Trong tập san này đã có một số bài viết về vùng Ròn nước non Quảng Bình, Xứ Ròn, chợ Ba Đồn, nhân vật Cảnh Dương… Tuy nhiên những bài viết này chỉ mang tính chất giới thiệu sơ lược về m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
PHÙNG THỊ LOAN
VĂN HOÁ DÂN GIAN LÀNG CẢNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI-2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
PHÙNG THỊ LOAN
VĂN HOÁ DÂN GIAN LÀNG CẢNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Việt Nam học
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÀNG CẢNH DƯƠNG 9
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 9
1.1.1 Vị trí địa lý 9
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 10
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển làng cảnh Dương 18
1.2.1 Cảnh Dương trong những ngày đầu mới hình thành 18
1.2.2 Cảnh Dương dưới các triều đại phong kiến 23
1.2.3 Cảnh Dương sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay 27
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ SINH HOẠT VĂN HOÁ DÂN GIAN ĐĂC TRƯNG CỦA LÀNG CẢNH DƯƠNG 31
2.1 Kiến trúc dân gian 31
2.1.1 Đình Lớn 31
2.1.2 Chùa làng 34
2.1.3 Miếu thờ Cá Ông 37
2.2 Tín ngưỡng dân gian 38
2.2.1 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng 38
2.2.2 Tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông 45
2.2.3 Tục thờ cúng cô hồn 48
2.3 Lễ hội dân gian 51
2.3.1 Lễ tế Thành hoàng làng 52
2.3.2 Hội trải làng Cảnh Dương 54
2.3.3 Hội đánh cờ người 58
2.3.4 Hội cơm thi, cơm cần 59
2.4 Diễn xướng dân gian 60
2.4.1 Hò chèo cạn 61
2.4.2 Hò ru em 70
2.5 Ngữ văn dân gian 72
2.5.1 Truyện kể dân gian 72
Trang 42.5.2 Văn vần dân gian 80
2.6 Tri thức dân gian 88
2.6.1 Nghề truyền thống 88
2.6.2 Văn hoá ẩm thực 93
CHƯƠNG 3: VĂN HOÁ DÂN GIAN LÀNG CẢNH DƯƠNG NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ ĐẶC TRƯNG 95
3.1 Những đặc trưng văn hoá dân gian làng Cảnh Dương 95
3.1.1 Văn hoá dân gian Cảnh Dương là sự giao thoa nhiều luồng văn hoá 95 3.1.2 Văn hoá dân gian Cảnh Dương thể hiện sự sáng tạo 98
3.1.3 Văn hoá dân gian Cảnh Dương mang đậm yếu tố biển 99
3.2 Những giá trị văn hoá dân gian làng Cảnh Dương 101
3.2.1 Giá trị nhân văn 101
3.2.2 Giá trị giáo dục đạo đức, thẩm mỹ 103
3.2.3 Giá trị cố kết cộng đồng .105
3.2.4 Giá trị trao truyền và phát triển kho tàng văn hoá 106
3.2.5 Giá trị tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội .107
3.3 Thực trạng văn hoá dân gian Cảnh Dương 108
3.3.1 Thực trạng văn hoá dân gian làng Cảnh Dương hiện nay 108
3.3.2 Nguyên nhân 112
KẾT LUẬN 118
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Là một trong tám làng văn vật của tỉnh Quảng Bình, Cảnh Dương như một nét chấm phá độc đáo và ấn tượng trong bức tranh văn hoá đầy màu sắc Từ lâu, làng Cảnh Dương với những vẻ đẹp rất riêng cứ lặng thầm toả sáng, năm tháng trôi qua người dân bên bến Loan giang vẫn luôn tự hào về con người và cảnh vật nơi đây Theo dòng chảy của thời gian, Cảnh Dương là minh chứng hùng hồn cho sức sống tiềm tàng và đầy khát vọng Nếu như ai đó nhắc đến Cảnh Dương với thời kỳ oanh liệt chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng xả thân khi
Tổ quốc cần thì Cảnh Dương còn được biết đến với những giá trị văn hoá đặc trưng của một làng ven biển miền Trung đầy nắng gió
Làng Cảnh Dương với bề dày lịch sử hơn 366 năm, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, từ thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh cho đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Cảnh Dương vẫn đứng vững, hiên ngang Không những khẳng định mình trong những khó khăn, thử thách, Cảnh Dương còn giữ gìn và sở hữu cho mình kho tàng văn hoá hết sức giá trị Nhiều di sản, nhiều truyền thống văn hoá vẫn được lưu truyền và bảo tồn cho đến hôm nay Một trong những công trình được đánh giá là "công trình văn hoá mang tính tầm
cỡ quốc gia thu nhỏ, thật hiếm thấy " [68, 200] hay "độc nhất vô nhị" [43, 368],
đó chính là các công trình bi ký gồm: Khai khẩn thất công bi ký, Cảnh Dương xã
từ vũ bi ký, Văn bia Hội tích bi ký, Bốn xã khai khẩn truyện ký "Công trình văn bia của một làng xã như vậy quả thật là lớn, có tác dụng khuyến học, khuyến đức, khuyến dân theo thuần phong mỹ tục rất sâu sắc, làm nên truyền thống tốt đẹp cho địa phương "[68, 200] Chúng ta còn có thể tìm thấy ở Cảnh Dương những giá trị kết tinh, những nét tiêu biểu của văn hoá dân gian nói chung và văn hoá dân gian ven biển nói riêng
Cảnh Dương là làng biển có khá nhiều công trình kiến trúc mang tính quy
mô và bề thế như đình, chùa, miếu Đây là những công trình có giá trị nghệ thuật thẩm mỹ cũng như giá trị tinh thần to lớn, nhưng đáng tiếc bom đạn chiến
Trang 6tranh đã phá huỷ, nay chỉ còn là phế tích Ngoài ra người dân nơi đây có đời sống tín ngưỡng khá phong phú như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng làng, thờ cúng Cá Ông Đặc biệt ít có làng biển nào tổ chức nhiều lễ hội trong năm như làng Cảnh Dương Các lễ hội như lễ tế Thành hoàng làng, Lễ tế
Cá Ông, lễ hội chùa, hội bơi trải diễn ra hàng năm tạo nên đời sống tinh thần phong phú cho cộng đồng dân cư Không chỉ dừng lại ở đó, làng chài trải mình bên bến sông Loan này còn có kho tàng ngữ văn dân gian đa dạng và đậm chất dân dã với nhiều thể loại khác nhau như ca dao, tục ngữ và truyện kể Tất cả tạo nên bức tranh nhiều màu sắc, rất sinh động và đậm chất biển
Văn hoá dân gian Cảnh Dương với những nét đặc trưng khá độc đáo sẽ làm giàu kho tàng văn hoá dân gian Quảng Bình nói riêng và Việt Nam nói chung, góp phần tô đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việc nghiên cứu văn hoá dân gian làng Cảnh Dương sẽ là căn cứ khoa học góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống Điều đó càng có ý nghĩa hơn trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cùng với xu thế hội nhập quốc tế, khi những giá trị văn hoá truyền thống đang có xu thế bị mai một và rất cần được bảo tồn, phát triển hơn bao giờ hết Đó cũng chính là lý do mà tác giả luận văn đã lựa chọn đề tài này
Học giả Nguyễn Kinh Chi với tác phẩm Du lịch Quảng Bình đã đưa mọi
người đến với Cảnh Dương bằng nghệ thuật hết sức khéo léo: “Làng này ở gần biển, dân cư trù mật và giàu có, họ sinh nhai về nghề biển, nước mắm của họ ngon nổi tiếng, mỗi năm chở ra ngoài Bắc buôn bán thu về trên mười vạn bạc…” Có lẽ chỉ với một vài câu giới thiệu nhưng ít nhiều đã nói lên được
Trang 7những nét riêng của làng Cảnh Dương, từ vị trí địa lý, dân cư, nghề nghiệp, đặc sản và cả những con người nơi đây Ngoài ra tác phẩm còn cho người đọc đến với lệ cống mắm Hàm Hương, một trong những câu chuyện được lưu truyền trong làng từ rất lâu Mặc dù những thông tin về làng Cảnh Dương chỉ khiêm tốn trong rất nhiều những địa danh khác nhưng có lẽ đây là một trong những dòng ghi chép đầu tiênvề cảnh vật, cuộc sống và con người nơi đây
Ở miền Nam trước năm 1975, những người Quảng Bình xa quê hương đã
xuất bản tập san Quảng Bình quê tôi Trong tập san này đã có một số bài viết về
vùng Ròn (nước non Quảng Bình, Xứ Ròn, chợ Ba Đồn, nhân vật Cảnh Dương…) Tuy nhiên những bài viết này chỉ mang tính chất giới thiệu sơ lược về một vài sản phẩm đặc trưng của miền quê nơi đây như cá biển, thịt heo, mắm nêm… hoặc ghi lại các câu ca dao, bài thơ được lưu truyền trong dân gian
Một trong những tác phẩm không thể không kể đến viết về Cảnh Dương
đó chính là tập sách Cảnh Dương chí lược Có thể nói đây là một trong những
tác phẩm đề cập và giới thiệu một cách toàn diện và sâu sắc về Cảnh Dương
Cảnh Dương chí lược được biên soạn bởi tác giả Trần Đình Vĩnh, xuất bản năm
1993 Quyển sách càng có ý nghĩa hơn khi nó ra đời nhân dịp kỷ niệm 350 năm ngày thành lập làng, vì vậy nó như một món quà hết sức có ý nghĩa đối với người dân Cảnh Dương nói chung và Quảng Bình nói riêng Tác phẩm là một công trình kết tinh những tình cảm, tâm huyết của một người con của làng và được viết, trình bày một cách rất khoa học
Đến với Cảnh Dương chí lược, người đọc như được chiêm ngưỡng một
bức tranh sinh động về cuộc sống và con người nơi đây Đây được đánh giá là một trong những đóng góp rất lớn của tác giả trong việc sưu tầm, giới thiệu và giữ gìn những nét văn hoá đặc sắc của làng Luận văn sẽ kế thừa nhiều kết quả nghiên cứu của công trình này
Viết về làng Cảnh Dương, chúng ta cũng không thể bỏ qua tác phẩm Kể chuyện làng biển Cảnh Dương của tác giả Nguyễn Viễn Có thể nói so với Cảnh
Dương chí lược, tác phẩm không đưa ra được nhiều tư liệu quý nhưng quyển sách này đã giới thiệu về lịch sử hình thành của làng, các ngành nghề, các phong
Trang 8tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo cũng như những thành tích trong các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước…
Như vậy có thể nói Cảnh Dương chí lược và Kể chuyện làng biển Cảnh Dương là hai tác phẩm có cách viết khác nhau nhưng tính đến nay đây là hai tác
phẩm cung cấp khá nhiều thông tin về làng Cảnh Dương Chúng ta có thể tìm thấy ở đây lịch sử hình thành, những sinh hoạt kinh tế, văn hoá, xã hội, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm… Tuy nhiên hai tập sách chỉ dừng lại ở việc giới thiệu chứ chưa đi sâu vào giải thích, đặc biệt là về văn hoá dân gian
