Nghị quyết 29NQTW năm 2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện mới đã xác định: §ổi mới công tác quản lý giáo dục là một trong những giải pháp chủ yếu của quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục đào tạo Việt Nam 2020. Đổi mới tư duy về quản lý giáo dục là một điều kiện tiền đề của đổi mới giáo dục...
Trang 1Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra: “Đẩy mạnh phong trào học tậptrong nhân dân bằng những hình thức chính quy và không chính quy, thực hiện
“giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập”(1) Trên cơ sởđại hội XII, Đại hội XIII chỉ rõ: “ Thực hiện xã hội hoá giáo dục Huy động nguồnlực vật chất và chí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục Phối hợpchặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị- xã hội-nghề nghiệp…để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viêntrong xã hội Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục.Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục Phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các
cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho cácmục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùngđồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện việcmiễn giảm đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chínhsách, học sinh giỏi ”(2) Đây là một quyết định chiến lược định hướng cho sự phát
(1) Đảng cộng sản Việt nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Nxb CTQG, H,2001, tr.109
(2) Đảng cộng sản Việt nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Nxb CTQG, H,2006, tr.97-98.
Trang 2triển giáo dục trong thời kỳ mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập và mở cửa Và,
“cả nước trở thành một xã hội học tập” hướng vào mục tiêu nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trở thành mục tiêu và động lực để nước
ta rút ngắn khoảng cách so với các nước tiên tiến trong khu vực Đây chính làtiền đề đặt ra cho giáo dục phải tự chuyển mình trước đòi hỏi của xã hội vàtrước thời cơ, thách thức mới Nhưng tiền đề của sự chuyển mình này là sựđổi mới tư duy về hệ thống giáo dục
Tuy nhiên, sự thay đổi hệ thống giáo dục phải tuỳ thuộc vào mục tiêugiáo dục Như trên đã nói, mục tiêu giáo dục bao gồm mục tiêu vĩ mô- nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và mục tiêu vi mô- phát triểnnhân cách người học trong các nhà trường Tóm lại là hệ thống giáo dục phảithay đổi sao cho thích ứng với kinh tế xã hội, nhằm tạo ra chất lượng người,chất lượng lao động và sức cạnh tranh trong hội nhập quốc tế Ai cũng thừanhận rằng hệ thống giáo dục thời phong kiến trước đây là hệ thống thích hợpvới tính chất của nền giáo dục ứng thí, khoa cử; nó trở nên cứng nhắc trướcthời cơ và thách thức mới; nó không mở ra nhiều con đường thông thoáng, tạo
cơ hội thuận lợi cho người học; và bó chặt người ta vào bằng cấp Năm 1986,khi Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới, hệ thống giáo dục của nước ta đã
có nhiều thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội, của công nghiệp hoá,hiện đại hoá, hội nhập, mở cửa giao lưu quốc tế Sự thay đổi này, nhằm tậptrung vào hai mục tiêu lớn: Phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế- xã hộicủa đất nước; tạo cơ hội cho mọi người được học, được phát triển Muốn nhưvậy thì đòi hỏi hệ thống giáo dục phải thể hiện tính liên thông, tính phân hoátrong và giữa các phương thức giáo dục: chính quy, không chính quy vàkhông chính thức hoặc không theo nghi thức mà ta quen gọi là phi chính quy
