1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương

124 1,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những tác phẩm đi cụ thể vào danh thắng và văn hóa vùng miền cũng có rất nhiều: “Đất nước và con người: Chí Linh 16 di tích nổi tiếng ”; “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” NX

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THÀNH CÔNG

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH

VĂN HÓA TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THÀNH CÔNG

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH

VĂN HÓA TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Du lịch (Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS.NGUYỄN PHẠM HÙNG

Hà Nội, 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài……… ……… 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề………6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………8

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.……… …… 8

5 Phương pháp nghiên cứu……… …… ….….8

6 Cấu trúc của luận văn……… …….… 8

7 Đóng góp của luận văn……….….9

Chương 1 ĐIỀU KIỆN P HÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH HẢI DƯƠNG 10

1.1 Tài nguyên du lịch 10

1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 10

1.2 Hệ thống hạ tầng xã hội 44

1.2.1 Giao thông 44

1.2.2 Hệ thống điện 47

1.2.3 Hệ thống cấp, thoát nước 47

1.2.4 Hệ thống thông tin liên lạc 47

1.3 Hệ thống cơ chế, chính sách phát triển du lịch 48

1.4 Đánh giá chung 51

1.4.1 Thuận lợi 51

1.4.2 Khó khăn 52

Tiểu kết Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH HẢI DƯƠNG 54

2.1 Thị trường khách du lịch Hải Dương 54

2.1.1 Lượng khách du lịch 54

2.1.2 Phân tích đặc điểm nguồn khách đến với Hải Dương 59

2.1.3 Phân tích nhu cầu của khách 62

2.2 Sản phẩm du lịch văn hóa của Hải Dương 63

Trang 4

2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 65

2.3.1 Cơ sở lưu trú 65

2.3.2 Cơ sở vui chơi giải trí 67

2.3.3 Phương tiện vận chuyển khách du lịch 67

2.4 Nhân lực phục vụ cho du lịch văn hóa 68

2.5 Tổ chức, quản lý và quy hoạch du lịch văn hóa 69

2.6 Thực trạng xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá cho du lịch văn hóa 72

2.7 Tác động của du lịch đến các di sản văn hóa 77

2.7.1 Tác động tích cực 85

2.7.2 Tác động tiêu cực 78

2.8 Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương 79

2.8.1 Những thành công 79

2.8.2 Những hạn chế 79

Tiểu kết Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH HẢI DƯƠNG 81

3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 81

3.1.1 Định hướng phát triển theo ngành 81

3.1.2 Định hướng phát triển theo không gian, lãnh thổ 89

3.2 Những giải pháp phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương 101

3.2.1 Giải pháp cho thị trường du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương 101

3.2.2 Giải pháp về xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa và sản phẩm du lịch đặc thù 103

3.2.3 Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa 103

3.2.4 Giải pháp về phát triển nhân lực trong du lịch văn hóa 105

3.2.5 Giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hóa 105

3.2.6 Giải pháp về xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa 106

3.2.7 Giải pháp về bảo vệ tài nguyên - môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch 107

Trang 5

Tiểu kết

KẾT LUẬN 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TẮT

NGHĨA ĐẦY ĐỦ

quốc gia Đông Nam Á)

ngoài)

Nghiên cứu Phát triển Du li ̣ch)

kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên)

Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Bảng số liệu các tuyến đường liên tỉnh 45

Bảng 1.2: Bảng các tuyến đường sông: 46

Bảng 2.1: Lượng khách du lịch đến Hải Dương giai đoạn 2001 - 2010 54

Bảng 2.2: Khách du lịch quốc tế đến Hải Dương, giai đoạn 2001 - 2010 55

Bảng 2.3 : Khách quốc tế đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc giai đoạn 2001 - 2009 56

Bảng 2.4: Khách du lịch nội địa đến Hải Dương, giai đoạn 2001 - 2010 57

Bảng 2.5: Khách nội địa đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc giai đoạn 2001 - 2009 58

Bảng 2.6 Thu nhập du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010 60

Bảng 2.7 Các cơ sở lưu trú du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010 66

Bảng 2.8 Cơ cấu cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Hải Dương năm 2010 66

Bảng 2.9: Lao động trong ngành du lịch Hải Dương giai đoạn 2001 - 2010 70

Bảng 2.10: Hệ thống các cơ quan quản lý về du lịch tại các di tích ở Hải Dương 70

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du li ̣ch là ngành kinh tế tổng hợp quan tro ̣ng , mang nô ̣i dung văn hóa sâu sắc có tính liên ngành , liên vùng và xã hô ̣i hóa cao Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hô ̣i , hoạt động du lịch đã trở thành nhu cầu tất yếu của con người Do sự bùng nổ và hiê ̣u quả kinh doanh , kinh tế cao của ngành Du li ̣ch nên hiê ̣n nay có rất nhiều quốc gia trên thế giới coi Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn , ưu tiên hàng đầu Du li ̣ch dần trở thành ngành kinh tế lớn nhất toàn cầu Nó là một ngành công nghiệp không khói Du li ̣ch không chỉ mang la ̣i những lợi ích to lớn về kinh tế mà còn có những đóng góp không nhỏ về văn hóa , xã hội, sinh thái, và

cả chính trị của mỗi quốc gia Hoạt động du lịch làm tăng nguồn vốn của quốc gia, kéo theo s ự phát triển của những ngành kinh doanh dịch vụ , sản xuất khác Điều này đảm bảo cho viê ̣c mở rô ̣ng lực lượng lao đô ̣ng sản xuất ở mỗi vùng miền và quốc gia Trong quá trình phát triển du li ̣ch, mỗi quốc gia sẽ ta ̣o nên mô ̣t môi trường sống ổn đi ̣nh về mă ̣t sinh thái Đồng thời để phát triển bền vững, đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch thì cần phải có những biện pháp , chính sách bảo vệ môi trường trước sự tác động của con người Việc phát triển du lịch trong nước và quốc tế không những đẩy ma ̣nh viê ̣c giao lưu hợp tác giữa các dân tô ̣c

mà còn là tăng cường hiệu lực quản lí của nhà nước Nó như một nhân tố củng cố hòa bình , đẩy ma ̣nh sự hiểu biết l ẫn nhau, đi đến tình hữu nghi ̣ và quá trình toàn cầu hóa của mỗi quốc gia

Khi mà Du li ̣ch trở thành ngành kinh tế mũi nho ̣n của các nước phát triển trên thế giới thì vai trò của nó đối với các nước đang phát triển càn g thể hiê ̣n rõ

rê ̣t hơn Cùng với sự phát triển của du lịch thế giới , du li ̣ch Viê ̣t Nam ngày càng đươ ̣c Nhà nước chú tro ̣ng phát triển và góp phần quan tro ̣ng trong viê ̣c phát triển kinh tế, xã hội Đặc biệt trong những năm gần đây, ngành Du lịch Việt Nam lấy

“du lịch văn hóa” làm mục tiêu, sản phẩm chính để quảng bá đất nước trong quá trình hội nhập hóa, toàn cầu hóa

Trang 9

Được coi là một vùng đất “đi ̣a linh nhân kiê ̣t” , là một trong những cái

nôi văn hóa của cả nước , đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử , Hải Dương được nhiều người biết đến bởi những tên tuổi lớn trong li ̣ch sử phong kiến Viê ̣t Nam như: Khúc Thừa Dụ, Trần Hưng Đa ̣o, Nguyến Trãi, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Tuê ̣ Tĩnh Cùng với lịch sử hình thành và phát triển , trong quá trình lao động , vùng đất Hải Dương đã tạo lên nhiều làng nghề truyền thống có giá trị văn hóa

và kinh tế cao Bên ca ̣nh đó, thiên nhiên đã ưu đãi cho Hải Dương mô ̣t vùng đất trù phú, có cảnh quan đa dạng gắ n liền với nhiều di tích li ̣ch sử , văn hóa và danh thắng Tất cả những yếu tố khách quan và chủ quan trên đã giúp cho vùng đất Hải Dương có đầy đủ điều kiện để phát triển mạnh về “du lịch văn hóa” , thu hút đươ ̣c rất nhiều du khách trong nước và quốc tế đến thăm quan , đă ̣c biê ̣t là trong những năm gần đây , góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của cả nước nói chung và của tỉnh Hải Dương nói riêng Tuy nhiên, du li ̣ch Hải Dương vẫn chưa thâ ̣t sự đươ ̣c quan tâm phát triển , tiềm năng du li ̣ch vốn có của tỉnh vẫn chưa đươ ̣c khai thác mô ̣t cách hiê ̣u quả và tối đa Các khu du lịch , điểm du li ̣ch chưa có được sự quy hoạch hợp lý và cụ thể , du khách vẫn chưa biết nhiều đến du lịch Hải Dương Do vâ ̣y , nghiên cứu phát triển du li ̣ch văn hóa tỉnh Hải Dương là vấn đề cần thiết

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Từ rất sớm, đã có nhiều cuốn sách viết về lịch sử, văn hóa và di tích của Hải Dương Người được cho là nhà nghiên cứu đầu tiên về Hải Dương trong lịch sử là Trấn thủ Hải Dương Trần Công Hiến - là người sống vào thời kì của vua Gia Long Hai cuốn sách của ông được ghi nhận viết về nghiên cứu Hải Dương sớm nhất, đó là “Hải Dương phong vật khúc” và “Hải Dương phong vật ký” Hiện nay, cả hai cuốn sách này vẫn được lưu giữ trong kho sách của Thư viện Quốc gia Từ sau cách mạng đến nay cũng có rất nhiều tác phẩm viết và giới

thiệu về tài nguyên du lịch, tài nguyên văn hóa của Hải Dương như: “Hải Dương phong vật” của Trần Đạm Trai (Nhà Văn hóa, Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên, năm 1986), cuốn “Hải Dương phong vật chí” của Nguyễn Thị Lâm giới

thiệu và dịch (NXB Lao động, 2009)… Cùng với đó là rất nhiều tác phẩm viết

Trang 10

về đất và con người ở Hải Dương Cuốn “Đồng Khánh địa dư chí” tập 1 của

nhóm tác giả Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Phan Văn Các, Lê Việt Nga biên tập (NXB Thế giới, năm 2003) đã giới thiệu hoàn chỉnh

về lịch sử hình thành và phát triển của Hải Dương Những tác phẩm đi cụ thể vào

danh thắng và văn hóa vùng miền cũng có rất nhiều: “Đất nước và con người: Chí Linh 16 di tích nổi tiếng ”; “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”

(NXB Văn hóa thông tin, năm 2002) đã giới thiệu về lịch sử, nét đẹp của các làng nghề ở Hải Dương như làng nghề Gốm Chu Đậu, làng nghề bánh gai Ninh Giang…Hay những tác phẩm viết về các danh nhân gắn liền với từng địa danh lịch sử của tỉnh như: Nguyễn Trãi, Trần Quốc Toản, Chu Văn An, Nguyễn Thị Duệ…Những tác phẩm mang tính tổng hợp và giới thiệu: “Địa chí Hải Dương” (3 tập, NXB), “Hải Dương di tích và danh thắng” (2 tập, Sở Văn Hóa thông tin Hải Dương, 1999) cũng đượ xuất bản rộng rãi phục vụ cho nghiên cứu và tìm hiểu

Các công trình nghiên cứu về văn hóa Hải Dương cũng khá phong phú, những công trình này chủ yếu là thông qua các hội thảo như : hội thảo về xứ Đông – Hải Dương với Thăng Long (đưa ra những nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, kinh tế để làm rõ vị thế của Hải Dương); hội thảo danh nhân làng Hoàng Thạch… Các công trình nghiên cứu , luận văn thạc sĩ về tài nguyên văn hóa phục vụ cho du lịch còn khá khiêm tốn, chỉ đơn thuần là những luận văn dừng lại

ở việc thống kê tài nguyên du lịch nói chung; ngoài ra, còn có những luận văn nghiên cứu về nghệ thuật diễn xướng dân gian như: bảo tồn và phát triển nghệ thuật Chèo, múa rối nước…