Về văn hoá dân gian làng Cảnh Dương phải kể đến một tác phẩm được xây dựng khá công phu của tập thể tác giả của Viện nghiên cứu văn hoá dân
gian: Văn hoá dân gian làng ven biển (Từ trang 541 đến trang 600) được xuất
bản năm 2000 Tác phẩm đã đi sâu tìm hiểu khá kỹ văn hoá dân gian của các làng ven biển Việt Nam, trong đó có Cảnh Dương Có thể nói các tác giả đã hết sức cố gắng để đưa ra một cái nhìn tổng quát về văn hoá dân gian của các làng ven biển Việt Nam và Cảnh Dương là một trong những làng được tìm hiểu và nghiên cứu rất công phu Ở tác phẩm này độc giả có thể hình dung về các giá trị, các nét văn hoá rất riêng của Cảnh Dương, từ thiên nhiên con người cho đến các lĩnh vực khác nhau của văn hoá dân gian như văn học dân gian, các di tích kiến trúc cổ truyền, lễ hội – tín ngưỡng, diễn xướng dân gian, tri thức dân gian… Chúng ta có thể bắt gặp ở đây kho tàng văn hoá dân gian phong phú và giàu chất biển, tập thể tác giả đã có những nhận xét khá ưu ái cho vùng đất này: “Với thế đứng mặt hướng ra biển, lưng tựa vào núi người dân Cảnh Dương nói riêng và miền Trung nói chung đã làm nên những kỳ tích vĩ đại về quân sự, kinh tế cũng như văn hoá Thời gian cứ trôi đi nhưng hồn thiêng sông núi, hào khí dân tộc vẫn luôn lắng đọng trên mảnh đất này” [56, 599] Tuy nhiên trong phần nghiên cứu văn hoá dân gian làng Cảnh Dương, các tác giả chỉ mới dừng lại ở mức độ khái quát, chưa đi sâu phân tích kỹ, lý giải vấn đề cũng như có sự đối chiếu, so sánh với văn hoá dân gian các làng khác trong tỉnh Quảng Bình và các làng ven biển của các vùng miền khác để làm nổi bật những giá trị văn hoá đặc trưng của Cảnh Dương
Trang 9Năm 2001, hai tác giả Văn Lợi và Nguyễn Tú đã cho ra mắt tập sách Địa chí văn hoá miền biển Quảng Bình, trong đó tác phẩm có giới thiệu về các làng
ven biển Quảng Bình Song các tư liệu mà tác phẩm cung cấp chủ yếu dựa vào nội dung của Cảnh Dương Chí lược Mặc dù vậy nhưng tác phẩm đã cho độc giả cái nhìn khá đầy đủ và toàn diện về các làng biển Quảng Bình như Ngư Thuỷ, Bảo Ninh, Quang Phú, Thanh Trạch…
Một công trình nghiên cứu khác cũng không thể không nhắc đến đó là đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp bộ của tác giả Th.S Trần Hoàng với nội
dung Tìm hiểu sinh hoạt văn hoá dân gian cổ truyền làng biển Cảnh Dương Đề
tài được hoàn thành năm 2003 với sự dày công nghiên cứu về văn hoá dân gian làng Cảnh Dương Công trình đã thể hiện sự đầu tư về thời gian và công sức rất lớn của tác giả khi đã đưa ra những nghiên cứu rất có giá trị, đặc biệt là phần phụ lục về văn học dân gian và những tài liệu quý như Bổn xã khai khẩn truyện
ký, khoán lệ cựu dịnh, tân tăng khoán lệ, kim tham nghĩ khoán lệ, chước nghĩa khoán lệ Ngoài ra đề tài còn đưa ra những nhận xét cũng như những giải pháp
kế thừa và phát huy di sản văn hoá dân gian cổ truyền Song những nội dung nghiên cứu của đề tài như một bức tranh tổng thể, trong đó đề cập đến hầu hết các vấn đề như sinh hoạt văn hoá vật thể, phi vật thể… mà không đi sâu nghiên cứu kỹ từng loại hình văn hoá dân gian
Ngoài ra, Cảnh Dương còn được nhắc đến trong tác phẩm được ra đời
trong thời gian gần đây đó là Những nét đẹp về văn hoá cổ truyền Quảng Bình
của tác giả Nguyễn Tú Trong tác phẩm này, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều thông tin về những nét văn hoá đặc trưng của Quảng Bình, trong đó Cảnh Dương được giới thiệu về những sinh hoạt văn hoá dân gian độc đáo như tục bơi trải các làng biển (từ trang 620 đến trang 621)
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Tìm hiểu một số hiện tượng văn hoá dân gian độc đáo của làng Cảnh Dương, từ đó có sự phân tích, đi sâu lý giải các hiện tương văn hoá đó Đồng thời có sự so sánh để thấy được những nét tương đồng và khác biệt của
Trang 10văn hoá dân gian làng Cảnh Dương so với các làng khác; tìm ra các giải pháp để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá dân gian trong bối cảnh hiện nay
Nhiệm vụ: để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Khảo sát, miêu tả một số hiện tượng văn hoá dân gian đặc trưng của làng Cảnh Dương
- Phân tích, so sánh, tìm ra những nét chung và riêng trong từng hiện tượng văn hoá đồng thời có sự nhận xét, đánh giá những hiện tượng văn hoá đó theo sự diễn trình lịch sử
- Từ sự phân tích, so sánh để rút ra những giá trị, đặc trưng của các hiện tượng văn hoá dân gian làng Cảnh Dương, góp phần vào quá trình bảo tồn, làm giàu và phát huy những giá trị các hiện tượng văn hoá đó
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được xác định là văn hoá dân gian làng Cảnh Dương Đối tượng khảo sát là những hiện tượng văn hoá dân gian tiêu biểu của làng Cảnh Dương
Trang 11dân gian Trong phần tri thức dân gian, ngoài những nội dung đã đề cập trong phần ngữ văn dân gian, tác giả khảo sát về nghề truyền thống và văn hoá ẩm thực
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về kế thừa vốn văn hoá truyền thống cũng như quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước trong việc giữ gìn và phát huy vốn di sản văn hoá dân tộc để xây dựng nền văn hoá mới
5.2 Phương pháp cụ thể
Luận văn sử dụng các phương pháp chuyên ngành về nghiên cứu văn hoá dân gian như phương pháp điền dã thực địa, phương pháp tiếp cận hệ thống, phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ nét các hiện tượng văn hoá dân gian đặc trưng
và tiêu biểu của làng Cảnh Dương, đi sâu vào lý giải, so sánh và rút ra một số nhận xét Từ đó có cái nhìn tổng thể về văn hoá dân gian Cảnh Dương trong bức tranh chung văn hoá dân gian Quảng Bình
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu về văn hoá dân gian của các làng ven biển ở Quảng Bình và các tỉnh miền Trung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn được kết cấu ba chương, mười một tiết
Trang 12bờ biển thơ mộng, tấp nập thuyền bè vào ra Đó là làng Cảnh Dương, một trong
bát danh hương của Quảng Bình Tác giả Nguyễn Tú trong tác phẩm Những nét đẹp văn hoá cổ truyền Quảng Bình đã nhận định: Làng Cảnh Dương "là một
làng nổi tiếng văn vật, làng học, làng nghề, làng chiến đấu, một làng có vị trí phong thuỷ hết sức phong phú" Sở dĩ khẳng định như vậy vì Cảnh Dương ở vào
vị trí địa lý khá độc đáo, có cảnh quan sông núi, có biển bao la ôm ấp
Làng Cảnh Dương nằm trên cửa biển Di Luân với toạ độ:
170,50 - 170,52 vĩ Bắc
1060,26 - 1060,27 kinh Đông
Cảnh Dương được ví như "một con thuyền đang thả neo trên sông nước" [73,8] hay như một bán đảo nhỏ
- Phía Đông là biển cả mênh mông bao bọc
- Phía Tây là con Kênh Xuân Hưng lịch sử
- Phía Bắc là sông Ròn
- Phía Nam là bãi cát vàng trải dài
Địa thế này còn được phác họa trong Văn tế tổ với những câu thơ khá mượt mà:
"Phía đông ngọc đổng chầu về
Rùa vàng mũi vích nằm kề phía Tây
Bảng vàng phía Bắc gần đây
Phượng Hoàng chất ngất núi xây nghìn trùng
Trang 13Phía Nam bãi cát một vùng
Như hình xa thổ vốn cung chầu về
Chung quanh nước bọc ba bề
Nghiên tần, bút tốn nằm kề Loan giang"
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Sông Loan núi Phượng hữu tình Bảng vàng ấn ngọc phân minh chầu về Nếu là người con của Cảnh Dương, hoặc đã từng đến Cảnh Dương không
ai không biết đến hai câu thơ đầy ý nghĩa này Đây là những dòng thơ đã từng được khắc trên một văn bia dựng ở đầu làng, trên đường đi vào cổng làng trước năm 1945 Không phải ngẫu nhiên mà câu thơ lại được đặt vào vị trí trang trọng
đó, phải chăng nó thay lời giới thiệu, như một lời nhắn gửi hay ý nghĩa hơn là một thông điệp muốn gửi gắm đến tất cả những ai đã, đang và sẽ đến Cảnh Dương Bởi ẩn chứa trong đó không chỉ là cảnh vật, con người mà cả tâm hồn của người dân nơi đây "Đây là cảnh quan trên bến dưới thuyền, là cảnh quan sông núi âm dương hoà hợp trong bức tranh sơn thuỷ" [73,14] Hình ảnh "sông Loan", "núi Phượng" tạo cho Cảnh Dương vẻ thơ mộng, độc đáo và đầy sức quyến rũ, tạo nên cảm hứng bất tận cho các nhà văn, nhà thơ: "Cái đẹp! Ôi, cái đẹp, đến các bậc thánh như cụ Khổng Tử còn mê cái đẹp, huống chi các cụ nho
sĩ nhà ta" [74, 29] Cái đẹp chẳng phải ở đâu quá xa vời mà chính là đây, là non xanh, là nước biếc, là sự kết hợp hài hoà đến ngỡ ngàng khiến các bậc hiền tài không thể không viết thành thơ "Sông Loan, núi Phượng như một bức tranh đẹp, hài hoà và cân xứng làm nên cảnh sắc riêng của xứ Ròn, mà làng Cảnh Dương chính là một điểm son rực rỡ trong bức tranh thiên nhiên kỳ thú đó" [27,9]
Sông Loan hay còn được gọi là sông Ròn, sông Di Luân, sông Nể Giang Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau nhưng "tên gọi nào cũng mang dấu ấn văn hoá đẹp" [68, 139] Cụ Tố Như Nguyễn Du khi đương chức cai bạ Quảng Bình thời Gia Long, nhớ quê Tiên Điền ngoài huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, đến Di
Trang 14Luân đứng bên sông Ròn làm thơ chữ Hán cũng đành gọi tên sông theo bọn người Hán thuở quận Nhật Nam, bộ Giao Chỉ là Nể Giang:
Nể giang trào trướng bạch hàm thiên
(Sông Nể lồng lộng bóng trời trắng xoá khi thuỷ triều lên)
Sông Ròn là một trong năm con sông lớn của Quảng Bình và là con sông
