc trưng phục vụ nhu cầu du khách
1.3.1.2 Khái niệm về văn hóa du lịch và du lịch văn hóa
a Văn hóa du lịch
Văn hóa là du lịch là một khoa học nghiên cứu về những phương thức khai thác các giá trị văn hóa phục vụ cho du lịch Có thể hiểu rằng, văn hóa du lịch chuyên nghiên cứu về những di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, lễ hội truyền thống, phong tục tập quán, ẩm thực từ góc độ du lịch Nhằm biến những giá trị này thành những phương
thức khai thác vào kinh doanh du lịch
Theo tiến sĩ Trần Nhoãn: “Văn hóa du lịch là một khoa học nhằm nghiên cứu mọi
giá trị từ các loại hình văn hóa khác nhau, đồng thời tìm công nghệ khai thác tối ưu để phát triển du lịch”
Văn hóa du lịch là sự kết hợp giữa hai yếu tố là văn hóa và du lịch, là kết quả tinh thần và vật chất do tác động tương hỗ lẫn nhau giữa ba loại:
Nhu cầu văn hóa và tình cảm tinh thần của chủ thể du lịch (khách du lịch)
Nội dung và giá trị văn hóa của khách thể du lịch (tài nguyên du lịch)
Trang 21 Ý thức và tố chất văn hóa của người môi giới phục vụ du lịch (hướng dẫn viên, thuyết minh viên)
Nếu thiếu đi một trong ba yếu tố này đều không thể tạo ra văn hóa du lịch Văn hóa du lịch là một phạm trù rộng, thể hiện những giá trị văn hóa của toàn bộ hoạt động du lịch Văn hóa du lịch tức là nội dung văn hóa do du lịch thể hiện ra, bao gồm văn hóa của
du khách và nhưng người làm công tác du lịch tích lũy nên và sáng tạo ra Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch cũng một phần tạo nên những nét đặc trưng văn hóa riêng biệt, giúp hình thành và tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc
Du lịch văn hóa còn là loại hình du lịch gắn liền với con người cũng như các giá trị truyền thống do con người sáng tạo ra Du lịch văn hóa bao hàm việc hòa nhập vào đời sống cộng đồng dân cư, tìm hiểu và hòa mình vào những phong tục tập quán, những truyền thống của các dân tộc, các địa phương
1.3.2 Đặc trưng loại hình du lịch văn hóa
Với tình hình nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu trì trệ, suy thoái, mặc dù vậy nhưng các hoạt động du lịch vẫn diễn ra hàng ngày nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách trong và ngoài nước Bên cạnh những loại hình du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh,
du lịch mạo hiểu, khám phá… du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm rất có lợi thế của những nước có nền kinh tế đang trên đà phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc
Trang 22khám phá những nét độc đáo của các dân tộc thì du lịch văn hóa là một lựa chọn thông minh và phù hợp với sở thích, niềm đam mê của họ
Du lịch văn hóa gắn liền với một địa phương, một vùng đất, hay một quốc gia, nơi lưu trữ những giá trị truyền thống, yếu tố văn hóa bản địa Khách du lịch ở các nước phát triển thường lựa chọn những thời điểm lễ hội truyền thống được tổ chức để thực hiện những chuyến tham quan của mình Chính vì thế thu hút khách tham quan du lịch chính
là tạo ra dòng chảy mới, cải thiện cuộc sống của người dân địa phương thông qua các sản phẩm của văn hóa lễ hội
Đồng thời thông qua các hoạt động du lịch văn hóa, lễ hội truyền thống được khôi phục, tổ chức một cách có nề nếp, lành mạnh, phát huy được giá trị vốn có của nó Ngày nay việc khôi phục những làng nghề truyền thống, sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ đang được sự quan tâm, đầu tư của nhà nước Từ những nguồn thu từ những sản phẩm này giúp cải thiện thu nhập của người dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo
Du lịch phát triển cũng tạo nên nhiều nguồn thu để tôn tạo, trùng tu các di tích, góp phần nâng cao ý thức người dân về trách nhiệm cảu mình trong việc giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa
1.3.3 Phân loại du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là xu hướng của các nước đang phát triển, chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, lễ hội truyền thống các dân tộc, hay phong tục và tín ngưỡng,… Sau đây là những loại hình du lịch văn hóa được nhiều quốc gia khai thác:
Nhóm 1: Du lịch văn hóa vùng di sản
Nhóm 2: Du lịch văn hóa thắng cảnh nhân văn
Nhóm 3: Du lịch văn hóa những điểm đen
Nhóm 4: Du lịch văn hóa công viên chuyên đề
Từ 4 nhóm cơ bản trên ta có các loại hình du lịch văn hóa tiêu biểu như sau:
Thứ nhất: Du lịch văn hóa cảm xúc
Thứ hai: Du lịch văn hóa sự kiện, lễ hội
Thứ ba: Du lịch văn hóa di sản
Trang 23 Thứ tư: Du lịch “ con đường văn hóa”
Thứ năm: Du lịch văn hóa hiện đại
Thứ sáu: Du lịch văn hóa nông thôn
Thứ bảy: Du lịch văn hóa nghệ thuật ăn ngon
Thứ tám: Du lịch văn hóa ngôn ngữ
Thứ chín: Du lịch làng nghề truyền thống
