... khác thi pháp tiểu thuyết - Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống: trọng phƣơng pháp coi thi pháp tiểu thuyết Tạ Duy Anh chỉnh thể toàn vẹn, thể thống tác giả mặt thi pháp viết tiểu thuyết Những phƣơng pháp. .. vật Tạ Duy Anh thấp thoáng bóng dáng thân nhà văn Tác giả Tạ Duy Anh lằn ranh thi n ác [52] gọi Tạ Duy Anh “nhà văn thời điểm” đƣa số nhìn quan niệm ngƣời tác giả Tạ Duy Anh: “Nhân vật Tạ Duy Anh. .. hai: Thế giới hình tƣợng tiểu thuyết Tạ Duy Anh Chƣơng ba: Kết cấu ngôn từ nghệ thuật tiểu thuyết Tạ Duy Anh 12 CHƢƠNG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ TUỆ NHƯ
THI PHÁP TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS TÔN THẤT DỤNG
Đà Nẵng, Năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Tôn Thất Dụng
Số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác
Người cam đoan
Nguyễn Thị Tuệ Như
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
5 Cấu trúc luận văn 11
CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH TRONG BỐI CẢNH
ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 12
1.1 KHÁI LƯỢC VỀ NHỮNG THÀNH TỰU CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 12
1.1.1 Tiểu thuyết và cuộc hành trình của một thể loại 12
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975- nhìn từ những thành tựu 17
1.2 VỊ TRÍ CỦA TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH TRONG QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975 29
1.2.1 Tạ Duy Anh - “lão Khổ” trong văn chương 29
1.2.2 Vị trí của tiểu thuyết Tạ Duy Anh trong quá trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 34
CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG CỦA TIỂU THUYẾT TẠ
DUY ANH 40
2.1 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT 40
2.1.1 Đặt nhân vật trong vòng xoáy của tội ác 41
2.1.2 Để nhân vật tự bộc lộ bản thể qua những giấc mơ 53
2.1.3 Bút pháp phê phán nhân vật đám đông 59
2.2 HÌNH TƯỢNG KHÔNG GIAN 67
2.2.1 Không gian hiện thực - một không gian tù đọng và đầy bất trắc 68
2.2.2 Không gian tâm tưởng - không gian của nỗi sợ hãi và sự cô đơn 72
Trang 42.3 HÌNH TƯỢNG THỜI GIAN 76
2.3.1 Thủ pháp phân mảnh thời gian 77
2.3.2 Thiên về khai thác chiều thời gian quá khứ 86
CHƯƠNG 3 KẾT CẤU VÀ NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH 90
3.1 KẾT CẤU 90
3.1.1 Cách tổ chức sự việc theo hướng phi lí 90
3.1.2 Sự dịch chuyển liên tục giữa các điểm nhìn trần thuật 97
3.2 NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT 105
3.2.1 Dồn nén lượng thông tin cho ngôn ngữ 106
3.2.2 Giễu nhại bằng hình thức nói mỉa 111
KẾT LUẬN 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng liệt kê các sự việc trong tiểu thuyết Lão Khổ theo
Bảng 2.2 Bảng liệt kê các sự việc trong tiểu thuyết Đi tìm nhân
Bảng 2.3 Bảng liệt kê các sự việc trong tiểu thuyết Giã biệt bóng
Bảng 3.1 Bảng liệt kê các điểm nhìn trần thuật trong tiểu thuyết
Trang 6ác như thế không? Và những khúc mắc trăn trở về bản chất con người, những nhức nhối nghĩ suy về tội ác của con người đã khiến chúng tôi tìm đến với gương mặt Tạ Duy Anh như một sự lựa chọn tự nhiên, bởi Tạ Duy Anh là nhà văn viết nhiều về cái ác, cái xấu với một nỗi đau khôn nguôi về bản chất của con người Như chính nhà văn từng tâm sự: “Tự tôi đặt cho mình sứ mệnh phải viết, để cho cái ác nếu không biến mất thì cũng vì những trang viết của tôi mà mỗi ngày ít đi một chút, một chút, như những hạt bụi” [52]
Nhìn lại tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, có thể thấy, đến nay chúng
ta đã có một quãng thời gian đủ dài để nhìn lại chặng đường gần 30 năm đổi mới văn học Sự xuất hiện của nhiều cây bút trẻ tài năng đã làm nên diện mạo mới mẻ cho văn học nước nhà Và, dù sau này tương lai văn học Việt Nam có bừng rộ như thế nào, người ta cũng không thể quên những ngày đầu đổi mới đầy khó khăn với những gương mặt tiên phong, trong đó, nổi bật lên là Tạ Duy Anh - người góp phần không nhỏ tạo nên bước chuyển quan trọng trong hành trình đổi mới văn học Tràn đầy tinh thần cách tân, Tạ Duy Anh đã sử dụng một cách tối đa khả năng của ngôn ngữ và của thể loại để biểu đạt một cách hiệu quả ý tưởng, tình cảm của mình Tạ Duy Anh là tác giả của những tác phẩm luôn làm bạn đọc giật mình và suy ngẫm bởi những vấn đề gai góc của xã hội hiện đại Trong lăng kính đa chiều, Tạ Duy Anh đã nhìn hiện thực một cách lí trí, lạnh lùng nhưng đầy thương xót con người Cái tên Tạ Duy
Trang 72
Anh thực sự đã tạo ra một “từ trường” riêng hấp dẫn và lôi cuốn độc giả Tạ
Duy Anh còn là tác giả của tác phẩm Bức tranh của em gái tôi - một truyện ngắn đoạt giải nhì trong cuộc thi viết Tương lai vẫy gọi của báo Thiếu niên Tiền Phong, in trong tập Con dế ma - Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội, năm
1999, và được đưa vào chương trình Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6 (tập 2,
trang 30) Ngoài ra, trong chương trình phổ thông nhà trường, chúng ta còn
được gặp Tạ Duy Anh qua đoạn trích Cánh diều tuổi thơ trong Sách giáo
khoa Tiếng Việt 4 (tập 1, trang 146)
Cho đến nay, nghiên cứu về Tạ Duy Anh đã không còn là công việc hoàn toàn mới mẻ Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác phẩm Tạ Duy Anh ở nhiều phương diện khác nhau và ở những thể loại khác nhau Tuy nhiên, một điều thú vị là càng tiếp xúc với tác phẩm của Tạ Duy Anh càng phát hiện ra những điều mới mẻ, lôi cuốn và cả những điều chờ được “nhận thức khác đi” Bởi những đứa con tinh thần của nhà văn này - dù là truyện ngắn hay tiểu thuyết - đều gây được hiệu ứng đa chiều ở độc giả và tạo ra sự phân cực sâu sắc trong tiếp nhận Thời gian trôi qua chúng ta lại càng có điều kiện nghiền ngẫm kĩ lưỡng về những gì Tạ Duy Anh đã viết Nhằm khẳng định sâu sắc hơn nữa đóng góp của Tạ Duy Anh cho nền văn học đương đại
và nhằm hướng đến một công trình có tính khái quát cao về giá trị của văn chương Tạ Duy Anh, đặc biệt là ở mảng tiểu thuyết, chúng tôi đã chọn đề tài:
Thi pháp tiểu thuyết Tạ Duy Anh Bởi dù có người đã cáo chung cho thể loại
tiểu thuyết thì thể loại này vẫn có vị thế cột sống và đóng vai trò quyết định căn cốt diện mạo một nền văn học Bởi đối với Tạ Duy Anh thì tiểu thuyết chính là nơi thể hiện rõ nhất tài năng cũng như sự dấn thân “khước từ truyền thống” của anh để xác lập những hình thức nghệ thuật mới cho văn học Nghiên cứu về thi pháp tiểu thuyết Tạ Duy Anh vừa nhằm khẳng định những
Trang 8sẽ giúp việc thẩm định một hiện tượng văn học vốn có nhiều luồng ý kiến trái chiều được chính xác, có cơ sở, độ tin cậy cao, khắc phục dần sự tùy tiện, võ đoán khi thưởng thức tác phẩm
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, tập trung vào bốn tiểu thuyết sau:
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài triển khai trên một số bình diện thi pháp tiểu thuyết Tạ Duy Anh như thế giới hình tượng, kết cấu và ngôn từ nghệ thuật
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó đặc biệt là các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: “thi pháp” vốn là vấn đề không thể nhận thức một cách trực quan được, muốn tiếp cận nó phải thông qua một khâu trung gian là hình thức nghệ thuật của tác phẩm Vì vậy, cần sử dụng thao tác phân tích để chia tách các yếu tố hình thức trong tác phẩm, sau đó tổng hợp để nhận diện về vấn đề thi pháp
- Phương pháp khảo sát - thống kê: đề tài không nhằm hướng đến thi pháp trong một tác phẩm cụ thể mà là vấn đề thi pháp trong nhiều tác phẩm
Trang 94
tiểu thuyết của Tạ Duy Anh Vì vậy cần sử dụng phương pháp khảo sát - thống kê như một công cụ hữu hiệu nhằm tìm kiếm sự lặp lại của các yếu tố hình thức trong các tác phẩm cũng như tăng thêm tính khoa học cho các kết luận được nêu ra
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: luận văn sử dụng phương pháp này
để làm rõ thi pháp tiểu thuyết Tạ Duy Anh với những nét độc đáo trong bút pháp thể hiện Phương pháp này nhằm tìm ra những nét đặc sắc của Tạ Duy Anh so với một số gương mặt cùng thời khác về thi pháp tiểu thuyết
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: chúng tôi chú trọng phương pháp này
vì coi thi pháp tiểu thuyết Tạ Duy Anh là một chỉnh thể toàn vẹn, thể hiện sự thống nhất của tác giả về mặt thi pháp khi viết tiểu thuyết
Những phương pháp này sẽ được chúng tôi vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình nghiên cứu
