Từ các công trình nghiên cứu đó mà ta có thể dựa vào các đặc điểm sinh lí của thực vật, kiểm soát được sự phát triển của nó, cũng như có thể chủ động trong việc phòng ngừa sâu bệnh, kích
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM TP.HCM KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC & KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
MÔN : SINH LÝ THỰC VẬT
ĐỀ TÀI:
GVHD: HỒ VIẾT THẾ
NHÓM : APPLE
Tp HCM, tháng 04, năm 2014
* *
ỨNG
DỤNG
CỦA
AUXIN
CHO
CÂY
TRỒN
G
Trang 2Mục Lục
Trang 3Lời mở đầu
Như chúng ta đã biết, nước ta là một nước nông nghiệp Chính vì lẽ đó mà các công trình nghiên cứu về thực vật ngày một phát triển và mang lại ý nghĩa vô cùng to lớn Từ các công trình nghiên cứu đó mà ta có thể dựa vào các đặc điểm sinh lí của thực vật, kiểm soát được sự phát triển của nó, cũng như có thể chủ động trong việc phòng ngừa sâu bệnh, kích thích sinh trưởng và nâng cao chất lượng, năng suất cây trồng
Ngày nay, ngoài sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học…, bà con nông dân còn sử dụng các chất sinh trưởng cho cây trồng của mình Bên cạnh nhiều chất sinh trưởng đã và đang được nghiên cứu thì Auxin là một chất sinh trưởng được sử dụng khá phổ biến Để giúp mọi người biết và hiểu rõ hơn về Auxin, nhóm Apple xin gửi đến thầy
và các bạn bài tiểu luận này Do đây là lần đầu tiên nhóm nghiên cứu về đề tài này, nên cũng khó tránh khỏi sai sót, rất mong nhận được sự góp ý từ phía thầy và các bạn Nhóm xin chân thành cảm ơn!
Nhóm Apple
Trang 4DANH SÁCH NHÓM
STT MSSV HỌ VÀ TÊN
Trang 5I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ AUXIN
1. Khái niệm :
“Auxin” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp – auxien nghĩa là tăng trưởng, là một hợp chất tương đối đơn giản, có nhân indole Thông thường, các chất gọi là auxin nếu chúng có khả năng kích thích các tế bào thực vật phát triển, mặt khác sinh trưởng
2. Phân loại auxin:
Nhóm Auxin gồm các chất chính: -Acid Indolacetic (IAA), (-Naptilacetic -NAA), (-Naptilacetic -NAA) và Acid Indolbutilic (IBA)
Cũng có thể phân loại auxin thành 2 loại như sau:
o Auxin tự nhiên: IAA, PAA,…
o Auxin tổng hợp: α-NAA; IBA; 2,4 D; 2,4,5T;…
3. Bản chất hóa học:
Là β indol axetic axit mà tiền thân là tryptophan có công thức nguyên là:
C10H9O2N
auxin:
Sự tổng hợp auxin:
o Cơ quan chính tổng hợp auxin trong cây là chồi ngọn Từ đấy, nó được vận chuyển phân cực khá nghiêm ngặt xuống các cơ quan phía dưới theo hướng gốc (không vận chuyển ngược lại), nên càng xa đỉnh ngọn thì hàm lượng của auxin càng giảm dần
o Ngoài chồi ngọn ra thì các cơ quan còn non đang sinh trưởng cũng có khả năng tổng hợp một lượng nhỏ auxin như lá non, quả non, phôi hạt…
Sư phân giải:
o Auxin trong cây có thể bị phân hủy sau khi đã sử dụng xong hoặc bị dư thừa trong cây, IAA bị phân hủy thành sản phẩm không có hoạt tính sinh lý Sự phân hủy có thể bằng enzym IAA – oxidaza, hoặc bằng quang oxi hóa, trong đó con đường oxi hóa được xúc tác bằng enzym IAA – Oxidaza là quan trọng nhất Đây là một enzym có hoạt tính mạnh nhất trong rễ cây, vì khi xuống rễ auxin không vận chuyển ngược lại
Trang 6được mà bị phân hủy Sản phẩm của phân hủy IAA không còn hoạt tính sinh lý (3-metylen oximdole)