Trang 3Nhưng các phương thức đó phải tạo thành một hệ thống mang tính chỉnh thể,trong đó các phương thức giáo dục bổ sung nhau, hỗ trợ nhau để cùng pháttriển và cùng hướng vào mục tiêu chung Bởi chỉ có như vậy mới tạo nên sứcmạnh ưu trội hay vượt trội (tính trồi) của cả hệ thống giáo dục đối với kinh tế-
xã hội
Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn chủ đề: “ Vận dụng cách tiếp cận hệ thống
trong quản lý giáo dục, ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lượng chuẩn hóa đội ngũ giảng viên nhà trường quân sự hiện nay”, làm chủ đề viết tiểu luận
Nội dung tiếp cận hệ thống trong quản lý giáo dục
Khoa học quản lý giáo dục phát triển nhờ dựa vào các quan điểm tiếp cận phùhợp; tiếp cận là cách, phương pháp xem xét, nghiên cứu, giải quyết một vấn đề lýluận hoặc thực tiễn Trong khoa học quản lý giáo dục, các tiếp cận chủ yếu thườngđược đề cập đó là: tiếp cận hệ thống; tiếp cận phức hợp, tiếp cận chức năng, tiếp cậnđiều khiển, tiếp cận đồng bộ; trong đó tiếp cận hệ thống có vị trí vai trò đặc biệt quantrọng của quá trình quản lý giáo dục Đòi hỏi người nghiên cứu có thể xem vấn đềđang nghiên cứu là một hệ thống; có thể đặt nó vào hệ thống lớn nào; giữa chúng có
sự tương tác ra sao…Hoặc trong một nhà trường, những biện pháp quản lý củangười quản lý nhà trường chỉ đạo thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới phảitạo thành một hệ thống, phải là sự kết hợp cân đối, hài hoà các biện pháp tư tưởng-
tổ chức, giáo dục- hành chính, pháp chế- kinh tế tập trung vào khâu đột phá nào đó
để giải quyết Bởi vì:
Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng,
có quan hệ hoặc liên hệ mật thiết với nhau tạo thành một chỉnh thể thốngnhất
Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi thế giới khách quan là một chỉnh thểthống nhất Các sự vật hiện tượng và các quá trình tạo thành thế giới đó vừatách biệt nhau vừa có liên hệ qua lại thâm nhập vào nhau, chuyển hoá cho
Trang 4nhau Ngay trong một quá trình, một sự vật hiện tượng cũng được tập hợp bởinhiều yếu tố nhất định có mối liên hệ với nhau tạo thành một chỉnh thể thốngnhất, một cấu trúc trọn vẹn; hơn nữa, bản thân một sự vật hiện tượng lại luôn
có những mối quan hệ mật thiết với các sự vật hiện tượng khác Các sự vật,hiện tượng- đối tượng nghiên cứu của khoa học giáo dục là những nội dungkhách quan, đều có tính hệ thống- cấu trúc và có các mối quan hệ phổ biếnbiện chứng Với cách tiếp cận hệ thống trên, trong lĩnh vực khoa học quản lýgiáo dục nó là yêu cầu hết sức cần thiết, bởi nó trang bị những hiểu biết mangtầm thế giới quan- quyết định cách tiếp cận tổng quát các vấn đề của hiệnthực quản lý và những quan điểm phương pháp luận hướng vào quá trìnhnhận thức và cải tạo thực tiễn quản lý chung, bao quát chi phối phương phápquản lý giáo dục cụ thể Đúng như Lênin đã nói: Người nào bắt tay vào giảiquyết các vấn đề riêng, trước khi giải quyết các vấn đề chung, thì người đótrong mỗi bước đi sẽ không tránh khỏi “vấp phải” những vấn đề chung đó mộtcách không tự giác Mù quáng vấp phải những vấn đề chung đó trong trườnghợp riêng thì có nghĩa là đưa chính sách của mình đến chỗ có những ngườidao động tồi tệ nhất mà mất hẳn tính nguyên tắc