Chính sự đa dạng các loại hình du lịch văn hóa mà từ đó tạo ra sự thu hút đối với du khách Hình thức du lịch văn hóa làm thỏa mãn sở thích khám phá, nghiên cứu đối với đối tượng du khách quan tâm đến văn hóa, phong tục tập quán của các nước bản địa nơi
họ tham quan, nghiên cứu
1.3.4 Tài nguyên và môi trường du lịch để phát triển du lịch văn hóa
1.3.4.1 Tài nguyên du lịch nhân văn
Nếu xét theo một khía cạnh nào đó, có thể xem tài nguyên du lịch nhân văn như là tài nguyên du lịch văn hóa Tuy nhiên không phải sản phẩm văn hóa nào cũng đều là những tài nguyên du lịch nhân văn Chỉ những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục vụ
du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch nhân văn Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm là những sản phẩm văn hóa, chính vì thế nguông tài nguyên này rất phong phú và
đa dạng, chúng có thể phân thành các dạng chính như sau:
Các di tích lịch sử văn hóa
Các lễ hội
Nghề và làng nghề thủ công truyền thống
Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học
Nói một cách khác tài nguyên du lịch nhân văn chính là những giá trị văn hóa tiêu biểu của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Những giá trị văn hóa tiêu biểu này, đã góp phần rất lớn vào việc tạo ra các sản phẩm du lịch văn hóa đặc trưng cho một dân tộc, một địa phương nào đó
1.3.4.2 Môi trường du lịch nhân văn
Môi trường du lịch nhân văn được xem là đa dạng, có sức hấp dẫn khi trình độ văn minh và tri thức của cộng đồng dân cư không ngừng tăng lên Trên cơ sở khai thác những yếu tố thiêng về bản chất văn hóa bản địa, môi trường du lịch nhân văn tạo điều kiện cho
Trang 24du lịch văn hóa phát triển Góp phần khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch nhân văn tồn tại chính trong môi trường du lịch
1.3.4.3 Các nhân tố khác ảnh hưởng đến việc phát triển của Du lịch văn hóa
a Sản phẩm du lịch
Theo Luật Du lịch, “sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa
mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” Trên thực tế, hoạt động du lịch mang bản chất và nội dung văn hóa sâu sắc, đem đến cho du khách những sản phẩm chứa đựng các giá trị nhân văn đặc trưng của từng vùng miền, từng địa phương Chính vì thế sản phẩm du lịch ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển du lịch văn hóa nói riêng và với
du lịch nói chung
b Khách du lịch
Không chỉ thỏa mãn những nhu cầu sinh học, du khách còn mong muốn được thỏa mãn các nhu cầu văn hóa ngày càng cao Những nhu cầu này phụ thuộc nhiều vào các yếu tố quốc gia, dân tộc, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, vị trí xã hội, sức khỏe, khả năng tài chính và các yếu tố tâm sinh lý khác Do vậy, để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của
du khách, nhiều loại hình du lịch ra đời, trong đó du lịch văn hóa là một loại hình du lịch tiêu biểu
c.Thị trường du lịch
Marketing du lịch là 1 triết lý quản trị mà nhờ nghiên cứu dự đoán tuyển chọn dựa trên nhu cầu của du khách, nó có thể đem sản phẩm du lịch ra thị trường sao cho phù hợp với mục đích thu lợi nhuận của các tổ chức
Theo (Robert lanquar va Roper Hollier): thị trường du lịch là nơi diễn ra hoạt
động trao đổi và mua bán, marketing du lịch là một loạt phương pháp và kỹ thuật được hỗ trợ bằng một tinh thần đặc biệt và có phương pháp nhằm thỏa mãn các nhu cầu nói ra hay không nói ra của khách hàng Có thể là mục tiêu khiến hoặc những mục đích khác bao gồm công việc công tác và hợp tác
Với việc xác định thị trường du lịch hợp lí sẽ giúp hoạt động du lịch diễn ra vơi hiệu quả cao hơn
Du lịch văn hóa là xu hướng của các nước đang phát triển vì đem lại giá trị lớn cho cộng đồng xã hội nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, và vì thế mà loại hình du lịch
Trang 25này trở thành một thị trường lớn cho các nhà đầu tư phát triển những mục tiêu kinh doanh
du lịch
Trang 26Chương 2 TỔNG QUAN VỀ TỈNH SÓC TRĂNG VÀ ĐIỀU KIỆN, CƠ SỞ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC TRĂNG
Trong khoảng hơn 200 năm nay, vào thế kỷ XVII - XVIII, Sóc Trăng thuộc vùng
Ba Thắc của Chân Lạp Năm 1698, chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đàng trong (Nam bộ) và tiến hành xác lập địa giới hành chính vùng đất này, lập thành phủ Gia Định Năm 1732, chúa Nguyễn lập dinh Long Hồ tại Cái Bè (lúc đó là Cái Bè Dinh), năm 1780 được đặt tại vùng chợ Vĩnh Long và đổi tên là Vĩnh Trấn Dinh, sau đó đổi thành trấn Vĩnh Thanh Lúc này Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc (nằm trong trấn Vĩnh Thanh, phủ Gia Định)
Năm 1832, vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành 6 tỉnh, 3 tỉnh miền Đông là: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường; 3 tỉnh miền Tây gồm: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Vùng đất Sóc Trăng thuộc tỉnh Vĩnh Long