4 Tổng quan về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Các ý kiến xung quanh về tác phẩm của Tạ Duy Anh trong vòng gần 20 năm qua đã có không dưới 100 bài Các ý kiến về Tạ Duy Anh đa số đều có những lập luận xác đáng, dựa trên cơ sở phân tích những đóng góp của nhà văn trên cả hai phương diện tư tưởng và nghệ thuật Đặc biệt, nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra được trong những sáng tác của Tạ Duy Anh những cách tân nghệ thuật rất cần thiết cho một khuynh hướng văn học mới Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi chỉ đặc biệt chú ý đến những bài viết, những công trình trực tiếp hoặc ít nhiều đề cập đến các tác phẩm tiểu thuyết của Tạ Duy Anh Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Tạ Duy Anh có thể chia thành 2 cấp độ: một là những bài viết, phỏng vấn, bình luận, điểm sách,… đăng trên các báo, tạp chí, và trên một số trang mạng uy tín - đây là những bài viết quy mô nhỏ; hai là những công trình nghiên cứu có tính chất chuyên sâu hơn, ở quy
mô lớn hơn, là những khóa luận, luận văn khoa học
Trang 105
4.1 Những bài viết quy mô nhỏ
Sau tiểu thuyết Khúc dạo đầu không gây được tiếng vang là sự thành công liên tiếp của Tạ Duy Anh với bộ ba tiểu thuyết: Lão Khổ, Đi tìm nhân
vật, Thiên thần sám hối và mới gần đây là tiểu thuyết Giã biệt bóng tối
Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã đánh giá rất cao tiểu thuyết Lão Khổ: “Tạ Duy Anh bước qua lời nguyền để đi đến Lão Khổ Thêm một giả thiết văn học
về bản chất và thân phận người nông dân Việt Nam Đây là một cuốn tiểu
thuyết rất quan trọng” [53]
Báo Thể thao văn hóa số 47 năm 2004 đã đưa ra nhận định khẳng định
chữ “tâm” trong ngòi bút Tạ Duy Anh: “Có thể coi ông là nhà văn đạo đức, văn chương của ông có lúc hiện lên bằng một gương mặt thế sự, đớn đau, riết róng chuyện thánh thiện, tàn ác, liêm sĩ và vô lương nhưng không phải như những khái niệm truyền bản chết khô, mà thông qua sự cảm nhận đau đớn về
số phận…”, “mối quan tâm lớn nhất của Tạ Duy Anh là cái vong bản, đánh mất mình của con người dưới sự giằng giật xiêu dạt của lịch sử Trên con đường truy tìm lại mặt mình, cũng như khả dĩ gương mặt thực của quá khứ, con người vấp phải và bị phong tỏa bởi thói gian trá, đớn hèn, vật dụng, tàn
ác, kể cả trong mỗi cá nhân Phúc âm duy nhất là tình yêu, tình cảm trong sáng bản thể của hiện tại và cái nhìn trung thực, nhân đạo đối với những vết
thương, lỗi lầm của quá khứ” [54]
Báo Pháp luật số 140 năm 2004 có nhận định “hầu hết những tác phẩm
của ông (trừ truyện viết cho thiết nhi và tản văn) đều rất gai về nội dung thể
hiện dưới cái nhìn hiện thực ở góc khuất” [53] Đi tìm nhân vật là “bức tranh hiện thực ngọt ngào của quyền lực, cái chết, sự đồi bại… còn Thiên thần sám
hối là một cuốn tiểu thuyết rất hay gần đây viết về nỗi đau làm người và chưa
được làm người qua câu chuyện của một hài nhi đang lựa chọn có nên làm người hay không” Tác giả bài báo đã có cái nhìn thật công tâm khi cho rằng
Trang 116
Tạ Duy Anh là một tác giả tâm huyết, trăn trở với số phận con người, nhất là khi họ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng nhân cách
Báo Giáo dục và thời đại số 80 năm 2004 cũng đặt câu hỏi: “Số phận
con người phải chăng luôn là sự trăn trở, dằn vặt trong ông?” và tác giả bài báo cũng đưa ra câu trả lời rằng nhân vật nào của Tạ Duy Anh cũng thấp thoáng bóng dáng của chính bản thân nhà văn
Tác giả bài Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện ác [52] gọi Tạ Duy Anh là
“nhà văn của thời điểm” và đưa ra một số cái nhìn cơ bản về quan niệm con người của tác giả Tạ Duy Anh: “Nhân vật của Tạ Duy Anh không có sự trung gian, nhờ nhờ, xam xám về ngoại hình Người xấu thì cực xấu như lão Phụng… người đẹp thì như hoa như ngọc như Quý Anh, chị Túc, bà Ba, như sản phụ chờ sinh Nhưng bản chất con người thì luôn ở ranh giới thiện - ác Nhân vật nào cũng luôn luôn bị đặt trong trạng thái đấu tranh với xã hội với môi trường, với kẻ thù, với người thân, với chính bản thân mình Đã thế nhà văn lại có cái giọng rất quyết liệt, nhiều hình dung từ và động từ mạnh, chõi
nhau…”, nhà văn lắm lúc quằn quại rên rỉ vì không ngăn nổi một hành động
ác, cũng có khi “lạnh lùng cố ý trước sự trả thù” [52]
Tạ Duy Anh luôn theo đuổi kiểu nhân vật “vừa là tác giả, vừa là nạn
nhân của những bi kịch xã hội” Đây là một trong những chiều hướng tư tưởng của ngòi bút Tạ Duy Anh Điều này thể hiện rõ ở tiểu thuyết Lão Khổ
khi “nhân vật lão Khổ trở đi trở lại trong tác phẩm, một người nông dân chất phác, vô tội, yếu đuối, bị ám ảnh bởi lời nguyền thâm thù hoàn toàn riêng tư giữa hai dòng họ, đã tự biến mình và đồng loại thành vừa là thủ phạm vừa là
nạn nhân của cuộc giết chóc tàn phá trả thù” [48]
Trong bài viết Tạ Duy Anh - người đi tìm nhân vật, tác giả Thụy Khuê đã
nhận thức về nhân vật Tạ Duy Anh với cái nhìn lịch sử: “Những nhân vật của
Tạ Duy Anh qua bao tác phẩm từ hơn mười năm nay vẫn gắn bó mật thiết với
Trang 127
nhau trong một tương quan chặt chẽ, họ hàng, làng nước Họ xuất thân cùng ở làng Đồng, họ cùng tiềm ẩn thù hận dòng họ, hận thù giai cấp…” [57] Trong
bài báo này Thụy Khuê chủ yếu nghiên cứu Tạ Duy Anh từ tiểu thuyết Đi tìm
nhân vật Bài báo đánh giá cao những nỗ lực cách tân của Tạ Duy Anh trong
việc tìm đến một hình thức nghệ thuật tiểu thuyết mới Đặc biệt bà nhấn mạnh
tính đa âm trong tiểu thuyết của Tạ Duy Anh: “Lão Khổ vẫn giữ bút pháp hiện thực cổ điển, Đi tìm nhân vật đã biến chuyển nhiều để tạo ra một hiện thực
mới, mà kí ức, hồi ức không còn thụ động, không còn bất động trong nỗi trở
về Những nghi vấn đầu tiên này đã là một bước ngoặt đặt ra cho tiểu thuyết:
đi từ xác định đến hoài nghi, đẩy người đọc vào tình trạng không thể có một
sự đọc mà có nhiều sự đọc” [57]
Dương Thuấn trong bài viết Tạ Duy Anh - Đi tìm nhân vật đã khẳng định
sự cách tân về mặt nghệ thuật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh Tác giả cho rằng
Tạ Duy Anh đã thoát khỏi hoàn toàn lối viết truyền thống quen thuộc là “hiện thực bị che phủ bởi nhiều lớp mùng màn, miêu tả dầm dề, hành động chậm chạp, ngôn ngữ sạch bóng trơn tru” để chọn phương pháp tiếp cận hiện thực
đa diện, đa chiều và gần nhất
Phạm Xuân Nguyên trong Văn học Việt Nam- nỗi buồn tiểu thuyết nhận xét Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh là một cuốn khá, đạt đến một tầm cỡ tiểu
thuyết nhất định, và nếu chỉ đau đời mà không đau nghề thì khó viết được, nhất là trong mặt bằng thấp của tiểu thuyết Việt Nam hiện nay [64]
Riêng tiểu thuyết Thiên thần sám hối, ngay khi vừa mới ra đời (2004) đã
được Hội Nhà văn Hà Nội tiến hành thảo luận nghiêm túc Hầu hết các ý kiến đánh giá cao những đổi mới trong nghệ thuật trần thuật của Tạ Duy Anh Tuy nhiên có ý kiến cho rằng, cách kết thúc tác phẩm này ít nhiều thỏa hiệp với truyền thống Việt Hoài thì ghi nhận Tạ Duy Anh đã bắt kịp với lối viết của các nhà văn trên thế giới: “Sự lao động nghiêm túc của nhà văn thể hiện một
Trang 138
nỗ lực tìm tòi đổi mới kỹ thuật viết của mình Nhà văn đã dùng những kỹ thuật viết hiện đại của thế giới, những phá cách về mặt cấu trúc, tính đa thanh, phức điệu, điểm nhìn mới từ một bào thai trong bụng mẹ và lăng kính nhận thức đa chiều, Việt hóa các môtíp trong văn học thế giới, cách viết ẩn dụ, ngụ ngôn, hiện thực huyền ảo” [52]
Gần đây nhất, vào ngày 15.5.2008, Phòng Văn học Việt Nam đương đại
- Viện Văn học đã tổ chức buổi tọa đàm “Tiểu thuyết Giã biệt bóng tối trong
bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam đương đại” Một số ý kiến đáng chú ý là ý kiến của PGS.TS Mai Hương: “hiện thực trong tác phẩm đa dạng và nhất quán với quan niệm của Tạ Duy Anh: viết những cái xấu, cái ác để hướng con người đến Chân - Thiện - Mĩ”; ý kiến của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống: “hãy kiên quyết giã biệt bóng tối, hay đúng hơn khước từ bóng tối - bóng tối của cuộc đời và bóng tối trong chính mỗi con người Đấy chính là âm hưởng nhân bản vang vọng khi thiên truyện khép lại”; ý kiến của PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn:
“những nhan đề tác phẩm từ Bước qua lời nguyền đến Giã biệt bóng tối và cuốn tiểu thuyết chưa xuất bản Sinh ra để chết đều thể hiện tâm thế nhìn lại
cuộc đời với ý tưởng chung là “sinh kí, tử quy” và kết cấu, cốt truyện, tình tiết đều quy tụ vào tính luận đề”
Ngoài những ý kiến mang tính chất học thuật như đã nói đến ở trên, người đọc còn được tiếp xúc với Tạ Duy Anh qua những bài trả lời phỏng vấn
được đăng tải trên internet như: Tôi sẵn sàng trả giá cho sự mạo hiểm; Chỉ