Có thể thấy số lượng sách và công trình nghiên cứu về Hải Dương khá phong phú Tuy nhiên các công trình đó chỉ tập trung vào vấn đề sưu tầm và bảo tồn các giá trị văn hóa hoặc có chăng chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đó của văn hóa để phục vụ phát triển du lịch còn việc nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa của tỉnh Hải Dương nhằm bảo tồn và phục vụ phát triển du lịch, đặc biệt là

du lịch văn hóa thì chưa có một công trình nào được công bố Chính vì lẽ đó, tác

Trang 11

giả đã chọn đề tài của mình theo hướng nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa ở Bắc Ninh nhằm phục vụ phát triển du lịch

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

● Mục đích nghiên cứu

Luận văn được thực hiện với mục đích góp phần bảo tồn và phát huy các

di sản văn hóa của tỉnh Hải Dương trong phát triển du lịch du lịch

● Nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tác giả luận văn đi vào phân tích các điều kiện để phát triển du lịch văn hóa tỉnh, nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch văn hóa của Tỉnh Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp góp phần phát triển du lịch văn hóa, cũng như bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch của Tỉnh

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

● Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn các điều kiện phát triển du lịch văn hóa;hiện trạng hoạt động du lịch văn hóa; Các tổ chức, quản lý, cơ sở vật chất,

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tác giả thực hiện các phương pháp nghiên cứu sau:

6 Bố cục luận văn

Luận văn gồm … trang Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm

ba chương chính:

Trang 12

Chương 1: Điều kiện để phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương

Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du

lịch văn hóa tỉnh Hải Dương

7 Đóng góp của luận văn

điểm mạnh, điểm yếu của du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương

văn hóa tỉnh Hải Dương

Trang 13

Chương 1 ĐIỀU KIÊ ̣N PHÁT TRIỂN DU LI ̣CH VĂN HÓA

TỈNH HẢI DƯƠNG

1.1 Tài nguyên du lịch

1.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phần khôi phục và phát triển thể lực , trí tuệ con người , khả năng lao

đô ̣ng và sức khỏe của ho ̣ và được lôi cuốn vào phu ̣c vu ̣ cho nhu cầu cũng như sane xuất di ̣ch vu ̣ du li ̣ch Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm : đi ̣a hình, khí

hâ ̣u, nguồn nước, sinh vâ ̣t

* Đi ̣a hình

Hải Dương là tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng , trong đó diê ̣n tích đồng bằng chiếm khoảng 84,09% và diện tích đồi rừng chiếm khoảng 15,91% Đi ̣a hình, cảnh quang Hải Dương có sự tương phản rõ rê ̣t giữa đồi rừng của hai huyê ̣n Chí Linh, Kinh Môn và đồng bằng còn la ̣i

Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh , chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13

xã thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn Vùng Chí Linh núi đồi trùng điê ̣p, cao không quá 700m, rừng ncaay xanh tốt , rất thuâ ̣n lợi cho viê ̣c xây dựng những công trình văn hóa Vùng Kinh Môn có mới tập đoàn núi đá vôi với những hang đô ̣ng kỳ thú , nơi còn di tích của con người từ thời đa ̣i đồ đá mới

Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp , đất màu mỡ , thích hợp với nhiều loại cây trồng , sản xuất được nhiều vụ trong năm Vùng đồng bằng của tỉnh mang đặc trưng của đồng bằng Bắc Bô ̣ với nền văn minh lúa nước lâu đời Những đă ̣c trưng này đã góp phần ta ̣o nên giá tri ̣ văn hóa trong đời sống của con người nơi đây

* Nguồn nướ c

Tỉnh Hải Dương ngoài phần phía bắc , phía đông huyện Chí Linh là núi , còn lại diệ n tích của tỉnh có sông bao bo ̣c xung quanh gần khép kín đi ̣a hình Ngoài ra , do đă ̣c điểm phát triển đi ̣a hình của tỉnh Hải Dương đã hình thành

Trang 14

nhiều hồ tự nhiên và hồ nhân to ̣a rô ̣ng khắp, tương đối phong phú và đa da ̣ng Hê ̣ thống đầm hồ cùng với hê ̣ thống sông , suối, kênh, mương của tỉnh đã giúp cho viê ̣c lưu chuyển nước và tích nước , tạo điều kiện thuận lợi cho tưới tiêu , góp phần điều tiết khí hâ ̣u , phát triển cảnh quan du lịch sinh thái gắ n liền với du li ̣ch văn hóa và li ̣ch sử như hồ Côn Sơn, hồ An Bài, hồ Bến Tắm

* Tài nguyên rừng và hệ thực vật

Đi ̣a hình Hải Dương phần lớn là đồng bằng , có một phần diện tích là đồi , núi Đặc điểm địa hình phong phú tạo nên hai hệ sinh thái là : hê ̣ sinh thái đồi núi

và hệ sinh thái đồng bằng Mỗi hê ̣ sinh thái đều có những nét đă ̣c trưng riêng Tất cả hòa quyê ̣n cùng nhau ta ̣o nên mô ̣t bức tranh muôn màu cho thiên nhiên nơi đây và thu hút nhiều khách du li ̣ch về đây nghỉ dưỡng , thăm quan

Những yếu tố về đi ̣a hình , nguồn nước , khí hậu , tài nguyên rừng và hệ thực vâ ̣t đã được ta ̣o hóa xắp đă ̣t xen kẽ , diê ̣u kì đã ta ̣o nên những nét đe ̣p về cảnh quan tự nhiên giú p cho du li ̣ch tự nhiên của tỉnh Hải Dương thêm phong phú, đa da ̣ng và ngày càng thu hút được nhiều du khách đến nơi đây

1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

* Khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn

Theo luâ ̣t Du li ̣ch Viê ̣t Nam năm 2006, tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa , văn nghê ̣ dân gian , di tích li ̣ch sử , cách mạng , khảo cổ , kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa

vâ ̣t thể, phi vâ ̣t thể khác có thể được sử du ̣ng phu ̣c vu ̣ mu ̣c đích du li ̣ch

Tài nguyên du lịch nhân văn có các đặc điểm sau :

hoă ̣c chỉ có ý nghĩa thứ yếu

- Việc tìm hiểu các đối tượng nhân ta ̣o thường diễn ra trong thời gian ngắn

- Số ngườ i quan tâm tới tài nguyên du li ̣ch nhân văn thường có văn hóa cao hơn, thu nhâ ̣p và yêu cầu cao hơn

- Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn

Trang 15

- Ưu thế củ a tài nguyên du li ̣ch nhân văn là đa ̣i bô ̣ phâ ̣n không có tính thời

vụ ( trừ các lễ hô ̣i), không bi ̣ phu ̣ thuô ̣c nhiều vào các diều kiê ̣n thời tiết , khí hậu

và các điều kiện tự nhiên khác

- Sở thích của nhữ ng người tìm đến tài nguyên du li ̣ch nhân văn là rất phức ta ̣p và rất khác nhau

Hải Dương là một vùng đất cổ , có bề dày lịch sử , nơi đây có mô ̣t khối lươ ̣ng lớn các di tích li ̣ch sử văn hóa gắn liền với các danh nhân tên tuổ, những sự kiê ̣n li ̣ch sử của dân tô ̣c Viê ̣t Nam Trên đi ̣a bàn tỉnh có gần 1.1000 di tích li ̣ch sử – văn hóa, trong đó có 127 di tích đã được xếp ha ̣ng cấp quốc gia Các di tích lịch sử trải rộng khắp các địa phương trong tỉnh Nhiều di tích li ̣ch sử - văn hóa có thể khai thác phục vụ du lịch Đa ̣i ý có thể chia tài nguyên du li ̣ch nhân văn của tỉnh thành hai loại : tài nguyên du lịch văn hóa vật thể và tìa nguyên du lịch văn hóa phi vâ ̣t thể

1.1.2.1 Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể

* Di tích chùa Côn Sơn

Khu di tích Côn Sơn có hai dãy núi Kỳ Lân và Ngũ Nhạc, gồm chùa Côn Sơn, Bàn Cờ tiên, Thạch Bàn, Giếng Ngọc, am Bạch Vân, đền Nguyễn Trãi, động Thanh Hư, cầu Thấu Ngọc, có Ngũ Nhạc linh từ

Chùa Côn Sơn: Chùa Côn Sơn nhìn về hướng Đông Nam, tên chữ là “Thiên Tư

Phúc tự”, nghĩa là ngôi chùa được trời ban phúc lành, thời Trần thuộc xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn, nay thuộc phường Cộng Hoà, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đây là nơi tụ hội linh khí của trời đất để ban phát cho dân lành, nhất

là cho chúng sinh có Phật quả Nhân dân thường gọi là chùa Hun, với ý nghĩa như sau: Theo sự tích truyền lại thì Côn Sơn xưa rừng rậm um tùm, dân trong vùng thường vào rừng đốt củi lấy than, khói bụi mù mịt cả vùng lên được gọi là núi Hun Một thuyết khác lưu truyền rằng, vào thế kỷ thứ X, trong quá trình thống nhất quốc gia, Đinh Bộ Lĩnh đã sai tướng Nguyễn Bặc dùng kế hoả công vây bắt sứ quân Phạm Phòng Át (tức Phạm Bạch Hổ) làm cả vùng núi Côn Sơn

khói mù mịt nên gọi là núi Hun và tên chùa được gọi theo tên núi

Trang 16

Côn Sơn là nơi "tôn quý của trời đất", là đất thiêng đạt được quy chuẩn đối đãi âm dương, về cảnh sắc thì "gió hoà tươi tốt" đẹp tựa chốn bồng lai Côn Sơn đã thu hút nhiều bậc cao tăng về đây để hoằng dương phật pháp, là nơi di dưỡng tinh thần của bao bậc quân vương hiền triết, tao nhân mặc khách và muôn vàn kẻ sĩ của mọi triều đại Trong đó tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang, Trần Nghệ Tông (1370 - 1372), Trần Duệ Tông (1373 - 1377), Trần Nguyên Đán, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Thái Tông (1433 - 1442), Lê Nhân Tông (1442 - 1459), các chúa Trịnh, chúa Nguyễn… đều về đây tu tâm dưỡng tính và suy ngẫm, học cách ứng xử, phép trị nước của các bậc tiền nhân

Theo các thư tịch cổ còn lưu giữ lại di tích và qua một số truyền thuyết thì chùa Côn Sơn được xây dựng từ thế kỷ X Đến thế kỷ XIV, Côn Sơn đã là chốn danh lam cổ tích, nơi có 3 vị tam tổ Trúc Lâm thường về đây tu hành thuyết pháp lập tăng viện Kỳ Lân, đã trở thành một trong ba trung tâm Phật giáo nổi

tiếng của Phật giáo Trúc Lâm Việt Nam: "Côn Sơn, Yên Tử, Quỳnh Lâm; Nếu ai chưa đến thiền tâm chưa đành"

Ngày 23 tháng giêng năm 1334, Sư tổ Huyền Quang viên tịch, thương tiếc

vị quốc sư mẫu mực, đức vua Trần Minh Tông đã về Côn Sơn ban tước hiệu và tiền vàng để xây "Đăng Minh Bảo Tháp" Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật độc đáo của thời Trần còn tàng trữ lại Ngày giỗ tổ Huyền Quang từ nhiều thế kỷ qua nhân dân và phật tử thập phương nô nức trảy hội, trở thành ngày hội truyền thống, là nét văn hoá đặc sắc của chùa Côn Sơn

Từ thế kỷ XIV, chùa đã cơ bản hoàn chỉnh hệ thống các công trình tôn giáo như đã từng tồn tại trong lịch sử phát triển Đồ án kiến trúc chính của chùa là nội công ngoại quốc, quy mô di tích khá lớn với đầy đủ các công trình kiến trúc đồ

sộ và hoành tráng từ hồ Bán Nguyệt lên đến đỉnh núi Côn Sơn và núi Ngũ Nhạc như: Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện, 2 dãy tiền hành lang và hậu hành lang, cửu phẩm liên hoa, các toà tháp, am Bạch Vân, Ngũ Nhạc năm cung… Đây

là kết quả sự quan tâm của Nhà nước và công đức tiền của lớn lao của nhân dân, trong đó có các vương hầu, quý tộc như vua: Trần Anh Tông, Trần Minh Tông

