1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa chăm islam ở xã đa phước, huyện an phú, tỉnh an giang

63 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa ở các nước đang phát triển gắn liền với địa phương – nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa, các làng nghề truyền thống, kiến trúc…Tuy nhiên, nó chưa được ph

Trang 1

TR ƯỜ NG ĐẠ I H Ọ C KHOA H Ọ C XÃ H Ộ I VÀ NHÂN V Ă N

KHOA ĐỊA LÝ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN CẤP TRƯỜNG

NĂM HỌC 2008 – 2009

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA CHĂM ISLAM

Ở XÃ ĐA PHƯỚC- HUYỆN AN PHÚ -TỈNH AN GIANG

Người hướng dẫn khoa học:

Th.S Nguyễn Thu Cúc

Chủ nhiệm đề tài:

Nguyễn Thị Nô En

SV ngành Địa lý Khóa 2007 – 2011

Các thành viên:

SV ngành Địa lý Khóa 2007 - 2011

SV ngành Địa lý

Khóa 2007 - 2011

TP.HỒ CHÍ MINH THÁNG 04 NĂM 2009

Trang 2

Trang

PHẦN NỘI DUNG

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Giới hạn của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5.Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

PHẦN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài 5

1.1 Tổng quan về du lịch và một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa 5

1.1.1 Tổng quan về du lịch 5

1.1.1.1 Khái niệm và chức năng của ngành du lịch 5

1.1.1.1.1 Khái niệm 5

1.1.1.1.2 Chức năng của ngành du lịch 7

1.1.1.2 Một số loại hình du lịch đang được phát triển hiện nay 8

1.1.2 Một số lý luận về du lịch văn hóa 10

1.1.2.1 Định nghĩa về du lịch văn hóa 10

1.1.2.2 Các loại hình du lịch văn hóa 12

1.1.2.3 Các nguyên lý cơ bản của du lịch văn hóa 14

1.1.3 Mối tương quan giữa du lịch và văn hóa 15

1.1.3.1 Ảnh hưởng của du lịch đến văn hóa 15

1.1.3.2 Ảnh hưởng của văn hóa đến du lịch 17

1.2 Du lịch văn hóa ở nước ta hiện nay 18

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài 22

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 22

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 22

2.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội 24

2.1.3 Định hướng phát triển du lịch huyện An Phú 27

2.2 Khái quát về Chăm Islam ở An Giang 28

2.2.1 Nguồn gốc người Chăm Islam, An Giang 28

Trang 3

2.3.1 Thuận lợi 31

2.3.2 Khó khăn 36

2.3.3 Kết quả của hoạt động du lịch tại làng Chăm Đa Phước 39

2.3.4 Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch văn hóa ở làng Chăm Đa Phước dưới góc nhìn của một sinh viên 41

2.4 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại làng Chăm Đa Phước 42

2.4.1 Điều kiện tự nhiên 42

2.4.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa –xã hội 44

2.4.2.1 Kinh tế 44

2.4.2.2 Văn hóa – xã hội 46

Chương 3: Một số đề xuất, giải pháp cho việc phát triển du lịch văn hóa Chăm Islam49 3.1 Giải pháp địa phương đã và đang thực hiện 49

3.2 Một số đề xuất của nhóm nghiên cứu 51

3.2.1 Phát triển du lịch bền vững gắn liền với môi trường 51

3.2.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng trong phát triển du lịch 53

3.2.2.1 Khách sạn du lịch 53

3.2.2.2 Cơ sở y tế 54

3.2.2.3 Hệ thống giao thông 54

3.2.2.4 Công ty du lịch 56

3.2.3 Đào tạo nguồn nhân lực 57

3.2.3.1 Nâng cao tố chất tư tưởng chính trị 57

3.2.3.2 Nâng cao kiến thức văn hóa, nghiệp vụ 57

3.2.4 Các hoạt động quảng bá 58

KẾT LUẬN 59

Trang 4

1 LÝ DO CHỌN ĐỂ TÀI

Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người ngày càng được nâng cao

Họ mong muốn được tận hưởng, khám phá những điều mới mẻ Du lịch là một loại hình

mà qua đó con người có thể thỏa mãn được nhu cầu khám phá, giao lưu học hỏi, nghiên cứu…

Ngày nay, dịch vụ du lịch phát triển khá mạnh và có rất nhiều loại hình phong phú, đa dạng như du lịch sinh thái, du lịch chữa bệnh, du lịch mạo hiểm…

Trong đó, loại hình du lịch văn hóa thu hút được khá nhiều du khách quốc tế Du lịch văn hóa chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục, tín ngưỡng… để tạo sức hút đối với du khách trong và ngoài nước Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu, khám phá văn hóa và phong tục tập quán của một địa danh nào đó thì du lịch văn hóa là cơ hội để thỏa mãn nhu cầu của họ

Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa ở các nước đang phát triển gắn liền với địa phương – nơi lưu giữ nhiều lễ hội văn hóa, các làng nghề truyền thống, kiến trúc…Tuy nhiên, nó chưa được phát triển mạnh mẽ nên đó cũng chính là nơi tồn tại đói nghèo Bởi vậy, du lịch văn hóa ra đời sẽ thu hút khách nhằm tạo ra dòng chảy mới và cải thiện cuộc sống của người dân địa phương

Ở nước ta, du lịch văn hóa là loại hình du lịch có tiềm năng phát triển rất lớn Du lịch văn hóa ở nước ta đang được khai thác, phát triển và ngày càng hoàn thiện hơn Hầu hết các địa phương trong cả nước đều có bản sắc văn hóa riêng, độc đáo và đó là thế mạnh để phát triển loại hình du lịch này Ví dụ như: lễ hội Chùa Hương (Hà Tây); Hội

An (Quảng Nam); lễ hội Ka tê của dân tộc Chăm (Ninh Thuận); lễ hội Cồng Chiêng Tây Nguyên,….và An Giang, một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch Đặc biệt là mô hình du lịch văn hóa ở Làng Chăm Islam thuộc xã Đa Phước, huyên An Phú, tỉnh An Giang

Ở Việt Nam hiện nay, cộng đồng người Chăm khá đông tập trung chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận Nhưng số người Chăm theo đạo Islam thì tập trung nhiều nhất là ở

Trang 5

An Giang Chăm Islam ở An Giang có những phong tục tập quán độc đáo khác biệt so với cộng đồng Chăm ở duyên hải miền Trung và Tây Nguyên Nó đã góp phần tạo nên bức tranh văn hóa đa dạng của các tộc người ở đồng bằng sông Cửu Long

Nhờ có vị trí địa lý thuận lợi, phong tục tập quán mang bản sắc văn hóa riêng, kiến trúc độc đáo và làng nghề truyền thống đặc sắc đã giúp cho cộng đồng người Chăm Islam

ở xã Đa Phước có sức hấp dẫn, lôi cuốn đối với khách du lịch trong và ngoài nước

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tài nguyên du lịch ở An Giang nói chung và Chăm Islam nói riêng được khai thác và phát triển nhưng chưa thực sự có hiệu quả Chính vì vậy, chúng tôi hi vọng đề tài này có thể đóng góp một phần thiết thực trong việc phát triển tiềm năng du lịch văn hóa của làng Chăm Islam ở Đa Phước Từ đó đưa ra những giải pháp để có thể đưa du lịch An Giang nói chung và du lịch ở làng Chăm Islam nói riêng lên một bước tiến mới