Khi nghiên cứu quan điểm tiếp cận hệ thống cần chú ý xem xét cácthành tố cấu thành sau:
Phần tử: là tế bào của hệ thống, nó có tính chất riêng và có tính độc lậptương đối Trong giáo dục, khái niệm “phần tử” được hiểu một cách linh hoạt, nó
có thể là một lớp trong một trường học, một cấp học hoặc một ngành học trong hệthống giáo dục quốc dân, một bộ phận trong cơ cấu của một cơ quan quản lý giáodục (ví dụ một vụ chỉ đạo trong cơ quan Bộ giáo dục và đào tạo), cũng có thể làmột mặt hoạt động của quá trình giáo dục tổng thể (ví dụ hoạt động dạy vàhọc…)
Hệ thống: là tập hợp các phần tử có mối liên hệ và quan hệ với nhau, có sựtác động chi phối lên nhau theo các quy luật nhất định để cho hệ thống trở thànhmột chỉnh thể Nhờ vậy mà xuất hiện tính chất vượt trội gọi là “ tính trồi” của hệthống mà khi các phần tử đứng riêng rẽ không thể tạo ra được Và, cho dù có tạo
ra được thì tổng những kết quả được tạo ra bởi các phần tử cũng không bằng
Trang 5“tính trồi” của hệ thống Đặc tính vượt trội (tính trồi) của hệ thống là đặc tínhcủa một chỉnh thể chứ không phải của bộ phận và nó là sản phẩm của nhữngtương tác mà không phải là tổng số những tác động của các bộ phận Một độibóng gồm những cầu thủ trung bình biết chơi một cách ăn ý sẽ thắng đội bónggồm những cầu thủ hay nhưng lại chơi một cách rời rạc Ta có thể hình dung tácđộng (tích cực) của giáo dục đối với kinh tế- xã hội chính là thể hiện “tính trồi”của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân Nói rằng chỉ có giáo dục đại học mới cóảnh hưởng đến kinh tế- xã hội thì hoàn toàn sai; và cũng tương tự như vậy, khinói thành tựu của một nhà trường chỉ là đóng góp của ban giám hiệu, cho dùngười hiệu trưởng tài giỏi đến mấy chăng nữa Như vậy “tính trồi” của hệ thốngchứa đựng bản chất của tổ chức, quản lý Không có nhân tố này thì không có cáigọi là hệ thống, các phần tử sẽ đứng tách riêng, rời rạc, ô hợp Với một tổchức(*) thì điều này đồng nghĩa với sự suy thoái.
“ Tính trồi” của hệ thống giáo dục quốc dân được hiểu là chất lượng vàhiệu quả giáo dục đem lại cho xã hội; là chất lượng con người đáp ứng yêucầu phát triển của bản thân người học và của toàn xã hội, góp phần tích cựcvào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển nền kinh tếthị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế Để được như vậy thì các ngành học,cấp, bậc học tạo thành hệ thống giáo dục quốc dân phải liên hệ và tương tácvới nhau theo những quy luật, nguyên tắc nhất định (chẳng hạn nguyên tắcliên thông, kế thừa, phát triển…) Từ quan niệm này, có thể rút ra một điều lànếu thành công là một đặc tính vượt trội thì nó cần được quản lý thông quanhững tác động qua lại chứ không phải những tác động riêng rẽ Đồng thời,cần tránh tình trạng chỉ chú trọng quản lý riêng rẽ từng bộ phận, ví dụ nhưquản lý một ngành học trong thế cô lập, riêng rẽ với các ngành học khác, mà
ít chú ý đến việc tạo dựng các tương tác qua lại giữa các ngành học nhằm tạothành hệ thống giáo dục quốc dân với tư cách là một chỉnh thể Nhưng mặtkhác cũng cần nhớ rằng tính tương hợp giữa các bộ phận với các tương táckhiến cho các bộ phận được cùng nhau phát triển, sản sinh hiện tượng cộng
(*) Tổ chức (chỉ nói đến tổ chức xã hội) được hiểu là một tập hợp người được sắp xếp theo cơ cấu nhất định
để hoạt động vì lợi ích chung, chẳng hạn như một tổ chức nhà trường.