ở miền Trung phát nguyên từ dãy Hoành Sơn Phải chăng vì thế mà người ta ví sông Ròn chính là "người bạn tình" của dãy Hoành Sơn? Tuy là một con sông lớn nhưng sông có chiều dài chỉ khoảng 30 km, lưu vực sông khoảng 260 km2
Sông có hai nguồn chính là hai con suối tạo thành, một nguồn là khe Hùng Sơn bắt đầu từ khe Chùa Thông, vùng Đá Đen (xã Quảng Hợp), nguồn khác là khe Thai bắt đầu từ vùng Đá Bạc (xã Quảng Kim) Sông chảy qua các xã Quảng Kim, Quảng Châu, Quảng Tùng, Quảng Phú rồi ra biển qua cửa Cảnh Dương Cửa sông hẹp, sông lại cạn nên không thuận lợi cho các loại thuyền bè ra vào (chỉ thích hợp với một số loại thuyền nhỏ)
Sông Ròn là người bạn tri kỷ, gắn bó thân thiết với người dân nơi đây Tự bao giờ, theo dòng chảy của tự nhiên, con sông như nhịp cầu nối liền những con người, vùng đất lại với nhau và hơn thế, nó đã chảy vào tâm hồn mỗi người những tìm cảm, sự sẻ chia và cộng cảm Đâu đó đã không còn khoảng cách giữa con người và thiên nhiên, tất cả như hài hoà, đan xen Người Cảnh Dương đã không biết bao nhiêu lần, trên con sông này, họ tìm đến những vùng đất khác để làm ăn, buôn bán, đánh bắt tôm, cá và không hiểu từ khi nào, hình ảnh con sông đã ăn sâu vào tâm thức của mỗi người, như một nét văn hoá khó phai mờ
Trong bức tranh tuyệt đẹp của tạo hoá, sông Ròn sẽ trở nên mềm mại hơn, thơ mộng hơn khi xuất hiện dãy Hoành Sơn sừng sững, hùng vĩ và đầy sức sống
Vì thế Hoành Sơn được ví như con chim Phượng đang mạnh mẽ dang rộng đôi cánh: "chim đang bay ra biển Đông, hai cánh xoè ra hai bên Cánh trái của chim
là phía Hà Tĩnh, cánh phải là Quảng Bình, chỗ cao nhất của chim có bình độ 1.089 m, và nơi mỏ chim cúi xuống biến là đỉnh Đèo Ngang (cũ) có cổng Hoành Sơn Quan, phân chia địa giới hai tỉnh" [68, 47]
Trang 15Hoành Sơn có chiều dài 129km, đỉnh cao nhất là đỉnh Chóp Chài cao 1.044 km ngăn cách giữa hai vùng Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên Đèo Ngang và Hoành Sơn được xem là "địa đầu bình phong cho cả hai miền Bắc và Nam - Hoành Sơn nhất đái - cho nên vua Minh Mạng cũng lấy Hoành Sơn làm trường thành án ngữ - dĩ Hoành Sơn vi án" [73,15] Nơi đây đã từng diễn ra trận chiến giữa hai nước Việt Chăm và "vết tích Lâm Ấp vẫn còn in dấu" [27, 9] Đại Nam nhất thống chí ghi:
"Thạch thành Lâm ấp trúc Lục lộ Tử An bình"
Dịch nghĩa: Thành đá Lâm Ấp đắp Đường bộ Tử An xây (Bùi Quang dịch) Trên đỉnh Đèo Ngang hiện vẫn sừng sững uy nghi một cổng thành Hoành Sơn Quan Về gốc tích của Hoành Sơn Quan, tác giả Nguyễn Tú nhận định:
"Năm thứ tư, đời vua Minh Mạng, Quảng Bình bộ tâu nói: Hoành Sơn, chỗ giáp giới tỉnh Quảng Bình với Hà Tĩnh, núi cao, lại giáp biển là chỗ quan trọng, xin đặt quan ải ở đây Vua nghe lời tâu mà đặt tên là Hoành Sơn Quan, sai công bộ Thị lang Đoàn Công Phú đốc xuất việc làm và dụ rằng: Nay phương Nam phương Bắc họp thành một nhà, bốn mặt biên thuỳ đều không xảy ra việc gì, dải núi Hoành Sơn mà đặt thêm quan ải để xét hỏi bọn gian phi, không cần cao rộng lắm " [68, 49]
Đến tháng 3 năm 1842, vua Thiệu Trị, con vua Minh Mạng, ông vua thứ
ba triều Nguyễn, ngự giá ra Bắc đón nhận lễ sắc phong của Hoàng đế Trung Quốc ngang qua Đèo Ngang đã làm bài thơ vịnh cổng thành, khắc vào bia bên cạnh cửa như sau:
Nhất đái miên thành hạn tiết san Uyển diên khởi phục hải tần quan Dịch nghĩa:
Hoành Sơn một dải núi như dải lụa chắn ngang Nhấp nhô trùng điệp uốn khúc bên bờ biển
Trang 16Hoành Sơn quan không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà nó còn kết tinh giá trị văn hoá vô cùng quý giá Mặc dù trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, chứng kiến biết bao đổi thay của đất nước, nhưng Hoành Sơn quan không vì thế
mà nhạt phai trong tâm thức của mỗi người Đến tận hôm nay, khi đặt chân đến chốn này, tận mắt chứng kiến sự tồn tại, thách thức với thời gian của Hoành Sơn quan - một trong những công trình được đánh giá là "chắc chắn hơn cả những cổng thành chốn kinh kỳ" [70, 49] chúng ta mới hiểu hết sức sống tiềm tàng đang ẩn chứa đâu đây: " trải bao nhiêu gió núi, mưa ngàn, chịu đựng trước biết bao cơn bão ác liệt, cả bão trời lẫn bão bom đạn của địch mà vẫn vững chãi, chắc chắn, thi gan cùng tuế nguyệt, thách đố với thời gian Đứng trước Hoành Sơn Quan, nhìn lên vòm cửa cao ngất, tưởng như núi non xung quanh đều thấp xuống mà tự thấy con người lớn lên, vít được tầng mây, nhìn suốt được biển trời bát ngát, mà động lòng hoài cổ, tưởng tượng ra những điều kỳ diệu!" [70, 49]
“Việc xây dựng Hoành Sơn Quan, người ta không hiểu, người xưa, với hai bàn tay không, lưng trần chân đất, không một tấc sắt thép, máy móc, họ làm sao đưa lên ngọn núi này một khối lượng đá gạch, vôi vữa, bằng con đường bậc thang tưởng như chọc trời này, để xây một cổng thành, đến nay trải hơn 150 năm, vẫn còn vững chắc tưởng như chưa hề hư hỏng” [68, 50]
Hoành Sơn không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế đối với người dân Cảnh Dương nói riêng và người dân vùng phía Bắc Quảng Bình nói chung
mà còn rất đỗi thiêng liêng đối với Cảnh Dương: "Nằm trước mặt làng, Hoành Sơn cách Cảnh Dương (nơi gần nhất) 4 cây số, là một kỳ quan mà thiên nhiên ban tặng cho con người, miền đất "Địa linh, nhân kiệt" Người Cảnh Dương xưa
đã chọn làm hướng làng
"Tả Thanh long: Di lộc, Di Luân; hữu Bạch Hổ: Trung Hoà, Cương giáng"
"Trái thi vạn con nước, phải thu về vạn ngọn đá ngầm"
"Di Hoành sơn vi án" (Trích Phạm tộc phả ký)
Trang 17Con người tắm mình trong cảnh quan sông núi, cảnh quan sông núi tiềm
ẩn trong lòng người đã hình thành một tình cảm đẹp, một triết lý đẹp, một lối sống đẹp - đấy là niềm tự hào chính đáng về quê hương" [73, 11,12]
Phải, làm sao không tự hào được khi Cảnh Dương từ xưa đến nay như đẹp hơn, rạng ngời hơn và anh linh hơn bởi sở hữu riêng cho mình một vị trí phong thuỷ hết sức độc đáo: có sông, có núi và biển cả bao la
Sẽ thật là khiếm khuyết nếu nhắc đến Cảnh Dương mà chúng ta không nói đến sự hiện hữu của biển trong đời sống kinh tế và văn hoá của nhân dân Cảnh Dương Ngay từ những năm đầu mới lập làng, quay mặt ra biển là sự lựa chọn được đánh giá là "có tầm nhìn" của các bậc tiền hiền, điều đó đã góp phần đưa Cảnh Dương nhanh chóng trở thành một làng biển trù phú và thịnh vượng bậc nhất của châu Bố Chính xưa Phía Đông của làng được bao bọc bởi mênh mông biển cả, đây là vùng biển thuộc vịnh Bắc Bộ với sự đa dạng về địa hình như bãi ngang, rạng ngầm, hải đảo
Vùng biển Cảnh Dương có thể chia làm 2 vùng với đặc điểm hoàn toàn khác nhau, vùng cửa lạch Ròn lên phía Bắc và vùng cửa lạch Ròn xuống phía Nam
Vùng cửa lạch Ròn lên phía Bắc là vùng có địa hình phức tạp với khá nhiều đảo, rạng ngầm hay còn gọi là vùng biển san hô Do có dãy Hoành Sơn đâm ngang ra biển, thường là đá hoa cương nham thạch cứng - là tàn dư của các kiến tạo của dãy Trường Sơn - tạo nên các mũi đá cách nhau khoảng vài ba km Tính từ hướng Bắc vào có các mũi biển với những tên gọi ấn tượng, dân dã như Mũi Đao, Mũi Độc, Mũi Ông, Mũi Rồng Sở dĩ có những tên gọi này là xuất phát từ hình dáng của các mũi biển, theo quan sát của người dân thì Mũi Đao có hình giống thanh đao, Mũi Độc giống hình con rắn, Mũi Rồng giống hình đầu rồng Giản đơn vậy thôi nên rất dễ nhớ, dễ đi vào lòng người bởi tính mộc mạc
và gần gũi của nó Ngoài ra, phần cuối của dãy Hoành Sơn đâm ra biển tạo thành những hình dáng khác nhau của các mỏm núi: có nơi vách núi thẳng đứng sừng sững như một bức thành cao với chân móng cắm sâu xuống biển, có nơi các hòn núi nhỏ rải rác, nổi lên trên mặt nước khiến người ta liên tưởng đến hình
Trang 18thù các con vật như "hoặc như trầu nằm, hoặc như ngựa nhảy, hoặc như chim lượn, én bay, lại có những mỏm núi có hang sâu nằm sát mép nước, mỗi lần sóng vỗ vào trắng xoá như con quái vật phun nước ra [68,197]
Nối liền giữa các mỏm đá là bãi cát trắng phẳng lỳ, trắng tinh viền quanh chân núi như "sân chơi của thiên nga", là nơi lý tưởng cho những ai muốn nghỉ chân để chiêm ngưỡng quang cảnh nơi đây, bởi ai đã từng qua đây đều thấy lòng mình ngây ngất bởi cảnh non xanh nước biếc" [73, 14]
Ở phía nam của Mũi Rồng, dưới chân đèo Ngang, biển lấn sâu hình thành một cái vũng gọi là Vũng Chùa - là vùng biển kín gió nên đây là nơi lý tưởng để tàu thuyền trú ngụ khi trời trở gió Người Cảnh Dương không ai không thuộc hai câu thơ:
Đông Bắc thì dựa Vũng Chùa Nồm Nam dựa Chụt bốn mùa như ao Đứng từ Vũng Chùa phóng tầm mắt ra xa, sẽ hiện lên hình ảnh của ba hòn đảo với thế đứng chân vạc là Hòn Nồm, Hòn La và Hòn Cỏ Đảo La (hay còn gọi là Đảo Yến) cách bờ biển khoảng 3 - 4 km, là con mắt tiền tiêu của cửa ngỏ vùng biển phía Bắc Quảng Bình
Từ cửa biển Cảnh Dương nhìn ra khơi xa, còn có một hòn đảo gọi là Hòn Ông Hòn Ông còn có tên gọi khác là Hòn Gió, sở dĩ có tên gọi này là vì hình dạng của nó thường thay đổi theo gió nước, bầu trời Có khi có hình chóp nón,
có khi giống hình cỗ xôi, cái nấm
Ngoài Vũng Chùa, các mỏm đá, hòn đảo , vùng biển này còn có những rạng ngầm dài hàng chục km với đặc điểm độc đáo Đó là những rạng đá san hô
có nhiều hang hốc, nhiều tầng, nhiều lớp vì thế đây là nơi trú ngụ của nhiều loài