Năm 1835 lại lấy đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh An Giang, lập thêm phủ Ba Xuyên, gồm 03 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định Đây
là điểm mốc có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này
Năm 1867, thực dân Pháp chiếm 03 tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp chia Nam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt Đến năm 1876, thực dân Pháp chia toàn Nam
kỳ thành 04 khu vực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc (Bassac), mỗi khu vực hành chính lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc khu vực Bát Sắc
Trang 27Theo nghị định số 31/NĐ, ngày 21/2/1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định giải thể cấp khu, hợp nhất một số tỉnh Tỉnh Sóc Trăng hợp nhất với tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang
Trong kỳ hợp lần thứ 10 (khóa VIII), vào ngày 26 tháng 12 năm 1991, quyết định tách tỉnh Hậu Giang thành 02 tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vào đầu tháng 4/1992 gồm các huyện: Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thị xã Sóc Trăng
2.1.1.2 Nguồn gốc tên gọi
Theo dân gian thì tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh'leang của tiếng Khơmer Srok tức là “xứ”, “cõi”, Kh'leang là “kho”, “vựa”, “chỗ chứa bạc” Srok Kh'leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua Tiếng Việt phiên âm ra là : “Sốc-Kha-Lang” rồi sau đó đọc lệch thành Sóc Trăng
Dưới triều Minh Mạng, Sóc Trăng bị đổi là Nguyệt Giang tỉnh do chữ Sóc biến thành chữ Sông, Trăng thành Nguyệt nên Sóc Trăng biến thành Sông Trăng rồi bị đổi thành Nguyệt Giang Sau này lại lấy tên Sóc Trăng làm tên gọi chính thức
2.1.2 Vị trí địa lí
Sóc Trăng là một tỉnh ven biển của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở cửa Nam sông Hậu nằm trên tuyến Quốc lộ 1A nối liền các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang Cách thành phố Hồ Chí Minh 231km, cách Cần Thơ 62km
Tỉnh Sóc Trăng có vĩ độ địa lí như sau:
Tỉnh có địa giới hành chính tiếp giáp như sau:
- Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang
Trang 28- Phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu
- Phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh
- Phía Đông và Đông Nam giáp Biển Đông
2.1.3 Đặc điểm tự nhiên
2.1.3.1 Khí hậu
Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, hàng năm
có mùa khô và mùa mưa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26.80C, ít khi bị bão lũ Lượng mưa trung bình trong năm là 1.864 mm, tập trung nhất từ tháng 8,9,10, độ ẩm trung bình
là 83%, thuận lợi cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển
2.1.3.2 Đất đai, thổ nhưỡng
Sóc Trăng có tổng diện tích đất tự nhiên là 331.176.29 ha Đất đai của Sóc Trăng
có độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành, bắp, các loại rau màu như hành, tỏi và các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, sầu riêng Hiện đất nông nghiệp là 276.677 ha, chiếm 82.89%; trong đó, đất sản xuất nông nghiệp là 205.748 ha (chiếm 62.13%), đất lâm nghiệp có rừng 11.356 ha (chiếm 3.43%), đất nuôi trồng thuỷ sản 54.373 ha (chiếm 16.42%), đất làm muối và đất nông nghiệp khác chiếm 0.97% Trong tổng số 278.154 ha đất nông nghiệp có 144.156
ha sử dụng cho canh tác lúa, 21.401 ha cây hàng năm khác và 40.191 ha dùng trồng cây lâu năm và cây ăn trái Riêng đất phi nông nghiệp là 53.963 ha và 2.536 ha đất chưa sử dụng (số liệu được cập nhật theo Niên giám thống kê Sóc Trăng 2008)
Đất đai Sóc Trăng có thể chia thành 6 nhóm chính: Nhóm đất cát có 8.491 ha, bao gồm các giồng cát tương đối cao từ 1.2 - 2 m thành phần cơ giới nhẹ, chủ yếu là cát mịn đến cát pha đất thịt, có thể trồng một số loại rau màu; nhóm đất phù sa có 6.372 ha thích hợp cho việc trồng lúa tăng vụ và các cây ăn trái đặc sản, nhóm đất giây có 1.076 ha, ở vùng thấp, trũng, thường trồng lúa một vụ; nhóm đất mặn có 158.547 ha có thể chia ra làm nhiều loại: đất mặn nhiều, đất mặn trung bình, đất mặn ít, đất mặn sú, vẹt, đước (ngập triều) trong đó đất mặn nhiều chiếm diện tích lớn 75.016 ha thích hợp với việc trồng lúa, rau màu, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn, dài ngày ; các loại đất mặn khác chủ yếu trồng lúa kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản; nhóm đất phèn có 75.823 ha, trong đó chia ra làm 2 loại đất phèn hoạt động và đất phèn tiềm tàng, sử dụng loại đất này theo
Trang 29phương thức đa canh, trồng lúa kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản; nhóm đất nhân tác có 46.146 ha