Trang 17

Trải qua thăng trầm của lịch sử, ngày nay chùa Côn Sơn vẫn còn dấu ấn kiến trúc thế kỷ XIV, XVII, XVIII, XIX, vẫn tầng tầng lớp lớp theo lối cung đình: Hồ Bán Nguyệt, sân đá, tam quan ngoại, gác chuông, phật điện, tổ đường, hậu hành lang… Hệ thống tượng thờ khá phong phú biểu hiện thế giới phật giáo thu nhỏ với ý nghĩa triết lý nhân sinh, giáo dục hướng thiện khai tâm cho chúng sinh Đặc biệt trên thượng điện chùa Côn Sơn có 3 pho tượng tam thế được đánh giá là 3 pho tượng cổ, quý hiếm vào loại bậc nhất của nước ta có niên đại thế kỷ XVII, pho tượng A Di Đà cao 258cm, toạ thiền trên toà sen cao 60cm càng tăng thêm vẻ bề thế, uy nghi nơi Phật điện

Hiện chùa còn lưu giữ nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú Trong hệ thống văn bia từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, đặc biệt có tấm bia tạo thời Long Khánh có bút tích của vua Trần Duệ Tông và Trần Nghệ Tông, tấm bia "Côn Sơn tư phúc tự bi" hình lục lăng tạo thời hậu Lê đã được Bác Hồ đọc khi Người về thăm di tích (15/2/1965), hệ thống tảng kê chân cột thế

kỷ XIV, tháp Đăng Minh thế kỷ XIV, hệ thống các đôi câu đối, hoành phi của nhiều triều đại:

Ngoài ra còn các bộ sách kinh Phật, bộ cúng đàn Mông Sơn Thí Thực, bùa chú của Huyền Quang, hệ thống phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi, những hiện vật khác có giá trị qua những lần khai quật khảo cổ học gần đây 1979, 2000, 2005,

2006 tại khu vực chùa Côn Sơn như: Ngói mũi hài kép, bình, lọ, bát, đĩa, đặc biệt đầu đao bằng đất nung có niên đại thế kỷ XIV, XVII Những hiện vật ấy đã minh chứng một thời vàng son của chùa Côn Sơn trong hào khí văn hoá Đông A của quốc gia Đại Việt

Năm 1962, thực hiện Nghị định của Thủ tướng Chính phủ về việc bảo vệ các di sản văn hoá dân tộc, khu di tích Côn Sơn được xếp hạng là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia

Năm 1992, khu di tích này được xếp hạng là di tích lịch sử - danh thắng đặc biệt quan trọng quốc gia

Trang 18

Bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị lịch sử văn hoá của khu di tích Côn Sơn trong công cuộc đổi mới, mở rộng giao lưu quốc tế là việc làm có ý nghĩa chiến lược, cấp thiết được Đảng và Nhà nước quan tâm

Đền Thanh Hƣ : Đền Thanh Hư thờ Đại Tư Đồ Trần Nguyên Đán thuộc quần

thể di tích Côn Sơn Trần Nguyên Đán (1325 - 1390) hiệu là “Băng Hồ”, con của

Uy Túc hầu Trần Văn Bích - chắt của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định) Trần Nguyên Đán thuộc họ Tôn Thất, nên từ sớm được bổ nhiệm làm quan theo quy chế tập chức Cuộc đời, sự nghiệp của ông gắn với công cuộc củng cố, xây dựng vương triều nhà Trần nửa cuối thế kỉ XIV

Cuối thế kỷ XIV, triều Trần suy vong, báo trước sự sụp đổ không còn xa nữa, Tư đồ Trần Nguyên Đán xin với 2 vua (Nghệ Tông, Duệ Tông) về trí sĩ ở Côn Sơn Lý do ông chọn Côn Sơn về trí sĩ, có lẽ không chỉ Côn Sơn cảnh đẹp

"núi xanh muôn lớp như bức bình phong vẽ" (Chu Văn An), một "danh lam nơi đất Bắc, tiêu biểu của trời Nam" (bia Bảo Thái thứ 3 (1721)) mà còn là một trong

3 chốn tổ của dòng thiền Trúc Lâm do chính tổ nội của ông khởi dựng Chính vì vậy trước khi về cáo lão ở Côn Sơn, ông đã cho gia nhân về xây dựng khu động phủ ở sườn núi Côn Sơn:

Trong động Thanh Hư, ông cho trồng trúc "Thanh Hư đầy động hàng ngàn trúc" (Nguyễn Trãi), trên núi trồng thông Truyền thuyết "Ông thông, bà giễ" còn lưu lại đến bây giờ Ông muốn tạo dựng động Thanh Hư thành một miền đất thánh thiện

Thanh Hư động của Tư đồ bao gồm các công trình "nghỉ ngơi, chơi ngắm" ở sườn núi Côn Sơn rộng trên 2000m2, dưới núi có cầu Thấu Ngọc bắc qua suối Côn Sơn

Nhiều thế kỷ qua, Thanh Hư động chỉ còn là một khu phế tích, nhưng địa danh Thanh Hư động vẫn hấp dẫn tín đồ, du khách thập phương "Ôn cố tri tân", ngày 02 tháng 6 năm 2004, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương ra Quyết định số 2138/QĐ - UBND về việc phê duyệt thiết kế kỹ thuật và dự toán công trình xây dựng đền tại động Thanh Hư, thờ Trần Nguyên Đán Sau hơn 2 năm xây dựng,

Trang 19

ngôi đền khánh thành vào ngày 16 tháng giêng năm 2006 Đường lên đền quanh

co, khúc khuỷu được lát bằng đá quý Nghi môn kết cấu tứ trụ, hai trụ chính đăng đối với nhau qua đường thần đạo vào đền Đỉnh trụ là búp phượng chầu ra

4 hướng Dưới búp phượng tạo mái long đình, lồng đèn đắp tứ linh đế trụ đắp vỉa dạng cổ bồng Giữa 2 trụ chính làm mái nhà chè, lợp ngói vẩy cá

Đền chính kiến trúc kiểu chữ đinh, gồm bái đường và hậu cung Kiến trúc bái đường theo kiểu 2 tầng 8 mái, lợp ngói vẩy cá Chính giữa bờ nóc là hình hổ phù đội mặt trời bốc lửa Đầu bờ nóc đắp con kìm hiện thân của con ly Đầu đao tầng mái trên đắp rồng, mây, lá hoá rồng Tầng mái dưới đắp đao tứ linh trong dáng đàm ấm, biểu hiện sự trường tồn âm dương hoà hợp

Di tích miếu Ngũ Nhạc: Miếu được xây dựng trên năm đỉnh núi Ngũ Nhạc

thuộc thôn An Mô, xã Lê Lợi, thị xã Chí Linh Núi có chiều dài 4390 m đỉnh cao nhất là 238 m Trải qua bao năm tháng cùng sự phá hoại của thời gian, mưa nắng, những miếu thờ trên đỉnh Ngũ Nhạc chỉ còn là những ban thờ lộ thiên kiến trúc đơn sơ bằng đá trát vữa vôi có hình chữ nhật với chiều dài 3m,rộng 2m, cao

1m Đây thực sự là những di tích quý giá cần được khôi phục

Sau hơn một năm thi công, ngày 16 tháng giêng năm Bính Tuất (tức ngày 13/2/2006) lễ khánh thành năm miếu thờ trên núi Ngũ Nhạc cùng hệ thống đường bộ hành lên núi đã được tổ chức Các ngôi miếu đều quay về hướng Nam

- nơi có hồ Côn Sơn quanh năm nước biếc Công trình được thiết kế, thi công khá công phu Tuy địa hình núi dốc, hiểm trở nhưng đã đạt cả yêu cầu về kỹ, mỹ thuật và phù hợp với cảnh quan môi trường Đường bộ hành lên núi dài 1,8km được lát hoàn toàn bằng đá xanh Thanh Hoá, con đường ẩn mình dưới rừng thông khép tán xanh tươi

Di tích miếu Ngũ Nhạc là công trình phục hồi, tôn tạo đồng bộ từ đường

bộ hành đến kiến trúc các ngôi miếu Ở mỗi ngôi miếu đều có những mảng chạm khắc đạt trình độ nghệ thuật Thông qua quy mô công trình giúp ta hiểu thêm kiến trúc truyền thống, sự tinh tế trong trang trí, hợp lý trong kết cấu Các ngôi miếu thờ Thần Năm Phương trên đỉnh núi Ngũ Nhạc đã tạo thêm những nét văn

Trang 20

hoá tâm linh độc đáo làm hài lòng du khách thập phương đến chiêm bái khu di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng nổi tiếng Côn Sơn - Kiếp Bạc

Bãi Giễ : Bãi Giễ nằm ở phía Nam chân núi Côn Sơn, diện tích khoảng

15ha Cây giễ cứ héo rồi lại xanh tiếp nhau phủ kín diện tích rộng lớn ấy, năm này qua năm khác mà chẳng ai phải mất công chăm sóc Các bậc bô lão trong vùng không biết bãi giễ có tự bao giờ, chỉ biết là lớn lên đã thấy bãi giễ xanh tốt

mênh mông cả một vùng

Theo truyền thuyết của nhân dân địa phương sau khi cáo quan về trí sĩ ở Côn Sơn, Tư đồ Trần Nguyên Đán đã trồng rất nhiều thông ở trên núi Côn Sơn Sau này cây lớn tạo thành rừng thông đại ngàn Vợ ông thì cấy giễ, đem màu xanh cây thanh hao phủ lên khắp vùng đất hoang ở dưới chân núi Côn Sơn Đời này qua đời khác, cây giễ mọc lan, phát triển thành bãi giễ này Vì thế cây thông, cây giễ đã gắn liền với đất Côn Sơn trong câu nói cửa miệng từ ngày xưa “ông trồng thông, bà cấy giễ”

Giếng Ngọc: Dưới chân tháp tổ Huyền Quang là Giếng Ngọc, nước trong

vắt mát lạnh Người xưa cho rằng, giếng Ngọc là huyệt mạch của núi Côn Sơn

và là mắt của con Kỳ Lân Tương truyền, đêm rằm tháng bảy, sư tổ Huyền Quang mơ thấy vị thần dẫn đi về phía sau chùa chỉ cho viên ngọc sáng lấp lánh

dưới chân núi

Khi nhà sư cúi xuống xem thì chuông chùa vang lên làm Ngài tỉnh giấc Ngẫm lại giấc mơ, thiền sư cùng sư tăng lên xem, khi phát quang bụi rậm thấy hiện ra dòng nước Nhà sư uống thử thấy nước mát ngọt bèn cho khơi sâu, kè đá thành giếng Nước giếng bốn mùa đầy, xanh trong nhìn thấu đáy Sư tổ Huyền Quang đặt tên là giếng Ngọc Nước giếng Ngọc được dùng làm nước cúng và làm lễ mộc dục (tắm tượng) tại chùa Côn Sơn Dân gian truyền rằng nước giếng Ngọc thanh trong tẩy sạch bụi trần, ban phúc lành cho mọi chúng sinh Bởi vậy,

du khách khi đến Côn Sơn đều không quên lên thăm giếng Ngọc, lấy nước để uống cho vơi đi mọi nỗi phiền muộn và hy vọng dòng nước sẽ mang đến cho bản thân sức khoẻ dồi dào Năm 1995, giếng Ngọc được tôn tạo lại, thành giếng kè đá

Trang 21

hộc, hai bên đắp sư tử nằm phủ phục canh giữ “viên ngọc quý”, mãi long lanh toả khí thiêng bao trùm trời đất

Suối Côn Sơn: Suối bắt nguồn bởi 2 dãy núi Côn Sơn và Ngũ Nhạc, dài

khoảng 3km uốn lượn tạo nhiều ghềnh thác kế tiếp nhau rồi đổ ra hồ Côn Sơn Dòng suối hẹp, cây cối um tùm mang dáng vẻ hoang sơ, thơ mộng Suối Côn

Sơn đã đi vào thơ ca Nguyễn Trãi: “Côn Sơn suối chảy rì rầm; Ta nghe như

tiếng đàn cầm bên tai”

Suối Côn Sơn chảy rì rào quanh năm suốt tháng, bên suối có hai tảng đá lớn tương đối bằng phẳng gọi là Thạch Bàn