cá, tôm, cua Đặc biệt hơn cả là Rạng Lố (Hòn Lố) được ví là "toà lâu đài có nhiều biệt thự trên con đường giao lưu của các luồng cá" Vì thế người dân Cảnh Dương có câu tục ngữ: "Tháng tám Hòn La, tháng ba Hòn Lố" Tháng ba là tháng mà có nhiều rong rêu nhất, vì thế rất nhiều loài cá quý hội tụ về đây sinh sôi, nảy nở như cá Tho, cá Dưa, cá Hàm hương Sự ưu ái của thiên nhiên đã ban tặng cho Cảnh Dương "một vùng đặc sản quý hiếm" [73, 14], chính món
Trang 19quà của tạo hoá đã giúp cho làng biển phát triển kinh tế ngày càng thịnh vượng
và khởi sắc
Nếu vùng biển từ cửa lạch Ròn lên phía Bắc có địa hình đa dạng, phức tạp thì vùng viển từ cửa lạch Ròn xuống phía Nam lại là vùng Bãi ngang Ở vùng biển này do có đáy cạn, chủ yếu là cát và bùn pha trộn với nhau nên rất thuận lợi phát triển các nghề lưới trủ, lưới vây, lưới quét
Cảnh Dương có diện tích khoảng 3 km2, đất làng toàn cát, không có đất ruộng để sản xuất nông nghiệp nên theo lời kể của các vị bô lão, đất trồng của Cảnh Dương phải mua bên làng Di Lộc Vì thế Cảnh Dương còn được gọi là một làng (xã) giàu cát nhưng lại "nghèo đất" Nhìn tổng thể, Cảnh Dương nổi lên như một hòn cù lao cát trắng - một làng cát điển hình của vùng duyên hải miền Trung Xung quanh làng được bao bọc bởi sông biển mặn mòi, dân cư sinh sống trên một diện tích đất đai nhỏ hẹp Người ta còn xem Cảnh Dương có
"phong cảnh khác thường của một làng quê ven biển - một bán đảo cát trắng" Đến với Cảnh Dương, chúng ta sẽ thấy đâu đâu cũng có sự hiện hữu của cát, từ đường làng, ngõ xóm, sân chơi
Với mô hình kết cấu nhà cửa khá độc đáo đã tạo nên vẻ rất riêng của làng,
vì thế Cảnh Dương được ví như "một thành phố văn minh tối cổ" [70, 54], "vẻ đẹp cổ kính" [68, 199] hay "một thành cổ" [73, 9] Sở dĩ có sự so sánh đó bởi các ngôi nhà ở đây được xây toàn gạch ngói san sát theo "kiểu úp bát", xung quanh mỗi nhà đều có khuôn viên thành trì san hô bao bọc Đường ngang ngõ dọc trong làng được bố trí như hình bàn cờ, thẳng tắp khiến người ta liên tưởng đến những làng phố cổ Quan sát từ xa, Cảnh Dương toát lên sự sạch sẽ, văn minh của một đô thị phồn vinh
Mặc dù không có đất đai màu mỡ để trồng lúa, trồng khoai nhưng người Cảnh Dương với mệnh danh là "luôn nhạy cảm với cái mới" đã phát triển kinh tế theo hướng khai thác thế mạnh nghề chài lưới và chế biến hải sản Chính sự nỗ lực rất lớn của người dân Cảnh Dương thế hệ tiếp nối thế hệ đã nhanh chóng đưa kinh tế, văn hoá, giáo dục của làng ngày càng phát triển và phồn vinh đúng như tâm niệm của tác giả Trần Đình Vĩnh: "Người Cảnh Dương từ khi lập nghiệp là
Trang 20hướng ra biển, từ mảnh đất kỳ thú này, bằng tấm lòng và trí tuệ đã tạo cho mình một cuộc sống ấm êm, hạnh phúc " [73, 14]
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển làng cảnh Dương
Tính đến nay làng Cảnh Dương vừa tròn 366 tuổi Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, cùng với những biến động của thời gian, làng vẫn đứng đó, hiền hoà nhưng rất đỗi kiên trung, mềm mại nhưng không hề yếu đuối bởi nơi đây đã chứng kiến bao nhiêu bom đạn, vết chân giày xéo của kẻ thù, từng bờ cây, bụi cỏ vẫn còn đó dấu tích một thời Nhưng không vì thế mà Cảnh Dương mất đi dáng vẻ rất riêng của mình mà hơn thế, chúng ta vẫn tìm thấy ở đây dáng vóc hào hùng, những giá trị văn hoá vô cùng quý giá, nó đã cùng với con người
và cảnh vật nơi đây lặng lẽ toả sáng và trường tồn với thời gian Chúng ta hãy một lần ngược dòng thời gian, ngược dòng lịch sử để trở về với những ngày đầu tạo lập và hình thành làng Cảnh Dương
Qua nghiên cứu tư liệu lịch sử, các phả tộc dòng họ và những sưu tầm truyền tụng trong dân gian, chúng tôi đã tìm thấy một số cứ liệu cơ bản về sự ra đời và phát triển của làng Cảnh Dương Từ ngày đầu thành lập làng cho đến dưới các triều đại phong kiến và khi đất nước được soi sáng bởi sự lãnh đạo của Đảng, người dân trong làng luôn biết gìn giữ và phát huy giá trị truyền thống, đó
là sự tương thân tương ái, là tinh thần đoàn kết, vượt khó và đặc biệt là lòng yêu nước Suốt chặng đường với những bước đi đầu tiên đầy gian khó nhưng người dân Cảnh Dương luôn tự hào về quá khứ và lạc quan, tự tin hướng đến tương lai, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp
1.2.1 Cảnh Dương trong những ngày đầu mới hình thành
Vùng đất làng Cảnh Dương trước thuộc châu Bố Chính nước Chiêm Thành Năm 1069, Vua Lý Thánh Tông cử Lý Thường Kiệt làm tướng tiên phong đánh Chiêm Thành nhằm chế ngự mặt phương Nam Trong trận đánh này vua Chiêm bị bắt xin dâng ba châu là Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh, từ phía
Trang 21Nam trở vào (Quảng Trị ngày nay) để chuộc mạng Đến đời nhà Lý (1075), vùng đất làng Cảnh Dương thuộc đất Bố Chính Nhà Lý nhân đó mở rộng biên giới phía Nam
Châu Bố Chính bắt đầu thực sự phát triển từ cuộc di dân khi vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) kêu gọi nhân dân bốn trấn và Hoan, Ái vào Bố Chính khai hoang lập nghiệp "Về đời Hồng Đức, ở phía Nam Quảng Bình dân cư đã tiệm đông, nhưng ở phía bắc tức là châu Bố Chánh (Tuyên Hoá, Quảng Trạch và
Bố Trạch) vì ruộng xấu, đất cao, sinh kế khó nhọc nên dân cư còn lơ thơ lắm Năm 1467 nhân có lời xin của quan thừa chánh sứ tư tham nghị Thuận Hoá là ông Đặng Thiêm, vua bèn hạ dụ chiêu tập dân gian vào khai khẩn ở châu Bố Chánh Kể từ thời đó mới có người vào sinh cơ lập nghiệp ở phía bắc Quảng Bình Nếu hai đợt di dân trước theo lối "ngụ binh ư nông", nặng về nông nghiệp thì đợt di dân này chú trọng cả nông nghiệp và thủ công nghiệp, kể cả công nghiệp Do vậy các làng ở đây có tên là Kẻ hay Phường (mà không gọi là Xá), bắt đầu xây dựng những làng nghề chuyên nghiệp
Sách Thiên Nam Dư Hạ Tập, từ thời Hồng Đức (Lê Thánh Tông) đã thống kê số làng xã ở châu Bố Chính, phủ Tân Bình như sau: " châu Bố Chính
12 tổng, 64 xã, 24 phường, 20 trang" Như vậy với phong trào di dân vào phương Nam để khai hoang lập ấp, làng xã Quảng Bình đã phát triển rất nhanh Đặc biệt là dưới thời vua Lê Thánh Tông, châu Bố Chính là điểm khai khẩn trọng yếu và từ đó làng Cảnh Dương cũng bắt đầu được hình thành và phát triển
Theo Bản Hương ước được viết từ đời Cảnh Hưng thứ 22 và phần "khai khẩn truyện ký của một số bản Gia phả của các họ Nguyễn, họ Phạm (Phạm tộc gia phả ký, Nguyễn Thị Tiểu tông gia phả ) đều đề cập đến nguồn gốc và quá trình hình thành của làng Trong bài tựa cuốn: "Nguyễn Thị tiểu tông gia phả"
do tú tài Nguyễn Gia Miễn viết năm Tự Đức thứ 24 (1871) - có đoạn viết về nguồn gốc làng Cảnh Dương như sau: "Nguyên trước, Tổ tiên ta người trang Cảnh Dương, huyện Chân Phúc, Phủ Đức Quang, tỉnh Nghệ An Ngày 18/11
Trang 22năm Quý Mùi (1643) triều Lê Chân Tông, hiệu Phúc Thái, tổ tiên ta cùng khai khẩn (vùng ấy), rồi liệt vị tiên hiền cũng vào xứ Cồn Dưa (tức thôn Bắc Hà) xã Thuần Thần, châu Bố Chính" Đặc biệt cuốn “Bổn xã khai khẩn truyện ký” ghi rất rõ:
“Thuỷ tổ làng ta vốn sinh ra ở trang Cảnh Dương, huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, Nghệ An Các ngài Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh bắt đầu vào xứ Cồn Dưa xã Thuần Thần, châu Bố Chính khẩn hoang làm nghề, sau dời đến xứ Lòi Mắm làng Di Phúc dựng lên 5 cái nhà, từ đó sinh sản ngày càng đông, mới phân bổ việc quan, chịu thuế lệ, định cách thức Lòi Mắm xứ tức là làng Cảnh Dương Cồn Dưa xứ nay là thôn Bắc Biên cho đến ngày nay bèn ghi lại vậy
Năm Quý Mùi (1643), Phúc Thái thứ nhất, ngày 18 tháng 11 mùa Đông, Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh, Nguyễn Văn Yến, Nguyễn Văn Lẫm, Phạm Văn Hựu, Phạm Văn Sạo vào châu Bố Chính, ngụ cư ở xứ Thuần Thần, lúc đó mới có 6 người kết làm anh em, lập nên nhà cửa, bắt đầu đào giếng gọi là giếng Đông”
Với những tư liệu trên, mốc thời gian năm 1643 là năm khai sinh làng Cảnh Dương, đánh dấu bước ngoặt vô cùng có ý nghĩa đối với lịch sử hình thành và phát triển của làng Sự khởi đầu quan trọng đó với công lao mở đất, lập làng của sáu vị tổ đã mở đầu cho những năm tháng tiếp theo trong việc khai hoang, lập ấp Đặc biệt tư liệu còn cho chúng ta nguồn thông tin quý giá: “Cảnh Dương” là tên gốc của trang Cảnh Dương huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Đó cũng chính là quê gốc của người Cảnh Dương Mảnh đất đầu tiên mà sáu vị tổ đặt chân đến chính là xã Thuần Thần, châu Bố Chính
Sau ba năm kể từ ngày sáu vị tổ đặt bước chân đầu tiên lên vùng đất này, năm 1647 đã có thêm 4 người nữa đến sinh cơ lập nghiệp: “Ngày 20 tháng 9 năm Đinh Hợi, Phúc Thái thứ 5 (1647) Phạm Văn An, Phạm Văn Hảo, Võ Văn Lan, Phạm Khắc Hoành lại cùng vào sinh sống, lập nghiệp với các ngài Nguyễn
Trang 23Văn An… (Nay xét Quốc sử Phúc Thái là niên hiệu triều vua Lê Thần Tông hoàng đế)
Và đến năm 1653 (tức là sau 10 năm kể từ ngày lập làng) số lượng đã tăng lên là 19 người: “Ngày 8 tháng 6 năm Quý Tỵ, Thịnh Đức thứ nhất (1653), các ông Đỗ Phú Thanh, Đỗ Văn La, Trương Văn Trác, Trương Văn Pháo, Võ Văn Nhiên, Nguyễn Văn Vệ (hay Thuật)… gồm 20 người đến xứ Cồn Dưa cùng vào cư trú với các tiền bối”
Như vậy có thể thấy sau 10 năm, vùng đất này đã “đón tiếp” thêm những dấu chân đến khai phá và viết nên những trang lịch sử mới cho làng Sau này dân làng Cảnh Dương đã lập bia đá tôn vinh và xây Đình Tổ để thờ các vị tổ đã