Trang 6hưởng để cùng nhau tạo nên sức mạnh có cường độ lớn hơn hẳn so với tổng
số sức mạnh tạo ra bởi các bộ phận riêng rẽ
Môi trường của hệ thống: là tập hợp các phần tử, các phân hệ, các hệthống khác không thuộc hệ thống đang xét, nhưng có quan hệ tương tác(*)với
hệ thống bị hệ thống tác động hoặc tác động lên hệ thống Chẳng hạn đối với
hệ thống giáo dục quốc dân, các tổ chức hữu quan như hệ thống tài chính, hệthống văn hoá, hệ thống y tế…tạo thành môi trường liên quan và có quan hệtương tác với hệ thống giáo dục Trong điều kiện mở cửa, hội nhập như ngàynay, đối với nền giáo dục nước ta, môi trường còn được mở rộng ra thế giới
Do đó, quan hệ đối ngoại để giáo dục nước ta hội nhập với thế giới là nhân tốrất quan trọng và cần thiết cho sự phát triển giáo dục nước ta
Nhà trường là thiết chế cơ bản của nền giáo dục có bản chất xã hội,nhưng không phải bản chất này “tự nhiên” đến với nhà trường, mà trong quátrình giáo dục, nhà trường phải chủ động, tích cực kết hợp với gia đình và xãhội (môi trường giáo dục của nhà trường) để giáo dục học sinh Kiểu nhàtrường đóng kín trong bốn bức tường là nhà trường thuộc chế độ phong kiến,nặng khoa cử, không còn phù hợp với yêu cầu của xã hội Chính vì vậy, chủtrương xã hội hoá giáo dục là chủ trương có tính nguyên tắc của Đảng và Nhànước ta Thực hiện chủ trương này, mọi người dân đều có trách nhiệm vànghĩa vụ tham gia xây dựng giáo dục cũng như được giáo dục; ngược lại, mọihọc sinh trong nhà trường đều được sống, hoà nhập với xã hội, tức là quátrình xã hội hoá cá nhân Đây là quá trình hai mặt: một mặt, cá nhân tiếp nhậnkinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thốngcác quan hệ xã hội Mặt khác, cá nhân tái sản xuất một cách chủ động các mốiquan hệ xã hội thông qua việc họ tham gia vào các hoạt động và thâm nhậpvào các mối quan hệ xã hội Kết quả cho thấy là, hai thực thể cùng tồn tại vàphát triển: nhà trường, cá nhân người học phát triển vì cộng đồng, trong cộngđồng, bởi cộng đồng; ngược lại, xã hội phát triển nhờ nhà trường và nhữngcon người được nhà trường đào tạo
(*) cả khía cạnh tích cực lẫn tiêu cực.
Trang 7Đầu vào và đầu ra của hệ thống: Các loại tác động có thể có từ môitrường lên hệ thống được coi là đầu vào, còn đầu ra là những gì mà hệ thốngtác động vào môi trường
Đối với giáo dục, đầu vào có thể kể như: chủ trương chính sách củaĐảng và Nhà nước về giáo dục, nguồn tài chính, những thành tựu khoa học-công nghệ, trang thiết bị, cơ sở vật chất, trình độ quản lý, thậm chí cả nhâncách của nhà quản lý, thông tin, nhu cầu thị trường lao động, chất lượng củamôi trường xã hội (trong đó có giáo dục xã hội và giáo dục gia đình), trình độđào tạo và nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên, trình độ của đội ngũ cán bộ quản
lý, nhân cách của trẻ em trước khi đến trường…
Đầu ra của giáo dục trước hết phải kể đến sản phẩm của nhà trường (tức
là con người với nhân cách được hình thành và phát triển theo mục tiêu giáodục) Đây là sản phẩm mà vì nó nhà trường tồn tại Nhưng, còn khía cạnhkhác về đầu ra của giáo dục được hiểu là đầu ra của cả nền giáo dục hay của
hệ thống giáo dục quốc dân, đó là tác động của nền giáo dục góp phần pháttriển kinh tế, xã hội Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) của Đảng xác định:
“ Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài…”(3) Đây chính là mục tiêu của hệ thống giáo dục quốc dân và cũng chính
là đầu ra của giáo dục xét trên bình diện vĩ mô
Liên quan đến đầu vào và đầu ra của hệ thống là hiệu quả hoạt động của
hệ thống Điều này phụ thuộc vào:
- Việc xác định hợp lý đầu vào và đầu ra của hệ thống trong những điềukiện cụ thể Ví dụ nguồn tài chính cho giáo dục trong thời kỳ bao cấp lấy từngân sách của Nhà nước; nhưng trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường thìnguồn tài chính đó, ngoài ngân sách Nhà nước, còn có phần của các thànhphần kinh tế khác
- Khả năng biến đổi nhanh hay chậm các yếu tố đầu vào thành yếu tố đầu
ra, chẳng hạn như sự tăng trưởng nhanh chóng về trình độ nghiệp vụ củađội ngũ giáo viên sau một thời gian nhất định
(3) Đảng cộng sản Việt nam Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII, H 1993, tr.61
Trang 8-Các hình thức biến đổi những yếu tố đầu vào cho các yếu tố đầu ra, ví dụ nhưxác định trong số những hình thức bồi dưỡng giáo viên thì tối ưu là việc bồi dưỡngtại chỗ thông qua hoạt động giảng dạy và giáo dục thực tiễn hàng ngày của họ.Hành vi của hệ thống, là tập hợp các đầu ra có thể có của hệ thống trongmột khoảng thời gian xác định Về thực chất, hành vi của hệ thống chính làcách xử sự tất yếu mà trong mỗi giai đoạn phát triển của mình hệ thống sẽchọn để thực hiện đối với hệ thống giáo dục quốc dân, đầu ra tất yếu của nóphải là chất lượng giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội; phù hợp với từng thờiđiểm lịch sử Thời kỳ chống Mỹ cứu nước, chất lượng giáo dục được hiểu làchất lượng con người được đào tạo, thể hiện là nhân cách- chiến sỹ nhằm vàomục tiêu: tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược thời
kỳ CNH,HĐH đất nước, chất lượng giáo dục là: “Những con người và thế hệthiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đứctrong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dântộc, có năng lực phát huy tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy tiềm năng củadân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cựccủa cá nhân, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong côngnghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ, là những người kế thừa xâydựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như lời dặn của BácHồ”(4) Đây chính là mục tiêu của giáo dục và đồng thời, theo thuyết hệ thống,cũng là hành vi đầu ra của hệ thống
Trạng thái của hệ thống: là khả năng kết hợp và biến đổi giữa đầu vào vàđầu ra của hệ thống tại những thời điểm nhất định Trạng thái giáo dục, còngọi là thực trạng giáo dục; khi xem xét, đánh giá thực trạng giáo dục phải gắn
nó vào từng thời kỳ, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Ngay trong phạm vi hẹp,đánh giá một nhà trường, một lớp cũng phải đặt trong quan hệ giữa đầu vào,đầu ra và hệ thống điều kiện cụ thể trong một khoảng thời gian nhất định.Thành tựu giáo dục của một tỉnh có nhiều khó khăn, có khi còn được đánh giátốt hơn so với một tỉnh có nhiều thuận lợi
(4) Đảng công sản Việt nam Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII Nxb CTQG,
H 1997, tr.28-29.