Suối xưa có cầu Thấu Ngọc bắc qua, được các sử gia và thi nhân ca ngợi như một công trình tuyệt mỹ Đến thế kỷ XIX, cầu Thấu Ngọc vẫn còn và động Thanh Hư vẫn là một cảnh kỳ thú Cao Bá Quát đến thăm Côn Sơn, cảm xúc

viết: “Thấu Ngọc kiều biên dã hoa tiêu; Thanh Hư động ký văn đê điểu” (Bên cầu Thấu Ngọc hoa rừng tươi tốt; Trong động Thanh Hư chim hót ríu rít)

Bàn Cờ Tiên: Đỉnh Côn Sơn là một khu đất bằng phẳng, không biết từ bao giờ

nhân dân trong vùng gọi là Bàn Cờ Tiên Truyền thuyết kể về tên gọi Bàn cờ tiên như sau: Vào một chiều thu, có một số danh nhân vùng Kinh Bắc về thăm Côn Sơn Sau khi thắp hương, làm lễ, vãng cảnh, các vị nghỉ tại chùa để ngày mai lên núi uống rượu đánh cờ Sáng sớm hôm sau, núi rừng Côn Sơn được mây trắng bao phủ, các danh nhân lần theo lối mòn trong mây mù lên núi, tới gần đỉnh núi, nghe có tiếng cười nói, các vị cho rằng đêm qua có người nghỉ tại Am Khi đến nơi mọi người đều ngạc nhiên thấy trong am không một bóng người, chỉ thấy một bàn cờ đang đánh dở, suy ngẫm hồi lâu các vị cho rằng trên đỉnh núi Côn Sơn đêm qua trời đất nối liền bằng mây mù, sương phủ, các tiên ông trên trời đã cưỡi mây xuống đánh cờ, thấy có người đến, các tiên ông bay về trời để lại bàn cờ đang đánh dở, từ đó đỉnh núi Côn Sơn có tên gọi là Bàn cờ tiên

Hiện nay trên Am Bạch Vân có dựng một nhà bia theo kiểu vọng lâu, hai tầng tám mái cổ kính Những năm gần đây, để mở rộng không gian du lịch, phục

vụ khách về tham quan và dự lễ hội Côn Sơn, nhà nước đã cho tu sửa con đường cũ với hơn 700 bậc đá từ chân núi Kỳ Lân, sau chùa Côn Sơn lên tới Bàn cờ tiên

Trang 22

Ngoài ra, còn cho xây dựng con đường bậc đá thứ hai từ sau tháp Huyền Quang, men theo ven suối Côn Sơn, qua các điểm di tích: Đền Nguyễn Trãi, Động Thanh Hư, Thạch Bàn, nền nhà Nguyễn Trãi…rồi tiếp nối vào con đường cũ lên tới “Bàn cờ tiên”

Đăng Minh Bảo Tháp: Sau khi Sư tổ Huyền Quang viên tịch tại chùa Côn Sơn

(1334), Vua Trần Minh Tông cúng dường 10 lạng vàng xây tháp cho thiền sư, lấy tên là Đăng Minh Bảo Tháp, đặc phong tự pháp Huyền Quang tôn giả Trải qua thời gian, tháp đã bị huỷ hoại Năm Kỷ Hợi (1719), nhà sư Hải Ấn xây dựng lại Đăng Minh bảo tháp “…Một sớm khởi công, muôn người xúm lại, thay gạch ngói cổ bằng đá quý đẹp hơn”

Đăng Minh Bảo Tháp gồm 3 tầng cao khoảng 5m được ghép bởi những phiến đá xanh, lên cao tháp thu nhỏ dần Tầng giữa khắc nổi bốn chữ Hán Đăng Minh bảo tháp, mặt sau khắc bài minh ca ngợi sư tổ Huyền Quang Trong lòng tháp đặt tượng Huyền Quang bằng đá ngồi kiết già, tay kết ấn tam muội (hiện pho tượng đã được chuyển về tổ đường chùa Côn Sơn) Đăng Minh bảo tháp với dáng đậm, chắc, thế vững chãi uy nghi trong không gian bao la giữa đại ngàn Côn Sơn

Nền nhà Nguyễn Trãi: Phía sau công trình đền thờ Trần Nguyên Đán 200m, là

dấu tích nền nhà cũ của Anh hùng dân tộc - danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi Nơi đây, gần 600 năm trước (từ năm 1435 - 1442) Nguyễn Trãi đã về đây nương theo sườn núi, lấy cây rừng đá núi dựng nên nếp nhà đơn sơ nhưng ấp ủ trong đó là một con người có tâm hồn, nhân cách, tài năng vĩ đại

rộng 7m nằm bên cạnh Thạch Bàn Di tích này đã được Bảo tàng Hải Hưng phát hiện từ năm 1979 Ngày 1/9/1996, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh về thăm Côn Sơn đã căn dặn cán bộ và nhân dân Hải

Dương: “Côn Sơn là một di tích văn hoá quí giá vào hàng bậc nhất của Việt Nam cần được giữ gìn, tôn tạo để giáo dục muôn đời các thế hệ người Việt Nam Cần khôi phục ngôi nhà của cụ Nguyễn Trãi và trồng cây xanh xung quanh khu

Trang 23

nhà để làm nơi tưởng niệm nhà văn hoá thế giới, vị anh hùng dân tộc của Việt Nam ta”

Đền thờ Nguyễn Trãi: Đây là công trình xây dựng để tưởng niệm Anh hùng

dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi Ngày 14/12/2000, UBND tỉnh Hải Dương đã quyết định khởi công xây dựng đền thờ Nguyễn Trãi tại Côn Sơn

với tên gọi Ức Trai linh từ

Đền thờ Ức Trai được xây dựng trên diện tích một vạn m2 chia cắt bằng năm cung bậc cao thấp trải dài kế tiếp nhau Bên phải là rừng đại ngàn thông mã

vĩ, sim mua, là thung lũng ngập tràn keo tai tượng Bên trái là đại danh lam cổ tự Côn Sơn Cả con đường nằm lọt giữa bạt ngàn màu xanh của thiên nhiên Côn Sơn Sau đoạn đường dài 300m, là tới Nghi môn ngoại kiến trúc theo lối thạch thiên trụ sừng sững, uy nghiêm Thạch thiên trụ với những chạm khắc kiến trúc hoa lá, Hán tự tinh xảo Ngoài cảm nhận về vẻ đẹp chung, ta còn cảm nhận được

cả tâm hồn nghệ nhân tỏa ra rồi tụ lại trong từng đường nét, chi tiết kiến trúc Nghi môn ngoại trong khoảng sân đá 700m2 có tường bao trạm khắc hoa văn sóng nước thời Lê Đó là cầu đá Thấu Ngọc vào đền, cầu dài 17,6m, rộng 6,4m

và trụ cầu cao gần 4m vươn mình qua suối Côn Sơn Thành cầu được chạm khắc theo dạng thức hình sóng nước, xen lẫn mô típ tứ bình, tứ quý Cây cầu tạo ra một cảm giác vững chắc mà thanh thoát

Trên cung bậc thứ hai, Nghi môn nội được xây dựng theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái Các mảng chạm khắc trên cánh cửa, trên bức cốn, đầu dư biểu trưng linh vật sống động Tiếp lên cung bậc thứ ba của di tích với hai nhà bia nói

về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Trãi và quá trình xây dựng đền thờ Ức Trai Giữa hai nhà bia là Tắc môn (tiểu tiền án) làm bằng đá xanh được thiết kế theo dạng cuốn thư Trên cung bậc thứ tư là hai dãy nhà tả, hữu vu làm bằng gỗ lim vừa tạo sự khép kín, vừa tạo lên tính tôn nghiêm của Ức Trai linh từ

Ngôi đền được xây dựng ở cung bậc thứ 5, theo kiến trúc thời Lê, đề tài trang trí trên các bức cốn, đầu dư, xà nách là "Tứ linh hội hợp", trên các cánh cửa trạm đề tài: "Tứ quý uyên ương" Hoành phi câu đối trong đền do Viện Nghiên cứu Hán nôm sưu tầm tuyển chọn Nội dung của hoành phi câu đối thể

Trang 24

hiện tâm hồn, nhân cách cao đẹp, tài năng và công đức lớn của Nguyễn Trãi, đồng thời thể hiện thái độ tôn vinh, tấm lòng biết ơn đối với Nguyễn Trãi

Gian Tiền tế được xây dựng theo kiểu 3 gian 2 chái, chính giữa có bài trí ban thờ Công đồng Bên trái là ban thờ Sơn thần Bên phải là ban thờ Thổ địa Trung từ có đặt ban lễ trình Tại hậu cung bài trí tượng thờ chân dung Nguyễn Trãi bằng đồng trong khám thờ uy nghiêm Tượng thờ toát lên vẻ thần thái một bậc đại nhân đại nghĩa, một nhà nho tiết tháo thanh cao Bên trên tượng đức Nguyễn Trãi là bức cuốn thư đề chữ Hán: "Bình Ngô khai quốc" (dẹp giặc Ngô khai mở nước) Hai bên tả hữu Hậu cung phối thờ long ngai, bài vị thân phụ và thân mẫu Nguyễn Trãi

Đền thờ Nguyễn Trãi là tác phẩm kiến trúc vừa giàu tính truyền thống, vừa mang dấu ấn thời đại, là kết quả đỉnh cao về tấm lòng tôn vinh, tri ân sâu sắc của hậu thế đối với tầm vóc và công lao vĩ đại của Ức Trai Đền thờ không chỉ là niềm tự hào riêng của nhân dân tỉnh Đông mà còn là niềm tự hào chung của nhân dân cả nước Hành hương về thăm đền thờ Nguyễn Trãi là dịp ôn cố tri tân, đền

ơn tiền nhân dân tộc, là dịp giáo dục truyền thống văn hoá dân tộc, giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

* Di tích lịch sử đền thờ Kiếp Bạc

Xung quanh đền Kiếp Bạc là hệ thống di tích đền, chùa Nam Tào - Bắc Đẩu, Sinh Từ, Hang Tiền, Hố Thóc, Xưởng Thuyền, Hành Cung, Viên Lăng, Ao Cháo Thời Trần đây là những công trình kiến trúc bề thế, nguy nga nhưng hiện nay nhiều di tích chỉ còn là phế tích Qua các cuộc khai quật khảo cổ học cho thấy đây là di sản quí giá về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học của khu di tích Kiếp

Bạc:

Đền Kiếp Bạc: Đền Kiếp Bạc thờ anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần

Quốc Tuấn, được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia, thời Trần thuộc hương Vạn Kiếp, lộ Lạng Giang, tời Lê, Nguyễn thuộc trấn Kinh Bắc( nay thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương)

Trấn giữ cửa ngõ phía đông thủ đô Thăng Long, có vị trí địa lý, phong thuỷ hiểm yếu, nơi hội tụ các giá trị văn hoá, tôn giáo, quân sự, kinh tế, chính trị ở các

Trang 25

triều đại, Kiếp Bạc là nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể của tỉnh Hải Dương

Đền Kiếp Bạc toạ lạc trên khu đất bằng, trung tâm khu di tích Kiếp Bạc Đền nhìn theo hướng Tây nam, ở thế "Ỷ sơn quan thuỷ" Phía trước là dòng Lục Đầu Giang - nơi tụ thuỷ, tụ linh khí, tụ phúc, tụ đức của 6 con sông hội về Với chiều dài trên 10km, sông Lục Đầu nhận nước của 4 nhánh sông từ phía Bắc đổ xuống (Thiên Đức - sông Đuống, Nhật Đức - sông Thương, Nguyệt Đức - sông Cầu, Minh Đức - sông Lục Nam) và hợp với hai nhánh sông dưới hạ lưu là sông Thái Bình, sông Kinh Thầy đổ ra biển Đông

Đền tựa lưng (chẩm) vào núi trán Rồng Hai bên tả, hữu là 2 dãy núi rộng

mở thế tay ngai, long mạch toả ra hình rồng uốn khúc từ đỉnh dãy núi Rồng kéo thành "tay Long" núi Nam Tào (Dược Sơn) chầu bên tả và "tay Hổ" núi Bắc Đẩu bao bên hữu Trên hai ngọn núi có đền Nam Tào, đền Bắc Đẩu chầu vào đền Kiếp Bạc như thể Ngọc Hoàng Thượng Đế vậy!