có công lập làng (Nay Đình Tổ không còn (bị chiến tranh tàn phá) nên dân làng
đã xây dựng Đình Tổ mới và đặt bài vị thờ các vị tiền hiền ở đây) Các vị được thờ tự bao gồm: Bảy vị tiền hiền khai khẩn (Nguyễn Văn An, Ngô Cảnh Xuân, Nguyễn Văn Đức, Đỗ Phú Thanh, Vũ Văn Nhiên, Phạm Khắc Hoành, Trương Văn Trác) và thập nhị vị tiền hiền đồng khẩn (Nguyễn Văn Yên, Phạm Văn Ánh, Trương Văn Pháp, Phạm Văn Hữu, Đỗ Văn La, Vũ Văn Vượng, Nguyễn Văn Lẫm, Phạm Văn Hảo, Ngô Văn Hoà, Phạm Văn Sào, Ngô Phúc Lai, Vũ Văn Lan)
Một sự kiện có ý nghĩa quan trọng nữa đó là việc quyết định chuyển từ Cồn Dưa (đã sinh sống được 12 năm) sang bờ Nam sông Ròn, chọn xứ Lòi Mắm làm nơi định cư lâu dài “Mùa xuân tháng 2 năm Ất Mùi, Thịnh Đức thứ 3 (1655), các ông Nguyễn Văn An, Đỗ Phú Thanh dời đến xứ Lòi Mắm dọc bờ sông làng Di Phúc (tức nay là đất làng ta) Lúc đó được 20 người, dựng nhà cửa,
từ đó số người dần đông” Phải chăng đây là sự lựa chọn sáng suốt thể hiện tầm nhìn, tài trí của các bậc tiền bối? Sở dĩ đặt ra câu hỏi như vậy bởi xứ Lòi Mắm (Cảnh Dương ngày nay) ẩn chứa rất nhiều tiềm năng mà đến tận bây giờ nó đã được khẳng định qua sự phát triển kinh tế, văn hoá của làng trong những bước đi của lịch sử "Người Cảnh Dương khi đặt chân lên mảnh đất này là hướng ra
Trang 24biển, biển cả bao la vẫy gọi, nuôi sống và rèn luyện con người mang đầy đủ những đức tính lanh lợi, dũng cảm, sáng dạ, nhạy cảm trước cái mới" [73, 19] Chính mảnh đất này đã tạo nên một Cảnh Dương rất riêng với cuộc sống gắn liền với biển cả, với những thế mạnh về phát triển nghề chài lưới, với những con người dẻo dai, mạnh mẽ, thông minh… để chúng ta có Cảnh Dương trù phú, giàu có như hôm nay “Sự thịnh đạt của làng biển bên bờ sông Loan này (…) là một minh chứng hết sức thuyết phục cho sự sáng suốt và tầm nhìn xa, trông rộng của các bậc tiền bối làng Cảnh Dương trong việc chọn đất, lập làng” [27, 17],
“tiếp cận với biển là một yêu cầu của người làm nghề chài lưới Làng Cảnh Dương ngày nay có nhiều ưu thế: cảnh quan đẹp, chài lưới thuận lợi, bố phòng tốt, thuyền bè kín gió, đó phải chăng là tầm nhìn chiến lược của người xưa” [73, 27] Với những nhận xét trên, có thể khẳng định rằng người dân ngày xưa và hôm nay luôn tự hào và biết ơn công lao mở đất, lập làng của các vị tiền hiền, chính tên đất, tên người ấy đã tạo nên diện mạo của làng biển này hôm nay và mãi mãi về sau
Nếu năm 1643, năm 1655… đều đánh dấu sự kiện quan trọng của làng thì đến năm 1658, tên làng đã được ra đời và hai tiếng “Cảnh Dương” cũng vang lên từ thời khắc đó Việc đặt tên làng như một lời nhắn gửi chính thức đến tất cả mọi người, mọi nơi rằng tại đây, ở vùng đất này Cảnh Dương đã khẳng định về
“chủ quyền”, về “lãnh thổ” và xưng danh với các làng, các vùng khác Đối với nhân dân nơi đây, “Hai chữ Cảnh Dương vừa đẹp về tên chữ, vừa đẹp về ước mơ”, thể hiện khát khao muốn khẳng định mình [73, 14]
1.2.2 Cảnh Dương dưới các triều đại phong kiến
+ Về kinh tế
Với vị trí địa lý “phía đông là biển cả bao la”, Cảnh Dương đã nhanh chóng phát huy lợi thế và khai thác tiềm năng về biển Ngày từ những ngày đầu lập làng, các vị tiền bối đã “chọn” nghề chài lưới làm kế sinh nhai Chính vì thế sau thời gian khi số lượng dân ngày càng tăng, các dụng cụ phục vụ cho hoạt động khai thác hải sản nhiều hơn, quy mô hơn thì cũng là lúc kinh tế của Cảnh
Trang 25Dương bắt đầu khởi sắc Làng biển trù phú này đã được nhắc đến trong các tác phẩm nổi tiếng (như đã nêu ở phần trên) với thế mạnh về nghề đi biển của mình Với nghề nghiệp chủ yếu của họ là đánh bắt tôm cá, chế biến hải sản, buôn bán
và hàng hải, người dân nơi đây đã nhanh chóng xây dựng cho làng nền tảng kinh
tế vững chắc Tác phẩm Bổn xã khai khẩn truyện ký đã ghi nhận điều đó: “Tháng
4 năm Nhâm Dần, Vĩnh Thọ thứ nhất (1662) đã viết bộ đinh được 47 suất, ghe buôn được 4 chiếc, ghe chài được 6 chiếc” và “tháng 4 năm Giáp Thìn, Cảnh Trị thứ hai (1664) làng được phân bố thuế Hàm Hương, hàng năm dâng nạp…” Với
số lượng ghe chài, ghe buôn và cống mắm Hàm hương đã phần nào phản ánh đời sống kinh tế Cảnh Dương lúc bấy giờ “Nghề buôn thuyền và nghề làm nước mắm lúc này đã phát triển” [73, 30] Mặc dù chỉ mới 19 năm kể từ ngày khai khẩn mảnh đất này, người dân đã biết tạo lập và phát triển cho mình nghề nghiệp ổn định, tạo được tên tuổi về sản phẩm mắm Hàm Hương - một trong những sản phẩm nổi tiếng của làng dâng lên cho triều đình (sau này đến năm
1670, mắm Hàm hương đem dâng nộp cho Đại mẫu quốc vương (mẹ vua)
Đến triều đại Tây Sơn, kinh tế của Cảnh Dương có những bước phát triển nhất định, điều đó đã được thể hiện qua việc nhân dân đóng góp, ủng hộ cho đội quân nhà Tây Sơn “Nhân dân Cảnh Dương đã đón tiếp đoàn quân của Nguyễn Huệ với một niềm cảm kích” [73, 32] Không chỉ cổ động về mặt tinh thần mà hoà chung phong trào của nhân dân tỉnh Quảng Bình, người dân ở đây đã đem
cả “nhân tài, vật lực” phục vụ phong trào Tây Sơn, cụ thể trong cuộc chiến chinh của ba anh em nhà Tây Sơn đã có sự góp mặt của 5 chiếc ghe Tràng Đà và 50 người con của Cảnh Dương, cùng với sự xuất hiện và tồn tại của chiếc chuông
“Hồng chung, cảnh viện” suốt mấy trăm năm đã minh chứng cho tấm lòng của nhân dân Cảnh Dương đối với nhà Tây Sơn Nó vừa phản ánh tình cảm của người dân nơi đây nhưng đồng thời thể hiện tiềm năng kinh tế rất lớn của Cảnh Dương: “Phải nhìn thấy sức mạnh kinh tế, xã hội của một làng như thế nào mới
đủ sức làm được những việc to lớn ghi lại truyền thống cho mai sau” [73, 33] Tác giả Trần Đình Vĩnh đã có nhận xét khi đọc những lời cầu nguyện do giám sinh Nguyễn Đức Quýnh soạn được khắc trên quả chuông
Trang 26Dưới triều Nguyễn, kinh tế Cảnh Dương đã có những bước phát triển vượt bậc Các nghề truyền thống như nghề đánh bắt tôm cá, nghề làm nước mắm…
đã đem lại rất nhiều nguồn lợi cho làng Nhân dân không những đã tích luỹ nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong việc khai thác tiềm năng về biển mà còn không ngừng nâng cao kỹ năng chế biến hải sản, những sản phẩm của làng đã được nhiều nơi biết đến, thậm chí những vùng xa xôi như Phan Thiết, Nam Định… Ngoài ra, người dân đã biết dựa vào vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế, lưu thông hàng hoá, góp phần thúc đẩy buôn bán Về đường bộ, nằm trên trục đường xuyên suốt bắc nam nên nơi đây khá dễ dàng trong việc mở rộng mối quan hệ làm ăn, buôn bán, vận chuyển Đặc biệt là đường thuỷ, Cảnh Dương không những khai thác vùng miền Bắc mà còn mở rộng địa bàn buôn bán về hướng nam, đưa sản phẩm của Cảnh Dương đến với nhiều vùng miền của đất nước, đồng thời buôn về những mặt hàng rất phong phú, phục vụ ngày càng tốt hơn đời sống sinh hoạt vật chất cũng như tinh thần của nhân dân
Tóm lại, kinh tế Cảnh Dương dưới các triều đại phong kiến từng bước đã
có sự khởi sắc, dần khẳng định vị trí của mình Nhân dân của làng bằng chính lòng quyết tâm, tinh thần vượt khó, sẵn sàng đối mặt với thử thách, gian khổ để
tự tạo nên một diện mạo rất riêng mảnh đất quê hương để rồi Cảnh Dương trong mắt của mọi người là hình ảnh một làng biển trù phú và giàu có, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc
+ Về văn hoá - giáo dục
Với nền kinh tế khá phát triển, văn hoá làng Cảnh Dương cũng vì thế nhanh chóng tạo nên được những nét rất riêng Cụ thể từ những năm đầu lập làng, dưới thời Lê - Trịnh, nhân dân Cảnh Dương đã đầu tư xây dựng các công trình có quy mô cũng như tổ chức sinh hoạt văn hoá lành mạnh, tạo nên đời sống tinh thần phong phú Những cứ liệu tại Bổn xã khai khẩn truyện ký đã minh chứng điều đó:
Trang 27“Tháng 3 năm Kỷ Hợi, Thịnh Đức thứ bảy (1659) làng ta dâng lễ bá cáo
Hà Bá để cầu ngư (…) Tháng 6, năm Bính Ngọ, Cảnh Trị thứ tư (1666) làng ta
bố trí nơi thờ thần, phật, đào ao, làm giếng”
Như vậy không những mở rộng các hoạt động như mở đường, đào giếng, lập chợ…mà làng còn hình thành những sinh hoạt rất có ý nghĩa như lễ cầu ngư… những nét văn hoá mà đến bây giờ những thế hệ sau này vẫn giữ gìn và
kế thừa
Cũng vào thời kỳ này, Cảnh Dương đã có người đỗ đạt sinh đồ, hương cống Một số người đã ra làm quan dưới triều Lê như ông Đỗ Đức Huy, Nguyễn Như Kim Giáo dục được xem là nội dung quan trọng ngay từ những ngày đầu, bản Hương ước cổ của làng (1767) có quy định: "Đối với trẻ con từ 7 tuổi trở lên thì cha mẹ phải cho tới trường học Trẻ con đi học, làng xét ra nhà túng quá thì lấy tiền công quỹ trợ cấp cho mỗi trẻ mỗi tháng 0,3 đồng để mua giấy mực" Cũng trong thời gian này Cảnh Dương đã đóng góp rất nhiều sức người sức của cho tập đoàn phong kiến họ Trịnh
Đến triều đại Tây Sơn, nét văn hoá nổi bật nhất mà đến tận bây giờ, trải qua hàng trăm năm với biết bao biến động của lịch sử, nó vẫn được nhân dân giữ gìn và nâng niu, trở thành một vật rất thiêng liêng đối với làng Đó chính là chiếc chuông “Hồng chung, cảnh viện” - một bằng chứng về ảnh hưởng của văn hoá Tây Sơn đối với nhân dân Cảnh Duơng Đến tận bây giờ, khi ngôi chùa của làng đã không còn do sự tàn phá của chiến tranh thì chiếc chuông vẫn được trân trọng giữ gìn như một báu vật, phải chăng đó cũng là một cách thể hiện tình cảm của con người nơi đây, mộc mạc, chân thành và rất đỗi vẹn tình