thân xác không thôi thì rất đáng sợ; Tôi là người không dễ bị khuất phục; Nhà văn Tạ Duy Anh không từ bỏ gốc gác nhà quê,
4.2 Những công trình nghiên cứu chuyên sâu
Đó là những khóa luận, luận văn khoa học Trong phạm vi nghiên cứu nhà trường, tác phẩm Tạ Duy Anh đã được tìm hiểu trong một số luận văn thạc sĩ sau:
Trang 149
+ Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh (Nguyễn Thị Mai Loan) + Cảm thức về cái Phi Lý trong sáng tác của Tạ Duy Anh (Cao Tố Uyên) + Tạ Duy Anh - từ quan niệm Nghệ thuật đến những đổi mới trong sáng
tác truyện ngắn (Phạm Thị Hương)
+ Đặc điểm truyện ngắn Tạ Duy Anh (Trần Văn Viễn)
+ Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh (Phạm Quỳnh
Dương)
+ Nghệ thuật kết cấu trong một số tiểu thuyết huyền ảo triết luận của Tạ
Duy Anh, Châu Diên, Hồ Anh Thái (Nguyễn Thị Kim Lan)
+ Nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh (Võ Thị Xuân Hà)
+ Tạ Duy Anh và việc làm mới nghệ thuật (Nguyễn Thị Hồng Giang)
Trong đó chúng tôi đặc biệt chú ý đến các công trình sau:
Luận văn Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh của Nguyễn Thị
Mai Loan (ĐHSP HN, 2004) Trong luận văn này tác giả nghiên cứu những đổi mới của Tạ Duy Anh về mặt tư tưởng và nghệ thuật tiểu thuyết ở đề tài nông thôn
Luận văn Tạ Duy Anh từ quan niệm nghệ thuật đến những đổi mới trong
sáng tác truyện ngắn của Nguyễn Thị Hương (ĐHSPHN, 2005) Trong luận
văn này tác giả đã nghiên cứu quan niệm sáng tác cũng như những nỗ lực đổi mới trong tác phẩm truyện ngắn Tạ Duy Anh từ nhiều góc độ: hiện thực, con người, đổi mới về quan niệm nghệ thuật, gia tăng yếu tố kỳ ảo và chất tiểu thuyết trong truyện ngắn Tạ Duy Anh
Luận văn Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986
đến nay của Nguyễn Thị Minh Thủy (Đại học Vinh, 2005) Luận văn này
trong khi nghiên cứu sự cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ
1986 đến nay đã xem Tạ Duy Anh như một hiện tượng nổi bật của nỗ lực cách tân tiểu thuyết Tuy nhiên vì phạm vi bao quát của luận văn là cả một
Trang 1510
giai đoạn văn học nên những nghiên cứu về Tạ Duy Anh còn ở mức khái quát Tác giả đã nghiên cứu những nét mới trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh gồm: hệ đề tài, chủ đề, kết cấu, nhân vật và ngôn ngữ Bên cạnh đó tác giả cũng nêu lên những hạn chế của Tạ Duy Anh trên con đường cách tân tiểu thuyết
Luận văn Nhân vật tiểu thuyết Tạ Duy Anh của Võ Thị Xuân Hà (Đại
học Vinh, 2006) Có thể nói, đây là lần đầu tiên có một luận văn đặt vấn đề nghiên cứu nhân vật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh một cách tương đối hệ thống và toàn diện Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã kế thừa được nhiều kết quả nghiên cứu quý báu về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết
Tạ Duy Anh- một trong những phương diện quan trọng làm nên thi pháp tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Tiểu kết: Trên đây, chúng tôi đã điểm qua một số bài viết và công trình
được coi là khá tiêu biểu về tiểu thuyết Tạ Duy Anh Đối với những bài viết
có quy mô nhỏ, có thể thấy, mặc dù mỗi bài có những phát hiện và cách lí giải riêng nhưng tựu trung lại, đa số các ý kiến đều gặp nhau ở chỗ thừa nhận giá trị đặc sắc của tiểu thuyết Tạ Duy Anh và những đóng góp của nhà văn này trong quá trình hiện đại hóa thể loại tiểu thuyết Những ý kiến trên có tính chất định hướng, gợi mở, giúp cho chúng tôi có điều kiện để hiểu hơn về mảng sáng tác đặc sắc này của nhà văn
Trong các luận văn khoa học mà chúng tôi bao quát được, có thể thấy chưa có công trình nào mang tính chuyên sâu khảo cứu về thi pháp tiểu thuyết
Tạ Duy Anh, hay nói cách khác là tiểu thuyết Tạ Duy Anh ở góc nhìn thi pháp học Tuy nhiên, những công trình chúng tôi đã điểm qua ở trên sẽ là những gợi ý quý báu cho chúng tôi thực hiện đề tài này Với góc độ khám phá riêng biệt và mang tính tổng hợp cao, luận văn này muốn trên cơ sở kế thừa
Trang 1611
nghiên cứu của những người đi trước để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về Thi
pháp tiểu thuyết Tạ Duy Anh
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương một: Tiểu thuyết Tạ Duy Anh trong bối cảnh đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Chương hai: Thế giới hình tượng trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Chương ba: Kết cấu và ngôn từ nghệ thuật trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh
Trang 1712
CHƯƠNG 1 TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH TRONG BỐI CẢNH
ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975
1.1 KHÁI LƯỢC VỀ NHỮNG THÀNH TỰU CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975
1.1.1 Tiểu thuyết và cuộc hành trình của một thể loại
Dường như bất kì một thể loại văn học nào cũng mang trong mình những
số phận thăng trầm nhất định Chỉ có khác là sự thăng trầm đó ít hay nhiều mà thôi Tiểu thuyết, tuy sinh sau đẻ muộn so với những người bạn thể loại khác của nó, nhưng đã phải trải qua cả một hành trình dài đầy gian nan, thử thách
để hôm nay có một địa vị thật xứng đáng trên văn đàn thế giới
Tiểu thuyết ra đời từ thời điểm nào trong lịch sử thì chưa ai có thể khẳng định chắc chắn, chỉ biết rằng từ thế kỉ XIX trở về trước, nó - tiểu thuyết, bị đối xử như một “vịt con xấu xí” bởi sự thắng thế của các thể loại khác Khi tâm thế con người đang đề cao những gì là chính thống, khuôn mẫu, đang chỉ muốn nghe những gì là hào hùng, rực rỡ của cuộc sống thì người ta chỉ coi trọng sử thi, người ta chẳng buồn quan tâm đến tiểu thuyết - cái mà nội dung phản ánh chỉ toàn là những điều thông tục, thiếu thi vị, ngổn ngang chất sinh hoạt đời thường Rồi đến thời kì xã hội bùng nổ thông tin, người ta lại dành cái nhìn ưu ái cho truyện ngắn- một thể loại cô đọng gọn gàng, rất phù hợp với nhịp sống hối hả của họ, người ta lại tiếp tục lãng quên tiểu thuyết - cái thể loại đồ sộ về quy mô, dài lê thê đến cả ngàn trang giấy Nhưng biết làm
sao được, bởi “điểm xuất phát” của tiểu thuyết, theo quyển Sơ lược lịch sử
tiểu thuyết Trung Quốc (Lỗ Tấn) thì nó chỉ là những lời nói nhỏ, vụn vặt, tầm
thường Dần dần, theo thời gian, nó cũng vươn mình đến tư cách của một thể loại, nhưng có lẽ cái tính chất “tầm thường” thì người ta vẫn cứ gán cho nó
Trang 1813
như thế, bản thân nó chưa tự rũ bỏ được Ở phương Tây, số phận tiểu thuyết cũng chẳng khấm khá hơn Ban đầu người ta dùng từ “roman” - một từ trong tiếng thổ ngữ, chứ không phải trong tiếng La tinh cao quý để chỉ thể loại tiểu thuyết Người ta dùng từ này bởi người ta xem nội dung phản ánh của tiểu thuyết chỉ là nội dung bịa đặt, hoang đường hoặc chỉ là những chuyện tình lãng mạn đầy mộng ảo Thế là, suốt một thời gian dài, tiểu thuyết không có chỗ đứng trong văn học chính thống, không được nhắc tới trong các công trình lí luận Thậm chí, có lúc, có người đã tuyên bố về cái chết của nó
Thế nhưng, số phận tiểu thuyết đã sang trang từ thế kỉ XIX Giống như
từ vịt con xấu xí, nó thoắt trở thành thiên nga xinh đẹp trong mắt mọi người Thực ra, thì vẫn là nó đấy thôi, nhưng giờ đây quan niệm về nó đã thay đổi
Sự thay đổi trong cách nhìn cuộc sống của con người chính là tiền đề để tiểu thuyết lên ngôi Giờ đây, đứng trước thời đại mới, người ta nhận thấy đời sống sao mà bề bộn, hỗn loạn, sao mà phức tạp, sao mà đa diện, và chỉ có tiểu thuyết - một “thể loại đa thể loại”, một thể loại phức hợp mới có thể giúp
họ nhận thức và cảm nhận toàn vẹn về cuộc sống
Đến thế kỉ XX, tiểu thuyết lại một lần nữa làm một cuộc đột phá Nhưng lần này không phải để khẳng định vai trò của mình như ở thế kỉ XIX, mà để thay đổi các quan niệm về chính bản thân nó Quan niệm về tiểu thuyết từ thế
kỉ XX (chúng tôi gọi là “quan niệm hiện đại”) đã có sự khác biệt nhất định với quan niệm về tiểu thuyết của thế kỉ XIX (chúng tôi gọi là “quan niệm truyền thống”)
Quan niệm truyền thống cho rằng tiểu thuyết mang tính cách hiện thực, mục đích chủ yếu của nó là nhằm phản ánh một cách đầy đủ và trung thực hiện thực của đời sống (còn cái hiện thực đó được nhìn theo lăng kính nào thì
sẽ phân chia ra các khuynh hướng phản ánh khác nhau) Cả Bêlinxki và Turghênhep đều nhấn mạnh đến chức năng phản ánh của tiểu thuyết Bêlinxki
Trang 1914
thì viết: “Tiểu thuyết là sự phản ánh nên thơ đời sống xã hội”, còn Turghênhep thì khẳng định: “Tiểu thuyết là lịch sử cuộc sống” Tiểu thuyết phải bao quát những bức tranh hiện thực lớn lao, những hình tượng kì vĩ, những thăng trầm lịch sử, Song song với việc quan niệm tiểu thuyết phải phản ánh trung thực đời sống, quan niệm truyền thống còn cho rằng tiểu thuyết nhất thiết phải tồn tại trên một cốt truyện và chủ yếu thuyết phục người đọc ở các diễn biến sự kiện Tiểu thuyết đến với người đọc bằng cách kể chuyện, và người đọc thích thú theo dõi các diễn biến đời sống của một hay nhiều nhân vật trong đó
Với sự xuất hiện của các tiểu thuyết hiện đại, quan niệm về tiểu thuyết cũng có những biến đổi sâu sắc so với quan niệm truyền thống Quan niệm hiện đại cho rằng tiểu thuyết không thể phản ánh trung thực đời sống vì khả năng hạn chế của ngôn ngữ - phương tiện mà nó, dù muốn hay không cũng phải sử dụng, nếu muốn đứng vào hàng ngũ của các thể loại văn học! Hơn nữa, không phải chỉ là chuyện “không thể”, mà tiểu thuyết “không nên”, và cũng “không cần” phải phản ánh cho đúng cái đời sống bên ngoài làm gì Bởi, tất cả những gì được coi là hiện thực, trên thực tế không gì khác hơn chỉ là sự hình dung về nó Bởi, nhà văn cũng chỉ là một cá nhân nhỏ bé giữa cuộc đời này, làm sao có thể biết hết, và chắc gì cái anh ta biết đã đúng mà yêu cầu anh
ta phải phản ánh vào tiểu thuyết cho đúng Tiểu thuyết hiện đại, do vậy, không chủ tâm khai thác bề mặt sự kiện, mà chủ tâm nói cho được những tầng sâu của ý thức con người trước những vấn đề xã hội Đó là những suy nghĩ, ý nghĩ hết sức tế vi bên trong tâm hồn con người Nhà văn có thể kể một hiện thực vô lí, một điều không thể xảy ra trong đời thực, nhưng miễn là anh ta nói được những mảng màu đa sắc đang diễn ra ở thế giới bên trong con người Cảm hứng về sự thật bên trong tâm hồn con người đã thay thế cho cảm hứng phơi bày hiện thực Lúc này, hiện thực chỉ còn là cái nền mà thôi Hiện thực
Trang 2015
đời sống đã không còn quan trọng bằng hiện thực của những ý nghĩ về đời sống! Hiện thực mà con người tồn tại đã không còn quan trọng bằng trạng thái tồn tại của con người trong hiện thực, sự hiện hữu của con người! “Tiểu thuyết suy xét hiện hữu chứ không phải hiện thực Hiện hữu không phải là cái
gì xảy ra, hiện hữu là thế giới của những khả hữu con người, bất cứ cái gì con người có thể trở nên, bất cứ cái gì hắn có khả năng làm Tiểu thuyết gia là người vẽ bức bản đồ sự hiện hữu bằng cách khai phá khả hữu này hay khả hữu kia của con người” [59]
Cuộc sống trên cõi trần gian này đúng là “một cõi nhân gian bé tí” mà đa
sự Tiểu thuyết hiện đại dường như rất thấm thía điều này, bằng “sự hiền minh của hoài nghi” (chữ dùng của Kundera), nó giúp người đọc hiểu ra sự phức tạp khôn cùng của cuộc sống, mà trước hết là những phức tạp trong chính tâm hồn mình Tiểu thuyết hiện đại không ngừng phát hiện những điều mới mẻ và tra vấn con người ở mọi khía cạnh sâu kín, kể cả bằng cách mỉa mai và khiêu khích Quả là, tiểu thuyết hiện đại đang nỗ lực để “kể cái không thể kể” - những cái không xảy ra theo trình tự thời gian vật lí, không xảy ra trong không gian địa lí, mà là những cái hỗn mang nằm sâu trong tiềm thức và vô thức, những cái nằm ngoài lí luận của hiện thực tỉnh táo
Đi liền với sự thay đổi trong quan niệm về nội dung phản ánh của tiểu thuyết là sự thay đổi trong quan niệm về chức năng của chính thể loại này Từ chỗ “đạo mạo hóa” vai trò của tiểu thuyết, xem nó phải là một công cụ hữu ích truyền dạy một bài học nào đó cho người đọc, hoặc giả, phải chứa đựng một triết lí lớn lao nào đó , quan niệm hiện đại xem tiểu thuyết chỉ như một
“trò chơi” Vì là lãnh địa của trò chơi nên sẽ không có những điều khẳng định,
mà chỉ có những giả thuyết do nhà văn công khai một cách lộ liễu là mình đang bày ra, còn người đọc tin hay không là tùy, thậm chí việc có tham dự vào trò chơi này nữa hay không cũng là tùy ở độc giả Vì là lãnh địa của trò
Trang 21Quan niệm mới về tiểu thuyết đã nâng tiểu thuyết vượt khỏi phạm trù là một thể loại văn học để đến với phạm trù của một kiểu tư duy - tư duy tiểu thuyết Các nhà lí luận văn học hiện đại xem tiểu thuyết là một cấp độ mới trong tư duy nghệ thuật của con người về thế giới Văn học đạt đến tư duy tiểu thuyết là khi nó từ bỏ niềm tin cố hữu về trật tự tuyến tính nhân quả, về tính tất định của cuộc đời, và thừa nhận sự bất định mới là cái phổ biến của cuộc đời này, thừa nhận sự phi chân lí độc tôn, thừa nhận tính đa nguyên chân
lí của thế giới Mọi vật đều ngang nghĩa và ngang giá trong thế giới của cái hỗn độn, nơi mọi giá trị đều bị hạ bệ!
Nhưng tính chất trò chơi không mâu thuẫn với sự lao động sáng tạo nghiêm túc trong văn học nghệ thuật Nó nhấn mạnh hơn đến khía cạnh tự do
Trang 2217
của nghệ thuật, nhất là tự do trong sáng tạo những hình thức nghệ thuật mới
“Đi theo tiếng gọi của trò chơi” (cách nói của Nguyễn Đăng Điệp), những ảo tưởng về sức mạnh tuyệt đối của văn học đã được gỡ bỏ, văn học được tự do hơn, tính dân chủ cao hơn Rõ ràng là với tính chất trò chơi này, các tiểu thuyết hiện đại đang mở ra cái gì đó chưa có trong truyền thống
Bêlinxki từng nêu lên một quan điểm biện chứng rằng: “Nếu như có tư tưởng của thời đại thì cũng có những hình thức của thời đại” Thể loại tiểu thuyết, theo sự thay đổi của thời gian, qua mỗi thời kì cũng đã tự biến chuyển mình cho phù hợp với tinh thần của thời đại Và chỉ riêng sự tồn tại của nó theo suốt chiều dài lịch sử văn học cũng đã đủ cho thấy giá trị không thể thay thế của thể loại này
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975- nhìn từ những thành tựu
Sau 1975, đất nước ta bước sang một thời kì mới: thời kì từ chiến tranh chuyển sang hòa bình, từ đời sống bất bình thường của những “ngày có giặc” chuyển sang đời sống bình thường của những điều lo lắng, vụn vặt thường nhật Có những chuyện hôm qua văn học chưa kịp nói đến, chưa được đề cập,
vì hoàn cảnh khách quan mà còn phải nhìn một cách phiến diện thì nay có điều kiện để đề cập đến và nhìn nhận lại Văn học nước ta sau 1975, không chỉ phải “đọc lời ai điếu cho một nền văn chương minh họa”, tức là “đọc lời ai điếu” cho chính bản thân nó trước đó mà còn phải tự tìm tòi, tự đổi mới để chuyển mình kịp với thời đại, để có thể thích nghi với hiện thực mới Yêu cầu này xem ra không phải dễ dàng gì bởi lực cản của “quán tính”, của “thói quen”, và bởi việc rũ bỏ chính bản thân mình bao giờ cũng khó khăn gấp bội việc rũ bỏ cái gì đó ở ngoài mình Lẽ dĩ nhiên, yêu cầu bức thiết này không loại trừ thể loại tiểu thuyết, một thể loại được xem như chiếc “máy cái” của nền văn học hiện đại
Trang 2318
Để có thể nhìn nhận về những thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam sau
1975 thường có 2 cách để xem xét Thứ nhất, là nhìn nhận theo tiến trình vận động của thời gian Thứ hai, là nhìn nhận theo cụm các tác phẩm có sự khác biệt về phương diện nghệ thuật Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, nếu nhìn từ phương diện nghệ thuật có thể dễ dàng nhận ra hai xu hướng chính: hướng làm mới tiểu thuyết trên nền truyền thống và hướng cách tân theo tinh thần hiện đại Tuy nhiên, không thể tránh khỏi hiện tượng có những tác phẩm nằm giữa đường biên của hai xu hướng này Do đó, chúng tôi chọn cách thứ nhất,
dù rằng cách này hiện nay vẫn chưa có được sự thống nhất trong cách phân
kì Có nhà nghiên cứu chia thành ba chặng đường: từ 1975 đến 1985, từ 1986 đến đầu thập kỉ 90 và từ 1993 đến nay Có người lại chia thành hai chặng: từ
1975 đến 1985 và từ 1986 đến nay Trên cơ sở tôn trọng những điểm đã thống nhất của các nhà nghiên cứu, kết hợp với việc xem xét ý nghĩa của những thời điểm lấy làm cột mốc, chúng tôi cho rằng tiểu thuyết Việt Nam hơn 30 năm qua, có thể chia thành ba chặng đường: từ 1975 đến 1985; từ 1986 đến hết thế
kỉ XX và chặng đường của những năm đầu thế kỉ XXI
a Chặng đường từ 1975 đến 1985
Diện mạo của tiểu thuyết ở chặng này có thể khái quát trong hai từ:
“chuyển tiếp” và “dự báo” Đây là thời kì “chuyển tiếp” từ văn học thời chiến tranh sang văn học thời hậu chiến với những tín hiệu có tính “dự báo” về một
sự đổi mới thể loại sẽ bùng nổ ở chặng tiếp theo Cho nên người ta còn gọi tiểu thuyết ở chặng này là tiểu thuyết những năm tiền đổi mới Các tác phẩm
ở chặng này chính là những dấu hiệu cho thấy ý thức đổi mới thể loại đang
rõ dần
Từ 1975 đến 1980, tiểu thuyết vẫn theo đà quay “quán tính” nghiêng về
sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một diện rộng, cảm hứng sử thi vẫn chiếm vị trí đáng kể trong tư duy nghệ thuật của nhà văn Có thể kể ra như:
Trang 24phía sau của tấm huy chương ấy Nguyễn Trọng Oánh cho thấy qua Đất
trắng, thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh là khi con người dao động,
biến chất, niềm tin hao hụt Nguyễn Minh Châu đưa ra những dự cảm về một
thời hậu chiến nhiều phức tạp trong lòng người (Miền Cháy), hay tình trạng
những người lính anh hùng nhưng gắn với chiến trận quá lâu đang trở thành
xa lạ với văn hóa thời bình (Lửa từ những ngôi nhà) Có thể nói, từ 1975 đến
1980, tiểu thuyết nước ta đã bắt đầu có sự thay đổi nhưng dẫu sao cũng chỉ mới dừng lại ở việc mở rộng đề tài, đề cập đến nhiều vấn đề hơn còn về cơ bản vẫn gần với đặc điểm của tiểu thuyết giai đoạn trước
Từ 1980, tiểu thuyết không chỉ mở rộng đề tài mà còn cố cưỡng lại “từ trường” của tư duy sử thi để gia tăng chất “đời tư”, “thế sự” Nếu nói theo Nguyễn Minh Châu thì cái “lớp men trữ tình hơi dày” mà các nhà văn thường
“tráng lên” hiện thực đang được cố gắng gột tẩy Gặp gỡ cuối năm (1983) của
Nguyễn Khải là cuộc đối thoại của nhiều luồng tư tưởng, nhiều quan niệm giá trị, ở đó chân lí cách mạng bị đặt dưới sự phán xét của những người “phía bên
kia” Thời gian của người (1985) cũng của Nguyễn Khải, là phép “tương
Trang 2520
chiếu” những lựa chọn khác nhau: một ông linh mục, một ông giám đốc nông trường cao su, một chiến sĩ tình báo, một nữ chiến sĩ biệt động năm xưa hôm nay là bí thư huyện uỷ Hoàn cảnh xuất thân của họ khác nhau, con đường đi của họ không giống nhau, nhưng họ lại gặp nhau ở chỗ đều có tính cách mạnh
mẽ, đều tôn thờ một cách sống: sống say mê, sống hết mình cho một niềm tin tốt đẹp nên đều có khả năng để lại “dấu vết” trong dòng thời gian miên viễn
Mưa mùa hạ (1982), Mùa lá rụng trong vườn (1985) của Ma Văn Kháng, Cù lao Tràm (1985) của Nguyễn Mạnh Tuấn khẳng định nhân cách của những
người “đi trước thời đại”, biết “phản biện” lại chân lí cũ, chỉ ra cái lỗi thời của
cơ chế kinh tế bao cấp và cái bất cập trong những tiêu chí đánh giá con người nặng về ý thức hệ Ở các tác phẩm này, bên cạnh cảm hứng ngợi ca đã xuất hiện cảm hứng phê phán, nhận thức lại; góc độ quan sát đánh giá con người dịch chuyển dần về phía đạo đức, thế sự Sự dịch chuyển này nhìn bề ngoài tưởng như đơn giản nhưng đó là cả một quá trình trăn trở vật vã, tìm tòi thầm lặng mà quyết liệt của những nhà văn có mẫn cảm với đòi hỏi của cuộc sống
và có ý thức trách nhiệm cao về ngòi bút của mình Những tìm tòi bước đầu này đã mở ra cho văn học những hướng tiếp cận mới với hiện thực nhiều mặt,
và là tiền đề để thực sự bước vào giai đoạn đổi mới ở chặng tiếp theo
b Chặng đường từ 1986 đến hết thế kỉ XX
Phải đến 1986, khi đất nước chính thức bước vào thời kì đổi mới, trong không khí dân chủ của đời sống văn học, tiểu thuyết mới thực sự được thay da đổi thịt Diện mạo của tiểu thuyết ở chặng này có thể hình dung một cách giản lược qua các cụm từ: cảm hứng nhìn thẳng vào sự thật với tinh thần nhân bản Tiểu thuyết, với đặc trưng thể loại riêng biệt, đã bộc lộ ưu thế của mình trong cách “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” Và tiểu thuyết bước vào mùa nở rộ! Đội ngũ người viết ngày càng đông đúc, số lượng tác phẩm ngày càng dồi dào Có thể kể ra đây hàng loạt các tác phẩm đã làm
Trang 2621
xôn xao dư luận một thời: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bên kia bờ ảo vọng (Dương Thu Hương), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Một cõi nhân gian bé tí (Nguyễn Khải), Phố, Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Người và xe chạy
dưới ánh trăng (Hồ Anh Thái), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Cơ hội của chúa (Nguyễn Việt Hà), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Giàn thiêu (Võ
Thị Hảo), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Ba người khác (Tô Hoài), Cuộc
đời dài lắm (Chu Lai), Viết dưới ánh sáng của thời kì đổi mới, mỗi nhà văn
được tự do lựa chọn những mảng đề tài khác nhau (bởi đã qua rồi cái thời ngự trị của “chủ nghĩa đề tài”), nhưng các tác phẩm của họ lại có một hệ quy chiếu chung, đó là: các giá trị nhân bản Không phải sự kiện lịch sử mà số phận cá nhân mới là trung tâm chú ý Từ những hình tượng tập thể và quần chúng, tiểu thuyết ngày càng quan tâm xây dựng các hình tượng có cá tính và có số phận riêng tư Từ những hình tượng tiêu biểu cho ý chí cách mạng, tiểu thuyết ngày càng quan tâm đến việc xây dựng những tính cách trong mối liên hệ nhiều chiều của con người Nhờ đó, các nhân vật tồn tại như một nhân cách, chứ không còn là một “ý niệm” Nó cũng khác với con người giai cấp, con người dân tộc có tính chất đơn điệu của một thời Đúng như Ma Văn Kháng viết: “Phải chăm lo cho từng người Cá tính mãi mãi tồn tại và đòi hỏi được quan tâm” Và nó không những được quan tâm mà đã trở thành đối tượng thẩm mĩ quan trọng của văn học đương đại
Chính vì khuynh hướng đổi mới này mà tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê
Lựu ngay khi mới xuất hiện đã trở thành sự kiện văn học nổi bật của những năm 1986-1987 Với tiểu thuyết này, Lê Lựu đã đặt ra một vấn đề hết sức sâu sắc: nhận thức lại một thời mới đây thôi mà tưởng như đã xa vắng từ thuở nào Ấy là cái thời con người chỉ tưởng có lạc quan, chỉ thấy toàn anh hùng
Trang 2722
mà không được biết đến bi kịch, đến nỗi đau riêng tư Lê Lựu đã chỉ ra khía cạnh ấy Người anh hùng Giang Minh Sài đã làm nên bao chiến công vang dội, bao chiến tích vẻ vang nhưng chính cuộc đời anh lại đầy đắng cay, bi kịch Cái mà tác giả quan tâm không phải là những chiến công, ở sự ngưỡng vọng mà chính là ở nỗi đau nhân thế của người anh hùng Đấy là cái bi kịch của một thời con người tự hi sinh cá nhân để vươn tới cái tập thể một cách
giản đơn, cứng nhắc, để rồi suốt đời thất bại! Rồi Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường,
Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Kháng, cũng nằm trong
khuynh hướng nhận thức lại hiện thực, phơi bày những mặt trái còn bị che khuất, lên án những lực lượng, những tư tưởng và thói quen đã lỗi thời, trở thành vật cản trên bước đường phát triển của xã hội Có thể nói, ở chặng này, với sự tiếp tục hướng tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự - đời tư đã được
mở ra ở nửa đầu những năm 80, nhiều cây bút đã đi vào thể hiện mọi khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự đan dệt nên cuộc sống đời thường phức tạp Phát triển thể tài thế sự - đời tư, tiểu thuyết có khả năng đi sâu vào ngõ ngách tâm hồn con người, suy nghĩ cặn kẽ về các trạng thái nhân thế, nhất là trong hoàn cảnh một xã hội từ trong chiến tranh ba mươi năm bước sang đời sống hòa bình đầy phức tạp và thử thách Điều này đã mang đến cho tiểu thuyết tính phân tích, tính triết luận rất đáng quan tâm Đây là cái phẩm chất mà tiểu thuyết nói riêng, văn xuôi nói chung một thời thiếu vắng! Điểm đặc biệt nhất ở chặng này, chính là, bên cạnh xu hướng làm mới tiểu thuyết trên nền truyền thống (với nhiều cây bút thuộc các thế hệ đã sáng tác từ trước 1975 như Tô Hoài, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyễn Xuân Khánh, Ma Văn Kháng, cùng các nhà văn trưởng thành từ thời kì kháng chiến chống Mĩ và sau khi kết thúc chiến tranh như Lê Lựu, Chu Lai, Tô Nhuận Vỹ, ) là sự manh nha xuất hiện của xu hướng cách tân theo tinh thần
Trang 2823
hiện đại Sự khác biệt lớn nhất ở hai xu hướng này là ở chỗ: xu hướng làm mới tiểu thuyết trên nền truyền thống vẫn coi câu hỏi “viết về cái gì” là quan trọng và trọng tâm hơn hẳn câu hỏi “viết như thế nào”, hơn nữa, sự “làm mới”
ở xu hướng này vẫn không đủ sức để tạo ra một bước ngoặt trong tư duy thể loại Chỉ ở xu hướng thứ hai thì câu hỏi “có thể viết tiểu thuyết như thế nào?” mới trở thành mối bận tâm lớn nhất của người cầm bút Những nhà văn thuộc
xu hướng này đã đổi mới hình thức thể loại bằng cách vận dụng những kĩ thuật tự sự hiện đại phương Tây, trên cơ sở đổi mới quan niệm về tiểu thuyết
Khởi đầu cho sự xuất hiện của xu hướng này ở Việt Nam là Thiên sứ (1988) của Phạm Thị Hoài Thiên sứ xứng đáng được coi là tác phẩm quan trọng với
ý nghĩa nó đề xuất một tinh thần thẩm mĩ mới, một quan niệm tiểu thuyết mới Phạm Thị Hoài công khai khiêu khích, “gây hấn” với kinh nghiệm văn chương truyền thống khi “trình làng” một văn bản lạ lẫm: từ hình thức đến nội dung, từ kết cấu trần thuật đến hình tượng, từ nhân vật đến lời văn, câu văn, Câu chuyện là sự lắp ghép những mảnh vụn của hiện thực (mà phần nhiều là cái hiện thực đã bị bịa đặt một cách cố ý) Tác giả không gây hứng thú ở bản thân câu chuyện mà như đang bày trước độc giả cuộc chơi tạo lập văn bản: chơi cấu trúc, chơi nhân vật, chơi cú pháp, Rõ ràng là Phạm Thị Hoài muốn lái mối quan tâm của người đọc từ nội dung câu chuyện sang phần diễn ngôn của văn bản Điều này đòi hỏi người đọc tiếp nhận tiểu thuyết trước hết như tiếp nhận một cấu trúc ngôn ngữ Có thể nói, dấu ấn của lối viết hậu hiện đại ở Việt Nam đến nữ tác giả này mới thật sự rõ nét và tạo được hiệu ứng thẩm mĩ đáng kể về tiếp nhận
Sau Thiên sứ, Nỗi buồn chiến tranh (1990) của Bảo Ninh tiếp tục làm nên dấu ấn thứ hai cho xu hướng cách tân theo tinh thần hiện đại Nỗi buồn
chiến tranh giống như “trò chơi lỏng” của ngôn từ: cách tổ chức văn bản trượt
khỏi quan niệm thông thường về “mạch lạc”, logic ngữ nghĩa bị vi phạm, sự
Trang 2924
gắn kết hình ảnh, cảm xúc trong dòng kí ức nhân vật triền miên bất định hiện
ra không theo trật tự nào mà tùy tiện, ngẫu nhiên, nhảy cóc, Đây chính là sự sáng tạo đầy tính chủ động của tác giả cho câu hỏi “có thể viết tiểu thuyết như thế nào?” Trong tác phẩm, câu chuyện chiến tranh đến với bạn đọc qua dòng
ý thức “rối bời bấn loạn” của một người lính bị chấn thương tinh thần nặng
nề Đã thế người kể chuyện xưng “tôi” cứ nhấn mạnh mãi với người đọc rằng những gì mà người lính tên Kiên ấy viết ra hoàn toàn khó mà xác tín được bởi khi viết tâm trạng anh ta “như mấp mé bờ vực”, bởi anh ta luôn “ngờ vực sự sáng suốt của mình” Người kể chuyện khi cố gắng sắp xếp đống bản thảo mà Kiên bỏ lại đã hoàn toàn bất lực, không biết cần sắp xếp trật tự các trang như thế nào Người kể chuyện luôn luôn thú nhận sự bối rối của chính mình: “tôi không biết”, “tôi không hiểu gì cả”, Không còn một người kể chuyện “biết tuốt” và toàn năng, không còn kiểu viết truyện có đầu có cuối theo logic nhân
- quả, Bảo Ninh đã lái hứng thú của người đọc tiểu thuyết chuyển dần từ nội dung câu chuyện sang các nguyên tắc tạo lập văn bản, sang “hành ngôn”
Giống như Thiên sứ, với Nỗi buồn chiến tranh, hình thức của tiểu thuyết đã
thành một nội dung của chính nó!
Tiếc là xu hướng tìm tòi này không được tiếp tục trong khoảng gần 10 năm ở thập kỉ 90 Đến vài năm cuối thế kỉ XX mới có lác đác một vài tiểu thuyết thể hiện sự phá cách về hình thức thể loại Và phải chờ đến chặng tiếp theo, tức chặng đường của những năm đầu thế kỉ XXI, chúng ta mới chứng kiến sự bùng nổ thật sự của xu hướng đổi mới cách viết này Còn xét riêng trong chặng đường thứ hai này (tức từ 1986 đến hết thế kỉ XX) thì tiểu thuyết làm mới trên cái khung truyền thống vẫn chiếm đa số và đạt được nhiều ưu thế hơn ở khía cạnh thu hút được đông đảo độc giả bởi nó có những cách tân thú vị mà lại không gây nhiều khó khăn cho sự tiếp nhận của bạn đọc
Trang 3025
c Chặng đường của những năm đầu thế kỉ XXI
Trong khoảng 5 đến 7 năm đầu của thế kỉ XXI, văn đàn Việt Nam thật
sự sôi động bởi sự xuất hiện của hàng loạt tiểu thuyết mới và lạ về cách viết
như Thoạt kì thủy, Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Đi tìm nhân vật, Thiên
thần sám hối của Tạ Duy Anh, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Người sông mê của Châu Diên, Một số cây bút người Việt định cư ở nước ngoài
cũng thể hiện khát vọng đổi mới tiểu thuyết, trong đó ấn tượng hơn cả là
Chinatown, Pari 11 tháng 8, T.mất tích của Thuận, Và khi tro bụi của Đoàn
Minh Phượng,
Những tiểu thuyết kể trên không cuốn nào gây được chấn động dư luận
mạnh như Thiên sứ và Nỗi buồn chiến tranh trước đây, nhưng rõ ràng đã tạo
được sự chú ý, thậm chí phân lập bạn đọc một cách sâu sắc Phần lớn các tác giả kể trên đều là những cây bút đang ở độ sung sức và đã có độ chín nhất định trong tư duy nghệ thuật Đọc những cây bút này, người ta có thể chê trách điều này điều nọ, thảo luận lại nhiều vấn đề, nhưng không thể không thừa nhận những đổi mới mà họ đã đem đến cho tiểu thuyết giai đoạn này Với những sáng tác độc đáo về hình thức nghệ thuật, họ góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và tạo cho mình chỗ đứng vững chắc trong lòng bạn đọc
Mấy năm gần đây, cũng rất đáng chú ý là sự xuất hiện của những cây bút
trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X, tiêu biểu như Nguyễn Đình Tú với Nháp, Phiên bản, Nguyễn Quỳnh Trang với Nhiều cách sống, Di Li với Trại hoa đỏ, Phong Điệp với Blogger, Trần Thị Hồng Hạnh với Quái vật, Rõ ràng, khát vọng
làm mới tiểu thuyết đang ngày càng thu hút nhiều cây bút thuộc các thế hệ khác nhau, đặc biệt là lớp người viết trẻ Cùng với tư duy nhạy bén, người viết trẻ có điều kiện tiếp xúc và vận dụng nhiều hơn kĩ thuật viết mới vào tiểu thuyết, tuy không phải trường hợp nào cũng đạt được sự nhuần nhuyễn và độ
Trang 3126
chín Vẫn còn nhiều ý kiến đánh giá không thuận chiều về sáng tác của những người viết trẻ này Tuy nhiên, dẫu hiệu ứng thẩm mĩ mà tác phẩm đem lại cho độc giả có thể khác nhau, việc khước từ những cách viết cũ đã buộc người đọc phải thật sự thâm nhập vào tác phẩm, khám phá thế giới từ những cái “bất tín nhận thức”, từ những mảnh vụn của một hiện thực không đáng tin cậy ở trò chơi ngôn từ Có thể nói, những thể nghiệm của các cây bút trẻ này đã góp phần làm nên diện mạo riêng cho bộ mặt tiểu thuyết nước ta đầu thế kỉ XXI,
và dẫu những nỗ lực thể nghiệm này có khi còn dang dở, hoặc lạ lẫm, hoặc khó đọc nhưng điểm đáng trân trọng nhất là chúng đang mạnh dạn khước từ cái cũ với ý thức phải đổi mới và đổi mới không ngừng
Nhiều người đã nói về dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại trong các sáng tác từ cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI Điều này đã được minh chứng trong không ít công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam trong chặng đường này cũng đã mang hơi hướm của chủ nghĩa hậu hiện đại rất rõ Bên cạnh đó, rất đáng bận tâm là chỉ mới khoảng chục năm nhưng đã bắt đầu thấy sự xuất hiện một cách rõ ràng của khuynh hướng tiểu thuyết hiện sinh ở Việt Nam Điều này cũng không có gì ngạc nhiên bởi trong một thế giới đa trị, hỗn độn, bất toàn với các chân giá trị bị đảo lộn, với quan niệm về “tính trò chơi” hay vai trò giải trí của văn chương thì tư tưởng hiện sinh của chủ nghĩa hiện đại tiếp tục bén rễ và phát triển trong văn học hậu hiện đại cũng là một điều dễ hiểu
Sự xuất hiện của nhiều tiểu thuyết tập trung vào các trạng huống hiện hữu cá biệt của con người trong đời sống đã thực sự làm nên một khuynh hướng tiểu thuyết hiện sinh ở Việt Nam Có thể phần nào cảm nhận được dấu vết hiện
sinh ngay qua nhan đề tác phẩm: T mất tích (Thuận), Và khi tro bụi (Đoàn Minh Phượng), Thoạt kì thủy (Nguyễn Bình Phương), Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà), Chuyện tình mùa tạp kỹ (Lê Anh Hoài), Sự trở lại của vết
xước (Trần Nhã Thụy), Giữa dòng chảy lạc, Giữa vòng vây trần gian
Trang 3227
(Nguyễn Danh Lam), Vắng mặt (Đỗ Phấn)… Tinh thần hiện sinh trong tiểu
thuyết đầu thế kỉ XXI được thể hiện đậm đặc ở cảm thức hư vô, ở những thân xác hiện tồn bị quăng quật ngẫu nhiên vào đời sống và chỉ tồn tại nhờ vào những ý muốn tồn tại của chính nó Nổi loạn, dấn thân kiếm tìm tự do, chìm đắm trong nỗi cô đơn bản thể với những cái chết tượng trưng, những chấn thương tinh thần - thể xác… trở thành những phản ứng của con người trước một thực tại đơn điệu, trống rỗng, thiếu vắng những điểm tựa tinh thần Với tinh thần hiện sinh, các nhà văn gặp gỡ nhau ở ý thức mô tả một kiểu nhân vật lạc lõng, cô đơn giữa một thế giới phẳng Con người khước từ, đánh mất sự hiện hữu để dấn thân vào hành trình truy tìm bản thể Nhân vật của Đoàn Minh Phượng lang thang trên những toa tàu vô định để trả lời câu hỏi “Tôi là ai? Tôi từ đâu đến?”, “Tôi muốn biết mình là ai để ngày tôi chết tôi biết rằng
ai đã chết” (Và khi tro bụi) Để trả lời câu hỏi “Những con người làm nên
cuộc sống và bộ mặt phố phường Họ là ai thế nhỉ???”, nhân vật của Đỗ Phấn lùi dần, lùi dần, chối bỏ lối sống khuôn mẫu, bầy đàn để lựa chọn sự vắng mặt, và luôn ám ảnh về sự vắng mặt Con người “ngày một thêm vắng mặt ở ngay chính nơi mình sinh ra và lớn lên”; “Niềm vui giả tạo thì đầy rẫy nhưng
hoàn toàn thiếu vắng nỗi buồn…” (Vắng mặt)
Có thể nói, chính sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên nhân gốc rễ để tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI mang một diện mạo mới Con người trong các tiểu thuyết này hiện ra như một phức thể, đa bội và nhiều mâu thuẫn Nhân vật không còn đầy đặn, không còn được nhìn nhận theo chiều dài phát triển tính cách, mà chỉ là những khoảnh khắc ngắn ngủi, những mảnh vỡ của tâm trạng, những dòng ý thức và những mảnh tiềm thức đan vào nhau như một ma trận cực kì phức tạp của thế giới bên trong con người
Trang 3328
Những cách tân táo bạo về hình thức tiểu thuyết cũng như sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người, tất cả không nằm ngoài tinh thần hướng đến tính dân chủ trong sáng tác và trong tiếp nhận thể loại này Diện mạo của tiểu thuyết chặng này, vì thế, có thể hình dung qua các cụm từ: dân chủ hóa chức năng thể loại của tiểu thuyết và dân chủ hóa cả những yếu tố cấu thành thể loại
* * * Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1975 đến nay đã trải qua ba chặng đường chính, mỗi chặng đường đều gắn liền với những cột mốc đầy ý nghĩa trong lịch sử dân tộc, mỗi chặng đường lại mang một dấu ấn riêng, một đặc trưng riêng Nhưng trên bất kì chặng nào, hành trang chung mang theo vẫn là khát vọng “làm mới, làm giàu, làm khác” truyền thống Tuy vẫn có nhiều lời phàn nàn, nhiều cái nhìn hoài nghi nhưng không thể phủ nhận rằng những nỗ lực đổi mới tiểu thuyết hơn ba thập kỉ qua đã tạo ra không ít tác phẩm có giá trị, bên cạnh sự đông đúc của đội ngũ tác giả, sự dồi dào về số lượng tác phẩm là
sự đa dạng về bút pháp, sự phong phú về đề tài và chủ đề,
Sự vận động của nội dung tiểu thuyết sau 1975, suy cho cùng, chính là
sự vận động để ngày càng nhìn được trung thực hơn về bản chất của con người Làm sao để thể hiện sát con người như sự phức tạp của nó ngoài đời thực, làm sao để nhận thức đúng về ý nghĩa sự tồn tại của con người trong đời sống này Nếu ở chặng hai, cách nhìn về con người đã được “rộng hơn”, đa diện hơn, con người không chỉ có tốt, xấu đơn thuần mà là tốt - xấu lẫn lộn, phong phú phức tạp, không dễ gì phân định rạch ròi; thì ở chặng thứ ba, tiểu thuyết đã nhìn con người ở góc nhìn “gần hơn”, không còn là những khoảng cách được thiêng liêng hóa, mà là sự giải thiêng, sự lo âu cho chính sự tồn tại đầy bất trắc của con người giữa “một cõi nhân gian bé tí” mà đa sự
Trang 3429
1.2 VỊ TRÍ CỦA TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH TRONG QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975
1.2.1 Tạ Duy Anh - “lão Khổ” trong văn chương
Khi muốn nói về một nhà văn, chúng tôi rất muốn “định danh” bằng đôi
ba từ nào đó để cho người đọc dễ nhớ và cũng để nhà văn đó không bị nhầm lẫn giữa rất nhiều những gương mặt nhà văn đặc sắc khác Lẽ dĩ nhiên những
từ ngữ định danh này không thể mang tính bao quát “đại diện” cho chân dung một nhà văn (bởi điều này là rất khó) nhưng hi vọng qua cách gọi ngắn gọn bằng một vài từ ngữ, chúng ta ít nhiều dễ dàng phân biệt được nhà văn này với nhà văn khác
Với trường hợp Tạ Duy Anh, chúng tôi muốn gọi đó là một “lão Khổ trong văn chương” Không phải chỉ vì “lão Khổ” là tên một tác phẩm nổi tiếng của Tạ Duy Anh (nên khi nói “lão Khổ trong văn chương” người ta sẽ biết ngay đó là Tạ Duy Anh) mà còn vì nhiều điểm tương thích khá thú vị giữa Tạ Duy Anh với nhân vật lão Khổ của mình Có lẽ sự tương thích này không hoàn toàn là ngẫu nhiên mà như Tạ Duy Anh từng nói: “mỗi nhà văn thực ra chỉ viết cuốn sách về chính anh ta” Và phải chăng, cũng không hoàn toàn ngẫu nhiên khi nhà văn đặt tên cho nhân vật của mình là Tạ Khổ? Những người xung quanh Tạ Duy Anh thường nói vui rằng, đúng là Tạ Duy Anh
“khổ” thật Mang mặc cảm xấu xí và còi cọc về hình thức từ nhỏ, tuy có tài năng nhưng con đường Tạ Duy Anh đi lại không hề được bằng phẳng Đời sống vật chất thì chưa được tương xứng với tài năng Có khi phải viết đến hói
cả đầu, lòi cả mắt để trả nợ; phải viết giữa những lúc hoạn nạn vợ ốm con đau, giữa những lần chảy máu dạ dày thập tử nhất sinh,… Nên ngay cả cánh phóng viên cũng thường gọi Tạ Duy Anh là “lão Khổ”, một “lão Khổ trong văn chương”
Trang 3530
Tạ Duy Anh tên khai sinh là Tạ Viết Dũng, sinh ngày 9 tháng 9 năm
1959 tại làng Đồng, xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây Sinh ra trong một gia đình không có truyền thống gì về văn chương, thậm chí người trong làng Đồng bấy giờ còn cho rằng chẳng ai có thể làm nên trò trống gì bằng học hành, “tôi không được chuẩn bị mảy may để trở thành nhà văn” - đó
là lời tâm sự của Tạ Duy Anh khi nhìn lại hành trình đến với văn chương của mình Việc đến với văn chương và trở thành nhà văn, với Tạ Duy Anh cũng thật sự là một cơ duyên của số phận Sau khi học xong bậc tú tài, Tạ Duy Anh lên sông Đà học lớp chuyên nghiệp giám sát bê tông Thời gian này ông có viết nhưng mới chỉ là những tập tành của những thể nghiệm ban đầu, chưa để lại ấn tượng nào đặc biệt Cho đến năm 1980, lúc này Tạ Duy Anh cũng chỉ mới 20 tuổi, khi đi thực tập, trong căn lều heo hút ngọn đèn dầu, một đêm ông thấy trong mình “cứ cựa quậy một cái gì đó” ngày càng mãnh liệt, thôi thúc
ông phải cầm bút Và truyện ngắn Để hiểu một con người ra đời Bút danh Tạ
Duy Anh cũng chợt nảy ra rất tình cờ và được ông đề ngay phía dưới Truyện
được đăng ở báo Lao động - một tờ báo danh giá thời bấy giờ Đó là ấn tượng
đầu tiên để người đọc bắt đầu biết đến cái tên Tạ Duy Anh Trong hai năm
1982, 1983, ông viết một loạt truyện ngắn về công trường thủy điện sông Đà Nhưng chính bản thân ông lại cảm thấy không tự tin chút nào về những tác phẩm này của mình Có lẽ ông cần thêm nhiều thời gian để trải nghiệm và để viết những điều máu thịt của mình chăng? Và vì chưa thực sự tự tin nên giai đoạn này ông cũng chưa hề nghĩ đến việc sẽ trở thành một nhà văn chuyên nghiệp Năm 1985, Tạ Duy Anh nhập ngũ Hai năm sau, ông xuất ngũ về làm việc tại công ty thủy điện sông Đà Những năm tháng “trải” đời này đã giúp
Tạ Duy Anh “nghiệm” ra thêm nhiều điều trong cuộc sống Năm 1988, trở về làng Đồng trong một chiều âm u, ông chợt nhận thấy mình có thể viết về làng quê của mình bằng tất cả vốn sống và vốn kí ức mà mình có Ông viết truyện
Trang 3631
ngắn Lũ vịt trời, viết liên tiếp, liền một mạch vào những vỏ bao thuốc lá, dày
chi chít những chữ nhỏ xíu Có thể nói, hành trình đến với văn chương nghệ
thuật của Tạ Duy Anh tuy được manh nha từ sớm nhưng chỉ đến khi viết Lũ
vịt trời, ông mới có cảm giác mình hoàn toàn tự tin Cũng từ đó, ông quyết
tâm theo đuổi con đường văn chương chuyên nghiệp Và cũng trong năm, ông nhập học ở trường viết văn Nguyễn Du
Chỉ một năm sau, năm 1989, với sự xuất hiện của truyện ngắn Bước qua
lời nguyền, Tạ Duy Anh thật sự đã trở thành một cái tên nổi bật được nhiều
độc giả chú ý Chính truyện ngắn này đã mang lại vinh quang rực rỡ cho Tạ Duy Anh Với việc lấy tên tác phẩm để gọi tên “có một dòng văn học bước qua lời nguyền”, nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến (cũng là thầy của Tạ Duy
Anh) đã gián tiếp khẳng định: Bước qua lời nguyền không chỉ có giá trị nhân
văn mà còn là một tư tưởng có tầm thời đại - nhu cầu tự vấn để phát triển của mỗi con người, của mỗi dân tộc Chính những lời nhận định của một người đầy uy tín như Hoàng Ngọc Hiến đã khiến tác phẩm càng thu hút được sự chú
ý của dư luận Đây quả thật là một sự khởi đầu tốt đẹp cho một người mới chân ướt chân ráo vào trường học viết văn như Tạ Duy Anh Trước khi hoàn thành khóa học ở trường viết văn Nguyễn Du, ông cho công bố tiểu thuyết
Khúc dạo đầu (1991), tiếc là tiểu thuyết đầu tay này còn quá khó đọc và Tạ
Duy Anh chưa thực sự để lại dấu ấn của mình ở mảng thể loại này Nhưng, chỉ một năm sau, Tạ Duy Anh đã kịp chứng minh tài năng của mình khi cho
ra đời tiểu thuyết Lão Khổ (1992) Nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến cho đó là
“một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người nông dân Việt Nam” Cũng trong năm 1992, ông tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du (khóa IV) Với thành tích thủ khoa khóa học (đồng thủ khoa với nhà văn Võ Thị Xuân Hà), ông được giữ lại trường giảng dạy về bộ môn Sáng tác văn học Thế là Tạ Duy Anh tiếp tục gắn bó với mái trường này thêm 8 năm nữa Có lẽ
Trang 37truyện ngắn như: Những truyện không phải trong mơ (2002), Truyện ngắn
chọn lọc Tạ Duy Anh (2003), Ba đào kí (2004), Bố cục hoàn hảo (2004) Đặc
biệt thời kì này, Tạ Duy Anh rất thành công với thể loại tiểu thuyết: Đi tìm
nhân vật (2002), Thiên thần sám hối (2004), Giã biệt bóng tối (2008) Tài
năng tiểu thuyết của Tạ Duy Anh như vun trồng bao lâu, nay mới đến mùa
chín rộ Đó là chưa kể đến tập tản văn Ngẫu hứng Sáng, Trưa, Chiều, Tối
cũng gây được nhiều thiện cảm trong lòng độc giả Phải chăng sự tích luỹ vốn sống khi bước vào độ tuổi trung niên, cộng với sự chín chắn của tuổi nghề sau gần 30 năm cầm bút đã giúp Tạ Duy Anh thực sự bước vào giai đoạn độ chín của tài năng?