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỂ TÀI

 Đánh giá thực trạng phát triển du lịch ở làng Chăm Islam, xã Đa Phước, huyện An

Phú, tỉnh An Giang

 Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa Chăm Islam ở xã Đa Phước, huyện An Phú,

tỉnh An Giang

 Đề ra giải pháp cho sự phát triển du lịch ở làng Chăm Islam nhằm bảo tồn và duy

trì các di sản văn hóa nơi đây

3 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài bước đầu tìm hiểu loại hình du lịch văn hóa, đánh giá thực trạng du lịch tại xóm Chăm xã Đa Phước, huyện An Phú Trên cơ sở đó xác định tiềm năng trong việc phát triển du lịch văn hóa và đưa ra những định hướng cơ bản, những giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả phát triển du lịch văn hóa nơi đây

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

 Phương pháp tham khảo, thu thập, phân tích, tổng hợp các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp từ sách, báo, internet, các luận văn tốt nghiệp, luận án thạc sĩ, tiễn sĩ,…

Trang 6

 Phương pháp khảo sát thực địa: khảo sát thực địa địa bàn xóm Chăm xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang

 Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn các cơ quan chức năng, các cơ quan quản lý,

có thẩm quyền và chức năng để thấy những quan điểm về cơ chế, chính sách xung quanh vấn đề khai thác, phát triển du lịch văn hóa Chăm

 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: phát 40 bảng hỏi cho 40 người dân tộc Chăm Islam tại xóm Chăm Đa Phước nhắm khảo sát những mong muốn, nguyện vọng và khả năng của họ khi tham gia hoạt động du lịch văn hóa này

5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Các vấn đề về dân tộc Chăm ở nước ta được các chuyên gia cũng như các nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại tập trung khá nhiều vào cộng đồng Chăm Bà la môn ở các tỉnh miền Trung mà chủ yếu là Ninh Thuận và Bình Thuận

Trong những năm trở lại đây, cũng bắt đầu xuất hiện một số nghiên cứu về cộng đồng Chăm Hồi giáo ở Nam Bộ mà tập trung chủ yếu là ở An Giang, TP Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Năm 1994, Chi hội văn nghệ tỉnh An Giang, hội văn nghệ Châu Đốc, xuất bản cuốn sách “Một số tập tục người Chăm An Giang” của tác giả Lâm Tâm Công trình này cung cấp được hầu như những thông tin cơ bản về cộng đồng người Chăm An Giang

Năm 2006, Nhà xuất bản Nông nghiệp cũng đã xuất bản cuốn “Cộng đồng người Chăm Hồi giáo ở Nam Bộ trong quan hệ giới và phát triển” của Phan Văn Dốp và Nguyễn Thị Nhung Đây là chương trình nghiên cứu hợp tác giữa Việt Nam và Hà Lan Nội dung nghiên cứu chủ yếu về giới, quan hệ giới, vai trò của người phụ nữ trong gia đình của cộng đồng Chăm Hồi giáo Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu về sự tác động của văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo đến quan hệ giới trong xã hội người Chăm Thực

tế, ở những công trình này, hình ảnh người Chăm Islam cũng chỉ xuất hiện một cách khá khiêm tốn

Nghiên cứu gần đây nhất về Chăm Islam ở An Giang là luận văn tốt nghiệp năm

2008 của Nguyễn Trần Thanh Quyên, sinh viên khoa Địa lý, trường ĐH KH XH và NV,

Trang 7

TP.HCM với đề tài “Xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch Chăm Koh Koi” Đây là khóa luận được đánh giá cao và nó cũng đã mở ra một bước ngoặt mới cho cộng đồng Chăm Islam ở An Giang nói chung và làng Chăm Koh Koi, xã Nhơn Hội, huyện An Phú nói riêng Đề tài đã đánh giá được thực trạng du lịch nơi đây, chỉ ra được những tiềm năng về mặt tự nhiên cũng như kinh tế, văn hóa, xã hội thích hợp cho việc xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch Tác giả cũng đã xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch cho làng Chăm nơi đây và hi vọng nó sẽ mang lại sức sống mới cho cộng đồng người Chăm Islam ở An Giang nói chung

Trong chừng mực nào đó, những thông tin, công trình này rất hữu ích cho đề tài, nhất là trong việc cung cấp tư liệu về du lịch văn hóa và di sản văn hóa của người Chăm Islam ở An Giang

Trang 8

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về du lịch và một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa

Trong tiếng Việt, thuật ngữ Toursim được dịch thông qua tiếng Hán Du có nghĩa

là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải

Về định nghĩa Du lịch, một số tổ chức Quốc tế và học giả đã từ những góc độ khác nhau tiến hành nghiên cứu, đưa ra rất nhiều định nghĩa về du lịch

Vào năm 1963, tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về Du lịch họp tại Rome, Ý (từ ngày 21/08 đến 05/09/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về Du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hoặc ngoaì nước

họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”

Năm 1980, sau hội nghị Malina của tổ chức Du lịch Quốc tế, định nghĩa được nêu

ra là: “Việc lữ hành của mọi người bắt đầu từ mục đích không phải di cư và một cách hòa bình hoặc xuất phát từ mục đích từ sự phát triển cá nhân về phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và hợp tác giữa mọi người”

1 Kinh tế và du lịch học của Đồng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình, NXB Trẻ, 2001, trang 12

Trang 9

Theo I.I Pirogionic năm 1985 cho rằng: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân

cư trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình

độ nhận thức, văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên và văn hóa”

 Cách thức sử dụng thời gian rảnh rỗi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên

 Dạng chuyển cư đặc biệt

 Ngành kinh tế, một trong những ngành thuộc lĩnh vực phi sản xuất nhằm phục vụ

động du lịch là hoạt động tổng hòa các quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển

xã hội nhất định làm cơ sở,lấy chủ thể du lịch,khách thể du lịch và trung gian du lịch làm

người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là thẩm nhận những giá trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ so với quê hương,

Tham khảo một số định nghĩa trên ta có thể tựu chung lại hai điểm nổi bật sau:

- Thứ nhất: Du lịch là một hiện tượng xã hội, xuất phát từ nhu cầu của con người muốn khám phá, tìm hiểu những điều mới lạ độc đáo

2 Địa lý du lịch, PTS Nguyễn Minh Tuệ, NXB TP Hồ Chí Minh, 1996, trang 15

3 Kinh tế và du lịch học của Đồng Ngọc Minh và Vương Lôi Đình, NXB Trẻ, 2001, trang 13

4 Giáo trình văn hóa du lịch, Lê Thị Vân, NXB Hà Nội, 2006

Trang 10

- Thứ hai: Du lịch là một hoạt động kinh tế, một hoạt động kinh doanh tổng hợp với

đa dạng các loại dịch vụ phục vụ cho nhu cầu “khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh của con người”