Mặc dù còn một số hạn chế về điều kiện tự nhiên như thiếu nước ngọt và bị xâm nhập mặn trong mùa khô, một số khu vực bị nhiễm phèn, nhưng việc sử dụng đất ở Sóc Trăng lại có nhiều thuận lợi cơ bản để phát triển nông, ngư nghiệp đa dạng và trên cơ sở
đó hình thành những khu du lịch sinh thái phong phú
Đặc biệt, Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú và Cù Lao Dung chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành như cồn
Mỹ Phước, khu du lịch Song Phụng, Cù Lao Dung là địa điểm lý tưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái
2.1.3.3 Đặc điểm địa hình
Sóc Trăng có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng Độ cao tuyệt đối từ 0.4 – 1.5
m, độ dốc thay đổi khoảng 45 cm/km chiều dài Nhìn chung địa hình tỉnh Sóc Trăng có dạng lòng chảo, cao ở phía sông Hậu và biển Đông thấp dần vào trong, vùng thấp nhất là phía Tây và Tây Bắc Tiểu địa hình có dạng gợn sóng không đều, xen kẽ là những giồng cát địa hình tương đối cao và những vùng thấp trũng nhiễm mặn, phèn Đó là những dấu vết trầm tích của thời kỳ vận động biển tiến và lùi tạo nên các giồng cát và các bưng trũng ở các huyện Mỹ Tú, thị xã Sóc Trăng, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu Vùng đất phèn có địa hình lòng chảo ở phía Tây và ven kinh Cái Côn có cao trình rất thấp, từ 0 – 0.5 m, mùa mưa thường bị ngập úng làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng Vùng cù lao trên sông Hậu cũng có cao trình thấp, thường bị ngập khi triều cường, vì vậy để đảm bảo sản xuất phải có hệ thống đê bao chống lũ
2.1.3.4 Sông ngòi
Sóc Trăng có hệ thống kinh rạch chịu ảnh hường của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0.4 m đến 1 m Thủy triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất mà còn ảnh hưởng lớn đến các hoạt động sinh hoạt thường ngày Nhờ vào địa thế đặc biệt, nơi dòng sông Hậu đổ ra biển Đông Nam bộ, vùng có nhiều trữ lượng tôm cá, Sóc Trăng có đủ điều kiện thuận lợi để cũng như phát triển kinh tế biển tổng hợp
2.1.3.5 Sinh vật
Sóc Trăng còn có nguồn tài nguyên rừng với diện tích 11.356 ha Trong đó rừng tự nhiên chiếm 66.5% với các cây như mắm, bần, giá, sú Diện tích rừng trồng là 33.5% với
Trang 30các loại cây như tràm, đước, mắm, dừa nước,… Rừng của Sóc Trăng thuộc hệ rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn
Với hệ sinh thái ngập mặn có đường bờ biển dài 72km và diện tích đồng bằng rộng lớn, Sóc Trăng có hệ động vật khá phong phú, bao gồm sinh vật nước mặn như tôm, cua, còn có những sinh vật nước lợ và nước ngọt bao gồm các loại cá đồng, cá biển, cá da trơn,… Trên mặt nước nhiều sinh vật cũng đang phát triển mạnh như rái cá, khỉ, heo rừng, chim, dơi,… Chính điều này càng làm cho hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Sóc Trăng thêm phong phú về thực vật và động vật
2.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Sóc Trăng đạt gần 1.303.700 người với mật
độ dân số đạt 394 người/km² Trong khi đó, mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Cửu Long là 434 người/km2, chứng tỏ rằng dân cư ở đây còn thưa thớt Thêm vào đó, là sự phân bố không đồng đều giữa dân số sống tại thành thị và dân số sống tại nông thôn, giữa dân số nam và dân số nữ Sóc Trăng là địa bàn cư trú của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer cùng với người Chăm bản địa, dân cư tập trung sinh sống chủ yếu ở những vùng ven đường quốc lộ, ven sông rạch, và những nơi thuận lợi giao lưu kinh tế…
Các đơn vị hành chính của năm 2010: Sóc Trăng bao gồm 1 thành phố, 10 huyện
Trang 31Hình 1 Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng
(Nguồn: http://www.soctrang.gov.vn)
Trang 32Về kinh tế, Sóc Trăng là một tỉnh có vị trí ven biển của vùng đồng bằng Sông Cửu Long, với lịch sử hình thành và phát triển còn khá là non trẻ, nên nền kinh tế chủ yếu thuộc lĩnh vực sau: Nông – Lâm – Ngư nghiệp, Công nghiệp – Xây dựng và Thương mại – Dịch vụ
Nông – Lâm – Ngư nghiệp: với diện tích đất nông nghiệp là 276.677 ha, với độ màu mở cao nên thích hợp để canh tác nền nông nghiệp lúa nước ( chiếm 90% đất canh tác) Diện tích rừng ven biển của tỉnh là 11.356 ha, thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các nền kinh tế biển Bên cạnh đó canh tác thủy hải sản cũng không ngừng khẳng định vị thế của mình, và từng bước chứng tỏ mình là nền kinh tế mũi nhọn của tỉnh Sóc Trăng, góp phần không nhỏ vào việc cải thiện việc làm, tăng thu nhập và tăng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh
Công nghiệp – Xây dựng: với mục tiêu hướng tới phát triển kinh tế nên các ngành công nghiệp tại Sóc Trăng đang được chú trọng đầu tư và phát triển, Hiện nay với tỉ trọng trong ngành công nghiệp của tỉnh vẫn còn thấp, chưa cân xứng với tiềm năng sẵn có nhưng những năm qua tỉnh đã không ngừng đầu tư phát triển chẳng những về quy mô mà còn đa dạng hóa sản phẩm Các ngành công nghiệp đang là thế mạnh của tỉnh là: Công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp chế biến thủy hải sản, công nghiệp mía đường Bên cạnh đó còn có công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác và các nghành tiểu thủ công nghiệp khác
Thương mại – Dịch vụ: một lĩnh vực được xem là khá mới mẻ trong sự phát triển của nền kinh tế tỉnh nhà, nhưng nhờ có sự đầu tư cũng như chú trọng phát triển mà hiện nay thương mại dịch vụ đã có những bước phát triển đáng kể Chính từ những thế mạnh sẵn có về nông sản, thủy sản để xây dựng và đầu tư đầu mối, thương mại Bên cạnh đó, tiềm năng về du lịch cũng là một nhân tố góp phần đa dạng hóa nền kinh tế thương mại dịch vụ, với những hình thức du lịch đa dạng như: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa,
du lịch tôn giáo…
Trang 332.2 ĐIỀU KIỆN VÀ CƠ SỞ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH SÓC
TRĂNG
2.2.1 Tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.1.1 Di tích lịch sử - văn hóa – nghệ thuật – kiến trúc
Theo thống kê của sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Sóc Trăng, toàn tỉnh hiện
có 31 di tích được công nhận và xếp hạng Trong đó có 7 di tích lịch sử cấp quốc gia và hơn 10 di tích cấp tỉnh
Di tích cấp quốc gia:
- Chùa Kleang: di tích kiến trúc nghệ thuật
- Chùa Mahatup ( chùa Dơi): di tích danh lam thắng cảnh
- Khu căn cứ tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước: di tich lịch sử cách mạng
- Đình Hòa Tú: di tích lịch sử cách mạng
- Trường LaSan, nơi đón từ chính trị từ Côn Đảo: di tích lịch sử cách mạng
- Miếu Bà Chúa Xứ (ấp Mỹ Đông, huyện Ngã Năm): di tích lịch sử cách mạng
- Đền thờ Bác Hồ ( Cù Lao Dung): di tich lịch sử cách mạng
Di tích cấp tỉnh tiêu biểu:
- Đình thờ Nguyễn Trung Trực: ấp 1, thị trấn Ngã Năm
- Di tích lưu niệm danh nhân Lương Định Của
- Di tích lịch sử văn hóa: xã Đại Ngãi, huyện Long Phú
- Bia truyền thống chi bộ Cù Lao Dung: thị trấn Long Phú
- Khu tưởng niệm liệt sĩ cách mạng Thiều Văn Chõi: xã Ba Trinh, huyện Kế Sách
- Chùa Bà Đốt: xã Kế Sách, huyện Kế Sách
- Chùa Trà Tim: phường 10, thành phố Sóc Trăng
- Thánh thất Cao Đài: xã Hòa Tú 2, huyện Mỹ Xuyên
Trang 34- Thanh Minh cổ Miếu: thị trấn Vĩnh Châu
- Thiên hậu cổ Miếu: thị trấn Vĩnh Châu
- Chùa Sê-ray-Ca- săng: xã Vĩnh Châu, huyện Vĩnh Châu
Sau đây là một số nét sơ lược về các di tích quan trọng của tỉnh:
a Chùa Kleang: di tích kiến trúc nghệ thuật
Tọa lạc tại đường Tôn Đức Thắng, khóm 5, phường 6, TP Sóc Trăng, cách Trung tâm chợ TP Sóc Trăng khoảng 1 km Ngôi chánh điện được dựng bằng 07 hàng cột ngang ở phía trước, mỗi hàng có 10 cây cột trụ kéo dài ra phía sau Ngôi chánh điện được xây trên mặt bằng cao hơn mặt đất, được tráng xi măng, có bậc tam cấp để đi lên Bên trong chánh điện được trang trí các hình ảnh, hoa văn rất tinh xảo Các bức tường thấp được xây dựng theo hành lang theo hình cánh sen hoặc các hình khối, tạo thành những đường viền cách vách chánh điện 1.5 m Gần với các bức tường thấp, các vị sư trồng nhiều loại cây như: cây thốt nốt, cây hoa sứ,
Trên các khung cửa ngôi chánh điện được khắc chạm các nhân vật trong phục trang của người Khmer cổ Trên hai cánh cửa gỗ được chạm khắc thể hiện cuộc giao đấu giữa Tiên nữ và Chằn (Yeak), người thì đứng trên Reach cha sei, kẻ thì đứng trên chim thần Krud trong cuộc giao đấu ngang tài ngang sức Chung quanh chánh điện còn có các tượng Phật, các tượng chằn trong tư thế bảo vệ chánh điện Trong chánh điện còn có tượng Phật cao tới 6.8m, phần thân tượng cao 2.7m được đúc vào năm 1916 Bên cạnh
đó, còn có những hình tượng khác như: hình chim muông hoa lá, hình tiên nữ đang múa trên bầu trời Trên 12 thân cột trong chánh điện được trang trí hoa văn thể hiện sự giao thoa nghệ thuật của 3 dân tộc Kinh – Khmer - Hoa Trong chùa có tủ lưu giữ một số sách
cổ Đặt biệt, chùa còn lưu trữ một bản sao tài liệu ghi chép từ thư tịch gốc tìm hiểu về địa danh Sóc Trăng, sự kiện xây dựng chùa đầu tiên và các nhân vật có liên quan trực tiếp đến nhà chùa, vật cổ và hơn 50 tượng Phật làm bằng đồng do Phật tử cúng chùa
Chùa Kh’leang còn có một số công trình xây dựng khác như: Sa –la (nhà hội của
sư sãi và tín đồ), nhà tụng của sư sãi, nhà của vị đại đức trụ trì và các vị sư, lò thiêu và các tháp để tro cốt người chết Trong khuôn viên chùa còn có khu vực dành riêng cho Trường Trung cấp Pali Nam Bộ được ngân sách nhà nước cấp xây dựng mới, để đào tạo những vị sư cho các chùa cũng như để giảng dạy văn hóa và dạy chữ Khmer Ngoài ra, chùa còn là nơi cử hành các nghi thức lễ truyền thống của dân tộc Khmer: Tết Chôl – Chnăm – Thmây, lễ hội Dolta, Lễ Ooc – Om – Boc và đua ghe Ngo,