Dưới triều Nguyễn, Cảnh Dương có rất nhiều thành tích về văn hoá - giáo dục "Tính từ triều Nguyễn mở khoa thi làng Cảnh Dương được gọi là làng khai khoa Tiến sĩ, làng mở đầu tiên khoa Tiến sĩ trong huyện Quảng Trạch, cùng với làng Hoàng Công ở huyện Lệ Thuỷ là hai làng khai khoa Tiến sĩ của tỉnh Quảng Bình [68, 200] Cảnh Dương cũng là địa phương mở trường học khá sớm Năm
1918, ông Đỗ Phúc Túc đã vận động nhân dân xây trường học sau này gọi là trường tiểu học Pháp - Việt "Khi chữ Hán bị bãi bỏ, các trường Tiểu học Pháp -
Trang 28Việt chỉ được Nhà nước bảo hộ Pháp cho mở từ tỉnh đến huyện là cùng, thế mà riêng làng Cảnh Dương được mở một trường" [68, 200]
Ở Cảnh Dương hiện nay còn lưu giữ 11 sắc phong thần được triều đình nhà Nguyễn phong từ thời vua Thiệu Trị đến đời vua Khải Định
1.2.3 Cảnh Dương sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay
Sau cách mạng tháng 8 thành công, Cảnh Dương nhanh chóng ổn định về mọi mặt Chính quyền được củng cố và xây dựng đúng mục tiêu, bản chất của cách mạng, nhân dân hăng hái tham gia các cuộc phát động, ủng hộ phong trào cách mạng như tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, hũ gạo cứu đói, phong trào bình dân học vụ, xây dựng lực lượng tự vệ ở các xóm
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Cảnh Dương càng nổi lên như một điểm sáng về tinh thần chiến đấu quật cường, không hề lung lay trước những thủ đoạn và tấn công tàn ác của kẻ thù Có thể nói tên làng Cảnh Dương được nhiều người biết đến cũng chính là thời kỳ này Tên tuổi làng kháng chiến Cảnh Dương đã trở thành một biểu tượng mẫu mực của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Đã không biết bao nhiêu lời ca ngợi,
sự ngưỡng mộ và cả lòng biết ơn về một "làng chiến đấu" anh hùng Chưa bao giờ chúng ta bắt gặp một Cảnh Dương ngoan cường và anh dũng như thế
"Phong trào “Quyết tử giữ làng” được nhân dân đồng lòng hưởng ứng:
Thuyền đánh cá cỡ lớn được đánh đắm ở cửa sông để chặn tàu giặc Thùng lớn đựng nước mắm được đổ đầy cát dựng công sự Hệ thống phòng thủ còn được chất nhiều lớp đá san hô, cây dương liễu, chum vại Nhà nào cũng đào hầm bí mật Vỏ chai, đồng, sắt được gom lại chế tạo vũ khí Nhân dân không những đóng góp tài sản, tiền bạc mà còn kề vai sát cánh cùng các đội du kích đánh giặc bằng đại đao và mìn tự tạo Những người già yếu đi tản cư, còn lại mỗi người dân ở đây là một chiến sĩ sẵn sàng đánh địch bảo vệ xóm làng" Đây chỉ một trong những nét chấm phá về hình ảnh của làng Cảnh Dương trong thời kỳ chống Pháp, nhưng chúng ta có thể bắt gặp ở đó một tinh thần thép, một ý chí sắt đá và một trái tim yêu nước, yêu xóm làng đến tha thiết Nhân dân Cảnh
Trang 29Dương đã quên mình để chiến đấu bảo vệ mảnh đất quê hương, anh dũng vượt qua 120 trận càn lớn nhỏ của quân thù Không những kiên cường đối mặt với quân thù mà người dân nơi đây vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất, ngư dân vẫn bám biển, đóng góp cho gia đình và làng xã "Năm giờ tối mới xô thuyền ra biển, Tất cả mọi sinh hoạt chuyển sang đêm" [73, 50] Tuy nhiên không vì thế
mà Cảnh Dương mất đi vẻ mềm mại và lạc quan, nhân dân tay cầm súng nhưng vẫn hát vang những lời ca tiếng hát, phong trào trào văn nghệ, thể thao vẫn được duy trì Đâu đó trên gương mặt của mỗi người dân vẫn sáng ngời niềm tin chiến thắng, vào một tương lai tươi sáng đang chờ đón Chúng ta có thể gặp bất cứ nơi đâu, bất cứ người nào trên mảnh đất làng Cảnh Dương những nhịp đập, những tiếng nói, những hơi thở hoà quyện với nhau về tình yêu quê hương làng xóm,
nó đã thấm vào từng ngọn cỏ, từng mảnh đất và máu thịt của người dân nơi đây Thời chống Mỹ, gần mười năm đương đầu với tên đế quốc khét tiếng trong cuộc chiến tranh có thể nói là tàn bạo nhất trong lịch sử, nhân dân Cảnh Dương không vì thế mà nhụt chí Phát huy truyền thống anh dũng kiên cường đánh giặc giữ nước, giữ làng trong cuộc chiến tranh chống Pháp, người dân nơi đây đã bám đất, bám làng tiêu diệt được 4 máy bay, 2 tàu chiến hiện đại của kẻ thù Biết bao người đã hy sinh, ngã xuống vì sự bình yên của đất nước, xóm làng, máu hàng trăm đồng bào đã nhuộm thắm từng dòng sông bãi biển, hàng trăm ngôi nhà và hầu hết các công trình kiến trúc đình, chùa, miếu đã bị huỷ diệt Những hy sinh đó, những mất mát đó như được ghi tạc vào trời xanh và trong lòng người dân xứ sở, Cảnh Dương như càng đẹp hơn, lung linh hơn trong trái tim của đồng bào cả nước Hàng loạt phần thưởng cao quý được trao cho nhân dân Cảnh Dương: Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương chiến công hạng hai, Huân chương chiến công hạng ba, Huân chương Quân công hạng 3 và đặc biệt vào dịp 2 - 9 - 1976, Cảnh Dương đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang
Tất cả những truyền thống, thành tích rất đáng trân trọng đó được người Cảnh Dương khắc sâu vào tâm thức, chính vì thế trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước, Cảnh Dương vẫn mang trong mình tinh thần ấy, ý chí ấy,
Trang 30không bao giờ biết lùi bước trước những khó khăn Mặc dù còn đó rất nhiều những thử thách, trở ngại nhưng Cảnh Dương vẫn bừng sáng tinh thần lạc quan
và tin tưởng vào ánh sáng soi đường của Đảng Hôm nay chúng ta bắt gặp những gương mặt hồng lên trong nắng sớm, long lanh trong niềm vui bởi họ đã góp một phần tô điểm thêm truyền thống của nhân dân nơi đây Những đoàn thuyền đầy ắp cá ánh lên trong mắt của người dân chài, những ngày mùa bội thu, những làng nghề phát triển, chúng ta bắt gặp không khí lao động sản xuất hăng say, hồ hởi Không những thế người dân nơi đây rất tự hào về kho tàng văn hoá dân gian của mình Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong thiên tai nhưng họ vẫn rất yêu đời và hào phóng Ngày xuân nhân dân nô nức những lễ hội cầu ngư, cầu mùa mong một mùa bội thu Những trò chơi: Chèo cạn, cờ người, cơm thi, cơm cần, hội bơi trải càng làm cho thôn xóm thêm náo nức, thanh bình Những tiềm ẩn văn học dân gian trong lòng người như: ca dao, hò vè, tục ngữ đa dạng
và độc đáo Tất cả tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp về văn hoá của làng ven biển
Kết luận chương 1
Cảnh Dương là vùng đất có cảnh quan môi trường và hệ sinh thái khá đa đạng Với sự hiện hữu của núi, sông, biển cư dân nơi đây đã hướng vào việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên sẵn có, trong đó nổi bật nhất là môi trường biển Chính vì thế đời sống văn hoá của cư dân Cảnh Dương mang sắc thái văn hoá biển khá rõ nét Cảnh Dương cũng là một trong những nơi dừng chân của người Việt trong quá trình Nam tiến, các bậc tiền hiền đã chọn nơi này để định
cư lâu dài và bắt đầu viết nên những trang sử đầu tiên đầy ý nghĩa đối với biết bao thế hệ người dân của làng Đây là lý do vì sao văn hóa dân gian làng cảnh Dương ngoài những nét văn hóa khá phong phú, đa dạng vẫn mang đậm dấu ấn của vùng đất Thanh – Nghệ - Tĩnh
Trang 31CHƯƠNG 2 MỘT SỐ SINH HOẠT VĂN HOÁ DÂN GIAN ĐẶC TRƯNG
CỦA LÀNG CẢNH DƯƠNG
2.1 Kiến trúc cộng đồng
Cảnh Dương là một trong những làng hội tụ khá nhiều công trình kiến trúc bề thế, quy mô và có giá trị rất lớn trong đời sống tâm linh của nhân dân Hương ước cổ của làng đã có nhiều nội dung về vấn đề chọn đất, chọn hướng, bảo quản, chăm sóc, cũng như tôn kính các công trình của làng Trong đó khẳng định: "Miếu mạo trong làng hiện thành nền tảng, cũng là địa linh un đúc anh túc,
là một đại cơ quan vậy, như thái miếu, thành miếu, linh ứng miếu, chùa phật, nơi cầu phúc, cầu ngư, nhà thờ khai khẩn ( ) đều đời đời tuân thủ không thể thay đổi, xâm phạm" [74, 56] Trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số kiến trúc khá độc đáo như: Đình Lớn, Chùa làng và Miếu thờ
Cá Ông
2.1.1 Đình Lớn
Đình Lớn là một trong những công trình kiến trúc quy mô và có ý nghĩa rất lớn đối với nhân dân trong làng Đó không chỉ là nơi thờ Thành hoàng Bổn thổ - Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương mà còn được xem là "bộ mặt" của làng Người dân dù đi đâu về đâu vẫn hướng về Đình Lớn với lòng tôn kính và ngưỡng vọng Ngay từ những ngày đầu mới lập làng, việc chọn đất để xây dựng các công trình kiến trúc trong đó có Đình Lớn đã được các vị chức sắc và nhân dân trong làng rất quan tâm, thậm chí xem đó là một công việc có tính quyết định đối với sự phát triển của làng sau này Cũng giống như các làng khác ở Bắc
Bộ, đình làng được quan niệm là nơi rất linh thiêng và tất cả khi đến đây đều phải cúi mình thành kính Chính vì thế khi quyết định khởi dựng Đình Lớn, phải chọn được đất tốt, "đất thiêng" Bản Hương ước cổ của làng chép: "Tháng 6 năm Bính Ngọ, Cảnh Trị thứ tư (1666) làng ta bố trí nơi thờ thần, phật, đào ao, làm
Trang 32giếng Đỗ Phú Thanh và Phạm Khắc Hoành đi buôn đến Đông Lan, giáp huyện Tây Lan tìm được minh sư (thầy giỏi) Nguyễn Quang Diệu bèn mời về xin chọn đất lập miếu thờ thần, chùa phật" "Việc mời thầy "Minh sư" lấy hướng làng theo thuyết phong thuỷ, chọn được 3 sở cát địa (đất tốt) "tọa khôn hướng cấn" Thầy đoán rằng 3 chỗ rất linh thiêng "đinh tài, lưỡng vượng", căn cứ vào âm dương chảy trong lòng đất dân gian thường gọi là long mạch" Chính vì đây được xem là đất thiêng nên "tất cả các nhà trong làng đều ngoảnh về hướng Đông - Bắc, hướng của đình và chùa làng" [72, 14] Mặc dù hiện nay, người dân
