Với lý do như vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bình Thu ận” với mong muốn đánh giá đúng tiềm năng, thực trạng phát triển làm cơ sở để đề xuất những định hư
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Tất cả các số liệu trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Huỳnh Nhật Linh
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Trải qua thời gian học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, dưới sự giúp đỡ và giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô, tác giả đã hoàn thành chương trình đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Địa lý học và thực hiện xong luận văn tốt nghiệp của mình
Đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Mai Hà Phương, người đã nhiệt tình chỉ bảo và hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện và hoàn chỉnh luận văn Tác giả xin tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Sau đại học, Khoa Địa lí và quý thầy cô Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tận tâm chỉ
bảo và giảng dạy, giúp tác giả trang bị nhiều kiến thức trong học tập, nghiên cứu và
thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, quý đồng nghiệp trường Trung học phổ thông Tây Thạnh đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình
học Cao học và thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến các quý cơ quan: Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch tỉnh Bình Thuận, Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, Phòng Hành chính Bảo tàng Hồ Chí Minh,… và nhân dân địa phương đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tài liệu, số liệu thống kê và khảo sát thực tế để thực hiện đề tài luận văn
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Trân trọng!
TP Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 09 năm 2016
Tác giả
Trang 5M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng số liệu
Danh mục biểu đồ, bản đồ
M Ở ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU L ỊCH VĂN HÓA 10
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển DLVH 10
1.1.1 Các khái niệm và quan niệm 10
1.1.2 Một số vấn đề lý luận về DLVH 16
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển DLVH 36
1.2.1 Tình hình phát triển DLVH ở Việt Nam 36
1.2.2 Tình hình phát triển DLVH ở vùng du lịch Đông Nam Bộ 38
Ti ểu kết chương 1 40
Chương 2 TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BÌNH THUẬN 41
2.1 Tổng quan về tỉnh Bình Thuận 41
2.1.1 Lịch sử hình thành 41
2.1.2 Vị trí địa lí và giới hạn lãnh thổ 41
2.1.3 Khái quát về tự nhiên 44
2.1.4 Khái quát kinh tế - văn hóa - xã hội 46
2.2 Tiềm năng phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận 48
2.2.1 Tài nguyên du lịch nhân văn 48
2.2.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 73
2.2.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội, chính trị 81
Trang 62.2.4 Đánh giá chung về tiềm năng phát triển du lịch văn tỉnh Bình Thuận 86
2.3 Thực trạng phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận 89
2.3.1 Khái quát chung về hoạt động du lịch 89
2.3.2 Thực trạng khách DLVH 90
2.3.3 Thực trạng về doanh thu du lịch 96
2.3.4 Hoạt động đầu tư và xúc tiến du lịch 98
2.3.5 Các loại hình và sản phẩm DLVH chủ yếu 101
2.3.6 Các địa bàn hoạt động DLVH chủ yếu 105
2.3.7 Đánh giá chung về DLVH tỉnh Bình Thuận 109
Ti ểu kết chương 2 111
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BÌNH THUẬN TRONG THỜI KỲ H ỘI NHẬP 112
3.1 Định hướng phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận 112
3.1.1 Cơ sở đề xuất định hướng 112
3.1.2 Định hướng phát triển DLVH ở tỉnh Bình Thuận đến năm 2030 116
3.2 Các giải pháp phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận đến năm 2030 129
3.2.1.Giải pháp huy động nguồn vốn đầu tư 129
3.2.2 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực 130
3.2.3 Giải pháp về quy hoạch 131
3.2.4 Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm DLVH 131
3.2.5 Giải pháp kiểm soát chất lượng hoạt động du lịch, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch 132
3.2.6 Giải pháp tôn tạo các di tích, lễ hội, làng nghề phục vụ du lịch 133
3.2.7 Du lịch xúc tiến quảng bá, hợp tác phát triển du lịch 133
3.2.8 Giải pháp bảo vệ tài nguyên du lịch nhân văn 134
Ti ểu kết chương 3 136
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 141
PH Ụ LỤC
Trang 8DANH M ỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Hệ thống cơ sở lưu trú của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2005-2015 77
Bảng 2.2 Thực trạng khách du lịch tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2005-2015 90
Bảng 2.3 Tổng lượt khách của một số điểm/khu DLVH quan trọng của tỉnh
Bình Thuận năm 2015 .91
Bảng 2.4 Cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Bình Thuận, giai đoạn 2005-2015 91
Bảng 2.5 Chi tiêu bình quân 1 ngày du lịch của khách quốc tế đến Bình Thuận giai đoạn 2005-2015 92
Bảng 2.6 Số lần khách du lịch quốc tế đã đến Bình Thuận giai đoạn 2005-2015 94
Bảng 2.7 Chi tiêu bình quân một ngày của khách nội địa, giai đoạn 2005-2015 95
Bảng 2.8 Một số chỉ tiêu chủ yếu về doanh thu du lịch giai đoạn 2005-2015 96
Bảng 2.9 Doanh thu của các điểm/khu DLVH quan trọng trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, năm 2015 97
Bảng 2.10 Doanh thu điểm du lịch Tà Cú giai đoạn 2012-2015 107
Bảng 2.11 Số lượt khách đến bảo tàng Hồ Chí Minh qua các năm 107
Bảng 2.12 Thực trạng khách du lịch và doanh thu của khu đền tháp Po Sha Inư giai đoạn 2010-2015 108
Trang 9DANH M ỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Kết quả khảo sát thực trạng chất lượng mạng lưới giao thông 75
Biểu đồ 2.2 Kết quả khảo sát thực trạng chất lượng hệ thống cơ sở lưu trú du lịch tỉnh
Biểu đồ 2.5 Cơ cấu chi tiêu một ngày của khách du lịch quốc tế 2015 93
Biểu đồ 2.6 Cơ cấu khách du lịch trong nước đến Bình Thuận 95
Trang 10DANH M ỤC BẢN ĐỒ
1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận .42
2 Bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Bình Thuận 48
3 Bản đồ định hướng tổ chức không gian phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận 121
Trang 11M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Du lịch được xem là ngành có tầm chiến lược quan trọng trong kinh tế của mỗi
quốc gia Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập, khi nhu cầu của con người không chỉ dừng
lại ở mức giao lưu, trao đổi kinh tế mà sự tiếp xúc, tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán giữa các vùng, các quốc gia ngày càng được nâng cao, đã tạo cơ hội cho du lịch ngày càng phát triển, nhất là DLVH
Việt Nam là đất nước có lịch sử lâu đời với hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, gắn liền với truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Trong những năm
gần đây, vấn đề khai thác và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong du lịch đã được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đầu tư và phát triển
Nằm trong vùng du lịch Đông Nam Bộ, Bình Thuận là mảnh đất có bề dày văn hóa lâu đời và có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, đặc biệt là DLVH Do
đó, mặc dù còn khá non trẻ nhưng DLVH của tỉnh đã tạo nên dấu ấn riêng đối với cả
du khách trong và ngoài nước Tuy nhiên trong những năm vừa qua, DLVH Bình Thuận phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, còn mang nặng tính tự phát và đơn điệu, nhiều giá trị văn hóa chưa được khai thác hiệu quả Vì vậy, để DLVH Bình Thuận thực sự phát triển trở nên độc đáo và hấp dẫn cần phải có định hướng hợp lý cùng những giải pháp mang tính lâu dài và hiệu quả hơn
Với lý do như vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bình
Thu ận” với mong muốn đánh giá đúng tiềm năng, thực trạng phát triển làm cơ sở để
đề xuất những định hướng và các giải pháp, góp phần thúc đẩy DLVH nói riêng và du
lịch nói chung ở tỉnh Bình Thuận phát triển hiệu quả hơn trong thời kỳ hội nhập
2 M ục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích tiềm năng và thực trạng phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận,
luận văn đề xuất những định hướng và giải pháp để phát triển du lịch nói chung và DLVH nói riêng của tỉnh Bình Thuận trong thời kỳ hội nhập
3 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 12- Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển DLVH
- Phân tích tiềm năng phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận
- Đánh giá thực trạng phát triển DLVH của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2005-2015
- Đề xuất định hướng và các giải pháp để phát triển DLVH Bình Thuận đến năm
2030
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiềm năng và thực trạng phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
- Về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu lĩnh vực DLVH (đặt trong bối cảnh chung của du
lịch địa phương), không mở rộng ra các loại hình du lịch khác
- Về thời gian
+ Phân tích thực trạng phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn
2005-2015
+ Đề xuất định hướng và giải pháp thực hiện đến năm 2030
- Về không gian: toàn bộ lãnh thổ tỉnh Bình Thuận
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
Tiềm năng DLVH ở tỉnh Bình Thuận khá phong phú, mỗi loại tuy có đặc điểm
và chức năng riêng nhưng luôn có mối quan hệ qua lại, tương tác lẫn nhau và vận động theo quy luật chung của toàn hệ thống Hơn nữa, DLVH chỉ là một bộ phận của du lịch nói chung Vì thế, khi nghiên cứu DLVH ở Bình Thuận cần phải đặt trong bối cảnh phát triển của du lịch nói chung ở địa phương và xem xét thêm trong mối quan hệ với các tuyến du lịch nối với các tỉnh trong vùng phụ cận
Việc đánh giá tiềm năng và nhất là phân tích thực trạng phát triển DLVH ở tỉnh Bình Thuận cần được xem xét trên quan điểm hệ thống để có cơ sở khoa học đề xuất
Trang 13các giải pháp toàn diện, đồng bộ và phù hợp nhằm quản lý, khai thác và phát triển DLVH ở Bình Thuận một cách hiệu quả
Tương tự như hệ thống lãnh thổ du lịch nói chung, hệ thống lãnh thổ DLVH cũng được xem là một hệ thống xã hội được cấu thành bởi nhiều yếu tố (văn hóa, lịch sử, con người,…), có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau Việc vận dụng quan điểm tổng hợp - lãnh thổ cho phép xem xét tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch nói chung và DLVH nói riêng trên một địa bàn cụ thể, từ đó phát
hiện ra quy luật phát triển, phân bố và xác định các tuyến điểm du lịch phù hợp trong lãnh thổ ấy
Chính vì vậy, tiềm năng và thực trạng phát triển DLVH ở Bình Thuận được nghiên cứu, xem xét một cách tổng hợp trên địa bàn tỉnh, để từ đó đề xuất khai thác có
hiệu quả những thế mạnh của địa phương, góp phần hình thành nên những tuyến điểm
du lịch hấp dẫn cũng như tạo ra các sản phẩm du lịch đặc trưng, độc đáo của tỉnh nhà
Để đảm bảo tính cập nhật, tác giả tập trung nghiên cứu tiềm năng và thực trạng phát triển DLVH ở Bình Thuận trong một giai đoạn cụ thể, gần với thời điểm thực
hiện đề tài Tuy nhiên, mỗi một hiện tượng địa lí kinh tế - xã hội nói chung và địa lí du
lịch nói riêng đều trải qua quá trình phát sinh, phát triển trong những khoảng thời gian
nhất định
Bình Thuận tuy là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, nơi có bề dày lịch sử
và có nền văn hóa giàu bản sắc, nhưng mãi tới khi sự kiện nhật thực toàn phần xảy ra vào năm 1995 thì du lịch Bình Thuận mới bắt đầu có bước chuyển mình để phát triển
mạnh mẽ Chính vì vậy, các yếu tố liên quan đến DLVH trên địa bàn tỉnh cũng luôn luôn có sự biến đổi không ngừng theo thời gian Do đó, các nội dung trong đề tài luôn được xem xét trong mối quan hệ với quá khứ, tương ứng với hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
từ đó có cơ sở để dự báo đúng đắn cho tương lai
Việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, xây dựng, tổ chức các hoạt động DLVH ở Bình Thuận cần đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích kinh tế của chủ đầu tư, lợi
Trang 14ích xã hội cho cộng đồng địa phương đồng thời không để hoạt động du lịch ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội của tỉnh Vì vậy, các giải pháp
quản lý, khai thác và phát triển DLVH ở Bình Thuận được đề xuất trong giai đoạn sắp
tới luôn đảm bảo sự bền vững về cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu là phương pháp truyền thống được sử dụng trong nghiên cứu nói chung, trong đó có địa lý học Khoa học không thể phát triển được nếu thiếu tính kế thừa, thiếu sự tích lũy những thành tựu của quá khứ
Do đó, trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã sưu tầm và tham khảo một lượng lớn tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học, số liệu thống kê của các cơ quan, ban ngành; một số luận văn, luận án
đã nghiên cứu trước đó; các văn bản pháp luật; các bài báo, tạp chí và thông tin liên quan trên mạng Internet,… Nguồn tài liệu thu thập có độ tin cậy cao và được xử lý khoa học nhằm nâng cao giá trị của luận văn
Hệ thống lãnh thổ du lịch nói chung và DLVH nói riêng được cấu thành bởi nhiều phân hệ (phân hệ khách du lịch; phân hệ tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử; phân hệ cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch; phân hệ quản lý và nhân viên phục
vụ) tuy khác nhau về bản chất nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau Việc vận
dụng phương pháp tiếp cận và phân tích hệ thống trong nghiên cứu đề tài cho phép đánh giá toàn diện các tiềm năng phát triển DLVH ở Bình Thuận cũng như phân tích đúng thực trạng phát triển DLVH tại địa phương để từ đó đưa ra định hướng và đề
xuất các giải pháp phát triển DLVH trong tương lai một cách phù hợp
Đây là phương pháp truyền thống của Địa lí học, là cơ sở quan trọng để khẳng định giá trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu Vì vậy, phương pháp nghiên cứu thực địa được sử dụng rộng rãi và thường xuyên trong Địa lí du lịch để thu thập trực tiếp những
số liệu, thông tin ban đầu với độ chính xác cao trên địa bàn nghiên cứu
Trang 15Việc tiến hành khảo sát thực địa được tác giả thực hiện thông qua việc đến các cơ quan, ban ngành trên địa bàn tỉnh, thu thập các tài liệu, số liệu thống kê, báo cáo khoa
học, công trình nghiên cứu,… đồng thời đến một số điểm, khu DLVH điển hình ở các huyện, thị nội tỉnh để tìm hiểu những thông tin liên quan từ khách du lịch, người dân địa phương và chụp ảnh tư liệu
Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu đặc thù của Địa lí học Bản đồ không chỉ là phương tiện phản ánh những đặc điểm không gian của các đối tượng địa
lí du lịch mà còn là cơ sở để tiếp cận những thông tin mới, vạch ra tính quy luật hoạt động của toàn hệ thống Phương pháp sử dụng hệ thống thông tin địa lí (GIS) cho phép
kết hợp thông tin với các đối tượng trên bản đồ, tạo ra những mối quan hệ mới có thể được sử dụng cho nhiều mục đích ứng dụng khác nhau, qua đó góp phần tạo mối liên
kết không gian, quản lý và phát triển du lịch bền vững
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng bản đồ như một tư liệu cần thiết khi đánh giá tiềm năng và phân tích thực trạng phát triển DLVH ở tỉnh Bình Thuận Ngoài ra, các thông tin về tiềm năng và thực trạng phát triển DLVH trên địa bàn tỉnh phần lớn được thể hiện qua các biểu đồ Bên cạnh đó, tác giả còn ứng dụng công nghệ GIS để thành lập các bản đồ về tài nguyên du lịch nhân văn, bản đồ định hướng tổ chức không gian phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận
Phương pháp này có vai trò quan trọng trong nghiên cứu địa lí du lịch vì tính chất
xã hội của đối tượng nghiên cứu Để thu thập các thông tin có liên quan nhằm phục vụ
nội dung đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp hỏi ý kiến gián tiếp thông qua các phiếu khảo sát khách tham quan tại ba điểm, khu DLVH quan trọng trên địa bàn tỉnh,
đó là: di tích kiến trúc nghệ thuật đình Vạn Thủy Tú (50 phiếu), di tích thắng cảnh Chùa Núi (75 phiếu), tháp Po Sha Inư (75 phiếu)
Sau khi được tổng hợp và xử lý, các thông tin, số liệu thu được từ cuộc khảo sát
đã trở thành một trong những cơ sở quan trọng để đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển DLVH ở Bình Thuận Đây cũng là căn cứ để đề xuất định hướng phát triển
Trang 16và các giải pháp thực hiện phù hợp, có tính khả thi cao đối với hoạt động DLVH ở địa phương
Đây là tập hợp các phương pháp tính toán nhằm phân tích, lập kế hoạch và dự báo sự phát triển của hệ thống lãnh thổ du lịch trong tương lai căn cứ vào khối lượng,
cơ cấu nhu cầu, tài nguyên du lịch, sức chứa của cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du
lịch,… Do đó, trong phạm vi đề tài, phương pháp dự báo được sử dụng để nghiên cứu
một cách toàn diện các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động DLVH Trên cơ sở đó, đưa ra dự báo về các chỉ tiêu phát triển du lịch, đề xuất hướng
tổ chức lãnh thổ du lịch, các dự án, tuyến điểm DLVH cần ưu tiên đầu tư, xác định các
sản phẩm DLVH đặc thù,… ở địa phương trong những năm tới
6 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
6.1 Ở Việt Nam
Du lịch nước ta ngày càng giữ vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội Bên cạnh đó, du lịch còn góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, mang lại nguồn thu ngân sách cho quốc gia, thu hút vốn đầu tư và nâng cao đời
sống cho người dân Vì vậy, các công trình nghiên cứu về du lịch ngày càng được đầu
tư và gia tăng Trong đó, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu là:
- “Chi ến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”
của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, năm 2011
Trang 17Trong các loại hình du lịch thì DLVH ngày càng được khai thác mạnh mẽ và có vai trò lớn trong việc khai thác, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc DLVH là cầu nối, giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền trong nước và góp phần quan trong đối với việc nâng cao nhận thức trách nhiệm cho
cộng đồng đối với công tác gìn giữ, bảo vệ tài nguyên và môi trường DLVH cũng là
đề tài hấp dẫn thu hút giới khoa học và kết quả nghiên cứu là một số công trình tiêu
biểu sau:
- Giáo trình du l ịch Văn hóa - Những vấn đề lý luận và nghiệp vụ (2013), Trần
Thúy Anh (chủ biên), Nxb Giáo dục Việt Nam
- Làng ngh ề truyền thống Việt Nam (2004), Phạm Côn Sơn, Nxb Văn hóa Dân tộc
- Hội thảo quốc gia “Nguồn nhân lực và phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận” với
nội dung là những bài học kinh nghiệm quốc tế và quản lí du lịch sinh thái biển - đảo
có thể vận dụng cho du lịch tình Bình Thuận
UBND tỉnh Bình Thuận đã đưa ra các mục tiêu, định hướng và giải pháp cho phát triển
du lịch tỉnh Bình Thuận đến năm 2013 và tầm nhìn đến năm 2020
Ngoài ra còn có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ như:
- La Nữ Ánh Vân (2011), Phát triển du lịch Bình Thuận trên quan điểm phát triển
- Lê Duy Thông (2015), Phát tri ển du lịch biển - đảo tỉnh Bình Thuận giai đoạn
- Trương Hải Thuận (2014), Định hướng phát triển du lịch sinh thái cho tỉnh Bình
Tp.HCM
Trang 18- Dương Thị Tưởng (2011), Khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch sinh
trường Đại học Sư phạm Tp.HCM
- Nguyễn Thị Thuý Ngân (2009), Nghiên cứu khai thác tài nguyên du lịch dải ven
biển tỉnh Bình Thuận, luận văn thạc sĩ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Tp HCM
- Phan Thị Ngọc Uyên (2009), Vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế-xã hội
tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2001-2020, luận văn thạc sĩ, trường đại học Kinh tế
Tp.HCM
Hầu hết các công trình nghiên cứu ở trên là báo cáo tổng quan hoạt động du lịch
hằng năm hoặc quy hoạch tổng thể phát triển du lịch chung tỉnh Bình Số lượng các
luận án, luận văn về du lịch tỉnh Bình Thuận còn hạn chế, nhưng chủ yếu đều dừng lại
ở mức đánh giá, phân tích tổng quan tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch nói chung
ở Bình Thuận, không đi sâu nghiên cứu về loại hình DLVH ở địa phương
Do đó, trên cơ sở kế thừa những đóng góp của các công trình nghiên cứu đi
trước, đề tài “Phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bình Thuận” tập trung nghiên cứu sâu,
làm rõ tiềm năng và thực trạng phát triển DLVH ở Bình Thuận trong giai đoạn 2005-
2015, từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển DLVH trên địa bàn tỉnh đến năm 2030 dưới góc độ Địa lí học
7 Đóng góp của luận văn
Một số đóng góp chủ yếu của luận văn:
- Hệ thống hóa và góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về phát triển DLVH để vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận
- Phân tích tiềm năng phát triển DLVH của tỉnh Bình Thuận trên quan điểm địa lí
du lịch
- Đánh giá thực trạng phát triển DLVH ở tỉnh Bình Thuận, rút ra những thành tựu
và hạn chế nhằm bổ sung cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển DLVH trên địa bàn hiệu quả hơn
- Đề xuất định hướng phát triển DLVH ở tỉnh Bình Thuận đến năm 2030 và các
giải pháp thực hiện
Trang 198 C ấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển DLVH
- Chương 2: Tiềm năng và thực trạng phát triển DLVH tỉnh Bình Thuận
- Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận trong thời
kỳ hội nhập
Ngoài ra, trong luận văn còn có 12 bảng số liệu, 6 biểu đồ, 3 bản đồ
Trang 20Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển DLVH
1.1.1 Các khái ni ệm và quan niệm
1.1.1.1 Khái ni ệm về du lịch
Trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như là một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội và “công nghiệp du lịch” trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới Cũng vì vậy, thuật ngữ “du lịch” đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thống về “du lịch”
Vào năm 1811, tại nước Anh, quốc gia có ngành du lịch phát triển rất sớm, lần
đầu tiên khái niệm du lịch đã được sử dụng: “Du lịch chính là sự phối hợp nhịp nhàng
Định nghĩa này tương đối đơn giản nhưng là nền tảng quan trọng để xuất hiện các định nghĩa hoàn thiện hơn về du lịch sau này
Đến năm 1925, Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International
of Union Official Travel Organization - IUOTO) đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch được
hiểu là hành động du hành của từng cá nhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của
việc kiếm tiền sinh sống” [16] So với những định nghĩa trước đó thì định nghĩa này đã
làm sáng tỏ hơn về hoạt động du lịch, nhưng mục đích của du lịch thì vẫn chưa được
cụ thể
Tại hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa (Canada, tháng 6/1991) đã đưa
ra định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường
thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi
Trang 21không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng đến thăm”
[16]
Ở Việt Nam, trong Luật Du lịch (2005) cũng đã khẳng định: “Du lịch là các hoạt
động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một
khái niệm này và nó cũng được sử dụng nhiều trong quá trình nghiên cứu về hoạt động
du lịch ở nước ta
Cho đến nay đã có khoảng 300 định nghĩa khác nhau về văn hóa Từ thế kỉ XIX, E.B Tylor cho rằng: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín
ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác
mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [16]
Đến thế kỉ XX, các học giả Mỹ cho rằng, văn hóa là tấm gương nhiều mặt, nó
phản chiếu đời sống của một cộng đồng dân tộc Đó là những quan niệm khác nhau về văn hóa theo quan điểm phương Tây
Theo UNESCO: “Văn hóa là một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về
đình, xóm, làng, vùng miền, quốc gia, xã hội Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà cả những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Văn hóa” được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học
thức, trình độ văn hóa, lối sống (nếp sống văn hóa) Theo nghĩa rộng thì văn hóa bao
gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối
sống, lao động,…
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa văn hóa theo một cách rất riêng của mình:
“Vì l ẽ sinh tồn cũng như mục đích sống của loài người mới sáng tạo và phát sinh ra
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [10]
Trang 22Bên cạnh đó, GS Trần Ngọc Thêm cũng cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu
cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình
của con người, cho xã hội loài người và thế giới xung quanh
1.1.1.3 Khái ni ệm về du lịch văn hóa
Tương tự du lịch nói chung, DLVH cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên cho đến nay cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau
Theo GS.TS.Greg Richards thì: “DLVH là s ự di chuyển của những người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ tới khu vực hấp dẫn về văn hóa với ý định thu
[10] Mục đích của DLVH trong khái niệm này là đến những nơi có nền văn hóa hấp
dẫn nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa của con người
Trong cuốn “Identify and Cultural Tourism”, GS.TS Robert A Stebbins (2006) cho rằng: “DLVH là một loại hình du lịch đặc biệt hấp dẫn dựa trên sự nghiên cứu và
tham gia vào những trải nghiệm văn hóa sâu sắc, mới lạ, đó là thẩm mỹ, trí tuệ, cảm xúc hay tâm lý” [10]
Để định nghĩa rõ hơn về DLVH, tổ chức chuyên ngành, hội đồng quốc tế về
những công trình kỷ niệm và khu di tích ICOMOS (International Council On Monuments and Sites) đã đưa ra định nghĩa về DLVH như sau:
“DLVH là m ột hình thức du lịch mà mục đích và đối tượng chủ yếu của nó là
đưa vào sử dụng những mặt ảnh hưởng tích cực từ quá khứ hiệu quả tới mức vừa thỏa
đối tượng mà nó khai thác Hình thức du lịch này bênh vực, ủng hộ những nỗ lực trong thực tiễn được cho là nhằm duy trì và bảo vệ những nhu cầu của cộng đồng nhân loại
Trang 23bởi những lợi ích về mặt kinh tế, văn hóa - xã hội mà nó dành cho tất cả những người
niệm này đã làm rõ hơn về DLVH, bên cạnh việc khám phá thỏa mãn mục đích du lịch thì cần phải bảo vệ, duy trì các đối tượng được DLVH khai thác, đề cao du lịch bền
vững
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) qui định tại điều 4, chương I: “DLVH là
tồn các giá trị văn hóa” [28]
Như vậy, DLVH được hiểu là loại hình du lịch mà du khách muốn được thẩm
nhận bề dày văn hóa của một nước, một vùng thông qua các di tích lịch sử, văn hóa,
những phong tục tập quán còn hiện diện
1.1.1.4 Tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn do con người sáng tạo ra, hay nói cách khác, nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo Đây cũng là nguyên nhân khiến tài nguyên du lịch nhân tạo có những đặc điểm khác biệt nhiều so với tài nguyên
du lịch tự nhiên
Theo Khoản 2, Điều 13, Chương II trong Luật Du lịch Việt Nam (2005) xác
định: “Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn
nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử
d ụng phục vụ mục đích du lịch” [28]
Nếu hiểu theo nguồn gốc hình thành thì tài nguyên du lịch nhân văn là tài nguyên
du lịch do con người sáng tạo ra Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức
hấp dẫn với du khách và có thể khai thác cho phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã
hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các loại tài nguyên nhân văn vật thể như: các
di tích lịch sử, các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật kỷ niệm, bảo
vật quốc gia,… Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể gồm: các lễ hội, nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, phong tục, tập quán, ngôn
Trang 24ngữ, chữ viết, tôn giáo, các nguồn thông tin và nguồn tri thức khoa học, kinh nghiệm
sản xuất,
Ngày nay sở thích và mục đích tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn của du khách ngày càng đa dạng và rất khác nhau Điều đó đã gây không ít khó khăn cho công tác đánh giá loại tài nguyên du lịch này Việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn phần nhiều dựa vào cơ sở định tính thông qua xúc cảm và trực cảm
Theo Nguyễn Minh Tuệ: “Việc tìm hiểu tài nguyên du lịch nhân văn chịu ảnh
hưởng mạnh của các nhân tố như độ tuổi, trình độ văn hóa, hứng thú, nghề nghiệp,
1.1.1.5 S ản phẩm du lịch
SPDL “Là m ột quá trình trực tiếp cho phép các doanh nghiệp và các cơ quan du lịch xác định khách hàng hiện tại và tiềm năng, ảnh hưởng đến ý nguyện và sáng kiến khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để các đơn vị này có thể
được mục tiêu đề ra” [6]
Theo Điều 4, Chương I của Luật Du lịch Việt Nam (2005): “SPDL là tập hợp các
Tuy nhiên, SPDL không chỉ gói gọn trong các dịch vụ phục vụ nhu cầu du khách,
mà nó còn được cụ thể hóa bằng các sản phẩm vật chất cung cấp cho du khách ở
những nơi du khách dừng chân, nghỉ ngơi hay tham quan du lịch Đó có thể là các vật
phẩm, đồ lưu niệm, các chủng loại hàng hóa với mẫu mã rất đa dạng
Như vậy, SPDL bao gồm các yếu tố hữu hình (hàng hóa vật chất) và các yếu tố
vô hình (dịch vụ, sự tiện nghi) để cung cấp cho khách du lịch
Các bộ phận quan trọng cấu thành SPDL bao gồm: Tài nguyên du lịch, các dịch
vụ và hàng hoá du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Các dịch vụ gồm vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, và trong các dịch vụ đó thì có một số hàng hóa được cung cấp cho du khách Tóm lại, SPDL là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động du
lịch
Trang 251.1.1.6 Sản phẩm DLVH
Trong hoạt động DLVH, các nhà kinh doanh du lịch đặc biệt quan tâm là làm sao khai thác có hiệu quả các giá trị văn hóa để tạo thành các SPDL hấp dẫn du khách Khi các sản phẩm văn hóa được khai thác cho mục đích du lịch thì sản phẩm văn hóa sẽ trở thành sản phẩm DLVH Tất cả mọi sản phẩm DLVH đều bắt nguồn từ sản phẩm văn hóa, song không phải bất cứ sản phẩm văn hóa nào cũng có thể trở thành sản phẩm DLVH
Sản phẩm văn hóa là sản phẩm của con người, do con người và vì con người Bất
kỳ một sản phẩm nào do con người sáng tạo, sản xuất ra đều được coi là sản phẩm văn hóa Sản phẩm văn hóa có tính bền vững, tính bất biến cao, bên cạnh dấu ấn cá nhân còn mang nặng dấu ấn của cộng đồng cư dân bản địa Sản phẩm văn hóa ra đời không
nhất thiết để bán mà chủ yếu phục vụ đời sống sinh hoạt văn hóa - tinh thần của người dân địa phương
Sản phẩm DLVH được hình thành trong quá trình tổ chức hoạt động DLVH,
nhằm thỏa mãn nhu cầu “mở rộng không gian văn hóa” của khách du lịch, nên các sản
phẩm DLVH tất yếu cũng mang đầy đủ các đặc trưng của SPDL Sản phẩm DLVH có
thể được sáng tạo ra bởi một cá nhân, một tổ chức hay một cộng đồng Nó ra đời, tồn
tại trong một thời gian và không gian nhất định, mang những giá trị nhất định do đó khi đưa vào thị trường nó sẽ có những giá cả nhất định Do mỗi sản phẩm DLVH luôn
chứa đựng bản sắc riêng, nó mang dấu ấn cá nhân và cộng đồng nên luôn phản ánh và
biểu hiện các yếu tố mang sắc thái dân tộc, địa phương, vùng miền Là một sản phẩm
để kinh doanh nhưng sản phẩm DLVH là một loại “hàng hóa” đặc biệt, qua tiêu thụ không hề mất đi như những sản phẩm hàng hóa thông thường mà còn được nhân lên
về mặt giá trị tinh thần và hiệu quả xã hội
Theo Luật Du lịch Việt Nam (Điều 4, Chương I): “Điểm du lịch là nơi có tài
Trang 26Trên cơ sở của điểm du lịch ta có thể hiểu điểm DLVH là nơi có sự phân bố của các loại tài nguyên du lịch nhân văn hấp dẫn cùng nhiều dịch vụ liên quan đi kèm
nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí của khách du lịch Ở điểm DLVH có di tích
lịch sử văn hoá, khu khảo cổ, công trình kiến trúc, di tích văn hoá, bảo tàng, dân tộc ít người, món ăn, các công trình hội hoạ hoặc âm nhạc nổi tiếng, khu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ,
1.1.1.8 T ổ chức lãnh thổ du lịch
Trong việc nghiên cứu địa lý du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch là một trong những
vấn đề được quan tâm hàng đầu, bởi vì không thể tổ chức và quản lý có hiệu quả hoạt động này nếu không xét khía cạnh không gian (lãnh thổ) của nó
Tổ chức lãnh thổ du lịch có thể được hiểu “là một hệ thống liên kết không gian
của các đối tượng du lịch và các cơ sở phục vụ có liên quan, dựa trên việc sử dụng tối
ưu các nguồn tài nguyên du lịch (tự nhiên, nhân văn), kết cấu hạ tầng cùng các nhân
1.1.2 M ột số vấn đề lý luận về DLVH
1.1.2.1 Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch
Du lịch là một hoạt động thực tiễn xã hội của con người, nó được hình thành nhờ
sự kết hợp hữu cơ giữa 3 yếu tố: khách du lịch, tài nguyên du lịch và môi giới du lịch Khách du lịch là chủ thể du lịch, tài nguyên du lịch là khách thể du lịch, ngành du lịch
là môi giới cung cấp sự phục vụ cho khách du lịch Xét theo phạm trù văn hoá xã hội,
du lịch là một hoạt động văn hoá cao cấp của con người Bởi văn hoá là mục đích mà
du lịch hướng tới, là nguyên nhân nội sinh của nhu cầu du lịch Dù người đi du lịch
nhằm mục đích gì hoặc theo phương thức nào thì mục đích cuối cùng là nhằm thoả mãn những nhu cầu của bản thân, để cảm nhận, thụ hưởng những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra ở một xứ sở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ Nói cách khác du lịch là hành vi ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và xã hội
nhằm phục vụ lợi ích cho họ và là hoạt động có lợi cho việc thúc đẩy phát triển trí tuệ
của loài người
Giữa văn hoá và du lịch có mối quan hệ rất mật thiết Văn hoá là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch Khi nói văn hoá là nguồn nguyên liệu để hình thành nên
Trang 27hoạt động du lịch, tức là chúng ta nói đến đối tượng hưởng thụ của du khách Nguồn nguyên liệu văn hoá có hai loại cơ bản: văn hoá vật thể là những sáng tạo của con người tồn tại, hiện hữu trong không gian mà có thể cảm nhận bằng thị giác, xúc giác,… và văn hoá phi vật thể bao gồm các loại hình như: lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp,… Trong lĩnh vực du lịch, người ta xếp các thành tố văn hoá vào nhóm tài nguyên nhân văn, cụ thể là: di tích lịch sử - văn hoá; hàng lưu niệm mang tính đặc thù dân tộc; ẩm thực; lễ hội; các trò chơi giải trí; phong tục, tập quán, cách ứng xử, giao tiếp; tín ngưỡng, tôn giáo; văn học - nghệ thuật
Vì vậy mà văn hoá là điều kiện và môi trường để cho du lịch phát sinh và phát triển Cùng với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hoá là một trong những điều kiện đặc trưng để phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương Giá trị
của những di sản văn hoá: di tích lịch sử, các công trình kiến trúc, các hình thức nghệ thuật, các tập quán, lễ hội, ngành nghề truyền thống,… cùng với các thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội, các cơ sở văn hoá nghệ thuật, các bảo tàng,… là những đối tượng cho
du lịch khai thác để tạo ra những SPDL phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách Việc khai thác và thu lợi nhuận từ tài nguyên, việc xây dựng các khu/điểm du lịch đều phản ánh trí tuệ và sức sáng tạo của loài người Chính những tài nguyên này không chỉ tạo
ra môi trường và điều kiện cho du lịch phát sinh và phát triển mà còn quyết định quy
mô, thể loại, chất lượng và hiệu quả của hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương
Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá còn được biểu hiện qua hành vi ứng xử, đạo đức trong phục vụ, hay trong kinh doanh du lịch Giữa văn hoá với kinh doanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng có quan hệ mật thiết Hành vi kinh doanh muốn thành công phải được thực hiện một cách có văn hoá Có thể gọi chung là nghệ thuật kinh doanh hay văn hoá kinh doanh
Ngược lại đối với văn hoá, du lịch cũng thể hiện một vai trò hết sức quan trọng trong mối quan hệ này Du lịch trở thành phương tiện để truyền tải và trình diễn các giá trị văn hoá của một địa phương, một dân tộc, để mọi du khách trong nước và quốc
tế khám phá, chiêm ngưỡng, học tập và thưởng thức Nhờ có du lịch mà sự giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng, các quốc gia được tăng cường và mở rộng
Trang 28Du lịch còn là phương tiện để đánh thức và làm trỗi dậy các giá trị văn hoá dân
tộc đang bị chìm lắng hoặc mai một dần theo thời gian trước những biến cố của lịch
sử Đấy có thể là các công trình kiến trúc cổ, một tập quán sinh hoạt, một làn điệu dân
ca, một món ăn dân tộc, thể hiện trình độ mỹ thuật văn hoá, kỹ thuật của các thời đại
đã qua Nhờ có du lịch mà các tài sản văn hoá đó được khôi phục, tôn tạo và khai thác Xét ở góc độ kinh tế, nhờ có du lịch đã tạo ra một nguồn thu nhập cho phép các địa phương tích luỹ và phát triển kinh tế – xã hội trong đó có văn hoá Nhờ đó các tài
sản văn hoá được bảo vệ, tu sửa, tôn tạo đồng thời với việc xây dựng mới các cơ sở văn hoá và làm phong phú thêm các giá trị văn hoá đương đại Chính vì văn hoá và du
lịch có mối quan hệ tương tác lẫn nhau nên văn hoá và du lịch không thể tách rời nhau
và càng không thể đối lập nhau
Như vậy rõ ràng, du lịch là một hoạt động văn hoá mang tính tổng hợp Các hoạt động chủ yếu của du lịch bao gồm: ăn, ở, du ngoạn, mua sắm, vui chơi giải trí,… tất cả các hoạt động đó đều nhằm làm thoả mãn nhu cầu đa dạng trong đời sống của mọi thành viên trong xã hội, mang những đặc trưng văn hoá nhất định
1.1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển DLVH
Tài nguyên du lịch nhân văn
- Các loại tài nguyên du lịch nhân văn
+ Di s ản văn hóa thế giới
Các di sản văn hóa nói chung là một trong những loại tài nguyên du lịch nhân văn đặc biệt có giá trị đối với du lịch Qua các thời đại, di sản văn hóa là minh chứng xác thực cho những sáng tạo to lớn về văn hóa, tôn giáo, của xã hội loài người
Theo Công ước của Hội đồng Di sản Thế giới (WHO) thì di sản văn hóa thế giới bao gồm:
▪ Các di tích: các tác phẩm kiến trúc, điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên
kết nhiều đặc điểm có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học
Trang 29▪ Các quần thể công trình xây dựng: các quần thể này hoặc tách biệt hay liên kết
lại với nhau, có giá trị nổi bật toàn cầu về kiến trúc, về tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học
▪ Các di chỉ: các tác phẩm do con người tạo nên, hoặc các tác phẩm có sự kết hợp
giữa thiên nhiên và nhân tạo cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi
bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học
Có nhiều tiêu chuẩn để một di sản quốc gia được WHO công nhận là di sản văn hóa thế giới nhưng có thể thấy, việc một di sản quốc gia được công nhận, tôn vinh là di
sản văn hóa thế giới mang lại nhiều ý nghĩa Tầm vóc của di sản đó sẽ được nâng cao,
những giá trị văn hóa, thẩm mỹ cũng như các ý nghĩa kinh tế, chính trị vượt ra khỏi
phạm vi một nước Từ đó, khả năng thu hút khách du lịch và phát triển dịch vụ sẽ
mạnh mẽ hơn rất nhiều
+ Di tích l ịch sử - văn hóa cấp quốc gia và địa phương
Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản văn hóa vô giá của mỗi địa phương, mỗi dân
tộc và của cả nhân loại Nó là bằng chứng trung thành, xác thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước, mà ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống
tốt đẹp, tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa, nghệ thuật
Mỗi một quốc gia trên thế giới đều có những quy định riêng về di tích lịch sử - văn hóa Ở Ai Cập, theo Luật số 117 ban hành ngày 8/6/1983, di tích lịch sử - văn hóa
có giá trị quan trọng về khảo cổ học hay lịch sử là chứng cứ của nền văn minh khác nhau đã tồn tại trên đất Ai Cập hoặc đã có với đất nước này những quan hệ lịch sử cũng đều coi là cổ vật, kể cả các di hài người và động vật cùng niên đại với thời kì ấy”
[16]
Còn ở Việt Nam, theo Luật Di sản văn hóa (năm 2001) thì: “ Di sản văn hóa là
địa điểm có giá trị lịch sử - văn hóa và khoa học” [16]
Trang 30Như vậy, tuy có quy định riêng nhưng nhìn chung các quốc gia đều cho rằng di tích lịch sử - văn hóa là những cổ vật hay những sáng tạo văn hóa nghê thuật và có giá
trị quan trọng trong lịch sử văn minh của quốc gia mình
Về việc phân chia các loại hình của di tích lịch sử - văn hóa thì ở nhiều quốc gia cũng như ở nước ta hiện nay đã phân chia thành một số loại hình như sau:
▪ Di tích văn hóa khảo cổ: là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa thuộc về lịch sử của xã hội loài người thời kỳ chưa có văn tự, hoặc thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại Ngoại trừ một số trường hợp tồn tại trên mặt đất (ví dụ các bức
chạm khắc trên vách đá,…) thì đa số các di tích văn hóa khảo cổ còn lại đều nằm trong lòng đất Di tích văn hóa khảo cổ còn được gọi là di chỉ khảo cổ và được phân thành di
chỉ cư trú và di chỉ mộ táng
▪ Di tích lịch sử: là nơi ghi lại những đặc điểm riêng về lịch sử của mỗi dân tộc,
mỗi quốc gia Loại hình di tích lịch sử bao gồm: Di tích ghi dấu về dân tộc học (sự ăn
ở, sinh hoạt của các tộc người); Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu,
có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương; Di tích ghi
dấu chiến công chống xâm lược; Di tích ghi dấu những kỷ niệm; Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động; Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến
Cũng có khi người ta phân chia loại hình di tích lịch sử theo các thời kỳ như cổ đại, trung đại, cận đại, hiện đại
▪ Di tích văn hóa nghệ thuật: là các di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá
trị nên còn được gọi là di tích kiến trúc nghệ thuật Chúng được chia thành 2 loại: di tích kiến trúc và di tích nghệ thuật Những di tích này không chỉ có giá trị kiến trúc mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần
▪ Danh lam thắng cảnh: là cảnh quan thiên nhiên hoặc những địa điểm có sự kết
hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học Nói cách khác, các danh lam thắng cảnh không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, mà còn có giá trị nhân văn do đôi bàn tay, khối óc của con người tạo nên Chính vì thế, chúng có giá trị to lớn đối với hoạt động du lịch Ở nước ta, phần lớn các danh lam thắng cảnh nổi tiếng đều là nơi có phong cảnh đẹp với những đền, chùa thờ
Phật trang nghiêm, thanh bình
Trang 31▪ Các công trình đương đại
Là nơi bảo tồn tài sản tinh thần quý giá của văn hóa dân tộc Trong thời kì hội
nhập, khi nhu cầu tìm hiểu lịch sử, văn hóa của các dân tộc ngày càng được nâng cao thì bảo tàng, thư viện lớn, luôn là điểm dừng chân lý tưởng đối với khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch ngoài nước Cùng với việc bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa, công tác xây dựng bảo tàng luôn luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của mỗi
quốc gia Các bảo tàng lớn và nổi tiếng trên thế giới, với khối lượng lớn những hiện
vật, những tác phẩm nghệ thuật thể hiện sự sáng tạo, tài năng, trí tuệ của con người được lưu giữ, bảo tàng lúc nào cũng là niềm mơ ước được đến tham quan, tìm hiểu của
du khách
+ L ễ hội
Ở bất cứ thời đại nào, bất cứ dân tộc nào và bất cứ mùa nào đều có những lễ hội Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, huyền diệu, giúp cho người tham dự có điều kiện tiếp xúc với những bí ẩn vừa mơ vừa thật Lễ hội là dịp để con người hành hương về với cội nguồn, bản thể của mình
Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú Đây là một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian dài lao động mệt nhọc,
hoặc là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại (tưởng nhớ tổ tiên, ôn lại truyền thống,…), hoặc để giải quyết những nỗi lo âu, phiền muộn, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được Vì vậy, lễ hội thường
xuất hiện vào thời điểm linh thiêng chuyển giao mùa, hoặc đánh dấu sự kết thúc một chu kỳ lao động và chuẩn bị bước sang một chu kỳ mới Bên cạnh đó, ta thường thấy trong thực tế, lễ hội thường gắn với các di tích lịch sử - văn hóa như hình với bóng và chúng thật sự tạo nên một sức hấp dẫn kỳ diệu
Theo Tạp chí Người đưa tin UNESCO (12/1989): “Lễ hội đã dệt nên tấm thảm
hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khó, cô đơn và kết đoàn, trí
lễ hội dân tộc lành mạnh không bị mất đi, mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả
về hình thức lẫn nội dung
Trang 32Lễ hội gồm 2 phần: phần nghi lễ và phần hội Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao
giờ cũng được tổ chức trang nghiêm, trọng thể nhằm hướng về một sự kiện lịch sử
trọng đại, hoặc tưởng niệm một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc, một bậc thánh nhân có công khai phá hay chống giặc ngoại xâm bảo vệ bờ cõi, một ông tổ nghề hay nghệ thuật dân gian,… Các nghi thức trong phần lễ còn nhằm bày tỏ lòng tôn kính với
những bậc thánh hiền hay thần linh, cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa, sự
phồn vinh, ấm no và hạnh phúc Với yếu tố văn hóa linh thiêng cùng những giá trị nhân văn sâu sắc, các nghi lễ góp phần giáo dục ý thức tự hào nguồn cội, truyền thống
uống nước nhớ nguồn và tính thẩm mỹ cho toàn thể cộng đồng người trước khi chuyển sang tham gia phần hội
Phần hội diễn ra những hoạt động tiêu biểu, điển hình cho tâm lý và văn hóa
cộng đồng, chứa đựng những quan niệm của một dân tộc về thực tế lịch sử, xã hội và thiên nhiên Trong hội thường có các trò chơi dân gian vui nhộn, những cuộc thi đấu
thể thao truyền thống, trình diễn các loại hình nghệ thuật cổ truyền, tái hiện lại các hình thức sản xuất, tập quán sinh hoạt của người xưa,… Có thể nói tất cả những gì là tiêu biểu cho một vùng đất, một làng xã đều được mang ra phô diễn nhằm đem lại
niềm vui cho mọi người Đi hội còn là cái cớ để các chàng trai, cô gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau nên phần hội luôn gắn liền với tình yêu, sự giao duyên nam nữ đầy thi vị
Trên thế giới, lễ hội có nguồn gốc và hình thức vô cùng đa dạng Có thể phân
biệt một số hình thức lễ hội chính sau đây:
▪ Lễ ghi nhớ những sự kiện của đời sống sinh nở, khai tâm, cưới xin, ma chay
▪ Lễ hội “phục hồi” nhằm làm sống lại một cách ngoạn mục ký ức về một quá
khứ hay một nền văn hóa đã tiêu vong
▪ Lễ hội có nghi lễ mô phỏng một cuộc tế lễ mang màu sắc sân khấu và có vẻ đẹp trang nghiêm
▪ Lễ hội kỷ niệm mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều tổ chức một cách trang nghiêm để nhắc nhở bằng một công ước, hoặc một sự kiện khai sinh ra nhà nước hiện
tại
Ngoài ra, còn có thể phân biệt lễ hội theo nhóm lễ hội truyền thống dân gian (các
lễ hội được hình thành trong lịch sử, gắn bó chặt chẽ với phong tục, tập quán, tín
Trang 33ngưỡng của dân tộc), lễ hội đương đại (các lễ hội mới phát triển, được du nhập từ các
nền văn hóa mới trong thời kỳ hiện đại),…
Những đặc thù mang sắc thái riêng của từng dân tộc như điều kiện sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất cũng là những yếu tố có sức hấp
dẫn khá lớn đối với du khách Theo tạp chí người đưa tin UNESCO (4/5/2000) đã viết:
bạch, không còn những đại dương chưa ai biết tới, không còn những hòn đảo bí ẩn
mà các dân tộc khác chẳng mấy biết đến” [16]
Nước ta với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc đều có những sắc thái văn hóa riêng,
là nguồn lực quan trọng để phát triển mạnh mẽ DLVH nước nhà
+ Làng ngh ề thủ công truyền thống
Trong Bách khoa toàn thư Việt Nam, làng nghề được định nghĩa là “những làng
sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam” [16] Thật ra, làng
nghề truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay không chỉ có ở nông thôn
mà còn tồn tại trong các khu đô thị, nhất là vùng ven đô Theo Bùi Văn Vượng: “Làng
nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều
hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời” [16] Như vậy có thể
hiểu làng nghề truyền thống là làng có nghề cổ truyền được hình thành từ lâu đời, tồn
tại và phát triển đến ngày nay Hai yếu tố cơ bản cấu thành làng nghề là làng và nghề, trong đó nghề trong làng đã tách khỏi sản xuất nông nghiệp thành ngành kinh doanh độc lập
Những sản phẩm của làng nghề truyền thống được làm ra bởi bàn tay tài hoa, khéo léo cùng óc sáng tạo tuyệt vời của những người thợ thủ công Từ tranh dân gian, tranh sơn mài, thổ cẩm cho đến đồ gốm, sản phẩm điêu khắc từ các chất liệu đồng, đá,
gỗ,… mỗi sản phẩm luôn mang dấu ấn và hình ảnh của từng làng quê, từng vùng miền, đồng thời ẩn chứa bên trong là tâm hồn và bản sắc dân tộc Có thể nói các sản phẩm
của làng nghề truyền thống là sự kết tinh, giao thoa và phát triển các giá trị văn hóa,
Trang 34văn minh lâu đời của mỗi dân tộc Các SPDL làng nghề luôn bao gồm trong đó cả giá
trị vật thể (hàng lưu niệm) và phi vật thể (kỹ năng làm nghề, cảm nhận văn hóa nghệ thuật,…) nên các làng nghề truyền thống chính là một dạng tài nguyên du lịch nhân
văn độc đáo, thu hút khách du lịch và đem lại lợi nhuận cao cho cộng đồng địa phương
Các đối tượng văn hóa như các viện khoa học, các trường đại học, các thư viện
nổi tiếng, các thành phố diễn ra triển lãm nghệ thuật, các trung tâm thường xuyên tổ
chức liên hoan âm nhạc,… không chỉ hấp dẫn khách du lịch với mục đích tham quan, nghiên cứu mà còn thu hút khách du lịch đến với nhiều mục đích khác nữa
Các thành tựu kinh tế của mỗi quốc gia hay của địa phương cũng có sức hấp dẫn
lớn đối với du khách Các thành tựu này thường được trưng bày tại các trung tâm triển lãm, hội chợ Đến đây, mọi người có dịp trao đổi kinh nghiệm sản xuất hoặc tuyên truyền, quảng bá về các sản phẩm được trưng bày, đối với các thương nhân thì thường tìm đến để thiết lập mối quan hệ với các hãng, các công ty nước ngoài, Như vậy, dù đến với mục đích gì thì các hoạt động của những du khách “đặc biệt” này đều góp
phần nhất định vào sự phát triển du lịch
Ngoài ra, những cuộc tranh tài thể thao tầm cỡ châu lục (Euro, Asiad,…) hay thế
giới (Olympic, World Cup,…), các cuộc thi hoa hậu,… cũng là điểm đến đầy hấp dẫn
của du khách, luôn được các công ty dịch vụ lữ hành khai thác mỗi khi có điều kiện
Do đời sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu của con người không chỉ dừng lại
ở việc tham quan, giải trí mà cần học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, Vì vậy, các thành phố lớn là trung tâm văn hóa, thể thao, cũng là những điểm đến hấp dẫn của du khách
- Bảo vệ tài nguyên du lịch nhân văn
Để DLVH phát triển hiệu quả và bền vững cần có biện pháp bảo vệ các nguồn tài nguyên du lịch nhân văn Tuy nhiên do tài nguyên nhân văn không có khả năng tự
phục hồi nên công tác bảo vệ tài nguyên du lịch nhân văn thường rất khó khăn và tốn kém
Trang 35Ngày nay, nhờ các giải pháp về công trình - công nghệ và phục chế, sự tổn thất
có thể được loại trừ nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch trong thời gian qua
đã dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn hay từng phần những giá trị của nhiều tài nguyên du
lịch nhân văn Cho nên, để tránh những hậu quả xấu do việc sử dụng không hợp lý, do lượng khách đến thăm quá tải, do ô nhiễm cơ học và hóa học,… các cơ quan chức năng cần nhanh chóng ban hành những quy định cụ thể trong nội quy tham quan, đồng
thời xây dựng quy hoạch, định hướng khai thác cùng hàng loạt các giải pháp dưới nhiều góc độ nhằm bảo vệ, tôn tạo kịp thời nguồn tài nguyên du lịch quý giá này
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện, nước Chúng có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh du lịch
Hoạt động du lịch luôn gắn liền với sự di chuyển của du khách trên một khoảng cách nhất định Điều này phụ thuộc vào mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông Bởi một đối tượng dù có sức hấp dẫn khách du lịch đến đâu nhưng cũng sẽ không thể khai thác hiệu quả nếu thiếu sự hỗ trợ của nhân tố giao thông Việc xây
dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông, nhất là tăng nhanh phương tiện vận chuyển công cộng cho phép mau chóng khai thác được các nguồn tài nguyên du lịch mới
Mỗi loại hình giao thông có những đặc điểm riêng biệt Giao thông đường ô tô
tạo điều kiện cho khách du lịch dễ dàng đi theo lộ trình mình lựa chọn Giao thông đường sắt tuy rẻ tiền, dễ dàng, tất cả mọi người đều có thể đi được, nhưng chỉ theo tuyến đường sẵn có Giao thông đường không rất nhanh, rút ngắn thời gian đi lại song giá lại cao Còn giao thông đường thủy, mặc dù tốc độ chậm hơn nhưng có thể kết hợp
với việc tham quan giải trí dọc theo lộ trình trên sông hoặc ven biển Ngoài ra còn có nhiều phương tiện vận tải chuyên dụng được sản xuất chủ yếu để phục vụ nhu cầu du
lịch như ô tô trung chuyển, tàu thủy chở khách du lịch, cáp treo, máng trượt,…
Từ sau Thế chiến thứ hai đến nay, mạng lưới và phương tiện giao thông trên thế
giới không ngừng được hoàn thiện và ngày càng hiện đại, tiện nghi Tất cả đã góp
Trang 36phần giảm bớt thời gian đi lại, tăng cường thời gian nghỉ ngơi, du lịch và nâng cao
chất lượng phục vụ du khách
+ H ệ thống thông tin liên lạc
Ngày nay khi hoạt động du lịch không chỉ dừng lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn mở rộng ra trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Do đó, việc đáp ứng nhu
cầu thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời cho du khách là rất cần thiết Có thể nói,
hoạt động du lịch sẽ không hiệu quả nếu hệ thống thông tin liên lạc không phát triển,
bởi vì chúng không chỉ đảm bảo thông tin cho du khách trong nước và quốc tế, mà còn đóng góp quan trọng vào việc giới thiệu SPDL, kết nối tour cho du khách, đồng thời
quảng bá thương hiệu, hình ảnh du lịch của đất nước đến với bạn bè quốc tế
Trong đời sống kinh tế - xã hội hiện đại, nếu mạng lưới giao thông và các phương tiện vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiệm, góp phần thực hiện các mối giao lưu trong nước và quốc tế Nhờ những tiến bộ
của khoa học kỹ thuật, các phương tiện thông tin liên lạc hiện đại như các hệ thống cáp
ngầm xuyên biển, vệ tinh, những hệ thống máy vi tính và điện báo, điện thoại, Internet,… được sử dụng ngày càng phổ biến và trở thành một phần không thể thiếu
của cuộc sống, trong đó có hoạt động du lịch
Sản phẩm của hệ thống cung cấp điện, nước phục vụ trực tiếp cho nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của du khách Cho nên, trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch cũng cần chú
ý hoàn thiện và đảm bảo sự hoạt động ổn định của các công trình này
- Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch
Ngày nay, du lịch phát triển đã hình thành rất nhiều loại hình du lịch để thỏa mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách Hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch vì
thế cũng phải phát triển và ngày càng hoàn thiện, gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như:
cơ sở lưu trú, cơ sở vui chơi giải trí, hệ thống các nhà hàng ăn uống và cửa hàng dịch
vụ thương mại, các cơ sở y tế, thể thao, các công trình văn hóa, thông tin,… chúng có
ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra các SPDL, đáp ứng việc tham quan du lịch trên qui mô lớn, cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thỏa
Trang 37mãn nhu cầu du khách Chính vì vậy, sự phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền
với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật
+ Cơ sở lưu trú du lịch
Theo Khoản 12, Điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì “Cơ sở lưu trú du
lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu
cơ sở lưu trú nhưng nhìn chung thì các cơ sở lưu trú bao gồm: khách sạn, làng du lịch,
biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê và các cơ sở lưu trú du lịch khác Trong hệ thống cơ sở lưu trú
du lịch thì khách sạn đóng vai trò quan trọng hơn cả và mang lại nguồn lợi nhuận lớn
nhất Chính vì vậy, kinh doanh khách sạn luôn chiếm vị trí hàng đầu trong kinh doanh lưu trú du lịch
Trong cơ cấu cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch, đây là bộ phận giữ vai trò
rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu về ăn uống, mua sắm hàng hóa của du khách bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác Do đa phần khách du lịch đến từ nhiều vùng, miền khác nhau nên tùy vào đặc điểm tiêu dùng như tính truyền thống, tính dân tộc,… mà nhu cầu về ăn uống và mua sắm của họ rất phong phú Từ đó, cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng nhu cầu trên cũng đa dạng, từ nhà hàng, quán ăn, cửa hàng thực phẩm, bán đồ lưu niệm cho đến
những cửa hàng bán đồ chuyên dùng cho du lịch, các mặt hàng tiêu dùng,… Các cửa hàng thường được bố trí ngay tại khu du lịch, trong khách sạn hoặc ở đầu mối giao thông
Ngoài ra, thuộc hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch còn phải kể đến các cơ sở thể thao, cơ sở y tế, các cơ sở vui chơi giải trí, hoạt động thông tin văn hóa và các cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác
Các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội
- Chính sách phát triển du lịch
Đường lối, chính sách phát triển du lịch là một bộ phận của hệ thống đường lối - chính sách phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, khu vực Đây là điều kiện tiên
Trang 38quyết và là động lực quan trọng để du lịch phát triển Bởi lẽ một quốc gia dù giàu có
về tài nguyên, nhân lực, nhưng đường lối, chính sách phát triển du lịch không đúng đắn thì du lịch vẫn không thể phát triển được Các đường lối, phương hướng, chính sách, kế hoạch, biện pháp,… cần phải được cụ thể hóa bằng các kế hoạch ngắn, trung
và dài hạn cụ thể Những năm gần đây, những đóng góp của du lịch vào doanh thu của đất nước ngày càng lớn nên du lịch ngày càng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia Mặt khác, đây là ngành kinh tế liên ngành nên nó có tác động đến sự phát triển của nhiều ngành và lĩnh vực khác Vì vậy các chủ trương, kế hoạch phải được xây dựng một cách đồng bộ, phải mang tính tổng
hợp và được phối hợp một cách nhịp nhàng trong hệ thống sản xuất – xã hội
Ở nước ta trong quá trình đổi mới, Đảng và nhà nước đã hết sức quan tâm đến phát triển du lịch Chủ trương phát triển du lịch theo đại hội VI, VII đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết 45 CP của Chính phủ ngày 11/9/2009 Điều này đã khẳng định
vị trí và vai trò ngày càng quan trọng của ngành du lịch trong phát triển kinh tế đất nước
- Tác động của xu thế hội nhập đến du lịch
Hội nhập là một tất yếu khách quan của quá trình phát triển kinh tế xã hội trên thế
giới nói chung, trong đó có du lịch Trong thời kỳ hội nhập, các điểm đến du lịch có cơ
hội mở rộng thị trường, phát triển các tuyến du lịch và SPDL liên kết ở quy mô lãnh
thổ lớn hơn, có được những chính sách chung hỗ trợ hiệu quả hơn,… Tuy nhiên bên
cạnh những lợi ích có được, xu thế hội nhập cũng tạo ra những thách thức không nhỏ đối với điểm đến mà trước hết là thách thức về năng lực cạnh tranh Thực tế cho thấy trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, điểm đến du lịch nào không tự nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình để trước hết là tồn tại và sau đó là phát triển thì sẽ bị loại ra khỏi “cuộc chơi” cho dù điểm đến rất có tiềm năng du lịch
Quá trình hội nhập đã giúp Việt Nam nhận được rất nhiều cơ hội trong tiến trình phát triển du lịch như: tăng thị phần du lịch quốc tế, mở rộng thị trường và phát triển
những loại hình du lịch mới Tuy nhiên, khi hội nhập, trước sức ép lớn từ bên ngoài, các doanh nghiệp du lịch trong nước muốn tồn tại phải có chiến lược cải cách về mọi
mặt một cách mạnh mẽ và được nhà nước hổ trợ một cách hiệu quả thông qua hệ thống
Trang 39các chính sách hợp lí và hiệu quả Những thách thức lớn mà du lịch Việt Nam phải đối
mặt trong quá trình tham gia hội nhập là: sự cạnh tranh gay gắt với các quốc gia có trình độ phát triển du lịch cao hơn, sự khó khăn trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững,…
- Dân cư và nguồn nhân lực du lịch
Dân cư và lao động là một trong những nguồn lực quan trọng của nền sản xuất xã
hội nói chung và du lịch nói riêng Sau thời gian lao động mệt nhọc thì con người thường tìm đến với những hoạt động nghỉ ngơi và du lịch Dân số càng đông thì số người tham gia vào các hoạt động du lịch ngày càng nhiều
Quy mô dân số, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố, mật độ dân cư,… có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch Nhu cầu du lịch phụ thuộc nhiều vào đặc điểm xã hội và nhân khẩu của dân cư Do đó, cần phải nghiên cứu kĩ cơ cấu dân số theo độ tuổi, nghề nghiệp, để xác định nhu cầu nghỉ ngơi du lịch, vì đây là một trong những nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển Bên cạnh đó, sự tâp trung dân cư vào các thành phố, tốc độ gia tăng dân số, mật độ dân số, tuổi thọ, quá trình đô
thị hóa cũng liên quan mật thiết đến phát triển du lịch
- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Sự phát triển của nền kinh tế - xã hội là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành du lịch Vai trò to lớn của nhân tố này được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau Các nhà kinh tế cũng đã chỉ ra rằng, sự xuất hiện và mở rộng những nhu cầu khác nhau, tất nhiên trong đó có nhu cầu du lịch, là kết quả của sự phát triển nền sản
xuất xã hội Khi nền kinh tế địa phương phát triển sẽ tạo điều kiện nảy sinh nhiều nhân
tố khác ảnh hưởng đến du lịch, không chỉ là nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, mức sống, thời gian rỗi, mà còn cả những sản phẩm về vật chất và tinh thần phục vụ cho du khách Trong nội bộ nền kinh tế, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp
và cả giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch
+ Công nghi ệp
Công nghiệp một mặt đã tạo ra những tiền đề nâng cao thu nhập cho người lao động, từ đó làm tăng nhu cầu và khả năng đi du lịch của họ Đồng thời, nền công nghiệp phát triển cao đã và đang tiếp tục sản xuất ra những vật liệu đa dạng để xây
Trang 40dựng các cơ sở dịch vụ và hàng loạt sản phẩm, hàng hóa các loại đáp ứng nhu cầu của
du khách Trái lại, trong điều kiện công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ như ngày nay, trước cảnh không gian sống quá chật hẹp, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, nên mỗi khi có điều kiện con người thường tìm chỗ nghỉ ngơi để phục hồi sức khỏe Đấy cũng là một tiền đề thứ yếu giúp cho du lịch phát triển
+ Nông nghi ệp
Nguồn lương thực, thực phẩm đa dạng từ nông nghiệp là một trong những tài nguyên để thúc đẩy du lịch phát triển Nông nghiệp phát triển sẽ đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu ăn uống của du khách Trong đó các món đặc sản truyền thống đã trở thành SPDL đặc trưng của nhiều vùng, miền Hơn nữa, sự có mặt của nguồn hoa quả, rau xanh, thảo mộc còn mở ra khả năng phát triển các loại hình du lịch chữa bệnh, tham quan miệt vườn,…
Giao thông vận tải là một trong những tiền đề quan trọng cho du lịch phát triển Khi mạng lưới giao thông hoàn thiện thì du lịch sẽ có điều kiện phát triển với tốc độ nhanh Ngày nay, con người có thể rút ngắn những khoảng cách về mặt địa lý bằng các phương tiện giao thông hiện đại như tàu hỏa cao tốc (Eurostar, TGV, Shinkansen,…), máy bay phản lực, tàu du lịch cao cấp,… Tốc độ vận chuyển ngày càng tăng nhanh cho phép tiết kiệm thời gian đi lại, giúp khách du lịch có thể đến được những nơi xa xôi đồng thời kéo dài thời gian lưu trú của họ Bên cạnh tốc độ, sự đảm bảo về an toàn,
tiện nghi, cùng giá thành hạ làm cho hoạt động vận tải ngày càng đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành du lịch của mỗi quốc gia
Bên cạnh sự tiến bộ của nền sản xuất xã hội thì điều kiện an ninh đảm bảo, chính
trị ổn định cũng là cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy du lịch phát triển Có thể nói, hòa bình và ổn định chính trị là đòn bẩy cho hoạt động du lịch, qua đó góp phần củng
cố tình hữu nghị giữa các dân tộc
- Đô thị hóa
Đô thị hóa được xem là một trong những nhân tố phát sinh góp phần đẩy mạnh nhu cầu du lịch Đô thị hóa góp phần cải thiện điều kiện sống cho người dân cả về