Trang 35Với những đặc điểm nêu trên, ngày 27 tháng 4 năm 1990 Bộ Văn hóa Thông tin ra Quyết định số 84/QĐ - BVHTT đã công nhận chùa Kh’leang là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia
b Chùa Mahatup (chùa Dơi): di tích danh lam thắng cảnh
Cách trung tâm thành phố Sóc Trăng khoảng 3km, thuộc phường 3, thành phố Sóc Trăng Chùa Dơi mà tiếng Khmer gọi là Serâytécbômabatúp, có nghĩa là do phúc đức tạo nên Không ai nhớ nổi ngôi chùa này ra đời khi nào và do ai trụ trì đầu tiên
Đây là một địa điểm du lịch tiêu biểu của tỉnh Sóc Trăng của du khách thập phương Điểm đặc biệt nhất của ngôi chùa này là sự tồn tại của hàng ngàn con dơi, đúng như cái tên thường gọi của nó Bao bọc quanh chùa là cả một cánh rừng với đủ lại cây, nhiều nhất là cây Sao và cây Dầu, chính là nơi cư ngụ của những đàn dơi Ban ngày chúng bay đi kiếm ăn, và khi màng đêm buông xuống chúng lại bay về sân
Hơn thế nữa, chùa Dơi còn có những kiến trúc đặc trưng tiêu biểu cho nền phật giáo tiểu thừa của đồng bào dân tộc Khmer Một địa điểm du lịch độc đáo nổi tiếng của vùng đất Sóc Trăng này
c Khu căn cứ tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước: di tich lịch sử cách mạng
Di tích khu căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng nằm trong khu rừng tràm phân trường Mỹ Phước, thuộc địa phận xã Mỹ Phước, Huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng Căn cứ Tỉnh ủy rừng tràm Mỹ Phước là cái nôi của Đảng bộ, là trung tâm điểm cách mạng, đồng thời là một minh chứng, khẳng định lòng tin, sự che chở của dân đối với Đảng, là nguyên nhân,
là sức mạnh giúp cho Đảng bộ Sóc Trăng hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, đưa quân và dân trong tỉnh giành thắng lợi trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và 21 năm chống Mỹ và tay sai (1954-1975) Trong thời gian đó, dù trải qua muôn vàn khó khăn, hy sinh và gian khổ nhưng căn cứ vẫn đứng vững để BCH Tỉnh ủy lãnh đạo, thực hiện tốt vai trò của mình Với những giá trị và ý nghĩa ấy, ngày 16/6/1992, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) ra quyết định số 734/QĐ-BVHTT công nhận khu căn cứ Tỉnh ủy là Di tích Lịch sử Cách mạng cấp quốc gia
Hiện nay, khu căn cứ là nơi giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, là điểm đến thường xuyên của học sinh, sinh viên trong các buổi sinh hoạt về nguồn Đặc biệt, Di tích còn là 1 trong 18 điểm du lịch của tỉnh, phục vụ du khách tham quan và tìm hiểu về lịch sử
Trang 36d Trường LaSan, nơi đón tù chính trị từ Côn Đảo: di tích lịch sử cách mạng
Nằm trên đường Tôn Đức Thắng, thuộc địa bàn phường 6, TP Sóc Trăng, hiện nay khu di tích này là trường Trung học phổ thông Ischool Sóc Trăng Trong ngôi trường này, vào tháng 9 năm 1945 đã diễn ra một sự kiện lịch sự hết sức quan trọng: nơi đón tiếp, an dưỡng đoàn quân cách mạng, những tù chính trị từ nhà tù Côn Đảo được Đảng, Chính phủ giao cho Đảng bộ và nhân dân Sóc Trăng thay mặt nhân dân cả nước đón tiếp
và chăm sóc chu đáo Với ý nghĩa to lớn đáp ứng nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng và bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta lần thứ 2, Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra Quyết định số 734/QĐ-BVHTT ngày 16/6/1992, công nhận di tích trường Taberd tỉnh Sóc Trăng là di tích lịch
sử cách mạng cấp quốc gia
e Đền thờ Bác Hồ ( Cù Lao Dung): di tích lịch sử cách mạng
Từ thành phố Sóc Trăng đến đền thờ Bác, du khách có thể đi bằng hai con đường chính, theo đường tỉnh lộ 933 xuống huyện Long Phú khoảng 18 km thì tới thị trấn Long Phú, tiếp tục theo trục lộ giao thông ra Vàm Cống, ấp I thị trấn Long Phú, qua phà Đại
Ân đi khoảng 8km là tới Đền thờ; hoặc theo Quốc lộ 60 đến Đại Ngãi, qua phà An Thạnh Nhất, theo tỉnh lộ 933B đi khoảng 20 km là tới
Trải qua nhiều lần tôn tạo, sửa chữa, nhất là trong đợt xây dựng mới vào năm
2009, khu vực Đền thờ Bác được mở rộng theo quy hoạch gồm nhiều hạng mục như: Đền thờ chính nơi đặt chân dung Bác, nhà truyền thống trưng bày các hiện vật lịch sử, sân lễ, cổng chào, công viên cây xanh,… Thế hệ trẻ trong ngoài tỉnh về viếng Đền thờ Bác có dịp nghiên cứu, tìm hiểu và học tập noi theo tấm gương cao cả của Người để ngày càng đóng góp công sức nhỏ bé của mình cho công cuộc đổi mới và xây dựng phát triển đất nước
Qua hai cuộc đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, vùng đất Sóc Trăng anh hùng đã kiên cường, bất khuất chống trả quân thù, cho đến ngày nay những chiến tích ấy vẫn còn tồn tại và được người dân giữ gìn tôn tạo