Ở vào vị trí "đắc địa", hội linh khí của sông núi, vũ trụ, hợp với phong thuỷ

nên từ cổ chí kim mảnh đất này luôn được ca tụng rằng: “Vạn kiếp cao sơn long dẫn mạch; Lục đầu thuỷ mãn hổ triều lai” (Vạn kiếp núi cao long dẫn mạch;

Lục đầu sông rộng hổ chầu về) [22]

Quá trình phát triển khu di tích Kiếp Bạc gắn với lịch sử về cuộc đời sự nghiệp Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Qua hệ thống văn bia và hệ thống thư tịch cũ còn để lại cho thấy đền Kiếp Bạc đã được khởi dựng vào những năm đầu thế kỷ 14 (sau khi Hưng Đạo Vương từ trần năm 1300) Sang thời Lê, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, năm 1427 ngay sau kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Vua Lê Thái Tổ đã cắt ngân quỹ, cử Dương Thái Nhất về tu sửa thái miếu đền Kiếp Bạc, ra sắc chỉ nghiêm cấm chặt phá và xâm hại đất đai khu vực di tích

Qua nhiều thế kỷ do nắng mưa và chiến tranh các công trình kiến trúc nguy nga, lộng lẫy thời Trần, Lê không còn, quy mô xây dựng của các lần trùng tu không còn đẩy đủ: Trung từ và tả hữu vu đã bị giặc Pháp đốt phá, chỉ còn lại hậu

Trang 26

cung, tiền bái và nghi môn Các công trình kiến trúc hiện nay chủ yếu do một số quan lại xứ Bắc, xứ Đông, khởi xướng cùng nhân dân trùng tu tôn tạo

Hệ thống các công trình kiến trúc tuân thủ theo nguyên tắc âm dương, ngũ hành Từ núi Trán Rồng, các công trình kiến trúc phát triển ra sông Lục Đầu gồm các hạng mục: Sinh Bia nay là Hố chân bia (do Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông soạn văn bia), gò đất chữ Vương, đền Chính, nhà Bạc, tả, hữu Thành Các, tả, hữu Giải vũ, giếng Mắt Rồng, Nghi môn Đền chính kết cấu kiến trúc kiểu tiền nhất hậu đinh, liên hoàn, thống nhất gồm: Tiền tế, Trung từ, Hậu cung

Nghi môn đền là công trình kiến trúc đồ sộ hoàng tráng, thiết kế kiểu cổng thành dạng bức cuốn thư với ba cửa vòm và hai trụ biểu lớn Đây là bức tranh sinh động hội đủ tứ linh, tứ quý, khái quát cả âm dương, trời đất, thiên nhiên, con người nơi đất Thánh Ngày nay, Nghi môn là công trình kiến trúc độc đáo, hiếm thấy trong các công trình văn hoá cổ ở khu vực Bắc Bộ Qua nghi môn là tả

- hữu Thành Các Công trình được tôn tạo thời Nguyễn, là nơi các quan hàng tỉnh về nghi ngơi, chuẩn bị các kỳ lễ hội

Trong sân là giếng Mắt Rồng Giếng nằm ở trung tâm thung lũng dãy núi Rồng do mạch nước ngầm từ núi chảy ra gọi là giếng mắt rồng Tương truyền, Giếng xây dựng thời Trần gắn với tên tuổi của danh tướng Yết Kiêu - Người có công tìm và phát hiện ra nguồn nước Đây là nước giếng thiêng, trong mát đã tiếp sức cho quân sỹ nhà Trần mỗi khi ra trận Sau này, nước giếng được dùng trong các nghi lễ cúng, tế của đền

Giữa sân là Nhà Bạc Công trình nằm trên đường Thần đạo, là cầu nối giữa nghi môn và đền chính, mang ý nghĩa như một tắc môn chắn tà khí cho Đền Đây là nơi tổ chức các nghi lễ trọng thể của Nhà nước dâng hương tưởng niệm anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Hai bên sân có tả, hữu hành lang là nơi dành cho nhân dân thập phương nghi ngơi, tu sửa lễ phẩm trước khi vào lễ Thánh

Đền chính gồm: Tiền tế, Trung từ, Hậu cung Toà Tiền Tế có ban thờ Công đồng Trần triều Trung từ thờ vọng ngai, bài vị tứ vị hoàng tử (4 vị con trai của

Trang 27

Trần Hưng Đạo - Hưng Vũ Vương Trần Quốc Hiến, Hưng Hiến Vương Trần Quốc Nghiễn, Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, Hưng Trí Vương Trần Quốc Uy), thờ tượng Điện suý Phạm Ngũ Lão (con rể thứ 2), hai bên tả - hữu thờ vọng quan Nam Tào, quan Bắc Đẩu Toà hậu cung gồm: Cung chính thờ tượng Đức Thánh Trần; cung cấm thờ vọng gia tiên Đức Thánh, tượng Thiên Thành công chúa phu nhân, hai bên thờ tượng Quyên Thanh công chúa - cô đệ nhất và Anh Nguyên quận chúa - cô đệ nhị

Trong đền còn lưu giữ nhiều hiện vật, cổ vật quý như 5 pho tượng đồng, sơn son thiếp vàng, đúc cuối thế kỷ XIX, hoành phi, câu đối, bia đá đặc biệt là Thánh Ấn nhà Trần Ấn "sát quỷ, trừ tà" của Đức Thánh Trần được dân gian truyền tụng và gìn giữ, là bảo vật của muôn đời Bất cứ ai hành hương về đền Kiếp Bạc đều mong xin được ấn dấu nhà Ngài, mang bên mình cầu an

Đền và chùa Nam Tào, Bắc Đẩu : Trên hai ngọn núi Nam Tào, Bắc Đẩu

có ngôi đền và ngôi chùa dựng từ thời Trần, thờ phật và thờ thần Nam Tào (cầm

sổ sinh), Bắc Đẩu (cầm sổ tử) tượng trưng cho thị giả giúp Đức Thánh Trần coi

Dƣợc Sơn: Dược Sơn (núi thuốc) là nhánh núi phía Nam đền Kiếp Bạc

với diện tích xấp xỉ 10.000m2 Thời Trần, Trần Hưng Đạo với tư tưởng người Nam dùng thuốc nam đã cho trồng những cây thuốc nam, vị thuốc quý để chữa bệnh trị thương cho quân sỹ

Sự tích kể rằng: Một đêm Hưng Đạo Đại Vương nằm mơ thấy có một ông già đầu quấn khăn nâu, mình mặc áo dài đen, tay xách túi cói vào tìm gặp Ông lão vái ba vái: “Tôi là Dược linh, biết Đức Ông cần thuốc nên đem biếu” Hưng Đạo Vương cảm tạ và đáp lễ nhận túi Mở túi Quốc Công chỉ thấy có mấy cây thuốc giống, ngẩng lên không thấy ông lão đâu nữa Chuyện về cây thuốc làm

Trang 28

Quốc Công không sao ngủ được Mấy hôm sau trên đường từ Xưởng Thuyền về phủ đệ, Ông thấy bên đường có những cây con như cây thuốc dược linh đã đem

về trồng ở Dược Sơn rồi tự tay hái lá làm thuốc đắp vết thương cho quân lính, quả nhiên vết thương lành hẳn Vườn thuốc quý của Trần Hưng Đạo đến thời Lê được xếp vào Chí Linh bát cổ (8 di tích cổ của huyện Chí Linh) với tên gọi Dược Lĩnh cổ viên Hiện nay, theo thống kê của y dược trung ương trên núi Dược Sơn

và một số ngọn lân cận còn khoảng trên 300 vị thuốc như: Tán tía, cam thảo,

hoàng chỉ nam Dân gian vẫn thường nhắc câu ca: “Dược lĩnh hoa thơm cỏ lạ thường; Biết chăng chăng biết thuốc thần tiên”

Viên Lăng: Viên Lăng nằm ở gò đất nhỏ hình tròn, cách đền Kiếp Bạc

khoảng 200m về phía Đông Nam Xung quanh Viên Lăng là ruộng trũng, phía trước nhìn ra sông Thương, phía sau là dãy núi Rồng bao bọc Viên Lăng được

ví như một viên ngọc mà rồng (núi rồng) luôn ở tư thế lao xuống muốn càm ngọc

Là một địa điểm đẹp, tương truyền xưa kia lăng mộ Trần Hưng Đạo được táng ở đây Năm 2000 khảo cổ học đã phát hiện nhiều dấu tích kiến trúc nhà ở và một số hiện vật thời Trần

Sinh Từ : Năm 2000, Viện Bảo Tàng lịch sử Việt Nam đã tổ chức thám

sát khảo cổ học tại di tích Sinh Từ Nơi đây trong sử sách, nhân dân vẫn nhắc nhớ về phủ đệ cũ và vị trí ngôi đền thờ Hưng Đạo Đại Vương khi Người còn sống đã được vua Trần cho xây dựng Tương truyền, sau khi Hưng Đạo Đại Vương qua đời, nhân dân đã chuyển nguyên vật liệu của Sinh Từ về dựng đền Kiếp Bạc hiện nay

Cồn Kiếm : Trên sông Lục Đầu, trước cửa đền Kiếp Bạc có một cồn cát

chạy dài 200m hình như lưỡi kiếm nằm xuôi dòng nước, gọi là Cồn Kiếm Tương truyền, sau khi đánh thắng giặc Nguyên Mông mang lại thái bình cho đất nước, Hưng Đạo Vương về nghỉ tại thái ấp của ông ở Vạn Kiếp Một hôm, ông cùng gia nhân dùng thuyền nhỏ đi dạo cảnh trên dòng sông Lục Đầu Khi con thuyền đã quay về gần núi Dược Sơn, Hưng Đạo Vương cho dừng thuyền lại,

đứng trên mũi thuyền Người rút thanh kiếm của mình ra khỏi bao và nói: “Thanh

Trang 29

gươm này đã gắn bó với ta gần cả cuộc đời Trong suốt cuộc chinh chiến nó đã dính bao máu giặc Thát, nó đã từng được bôi phân gà với vôi tôi và bồ hóng để chém đầu tên giặc Phạm Nhan dơ bẩn Nay ta muốn nhờ dòng nước sông Lục Đầu để gột rửa sạch nhứng vết nhơ trên nó” Nói rồi, Người ném thanh gươm đã

bao năm gắn bó bên mình đi chiến trận xuống dòng sông Tại khúc sông Hưng Đạo Vương thả thanh kiếm báu, sau này đã nổi lên cồn đất hình thanh kiếm, dân gian gọi đó là Cồn Kiếm Cồn Kiếm ngày nay vẫn còn trên dòng sông Lục Đầu

về phía nam trước cửa đền Kiếp Bạc Nhân gian cho rằng Người đã thả kiếm xuống dòng sông, nhờ nước sông Lục Đầu hay siêu thực hơn lấy cái Đức của trời đất (Thiên Đức, Nhật Đức, Nguyệt Đức, Minh Đức) gột rửa chiến tranh để gìn

giữ nền thái bình muôn thuở Đó cũng là cổ mẫu từ huyền thoại - huyền tích với

biểu trưng của kim và thuỷ (kim sinh thuỷ) nhằm cầu mưa, chống lũ lụt hay cầu mùa màng của cư dân nông nghiệp cổ

* Đền thờ Chu Văn An : Đền thờ Chu Văn An được xây dựng trên địa

phận xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nơi địa linh, nhân kiệt, sản sinh nhiều nhân tài, đồng thời còn là nơi hun đúc những tâm hồn lớn với ý chí phi thường Sau năm 1945, xã Kiệt Đặc đổi tên thành xã Văn An Nơi đây tập trung 4 trong số 8 di tích lịch sử của Chí Linh Bát Cổ bao gồm: Tinh phi Cổ Pháp – Tháp mộ bà chúa Sao Sa Nguyễn Thị Duệ, thứ hai là Vân Tiên Cổ Động – một thắng cảnh thuộc khu vực Huyền Thiên Cổ Tự – chùa cổ Huyền Thiên là một ngôi chùa lớn được xây dựng vào thời Trần, thứ ba đó là Thượng Tể Cổ Trạch – nhà cũ của thượng tể quốc phụ của Trần Quốc Trẩn, sống cùng thời với Chu Văn An và cuối cùng là Tiều Ẩn Cổ Bích – còn có tên là Chu Văn Trinh Tiên Sinh ẩn cư xứ nơi ẩn cư của Chu Văn An Đây cũng chính là nơi có dòng

họ Nguyễn có tới 8 người đỗ đại khoa trong các kỳ thi đình từ thế kỷ 16 đến thế

kỷ 18

Tổng thể của khu di tích bao gồm các hạng mục công trình như Điện Lưu Quang, ao Miết Trì, nền Đền Thờ và nhà bia cũ, hai nhà bia mới, hai nhà Giải Vũ, Đền thờ chính, khu lăng mộ Chu Văn An