đã linh hoạt hơn trong việc chọn hướng nhà để tiện lợi trong quá trình sinh hoạt
và đi lại nhưng về cơ bản "cảnh quan tổng thể của hướng làng đã định hình, không thay đổi" [72, 14] Điều đó khẳng định một lần nữa tầm quan trọng và ý nghĩa của Đình Lớn đối với đời sống sinh hoạt kinh tế và văn hoá của làng Đây được xem là "trái tim", là trung tâm, là nơi tiếp thêm sức mạnh tinh thần to lớn cho nhân dân Đình Lớn cũng vì thế được xây dựng rất công phu và tỉ mỉ
Đình Lớn trong những ngày đầu mới khởi dựng khá đơn giản, hầu như trong Đình không có hiện vật gì quý giá, nội thất bài trí sơ sài Đình được dựng lên bằng tranh, các cột xung quanh làm bằng tre, lợp mái lá Hướng của Đình
"ngồi hướng quý trở mặt về hướng đinh", lấy sông Ròn làm minh đường và núi Hoành Sơn làm tiền án Tuy nhiên qua nhiều lần trùng tu, nâng cấp Đình Lớn đã trở thành công trình to lớn, bề thế với kết cấu khá hoàn chỉnh và nội thất trang trí đẹp đẽ, lộng lẫy
Sân đình được lát gạch trông rất sạch sẽ và thoáng mát Trước sân đình là tấm bình phong to lớn với những hình đắp nổi lưỡng long chầu nguyệt Phía trước bình phong là khoảng không gian khá rộng và bằng phẳng, là nơi dân làng thường tổ chức các sinh hoạt vui chơi và hội hè Nơi đây đã từng ghi dấu những khoảnh khắc lịch sử của làng bởi trải qua biết bao biến động, thăng trầm của lịch
sử, mảnh đất này đã từng chứng kiến sự hiện diện của biết bao thế hệ với ít nhiều thay đổi về con người và cảnh vật của làng chài nhỏ bé này Phía sau bình phong là những cột nanh cao lớn, trên các cột nanh là hình 4 con nghê làm bằng đất nung Các cột nanh tạo nên cổng đình với 2 lớp trong và ngoài, lớp trong có
Trang 33một cổng chính và hai cổng phụ, lớp ngoài là cổng chính khá rộng Hai bên cổng đình là 2 ngôi miếu nhỏ, phía trong miếu là pho tượng của hai ông hộ pháp làm bằng vôi gạch, tô vẽ màu sắc sinh động, trông rất giống người thật Gần 2 miếu
là tượng của hai con voi được đúc bằng vôi với kích cỡ to bằng voi thật nên trông rất bề thế
Đình Lớn với 3 toà: tiền đình, trung đình và hậu đình liên kết với nhau thành hình chữ tam Tiền đình được xây dựng to lớn, thoáng mát, là nơi nghỉ ngơi, hội họp của các vị chức sắc và những người cao tuổi mỗi khi làng có dịp tế
lễ Xung quanh treo các hoành phi và câu đối với màu sắc lộng lẫy (sơn son thiếp vàng) Gần sát với tiền đình là một cặp ngựa gỗ được chạm khắc rất công phu, thể hiện tính nghệ thuật rất cao Hai con ngựa với kích cỡ khá to, một con màu trắng và một con màu hồng, phía dưới chân có bánh xe lăn để tiện lợi cho việc di chuyển Đây được xem là tác phẩm khá nổi bật của đình
Trung đình là nơi đặt các hương án, đồ thờ cúng, các loại trống chiêng, kiệu, lọng Đáng chú ý là Đình có lưu giữ hơn hai chục chiếc kiệu với những kiểu dáng và kích cỡ khác nhau, được trang trí khác nhau được dùng vào những lúc làng có dịp tế lễ
Hậu điện được quan niệm là nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt của thần Thành hoàng nên nó được kết cấu và trang trí theo kiểu tư thất, khá kín đáo và tỉ mỉ Nơi đây có đặt bài vị và bát hương để nhang khói mỗi lần tế lễ Ngoài ra còn có một số đồ dùng, tư trang của Nữ thần như chăn, gối, màn, quạt, cơi trầu Đây được xem là nơi linh thiêng và không phải ai cũng được vào để nhang đèn, chỉ một số vị chức sắc, các vị chủ lễ
Đình được lợp bằng ngói âm dương, toàn bộ sườn đình được dựng lên bởi các loại gỗ quý như táu, lim Chính vì thế trông rất chắc chắn và vững chãi Hơn nữa với kỹ thuật ghép mộng mà hầu như không dùng đến đinh thể hiện bàn tay khéo léo, tinh xảo và rất khoa học của người dân
Trải qua hai cuộc kháng chiến với sự tàn phá của hàng loạt bom đạn, Đình Lớn là một trong những công trình chịu nhiều tổn thất Tất cả đã bị hư hại chỉ còn là đống đổ nát Đây là nỗi đau, là dấu tích của chiến tranh, người dân nơi
Trang 34đây luôn ngoảnh về quá khứ với sự luyến tiếc vô bờ bến bởi làng đã mất đi một công trình ghi dấu biết bao thời khắc lịch sử, là nơi bình yên trong đời sống tâm tinh của mỗi một người dân Đình Lớn mãi chỉ còn nằm trong ký ức của người dân
2.1.2 Chùa làng
Sau 24 năm kể từ ngày các vị khai khẩn đến mảnh đất này khai hoang lập
ấp, Chùa làng Cảnh Dương với tên gọi "Cảnh Phúc Tự" đã được xây dựng (vào năm 1667) Theo Bản hương ước cổ của làng, chùa được khởi dựng trên địa thế rất đẹp: Chùa phật bên trái làng, lấy mạch từ long về, toạ khôn hướng cấn" Được đánh giá là một trong những nơi đất thiêng, chùa làng cũng vì thế càng có ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người dân trong làng
Chùa nằm ở phía Tây của làng, trên nền đất cao Cũng như Đình Lớn, chùa lấy sông Loan làm minh đường và núi Hoành Sơn làm tiền án Trải qua nhiều lần trùng tu, chùa được đánh giá là một trong những kiến trúc bề thế vào bậc nhất của làng Chùa được 2 sắc phong: "Dực Bảo Trung Hưng, Dương Không Lộ đại pháp thiền sư tôn thần" (Sắc phong đời Khải Định cửu niên 1924)
Chùa có 2 toà nhà (mỗi nhà 5 gian) chia làm tiền đường và hậu tự Chùa được lợp bởi ngói âm dương với những đường cong uốn lượn mềm mại, nhẹ nhàng Chùa có rất nhiều pho tượng (khoảng trên dưới 100 pho tượng) được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau (đồng, gỗ, đất nung) với nhiều hình dáng, kích
cỡ khác nhau được trưng bày trong hậu tự như Tượng Phật Thích ca, Di Đà, Phật Bà Quan Âm nhiều mắt nhiều tay, Phật Cửu Long, Địa Tạng Tất cả được xếp theo thứ tự trên, dưới, phải, trái trông rất uy nghi Các pho tượng làm bằng
gỗ, đất nung được sơn son thiếp vàng lộng lẫy Theo lời kể của các cụ cao tuổi trong làng, mỗi một pho tượng ở chùa là kết tinh những giá trị nghệ thuật, có những pho tượng do các nghệ nhân trong vùng làm nên nhưng cũng có những cái được đưa từ nơi khác về Tất cả tạo nên vẻ đẹp huyền bí và linh thiêng
Trang 35Đường vào chùa có rất nhiều cây với nhiều loại khác nhau như xoài, đa rợp bóng mát, tạo nên vẻ đẹp hài hoà giữa thiên nhiên và con người, giữa trần thế và cõi phật, làm cho con người có cảm giác thanh thản, thư thái nơi chốn thiền Bước vào chùa là hình ảnh của cái ao rộng khoảng 400 m2
được trồng các loại sen toả hương thơm ngát với màu sắc nhã nhặn (hồng, trắng) Xung quanh
ao được lát gạch để mọi người có thể dừng chân, thả hồn vào thế giới thanh tịnh
và bình yên Từ ao chùa bước lên khoảng 5 - 7 bậc là đến Tam quan Đây là kiến trúc được đánh giá rất cao bởi sự hoành tráng và nghệ thuật của nó Tam quan cao 2 tầng, nối với gác chuông kéo dài hơn 30m, có 4 mái hình cánh dơi và cửa vòm hình bán nguyệt Tầng trên một bên treo chuông, một bên treo trống
Đi qua cổng Tam quan là đến sân chùa Sân chùa khá rộng, có một bể cạn đựng hòn non bộ, 2 cây phượng đỏ ở 2 bên và nhiều loại cây như đại trúc bạch, ngọc lan Tất cả tạo nên tổng thể hài hoà, không gian trong lành, yên tĩnh nhưng vẫn phảng phất vẻ u tịch, huyền bí
Đi qua sân chùa vào bên trong là tiền sảnh rộng rãi, một kiệu sơn son thiếp vàng đặt ở giữa, hai bên là hai bức tượng to lớn mà dân gian thường gọi là ông Thiện và Ác, trông vẻ rất uy nghi, đĩnh đạc Hai ông cỡi hai con kỳ lân trong rất dữ tợn, một ông cầm thanh đao, một ông cầm quyển sách, thân hình to lớn Trên các cột của tiền sảnh treo nhiều câu đối có nội dung:
"Phật tức thị tâm, tâm thị phật Nhân năng hoàn đạo, đạo hoàn nhân'"
"Đuốc tuệ đốt tan rừng khổ não Mây từ che lấp bể trầm luân"
"Khẩu khứ nhứt tham vó Địa ngục Nhân năng hối thiện tức Thiên đường"
Trong chùa còn treo hai bức tranh lớn "Niết bàn" và "Địa ngục" thể hiện những hình thức trừng phạt, tra tấn của Quỷ sứ ở địa ngục để từ đó nhắc nhở con người sống trên trần thế phải làm điều thiện, tránh xa gian ác, quỷ tà để sau này linh hồn được siêu thoát, thanh thản Gian giữa đặt bàn thờ, hương đèn, chuông mõ
Trang 36Ngoài 3 toà nhà chính của chùa, còn có hai nhà nằm ở hai bên tả và hữu dùng để cho các vị Tăng ni ở Chùa làng không có sư mà chỉ có sãi chăm nom, quét dọn Dân làng thường đến lễ chùa rất đông vào những ngày rằm, ngày ba mươi, mồng một, đặc biệt là ngày rằm tháng 4 là ngày Phật Đản Đây cũng là những lúc người dân trong làng gửi gắm sự thành kính, thắp nén nhang cầu nguyện sức khoẻ, công việc, gia đình cũng như tìm sự thanh thản trong tâm hồn, rửa bỏ những phiền muộn, lo âu đời thường
Chùa làng đẹp là thế, linh thiêng là thế nhưng đáng tiếc chỉ còn là hình ảnh trong tâm thức của người dân nơi đây Bom đạn chiến tranh đã huỷ hoại công trình kiến trúc quý giá này Qua điền dã, khi chúng tôi hỏi về lịch sử của chùa làng, ánh lên trong mắt các cụ già cao tuổi trong làng là niềm tự hào xen lẫn sự nuối tiếc Bởi trong tâm thức của người dân nơi đây, chùa "Cảnh phúc Tự" là một trong những công trình kết tinh những đặc trưng giá trị văn hoá và lịch sử của làng
Tuy nhiên, một trong những kỷ vật còn lại sau chiến tranh mà nhân dân trong làng nâng niu, gìn giữ như một báu vật, đó chính là chiếc chuông "Cảnh viện, Hồng chung" Đây là chứng tích, nhân chứng cho một thời của triều đại Tây Sơn Chuông được đúc vào năm 1801, có chiều cao 720mm, nếu tính cả quai chuông thì chiều cao chuông là 1050 mm Chuông nặng 137 kg, đường kính miệng chuông là 550mm, chu vi lòng chuông 1290mm Trên thân của chuông có nhiều hoạ tiết được đúc nổi, giữa các hoạ tiết là 4 chữ Hán chia đều bốn phía: Cảnh viện Hồng chung Toàn bộ thân chuông là bài ký do giám sinh Nguyễn Đức Quýnh biên soạn Hiện nay chuông được dùng để đánh trong dịp tế