2.2.1.2 Nghề và làng nghề truyền thống
Đối với mỗi làng nghề khác nhau thì có một sức hấp dẫn và thu hút khách du lịch cũng khác nhau, điều đó phụ thuộc nhiều vào chất lượng sản phẩm, thái độ phục vụ và khả năng sáng tạo, tư duy, bàn tay khéo léo của người nghệ nhân khi tạo ra sản phẩm đặc trưng đó Không chỉ đơn thuần là một giá trị sản phẩm thông thường, mà sản phẩm của làng nghề truyền thống phải mang một nét đặc trưng tiêu biểu cho cả một dân tộc, hay
Trang 37một vùng miền địa phương đó Sóc Trăng tuy chưa có nhiều làng nghề truyền thống và sản phẩm đem lại cũng chưa được phổ biến, nhưng những sản phẩm mà làng nghề tại Sóc Trăng mang đến lại đem lại cho du khách một cái nhìn toàn diện về cả con người, dân tộc, tính cách lẫn nếp sống của đồng bào tại đây
Tiềm năng phát triển của du lịch làng nghề tại Sóc Trăng thể hiện rõ nét nhất ở những sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo và khéo léo như làng nghề bánh Pía, lạp xưởng, làng nghề đan đát, làm kiếng, làng nghề dệt chiếu, làng nghề bánh cóng, làng nghề làm xá bấu và còn nhiều làng nghề khác nữa
Sau đây là một số làng nghề truyền thống tiêu biểu của tỉnh Sóc Trăng:
a Làng nghề làm bánh Pía - Sóc Trăng
Được hình thành từ rất lâu đời với quy mô không ngừng phát triển, từ sản xuất nhỏ
lẽ, dần dần phát triển lên với sự đa dạng về mẫu mã cũng như hình thức sản xuất cải tiến hơn Đồng thời cũng không ngừng tăng năng suất của làng nghề Bánh pía Sóc Trăng không những tiêu thụ trong nước mà còn xuất khẩu ra thế giới như: Mỹ, c, Hồng Kông, Campuchia
Bánh Pía Sóc Trăng được hình thành tại vùng đất Vũng Thơm thuộc xã Phú Tâm - Châu Thành hay trên đoạn quốc lộ I A, từ ngã ba An Trạch, xã An Hiệp, huyện Châu Thành về trung tâm thành phố Sóc Trăng Trong những năm gần đây, Sóc Trăng còn được nhiều du khách biết đến qua các điểm bán các mặt hàng và món ăn chay Trong đó,
có khá đông du khách là Phật tử ở các tỉnh bạn đi theo đoàn về Sóc Trăng theo chương trình tour hay làm công tác từ thiện, xã hội…
b Làng nghề làm đan đát – Châu Thành
Hình thành tại làng Phước Quới, xã Phú Tân (Châu Thành) Bà con ở đây rất tự
hào với nghề đan đát truyền thống của mình vơi sự đa dạng về sản phẩm như đan thúng,
rổ, rá, cần xé và nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác…
Với nguyên liệu là những hàng tre nứa xanh mướt được trồng quanh nhà, từ bàn tay khéo léo của người nghệ nhân hình thành nên sản phẩm đan đát tinh xảo, chứa đựng bao nhiêu ông lao và mơ ước của người làm ra nó Truyền thống nối tiếp truyền thống khi từng thế hệ không ngừng thay nhau kế thừa những tinh hoa của thế hệ trước và cứ thế sản phẩm đan đát ngày càng hoàn thiện về mẫu mã cũng như chất lượng, ngoài ra dựa trên những mẫu mã sẵn có người nghệ nhân còn sáng tạo thêm nhưng sản phẩm khác, lạ mắt
và độc đáo nhằm góp phần làm đa dạng hóa sản phẩm thủ công, góp phần tạo nên sức hút
du lịch tỉnh nhà nói chung và với du lịch làng nghề Sóc Trăng nói riêng
Trang 38c Làng nghề vẽ tranh trên kiếng – Châu Thành
Là nghề thủ công truyền thống của người Khmer ở ấp Phước Thuận, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, Sóc Trăng, được hình thành từ những năm 60 thế kỷ XX, tồn tại đến ngày nay Đề tài để vẽ tranh kiếng của người Khmer Sóc Trăng có rất nhiều như: hình muôn thú rồng, phụng, nai, thỏ với hoa văn dây lá, tranh thờ, chân dung ông bà cha mẹ
đã qua đời của gia chủ; tranh yểm trừ tà ma vẽ hình chằn Wisàwon để treo trước cửa nhà; tranh các vị thần Bà La Môn giáo, thần Tévoda – là phúc thần của người Khmer… Nhưng chủ đề chính được vẽ nhiều nhất là những câu chuyện kể về cuộc đời của đức Phật Thích Ca, về cuộc đời và sự nghiệp chân tu của người từ lúc nhập đạo đến lúc thành đạo và giáo hóa chúng sinh Điều này cũng góp phần không nhỏ vào sự đa dạng trong sản phẩm phục vụ nhu cầu du lịch làng nghề tại Sóc Trăng
d Làng nghề dệt chiếu – Viên Bình - Trần Đề
Làng dệt chiếu tồn tại tại ấp Trà Ông, xã Viên Bình, huyện Trần Đề, Sóc Trăng
được hình thành từ bao nhiêu thế hệ qua Theo lời người dân kể lại thì từ khi sinh ra đã biết ông bà cha mẹ đều làm chiếu nên cũng không biết nghề này có từ bao giờ: Người Khmer vốn thật thà, nên cái chiếu cũng thể hiện tính tình của người Khmer, đơn giản
nhưng thuần hậu và tỉ mĩ Đến với làng nghề, khách du lịch không chi được tham quan,
tìm hiểu làng nghề, mua sắm những sản phẩm thủ công về làm quà cho bạn bè, người thân mà điều thú vị hơn cả là du khách có thể cùng thử sức mình trong các công đoạn làm nên sản phẩm, và chính bạn sẽ là chủ sở hữu của chính sản phẩm mình làm ra Điều đó tạo nên một sự thích thú đến lạ cho do khách