Sự tồn tại của nhiều định nghĩa cho hoạt động Du lịch theo GS.TS Trần Đức Thanh chúng ta có thể hiểu là các học giả với các góc độ nghiên cứu khác nhau nên có cách hiểu

về du lịch khác nhau Thêm vào đó là xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của từng khu vực, từng đất nước với trình độ phát triển du lịch khác nhau nên nhận thức về nội dung du lịch cũng khác nhau

Du lịch có những chức năng nhất định và chúng ta có thể sắp xếp các chức năng ấy thành 4 nhóm chính:

- Chức năng xã hội: Thể hiện ở vai trò của nó trong việc giữ gìn phục hồi sức khỏe

và tăng cường sức sống cho nhân dân Trong một chừng mực nào đó thì du lịch có thể giúp con người hạn chế được bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, tăng khả năng lao động Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm lòng yêu dân tộc, yêu đồng bào, yêu đất nước mình Cũng thông qua hoạt động du lịch, quần chúng sẽ nhận thức được trách nhiệm của mình với dân tộc với dân tộc và rèn luyện phẩm chất tốt đẹp; sống trong sáng lành mạnh và ra sức bảo vệ những giá trị linh thiêng của dân tộc

- Chức năng kinh tế: Thể hiện ở khia cạnh đó là dịch vụ Du lịch - một ngành kinh tế độc đáo ảnh hưởng đến cả cơ cấu ngành và cả cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế, là

cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều nước Cùng với nó, việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực cũng góp phần quan trọng vào việc tái sản xuất sức lao động (thể lực con người được tăng lên, tinh thần sảng khoái

5 Tài liệu tham khảo chủ yếu từ “Địa lý du lịch”, PTS Nguyễn Minh Tuệ, NXB TP Hồ Chí Minh, 1996

Trang 11

sẽ làm cho trí lực con người tăng lên đó là một cách tác động gián tiếp, đẩy mạnh nền sản xuất xã hội)

- Chức năng sinh thái: Thể hiện trong việc tạo nên môi trướng sống ổn định về mặt sinh thái Nghỉ ngơi, du lịch là một nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ , khôi phục

và tối ưu hóa môi trường thiên nhiên bao quanh Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ Một mặt xã hội cần đảm bảo sự phát triển tối ưu nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của dòng khách du lịch và của việc gây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch Du lịch và bảo vệ môi trường là những hoạt động gần gũi và gắn bó với nhau

- Chức năng chính trị: Được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố củng

cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau hơn

Tuy sự hiểu biết còn phần nào hạn chế nhưng nhóm nghiên cứu cũng đã nhận được một thực tế từ hoạt động du lịch đó là: du lịch là một phương thức đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Hoạt động du lịch là hoạt động có ý nghĩa tổng hợp Ngoài

ý nghĩa đáp ứng nhu cầu khám phá, du ngoạn của con người, nó còn giúp cho khách du lịch và vùng đến có sự giao lưu văn hóa Đặc biệt hơn, hoạt động du lịch còn mang đến ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế Ngày nay, rất nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn phát triển ngành du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế của mình Bởi du lịch được xem là

“ngành công nghiệp khám phá” mang nhiều lợi ích cho xã hội

1.1.1.2 Một số loại hình du lịch đang được phát triển hiện nay

Hoạt động du lịch có tính phong phú và đa dạng về loại hình Phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau, dựa vào đặc điểm, vị trí, phương tiện và mục đích, Nguyễn Minh Tuệ

đã chia hoạt động du lịch ra làm các loại hình riêng biệt

 Theo nhu cầu của du khách:

 Du lịch chữa bệnh

 Du lịch nghỉ ngơi

Trang 13

 Du lịch cá nhân

Đây không phải là cách phân chia duy nhất Trong một số tài liệu, ta lại thấy có sự phân chia khác.Tuy nhiên, mỗi sự phân chia điều mang ý nghĩa tương đối và trong thực

tế thì các hoạt động du lịch thường có sự kết hợp chặt chẽ với nhau

Ngày nay, các loại hình du lịch này phát triển tương đối mạnh Bằng nhiều phương thức khác nhau Tất cả điều nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của con người Trong đó du lịch văn hóa là một trong những loại hình được phân chia theo nhu cầu của du khách Tuy nhiên muốn hiểu rõ thì không thể chỉ thông qua cách phân loại này mà đánh giá được Cần nghiên cứu và tìm hiểu sâu để có cái nhìn trọn vẹn hơn

1.1.2 Một số lý luận về du lịch văn hóa

1.1.2.1 Định nghĩa về du lịch văn hóa

Cũng như du lịch hay du lịch sinh thái, du lịch văn hóa cũng được nhiều nhà chuyên môn, nhiều tổ chức nghiên cứu có cách nhìn khác nhau, từ những góc nhìn khác nhau và đưa ra những định nghĩa không giống nhau

Caitlin Kennedy đã mở đầu bài viết của mình khá ấn tượng Ông nói rằng: “Công nghệ và di chuyển đang làm cho thế giới là một nơi nhỏ hơn bao giờ hết Du lịch văn hóa

là một chế độ mới của người dân họp người dân, của nền văn hóa hội nghị nền văn hóa” (Technology and migration are making the world an ever smaller place Cultural tourism

is a new mode of people meeting people, of cultures meeting cultures)

Trong quá trình nghiên cứu về du lịch văn hóa, Caitlin Kennedy đã tỏ vẻ thích thú với ý kiến của giáo sư, tiến sĩ Stebbins về du lịch văn hóa Ông nói rằng: “Tôi thích định nghĩa mà Stebbins (1996) sử dụng Ông ấy nói rằng: “Du lịch văn hóa là một thể loại đặc biệt quan tâm du lịch dựa trên các tìm kiếm và tham gia vào sâu văn hóa với kinh nghiệm, cho dù thẩm mỹ, trí tuệ, tình cảm, tâm lý như thế nào” Tôi thấy thông tin này phải là một định nghĩa hữu ích, vì nó tích hợp nhiều hình thức văn hóa, bao gồm: bảo tàng, phòng triển lãm, lễ hội, kiến trúc, di tích lịch sử, nghệ thuật biểu diễn, trang web và

Trang 14

di sản, cũng như kinh nghiệm mà bạn có thể mang đến cho bất kỳ một nền văn hóa trong liên hệ với người khác cho các mục đích cụ thể hay trong tình hình du lịch.”

writes, “Cultural tourism is a genre of special interest tourism based on the search for and participation in new and deep cultural experiences, whether aesthetic, intellectual, emotional, or psychological” (Stebbins, Robert (1996) “Cultural Tourism as Serious

Leisure” Annals of Tourism Research Vol 23, October, p 948) I find this to be a useful

definition, as it incorporates a variety of cultural forms, including museums, galleries, festivals, architecture, historic sites, artistic performances, and heritage sites, as well as any experience that brings one culture in contact with another for the specific purpose of that contact, in a touring situation”

Tổ chức mạng lưới du lịch văn hóa châu Âu (ECNT: European Cultural Tourism

Network) cũng đưa ra định nghĩa về du lịch văn hóa Trong cách định nghĩa của tổ chức

này, ta có thể hiểu rằng, bằng một cách ngắn gọn có thể định nghĩa du lịch văn hóa là du lịch dựa trên nguồn tài nguyên văn hóa bản địa, bao gồm truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, danh lam thắng cảnh…và các hoạt động văn hóa như lễ hội, triễn lãm, sức cuốn hút của nghệ thuật, các hoạt động của nhà hát nhưng sự hấp dẫn này còn liên quan tới hoạt đọng sản xuất ban sơ, nghề thủ công, công nghiệ sản xuất, lịch sử sản xuất và nguồn gốc

Từ những định nghĩa trên, ta có thể hiểu đơn giản hơn Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch đặc biệt của hoạt động du lịch Du lịch văn hóa phát triển dựa trên các sản phẩm văn hóa mà chủ yếu là sản phẩm văn hóa bản địa bao gồm: tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, làng nghề truyền thống… Du khách có cơ hội hưởng thụ được tất cả những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tại nơi mình đến Đồng thời hoạt động

du lịch văn hóa cũng sẽ đóng góp rất lớn trong việc nâng cao nhận thức cho người dân

6 Nguyễn Trần Thanh Quyên, Xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch Chăm Koh Koi, TP HCM, 2008, trang 23

Trang 15

bản địa trong việc gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa của địa phương mình, dân tộc mình

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa có sự thống nhất trong việc phân chia các loại hình du lịch văn hóa

Nhà nghiên cứu Chris Rojek, 1993 chia du lịch văn hóa thành bốn nhóm cơ bản sau:

- Nhóm 1: du lịch văn hóa vùng di sản (Heritage sites cultural tourism), bao gồm các chuyến đi tham gia di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể

- Nhóm 2: Du lịch văn hóa thắng cảnh nhân văn (Literary landscape cultural tourism) gồm tất cả các chuyến du lịch thăm lại các khu di tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà của các anh hùng dân tộc, thăm quan nơi làm việc của các vĩ nhân…

- Nhóm 3: du lịch văn hóa những điểm đen (Blackspot cultural tourism), là loại hình

du lịch văn hóa đem lại cảm giác xúc động mạnh như: tham quan khu khảm sát trong chiến tranh, tham quan khu xảy ra tai nạn của các nhân vật nổi tiếng, hay nơi xảy ra vụ đắm tàu lịch sử, nơi chôn xác trong chiến tranh

- Nhóm 4: Du lịch văn hóa công viên chuyên đề (Theme parks cultural tourism) gồm những chuyến tham quan công viên văn hóa chuyên đề như: công viên nước, công viên văn hoa, công viên tranh nghệ thuật, công viên điêu khắc, công viên tình yêu, công viên nghệ thuật hóa trang…

Getz Donald với bài phát biểu “Events and cultural tourism experience” trong cuộc hội thảo với chủ đề “The creative future – Cultural tourism as a sustainable and growing sector” do ECTN tổ chức năm 2006, đã chia du lịch văn hóa thành các nhóm sau:

7 Nguyễn Trần Thanh Quyên, Xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch Chăm Koh Koi, TP HCM, 2008, trang 24

Trang 16

 Du lịch văn hóa những lễ hội kỷ niệm

 Du lịch văn hóa nghệ thuật và giải trí

 Du lịch văn hóa khoa học và giáo dục

 Du lịch văn hóa sự kiện thể thao

 Du lịch văn hóa, lịch sử những phát minh sáng tạo của loài người (thăm những nơi sinh ra những phát minh vĩ đại của loài người)

 Du lịch văn hóa thương mại (hội chợ công nghiệp, thăm nếp sinh hoạt văn hóa trong kinh doanh của các tập đoàn lớn)

 Du lịch văn hóa chính trị và sự kiện trọng đại (hội nghị thượng đỉnh G8, OPEC, APEC, LHQ,…, lễ kết hôn của hoàng tộc…)

*Melanie K Smith, 2003, chia du lịch văn hóa thành các loại hình sau:

 Di sản (di sản thế giới, di tích, phố cổ…)

 Nghệ thuật diễn xuất (hát, kịch, trung tâm văn hóa…)

 Nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc, kiến trúc, triển lãm tranh,…)

 Lễ hội và sự kiện (lễ hội văn hóa, âm nhạc, sự kiện thể thao, ngày hội…)

 Sinh hoạt tín ngưỡng (chùa, đình, nhà thờ, lễ hành hương…)

 Nghệ thuật thủ công (dệt, làm gốm, thủ công, đan, thêu…

 Môi trường dã ngoại (làng, trang trại, công viên, bảo tàng sinh thái, vùng sinh thái…)

 Ngôn ngữ (học tập và thực hành ngôn ngữ)

 Công nghiệp và tài chính (viếng thăm nhà máy, công xưởng sản xuất, nhà máy rượu,…)

 Văn hóa hiện đại (hip hop, pop, mua sắm, thời trang, thiết kế, truyền thông…)

 Sưu tầm (ảnh, tranh, gốm, tiền cổ, xe cổ, đá lạ, chứng tích…)

Trang 17

1.1.2.3 Các nguyên lý cơ bản của du lịch văn hóa8

Hội đồng quốc tế về những công trình kỷ niệm và khu di tích ICOMOS (Internation Council On Monument and Sites) đã đưa ra các nguyên lý của du lịch văn hóa tại Mexico vào năm 1999

phương tiện tiên phong cho sự trao đổi văn hóa, trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tạo cơ hội cho cộng đồng địa phương cũng như khách tham quan những kiến thức để hiểu rằng văn hóa và di sản của cộng đồng là ưu tiên hàng đầu

(Since domestic and international tourism is among the foremots vehicles for cultural exchange, conservation should provide responsible and well managed opportunities for members of the host community and visitors to experiences and understand that community’s heritage and culture at first hand.)

thì năng động và có thể liên quan đến các xung đột giá trị Nó nên được quản lý theo cách bền vững cho các thế hệ hiện tại và tương lai

(The relationship between Heritage Places and Tourism dynamic and may involve conflicting values It should be managed in a sustainable way present and future generation.)

lịch cho những nơi có di sản phải đảm bảo rằng trải nghiệm của du khách sẽ được thõa mãn, thú vị và đánh giá

(Conservation and tourism planning for Heritage Places should ensure that Visitor Experience will be worthwhile, satisfying and enjoyable.)

được liên đới trong kế hoạch bảo tồn và phát triển du lịch

8 Nguyễn Trần Thanh Quyên, Xây dựng mô hình làng văn hóa du lịch Chăm Koh Koi, TP HCM, 2008, trang 26,27

Trang 18

(Host community and indigenous people should be involved in planning for conservation and tourism.)

ích cho cộng đồng

(Tourism and conservation activities should benefit the host community.)

và nâng cao những đặc trưng của những di sản văn hóa và tự nhiên

(Tourism programmes should protect and enhace Natural and Cultural Heritage characteristics

1.1.3 Mối tương quan giữa du lịch và văn hóa

Văn hóa là một khái niệm rộng và giữa văn hóa và các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội hầu như không có ranh giới rõ rệt Văn hóa không chỉ tác động đến kinh tế, chính trị mà còn có sự tương tác đặc biệt với du lịch Văn hóa được xem là tiền đề, là yếu

tố cơ sở cho du lịch phát triển Ngược lại, du lịch cũng có những tác động đến văn hóa, ở một mức độ nào đó, nó có thể giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc

1.1.3.1 Ảnh hưởng của văn hóa đến du lịch

Các đối tượng văn hóa được xem là tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn Nếu như tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn du khách bởi sự hoang sơ, độc đáo, hiếm lạ của nó thì tài nguyên du lịch nhân văn lại thu hút du khách bởi tính phong phú, đa dạng, tính truyền thống và nét đặc trưng riêng của một vùng đất Các đối tượng văn hóa là cơ sở để tạo nên các loại hình du lịch văn hóa Mặt khác, nhận thức văn hóa còn là yếu tố thúc đẩy động

cơ du lịch của du khách Như vậy, xét dưới góc độ thị trường thì văn hóa vừa là yếu tố cung, vừa góp phần hình thành yếu tố cầu của hệ thống du lịch

Trang 19

Trong một chừng mực nào đó, có thể xét mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch thông qua một số phương tiện và sản phẩm cụ thể

Các sản phẩm như tranh vẽ, đồ gốm, tượng nặn hay vải dệt, tạo nên một động lực thúc đẩy rất lớn đối với ngành du lịch Những sản phẩm văn hóa tại điểm du lịch văn hóa

có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách Điều này cũng dễ hiểu bởi một tâm lý chung của khách khi đi du lịch là họ rất thích những sản phẩm đặc trưng, là biểu tượng của văn hóa tại nơi họ đến Họ thường có tâm lý chung là đều thích mua một món quà làm kỷ niệm hay có thể tặng cho gia đình, bạn bè ở nơi mà họ đã đi qua Vì vậy, xu hướng chung hiện nay tại các điểm du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa là tập trung giới thiệu sản phẩm du lịch của địa phương Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã trở nên khá quen thuộc với

du khách Nhưng hiện nay, tại một số địa phương, sản phẩm du lịch văn hóa không chỉ là những sản phẩm vật chất mà đã bắt đầu xuất hiện những sản phẩm về mặt tinh thần Nó cũng đã thu hút được khá nhiều sự quan tâm của du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài Sản phẩm về mặt tinh thần chủ yếu là sản phẩm thuộc lĩnh vực nghệ thuật Dân ca

và văn nghệ truyền thống hay hiện đại là một trong những biểu hiện của văn hóa Hiện nay, ở một số nước trên thế giới, âm nhạc là nguồn chủ yếu để mua vui và làm hài lòng

du khách tại những nơi họ lưu trú Ở Việt Nam, di sản văn hóa phi vật thể chính là dân ca

và nghệ thuật trình diễn “Hiếm có một quốc gia nào trên thế giới lại có các làn điệu dân

ca và nghệ thuật trình diễn phong phú như ở Việt Nam Tiêu biểu và đặc trưng trong các làn điệu dân ca phải kể đến ca Huế, các điệu hò, điệu lý Nam Bộ, hát quan họ, hát ca trù,…

Tiêu biểu và đặc trưng trong nghệ thuật trình diễn này phải kể đến nghệ thuật múa

2 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận, đó là: Nhã nhạc cung đình Huế (17/11/2003) và Cồng chiêng Tây Nguyên (15/11/2005)

9 Lê Thị Vân, Giáo trình văn hóa du lịch, NXB Hà Nội, 2006, trang 19

Trang 20

Tín ngưỡng tôn giáo cũng là một lĩnh vực có liên quan đến hoạt động du lịch và đang được đông đảo du khách quan tâm Có thể thấy được rằng: “Tín ngưỡng là niềm tin đến mức ngưỡng mộ một tôn giáo hay một nhân vật lịch sử nào đó với mong muốn sẽ đem lại những điều tốt đẹp nhất đến với con người” Vì vậy mà khi du khách đến nơi có tôn giáo mà họ tín ngưỡng họ sẽ nhận được sự đồng cảm của người dân địa phương có cùng tôn giáo với họ Một trong những địa danh du lịch tôn giáo hấp dẫn hiện nay là: Meca, Zeruxamen, Ấn Độ, Campuchia,…

1.1.3.2 Ảnh hưởng của du lịch đến văn hóa

Một trong những chức năng của du lịch là giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, các cộng đồng Khi đi du lịch, du khách muốn được tìm hiểu, hòa nhập vào các hoạt động văn hóa của địa phương Tuy nhiên, ngoài những yếu tố tích cực thì sự giao lưu văn hóa giữa du khách và vùng du lịch cũng không tránh khỏi tiêu cực

Mặt tích cực mà sự giao lưu văn hóa này mang lại đó là du khách có cơ hội tìm hiểu, cảm nhận những nét văn hóa đặc sắc, đậm đà bản sắc dân tộc Song song tồn tại với

nó là việc những người dân bản xứ có cơ hội tiếp cận, hiểu thêm những nền văn hóa khác nhau từ du khách Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì bên cạnh sự hội nhập kinh tế thế giới về kinh tế, giáo dục,…sự hội nhập về văn hóa cũng là một yếu tố quan trọng giúp các quốc gia phát triển hơn Với điều kiện của nước ta thì sự giao lưu văn hóa qua quá trình du lịch tạo thuận lợi cho người dân thẩm nhận những giá trị văn hóa tốt đẹp từ những dòng văn hóa khác nhau Từ đó có thể lựa chọn, bổ sung cho nền văn hóa của địa phương, dân tộc mình với xu thế tiến bộ là hòa nhập mà không hòa tan

Bên cạnh những tác động mang tính tích cực thì hoạt động du lịch cũng đã là ảnh hưởng đến sự phát triển của văn hóa, đặc biệt là của các nước nghèo

Một trong những xu hướng thường thấy ở các nước nghèo đón khách du lịch là người giàu có hay dân bản xứ, đặc biệt là giới trẻ Họ chối bỏ những giá trị văn hóa

Trang 21

truyền thống, thay đổi cách sống, chạy theo mốt Đó là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự suy giảm chất lượng văn hóa của dân tộc

Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến văn hóa, xã hội còn thể hiện qua quan hệ giữa du khách và người dân địa phương Nhìn chung, theo thời gian, thái độ của người dân sở tại đối với du khách đầu tiên xuất hiện, người dân địa phương tỏ ra hào hứng, du khách được tiếp đón nồng hậu với tất cả lòng quý trọng và mến khách của chủ Nhưng đó chỉ là lần đầu tiên, sau một thời gian, quan hệ tình cảm giữa du khách với người dân địa phương ngày càng trở nên nguội lạnh và thay vào đó là mối quan hệ về kinh tế với những

du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài Đôi khi, sự có mặt của quá nhiều du khách cũng ảnh hưởng đến tâm lý, nếp sống, sinh hoạt của người dân địa phương Tâm lý khó chịu của người dân sở tại sẽ dẫn đến những nét đẹp trong văn hóa giao tiếp, ứng xử cũng giảm dần