Trang 9Bên cạnh các nội dung nêu trên, còn các thành tố của hệ thống như mụctiêu của hệ thống; cơ cấu của hệ thống; động lực của hệ thống Do vậy, khitiếp cận hệ thống trong quản lý giáo dục cần chú ý đến khía cạnh phươngpháp luận của tiếp cận hệ thống sau:
Một là, Tiếp cận hệ thống đòi hỏi khi xem xét, nghiên cứu, giải quyết
vấn đề quản lý giáo dục phải có quan điểm toàn thể, nghĩa là có căn cứ khoahọc, hiệu quả và hiện thực Quản lý giáo dục thực chất là quản lý con người;
do đó, quan hệ giữa con người với con người là nét nổi bật Để mối quan hệnày tốt đẹp, người cán bộ quản lý không chỉ có kinh nghiệm mà còn phải amhiểu về khoa học quản lý, đặc biệt là khoa học quản lý giáo dục Ngoài ra cònphải nắm vững một số kiến thức về tâm lý học quản lý, xã hội học quản lý,kinh tế học quản lý…
Quan điểm toàn thể thể hiện ở chỗ tôn trọng quan hệ giữa vật chất và ýthức (vật chất có trước, ý thức có sau) Điều này có nghĩa là khi nghiên cứuquản lý phải tôn trọng thực tế, xuất phát từ thực tế để xem xét, phân tích, kháiquát nhằm tìm ra những giá trị đích thực cho lý luận và thực tiễn quản lý Quanđiểm toàn thể còn thể hiện ở chỗ các sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động, tồntại trong mối quan hệ qua lại với nhau, có tác động chi phối lẫn nhau Điều nàyđúng cả ở tầm vĩ mô và vi mô Chẳng hạn các cơ quan trực thuộc Bộ giáo dục
và đào tạo có thể chia ra làm ba nhóm: nghiên cứu; chỉ đạo và kinh doanh Banhóm này phải có quan hệ gắn bó với nhau, tương tác, hỗ trợ lẫn nhau để tạothành hiệu lực thực sự cho công tác quản lý của Bộ Quan niệm tương tự cũngthể hiện trong công tác quản lý ở nhà trường, tế bào cơ bản trong hệ thống giáodục quốc dân Cuối cùng, quan điểm toàn diện thể hiện ở chỗ coi động lực pháttriển hệ thống là động lực bên trong của hệ thống
Hai là, Khi nghiên cứu hệ thống cần có cách tiếp cận vĩ mô và vi mô.
Tiếp cận vĩ mô, chức năng, chiến lược; là tiếp cận nghiên cứu hệ thốngtrên cái chung nhất, cái quy luật chi phối hoạt động của hệ thống và nhằm trảlời các câu hỏi sau về hệ thống: mục tiêu, chức năng của hệ là gì? Môi trườngcủa hệ là gì? đầu ra, đầu vào của hệ là gì? Đây là cách tiếp cận nghiên cứu hệthống của các cơ quan quản lý vĩ mô của chủ thể quản lý
Trang 10Ba là, hệ thống được cấu tạo bởi nhiều phần tử mà mỗi phần tử có
thể coi là một phân hệ Việc xác định một tổ chức hoặc một bộ phận, một
sự kiện, hay một hiện tượng…là hệ thống hay phần tử tuỳ thuộc quan hệcủa tổ chức, bộ phận hay sự kiện đang xét với các tổ chức, bộ phận, sựkiện…khác Ví dụ, xét hệ thống giáo dục của một tỉnh trong quan hệ vớitoàn quốc thì nó là phần tử trong hệ thống giáo dục quốc dân; nhưng, nếuxét trong phạm vi tỉnh thì giáo dục của các quận- huyện lại là phần tử nằmtrong hệ thống giáo dục cấp tỉnh Mỗi phần tử có một chức năng riêng,nhưng mục tiêu của chúng phải thống nhất với mục tiêu chung của hệthống toàn thể
Bốn là, để cho một tổ chức, hay bộ phận hoặc sự kiện được xem như một
hệ thống cần đảm bảo hai yêu cầu cơ bản: xác định các phần tử, thiết lập cácquan hệ tương tác Phần tử có tính độc lập tương đối của nó, mang một chứcnăng riêng; không có chức năng riêng thì không cần sự tồn tại của nó trong hệthống Như vậy, đã là phần tử phải có một chức trách riêng, chức trách đóphải mang tính chất cơ hữu, cần thiết và hợp lý Trong quản lý nói chung vàquản lý giáo dục nói riêng, trước đây người ta chỉ chú ý cơ chế quản lý từ trênxuống, hiện nay theo xu thế hiện đại phải chú ý cơ chế quản lý từ dưới lên.Hai cơ chế này vừa đảm bảo tính tập trung, vừa bảo đảm tính dân chủ tronghoạt động quản lý Do đó cần kết hợp chúng một cách hài hoà
Năm là, Tiếp cận hệ thống đòi hỏi có phương pháp nghiên cứu phù hợp.