Trang 30

Điện Lưu Quang : Điện Lưu Quang được xây dựng trên nền nhà cũ mà

Chu Văn An xưa kia đã dùng để dạy học khi từ quan về ở ẩn Do thời gian và chiến tranh nhà cũ của Ông nay đã không còn nữa, chỉ còn lại nền nhà Cho tới năm 1998 ngành Giáo Dục Đào Tạo Hải Dương đã công đức và cho xây dựng

lại

Điện Lưu Quang có ý nghĩa là: Ca ngợi đạo học, ca ngợi công lao, tài đức của thầy giáo Chu Văn An như ánh sáng, như tấm gương soi đến muôn đời, cần phải giữ gìn và truyền lại Điện Lưu Quang được xây dựng với kiến trúc 2 tầng 8 mái và được làm hoàn toàn bằng gỗ tạo cho chúng ta cảm giác vừa cổ kính vừa linh thiêng Trước cửa có tấm biển ghi dòng chữ “Điện Lưu Quang” Ở giữa của điện còn lưu giữ 12 bài thơ trong tổng số những bài thơ của thầy Chu Văn An đã

bị thất lạc khi Ông về ở ẩn và dạy học ở đây

Ao Miết Trì : Tử điện Lưu Quang đi xuống khoảng chừng 10m là ao

Miết Trì Tương truyền rằng khi Chu Văn An mở trường dạy học ở quê nhà có nhiều học trò tìm đến theo học, trong số này sáng nào cũng có một trò rất chăm chỉ Năm ấy trời hạn nặng, thời tiết oi bức không chịu nổi, ruộng đồng khô hạn

mà trời cứ nắng chang chang không hề có dấu hiệu mưa Nghe nói ở vùng trong còn có lốc lửa quét qua làm cho nhà cháy, người chết, mùa màng thất bát Đã vậy vua quan lại ăn chơi sa đoạ, thu thuế khoá nặng nề không quan tâm tới nhân dân, đời sống nhân dân thống khổ vô cùng Trước tình hình đó trong một buổi học khi giảng bài xong Chu Văn An liền họp các học trò lại hỏi xem ai có tài thì làm mưa giúp dân, giúp nước Người học trò lạ trước có vẻ ngần ngại nhưng sau

đứng ra xin nhận và nói với thầy : “ Việc này vượt quá quyền hạn của con, nhưng con vâng lời thầy làm trái lệnh Thiên Đình giúp dân, mai kia nếu có chuyện gì không hay xin thầy lo chu toàn cho”[11] Nói xong người này ra giữa

sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút chấm mực vẩy ra khắp nơi, vẩy gần hết mực lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời Ngay sau đó mây đen kéo đến trời đổ mưa một trận rất lớn, mưa đúng một ngày một đêm thì tạnh Nhân dân vui mừng khôn xiết, nhưng ngay đêm đó mọi người nghe thấy một tiếng sét rất lớn ở Đầm Đại Sáng hôm sau mọi người ra xem thì thấy tôm cá ở

Trang 31

Đầm Đại đều chết hết và xác một con Giao Long rất lớn trôi dạt vào bờ Thầy Chu Văn An được tin ra xem và biết đó chính là người học trò lạ của mình đã khóc thương luyến tiếc rồi sai học trò làm lễ an táng, nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau để nhớ công ơn bèn lập đền thờ Đền thờ đó gọi là Am

Lệ Kỳ, nó thuộc khu vực núi Kỳ Lân, cách 100m về phía bắc đền

Theo truyền thuyết chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống đã biến thành đầm nước mà nước ở đó lúc nào cũng đen nên gọi là Đầm Mực Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học, và đây chính là quê

hương của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm…

Nền nhà cũ đền thờ thầy Chu Văn An : Đền thờ cũ bị dời bỏ, nay chỉ

con lại nền móng và nhà bia Thay vào đó là đền thờ mới với kiến trúc thời Lê

Trước đây đền cũ được xây dựng theo kiến trúc hình chữ Đinh với hai lớp, lớp ngoài cùng là tiền đường với 3 ban thờ, ban giữa là thờ Công Đồng, bên trái là ban thờ các học trò của Chu Văn An và bên phải là ban thờ Sơn Thần, bên trong

là hậu cung với ban thờ Chu Văn An và gia tiên họ Chu Bên cạnh đền cũ là nhà bia cũ, tại đây có đặt năm tấm bia đại cổ được tìm thấy khi khai quật khu di tích Trong 5 tấm bia có một tấm nói về việc trùng tu Am Lệ Kỳ được xây dựng thế kỉ

17 (Đây là chiếc am nhỏ nằm bên kia suối cách di tích 100m về phía bắc) một tấm bia khắc chữ “ Chu Văn Trinh tiên sinh ẩn cư cứ” được khắc vào năm 1784,

3 tấm bia còn lại nói về thân thế, sự nghiệp của Chu Văn An và gia tiên họ Chu

cùng với việc trùng tu khu di tích qua các năm 1837, 1841, 1857

Nhà bia và nhà Giải Vũ: Không nguy nga hoành tráng như những công

trình di tích khác, đền thờ Chu Văn An được thiết kế xây dựng đơn giản mang đậm nét truyền thống dân tộc Ngôi đền chính được làm theo lối chồng diêm 2 tầng 8 mái thể hiện sự tôn vinh đẳng cấp và tầm vóc của danh nhân, đồng thời cũng theo phong tục tập quán của người Việt về kiến trúc nhà cửa, nhà gỗ lợp bằng ngói mũi hài bậc thềm đá đồ thờ sơn son thếp vàng… tất cả đều khiêm

nhường, ấm áp mà đầy sự thành kính, trang trọng và linh thiêng

Hai nhà bia này cùng với hai nhà Giải Vũ được khánh thành cùng với đền thờ chính vào ngày 04/ 01/ 2008 Đây là công trình khá mới mẻ được xây dựng

Trang 32

trên hai mảnh đất trống với kiểu kiến trúc hai tầng tám mái và được lợp ngói mũi hài giống như ở điện Lưu Quang Lối kiến trúc truyền thống, chạm khắc đương thời này không cầu kỳ, không quá công phu nhưng đã tạo được điểm nhấn, đạt hiệu quả cao trong việc truyền tải ý tưởng tâm linh và nghệ thuật điêu khắc của nghệ nhân về những ước vọng cầu mùa của cư dân nông nghiệp

Tiếp đó, hai nhà Giải Vũ là nơi dừng chân, đón tiếp du khách thập phương khi đến thăm đền, đồng thời cũng là nơi trưng bày hiện vật được tìm thấy để chứng minh thầy giáo Chu Văn An đã từng sống và dậy học tại đây sau khi từ quan về ở ẩn Ở giữa hai nhà Giải Vũ là bức bình phong khổng lồ hay còn gọi là chiếu đá, toàn bộ đều được làm bằng đá xanh được chuyển từ Thanh Hoá ra Hai bên bức bình phong được trang trí hai con rồng với những đường vân xoắn kiểu yên ngựa, miệng ngậm ngọc, hai con rồng này là hình tượng rồng thời Trần vì Chu Văn An sống dưới thời Trần

Đền thờ chính Chu Văn An: Bước tiếp qua 35 bậc đá là đền thờ chính,

khoảng sân được lát bằng gạch đỏ Đền thờ Chu Văn An được ngọn núi Phượng Hoàng bao bọc, có rừng thông bát ngát, suối chảy rì rào, phong cảnh sơn thuỷ

hữu tình

Đền thờ chính được xây dựng với lối kiến trúc hình chữ Đinh, hai tầng tám mái, được lợp bằng ngói mũi hài Đền thờ chính bao gồm 5 gian tiền tế và một gian hậu cung đây là kiểu kiến trúc tiêu biểu cho kiểu kiến trúc chùa ở nước ta Phía trên của đền là hình ảnh lưỡng long chầu nguyệt, hình tượng này gắn liền với tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước Người ta cho rằng cứ vào những ngày trăng tròn là nước sẽ dâng lên sẽ rất thuận lợi cho việc trồng trọt

Hàng năm nơi đây đã đón tiếp rất nhiều du khách thập phương nhất là vào mùa xuân và mùa thi mọi người đến đây để thắp hương tạ ơn thầy và cầu mong

sự may mắn và đỗ đạt để thoả mãn tinh thần trước khi bước vào kỳ thi Điều đó thể hiện truyền thống hiếu học của người dân Việt Nam, của các thế hệ tương lai Gian tiền đường của đền thờ chính gồm 5 gian, gian chính giữa là ban thờ công đồng, 2 gian bên cạnh là hai lối đi vào trong gian hậu cung, gian ngoài

Trang 33

cùng bên trái là ban thờ các học trò của Chu Văn An, gian ngoài cùng bên phải là ban thờ sơn thần

Ban thờ các học trò của thầy giáo Chu Văn An có một cái trống to Trống là

đồ vật thường được sử dụng trong những ngày lễ hội, và vì Chu Văn An là thầy giáo, các học trò của ông ở khắp mọi nơi, tiếng trống báo hiệu giờ học tới và dùng để khai giảng năm học mới và bên cạnh ban thờ còn có một chiếc chuông Đại Hồng Chung

Trong cùng là gian hậu cung nơi thờ thầy giáo Chu Văn An người thầy đầu tiên của dân tộc ta Chu Văn An nguyên có tên là Chu An, tự là Linh Triệt, sinh ngày 25/8/1292, tại thôn Văn, Xã Thanh liệt, huyện Thanh Trì nay thuộc thành phố Hà Nội Và hiện nay ở thôn Văn vẫn còn đền thờ họ Chu được xây dựng năm 1848

Lăng mộ thầy Chu Văn An: Mộ của Chu Văn An nằm giữa rừng thông bạt

ngàn trên dãy núi Phượng Hoàng Mộ thầy Chu Văn An được xây dựng theo hình vuông với quan niệm trời tròn đất vuông, phía dưới là hình các con vật minh triết như rồng, phượng, hình tượng con kỳ lân được cách điệu tạo vẻ linh thiêng cho khu mộ Phía trong là hình cuốn sách với bốn góc lăng mộ là hình các đầu bút long Đó là những vật gắn liền với nho sĩ thời xưa đồng thời cũng biểu trưng cho tâm hồn lớn của một nhà giáo mẫu mực, thể hiện ước muốn mang kiến thức truyền đạt lại cho đời sau, góp công sức trong công cuộc xây dựng và bảo

vệ đất nước

* Văn Miếu Mao Điền

Văn Miếu Mao Điền là một trong 6 Văn Miếu còn sót lại trên đất nước ta Mao Điền trước kia là trung tâm văn hoá, ngoại giao, quân sự, chính trị, kinh tế của Hải Dương Xưa kia nơi đây là một vùng đất bằng phẳng, có nhiều cỏ lau nên người ta đã lấy đặc trưng ấy để làm tên: Mao – cỏ lau Điền – ruộng cấy Văn Miếu Mao Điền tồn tại khá nguyên vẹn tới năm 1947, song đến năm

1948, giặc Pháp chiếm đóng và lập quận Mao Điền Trong thời kỳ chống Mĩ, Văn Miếu được sử dụng làm nơi chứa lương thực và vật tư của nhà nước Do năm tháng chiến tranh, vào những năm 1980 – 1990, Văn Miếu Mao Điền đã bị

Trang 34

xuống cấp nghiêm trọng, hầu hết đồ thờ bị phá huỷ hoặc thất lạc Năm 1991, cán

bộ và nhân dân xã Cẩm Điền đã đóng góp công đức tu bổ cấp thiết khu di tích Năm 1992, bộ Văn Hoá Thông Tin đã ra quyết định số 97/QĐ - VH xếp hạng Văn Miếu Mao Điền là di tích lịch sử quốc gia