Nhìn chung du lịch làng nghề là một bộ phận trong mảng du lịch văn hóa, du lịch làng nghề hiện nay ở Sóc trăng đang là một hướng đi mới cho nền du lịch tỉnh nhà, hứa hẹn sẽ gặt hái được nhiều thành công So với lịch sử phát triển làng nghề ở Việt Nam, thì lịch sử phát triển làng nghề ở ĐBSCL nói chung và vùng đất Sóc Trăng nói riêng còn khá
là non trẻ Theo lời người dân tại làng nghề cho biết thì từ lúc mới sinh ra đã được ông cha truyền lại nghề truyền thống, và họ đã cố gắng giữ gìn và ngày một phát huy nhiều hơn nữa
2.2.1.3 Văn hóa ẩm thực
Mỗi quốc gia, dân tộc, vùng miền, địa phương đều có những giá trị đặc sắc, phong tục tập quán riêng biệt, đặc biệt đối với lĩnh vực văn hóa ẩm thực đặc trưng của mình, Sóc Trăng nổi tiếng với nhiều món ăn đậm đà bản sắc dân tộc,là niềm tự hào của con
người nơi đây, tiêu biểu là những món ăn như:
Trang 39a Bún Nước Lèo
Bún bước lèo được xem là món ăn nổi tiếng nhất của Sóc Trăng, do đông bào dân tộc Khmer sáng tạo ra Bún nước lèo còn được gọi là bún mắm, chính bởi vì nguyên liệu chính tạo nên món ăn này là mắm Bún nước lèo xưa nay không những là món ăn khoái khẩu của đồng bào dân tộc Khmer nơi đây mà còn là một món ăn đặc sản của tỉnh Sóc Trăng
Để món bún nước lèo ngon, đậm đà hương vị thì trước hết ta phải chuẩn bị đầy đủ những nguyên liệu cho nồi bún nước lèo Bước đầu tiên, đem con mắm nấu lên cho sôi đến khi thịt mắm rã hết là được, sau đó ta lọc nước mắm để riêng và bỏ đi phần xương mắm Kế tiếp ta cho nồi nước lèo vừa nấu xong cho vào nồi xương hầm nấu cho sôi (có thể dùng nước dừa để nấu súp thì nồi nước lèo của bạn càng đậm đà hơn) Nên chú ý bỏ thêm gừng và một ít sả cây đập giập, vài tép ngãi bún thì mới đúng hương vị của bún nước lèo Nói về phần thịt, rau, cá để ăn bún, để tô bún nước lèo ngon hơn thì cá phải được lấy hết xương, thịt quay xắt nhỏ, tép lột vỏ, rau sống ăn kèm cần có rau muống bào, bắp chuối thái mỏng, giá, hẹ, rau hún, rau quế, chanh, ớt
Khi du khách đến với Sóc Trăng thì không thể nào bỏ qua món ăn này, hay một lần cảm nhận hương vị ngọt ngào này để cảm nhận sự đặc trưng và khác biệt
Xuất phát từ cái tên “cơm dẹp”, vì thật ra nó được chế biến từ hạt nếp, nhưng những hạt nếp ở đây chưa chín tới, chỉ mới đỏ đuôi ở bông cái, khi gặt về đập lấy hạt, sau
đó rang cho nóng đều, đổ vào cối xay giã nguyên cả vỏ, giã đến khi nếp đã dẹp lép bóc hết bỏ thì cho vào cái nia và sẩy nhiều lần để loại bỏ vỏ nếp Thế là hoàn thành món
“cơm dẹp” Nhưng cái tên này dần dần trở thành món ăn quen thuộc không những hấp dẫn đối với đồng bào dân tộc Khmer ở Sóc Trăng mà còn là một món ăn không thể bỏ qua của du khách khi đến với Sóc Trăng
c Bánh Pía
Bánh pía có nguồn gốc từ người Triều Châu, chữ “Pía” có nghĩa đơn giản là nướng bánh pía còn được gọi là “bánh lột da” Điểm đặc biệt nhất của bánh Pía – Sóc
Trang 40Trăng là hoàn toàn không sử dụng hương liệu,mùi thơm của bánh được tạo nên chủ yếu
từ mùi vị tự nhiên của trái sầu riêng mang lại, được lựa chọn kĩ lưỡng từ khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Nguyên liệu làm bánh pía tương đối đơn giản, bột mì làm vỏ bánh, đậu xanh, khoai môn tán nhuyễn trộn với sầu riêng, mỡ lợn xắt nhỏ, lòng đỏ trắng vịt muối, tất cả tạo nên nhân bánh, hòa quyện vào nhau với một hương vị hết sức đặc trưng Làm bánh pía phải trãi qua nhiều giai đoạn như: trộn, cán mỏng, cuốn tròn,… những khối bột dẻo
và mịn để tạo ra những lớp vỏ ôm lấy lớp nhân bên trong Phần nhân bánh người ta thường dùng đậu xanh, khoai môn gọt vỏ, say nhuyễn, và cho thêm nhân mỡ, sầu riêng
và lòng đỏ trứng vào, sau khi được bọc võ, bánh sẽ được thoa thêm một lớp lòng đỏ trứng
và cho vào lò nướng Bánh chín màu vàng ươm, quyện với mùi sầu riêng thơn nứt, rất tuyệt vời Vị ngọt của đậu xanh, vị bùi bùi thơm thơm của sầu riêng và vị béo quậy của
mỡ, dễ khiến người thưởng thức ngất ngây và nhớ mãi
d Lạp Xưởng
Sóc Trăng là nơi nổi tiếng làm lạp xưởng ngon nhất nhì vùng đồng bằng sông Cửu Long lạp xưởng được làm từ nguyên liệu thịt, mở, tẩm ướp gia vị, cho vào ruột heo và phơi hoặc sấy khô Đây là loại thực phẩm dự trữ nên có thể dùng với thời gian lâu Do giá trị phù hợp với túi tiền và dễ làm quà tặng, biếu nên khi đến với Sóc Trăng bạn nên mua
ít lạp xưởng về làm quà cho người thân, bạn bè
2.2.1.4 Lễ hội truyền thống
Sóc Trăng có nhiều lễ hội diễn ra trong năm, nhưng chủ yếu là nằm vào khoảng thời gian 11 đến tháng 4 năm sau, trùng vào mùa khô, ít mưa và nắng ráo Tiêu biểu là các lễ hội của đồng bào dân tộc Khmer như lễ hội Ok Om Bok, lễ hội Chol Chnam Thmay, lễ hội Dolta, lễ hội Phước Biển, lễ hội Dâng Y Cà Sa, lễ hội Nghinh Ông,…
Bảng 1 Bảng thống kê các lễ hội truyền thống tại tỉnh Sóc Trăng
STT Tên lễ hội Ngày tổ chức Ghi chú