Phương pháp nghiên cứu theo tiếp cận hệ thống là phương pháp phù hợp vớiquan điểm hệ thống được sử dụng để tìm ra quy luật vận động của đối tượng
Có ba phương pháp: phương pháp mô hình hoá; phương pháp hộp đen;phương pháp phân tích hệ thống
_ phương pháp mô hình hoá là phương pháp nghiên cứu qua các mô
hình Mô hình là một sự vật được tạo ra bởi một chủ thể trên cơ sở sự tương
tự, giống nhau về cấu trúc, chức năng hoặc hành vi so với nguyên mẫu tươngứng, được sử dụng để có thể giải quyết những nhiệm vụ mà việc thực hiệnchúng bằng các thao tác trực tiếp lên nguyên mẫu là khó khăn hoặc hoàn toànkhông thể được hay quá tốn kém trong điều kiện đã cho
Trang 11Ta có thể mô tả hệ thống qua các đặc trưng của hệ nhờ kinh nghiệm vànhận thức của con người Khi sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải biết rõđược ba yếu tố: đầu vào, đầu ra và cơ cấu của hệ thống Ví dụ, trong quản lýgiáo dục, để tổ chức thực hiện có hiệu quả một dự án, phải chỉ ra đầu vàonhư: nguồn tài chính, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất cần cho việc triển khai
dự án; trình độ người điều hành dự án…, đầu ra- những kết quả mong đợi…
và cơ cấu dự án- những chương trình, kế hoạch triển khai dự án, sự hợp tác,đánh giá,… Có thể nói phương pháp mô hình hoá được áp dụng có hiệuquả khi nghiên cứu tổng kết các đơn vị tiên tiến trong ngành giáo dục để từ
đó đề xuất mô hình phát triển của nó trong tương lai Việc áp dụng phươngpháp mô hình hoá phải theo các bước sau: Xây dựng mô hình; phân tíchtrên mô hình lý thuyết thu được ở trên; đối chiếu kết luận rút ra từ mô hìnhvới kết quả thực tế để đối chứng xem kết luận rút ra từ mô hình lý thuyết
có chuẩn xác hay không; chỉnh lý lại kết quả của mô hình lý thuyết, sau đóđem sử dụng trong thực tế
Phương pháp hộp đen: phương pháp này được sử dụng khi biết đầu vào,
đầu ra nhưng không biết cơ cấu bên trong của hệ thống Do đó, việc nghiêncứu phải xác định mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống để từ đótìm ra quy luật hay cấu trúc hành vi của hệ thống Điều cần chú ý là, việcnghiên cứu hộp đen chú trọng vào quan sát hành vi: người nghiên cứu tácđộng đến hộp đen thông qua các lối vào và nhận thức được thông tin từ cáclối ra Người nghiên cứu phải xác định một tập hợp hữu hạn các lối vào vàcác lối ra của hộp đen, song quan trọng là xác định đơn trị một hệ thống đóng
“ trạng thái vào - trạng thái ra”
Tuy vậy, quản lý giáo dục là quản lý thuộc lĩnh vực xã hội, nênkhông phải lúc nào đầu vào cũng cho đầu ra một cách đơn trị- nghĩa làđầu vào và đầu ra không tương ứng một- một Nhiều trường hợp đầu ra lại
do kết quả của nhiều tác động đầu vào, ví dụ: một học viên giỏi đã chắc gìchỉ là kết quả của việc đổi mới công tác quản lý của chỉ huy lớp; trongtrường hợp này phải dùng phương pháp loại trừ để dự đoán hành vi củahộp đen Chẳng hạn, để nghiên cứu sự tiến bộ của học sinh trong học tập