Nơi đây có một lịch sử oanh liệt Văn Miếu và trường thị trấn Hải Dương

đã đào tạo hàng ngàn cử nhân, tiến sĩ nho học đứng vào hàng đầu cả nước Nếu chỉ tính số người đỗ đại khoa trong 185 kỳ thi (từ 1075 – 1919) cả nước có 2898 tiến sĩ thì trấn Hải Dương có 12 người Đặc biệt là Hải Dương còn có “lò tiến sĩ

xứ Đông” thuộc thôn Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang Tại đây có 39

vị tiến sĩ Nho học qua các thời kỳ lịch sử Sau khi đỗ đạt, các vị đại khoa đều mang hết tài năng của mình để xây dựng đất nước Văn Miếu Mao Điền nay là hợp nhất của Văn Miếu và trường thi hương xưa với quy mô công trình rộng tới

100 mẫu (3,6 ha) Văn Miếu được dựng theo hướng Nam gồm các hạng mục: Cổng tam quan, bái đường, hậu cung mỗi toà 7 gian xây theo kiểu chữ nhị, Đông

vu, Tây vu, gác chuông, gác trống, đài nghiên, tháp bút, nghi môn, Thiên Quang tỉnh và Khải Thánh môn – nơi thờ thân phụ và thân mẫu Khổng Tử Các hạng mục được quy hoạch cân đối và đẹp mắt Việc tế lễ và học tập diễn ra đông vui Hàng năm vào ngày Đinh (đầu tháng), Trọng xuân (tháng 2) và Trọng thu (tháng 8), trấn Hải Dương tổ chức tế lễ Khổng Tử Các quan đầu trấn, đầu phủ cùng cử nhân tiến sĩ về làm lễ trọng thể, nêu cao truyền thống hiếu học và tôn sư trọng

đạo của người tỉnh Đông

Cổng tam quan: Cổng tam quan được thiết kế với kiến trúc 2 tầng 3 cửa

Cửa ở giữa to hơn cửa ở hai bên Cửa giữa gọi là Trung quan, 2 bên gọi là Tả quan và Hữu quan Trung quan 2 tầng có tầng trên nhỏ hơn tầng dưới để thừa ra một khoảng hiên rộngQua cổng bước vào khu nội tự của văn miếu, là công trình mang đậm phong cách kiến trúc nghệ thuật của triều Nguyễn với kiểu bố trí công trình hình chữ Nhị, và các hoạ tiết hoa văn của phong cách nghệ thuật thời Nguyễn

Nhà bia: Nhà bia là nơi vinh danh những người đỗ đạt trấn Hải Dương Trên bia

ghi lại tên tuổi, quê quán, khoa thi, năm đỗ đạt của các vị tiến sĩ Trước nhà bia

Trang 35

là khuôn viên với những hàng cau Cau là loại cây có hoa màu trắng tượng trưng cho sự tinh khiết, quả là tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở Thân cau thẳng,

nhiều đốt tượng trưng cho những nấc thang của cuộc đời

Hàng bia đá được khắc đứng trên lưng rùa Con rùa là biểu trưng cho sự trường tồn vĩnh cửu, bia trên lưng rùa với ngụ ý nói rằng tên tuổi của các vị tiến

sĩ và thành công của họ sẽ mãi trường tồn với thời gian

Giếng Thiên Quang: Tiếp theo 2 nhà bia là giếng Thiên Quang Thiên có

nghĩa là trời, Quang có nghĩa là ánh sáng Thiên Quang có nghĩa là ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, của vũ trụ Cũng giống như Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội thì giếng Thiên Quang là nơi tụ phúc, tụ thủy của công trình, là tấm gương phản chiếu ánh sáng của trời đất, mỗi người khi phải đi qua giếng để soi lại mình, trút bỏ phong trần bên ngoài, lấy tâm trong sạch bước vào dâng hương bên trong Trên Thiên Quang tỉnh là cầu Thiên Quang Đây là cây cầu bằng đá bắc qua giếng Chiếc cầu như dải lụa bắc qua giếng ánh sáng đưa con người đến với không gian thanh tao bên trong Soi bóng trên Thiên Quang tỉnh chính là cây gạo trăm tuổi trồng năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801) Cây gạo là tượng trưng cho sự ngay thẳng, hút sinh lực đón ánh nắng của mặt trời và ánh sáng của mặt trăng, tượng trưng cho sự trường thọ, giữ sự liên lạc giữa trời và đất, là nơi hội tụ các linh hồn hay là nơi cư ngụ của các vị thần Hoa gạo là loài hoa tượng trưng cho các vì sao, các vì tinh tú Hoa gạo còn là một sự báo hiệu với các sĩ tử Hoa gạo

nở cũng là báo hiệu mùa thi bắt đầu

Gác chuông và gác trống: Gác chuông và gác trống, đó là 2 phương đình

với kiến trúc chồng diêm 2 tầng 8 mái lợp ngói vẩy nến Bên phải là chiếc chuông đồng do ông Đặng Quang Tính – cục trưởng cục quản lý đê điều và phòng chống lụt bão trung ương cùng cán bộ nhân viên ngành thuỷ lợi Hải Dương công đức năm 2005, chuông nặng 1042kg Trên chuông có hình ảnh tứ linh, tứ quý Tứ linh là Long, Ly, Quy, Phượng Tứ quý là Tùng, Cúc, Trúc, Mai Phía bên trái là chiếc trống do Văn Miếu – Quốc Tử Giám gửi tặng Văn Miếu

Mao Điền nhân dịp kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội

Trang 36

Bên trong là khu sân của Văn Miếu Đây là nơi diễn ra việc tế lễ và học tập của người xưa Nay thì hàng năm vào ngày đầu tháng 2, ngày 8 tháng 8 diễn ra các việc tế lễ để nêu cao truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của người Hải Dương và tôn vinh các bậc hiền tài Nơi đây trước kia là nơi diễn ra việc thi cử của các sĩ tử

Ở 2 bên sân của Văn Miếu là 2 dãy nhà Đông vu và Tây vu, đông vu hiện nay đang trưng bày những đồ vật liên quan đến sự nghiệp giáo dục của tỉnh Hải Dương Tây vu là nhà khách để đón tiếp các đoàn đại biểu đến dự lễ hội Xưa kia đây chính là nơi sắm sửa nghi lễ và trang phục vào thi hoặc tế lễ

Nhà bái đường: Tiếp theo là nhà bái đường của Văn Miếu Khu nhà bái

đường được xây dựng với kiến trúc chồng diêm 2 tầng 8 mái 7 gian Giữa tầng trên và tầng dưới là cố điểm được xây dựng theo kiến trúc thời Nguyễn, trước nhà bái đường là bát hương đá để cho các bạn thắp hương trước khi vào nhà bái đường Hai bên nhà bái đường là tháp bút và đài nghiên, trên đài nghiên và tháp bút được trang trì hình rồng ẩn mây Tháp bút chỉ lên trời xanh đồng nghĩa với việc chứng giám, biểu tượng cho sự thành đạt dâng cao, thể hiện cho sự thành

đạt dâng cao, thể hiện cho sự trong sáng cho các sĩ tử đi thi học tâp

Trên giữa mái của toà bái đường là hình ảnh lưỡng long chầu nhật Nhà bái đường gồm có 7 gian, ở giữa là gian thờ công đồng, bên phải là bàn sắp lễ, bên trái là nơi bán sách và ghi công đức Trong nhà được chống đỡ bởi 32 cột gỗ lớn được trang trí hình rồng ẩn mây, 6 câu đối mỗi bên 3 câu và ở giữa ban thờ công đồng là bức hoành phi đề 4 chữ “Văn Miếu tự tại” có nghĩa là Văn Miếu tại nơi đây hai bên của ban thờ công đồng là hình tượng 2 con hạc đứng trên lưng rùa được đúc bằng đồng Bên phải ban công đồng là trống và chiêng, bên trái có khánh đá Trống là biểu tượng của trường học, của việc giáo dục vậy nên trong công trình chúng ta sẽ bắt gặp nhiều trống ở trong công trình văn miếu này Chiếc chiêng do các cụ hội đình thôn Mậu Tài công đức năm 2008 Chiếc khánh

đá cùng với bát hương đá là hai vật có niên đại lâu đời nhất tại văn miếu

Trên ban thờ công đồng thể hiện rõ năm yếu tố trong ngũ hành là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ Năm yếu tố trời đất trên được thể hiện qua ý nghĩa của các đồ thờ:

Trang 37

kim là đế đèn, mộc là hoa quả, thủy là nước, hỏa là đèn nến, thổ là đất trong tự Trên đó còn có hình tượng hạc ngậm hoa sen với ý nghĩa của sự giác ngộ, đắc đạo là mong muốn của bát kì người học trò nào đến với sự nghiệp đèn sách

Nhà hậu cung: Tiếp sau nhà bái đường là nhà hậu cung Trước nhà hậu

cung là một hòn non bộ, không chỉ để làm đẹp cho công trình mà còn mang ý nghĩa của sự hoà hợp trời đất, sơn thuỷ Nước là nguồn tự phú cho công trình, bên cạnh đó là một cây mai vàng Toàn bộ khu công trình sau bao năm tháng trải qua bao phong ba đã bị mai một nhiều nhưng nhờ công sức tu bổ của con người sau này mà công trình còn có được như ngày nay Vào năm 1994 tu bổ bái đường, hậu cung Năm 1995 khôi phục nghi môn Năm 1999 và 2001 tiếp tục tu

bổ hậu cung, đông vu và khôi phục tây vu Ngày 26 tháng 06 năm 2002 UBND tỉnh Hải Dương đã tổ chức lễ khởi công thực hiện dự án trùng tu, tôn tạo di tích với quy mô lớn Sau nhiều lần hội thảo khoa học, nội dung thờ tự được thống nhất văn miếu không chỉ được thờ Khổng Tử mà còn phối thờ thêm 8 vị đại khoa tiêu biểu cho các lĩnh vực và thời đại trong đó có 7 vị là người Hải Dương Đây

là một việc làm sáng tạo thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc trong sự nghiệp xây

dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam, tiên tiến đạm đà bản sắc dân tộc

Gian hậu cung tất cả các đồ thờ, đồ tế lễ, câu đối, hoành phi đều được sơn son thiếp vàng Nhà hậu cung được xây với kiến trúc 7 gian phỏng theo kiến trúc cố đô Huế, hoa văn trang trí hoạ tiết tinh xảo Bước vào chính giữa nhà hậu cung là bàn thờ đức thánh Khổng Tử Phía đầu tiên từ bên phải là ban thờ Bà chúa Sao Sa - Nguyễn Thị Duệ (1574 - ?) còn có tên là Nguyễn Thị Ngọc Loan, Nguyễn Thị Duệ hiệu là Duệ tự là Tinh phi Tiếp theo ban thờ tinh phi Nguyễn Thị Duệ là ban thờ Phạm Sư Mạnh Ông là học trò xuất sắc của Chu Văn An, là một kẻ sỹ mẫu mực, cư Nho mộ Thích, đỗ Thái học sinh và làm quan dưới thời vua Trần Minh Tông

Tiếp nối là ban thờ lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi Mạc Đĩnh Chi

tự là Tiếu Phu, người làng Lũng Đỗng, huyện Chí Linh (Hải Dương), nguyên về dòng dõi quan Thượng thư Mạc Hiển Tích về triều nhà Lý, (Hiển Tích đỗ Trạng nguyên đời vua Trung Tôn nhà Lý, làm lại bộ Thượng thư)

Trang 38

Đặt bên cạnh ban thờ lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi là thầy giáo Chu Văn An, người được mệnh danh là vạn thế sư biểu.Chu Văn An (còn gọi là Chu An) người thôn Văn, Xã Quang Liệt, nay là Thanh Liệt, huyện Thanh Trì,

Hà Nội (quê mẹ)

Ban thờ Nguyễn Trãi, Nguyễn Trãi sinh năm 1380, hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (Chí Linh, Hải Dương) sau dời về Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây) Cha

là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ thái học sinh (tiến sĩ) Mẹ

là Trần Thị Thái, con Trần Nguyên Đán, một qúy tộc đời Trần Nguyễn Trãi cũng là một người đã phải chiụ những oan khiên thảm khốc do xã hội cũ gây nên