lễ các vị tiền hiền vào ngày Đông chí hàng năm, tiếng chuông rất trong và thanh Mỗi lần tiếng chuông vang lên là người dân như cảm nhận được sự thân quen, gần gũi của chùa làng Cảnh Phúc Tự ngày nào, nhắc nhở cháu con phải hướng
về quá khứ với lòng tự hào, tri ân
2.1.3 Miếu thờ Cá Ông
Trang 37Với tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông, Miếu thờ cúng Cá Ông là nơi ngư dân thường đến để thắp hương, khấn vái trước và sau mỗi chuyến ra khơi vào lộng Đặc biệt sau khi cá Ông dạt vào, Miếu thờ được nhân dân tôn tạo Miếu nằm ở phía đông nam làng, giống như miếu thờ cá Ông ở Thanh Trạch, ở Quang Phú, mặt tiền hướng ra phía biển đông, lưng tựa vào gò đất cao
Miếu được kết cấu bởi hai toà, khu hành lễ và hậu điện Khu hành lễ là nơi để hai bộ xương cá Ông và cá Bà được đặt trên một nền đất cao Đây là hai
bộ xương khổng lồ với những chiếc xương sườn dài và to bằng chiếc đòn gánh Hậu điện là nơi đặt khám thờ, đèn, nến Đây cũng là nơi diễn ra hình thức diễn xướng dân gian hò chèo cạn - một trong những sinh hoạt văn hoá độc đáo của làng
Đi qua hai cuộc chiến tranh, Miếu thờ cá Ông đã bị phá huỷ Sau đó Miếu
đã được dựng lại nhưng vì miếu được bài trí sơ sài, có diện tích nhỏ không đủ để chứa hai bộ xương cá nên đã chuyển hai bộ xương về nhà truyền thống cất giữ Năm 2005, ngư dân đã xây lại ngôi miếu với tên "Linh Ngư Miếu" tại thôn Đông Cảng là nơi thờ phụng và lưu giữ hai bộ xương cá Ông và cá Bà Ngư Linh Miếu mặt hướng ra biển đông Miếu được kiến trúc bởi hai toà, toà hành lễ
và hậu điện, chính giữa đặt bài vị "Thờ phụng hiển linh ngư" Đây cũng là nơi diễn ra đám tang cá Cô vào ngày 26 tháng 2 năm 2009
2.2 Tín ngƣỡng dân gian
Tín ngưỡng là niềm tin vào thế giới huyền bí, siêu nhiên mà con người không thể "chạm tay" vào được, thế giới đó hoàn toàn đối lập với cuộc sống hiện tại mà họ đang sống, nó lung linh, mờ ảo, huyền bí trong đời sống tâm linh của mỗi một con người Khi xã hội đạt đến trình độ phát triển nhất định, khi con người có khả năng nhận thức về thế giới, về xã hội thì tín ngưỡng lại khoác lên màu sắc khác, mang tính dân gian và trở thành hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian
Làng Cảnh Dương từ lâu đã định hình đời sống tín ngưỡng khá phong phú như thờ cúng tổ tiên, thờ thổ công, thờ Thành hoàng làng, thờ cúng Cá Ông voi,
Trang 38thờ thổ địa Ở đây tác giả chỉ xin chọn giới thiệu một số hình thức tín ngưỡng tiêu biểu của làng: Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông
2.2.1 Tín ngƣỡng thờ Thành hoàng làng
Thờ cúng Thành hoàng là sinh hoạt tín ngưỡng phổ biến của các làng xã
Việt Nam, thể hiện tín ngưỡng của cả cộng đồng làng Làng Cảnh Dương cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Tuy nhiên là một làng ven biển chuyên làm nghề chài lưới và vận chuyển trên biển nên việc thờ cúng Thành hoàng có những
nét khá đặc trưng
Cảnh Dương cũng như các làng ven biển ở Quảng Bình đều thờ một vị Thành Hoàng Bổn Thổ gọi là Đại Càn Tứ Vị Thánh Nương Đây là tín ngưỡng phổ biến của đại bộ phận các làng ven biển làm nghề cá hoặc nghề vận tải ghe thuyền trên sông biển Điều đáng chú ý là miền biển đưa bà Đại Càn vào thờ đình làng làm Thành Hoàng Bổn Thổ, trong khi đó một số làng nông thôn liên quan đến sông nước cũng có thờ Đại Càn nhưng chỉ thờ ở cái miếu riêng gọi là miếu thờ Đại Càn hoặc được phối tự chung với các vị thần khác trong ngôi đình làng (như Làng Thuận An - Huế)
Đình Lớn ở Cảnh Dương được xây dựng vào năm 1666 là nơi để thờ Thành Hoàng làng - "Đại Càn Nam Hải Thánh Nương" mà dân gian vẫn thường gọi là bà Càn Theo Hương phả và theo lời kể của các vị bô lão trong làng, người Cảnh Dương sau khi ổn định nơi ăn chốn ở đã đến Đền Cờn (xã Phương Cần, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) để rước bát hương của vị thần này về thờ vọng ở đình làng Đền Cờn (Nghệ An) là nơi thờ chính vị thần này, được xem là nơi phát nguyên và trung tâm của tín ngưỡng thờ Tứ vị Thánh nương Mặc dù không chỉ riêng các làng ven biển Bắc Trung Bộ mà tín ngưỡng thờ Tứ vị Thánh nương còn khá phổ biến ở nhiều làng Việt ven biển từ Bắc vào Nam Tuy nhiên dựa vào những truyền thuyết, câu chuyện lịch sử và việc thờ cúng hiện nay có thể thấy tục thờ này phổ biến nhất vẫn là vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh mà tiêu biểu
là ở Đền Cờn, Nghệ An Hiện nay ở Nghệ An có đến hơn 30 làng thờ các vị thần
Trang 39này, và "có sự lan toả rộng ra các nơi khác dọc biển từ bắc tới nam" [55, 193] Ngư dân làng biển Cảnh Dương cũng vì thế chịu sự ảnh hưởng nhất định của sự lan toả đó, thờ cúng Tứ Vị Thánh Nương đã trở thành tín ngưỡng phổ biến của ngư dân người Việt nói chung và ngư dân Cảnh Dương nói riêng
Vị thần "Đại Càn Nam Hải Thánh Nương" được nhân dân Cảnh Dương nói riêng và các làng ven biển nói chung rất tôn kính và thờ phụng chu đáo ở nơi linh thiêng nhất của làng Tín ngưỡng này có vai trò khá quan trọng trong đời sống tâm linh của ngư dân người Việt trong đó có ngư dân Cảnh Dương Đối với những người có cuộc sống gắn liền với môi trường sông biển như Cảnh Dương, luôn phải đối diện với thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên thì niềm tin vào sự che chở, phù hộ của các vị thần trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Chính niềm tin đó giúp họ có thêm nghị lực, sức mạnh và lạc quan trên mỗi chuyến ra khơi vào lộng Họ luôn tâm niệm rằng trong mỗi hành trình lênh đênh trên biển, đâu
đó sẽ luôn có bàn tay của thần linh luôn sẵn sàng cứu giúp, nâng đỡ mỗi khi họ gặp hoạn nạn hay rủi ro Và họ đã gửi gắm sự tin tưởng đó vào nữ thần biển Đại Càn Tứ vị Thánh Nương, vị thần mà theo họ là rất linh thiêng
Hiện nay dân làng vẫn lưu truyền một số huyền thoại, truyền thuyết về Tứ
vị Thánh Nương Truyền thuyết thứ nhất liên quan đến Tống Hậu và các công chúa Năm 1279, quân Nguyên Mông tấn công quân Nam Tống ở Nhai Sơn, quân Nam Tống bị thua trận Trong lúc nguy khốn, Dương Thái Hậu cùng các công chúa trôi dạt vào một ngôi chùa ở bờ biển được ông sư cứu vớt Ân hận vì hành vi cự tuyệt của mình mà ông sư đã tự vẫn nên 4 bà đã tự gieo mình xuống biển Bốn thi thể này trôi dạt vào lạch Cờn, ở Quỳnh Lưu, Nghệ An và được người dân địa phương chôn cất lập đền thờ cúng gọi là Cần Hải Từ Đây chỉ là một trong khá nhiều truyền thuyết về Tứ vị Thánh nương liên quan đến Tống Hậu và các công chúa Theo Đại càn Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Ngọc phả lục thì bốn người tự vẫn ở biển đó là Hồng Đại Nương (tức Hoàng hậu), Hồng Mai, Hồng Hạnh (công chúa) và cung nữ Hồng thị Quan niệm khác (theo Đại Càn Thánh Mẫu ngọc phả) thì bốn vị này là Dương Thái Hậu, hai Thiệu trị công chúa và con dâu trưởng là Quách thị Hoàng Hậu vợ vua Tống Đoan Tông
Trang 40Ngoài ra, còn có huyền thoại liên quan đến một hoàng hậu bị đày ra đảo
do mong muốn sinh con trai nên đã bóp chết con gái mình sau khi sinh Việc làm thất đức này đã bị trừng phạt là phải lưu đày ra đảo Hoàng hậu sau khi chết
đã cùng với con gái đã biến thành Nam Hải đế thần là những vị thần cai quản vùng sông nước Một huyền thoại khác kể về một gốc cây thơm trôi được người vạn chài vớt được và đem về thờ Gốc cây thơm đó chính là Tiên nữ ở Long Vương
Ngoài trung tâm là Đền Cờn (Nghệ An) còn có biết bao nơi thờ Tứ vị Thánh nương với biết bao huyền thoại, truyện kể dân gian liên quan đến vị thần này "Tuy nhiên việc tìm hiểu và nghiên cứu nội dung các truyện kể dân gian này cũng như việc thờ phụng các nhân vật được dân gian thần thánh hoá sẽ làm nổi rõ thêm nét đặc trưng của con người Việt Nam, về sự bao dung, nhân ái, thương yêu trong chiều sâu văn hoá của một dân tộc trọng nghĩa" [56, 336] hay lồng trong những câu chuyện đó là "quan niệm về trung, hiếu, tiết, nghĩa của Nho giáo được đưa vào nhằm biểu dương và nâng cao ý nghĩa xã hội và đạo đức của các vị thần linh" [55, 197]
Đối với ngư dân, Tứ Vị Thánh Nương có tầm quan trọng là vậy, tuy nhiên
tục thờ này còn được triều đình phong kiến ngày xưa bảo hộ Sách Những nét đẹp văn hoá cổ truyền Quảng Bình chép: " Năm Trần Hưng Long thứ 12, vua
Anh Tông thân đi đánh Chiêm Thành, thuyền qua cửa Lạch Cờn, đêm vua nằm mộng thấy một vị thần đến báo rằng: "Thiếp là cung phi nhà Tống, vì giặc bức bách, chết giữa muôn trùng sóng gió, trôi dạt đến đây, Thượng Đế cho làm thần giữ cửa lạch này, xin nguyện theo hộ giá đánh giặc đến thắng lợi"
Nhà vua tỉnh giấc, sai làm lễ tạ rồi kéo quân đi, thẳng đến kinh đô nước Chàm, đánh thắng đối phương Khi trở về Thăng Long, sai làm đền thờ mới, sắc phong là "Quốc Gia Nam Hải Đại Càn Thánh Nương"
Năm Hồng Đức thứ nhất, vua Lê Thánh Tông thân đi đánh Chiêm Thành, giữa biển gặp bão, chiến thuyền phải ghé lại Lạch Cờn trú quân Đêm nằm mộng thấy một nữ thần đến tâu vua: "Tôi trước đây là vợ vua Nhà Tống bị quân Nguyên đánh đuổi chạy đến vùng này thì tử nạn Vua Trần đã cho tôi làm thần