Du lịch, văn hóa và kinh tế là ba lĩnh vực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Để đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của du khách và để chạy theo lợi nhuận kinh tế mà người ta tổ chức những chương trình văn hóa, văn nghệ chất lượng thấp hay bán những mặt hàng giả truyền thống Những mặt hàng truyền thống nhưng lại được sản xuất hiện đại và cẩu thả làm méo mó giá trị thiết thực của nó, làm sai lệch hình ảnh của nền văn hóa bản địa

Du lịch và văn hóa là hai phạm trù có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sự phát triển của lĩnh vực này cũng có những tác động nhất định đến lĩnh vực kia Chính vì vậy, để cả hai lĩnh vực này phát triển đồng bộ thì rất cần đến sự hợp tác giữa cơ quan văn hóa, cơ quan du lịch và những người dân để những sản phẩm văn hóa thực sự là tài nguyên, là nền tảng cho ngành du lịch phát triển Và cùng với nó thì hoạt động du lịch góp phần thúc đẩy công tác bảo tồn, lưu giữ và phát triển những giá trị văn hóa

1.2 Du lịch văn hóa ở nước ta hiện nay

Ngày nay, trên thế giới du lịch văn hóa không còn là một khái niệm đơn thuần nữa, nó đã trở thành một ngành khoa học thật sự Ở những nước kém phát triển hoặc đang

Trang 22

phát triển, nền tảng phát triển phần lớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền mà thường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc Đó chính là cơ sở, điều kiện để loại hình du lịch văn hóa phát triển và du lịch văn hóa đang là xu hướng phát triển chung của nhiều quốc gia

Ở Việt Nam, xét về nhiều khía cạnh như: điều kiện kinh tế xã hội, kinh tế, văn hóa…thì loại hình du lịch này tuy còn khá mới mẻ nhưng nó khá phù hợp với bối cảnh của nước ta hiện nay Du lịch văn hóa đã đóng góp không nhỏ trong quá trình làm phong phú, đa dạng và đem lại nhiều khởi quan cho ngành du lịch Việt Nam Không chỉ đem lại lợi ích kinh tế mà còn là con tàu đưa nền văn hóa phong phú đa dạng nhưng đậm đà bản sắc dân tộc của dân tộc ta vươn mình ra với bạn bè thế giới, hòa nhịp thở cùng con tàu văn hóa của cả địa cầu Chính vì thế mà, hiện nay du lịch văn hóa được xem là hướng phát triển của ngành du lịch nước ta

Việt Nam là quốc gia có nền văn hóa dân tộc vô cùng phong phú và đa dạng Với hơn 50 dân tộc anh em, mỗi dân tộc mang một bản sắc văn hóa riêng, một ngôn ngữ riêng, một phong tục tập quán riêng, một ngành nghề truyền thống riêng Tất cả những cái riêng ấy hòa với nhau tạo nên một tổng thể chung vô cùng đặc sắc Đi dọc chiều dài đất nước từ Bắc vào Nam, từ miền cao xuống miền xuôi, mỗi miền mỗi vùng đều là một điểm đến lí tưởng Từ những di tích lịch sử vẻ vang với bề dày lịch sử gìn giữ độc lập dân tộc cho đến những lễ hội truyền thống …Tất cả những thứ ấy tạo nên một nền tảng vững chắc cho nền du lịch nước ta Là đà đẩy cho loại hình du lịch văn hóa hình thành tồn tại

và phát triển

Trong những năm gần đây, định hướng văn hóa trong phát triển du lịch bước đầu

đã mang lại nhiều thành công Sau 4 năm nỗ lực hoạt động, lần đầu tiên Việt Nam đón người khách thứ 1triệu (26/12/1994), đó là một kết quả ngoài mong đợi của ngành du lịch nước ta Và cứ thế, năm 2000, ngành du lịch nước ta chủ trương đưa ra chương trình

“Liên hoan văn hóa du lịch Việt Nam” với nhiều hoạt động hay, ý nghĩa thu hút đông đảo

sự quan tâm của du khách Cũng trong thời điểm này khẩu hiệu “Việt Nam - điểm đến

Trang 23

thiên niên kỉ mới” cũng ra đời Tiếp đó là nhiều hội họp quốc tế về du lịch được tổ chức

ở Việt Nam Đó là một trong những điểm đáng mừng cho nền du lịch văn hóa nước ta

Hơn 5 năm trở lại đây, các hoạt động lễ hội văn hóa diễn ra khá sôi động tại khắp các vùng miền của đất nước Ngoài những lễ hội văn hóa tôn giáo cổ truyền có từ xa xưa thì gần đây nhiều mô hình lễ hội văn hóa ra đời như : festival Huế (Huế), festival hoa Đà Lạt(Lâm Đồng) , festival Trà(Lâm Đồng), festival biển (Vũng Tàu)…Ngoài mục đích làm phong phú cho hoạt động phát triển của ngành du lịch còn là cơ hội nhằm quảng bá nét đặc sắc tinh hoa văn hóa dân tộc tới du khách, cộng đồng thế giới Tuy tất cả chỉ mới

sơ khai nhưng đã đem lại không ít thành công Đó là điểm khả quan cho ngành du lịch nói chung và loại hình du lịch văn hóa nói riêng

Ngoài ra, du lịch văn hóa nước ta đã tận dụng rất hiệu quả việc đưa du khách về với bản làng, các vùng dân tộc với bản sắc văn hóa phong phú mới lạ với nhiều phong tục tập quán và về với các làng nghề truyền thống Ví dụ như các tour du lịch về các về làng nghề cổ truyền trên khắp các vùng miền, đến với Tây Nguyên là đến với không khí hào hùng của “cồng chiêng”, về miền Tây Nam Bộ với sông nước và những câu hò, những kiến trúc của đồng bào Chăm hay lễ hội Bà Chúa Xứ…

Qua đó ta thấy rằng, Việt Nam đã nắm bắt được tầm quan trọng của văn hóa trên con đường phát triển du lịch Và như thế bước đầu ta đã thu về nhiều kết quả khả quan Lượng du khách đã tăng lên thấy rõ Tuy đem so sánh với các quốc gia khác như các nước ở Châu Âu thì đó là con số bé, sẽ có sự chênh lệch khá lớn Nhưng nếu xét về lịch

sử hình thành, sự đầu tư thì có lẽ người ta sẽ không ngạc nhiên về sự chênh lệch đó Biết rằng, bên cạnh những thành công nhất định thì vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, nhưng các cấp lãnh đạo, giới chuyên môn đang ngày càng hoàn thiện để những hạn chế ấy không còn nữa Như ta biết rằng trong thời gian này các nước Châu Âu đang ráo riết triển khai phát triển chiến lược du lịch văn hóa Và bước đầu họ đã khá thành công trong chiến lược gọi là “Kỉ nguyên phát triển du lịch văn hóa Châu Âu” với những nền tảng vững chắc Bên cạnh đó, họ tập trung nghiên cứu đào sâu về du lịch văn hóa, thúc đẩy hợp tác đầu tư

Trang 24

khá mạnh vào du lịch văn hóa và xem đó là nước cờ quan trọng để giành thắng lợi cho chiến lược mà họ đề ra Có lẽ đó cũng nên là những kinh nghiệm đối với Việt Nam