ở mức hiếm có trong lịch sử nước nhà

Tiếp theo là ban thờ trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông sinh năm Tân Hợi đời vua Lê Thánh Tông, tức năm Hồng Đức thứ 22 (1491) tại làng Trung

Am huyện Vĩnh Lại, Hải Dương, nay là làng Trung Am xã Lý Học huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng Sinh trưởng trong một danh gia vọng tộc, thân phụ ông là Thái bảo Nghiêm Quận công Nguyễn Văn Định; thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái quan Thượng thư Nhữ Văn Lân, là người giỏi văn thơ và am hiểu lý số, nên Nguyễn Bỉnh Khiêm từ sớm đã tiếp thụ truyền thống gia giáo kỷ cương

Bên cạnh ban thờ trạng Trình là ban thờ thần toán học sĩ Vũ Hữu Vũ Hữu người làng Mộ Trạch, tổng Thì Cử, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay là làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương Năm Quang Thuận thứ 4 đời vua Lê Thánh Tông (Quý Mùi 1463), ông đỗ Hoàng giáp

Cuối cùng là ban thờ đại danh y thiền sư Tuệ Tĩnh Tuệ Tĩnh là một danh y Việt Nam đã mở đường cho sự nghiên cứu thuốc nam, xây dựng nền móng cho y học dân tộc của nước nhà Ông đã tổng hợp và để lại những bài thuốc kinh nghiệm quý báu cho một số khá nhiều bệnh tật

1.1.2.2 Các làng nghề truyền thống

Hải Dương nằm trong vùng châu thổ Đồng bằng sông Hồng là nơi có nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống phát triển rất sớm và nổi tiếng cả nước như: gỗ mỹ nghệ Đông Giao, rượu Phú Lộc (Cẩm

Trang 39

Giàng); vàng, bạc Châu Khê, gốm sứ Cậy (Bình Giang); mộc Cúc Bồ, bánh gai (Ninh Giang); thêu ren Xuân Nẻo (Tứ Kỳ); gốm sứ Chu Đậu (Nam Sách),… Các làng nghề đó đã tạo ra nhiều việc làm ở nông thôn, thu hút lực lượng lao động đáng kể, góp phần xoá đói giảm nghèo và phát huy được những nét văn hoá đặc sắc từ các làng nghề truyền thống Qua quá trình sản xuất lâu đời, trong các làng nghề ấy xuất hiện những người thợ giỏi nghề, tâm huyết, gắn bó với nghề, có khả năng sáng chế hay cải thiện kỹ thuật và sáng tạo những sản phẩm tinh xảo, hoàn mỹ mà dân gian gọi là nghệ nhân, thợ cả

Trong công cuộc đổi mới kinh tế hiện nay, các làng nghề và sản phẩm thủ công truyền thống, đặc biệt là thủ công mỹ nghệ đang được chú trọng khôi phục, bảo tồn và phát triển mạnh mẽ Trong quá trình phát triển đó, vai trò của các nghệ nhân là rất lớn, trở thành một trong những nhân tố quyết định Tài năng và công sức của họ cần được ghi nhận, tôn vinh tạo ra động lực thúc đẩy việc khôi phục và phát triển các làng nghề

Đến tháng 5 năm 2010 thì toàn tỉnh đã có 56 làng nghề đã được Ủy ban nhân dân tỉnh công nhận như: Bánh đậu xanh, thêu ren Xuân Nẻo, vàng bạc Châu Khê, gốm Sứ Cậy, nghề mộc Đông Giao,

Tính đến hết năm 2011, UBND tỉnh Hải Dương công nhận thêm 5 làng nghề đạt danh hiệu làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp là: Làng nghề rèn - mộc Kiêm Tân (Xã Quảng Nghiệp - Tứ Kỳ), Làng nghề mộc An Lại (Xã Dân Chủ - Tứ Kỳ), Làng nghề thêu ren La Xá (Xã Dân Chủ - Tứ Kỳ), Làng nghề mộc Ngô Đồng (xã Nam Hưng - Nam Sách), Làng nghề gốm Chu Đậu (xã Thái Tân - Nam Sách) Đây là những làng nghề đã đáp ứng được những tiêu chuẩn theo quy định công nhận làng nghề công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Hải Dương như: Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; các quy định của chính quyền địa phương, có hình thức tổ chức phù hợp; phát triển ngành nghề gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng làng văn hóa của địa phương, giữ gìn vệ sinh môi trường, có giá trị sản xuất và thu nhập cao từ nghề tiểu thủ công nghiệp

Trang 40

Mỗi làng nghề được công nhận được UBND tỉnh cấp bằng làng nghề và tỉnh thưởng 20 triệu đồng từ nguồn kinh phí khuyến công địa phương năm 2011 đồng thời được hưởng lợi từ các chính sách khuyến khích phát triển làng nghề của nhà nước và địa phương

Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống, đặc biệt

là vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Với đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp mùa vụ và chế độ làng xã, nghề thủ công xuất hiện khá sớm và găn liền với lịch sử thăng trầm của dân tộc Các làng nghề mới đầu xuất hiện đơn giản chỉ

là những công việc làm thêm trong khoảng thời gian nhàn rỗi của người nông dân giữa các mùa vụ Dần dần những nghề mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn được người dân chú trọng và theo lịch sử phát triển thành nghề thủ công duy nhất của mỗi vùng quê Hải Dương cũng giống như hầu hết các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, có cuộc sống của cư dân nông nghiệp gắn liền với cơ chế sản xuất mùa vụ Đồng thời cũng có một hệ thống làng nghề hết sức phong phú Cùng với sự phát triển của công nghiệp và quá trình công nghiệp hóa, đã có rất nhiều nghề thủ công bị mai một đang dần được tỉnh và nhà nước khôi phục lại hiện nay trên toàn tỉnh có 1100 làng và khu dân cư có ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chiếm 77% tổng số làng và khu dân cư toàn tỉnh; tổng giá trị sản xuất cảu các làng nghề ước tính lên tới 900 tỷ đồng, chiếm khoảng 50% giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh Các làng nghề thu hút khoảng 80 nghìn lao động, chiếm 8% tổng số lao động của toàn tỉnh

Cho đến năm 2012, có 22 làng được UBND tỉnh Hải Dương cấp bằng công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề, trong đó có 11 làng nghề truyền thống, 7 làng nghề cổ truyền, và 14 làng nghề mới Mối làng nghề đều sản xuất một mặt hàng thủ công riêng, đa dạng và phong phú về hình thức: làng sản xuất đồ thủ công mĩ nghệ, làng gốm, may, thêu ren, chạm khắc…

Một số làng nghề tiêu biểu:

* Làng nghề gốm Chu Đậu

Gốm Chu Đậu – Mý Xá, còn được biết đến là gốm Chu Đậu, là gốm sứ cổ truyền Việt Nam được sản xuất tại vùng nay thuộc làng Mỹ Xá (xã Minh Tân), làng Chu Đậu (xã Thái Tân), huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Loại gốm sứ

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb. Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
2. Toan Ánh, Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ – tín ngưỡng Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
3. Trương Quốc Bình(2010), Việt Nam công tác quản lý di sản văn hoá, Du Lịch Việt Nam, Số 7, tr 58+59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam công tác quản lý di sản văn hoá
Tác giả: Trương Quốc Bình
Năm: 2010
4. Đặng Văn Bài (1995), “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích”, Tạp chí Văn hóa thông tin (Số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 1995
8. Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc (2006), Di sản Hán nôm Côn Sơn – Kiếp Bạc – Phượng Sơn, Nxb. Chính Trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản Hán nôm Côn Sơn – Kiếp Bạc – Phượng Sơn
Tác giả: Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc
Nhà XB: Nxb. Chính Trị Quốc gia
Năm: 2006
11. Bảo tàng Hải Dương, Hồ sơ khoa học khu di tích Kiếp Bạc, BQL Di tích Côn Sơn- Kiếp Bạc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ sơ khoa học khu di tích Kiếp Bạc
14. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 2003
15. Lê Quang Chắn (2006), Về đền Kiếp Bạc "Một con đường tiếp cận di sản văn hoá", Tập 3, Nxb Thế giới, Hà Nội, Tr. 141 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hoá
Tác giả: Lê Quang Chắn
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2006
16. Từ Chi: Từ định nghĩa của văn hoá. Trong Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H. 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Chi: "Từ định nghĩa của văn hoá". Trong "Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
17. Chí Linh phong vật chí (1976) Bd, Tài liệu Thư viện Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chí Linh phong vật chí
18. Chu Quang Chứ (1999), Di sản văn hoá dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam, Nxb. Mỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hoá dân tộc trong tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam
Tác giả: Chu Quang Chứ
Nhà XB: Nxb. Mỹ Thuật
Năm: 1999
19. Nguyễn Viết Chức (2003), Báo cáo kết quả khảo sát về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam, Kỷ yếu hoạt động của UBGDTNTN và NĐ của Quốc hội khóa XI ( 2002- 2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả khảo sát về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Viết Chức
Năm: 2003
20. Đoàn Bá Cử (2003), “Hệ thống giá trị đặc trưng và nguyên tắc tu bổ di tích kiến trúc Việt Nam”, Tạp chí Di sản Văn hóa (Số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống giá trị đặc trưng và nguyên tắc tu bổ di tích kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Đoàn Bá Cử
Năm: 2003
21. Đặng Việt Cường, “Vị thế của Côn Sơn – Kiếp Bạc trong hệ thống di tích tỉnh Đông”, Di sản Văn hoá, 1(14), Tr.31 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế của Côn Sơn – Kiếp Bạc trong hệ thống di tích tỉnh Đông”
22. Danh nhân Việt Nam qua các đời (Thời Trần), Nxb. Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Việt Nam qua các đời
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
23. Di tích lịch sử văn hoá Việt Nam (1991), Nxb. KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử văn hoá Việt Nam
Tác giả: Di tích lịch sử văn hoá Việt Nam
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 1991
24. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu, Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
25. Tăng Bá Hoành (2006), Côn Sơn - Kiếp Bạc quá trình hình thành và phát triển, Di sản Văn hoá, 1(14), Tr. 49 – 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Côn Sơn - Kiếp Bạc quá trình hình thành và phát triển
Tác giả: Tăng Bá Hoành
Năm: 2006
26. Nguyễn Phạm Hùng: Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 2, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch tôn giáo và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
27. Nguyễn Phạm Hùng: Khai thác ẩm thực dân tộc trong du lịch. Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 5, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác ẩm thực dân tộc trong du lịch

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Bảng các tuyến đường sông: - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương
Bảng 1.2 Bảng các tuyến đường sông: (Trang 49)
Bảng 2.2: Khách du lịch quốc tế đến Hải Dương, giai đoạn 2001 - 2010 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương
Bảng 2.2 Khách du lịch quốc tế đến Hải Dương, giai đoạn 2001 - 2010 (Trang 59)
Bảng 2.3 : Khách quốc tế đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc giai đoạn  2001 - 2009 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương
Bảng 2.3 Khách quốc tế đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc giai đoạn 2001 - 2009 (Trang 60)
Bảng 2.4: Khách du lịch nội địa đến Hải Dương, giai đoạn 2001 - 2010  Đơn vị: Ngàn lượt khách - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương
Bảng 2.4 Khách du lịch nội địa đến Hải Dương, giai đoạn 2001 - 2010 Đơn vị: Ngàn lượt khách (Trang 62)
Bảng 2.5: Khách nội địa đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc   giai đoạn 2001 - 2009 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương
Bảng 2.5 Khách nội địa đến các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Bắc giai đoạn 2001 - 2009 (Trang 63)
Bảng 2.6. Thu nhập du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương
Bảng 2.6. Thu nhập du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 - 2010 (Trang 66)
Bảng 2.8. Cơ cấu cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Hải Dương năm 2010 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương
Bảng 2.8. Cơ cấu cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Hải Dương năm 2010 (Trang 73)
Bảng 2.9: Lao động trong ngành du lịch Hải Dương giai đoạn 2001 - 2010 - Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hải Dương
Bảng 2.9 Lao động trong ngành du lịch Hải Dương giai đoạn 2001 - 2010 (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm