1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn 2022: Vấn đề con người trong triết học nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam hiện nay

81 1,4K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 430,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

... giáo dục đào tạo người xã hội Việt Nam Chính vậy, để góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu ảnh hưởng vấn đề người triết học Nho giáo xã hội Việt Nam, chọn đề tài: “ Vấn đề người triết học Nho giáo. .. ĐỀ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM 2.1 Ảnh hưởng triết học Nho giáo người xã hội truyền thống Việt Nam 2.1.1 Quá trình Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam Đạo Nho truyền bá vào Việt Nam không đường... dung vấn đề người Nho giáo ảnh hưởng xã hội Việt Nam Ý nghĩa Luận văn Từ góc độ triết học, Luận văn bước đầu làm sáng tỏ trình bày có hệ thống nội dung quan niệm Nho giáo vấn đề người ảnh hưởng xã

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2013

Trang 2

Sau bốn năm học tập, việc thực hiện khoá luận tốt nghiệp là khâu quan trọng đặc biệt Có được kết quả như ngày hôm nay, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ nhiều phía.

Trước hết tôi xin ghi lại đây lòng tri ân sâu sắc, chân thành đối với thầy giáo Trần Ngọc Ánh - người đã khuyến khích, động viên và tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này.

Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong khoa Giáo Dục Chính Trị, trường Đại học Sư phạm - Đại học

Đà Nẵng, cảm ơn những người bạn đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.

Đà Nẵng, ngày 15 tháng 5 năm 2013 Người thực hiện

Trần Thị Thu Hằng- Lớp 09SGC

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

MỤC LỤC

A

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài 5

5 Cơ sơ lí luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 5

6.Đóng góp của luận văn 5

7 Ý nghĩa của luận văn 5

8 Kết cấu của đề tài……… 5

B NỘI DUNG 6

Chương 1: NHO GIÁO - LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN………6

1.1 Khát quát về Nho giáo và nội dung cơ bản của Nho giáo………… 6

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành và phát triển của Nho giáo 6

1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành Nho giáo 6

1.1.1.2 Khái lược quá trình phát triển của Nho giáo 7

1.1.2 Nội dung cơ bản của Nho giáo 9

1.1.2.1.Quan niệm về vũ trụ 9

1.1.2.2 Quan niệm về xã hội và chính trị - đạo đức 10

1.1.2.3 Quan niệm về giáo dục……… 12

1.2 Vấn đề con người trong triết học Nho giáo 13

1.2.1.Quan niệm về con người 13

Trang 4

1.2.1.1 Quan niệm của Nho giáo về bản tính con người và các mối quan hệ xã

hội……… 13

1.2.1.2 Quan niệm của Nho giáo về chuẩn mực nhân, nghĩa, lễ, trí, tín……23

1.2.2 Quan niệm của Nho giáo về giáo dục, đào tào con người……….26

1.2.2.1 Đối tượng đào tạo……… … 26

1.2.2.2 Mục tiêu và nội dung đào tạo con người của Nho giáo……… 28

1.2.2.3 Quan niệm về phương pháp và chuẩn mực xây dựng con người……32

1.2.3 Một số mặt tích cực và hạn chế trong quan điểm về con người của Nho

giáo ……… 39

Chương 2: ẢNH HƯỞNG TRIẾT HỌC NHO GIÁO VỀ VẤN ĐỀ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI XÃ HỘI VIỆT NAM 42

2.1 Ảnh hưởng của triết học Nho giáo về con người trong xã hội truyền thống Việt Nam……… 42

2.1.1.Qúa trình Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam 42

2.1.2.Ảnh hưởng của Nho giáo đối với con người xã hội Việt Nam thời kì xã

hội phong kiến và thuộc địa nửa phong kiến 43

2.2 Ảnh hưởng của quan niệm về con người trong triết học Nho giáo ở xã hội Việt Nam hiện nay 48

2.2.1 Về mặt tư tưởng chính trị 49

2.2.2 Về mặt tư tưởng đạo đức, lối sống và văn hóa, giáo dục……… 52

2.2.3 Ảnh hưởng các mối quan hệ trong xã hội 63

C KẾT LUẬN……… 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 79

Trang 5

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vấn đề con người là một trong những vấn đề luôn luôn được quan tâm dù trong bất

cứ một thời kỳ nào của lịch sử, hay tại bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới Trung Hoa

là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm pháttriển liên tục, với nhiều phát minh vĩ đại trong lịch sử trên nhiều lĩnh vực khoa học Cóthể nói, văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Tại đây,vấn đề con người là trung tâm của mọi nghiên cứu là đề tài sản sinh ra nhiều học thuyếttriết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới Trong sốcác học thuyết triết học lớn đó phải kể đến trường phái triết học Nho giáo

Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “nhân” (người), đứngcạnh chữ “nhu” (cần, chờ, đợi) Nho gia còn được gọi là nhà nho, người đã đọc thấu sáchthánh hiền được thiên hạ trọng dụng dạy bảo cho mọi người sống hợp với luân thườngđạo lý Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặc trí thức chuyênhọc văn chương và lục nghệ góp phần trị nước Đến thời Khổng tử đã hệ thống hoánhững tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết, gọi là nho học hay “Khổng học” -gắn với tên người sáng lập ra nó

Kể từ lúc xuất hiện từ vài thế kỷ trước công nguyên cho đến thời nhà Hán, Nhogiáo đã chính thức trở thành hệ tư tưởng độc tôn của chế độ phong kiến, nó chuyên đi sâugiải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội với nội dung bao trùm làvấn đề con người Nho giáo là một học thuyết triết học và chính trị - xã hội lớn nhất tronglịch sử triết học Trung Quốc cổ đại Mặc dù ra đời rất sớm nhưng học thuyết Nho giáo đãsớm phát hiện ra vấn đề con người, bàn về vấn đề con người, đặc biệt là đề cập khá sâuđến quan niệm con người và đào tạo con người Đây là một trong những nội dung chủyếu của học thuyết Nho giáo

Trang 6

Nho giáo đã trở thành tư tưởng, văn hoá, in đậm dấu ấn của mình lên lịch sử củamột nửa châu Á trong suốt hai nghìn năm trăm năm qua, và cho đến tận hôm nay, dù tựgiác hay không tự giác, dù đậm hay nhạt, có khoảng một tỷ rưỡi con người đang chịu ảnhhưởng học thuyết Nho gia, học thuyết này đã trở thành cốt lõi của cái mà ta gọi là vănhóa phương Đông

Nho giáo cũng đã du nhập và tồn tại ở Việt Nam gần 2000 năm, đã có tác dụng tolớn đối với xã hội và con người nước ta trong lịch sử, đồng thời cũng để lại những ảnhhưởng khác sâu đậm đến xã hội và con người Việt Nam hiện nay Vì vậy, nghiên cứu vềvấn đề con người của Nho giáo có ý nghĩa cấp thiết trong sự nghiệp giáo dục và đào tạocon người trong xã hội Việt Nam hiện nay

Chính vì vậy, để góp một phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu ảnh hưởngcủa vấn đề con người trong triết học Nho giáo đối với xã hội Việt Nam, tôi đã chọn đề tài:

“ Vấn đề con người trong triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Trong lịch sử của sự phát triển văn minh, văn hóa nhân loại, vấn đề con người vàtương lai con người luôn giữ vị trí trung tâm và trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiềungành khoa học - xã hội khác mà đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn nhưng chỉ cótriết học mới nhận thức con người một cách toàn diện trong chỉnh thể của nó Có thể nóiviệc nghiên cứu con người không phải là một đề tài mới song nó vẫn là vấn đề luôn luônmới

Vấn đề con người trong triết học Nho gia và ảnh hưởng của nó đến xã hội Việt Nam

là một vấn đề rộng, phong phú đã thu hút sự quan tâm và chú ý của nhiều nhà nghiêncứu Thực tế đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này, trong đó phải kể đến nhữngnhà nghiên cứu quan trọng ở những phương diện, góc độ khác nhau như:

Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu về Nho giáo thông qua các tác

phẩm kinh điển, tiêu biểu như: Khổng học đăng của Phan Bội Châu, Nho giáo của Trần

Trọng Kim… Trong hai cuốn sách này, thông qua việc trình bày, phân tích một số phạmtrù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong quá trình phát triển của nó, các tác giả đã giới

Trang 7

thiệu cho người đọc những quan niệm của các nhà nho về thế giới, đặc biệt những quanniệm về con người và xã hội

Cuốn Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm đã phân tích khá kĩ những yếu tố trong

vấn đề con người của Nho giáo cũng như những mặt hạn chế, tích cực của nó, những ảnhhưởng của nó đối với xã hội Việt Nam

Nhìn chung, những cuốn sách trên đều là kết quả của quá trình nghiên cứunghiêm túc của những học giả vừa có cả trí tuệ lẫn niềm say mê Giá trị học thuật củachúng đã được công nhận và có thể nói, chúng khá bổ ích đối với những người quan tâm,nghiên cứu về vấn đề con người trong triết học của Nho giáo

Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về sự thể hiện của Nho giáo trong đờisống tinh thần của xã hội và con người Việt Nam cũng vô cùng phong phú gắn liền vớitên tuổi của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng như: Nguyễn Tài Thư, Trần Đình Hượu, TrầnVăn Giàu, Vũ Khiêu… Trong một số công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã bắtđầu từ những phạm trù cơ bản của Nho giáo để nghiên cứu, xem xét ảnh hưởng của nótrong các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội, mà trong đó vấn đề con người trong triếthọc Nho giáo cũng được quan tâm với nhiều ý kiến đánh giá khác nhau

Công trình Nho học và Nho học ở Việt Nam của GS Nguyễn Tài Thư đã có nhiều

kiến giải mới về ảnh hưởng và vai trò của Nho giáo đối với xã hội và con người ViệtNam trong lịch sử Đề cập tới phạm vi, ảnh hưởng của Nho giáo trong lịch sử tư tưởngViệt Nam, tác giả cho rằng, ảnh hưởng quan trọng hơn của Nho giáo là trong lĩnh vực thếgiới quan và nhân sinh quan

Cuốn sách Quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con

người của TS Nguyễn Thị Tuyết Mai do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, xuất bản năm

2009 đã viết về vấn đề con người, giáo dục và đào tạo con người trong kho tàng lịch sửvăn minh nhân loại Trong quan niệm của Nho giáo về con người, tác giả không chỉ dừnglại ở việc trình bày trên cơ sở Triết học và Giá trị học những mặt tích cực về con người,

về mục đích giáo dục của Nho giáo; nhiệm vụ của người thầy; nguyên tắc, nội dung vàphương pháp giáo dục của Nho giáo, mà tác giả cũng chỉ ra những mặt tiêu cực củaNho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con người Trên cơ sở đánh giá một cách

Trang 8

khoa học về các quan niệm của Nho giáo, tác giả chỉ ra vai trò và ý nghĩa trong quanniệm của Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con người, cơ sở để đề xuấtquan điểm về nhân sinh, giá trị nhân sinh và xây dựng nhân cách sống lý tưởng Bên cạnh

đó, tác giả cũng trình bày quan điểm của cá nhân về sự ảnh hưởng của Nho giáo tới conngười, tới vấn đề giáo dục và đào tạo con người ở Việt Nam trong lịch sử và hiện tại về

sự nhìn nhận và đánh giá con người

Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài báo nghiên cứu về đề tài trên được đăng trên cáctạp chí: Nghiên cứu Trung Quốc, tạp chí Triết học…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trên rất phong phú và đa dạng có ýnghĩa to lớn trong việc cung cấp tài liệu cũng như giới thiệu với bạn đọc khi nghiên cứu

về vấn đề con người trong triết học Nho giáo Tuy nhiên các tài liệu, bài viết đó chưanghiên cứu cụ thể, toàn diện mà chỉ đưa ra một cách khái quát, chung chung Trên cơ sởtiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu đi trước và theo yêu cầu của đề tài, ở bài viếtnày chúng tôi hy vọng nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề con người trong triết họcNho giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của luận văn : Làm rõ những nội dung chủ yếu trong quan niệm của Nho

giáo về vấn đề con người để chỉ ra những giá trị, hạn chế chủ yếu của nó và từ đó rút raảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam

Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, Luận văn tập trung làm rõ những nhiệm vụ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 9

Đối tượng nghiên cứu: Tìm hiểu vấn đề con người trong triết học Nho giáo và ảnh

hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Do phạm vi của khóa luận nên chỉ tập trung xem xét vấn đề

con người trong triết học Nho giáo nhằm mô tả rõ hơn ảnh hưởng của vấn đề đối với xãhội Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Cơ sở lý luận : Luận văn được dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện

chứng,chủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác - Lênin trong nghiên cứu về xã hội và conngười Kế thừa một số một số kết quả nghiên cứu ở một số công trình nghiên cứu liênquan đến đề tài

Phương pháp nghiên cứu: Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp biện chứng duy

vật của Triết học Mác - Lênin kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa họckhác như phương pháp lôgic và lịch sử; phương pháp phân tích - tổng hợp; phương pháp

hệ thống hóa, so sánh…

6 Đóng góp của Luận văn.

Đề tài trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản nhất vấn đề con người củaNho giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam

7 Ý nghĩa của Luận văn

Từ góc độ triết học, Luận văn bước đầu làm sáng tỏ và trình bày có hệ thốngnhững nội dung cơ bản trong quan niệm của Nho giáo về vấn đề con người và ảnh hưởngcủa nó đối với xã hội Việt Nam

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy, nghiên cứu và họctập về Nho giáo nói chung và quan điểm của Nho giáo về vấn đề con người nói riêng vàcho những ai quan tâm đến vấn đề này

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của bài luận văngồm có 2 chương 4 tiết

Trang 10

B PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: NHO GIÁO - LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI

DUNG CƠ BẢN 1.1 Khái quát về Nho giáo và nội dung cơ bản của Nho giáo

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành và phát triển của Nho giáo

1.1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành Nho giáo

Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyêndưới thời Xuân Thu do Khổng Tử (551 - 479 TCN) sáng lập Trải qua những thăngtrầm của lịch sử, Nho giáo ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện hơn ởnhững khía cạnh, mức độ khác nhau

Ra đời trong bối cảnh xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ chuyển giao từhình thái chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến kiểu Phương Đông nên Nho giáothời kỳ này chịu ảnh hưởng của sự biến đổi sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xã hội Giống như các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là một họcthuyết chính trị xã hội nên Nho giáo nảy sinh và tồn tại trên một cơ sở hạ tầng, mộttồn tại xã hội nhất định

Trên lĩnh vực kinh tế: Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc có sự chuyển

biến từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Việc sử dụng đồ sắt trong sản xuất đãđem lại những bước tiến mới cho sự phát triển của nền kinh tế nông nghiệp Trongsản xuất thủ công nghiệp cũng đạt được nhiều thành tựu thúc đẩy một loạt các ngànhnghề thủ công nghiệp ra đời và phát triển như luyện sắt, rèn, đúc…

Trên cơ sở phát triển sản xuất thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng đạt đượcnhiều thành tựu Sự ra đời của tiền tệ đã thúc đẩy các ngành thương nghiệp cùng nhiềutrung tâm buôn bán trao đổi hàng hoá được mở rộng hơn Thành thị xuất hiện và trởthành một cơ sở kinh tế độc lập Lúc này, trong xã hội hình thành tầng lớp quý tộc mới

có thế lực, tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ Vì vậy mà nhu cầu cho con

Trang 11

em quý tộc học hành và thi đỗ ra làm quan đã trở nên phổ biến Đây chính là tiền đề choviệc dạy học và đề cao giáo dục đạo đức nhằm duy trì và ổn định trật tự xã hội.

Trên lĩnh vực xã hội: Cuối Xuân Thu đầu Chiến Quốc, xã hội Trung Quốc đang

bước dần sang chế độ phong kiến sơ kỳ nên Tông pháp của nhà Chu không còn đượccoi trọng như trước Các nước Chư hầu nổi lên, thôn tính lẫn nhau lấn át nhà Chu.Mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt dẫn tới tình trạng trật tự

lễ, nghĩa, cương thường bị đảo lộn, các quan hệ đạo đức suy đồi "Chư hầu lấn quyềnthiên tử, đại phu lấn quyền chư hầu, tôi giết vua, con giết cha, trật tự xã hội rốiloạn"[31, tr.35] Trong bối cảnh loạn lạc đó một vấn đề lớn đặt ra: cách tổ chức vàquản lý xã hội theo mô hình nhà Chu không còn phù hợp nữa Và vấn đề là làm thếnào để thiết lập lại trật tự, kỷ cương đưa xã hội vào thế ổn định để phát triển

Chính trong thời đại lịch sử với những biến động, rối ren như trên đã làm nảysinh một loạt các nhà tư tưởng, các trường phái triết học khác nhau Tất cả đều đứngtrên lập trường của giai cấp mình để tranh luận, phê phán lẫn nhau về một biện phápkhắc phục tình trạng "vô đạo" của xã hội đương thời Lịch sử gọi đây là thời kỳ

"Bách gia tranh minh", "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy) Trong đó, xuất hiệnnhiều nhà tư tưởng, nhiều hệ thống, trường phái triết học như Nho giáo, Đạo giáo,Mặc gia, Pháp gia…Các học thuyết ra đời đều nhằm một mục đích chung là cải biến một

xã hội từ “loạn” thành “trị” mong thiết lập lại xã hội, đem lại sự yên bình cho muôn dân

và sự phồn vinh cho đất nước Nho giáo ra đời cũng vì mục đích đó

Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyếtNho giáo Về sau hai môn đệ của Khổng Tử là Mạnh Tử và Tuân Tử kế thừa và phát triểnnhững tư tưởng và tri thức của Khổng Tử Từ đó về sau Nho giáo trở thành một họcthuyết bề thế, chặt chẽ hơn

1.1.1.2 Khái lược quá trình phát triển của Nho giáo

Nho giáo nguyên thủy

Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm

có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau KinhNhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng

Trang 12

Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắcnhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sáchĐại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốnTrung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò củaông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáonguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay “tư tưởngKhổng - Mạnh” Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học;còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường vàKhổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thựchành.Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia

Hán Nho

Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký Hán Vũ Đế đưa Nhogiáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từđây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoatrong suốt hai ngàn năm Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho Điểm khác biệt sovới Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử

là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”

Vào giữa thời kì Tây Hán, hình thái tư tưởng thống trị Trung Quốc đã có sự biếnđổi Năm 136 TCN, Hán Vũ Đế đã ra lệnh: “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” Từđây, Nho giáo bắt đầu trở thành hệ tư tưởng chính thống của xã hội phong kiến TrungQuốc, đại diện tiêu biểu nhất của Hán Nho là Đổng Trọng Thư

Tống Nho

Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luậnngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầugiường của các nhà Nho Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổinhư Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di Phương Tây gọi Tống nho là

“Tân Khổng giáo” Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sungcác yếu tố “tâm linh” và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đàotạo quan lại và cai trị

Trang 13

Từ đời Hán về sau, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống của phong kiếnTrung Quốc Nhưng cũng vào thời gian này, Phật giáo và Đạo giáo cũng bắt đầu có ảnhhưởng ở Trung Quốc Trước sự xâm nhập và ra đời của những học thuyết mới này, cácnhà Nho thấy rằng Nho giáo quá đơn giản, do đó họ đã tiếp thu quan điểm triết học Phậtgiáo và vũ trụ quan của Đạo giáo để bổ sung cho triết lí Nho giáo thêm phần sâu sắc Đặcđiểm chung của các nhà Nho đời Tống là muốn giải thích nguồn gốc vũ trụ và giải thíchmối quan hệ giữa tinh thần và vật chất mà họ gọi là lí và khí Nói chung họ đều cho rằng

lí có trước khí, vì vậy họ được gọi là phái lý học Nhân vật tiêu biểu của phái lý học là

Chu Đôn Di, Thiện Ung, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy…

1.1.2 Nội dung cơ bản của Nho giáo

1.1.2.1 Quan niệm về vũ trụ

Quan niệm về thế giới của Khổng Tử chịu ảnh hưởng quan niệm vũ trụ của ngườiTrung Hoa thượng cổ được lưu truyền trong dân gian và được ghi trong Kinh Dịch.Khổng Tử rất ít bàn về những vấn đề trừu tượng thuộc về bản chất, ít bàn đến chuyện quỷthần

Khổng Tử tin có trời Nhưng đối với ông, trời có ý chí, ý trời là thiên mệnh khôngthể thay đổi được, không ai chối cải được mệnh trời Ông gộp trời đất vào một thể Quanđiểm này được được thể hiện đầy đủ và rõ ràng và bao quát từ dịch

Trong học thuyết của Nho gia, “trời” có ý nghĩa quan trọng nhất Khổng Tử rất tin

ở Trời, như một quan toà công minh và chính trực Theo ông, Trời quyết định mọi sựthành bại trong hoạt động của con người Ông khuyên con người phải phục tùng ý chí củaTrời, xem sự hiểu biết về ý chí của Trời như là điều kiện tất yếu để trở thành con ngườihoàn thiện Quan niệm về Trời của Khổng Tử tất yếu sẽ dẫn đến thuyết “sống chết cómạng, giàu sang tại Trời” Đó là yếu tố duy tâm, hữu thần luận

Quan điểm về “Thiên mệnh” của Khổng Tử: Trời có ý chí làm chủ tể cả vũ trụ do

đó hiểu biết mệnh trời là một điều kiện để trở thành người hoàn thiện.Ý chí của Trời là

“Thiên mệnh” Ông cho rằng, mỗi cá nhân sống - chết, phú quý hay nghèo hèn đều do

“Thiên mệnh” quy định Phú quý không thể cầu mà có được, do vậy bất tất phải cầu Mặtkhác , Khổng Tử lại cho rằng con người bằng nổ lực của bản thân cũng có thể thay đổi

Trang 14

được cái “ Thiên tính” ban đầu Ông nói, con người lúc sinh ra, cái “tính” trời phú cho làgiống nhau nhưng trong qua quá trình tiếp xúc, học tập…nó làm cho họ khác nhau, có kẻtrí có người ngu (Tính ương cận, tập tương viễn) Đây là mặt tích cực, chỗ “thêm vào”của Khổng Tử so với quan niệm “Mệnh trời” trước đó (13, tr.51).

Đối với quỷ thần: Ông tin có sự tồn tại của quỷ thần, nhưng quan niệm của ông cótính chất lễ giáo hơn tôn giáo Ông cho rằng, quỷ thần là do khí thiêng trong trời đất tạothành Bên cạnh đó, ông lại cho rằng quỷ thần không có tác dụng chi phối cuộc sống conngười và ông phê phán sự mê tín quỷ thần Ông lại cho rằng: Việc của quỷ thần là việccao xa Con người cần phải kính trọng quỷ thần nhưng chẳng nên gần gũi quỷ thần !Khổng Tử đặc biệt cũng rất đề cao hoạt động của con người

Những quan điểm về “Thiên mệnh”, về quỷ thần có phần mâu thuẫn nhau chứng tỏcác nhà Nho gia đã muốn gạt bỏ quan niệm thần học thời Ân - Chu nhưng lại không gạtđược Quan niệm “thiên mệnh” của Khổng Tử sau này được Mạnh Tử hệ thống hóa, xâydựng thành nội dung triết học duy tâm trong hệ thống tư tưởng triết học của Nho gia

1.1.2.2 Quan niệm về xã hội và chính trị - đạo đức

Về chính trị xã hội: Một xã hội không loạn lạc cũng là một xã hội có trật tự, khônglộn xộn, chính vì thế nên ông tổ Nho giáo đã mong ước lập một tổ chức xã hội mà ở đó

có trên có dưới phân minh phổ biến thì đó là trật tự danh vị của thuyết chính danh Chínhdanh là danh và thực phải phù hợp với nhau Danh và phận của mỗi người, trước hết docác mối quan hệ quy định Theo ông mỗi cái danh đó phải có trách nhiệm và bổn phận

mà mỗi cá nhân mang cái danh đó phải có trách nhiệm và bổn phận phù hợp với cái danh

đó Ngoài ra Khổng Tử còn chủ trương dùng thuyết lễ trị để đưa ra cách trị nước an dân

Về đạo đức: Đạo theo Nho gia là quy luật biến chuyển, tiến hóa của trời đất, muônvât, đạo của người chính là nhân nghĩa Nhân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủychung Nho giáo đặc biệt quan tâm đến vấn đề đạo đức của con người Đức gắn chặt vớiđạo, từ đức trong quan điểm Nho giáo thường được dùng để chỉ một cái gì thể hiện phẩmchất tốt đẹp của con người trong tâm hồn ý thức Nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáochính là luân thường Có năm luân cơ bản: cha - con, vua - tôi, anh - em, vợ - chồng, bè -bạn, trong đó ba điều chính là vua tôi, cha con, vợ chồng gọi là tam cương Đặc biệt quan

Trang 15

trọng là quan hệ vua tôi biểu hiện bằng chữ trung, quan hệ cha con được biểu hiện bằngchữ hiếu Thường có năm điều chính gọi là ngũ thường đều là những đức tính trời phúcho con người: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Đứng đầu ngũ thường là nhân nghĩa Đạo củaKhổng Tử trước hết là đạo nhân nghĩa.

Khổng Tử khá sâu sắc khi cụ thể hóa những nguyên tắc đạo đức thành chuẩn mựcđạo đức cho mẫu người lý tưởng Ông cũng thể hiện đúng đắn quan điểm nhìn nhận conngười không chỉ thuần túy dựa vào lời nói mà phải kết hợp giữ động cơ và hiệu quả, giữa

lí trí và tình cảm trong việc đánh giá con người, quan điểm làm gương của Khổng Tử khi

đề cập đến phẩm chất người quân tử vẫn có giá trị nhất định trong việc giáo dục đạo đứcnói riêng và giáo dục nói chung

Rõ ràng sự phân chia này không được đặt đúng trong mối quan hệ chính trị-kinh tế

mà mang màu sắc chính trị - đạo đức nhiều hơn Do đó, thuyết chính danh thể hiện yếu tốduy tâm rõ rệt hơn

Cùng với tư tưởng về chính danh, Nho gia cũng đưa ra tư tưởng về “Nhân”, đó làmối quan hệ giữa con người với con người trong xã hội Nhân ở đây là lòng yêu thươngcủa con người đối với con người trong xã hội, người nhân là người không quan tâm đếnlợi ích mà chỉ làm việc nghĩa Tư tưởng này mang tính nhân văn sâu sắc, nó hướng suynghĩ và hành động của con người vào những điều mà xã hội luôn mong muốn

Tư tưởng về “Lễ”: Lễ hiểu theo nghĩa rộng đó là cơ sở của xã hội có tổ chức, bảođảm cho phân định trên dưới rõ ràng, không bị xáo trộn đồng thời nhằm ngăn ngừanhững hành vi và tình cảm thoái quá Theo nghĩa này, “Lễ” bao gồm những quy phạmđạo đức (trách nhiệm của mỗi cá nhân trong gia đình và ngoài xã hội), những quy định xãhội (quan hệ xã hội và quyền được đề xuất những tư tưởng lớn trong xã hội)

Tư tưởng “Lễ” góp phần điều chỉnh những hành vi hoạt động của con người trong

xã hội và điều chỉnh những bản tính tự nhiên của con người Nếu mỗi cá nhân trong xãhội thực hiện đúng những điều mà thuyết “Lễ” đưa ra thì sẽ tạo cơ sở để ổn định xã hội.Hơn nữa, “Lễ” ở đây cũng là văn hóa bởi nó là sản phẩm do bàn tay của con người tạo ra

và nó xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của xã hội phải ổn định trật tự xã hội Song hạn chế

Trang 16

của “Lễ” là nó mang tư tưởng hoài cổ mà không biết kế thừa những tư tưởng tiến bộ đểphát triển.

Ngoài ra, phái Nho gia cũng đưa ra một số tư tưởng khác như tư tưởng “thượnghiền”: coi trọng người hiền tài, đó là người học được đức nhân và làm điều nhân Muốnđạt được điều đó thì con người phải học sách thánh hiền và học tư tưởng của các nhà Nho

để làm chính trị Hay tư tưởng “thân thân”: trước hết phải yêu thương người thân sau đómới yêu thương người khác trong xã hội

1.1.2.3 Quan niệm về giáo dục

Khổng Tử cho rằng: “Tính tương cận, tập tương viễn” Nghĩa là bản tính tự nhiêncủa mọi người gần giống nhau, nhưng do việc học tập, rèn luyện của mỗi người khácnhau nên khác nhau [29, tr.52] Theo ông, mục đích của giáo dục là rèn luyện nhân cách.Người nhân muốn có trí, dũng thì phải học tập, tu dưỡng Người quân tử không chỉ học

để hiểu biết sự vât, tri thức mà còn để tu , tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Ông chủ trươngthực hiện đường lối giáo dục theo nguyên tắc : Học đi đôi với hành, đồng thời phải biếtđào sâu suy nghĩ, thông qua việc nghiên cứu cái cũ để biết cái mới

Sau khi Khổng Tử mất, học thuyết của ông được các thế hệ học trò tiếp tục pháttriển và trở thành trường phái lớn bấy giờ

Có thể nói, nội dung cơ bản trong học thuyết Nho giáo đã thể hiện một cách cụ thểnội dung tư tưởng của Khổng Tử Mặc dù tư tưởng của ông không phải lúc nào cũngđược trọng dụng nhưng với những nét tiến bộ trong tư tưởng của mình học thuyết củaông đã có mặt trong tất cả các triều đại Trung Hoa Nó để lại dấu ấn của mình không chỉtrong sách vở mà cả trong cuộc sống hiện thực của nhiều thế hệ và đã vượt qua biên giớicủa nước mình, cắm rễ vào phong tục, tập quán của nhiều nước láng giềng lân cận

1.2 Vấn đề con người trong triết học Nho giáo

Nếu như triết học phương Tây thiên về hướng ngoại, với xu hướng tập trungnghiên cứu thế giới vật chất để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, thì triết học phươngĐông nói chung và Nho học nói riêng thiên về hướng nội, nghiên cứu con người và thếgiới nội tâm của con người và từ đó đi đến các vấn đề xã hội Bởi vậy, không có gì là lạkhi ta thấy Nho học xem con người là hạt nhân, là đối tượng để nghiên cứu chủ yếu

Trang 17

1.2.1 Quan niệm về con người

1.2.1.1 Quan niệm của Nho giáo về bản tính con người và các mối quan hệ xã hội.

Quan niệm về bản tính con người:

Vấn đề tính người là một trong những nội dung cơ bản của Nho giáo Nókhông chỉ gắn bó, liên quan tới vấn đề nguồn gốc, bản chất con người mà còn đặt cơ

sở, nền tảng cho các nhà Nho giáo đề xuất tư tưởng giáo dục của mình Đây đượcxem như phương thức hữu hiệu nhất để đưa xã hội từ loạn lạc về thái bình, thịnh trị

Người đầu tiên đề cập tới vấn đề bản tính con người trong phái Nho giáo là

Khổng Tử Trong sách Luận ngữ, có tới 3 lần ông nhắc tới chữ "tính" luận về tính

ông nói "Bản tính người ta gần đều giống nhau, nhưng chịu ảnh hưởng khác nhau mà

xa nhau" [31; 614] Theo Khổng Tử, tính của con người khi mới sinh ra là hoàn toàntrong trắng, ngây thơ, tự nhiên, chưa bị thay đổi bởi hoàn cảnh bên ngoài Vì cái bảntính ấy có được do trời nên mọi người đều có bản tính giống nhau Nhưng trong quátrình học tập, tiếp xúc, do sự tác động của các yếu tố bên ngoài nên bản tính của conngười có thể bị thay đổi Điều đó làm cho mọi người trở nên khác nhau "Người tasinh ra vốn ngay thẳng, kẻ cong vạy mà vẫn còn sống chẳng qua nhờ may mắn thoátchết" [31; 332] Khổng Tử còn khẳng định rằng để giữ được bản tính lành trong mỗicon người thì họ phải được giáo dục, giáo hoá

Khổng Tử cho rằng bản tính của mỗi con người là hoàn toàn khác nhau Sự khácnhau của bản tính con người một phần là do thiên phú bẩm một phần lớn là do hoàn cảnh

xã hội, do phong tục tập quán quy định Con người tốt hay xấu thiện hay ác là do sốngtrong xã hội mà nên Chính vì vậy mà bản tính con người đối với ông : Ở mọi người lúcđầu vốn gần giống nhau về sau mới xa nhau Ông cho rằng “tính tương cận dã, tập tươngviễn dã” tức là bản tính thì gần nhau do tập tục đi đến xa nhau

Như vậy Khổng Tử cho rằng bản tính con người vốn gần giống nhau nhưng dođiều kiện hoàn cảnh, lối sống tập quán khác nhau mà đi đến khác nhau Điều đó có mộtđiểm nào đó giống với triết học Mác-Lênin sau này là đời sống xã hội, tồn tại xã hộiquyết định ý thức tư tưởng của con người Khổng Tử nói chữ tính ở đây không phải là

Trang 18

tính nết tốt, xấu mà tính ở đây là phần thiên lý trời phú cho có đủ nhân, nghĩa, lễ, trí,thiện, đức trong con người Mặc dù, chưa bàn nhiều đến vấn đề "tính người" songnhững tư tưởng, những quan niệm của Khổng Tử đưa ra có ý nghĩa to lớn với cácnhà nho sau này.

Đến Mạnh Tử, ông đã nói một cách cụ thể hơn về tính người: “Nhân chi sơ, tínhbản thiện” Theo ông, tính thiện được thể hiện ở tứ đức: nhân, nghĩa, lễ, trí Nhờ có cácđức ấy mà người ta mới khác loài cầm thú Ông cho rằng con người khác loài cầm thú chỉ

có vậy, nếu giữ được là người quân tử, không giữ được là tiểu nhân Tứ đức ấy có nguồngốc từ “tứ đoan” (bốn đầu mối), ông nói: “Do đó mà xét, không có lòng trắc ẩn, chẳngphải là người; không có lòng tu ố, chẳng phải là người; không có lòng từ nhượng, chẳngphải là người; không có lòng thị phi, chẳng phải là người vậy Lòng trắc ẩn là đầu mốicủa điều nhân, lòng tu ố là đầu mối của điều nghĩa, lòng từ nhượng là đầu mối của lễ,

lòng thị phi là đầu mối của trí vậy” (Do thị quan chi: vô trắc ẩn chi tâm, phi nhân dã; vô

tu ố chi tâm, phi nhân dã; vô từ nhượng chi tâm, phi nhân dã; vô thị phi chi tâm, phi nhân dã Trắc ẩn chi tâm, nhân chi đoan dã; tu ố chi tâm nghĩa chi đoan dã; từ nhượng chi tâm, lễ chi đoan dã; thị phi chi tâm, trí tri đoan dã) [3, tr.861] Mạnh Tử cho rằng,

người ta có bốn đầu mối nêu trên ví như người có hai tay, hai chân vậy Vì con người cónhân, nghĩa, lễ, trí nên con người khác loài cầm thú Theo ông, những quy phạm đạo đức

ấy mới chỉ manh nha ở trong lòng con người, vì vậy, con người mới khác loài vật là có

“thiện đoan” (tính thiện) Do đó, nếu con người biết nuôi dưỡng thiện đoan thì có thể trởthành bậc thánh nhân Ngược lại, nếu để thiện đoan bị mai một đi thì con người trở nêních kỷ, nhỏ nhen không khác gì loài cầm thú Từ những nội dung trên, ta có thể thấy,Mạnh Tử nói về tính thiện của con người là để chỉ cái bản chất của con người, để phânbiệt với các tồn tại khác

Ở đây, Mạnh Tử giải thích về tính người thiên về khía cạnh những giá trị xãhội Con người ta sinh ra vốn đã thiện đó là điểm phân biệt giữa con người với loàicầm thú Con người sở dĩ trở thành bất thiện là do vật dục sai khiến, do hoàn cảnhtác động Tư tưởng này là sự kế thừa và phát triển tư tưởng "tính người" của Khổng

Trang 19

Tử Mạnh Tử cũng đề cao vai trò của giáo dục, giáo hoá trong việc tu dưỡng bản tínhthiện của con người.

Đối lập với thuyết “tính thiện” của Mạnh Tử, Tuân Tử lại đưa ra thuyết “tính ác”.Ông viết: “Tính của con người là ác, còn thiện là do con người làm ra Tính của conngười, sinh ra là có sự hiếu lợi, thuận theo tính đó thì thành ra tranh đoạt lẫn nhau mà sự

từ nhượng không có; sinh ra là đố kỵ, thuận theo tính đó thì thành ra tàn tặc, mà lòngtrung tín không có; sinh ra có lòng ham muốn của tai mắt, có lòng thích về thanh sắc,thuận theo tính đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa văn lý không có Như thế thì theo cáitính của người ta, thuận cái tính của người ta, tất sinh ra tranh đoạt, phạm vào cái phận,làm loạn cái lý mà mắc lỗi tàn bạo Cho nên phải có thầy, có phép tắc để cải hóa đi, có lễnghĩa để dẫn dắt nó, rồi sau mới có từ nhượng, hợp văn lý mà thành ra trị Xét vậy màthấy rõ tính của con người là ác, mà cái thiện là do con người làm ra vậy”

(Nhân chi tính ác, kỳ thiện giả ngụy dã Kim nhân chi tính, sinh nhi hữu hiếu lợi

yên, thuận thị, cố tranh đoạt sinh, nhi từ nhượng vong yên Sinh nhi hữu tật ác yên, thuận thị, cố tàn tặc sinh nhi trung tín vong yên; sinh nhi hữu nhĩ mục chi dục, hữu hiếu thanh sắc yên, thuận thị cố dâm loạn sinh, nhi lễ nghĩa văn lý vong yên Nhiên tắc tòng nhân chi tính, thuận nhân chi tình, tuất xuất vu tranh đoạt hợp vu phạm phận, loạn lý nhi quy

ư bạo Cố tất tương hữu sư pháp chi hóa, lễ nghĩa chi đạo, nhiên hậu xuất từ nhượng, hợp vu văn lý nhi quy vu trị Dụng thử quan chi; nhiên tắc nhân chi tính ác minh hỹ, kỳ thiện giả ngụy dã) [14, tr.354].

Theo Tuân Tử, lòng hiếu lợi, lòng đố kỵ và ham muốn dục vọng là đầu mối của tínhngười (tính ác), khi mới sinh ra đã có rồi Còn các đức nhân, nghĩa, lễ, trí là do bậc thánhnhân đặt ra, chứ không phải do trời sinh ra Ở đây, Tuân Tử thừa nhận “Tứ đoan”, nhưngkhác với Mạnh Tử, “Tứ đoan” ấy không có sẵn mà phải qua giáo dục mới có được Ởluận điểm này, Tuân Tử đã nhận thấy vai trò tác động của nhân tố xã hội, của sự học tậpđối với tính người Từ đó, Tuân Tử chủ trương học theo lễ nghĩa để hoàn thiện conngười, đề cao việc giáo hóa con người nhằm điều tiết cái bản năng, hướng con người tớicái thiện: “Tính ác của người ngày nay, tất phải có việc học tập trước rồi sau mới có

Trang 20

chính, có lễ nghĩa trước rồi sau mới có trị” (Kim nhân chi tính ác, tất tương đãi sư pháp

nhiên hậu chính, đắc lễ nghĩa nhiên hậu trị) [14, tr.355].

Quan niệm về bản tính con người của Tuân Tử và Mạnh Tử có sự đối lập, tráingược nhau song đều thống nhất ở chỗ: Có thể giáo hoá giáo dục để hướng conngười tới điều thiện Tuy nhiên, trong học thuyết của mình cả hai ông đều chưa nhậnthấy được con người là thực thể thống nhất giữa cái tự nhiên và cái xã hội

Như vậy, Mạnh Tử và Tuân Tử đã triển khai tư tưởng “tính tương cận” của Khổng

Tử theo hai hướng khác nhau Xét về mặt hình thức, dường như tư tưởng của các ông đốilập nhau Về mặt nội dung thì tư tưởng của hai ông bổ sung cho nhau và cùng thống nhất

ở chỗ cho rằng phải giáo dục con người và mục đích là hướng thiện

Ngoài những quan niệm trên thì con người phải kể đến thuyết tính người củaCáo Tử "Bản tính của con người ta như nước chảy… không phân biệt thiện với bấtthiện" [31; 1193] Trong tư tưởng của Cáo Tử, tính người của con người không thiệncũng không ác nhưng nó có thể thay đổi tuỳ theo sự tác động của hoàn cảnh xã hội

và việc giáo dục tu dưỡng của mỗi con người

Cáo Tử coi nhân tính như tờ giấy trắng muốn viết đen thì đen, viết đỏ thì đỏ Ôngnói đến bản chất xã hội của con người.Con người sống trong xã hội chịu tác động củahoàn cảnh xã hội Chính hoàn cảnh xã hội là môi trường để con người trở thành tốt xấu

về sau

Như vậy khi bàn đến con người các nhà nho đã đưa ra những quan niệm khác nhau

về tính người.Tuy nêu lên bản tính con người khác nhau nhưng các nhà nho đều có điểmthống nhất chung cần phải giáo dục con người đến tính thiện

Mặc dù có sự khác nhau trong quan niệm về bản tính vốn có của con ngườinhưng các nhà Nho đều khẳng định rằng: Bản tính của con người không phải nhấtthành bất biến mà có thể thay đổi thông qua sự tác động của giáo dục, hoàn cảnh.Phương thức tốt nhất để giữ được tính thiện, loại trừ tính ác là con người luôn suynghĩ và hành động theo điều thiện, tu dưỡng, rèn luyện bằng nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

Đó là điều có thể lý giải tại sao Nho giáo lại coi trọng giáo dục, đề cao giáo hoá vàcoi đây là công cụ cai trị

Trang 21

Quan niệm của Nho giáo về các mối quan hệ con người trong xã hội

Khác với các học thuyết triết học Phương Tây, triết học phương Đông nói chung

và đặc biệt là Nho giáo nói riêng, luôn xem xét con người trong tổng hòa các mối quan hệ

xã hội Ở Nho giáo, chúng ta thấy, không tồn tại một con người cá nhân, một cái tôi táchkhỏi xã hội Chính việc nhìn nhận con người trong các mối quan hệ xã hội đã giúp Nhogiáo đề ra được những giải pháp bình ổn xã hội Theo quan niệm Nho giáo, mọi ngườitrong xã hội đều bị trói buộc bởi năm mối quan hệ tự nhiên Đó là quan hệ vua - tôi, cha -con, vợ - chồng, anh - em, bạn - bè Năm mối quan hệ này phản ánh hai mặt của cuộcsống hiện thực là quan hệ gia đình và quan hệ xã hội Ngoài năm mối quan hệ này cácnhà nho còn bàn đến các mối quan hệ khác như quan hệ quân dân, thầy trò ,nam nữ…

Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ gia đình được củng cố bằng chế độ tôngpháp và chế độ gia trưởng, còn các quan hệ xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trịđẳng cấp Đi cùng với các mối quan hệ đó là những yêu cầu giao tiếp bắt buộc mà mỗithành viên trong xã hội phải thực hiện

Trước hết mối quan hệ vua tôi: Trong quan niệm của các nhà Nho, quan hệ vua

-tôi là mối quan hệ xã hội quan trọng nhất, đứng đầu trong ngũ luân, gắn liền với chính trị,liên quan trực tiếp đến sự hưng - vong của triều đại, của chế độ, được các nhà nho chú ýbàn nhiều nhất Thời kỳ Khổng Mạnh quan hệ vua - tôi là quan hệ có đi có lại vì sựnghiệp chung trị nước an dân Khổng Tử đặt ra vấn đề “vua ra vua”, “ tôi ra tôi”

Theo Nho giáo, vua là người đứng đầu mỗi quốc gia, được coi là Thiên tử (contrời), có sứ mệnh to lớn là thay trời để trị dân, giáo dân Vua là người trụ cột của đất nướcphải xứng đáng đạo làm vua Vua phải lấy nhân nghĩa đối xử với bề tôi, bề tôi với vuaphải trung “Vua nhân tôi trung”, “Vua lấy lễ mà sai khiến tôi, tôi đem lòng trung màphụng sự vua” Vua là tấm gương sáng để bề tôi và người dân noi theo Mạnh Tử cũngcho rằng thánh nhân phải là người mẫu mực để người đời ăn ở theo nhân luân

Khái niệm “tôi” (bề tôi) trong quan điểm của Nho giáo là một khái niệm bao quát

nhiều đối tượng, trong đó bao hàm hai đối tượng chính : Thứ nhất, “bề tôi” là“dân” - dân

chúng bao gồm tất cả thần dân trong thiên hạ, họ là lực lượng đối lập với tầng lớp thống

trị gồm vua, quan Thứ hai, “bề tôi” là những người giúp nhà vua trong việc cai trị, là

Trang 22

tầng lớp quan lại, hợp cùng với nhà vua thành tầng lớp, giai cấp thống trị, có vai trò trịnước, trị dân, giáo dân Về phận bề tôi các nhà nho yêu cầu bề tôi đối với vua phải hếtlòng trung thành đem nhân nghĩa hết lòng thờ vua giúp nước Bề tôi phải làm cho vua tindùng nếu vua không tin dùng thì lui về ở ẩn để giữ trọn khí tiết và lòng trung của mình.

Bề tôi có trách nhiệm khuyên can để nhà vua sửa tính sửa nết, bề tôi nói phải vua nghetheo Khổng Tử nói: “Làm quan trung với bậc quốc trưởng ,muốn đem hết lòng giúpnước há không đem ý kiến sáng suốt của mình mà bày tỏ với bậc quốc trưởng, há khôngcan gián người sao”

Mạnh Tử đặt điều kiện có đi có lại trong mối quan hệ vua tôi Nếu vua yêu quý bềtôi thì bề tôi cũng yêu quý vua nếu vua coi thường bề tôi thì bề tôi cũng không tôn trọngvua

Theo đó, đạo làm vua trong mối quan hệ với dân, đòi hỏi nhà vua phải thật sựthương yêu, coi trọng nhân dân, nuôi dân, dưỡng dân, giáo dục dân Và ngược lại, đạocủa bề tôi (dân) là phải kính trọng vua như cha mẹ, nghe theo sự giáo hóa và tuân thủ mọimệnh lệnh của người trên Đối với quan lại, đạo làm vua là đòi hỏi nhà vua phải lấy Lễ

mà đối đãi với quan lại, trọng dụng người hiền tài Còn đạo làm người của bề tôi (quanlại) là phải tận trung với vua, khi được nhà vua trọng dụng, sử dụng làm quan thì phảilàm hết trách nhiệm của mình phụng sự nhà vua, triều đại, phụng sự nhân dân Trên tất

cả, Nho giáo yêu cầu đạo làm vua là phải luôn tu dưỡng đạo đức, trở thành tấm gươngđạo đức cho kẻ dưới noi theo, đạo của bề tôi là phải tuyệt đối trung thành, nghe theo vàbảo vệ vua

Như vậy quan hệ vua tôi thời Khổng Mạnh thật là khăng khít, có đi có lại, cónghĩa có tình,mối quan hệ hai chiều làm nền tảng cho các mối quan hệ khác trong xã hội.Sau mối quan hệ vua tôi là mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái Đây là mối quan hệ máu

mủ ruột thịt gần gũi nhất trong gia đình

Về mối quan hệ cha mẹ - con cái: cha(mẹ) sinh ra con cái phải hết lòng yêu

thương nuôi dạy con cái, cha mẹ săn sóc cho con cái, cho con cái đi học để khi con cáitrưởng thành có thể giúp ích cho đời Cha mẹ có trách nhiệm dựng vợ gả chồng cho concái

Trang 23

Còn Mạnh Tử cũng dẫn trong kinh lễ dạy rằng: “Đàn ông khi làm lễ đội mũ thì chadạy cho; con gái khi làm lễ gả chồng thì mẹ gả cho, mẹ đưa con gái ra cửa răn con gáirằng: “Mày đi về nhà chồng mày phải kính, phải răn, chớ trái miệng chồng” Qua lời mẹdặn con gái cho thấy bổn phận của cha mẹ với con cái ngay cả đến lúc trưởng thành.

Về phía con cái, các nhà nho cho rằng con cái với cha mẹ phải giữ tròn đạo hiếu.Khi bàn về đạo hiếu Khổng Tử mới đề cập đến con cái phải lễ phép với cha mẹ đi theochí hướng của cha Mạnh Tử và Tăng Tử đã phát triển tư tưởng của Khổng Tử và bàn vềđạo hiếu đầy đủ hơn sâu sắc hơn

Mạnh Tử nói : Đạo hiếu là suốt đời thờ cha mẹ, chỉ có phung dưỡng cha mẹ làquan trọng nhất Tăng Tử và một số nhà nho khác quy nội dung của hiếu về 3 điều:

- Tôn kính cha mẹ, vâng lời cha mẹ ,nghe theo lờo cha mẹ, theo chí hướng của chamẹ

- Phụng dưỡng cha mẹ suốt đời

- Khi cha mẹ qua đời phải chôn cất chu đáo, thờ cúng cha mẹ cho có lễ

Các nhà nho còn nêu lên những điều bất hiếu Mạnh Tử nói : Bất hiếu có năm tìnhhuống sau: lười biếng chẳng muốn lam điều gì, không đoái hoài đến cuộc sống của cha

mẹ Ham thích cờ bạc không đoái hoài đến cha mẹ Ham muốn tiền hoặc quá yêu quý vợcon, quên chăm sóc cha mẹ Ham thích hưởng lạc nhục dục để cha mẹ tủi nhục, hổ thẹn.Quá ham mê võ lực đánh nhau tàn bạo chém giết người thiện lương khiến cha mẹ nguykhốn

Mạnh Tử nêu lên tội bất hiếu: một là cha mẹ làm điều bất nghĩa mà mình khôngbiết can ngăn, để cha mẹ măc phải tiếng xấu Hai là nhà nghèo mà mình chẳng chịu ra vớiđời kiếm chút lộc nuôi cha mẹ Ba là chẳng chịu lấy vợ để đến nỗi không có con làmtuyệt mất sự tế tự với tổ tiên

Các nhà nho rất chú trọng giáo dục về đạo hiếu mong muốn con cái trở thànhnhững người con hiếu thảo trong gia đình làm tất cả những gì để đền đáp công ơn sinhthành dưỡng dục của cha mẹ làm cho cha mẹ yên vui với tuổi già hãnh diện với bà conhàng xóm với xã hội

Trang 24

Tuy trong nội dung giáo dục lòng hiếu thảo còn những điều thái quá rườm rànhưng việc giáo dục lòng hiếu thảo của con cái với cha mẹ và mối quan hệ cha con nóichung của Nho giáo đã khá thành công vì nó dễ đi vào lòng người dễ được xã hội chấpnhận Nó là mối quan hệ hai chiều có đi có lại, trách nhiệm đi liền với nghĩa vụ phù hợpvới tình người đạo lý làm người Nó có tác dụng tích cực trong việc nâng cao trách nhiệmcũng như nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái.

Có thể nói đây là một trong những mối quan hệ cơ bản hợp thành “ngũ luân” và

“tam cương” Từ chỗ cho rằng, nhà là gốc của nước, Nho giáo đã đưa ra những chuẩnmực, quy phạm đạo đức trong mối quan hệ cha - con nhằm duy trì trật tự, tôn ti trong giađình cũng là góp phần củng cố trật tự, kỉ cương, ổn định xã hội và ràng buộc trách nhiệmgiữa con người với con người Trong mối quan hệ này, các nhà Nho yêu cầu “cha hiền

từ - con hiếu thảo” Hầu hết các nhà Nho đều cho rằng, đạo của cha mẹ là phải nuôidưỡng con cái nên người, đạo của con cái là phải phụng dưỡng, thành kính, có hiếu vớicha mẹ Nhìn chung, quan điểm về mối quan hệ cha - con của các nhà Nho tiên Tần làmối quan hệ hai chiều, có đi có lại, trách nhiệm đi liền với nghĩa vụ và về cơ bản là phùhợp với tình người, đạo lý làm người, tình phụ tử, tình phụ mẫu Nó có tác dụng tích cựctrong việc đề cao trách nhiệm cũng như nghĩa vụ trong mối quan hệ giữa cha mẹ và concái Nhưng các nhà Nho từ đời Hán trở đi, quan niệm về đạo “hiếu” trong mối quan hệcha - con là hết sức chặt chẽ, giáo điều gắn với những nghi thức rườm rà, những đòi hỏi

vô lý buộc con người phải tuân theo một cách gò bó, hình thức và an phận trong một xãhội phong kiến đầy áp bức, bất công

Về mối quan hệ vợ - chồng: Theo Mạnh Tử thì vợ - chồng phải tôn trọng nhau

(Phu - phụ hữu biệt) Nhưng Nho gia lại rất đề cao vai trò vị trí của người chồng, là ngườigiữ vai trò chủ yếu trong gia đình, còn người vợ là thứ yếu, luôn ở địa vị phụ thuộc Chonên phu xướng phụ tuỳ Càng về sau, nhất là từ Đổng Trọng Thư (thời nhà Hán) trở đi,mối quan hệ bất bình đẳng giữa vợ và chồng càng tăng, người vợ còn phải chịu ràng buộcbởi: Tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.Tứ đức: Công, dung,ngôn, hạnh

Trang 25

Về mối quan hệ anh em: Đối với đạo làm người trong mối quan hệ này cả Khổng

Tử, Mạnh Tử và các nhà Nho khác đều cho rằng, anh - em trong nhà phải có thứ tự trêndưới, có trước, có sau “trưởng ấu hữu tự” Các nhà nho đều yêu cầu anh em trong mộtnhà phải cư xử với nhau có trên có dưới trước sau hoà thuận, tôn trọng quyền anh trưởngtrong gia đình Theo đó, anh là người được xếp ở vị trí trên nên đạo làm anh là phải cótrách nhiệm thương yêu, quan tâm lo lắng, chăm sóc cho người em Ngược lại, em ở vị trídưới, thấp hơn nên đạo làm em là phải lấy “mộ nhân nghĩa mà thờ anh”, anh dạy bảo emphải nghe lời, anh nói em nghe, anh có quyền thay thế cha điều hành mọi công viêc tronggia đình khi cha mất còn em phải vâng lời anh, nghe theo anh chỉ bảo có như vậy giađình anh em mới hoà thuận vui vẻ

Trong khi xây dựng các mối quan hệ khác trong ngũ luân các nhà nho cũng chú ý

xây dựng mối quan hệ bạn bè (bằng hữu) Mối quan hệ này lấy chữ tín làm trọng: “Bằng

hữu hữu tín” Chữ tín làm bạn bè vượt qua khó khăn thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Chữtín làm cho tình bạn mãi bền vững Khi nói về kẻ sĩ Khổng Tử nói: “Phải cư xử với ngườithiết tha hết tình và giữ niềm hoà duyệt” Tình bạn với quan niệm của nhà nho được xâydựng không dựa trên tiền tài danh vọng, giàu sang phú quý mà là nghĩa là tình Họ kếtbạn với nhau, động viên nhau giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn hoạn nạn

Trong mối quan hệ thầy trò: Quan hệ giữa thầy và trò trong đạo Nho có chứa

đựng những chuẩn mực đạo đức tốt đẹp Nó yêu cầu người thầy phải là người có đạo đức,

tự giác nêu gương và là tấm sáng cho học trò noi theo Người thầy không chỉ dạy tốt màcòn phải là một điển hình về việc rèn luyện tu dưỡng và học tập, người thầy phải trởthành một mẫu mực về nhân cách đạo đức, một tâm hồn cao cả, có tình thương và sựkhoan dung độ lượng đối với học trò Người thầy phải là người học không biết chán, dạykhông biết mỏi, dạy tất cả mọi người không phân biệt giàu nghèo, cao thấp Bên cạnh đó

nó cũng đặt ra cho người học những yêu cầu nhất định, đó là, phải ham học, khiêm tốn vàbiết tôn trọng người thầy… Bởi khiêm tốn là một trong những phẩm chất đạo đức Nhogiáo và là đức tính của người học, muốn thế trong học tập người học phải luôn khiêm tốn.Trong tư tưởng Nho giáo đã khẳng định, học để biết, mà thế nào là biết: biết thì nói làbiết, không biết thì nói là không biết như thế là người biết, học phải biết ta biết người,

Trang 26

đừng lo người khác không biết gì về mình mà luôn nghĩ mình đã biết gì về người ta Khotri thức nhân loại là vô tận, tri thức của người học là cái có hạn trong cái vô tận của trithức nhân loại Tôn trọng thầy người học phải kính yêu thầy, coi thầy như cha mẹ mình,tôn trọng tri thức thầy đã tiếp thu của nhân loại để dạy mình…

Ngoài quan hệ ngũ luân các nhà nho có đề cập đến quan hệ quân dân Qua đó chocác bậc vua chúa thấy được tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân Nên vua phải biếtchăm lo đến dân ăn ở cho được lòng dân

Những quan niệm trên có tính chất tích cực trong giai đoan đầu trong lúc xã hộirối ren , đạo đức trật tự kỉ cương xã hội bị đảo lộn thì những quan niệm của Nho giáo vềluân thường đạo lý có tác dụng tích cực với xã hội Đăc biệt từ những tư tưởng và quanniệm trên các nhà nho đã giáo dục xây dựng lớp người kẻ sĩ đông đảo Tuy còn có nhữngmặt khiếm khuyết han chế song là những mẫu người lý tưởng có đủ nhân nghĩa hiếutrung

Trên đây là các mối quan hệ cơ bản giữa người với người mà các nhà nho dàycông xây dựng.các mối quan hệ ấy đều liên quan ràng buộc tác động ảnh hưởng qua lạilẫn nhau.các nhà nho giáo nhằm giáo dục con người có đức nhân, mọi người đều thấmnhuần và làm theo những điều nhân nghĩa Các mối quan hệ này ở thời Khổng Mạnh làmối quan hệ đầy đặn có tính chất hai chiều, có đi có lại mang tính nhân bản sâu sắc, cótác dụng tích cực trong viêc giáo dục và đào tạo nhân cách của con người trong xã hội

1.2.1.2 Quan niệm của Nho giáo về chuẩn mực nhân, lễ, nghĩa, trí, tín

Nho giáo nói về năm đức chủ yếu (ngũ thường) là năm tiêu chuẩn đạo đức căn bảnnhất có ở con người Theo Khổng Tử, muốn hợp Lễ thì người quân tử phải có nhân - Trí -Dũng Mạnh Tử bỏ Dũng và nói nhiều về Lễ nghĩa thành bốn đức: Nhân - Nghĩa - Lễ -Trí Đổng Trọng Thư thêm Tín thành năm đức : Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín

Nhân là đạo làm người, là cách cư xử của mình với người, là yêu người, bác ái.

Theo Khổng Tử “Nhân” không chỉ là riêng một đức tính nào mà chỉ chung mọi đức tính.Người có Nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên Nhân là nghĩa của đạo làmngười Kẻ có Nhân là người tình cảm chân thật, hết lòng vì nghĩa, cho nên có Nhân thìbao giờ cũng hiếu đễ, lễ nghĩa, trung thực Kẻ bất nhân thì đầy những trí thuật, rất khôn

Trang 27

khéo, linh lợi tình cảm đơn bạc không thành thực, chỉ vì lợi mà không có lễ nghĩa, dối trá,gian ác, phản loạn, lừa gạt trên dưới Tuy nhiên học thuyết Nhân của Khổng Tử có nộidung giai cấp rõ ràng Chỉ có người quân tử, tức giai cấp thống trị mới có thể có đượcđức nhân, còn kẻ tiểu nhân không thể có được đức nhân Nghĩa là đức nhân chỉ là đứccủa người quân tử, của giai cấp thống trị.

Lễ: Trước hết, Lễ là phạm trù chỉ tôn ti trật tự, kỉ cương của xã hội mà mọi người,

mọi giai cấp trong xã hội phải học phải tuân theo Theo đó, trong xã hội có vua- tôi, con, chồng- vợ, có người trên kẻ dưới, có việc trái việc phải cho nên phải có Lễ để phânminh rõ ràng

Thứ hai, Lễ là những chuẩn mực, những quy tắc, những yêu cầu có tính bắt buộc,ràng buộc với mọi hành vi, ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội cũng nhưtrong các hoạt động khác của con người Tuy nhiên Lễ không phải là một tiêu chuẩn đạođức hoàn toàn độc lập mà là một vấn đề luôn gắn liền với Nhân Trong mối quan hệ giữaNhân và Lễ thì Nhân là gốc, là nội dung còn Lễ là biểu hiện của nhân Người thi hành Lễ

là để rèn luyện, tu tâm dưỡng tính, tạo cho con người có điều kiện thực hiện đức nhân và

có những hành vi đúng mực, tốt đẹp

Nghĩa: Nghĩa gắn liền với Nhân, Nhân thể hiện tình cảm sâu sắc thì nghĩa là nghĩa

vụ để thực hiện tình cảm đó Do đề cao nghĩa ngang với Nhân nên Mạnh Tử khuyênngười ta chỉ nên nói điều “nhân nghĩa” “Tôi vì Nhân nghĩa mà thờ vua, con vì Nhânnghĩa mà thờ cha, em vì Nhân nghĩa mà thờ anh Vua tôi, cha con, anh em đều bỏ lợi, đốivới nhau chỉ bằng lòng hâm mộ nhân nghĩa Quốc gia như thế mà không hưng thịnh thìchưa từng có” Vì vậy nghĩa mục tiêu sống mà con người cần vươn tới

Nghĩa cũng gắn liền với dũng, muốn làm việc nghĩa mà không có dũng thì khôngthể thực hiện được, Khổng Tử trọng dũng gắn liền dũng với nghĩa, trong đó nghĩa chỉ đạodũng và dũng phải phù hợp với nghĩa

Phạm trù Nghĩa trong đạo đức Nho giáo là sự đối nhau với Nhân Nếu nhân thể hiệntrong các mối quan hệ với người khác thì nghĩa là sự thể hiện trong tự vấn lương tâmmình Lòng tự trọng là đầu mối của Nghĩa Nghĩa có nghĩa đen là điều nên nói, việc nênlàm Ngoài ra, Nghĩa còn là cách cư xử với mọi người theo công bằng và lẽ phải Trong

Trang 28

thử thách đạo làm người, chữ Nghĩa trong đạo đức Nho giáo giúp cho con người ta biếtphân minh việc phải trái, làm việc tốt, việc thiện ở đời và hành xử công bằng theo lẽphải

Đến Đổng Trọng Thư thì chữ Nghĩa đi liền với lợi Lợi để nuôi thân thể, nghĩa đểnuôi cái tâm Tâm không có nghĩa, không thể được, thân thể không có lợi, không thể yênđược Trong thời đại ngày nay, lòng hổ thẹn và tinh thần vì nghĩa thường bị nhiều thứlàm cho lung lay, mất đi tính tốt đẹp vốn có như uy vũ của kẻ quyền thế, địa vị côngdanh, tiền tài lợi lộc

Trí trong học thuyết Nho gia, Trí được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân

biệt, đánh giá con người và tình huống, qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho phảiđạo Nói chung, theo Khổng Tử, phải có Trí thì con người mới vươn tới được đức nhânnên không thể người nhân mà thiếu Trí Đề cập tới Trí , Khổng Tử một mặt tin vào mệnhtrời và cho rằng tri thức bẩm sinh là tri thức thượng thặng, là thượng trí, trời sinh ra đã cósẵn và không biến đổi Mặt khác, ông đã xếp Trí một trong những tiêu chuẩn quan trọngnhất của con người hoàn thiện Ông cho rằng Trí là kết quả của quá trình học hỏi trongđời sống Nếu không học hỏi thì dù có thiện tâm đến đâu cũng bị cái ngu muội, lầm lạc,phản loạn làm biến chất Chữ Trí trong Nho giáo giúp con người ta luôn luôn phấn đấuhọc tập, để hoàn thiện bản thân mình Trí là biết người, là dùng người trực, bỏ kẻ gian.Như vậy có thể giáo hóa kẻ gian thành người trực Trí là biết được một cách đúng đắn, rõràng, phải trái trong mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống

Chữ Tín theo Nho giáo là lòng thật thà, niềm tin, đức tính giữ lời hứa hẹn, gữ

đúng, làm đúng những điều đã nói ra Chữ Tín trông đạo đức Nho giáo hướng con ngườiđến sự ngay thẳng, chân thật trong hành xử, trong đối nhân xử thế Đối với bằng hữu thìphải làm cho người ta tin, có như vậy tình bạn mới bền vững được Đặc biệt những ngườitrị nước, trị dân thì đức tín càng quan trọng hơn

Chữ Tín được xếp cuối cùng trong đạo đức Nho giáo nhưng không phải vì thế mà

hạ thấp chữ Tín Bởi chữ Tín là hệ quả của bốn đức trên, có Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí thì mới

có Tín Tín có Nghĩa là uy tín, là lòng tin, có lòng tin tuyệt đối vào chính đạo, vào đạo lícủa thánh hiền, vào mối quan hệ giữa vua-tôi, cha-con, anh-em, chồng- vợ, bằng- hữu

Trang 29

Chính vì thế Khổng Tử đã nói: “Nhân vô tín tắc phản- người không có chữ tín rất dễphản” hoặc “Nhân vô tín bất lập- người không có tín thì đừng lập.

Khi tìm hiểu về đạo đức Nho giáo ngoài việc tìm hiểu năm đức Nhân, Lễ, Nghĩa,Trí, Tín hay còn gọi là ngũ thường chúng ta cũng không thể bỏ qua đức trung và đứchiếu Nếu coi đức Nhân là “đỉnh cao chót vót của tháp ngọc ngà” (Quang Đạm) thì đứcHiếu là gốc của tất cả mọi đạo đức Nho giáo luôn đề cao mối quan hệ giữa gia đình và

xã hội, gia đình mạnh thì nước mới mạnh, gia đình đoàn kết, có trật tự kỷ cương thì đấtnược mới có kỷ cương phép tắc Nho giáo coi nhà là gốc của đất nước, cũng như nước làgốc của thiên hạ, muốn bình thiên hạ phải biết trị quốc, muốn trị quốc phải biết tề gia

Như vậy Nho giáo coi năm đức Nhân, Nghĩa, Lễ , Trí , Tín là những phẩm chất

đạo đức cơ bản của mẫu người lí tưởng trong xã hội xưa kia và ngày nay Năm đức nàyvẫn còn giá trị đối với người hiện đại, vẫn còn được coi là những phẩm chất đạo đức cơbản của con người

1.2.2 Quan niệm của Nho giáo về giáo dục, đào tạo con người

1.2.2.1 Đối tượng đào tạo

Học thuyết Nho giáo là học thuyết chính trị xã hội chỉ tâp chung giáo dục conngười về đức nhân song đối tượng đào tạo lại rất rộng Đối tượng chung mà Nho giáo đàotạo là những người nào muốn học đều được dạy Khổng Tử là người đâu tiên mở trườngnhận dạy thanh niên mọi giới thành công Ông tuyên bố : “Hữu giáo vô loại” tức là bất kẻloại nào không phân biệt hạng người, gia thế ai cũng dạy hết nghĩa dù là con quý tộc haybình dân Khổng Tử cũng coi ngang hàng Ông không phân biệt kẻ giàu người nghèo, kẻnào xin học muốn dâng lễ gì ông cũng nhận dù chỉ là mười cái nem Khi nhận vào họcông không phân biệt người thiện kẻ ác

Như vậy đối tượng đào tạo của Nho giáo rất rộng không phân biệt đẳng cấp giàunghèo, người thiện kẻ ác, nếu muốn học thì đều được dạy Việc mở rộng đối tượng đàotạo trước hết phục vụ yêu cầu giáo dục của các nhà nho là giáo dục “đức nhân”, giáo dụccon người trong xã hội thành con người có đức nhân

Trang 30

Khổng Tử là người đặt viên gạch đầu tiên cho việc bình dân hoá giáo dục, xoá bỏđẳng cấp trong đào tạo giáo dục con người của xã hội Trung Hoa cổ đại.Tuy vậy, đốitượng chủ yếu Khổng Tử cũng như Nho giáo nói chung tập trung đó là:

- Con em thuộc giai cấp thống trị để có người tiếp tục phục vụ sự nghiệp cuả chaanh họ

- Con em tầng lớp khác nhưng có điều kiện học tập và nguyện trở thành ngườiphục vụ cho giai cấp thống trị

- Ngoài ra Nho giáo con dạy cho dân nhằm mục đích dễ sai khiến

Sở dĩ các nhà nho tập chung đào tạo con em giai cấp thống trị vì trong lịch sử bất

kỳ giai cấp thống trị nào cũng phải đào tạo con em mình phục vụ cho giai cấpmình.Trong tình hình xã hội thời Xuân Thu luôn rối ren loạn lạc việc này càng bức thiết

Khổng Tử đề cao việc học tập, có học tập mới làm nổi công việc, mới có thể trịdân trị nước Có học mới biết phán đoán khỏi sai lầm không bị “che lấp”

Khổng Tử chú trọng việc giáo dân nhất trong số các triết gia thời tiên Tần, ông đã

bỏ gần hết cuộc đời vào việc đó Mặc Tử cũng chủ trương dạy dân đấy nhưng cácThượng thiên đồng , ông chỉ bảo mọi người dân đều học những gì thiên tử cho là thiệnnhất là đạo kiếm ái, yêu mọi người như chính mình làm lợi lẫn cho nhau để cái gì thiên tửkhen dân cũng khen cái gì thiên tử chê dân cũng chê, nhờ vậy nước mới được trị Mặc Tửkhông công nhận công dụng giáo hoá của lễ nhạc Pháp gia chỉ dạy dân biết pháp luật đểkhông phạm pháp Còn Lão Tử cho rằng giáo dục làm dân sinh ra tinh khôn ham muốnnhiêu hơn gây hại lớn

Duy có Khổng Tử là cho nhiệm vụ dạy dân ngang với nuôi dân do:

- Dạy dân là một cách yên ân mình muốn tự lập phải thành lập cho người, mìnhmuốn thành công phải giúp người thành công

- Dân được giáo hoá dễ sai khiến cai trị, công việc chính hình sẽ nhẹ đi rất nhiều.Mục đích của Nho giáo là dạy người cho đến bậc nhân nhưng trước hết phải giáodục cho nhân dân những diều luân thường đạo lý

1.2.2.2 Mục tiêu và nội dung đào tạo con người của Nho giáo

Mục tiêu đào tạo con người của Nho giáo

Trang 31

Mục tiêu đào tạo con người của Nho giáo là xây dựng những mẫu người lý tưởngcủa xã hội đó là kẻ sĩ, kẻ trượng phu, người quân tử.

Kẻ sĩ

Người đi học nho là kẻ sĩ Con đường vào đời của kẻ sĩ là phải học Học giỏi thì đithi, thi đậu thì làm quan không phải học chỉ để biết

Khổng Tử là người rất chú trọng đến việc học tập Ông nói rằng muốn xứng đáng

là kẻ trị dân trước hết phải tu thân ,muốn tu thân thì phải học

Con đường vào đời của kẻ sĩ trước hết phải học Học ở đây là học đạo học cáchlàm người, học để trở thành người nhân đức Kẻ sĩ là người luôn luôn trau dồi đức hạnh,

bỏ lợi mà làm điều nghĩa, dám sông pha trước nguy nan để cứu người

Mạnh Tử cũng nói kẻ sĩ phải luôn giữ lấy nghĩa, làm tròn bổn phận củamình.Trong mọi cử chỉ hành đọng của mình phải biết sĩ hỗ đặng tránh những việc trái lễnghĩa Khi đi xứ đến các nước khác đừng làm nhục cái mạng lệnh nhà vua giao phó chomình như vậy có thể gọi là kẻ sĩ Kẻ sĩ với bạn bè phải tha thiết hết tình, với anh em thìgiữ niềm hoà duyệt

Nho giáo chia kẻ sĩ ra làm nhiều hạng Khổng Tử chia làm bốn hạng là:

- Hạng thứ nhất: Trong mọi cử chỉ hành động của mình phải biết hổ thẹn trướcnhững hành vi xấu của mình, đi khắp nơi đùng làm nhục cái mạng lệnh của vua

- Hạng thứ hai: Họ hàng khắp xóm đều khen là lễ nghĩa

- Hạng thứ ba: Lời nói quả quyết, hơi cố chấp hẹp hòi nhưng chấp nhận được

- Hạng thứ tư: Độ lượng nhỏ nhen không đáng nói tới

Còn Tuân Tử cho rằng kẻ sĩ có năm hạng: kẻ thông sĩ, kẻ công sĩ, kẻ trục sĩ, kẻxác sĩ và kẻ tiểu nhân

Kẻ đại trượng phu

Là những con người bất khuất, cứng rắn, là một trong những mục tiêu đào tạo conngười thiết thực phục vụ cho giai cấp thống trị Khổng Tử chưa bàn nhiều đến kẻ trượngphu song cũng đã nêu lên tính cách về con người này Khổng Tử nói đến người dũng thì

có đủ, có sức lực, gan dạ đối phó với nghịch cảnh nên chẳng sợ bậy

Trang 32

Mạnh Tử nêu lên người đại trượng phu với những tính cách cao thượng đó là làmtheo điều nhân điều lễ điều nghĩa Đó là chỗ ở rộng nhất, chỗ đáng đứng nhất con đườngsáng nhất trong thiên hạ Dù bất kì hoàn cảnh nào cũng tu thân, làm điều thiện không lùibước trước uy lực tiền tài nghèo khó.

Tuân Tử đề cao đức tháo của người trượng phu Con người hiên ngang sống nhưthế, chết như thế vẫn giữ khí tiết giữ lòng trung trước quân thù Nói về dũng Tuân Tử nêulên ba loại dũng là thượng dũng, trung dũng, hạ dũng

Nói về người trượng phu, các nhà nho tuy có cách nói khác nhau song mục tiêuchung là xây dựng con người kiên cường bất khuất

Mẫu người cao quý lý tưởng mà các nhà nho đều tập trung xây dựng đó là ngườiquân tử

Người quân tử

Có thể nói đạo của Khổng Tử là đạo của người quân tử Mục tiêu giáo dục conngười của Nho giáo là đào tạo con người có đức nhân mà người quân tử là mẫu người lýtưởng nhất, cao quý nhất của xã hội phong kiến Quân tử vố có hai nghĩa là “quân tử cầmquyền “ và “nho quân tử” Quân tử cầm quyền là người làm chính trị làm quan có địa vịtôn quý không làm việc nhỏ nhặt chỉ làm việc lớn

Nho quân tử là người học rộng mà có khí tiết, người học đạo thánh hiền mà ăn ởtheo bậc thánh hiền Người quân tử có thể làm quan hay không làm quan nhưng phải làngười ham mê học tập, học rộng hiểu sâu đạo thánh hiền, có phẩm chất tôn quý trong bất

kỳ hoàn cảnh nào, trong bât kì tàng lớp giai cấp nào

Người quân tử trước hết phải là người ham mê học đạo hơn cả sự sống của mình,

có học đạo mới hiểu được đạo thánh hiền mới trở thành người đức nhân Đối với ngườiquân tử học đạo quan trọng song quan trọng hơn hết là hành đạo tu thân sửa mình

Như vậy người quân tử là người hoàn thiện hoàn mỹ và chỉ có phẩm chất cao quýmới là người quân tử Người quân tử trước hết phải có nhân là người quân tử trong ý nghĩlời nói việc làm trong bất kì đâu trong bất kì hoàn cảnh nào cũng không xa rời điều nhân

Quân tử là người trọng nghĩa luôn hành động theo đúng đạo lý làm người Nghĩa

là tiêu chuẩn quan trọng của người quân tử là gốc của đạo làm người

Trang 33

Quân tử là người trọng lễ thì giao tiếp và hành đạo mới đúng theo đạo được Quân tử là người giàu trí: Trí là sự nhận thức hiểu biết sâu rộng Có trí là không bịlầm lạc, không bị mê hoặc không bị nghi lầm Người có trí mới có thể phân biệt đúng sai,điều hay lẽ phải mới có sự cư xử và hành động đúng theo đạo người quân tử.

Quân tử là người có đứng dũng: Quân tử là mẫu người cao quý nhất của xã hội.Người quân tử không chỉ là người có nhân, nghĩa, lễ, trí mà còn có dũng Dũng là mộtphẩm chất không thể thiếu được của người quân tử Người có dũng là người có sức mạnh,gan dạ, quả cảm dám đương đầu với những khó khăn hiểm nghèo

Mục tiêu giáo dục đào tạo của Nho giáo là xây dựng thành những con người đứcnhân Muốn có đức nhân phải có trí, song chỉ có trí vẫn chưa đầy đủ mà phải có dũng Códũng mới có thể hành động để thành người có nhân có nghĩa

Quân tử có đức tín cao: Đức tín là một phẩm chất của con người quân tử Trongmối quan hệ con người với con người, tín được thể hiện trong việc giữ lời hứa, lời giaoước, trước sau như một Lời nói với việc làm thống nhất với nhau, từ đấy gây được niềmtin cho con người Đức tin là một phẩm chất rất quan trọng của con người Con người cótiền tài, địa vị, danh vọng, có cuộc sống giàu sang phú quý song không giữ được chữ tínthì người đời khinh rẻ, coi thường Ngược lại dù trong cuộc sống nghèo khó bần hàn,song giữ được chữ tín thì người đời lại rất coi trọng

Có thể nói đạo của Khổng Tử là đạo của người quân tử Cho nên mục tiêu đào tạocon người của Nho giáo là đào tạo người có đức nhân Theo Nho gia thì người quân tử làmẫu người lý tưởng nhất, cao quý nhất của xã hội phong kiến

Nho giáo cho là đức hạnh của người quân tử như giáo, mà đức hạnh của người dân như

cỏ Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống

Nội dung đào tạo con người của Nho giáo

Đối tượng đào tạo của Nho giáo thì rộng nhưng nội dung đào tạo ở lĩnh vực chínhtrị, đạo đức mà tập trung ở “Tam Cương” và “Ngũ thường” (Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí -Tín)

Các lĩnh vực khác như các ngành khoa học tự nhiên, các kiến thức về sản xuất vậtchất, kinh tế-xã hội, vui chơi giải trí đều không được chú ý

Trang 34

Có làn ông Phàn Trì xin Khổng Tử dạy nghề làm ruộng, Khổng Tử đáp rằng: “Tachẳng như lão nông phu rành việc cày cấy” Ông Phàn Trì lại xin dạy cách trồng cây.Khổng Tử đáp rằng: “Ta chẳng như lão làm vườn quen nghề trồng trọt” Khi Phàn Trì rarồi Khổng Tử trách rằng: “Gã phàn Tu (Phàn Trì) chí khí nhỏ hẹp lắm thay”

Nội dung đào tạo hạn hẹp của Nho Giáo được thể hiện qua một số tác phẩm kinhđiển chỉ giới hạn trong lĩnh vực chính trị và đạo đức cụ thể với các sách sau:

Tứ thư gồm: Luận ngữ, Mạnh Tử, Đại học, Trung Dung

- Luận ngữ là cuốn sách của phái Tăng Tử cùng các môn đệ ghi lại các lời giảngcủa Khổng Tử cùng những lời đàm đạo của ông với học trò Nội dung chủ yếu là bàn vềđường lối chính trị “lấy nhân làm gốc”

- Mạnh Tử là cuốn sách do học trò của ông ghi chép lại những lời dạy của ông đốivới họ Nội dung chủ yếu giáo dục về ngũ luân: Mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng,anh em, bè bạn Về ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Trong đó tập trung giáo dục conngười về đức nhân

- Đại học là cuốn sách nhận thức luận bàn về mối quan hệ giữa sự học của ngườiquân tử với thành ý (ý chí) chánh tam (lý tưởng), tu nhân (nhân cách) tề gia - trị quốc -bình thiên hạ (nhiệm vụ)

-Trung dung: cuốn sách dạy cách ứng xử của người quân tử sao cho thuận thiên,thuận địa, thuận nhân tâm

Trang 35

- Kinh Xuân Thu: Là bộ biên niên sử Tư tưởng của Khổng Tử trong đó thể hiệnquan điểm của ông về đường lối chính trị của các triều đại lịch sử.

Tất cả các sách trên đều được các nhà nho đã vào giảng dạy trong các trường lớpcủa mình Nội dung chủ yếu của các sách cũng chỉ đề cập đến chính trị, đạo đức Việcdạy và học của Nho giáo bắt đầu từ lục nghệ (sáu ngành) từ lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự(đánh xe ngựa), thư (viết), sổ (tính toán) đến đức hạnh chính trị, ngôn ngữ và văn học

1.2.2.3 Quan niệm về phương pháp và chuẩn mực xây dựng con người

Vấn đề xây dựng con người của các học phái triết học Trung Quốc cổ trung đạiđặc biệt là Nho giáo là coi trọng sự nỗ lực của cá nhân, sự quan tâm của gia đình và xãhội Từ việc xác định được bản chất con người như nội dung trên, Nho giáo đã đề ranhững chuẩn mực để xây dựng nên con người, hướng con người theo “tính thiện”

Nho giáo đặt vấn đề xây dựng con người một cách thiết thực Cốt lõi của Nho giáo

là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xă hội Để tổ chức xã hội có hiệuquả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu - người lýtưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua, quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội,phân biệt với "tiểu nhân", những người thấp kém về điạ vị xã hội, sau "quân tử" còn chỉ

cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với "tiểunhân" là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Điều này có thể được

lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền) Đểtrở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi

tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ làđạo lí Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đâybao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên

lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuântheo Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnhtrời Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh) Cần phảihiểu cơ sơ triết lí của Nho giáo mới nắm được logic phát triển và tồn tại của nó

Nho gia hướng con người vào tu thân và thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễncăn bản nhất luôn được đặt vào vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội Quan điểm về vũ trụ,

Trang 36

nhân sinh, về nhận thức luôn thấm đượm ý thức đạo đức Tất cả mọi vấn đề đều lấy đạođức làm chuẩn Vì vậy vấn đề thiện và ác của con người thành tiêu điểm tranh luận quantrọng nhất trong lịch sử triết học Trung Quốc Người Trung Quốc trong lịch sử coi việc tuthân, dưỡng tính cá nhân liên hệ mật thiết với nhận thức thế giới khách quan,thậm chí coi

tu thân dưỡng tính là cơ sở để nhận thức thế giới khách quan

a Tu thân

Khổng Tử đặt ra một loạt Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức để làmchuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội Ngũ Luân và Ngũ Thường là lẽđạo đức mà nam giới phải theo Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo.Khổng Tử cho rằng người trong xă hội giữ được Ngũ Luân, Ngũ Thường, Tam Tòng, TứĐức thì xã hội được an bình

Tam cương: tam là ba, cương là giềng mối Tam cương là ba mối quan hệ: quân

thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ chồng)

Trong xã hội phong kiến, những mối quan hệ này được các vua chúa lập ra trênnhững nguyên tắc“chết người”

- Quân thần: “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” nghĩa là: dù vua có bảo cấpdưới chết đi nữa thì cấp dưới cũng phải tuân lệnh, nếu cấp dưới không tuân lệnh thì cấpdưới không trung với vua Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt luôn luôn công minh,tôi trung thành một dạ

- Phụ tử: “phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu nghĩa là: cha khiến con chết, conkhông chết thì con không có hiếu”

- Phu phụ: “phu xướng phụ tùy” nghĩa là: chồng nói ra, vợ phải theo

Ngũ thường: Ngũ là năm, Thường là hằng có, Ngũ Thường là năm điều phải

hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín

- Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật

- Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải

- Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người

- Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai

- Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy

Trang 37

Đây là năm chuẩn mực để xây dựng nên một con người quân tử trong xã hội, tất

cả mọi người dù ở các địa vị khác nhau đều cần rèn luyện bản thân theo năm chuẩn mựctrên Ví dụ cụ thể như trong việc xây dựng tư cách người thầy: Nho giáo hết sức chútrọng đến việc học tập Mục đích của học tập là tu dưỡng phẩm hạnh, có những hiểu biết

để xây dựng lẽ sống của người quân tử “tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ” Để đào tạonên những người quân tử như vậy bản thân các nhà Nho luôn phải là những tấm gươngsáng trong việc học tập và tu dưỡng bản thân, tu dưỡng phẩm hạnh theo “ngũ thường”:nhân, nghĩa, lễ, trí, tín “Nhân” là yêu thương con người nói chung Người thầy phải biếtyêu thương học trò, Khổng tử chủ trương thu nhận học trò từ mọi tầng lớp không phânbiệt sang hèn, đẳng cấp “hữu giáo vô loại”, nhưng cũng không vì thế mà lẫn lộn tốt, xấu

“Nghĩa” là cái để thực hiện chữ nhân, không chỉ trách nhiệm thể hiện tình cảm và nghĩa

vụ trong quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, … mà còn cả trong quan hệ thầy - trò.Xuất phát từ tình yêu thương học trò, người thầy nâng cao nghĩa vụ trách nhiệm của mìnhđối với trò “Lễ” đóng vai trò quan trọng trong việc đưa “nhân” “nghĩa” vào cuộc sốnghàng ngày, là toàn bộ những quy tắc ứng xử lớn nhỏ mà đạo đức Nho giáo đòi hỏi mọingười phải nhất nhất tuân theo Khổng tử đã rất sâu sắc khi nhận thức được rằng cái vẻ bềngoài có thể củng cố tư tưởng bên trong và chỉ có sự rèn luyện hàng ngày mới xây dựngcon người một cách bền vững Với ý thức ấy, ông đòi hỏi từ vua chúa đến thường dânđều phải rèn luyện và nghiêm khắc với mình từ những sinh hoạt nhỏ nhất Vậy ngườithầy phải là người luôn rèn luyện tác phong nhà giáo, từ ăn mặc đến cử chỉ lời nói…trong cuộc sống hàng ngày Lúc sinh thời, Khổng tử thường nói với các môn đệ của mìnhmột cách tự hào rằng: “Ta học không biết chán, dạy người không biết mỏi” Đồng thờiông khuyên các trò phải học cho rộng, suy nghĩ cho sâu sắc, chín chắn, đồng thời phảitích cực thực hành những điều đã học Vì lẽ đó cách dạy của Khổng tử là lấy bản thânmình ra để dạy “dĩ thân vi giáo”, nghĩa là muốn dạy người ta điều gì thì mình phải làmđiều đó trước, muốn trách người khác điều gì thì trước hết mình phải không mắc nhữnglỗi đó “Trí” được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con người vàtình huống, qua đó tự xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo, muốn vậy phải học.Mọi trí thức đều bắt nguồn từ việc học, “nhân bất học bất tri lý”, muốn biết phải học

Trang 38

Khổng Tử không chỉ tự khẳng định mình “học không biết chán, dạy không biết mỏi” ôngcòn khẳng định “hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế giã ngu”… kể cả người muốn làm điềunhân đức nhưng không học hỏi sẽ bị sự ngu dốt che lấp đi Vậy, học hỏi để cho biết làmột việc rất quan trọng có ý nghĩa quyết định trong đối nhân xử thế Nho giáo yêu cầu,người thầy muốn học trò nghiêm túc thì trước hết phải tự nghiêm khắc với bản thân mình,muốn truyền thụ những tri thức cho học trò thì trước hết người thầy cũng phải có tri thứcuyên thâm, mà muốn được vậy, người thầy cũng phải ham học

Tam tòng: Tam là ba, Tòng là theo Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo,

gồm: "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"

- Tại gia tòng phụ: nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,

- Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,

- Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời phải theo con

Tứ đức: bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: Công - Dung - Ngôn - Hạnh.

- Công: khéo léo trong việc làm

- Dung: hoà nhã trong sắc diện

- Ngôn: mềm mại trong lời nói

- Hạnh: nhu mì trong tính nết

Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:

* Đạt Đạo Đạo có nghĩa là "con đường", hay "phương cách" ứng xử mà người

quân tử phải thực hiện trong cuộc sống "Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi,đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè" (sách Trung Dung), tương đươngvới "quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu" Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũluân Trong xă hội cách cư xử tốt nhất là "trung dung" Tuy nhiên, đến Hán nho ngũ luânđược tập chung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường haycòn gọi là Tam tòng

* Đạt Đức Quân tử phải đạt được ba đức: "nhân - trí - dũng" Khổng Tử nói: "Đức

của người quân tử có ba mà ta chưa làm được Người nhân không lo buồn, người tríkhông nghi ngại, người dũng không sợ hãi" (sách Luận ngữ) Về sau, Mạnh Tử thay

"dũng" bằng "lễ, nghĩa" nên ba đức trở thành bốn đức: "nhân, nghĩa, lễ, trí" Hán nho

Trang 39

thêm một đức là "tín" nên có tất cả năm đức là: "nhân, nghĩa, lễ, trí, tín" Năm đức nàycòn gọi là ngũ thường.

* Biết Thi, Thư, Lễ, Nhạc Ngoài các tiêu chuẩn về "đạo" và "đức", người quân tử

còn phải biết "Thi, Thư, Lễ, Nhạc" Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóatoàn diện

b Hành đạo

Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị.Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "tề gia, trị quốc, bình thiên hạ".Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mứccuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kim chỉ nam cho mọi hành động củangười quân tử trong việc cai trị là hai phương châm:

* Nhân trị Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và

coi người như bản thân mình Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói: "Kỷ

sở bất dục, vật thi ư nhân - Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác" (sáchLuận ngữ) Nhân được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: "Ngườikhông có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?"

* Chính danh Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người

phải làm đúng chức phận của mình "Danh không chính thì lời không thuận, lời khôngthuận tất việc không thành" (sách Luận ngữ) Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: "Quânquân, thần thần, phụ phụ, tử tử - Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con"

Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúngđược tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Và đến lượt mình,chín chữ đó chỉ nhằm phục vụ mục đích cai trị mà thôi

Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư, lễ,nhạc Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà không cần phải

có quyền Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thì được gọi là tiểunhân (như dân thường) Trong Nho giáo rất chú trọng đạo làm người Phải nói đạo làmngười của Khổng Tử dạy là đạo làm người trong xă hội phong kiến Chúng ta đều biết làtrong xă hội có giai cấp thì những nguyên tắc đánh giá hành vi của con người, phẩm hạnh

Trang 40

của con người trong mối quan hệ với người khác và trong mối quan hệ với nhà nước, TổQuốc…đều mang tính giai cấp rõ rệt và có tính chất lịch sử Những quan niệm về đạo đứcđiều thiện, điều ác “thay đổi rất nhiều từ dân tộc này tới dân tộc khác, từ thời đại này tớithời đại khác, đến nỗi thường thường trái ngược nhau” (Enghen) Những quan niệm đạođức mà Khổng Tử đề ra không phải là vĩnh cửu, nhưng có nhiều phương châm xử thế, đãgiúp ông sống giữa bầy lang sói mà vẫn giữ được tâm hồn cao thượng, nhân cách trongsáng, suy đến cùng đạo làm người ấy bao gồm hai chữ nhân nghĩa.

Khổng Tử giảng chử Nhân cho học trò không lúc nào giống lúc nào, nhưng xét cho

kỹ, cốt tủy của chữ Nhân là lòng thương người và cũng chính là Khổng Tử nói “đối vớingười như đối với mình, không thi hành với người những điều mà bản thân không muốn

ai thi hành với mình cả Hơn nữa cái mình muốn lập cho mình thì phải lập cho người, cái

gì mình muốn đạt tới thì phải làm cho người đạt tới, phải giúp cho người trở thành tốt hơn

mà không làm cho người xấu đi” “Nghĩa” là lễ phải, đường hay, việc đúng Mạnh Tử nói

“nhân là lòng người, nghĩa là đường đi ngay thẳng của người” “ Nhân là cái nhà củangười, nghĩa là đường đi ngay thẳng của người”

Đến đời Hán nho, Đổng Trọng Thư đua nhân nghĩa vào ngũ thường Tam cươngngũ thường trở thành giềng mối trụ cột của lễ giáo phong kiến Sang Tống nho, hai chữnhân nghĩa càng bị trừu tượng hóa Các nhà Tống nho căn cứ vào thuyết “thiện nhân hợpnhất” khoác cho hai chữ nhân nghĩa sắc thần siêu hình Trời có “lý” người có “tính” bẩmthụ ở trời Đức của trời có 4 điều: nguyên, hạnh, lợi, trinh; đức của người có nhân, nghĩa,

lễ trí Bốn đức của người tương cảm với đức của trời

Hệ thống hóa lại một cách tóm tắt hai chữ “nhân nghĩa” ở một số thời điểm pháttriển của Nho giáo như trên, ta có thể kết luận hai chữ “nhân nghĩa” của Nho giáo là kháiniệm thuộc phạm trù đạo lý, nội dung từng thời kỳ có thêm bớt nhưng căn bản vẫn lànhững lễ giáo phong kiến không ngoài mục đích duy nhất là ràng buột con người vàokhuôn khổ pháp lý Nho giáo phục vụ quyền lợi của giai cấp phong kiến Trong quá trìnhphát triển càng ngày nó càng bị trừu tượng hóa trên quan điểm siêu hình

Tuy nhiên quan điểm đạo đức của Nho giáo quả là có rất nhiều điểm tích cực Mộttrong những đặc điểm đó là đặt rơ vấn đề người quân tử, tức là người lănh đạo chính trị

Ngày đăng: 28/09/2015, 12:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Khắc Viện, Bàn về đạo Nho, Nxb văn hóa Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về đạo Nho
Nhà XB: Nxb văn hóa Hà Nội
2. Vũ Khiêu, Bàn về văn hiến Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về văn hiến Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
3. Nguyễn Đức Lân (dịch và chú giải), Chu Hy tứ thơ tập chú, Nxb Văn hóa – Thông tin Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Hy tứ thơ tập chú
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thôngtin Hà Nội
4. Minh Anh, Chúng ta kế thừa tư tưởng gì ở Nho giáo , Tạp chí Triết học, số 8, tháng 11-2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng ta kế thừa tư tưởng gì ở Nho giáo
5. Doãn Chính, Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
6. Đoàn Trung Còn (dịch giả), Đại học, Trung dung, Tứ thơ, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học, Trung dung, Tứ thơ
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
7. Trần Đình Hượu, Giáo trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nhà xuất bản giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Nhà XB: Nhàxuất bản giáo dục
8. PGS. Bùi Thanh Quất, TS Vũ Tình, Giáo trình lịch sử triết học, Nxb giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử triết học
Nhà XB: Nxb giáo dục
9. Nguyễn Hữu Vui , Giáo trình lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử triết học
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
10. Nguyễn Trọng Chuẩn, Khai thác các giá trị của truyền thống Nho học, phục vụ sự phát triển của đất nước trong điều kiện toàn cầu hoá, tạp chí triết học số 4, năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác các giá trị của truyền thống Nho học, phục vụ sựphát triển của đất nước trong điều kiện toàn cầu hoá
11. Nguyễn Hữu Vui, Lịch sử triết học, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
12. Nguyễn Tài Thư, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
13. Đoàn Trung Còn (dịch giả), Luận ngữ, Tứ thơ, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1950 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận ngữ, Tứ thơ
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
14. Nguyễn Hiến Lê (dịch), Mạnh Tử - Quyển hạ, Trí Đức Tòng Thơ, Sài Gòn, 1950 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạnh Tử - Quyển hạ, Trí Đức Tòng Thơ
16. Phan Đại Doãn, Một số vấn đề về nho giáo Việt Nam, Học viện chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nho giáo Việt Nam
17. Lê Ngọc Anh, Nhân trong Luận Ngữ của Khổng Tử, Tạp chí triết học, số 11, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân trong Luận Ngữ của Khổng Tử
18. Trần Thị Đào, Nội dung cơ bản của đạo đức Nho Giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam hiện nay, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung cơ bản của đạo đức Nho Giáo và ảnh hưởng của nó đốivới xã hội Việt Nam hiện nay
19. Vũ Khiêu, Những vấn đề Nho Giáo, tạp chí triết học 3 tr 190- 193 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề Nho Giáo
20. Lê Sĩ Thắng, Nho học và Nho học ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho học và Nho học ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
21. Quang Đạm, Nho Giáo xưa và nay, Nxb Văn hoá thông tin 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho Giáo xưa và nay
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w