Trang 25

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

diện tích toàn tỉnh Đây là nơi tiếp nhận dòng chảy đầu tiên của sông Hậu từ Campuchia vào Việt Nam Phía Tây và Bắc giáp Campuchia; phía Đông giáp huyện Tân Châu; phía Nam giáp ngã ba sông Hậu ở Châu Đốc

Bản đồ tỉnh An Giang và vị trí huyện An Phú trong tỉnh An Giang

Cũng giống như hầu hết các địa phương khác ở miền Tây Nam Bộ, khí hậu của cả tỉnh An Giang cũng như của An Phú là kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ quanh

Trang 26

năm của An Phú là từ 25 – 30 độ C Lượng mưa trung bình trong năm khoảng từ 1000 –

3000 mm, chủ yếu vào các tháng 7, 8, 9 An Phú chịu tác động chủ yếu của hai luồng gió

là gió Nồm (gió Nam) và gió Bấc Nhưng nhìn chung, khí hậu An Phú tương đối dễ chịu, điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc sinh hoạt cũng như sản xuất của người dân địa phương

Huyện có địa thế chia làm ba phần, phần sông Hậu chạy xuyên ở giữa chia đôi mảnh đất, đồng thời sau nhiều năm tích tụ tạo nên cù lao An Phú nổi lên giữa sông chia làm 2 nhánh nhỏ: nhánh bên bờ tây rộng chừng 300m (gọi là sông Bình Di), nhánh bên

bờ đông rộng hơn Trên địa bàn An Phú có khá nhiều kênh rạch như kênh Xáng, kênh Bảy Hữu, kênh Mới, kênh Vĩnh Lộc, kênh Vĩnh Lợi, kênh Vĩnh Hậu,…Bên cạnh đó còn

có rạch Cỏ Lau, Búng Bình Thiên, Bưng Bầu Nâu, Búng Nhỏ

Hầu hết diện tích huyện An Phú là đồng bằng thấp, nằm ở đầu nguồn, lại cộng thêm mạng lưới kênh rạch dày đặc, nên hàng năm An Phú chịu ảnh hưởng nặng nề của mùa lũ hay còn gọi là mùa nước nổi Vào mùa mưa, huyện An Phú là huyện bị ngập lụt nặng nề nhất Khoảng từ tháng 6 hàng năm, mực nước trên sông Mê Công dâng cao, mưa nhiều kết hợp với lượng nước tích tụ tại biển Hồ của Campuchia làm gần như toàn bộ khu vực này bị chìm trong biển nước, độ ngập trung bình khoảng 2-3 mét Thời gian ngập lụt kéo dài khá lâu, thường là khoảng 6 tháng nên có ảnh hưởng rất lớn đến tập quán sinh hoạt, sản xuất của người dân Vì vậy mà đòi hỏi người dân nơi đây phải biết chủ động trong việc “sống chung với lũ” và cũng cần phải chú trọng đến công tác bảo vệ đê điều,

hệ thống thủy lợi để có thể đảm bảo cho việc sinh hoạt và sản xuất của người dân nơi đây

Địa thế của An Phú khá thuận lợi, án ngữ nơi đầu nguồn của sông Mê Kông khi từ Campuchia vào Việt Nam, nằm trên tuyến đường giao thông thủy nối liền các tỉnh miền Tây ven sông Hậu Việt Nam với Thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia Kết hợp địa thế với điều kiện chung của toàn tỉnh An Giang thì An Phú có những đặc thù riêng về mặt tự

Trang 27

nhiên, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và cả các ngành thương mại và dịch vụ khác

2.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội

An Phú có tổng cộng 12 xã và 2 thị trấn Đó là các xã: Vĩnh Hậu, Vĩnh Lộc, Vĩnh Trường, Đa Phước, Phước Hưng, Phú Hữu, Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội, Phú Hội, Vĩnh Hội Đông và Quốc Thái Và 2 thị trấn đó là thị trấn An Phú và thị trấn Long Bình mới thành lập năm 2006

Dân cư sinh sống nhiếu nhất ở An Phú là người Kinh Họ bắt đầu di cư đến đây vào thế kỷ XIX, thành phần chủ yếu là nông dân thợ thủ công nghèo từ Bắc trở vào Ngoài ra còn có số ít người là phạm nhân bị lưu đày và binh lính ở lại sau khi giải ngũ Người Kinh đã có công lớn trong việc bảo vệ và xây dựng An Phú giàu đẹp như ngày nay

Bên cạnh đó, cộng đồng người Chăm và người Hoa cùng sinh sống ở nơi đây Cộng đồng người Chăm tại An Phú thuộc vào cộng đồng người Chăm miền Tây và có dân số đông nhất tỉnh An Giang Họ chủ yếu là người di cư từ Nam Trung Bộ, Campuchia, một ít ở Mã Lai đến An Phú sinh cư, lập nghiệp Hiện nay, cả huyện có tổng cộng 5 ấp có dân tộc Chăm sinh sống Đó là ấp 3 (xã Khánh Bình), ấp 3 (xã Nhơn Hội),

ấp 1 (xã Quốc Thái), ấp La-ma (xã Vĩnh Trường) và ấp Hà Bao II (xã Đa Phước) Ngành nghề chủ yếu của họ là nông nghiệp, sản xuất thủ công (nổi tiếng với làng nghề dệt khăn làm lưu niệm), đánh bắt thủy sản, một số khác đi buôn bán khắp các nơi ở miền Tây và Thành phố Hồ Chí Minh

Cộng đồng người Hoa ở An Phú là chủ yếu là con cháu của những thương nhân từng buôn bán trên tuyến đường Nam Vang – Châu Đốc và một số nơi di cư đến Họ sống chủ yếu tại các chợ, sau nhiều năm định cư đã gần như hòa trộn vào cộng đồng người Kinh Họ sống tập trung chủ yếu ở các thị trấn Nghề nghiệp chính của họ là buôn bán, chữa bệnh đông y, tiểu thủ công nghiệp…

Trang 28

Điểm đáng lưu ý là không như hầu hết các địa phương giáp biên giới khác của tỉnh

An Giang, tại An Phú không có người Khmer định cư mà chỉ có một số ít sang buôn bán nhỏ

Cũng giống như đa số người miền Tây, người dân nơi đây với những tính cách cần

cù, siêng năng, chịu thương, chịu khó, hiền lành và phóng khoáng Họ đã phải trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, cùng chung tay, góp sức xây dựng quê hương An Phú Trong tổng số lao động của huyện thì có hơn 80% dân cư lao động tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp, 10 – 15% là tham gia vào lĩnh vực thương mại và dịch vụ, 5% tham gia vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng

Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện tăng theo từng năm Năm 2008, đạt 12,32%, cao hơn năm 2007 là 0,32% Trong đó khu vực Nông nghiệp tăng 5% chiếm tỉ trọng 43,45%; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 18%, chiếm tỷ trọng là 8,53%; khu vực thương mại

và dịch vụ tăng 20%, chiếm tỷ trọng là 48,02% GDP bình quân đầu người đạt 12,760 triệu đồng (tăng 3,470 triệu đồng/người so với năm 2007), đạt 121,0%

Biểu đồ thể hiện tỷ trọng cơ cấu kinh tế huyện An Phú năm 2008

Trang 29

Từ biểu đồ trên ta có thể thấy rằng ngành thương mại và dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế chung của huyện Năm 2008, doanh thu thương mại và dịch vụ đạt được 2.500 tỷ đồnng, đạt 104 % kế hoạch năm, tăng 25% so với cùng kỳ (trong đó tỷ

lệ bán lẻ đạt 2.125 tỷ đồng) Chương trình mời gọi đầu tư tiếp tục thu được kết quả tốt, điển hình là Trung tâm thương mại An Phú xây dựng hoàn thành giai đoạn 1 và đã đưa vào khai thác tháng 6 năm 2008, cụm CN – TTCN huyện, khu trung tâm thương mại Khánh An,…đi vào thực hiện Các hoạt động mời gọi đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh, huyện đã thỏa thuận được với đối tác thực hiện 11 dự án, với tổng vốn đầu tư là 421 tỷ đồng, gồm: mở rộng TDC Kênh Thầy Ban, trung tâm thương mại thị trấn An Phú, khách sạn Minh Phương, cụm CN – TTCN huyện, tuyến đường và TDC Cột Dâu Thép, KDC chợ Phú Lợi – Phú Hữu, KDC cua Công Cải, TDC ấp 4 và ấp 3 (mở rộng) – Vĩnh Lộc, KDC Thương mại Khánh An Trong đó có 2 dự án: KDC thương mại Đồng Ky – Quốc Thái và Trung tâm thương mại thị trấn An Phú hoàn thành và đưa vào khai thác Ngoài ra còn có 5 dự án được tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư với tổng số vốn là 2.237 tỷ đồng, gồm: khu đô thị Cồn Tiên, đường xuyên huyện, khu đô thị thương mại của khẩu Khánh Bình, đường vành đai – cầu kênh thị trấn An Phú và khu du lịch Búng Bình Thiên

Các lĩnh vực văn hóa – xã hội phát triển khá đồng bộ; chất lượng học tập ở các cấp học được nâng cao; công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân được quan tâm chú trọng, công tác đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm đi vào thực hiện tốt

An ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện được đảm bảo, tình hình biên giới ổn định

Với những điều kiện kinh tế văn hóa xã hội mà huyện đã và đang có được đã giúp chúng ta phần nào thấy được An Phú đang dần chuyển mình để ngày càng phát huy rõ vai trò chiến lược của vùng đất biên cương Vùng đất này đang ngày càng phát triển, giàu mạnh với sự chung tay đóng góp của các dân tộc anh em: Kinh, Chăm, Hoa, Khmer trong tinh thần đoàn kết, gắn bó trong một thời gian dài

Trang 30

2.1.3 Định hướng phát triển du lịch huyện An Phú

Trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện An Phú có một mục tiêu rất đáng quan tâm Đó là: “Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ trọng khu vực thương mại – dịch vụ - du lịch và công nghiệp xây dựng…” “Tập trung phát triển các dịch vụ có ưu thế về thương mại, du lịch, vận tải…Phát triển du lịch trên cơ sở khai thác

có hiệu quả lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống lịch sử văn hóa dân tộc, khu du lịch Búng Bình Thiên, khu căn cứ B3 Vạt Lài, giồng Cây Da, văn hóa dân tộc

phát triển du lịch ở địa phương

Cho đến nay, huyện cũng đã mời gọi được khá nhiều các nhà đầu tư, khai thác các tiềm năng du lịch tại địa phương, biến những lợi thế của vùng thành thế mạnh để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa

Việc chủ động đề ra các chương trình phát triển du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung cộng với sự quan tâm của tỉnh An Giang, huyện An Phú hiện đã có những chương trình cụ thể phát triển du lịch: xây dựng kết cấu hạ tầng ở khu vực cửa khẩu Khánh Bình, khu du lịch Búng Bình Thiên, khu du lịch Cồn Tiên Bên cạnh những chương trình phát triển du lịch thì huyện cũng đã có những dự án về kinh tế nhằm góp phần nâng cao hiệu quả du lịch, một trong số đó là dự án xây dựng khu đô thị Cồn Tiên Ngoài ra còn có những dự án đã được đề ra và đang chờ Chính phủ xét duyệt

Ta có thể thấy được nhân dân và chính quyền An Phú trong bước đầu làm du lịch như thế nào Hoạt động du lịch chưa đi vào chuyên nghiệp, chủ yếu là du lịch tự phát song điều đó đã giúp cho việc quảng bá hình ảnh quê hương An Phú với các nhà doanh nghiệp, các nhà đầu tư, du khách và với tất cả những ai quan tâm đến thiên nhiên, con người và văn hóa nơi đây

10 UBND Huyện An Phú, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 – 2010, 2005

Trang 31

Chủ trương phát triển kinh tế của huyện đã đề ra việc “đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của huyện” Điều này cho thấy nhân dân và chính quyền huyện An Phú đang cố gắng, nỗ lực hết sức mình cho việc phát triển du lịch tại huyện nhà

2.2 Khái quát về Chăm Islam ở An Giang

2.2.1 Nguồn gốc người Chăm An Giang

Căn cứ vào một số thư tịch cổ, tư liệu dân tộc học, một số bài hát dân gian Chăm trong đồng bào còn nhớ được, một vài hiện vật còn lưu giữ về văn tự cổ, so sánh về dân tộc học và lịch sử di cư, nhất là quyết định xác minh cộng đồng dân tộc của Tổng cục Thống kê Việt Nam ngày 2/3/1979, cho phép ta kết luận: Người Chăm An Giang, người Chăm miền Nam Trung Bộ đều có chung nguồn gốc lịch sử với nhau từ lâu đời Kể cả

hương sang Campuchia nhiều đợt khác nhau trong khoảng thời gian từ thế kỷ XV đến thế

kỷ XIX Nhưng từ giữa thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, dưới tác động của nhiều nguyên nhân lịch sử, họ đã chuyển cư về địa bàn các tỉnh Nam Bộ của Việt Nam ngày nay

Đợt chuyển cư quan trọng nhất của người Chăm và người Bồ Đà từ Chân Lạp về Nam Bộ là trong các năm 1854, 1857 Họ có khoảng 5000 người, được định cư trên các

cù lao và hai bên bờ sông Hậu, phân bố thành 7 làng là: Kattambong, Châu Giang, Phum Soài, Lama, Koh Coi, Koh Kia, Sabau, đoạn sông cù lao Kattambong đến biên giới Việt Nam – Campuchia Người Chăm An Giang hiện nay cũng cư trú chủ yếu trên bảy làng trên và lập thêm hai làng mới đó là Koh Kapoah (ấp Hà Bao, xã Đa Phước, huyện An Phú) và Vĩnh Hanh (huyện Châu Thành) tỉnh An Giang

11 Lâm Tâm, Một số tập tục người Chăm An Giang, NXB Chi hội văn nghệ dân gian Việt Nam và Hội văn nghệ Châu Đốc, 1994, trang 13,14

Ngày đăng: 25/04/2021, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w