Bước vào tuổi 30, Tạ Duy Anh đã tự coi mình như một người già, “chả hiểu sao tôi cứ thấy mình già lắm rồi” Phải chăng vì thế ông từng lấy bút danh cho mình là Lão Tạ? Mà nhìn bề ngoài, Tạ Duy Anh đúng là sống như một người già thật Những người xung quanh nhận xét ông sống mô phạm, đến mức rụt rè và cẩn thận Thích ở nhà hơn là đến chỗ đông người Thích một mình hơn là tham gia vào các công việc tập thể Thích sự tĩnh tâm hơn là hội hè đàn đúm Thích sự tự trải nghiệm qua mỗi ngày sống hơn là những chuyến đi thực tế Thích cách làm việc nguyên tắc (theo nghĩa tập trung và nghiêm túc) hơn là buông lỏng và ngẫu hứng Cho nên cũng không ngạc
Trang 3833
nhiên khi Tạ Duy Anh tuyên bố: “tôi thích sự cô độc” Bởi, với Tạ Duy Anh,
sự cô độc chính là “điều kiện cần” cho sự sáng tạo nghệ thuật, “nghệ thuật chỉ nên một mình”
Trong nhiều lần trả lời phỏng vấn, Tạ Duy Anh cũng thường hay nhấn mạnh: “Tôi đã tự coi mình là người già” Trước những luồng ý kiến khen chê trái chiều về các tác phẩm của mình, ông thường tỏ ra bình thản, không quan tâm, bởi “người già có tật không dễ bị tác động bởi bên ngoài” Mà đúng là, nhìn những gì ông làm, người ta hiểu ông “không dễ bị tác động bởi bên ngoài” thật Ông cứ đi, cứ viết trên con đường mình đã chọn Với Lão Tạ, thà chấp nhận sự bài xích, chê bai để mỗi cuốn sách của mình là “độc bản” còn hơn là chỉnh sửa theo ý kiến số đông để rồi nó trở thành “phiên bản” hoặc
“thế bản” Thà chấp nhận sự thất bại để thay đổi thói quen cầm bút và đọc còn hơn là có được sự thành công theo những lối mòn Tạ Duy Anh là như thế! Đúng là “duy chỉ có anh” thật, như nhiều người vẫn đùa Chúng ta không bàn luận cách sống, cách suy nghĩ, cách thay đổi đó đúng hay sai, và giúp Tạ Duy Anh thành công đến mức nào Những cái đó còn cần thời gian trả lời Chỉ biết chắc một điều, Tạ Duy Anh đã đem đến cho chúng ta một cảm nhận rất nhân văn về cách sống cùng trách nhiệm của người nghệ sĩ đích thực Chúng ta tôn trọng cá tính và tinh thần dũng cảm đó của ngòi bút Tạ Duy Anh! Chính tinh thần dám nghĩ dám làm, luôn luôn khao khát sự đổi mới là điều khiến cho nhiều người, dù có thể không yêu văn chương Tạ Duy Anh nhưng lại không thể không phục, dù có thể không thích nhưng không thể không tôn trọng! Bởi làm sao không tôn trọng cho được một nhà văn có thái độ nghiêm túc và đam mê với nghề, dám sẵn sàng với những cuộc thử thách táo bạo trong cách viết, cái mà nhiều người cho là “dám đâm vào bụi rậm” để tìm một lối đi riêng? Tạ Duy Anh sẵn sàng trả giá để bước đi trên con đường hẹp và đầy chông gai Đấy không đơn thuần là sự liều lĩnh như nhiều người nhận xét,
Trang 3934
đấy là một thái độ thực sự nghiêm túc, cầu thị và một khát vọng cách tân mãnh liệt đối với văn chương Và đúng là, Tạ Duy Anh đã “đi xa hơn” thật Sức hút của cái tên Tạ Duy Anh, chỉ xét riêng đối với các sinh viên, học viên làm khóa luận đã phần nào chứng minh cho điều đó
Rất nhiều lần trong tác phẩm cũng như trong các bài phỏng vấn, Tạ Duy Anh đều nêu câu hỏi: “Tôi là ai?” Và ông luôn tìm cách trả lời câu hỏi đó từ những góc độ khác nhau Khi là những lời tự bạch, khi là lời nhân vật mà ông muốn mượn để gửi gắm suy tư của mình Nhưng xem ra, ngay cả bản thân Tạ Duy Anh cũng thật khó lòng để trả lời câu hỏi trên Với vài trang viết về cuộc đời và con người của tác giả này, chúng tôi chỉ hi vọng đem đến một cách nhìn ấn tượng nhất về Tạ Duy Anh- một gương mặt mới trên hành trình nỗ lực cách tân văn học của nước nhà
1.2.2 Vị trí của tiểu thuyết Tạ Duy Anh trong quá trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Ở phần này, để tránh trường hợp dông dài mà lại không đi đúng vào trọng tâm vấn đề, chúng tôi sẽ tập trung vào việc trả lời cho câu hỏi: tiểu thuyết Tạ Duy Anh đứng ở đâu, giữ vị trí nào (tiên phong hay góp phần, vị trí quyết định hay vị trí quan trọng) trên tiến trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975?
Lẽ dĩ nhiên, để xác định vị trí của tiểu thuyết Tạ Duy Anh thì phải đặt trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 (nội dung của mục 1.1.2
mà chúng tôi đã trình bày) Tiểu thuyết Tạ Duy Anh có nhiều sự tìm tòi đổi mới khác biệt so với tiểu thuyết trước 1975 Tuy nhiên, sự khác biệt này không làm cho người ta thấy quá lạ lẫm bởi Tạ Duy Anh không thuộc thế hệ
“làn sóng thứ nhất” như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài,…, thế hệ của những đột phá về nhận thức xã hội, quan niệm văn chương, sự đổi mới lối viết và của các thể nghiệm hình thức trần thuật Người đọc đến với
Trang 4035
tiểu thuyết Tạ Duy Anh trong tư duy trông chờ tác giả của nó sẽ đem đến một cái gì đó mới hơn không, nghĩa là hoàn toàn chủ động trong việc đợi chờ cái mới chứ không phải ngạc nhiên và bị động trước cái mới như trường hợp của Phạm Thị Hoài hay Bảo Ninh Đây dường như là một điều thuận lợi nhưng đồng thời cũng là một sự thử thách lớn cho Tạ Duy Anh Nó đòi hỏi ông phải
có những bước đi mới, không lặp lại những người đi trước và không lặp lại chính mình Xuất hiện kế liền sau những cây bút táo bạo tiên phong, Tạ Duy Anh phải táo bạo và táo bạo hơn nữa trong các cuộc thể nghiệm nghệ thuật để mình không bị lẫn, không bị nhạt nhòa Rất may thử thách đó vừa là áp lực nhưng cũng vừa là động lực để Tạ Duy Anh tạo nên sự bứt phá Trình làng 5 cuốn tiểu thuyết thì đã có đến 4 cuốn trở thành những sự kiện, hiện tượng văn học đáng chú ý trong đời sống văn chương Điều đó cho thấy, tiểu thuyết Tạ Duy Anh tuy không giữ vị trí tiên phong trên hành trình cách tân tiểu thuyết nhưng có vị trí quan trọng, góp phần làm nên diện mạo mới cho tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Và, có thể khẳng định, “sự góp phần này” là không hề nhỏ chút nào Để thấy rõ điều này chúng tôi sẽ điểm qua giá trị của từng cuốn tiểu thuyết làm nên tên tuổi Tạ Duy Anh
Nhìn lại sự nghiệp văn học của Tạ Duy Anh, dễ dàng nhận thấy thể loại đem đến thành công đầu tiên và dựng cái tên Tạ Duy Anh giữa dòng chính lưu của văn học đổi mới không phải là tiểu thuyết mà là truyện ngắn Nhưng tiểu thuyết mới là thể loại khiến người đọc tin vào sức chạy đường dài của ngòi bút Tạ Duy Anh Bởi khi mọi người tưởng Tạ Duy Anh cũng chỉ là “nhà văn một tác phẩm” khi khó lòng vượt qua nổi “Bước qua lời nguyền” thì Tạ
Duy Anh tung ra quả bom thứ hai: tiểu thuyết Lão Khổ Cái đóng góp của tiểu
thuyết này chính là đem đến cho văn đàn một cách nhìn sâu sắc về thân phận người nông dân Việt Nam Nói như Hoàng Ngọc Hiến là “…thêm một giả thuyết văn học về bản chất và thân phận người nông dân Việt Nam” Tuy