Sự chuyển hóa thuận nghịch giữa dạng auxin tự do và auxin liên kết:
o Auxin có thể ở dạng tự do có hoạt tính sinh lý nhưng hàm lượng dạng này chỉ chiếm khoảng 5% hàm lượng IAA trong cây
o Chủ yếu IAA ở dạng liên kết với một số chất khác như liên kết với axit amin (IAA – glyxin, IAA – aspartar, IAA – alanin …) hoặc với đường (IAA – glucosit, IAA-glucan…) IAA liên kết không có hoạt tính sinh lý hoặc có hoạt tính rất thấp Chúng
là dạng dự trữ IAA để khi cần thiết thì giải phóng IAA tự do Hai dạng auxin này có thể biến đổi thuận nghịch cho nhau khi cần thiết:
IAA tự do ⇔ IAA liên kết
o Có thể xem ba quá trình: tổng hợp, phân hủy và chuyển hóa thuận nghịch giữa hai dạng auxin là sự điều chỉnh hàm lượng của auxin trong cây, đảm bảo cho cây sinh trưởng bình thường Khi trong cây thiếu auxin cho sinh trưởng thì auxin lập tức được tổng hợp mới hoặc chuyển từ dạng liên kết sang dạng tự do Ngược lại, khi dư thừa hoặc đã sử dụng xong thì chúng có thể bị phân hủy hoặc chuyển sang dạng liên kết không hoạt tính
Trang 7Sơ đồ quá trình trao đổi chất của auxin trong cây: Sự tổng hợp, sự phân hủy và sự chuyển hóa thuận nghịch giữa dạng tự do và dạng liên kết:1, 2, 3, 4, 5: Các phản ứng tổng hợp IAA; 6: phản ứng phân hủy IAA; 7 Phản ứng chuyển hóa IAA thành IAA liên kết
II.CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA AUXIN
Hiệu quả đặc trưng nhất của auxin là kích thích quá trình sinh trưởng cơ quan
và toàn cây thông qua sự sinh trưởng dãn của tế bào Sự dãn của tế bào làm tăng kích thước và thể tích của chúng xảy ra do hai hiệu ứng: Sự dãn của thành tế bào và
sự tăng thể tích, khối lượng chất nguyên sinh
Sự dãn của thành tế bào:
o Sự dãn của thành tế bào có ý nghĩa quyết định trong việc tăng kích thước tế bào Thành tế bào được cấu tạo bằng các phân tử xelulose Chúng liên kết với nhau bằng các cầu nối ngang polyxacarit tạo nên một cấu trúc rất bền chặt về mặt cơ học Chất nguyên sinh được bao bọc bằng một cái “ hộp” xelulose bền chặt như một cái “hộp gỗ” Để sinh trưởng được, tế bào thực vật không thể vứt bỏ cái vỏ bọc đó như côn trùng hay giáp xác lột xác để tranh thủ lớn lên khi vỏ mới còn đang hình thành Vậy
tế bào thực vật làm cách nào để có thể dãn ra được? Vai trò của auxin trong sự dãn của tế bào như thế nào?
o Chỉ có một cách duy nhất để giải thích sự dãn của tế bào thực vật là phải làm thay đổi trạng thái cấu trúc của thành tế bào để nó có thể dãn ra được Muốn vậy thì trước
Trang 8hết các cầu nối ngang liên kết các phân tử xelulose phải bị cắt đứt để cho các sợi xelulose lỏng lẻo mới có thể trượt lên nhau mà dãn ra Enzym phân hủy cầu nối ngang này là pectin metyl esterase (pectinase)
o Điều kiện hoạt động của enzym này là pH thấp (4-5), trong khi đó, pH của chất nguyên sinh gần trung tính Để có được độ pH thấp cho enzym pectinase hoạt động thì ion H+ phải được bơm từ chất nguyên sinh vào thành tế bào nhờ các bơm H+
(bơm proton) nằm trên màng sinh chất (plasmalem) hoạt động Đây là các bơm trao đổi H+ hoạt động thường xuyên trong tế bào Tuy nhiên, không phải lúc nào bơm proton cũng hoạt động mà chúng chỉ hoạt động khi có mặt của auxin (IAA) Như vậy, auxin chỉ có tác dụng kích thích bơm H+ trên màng plasmalem hoạt động để bơm H+ vào thành tế bào, làm giảm pH trong thành xuống 4-5 Khi enzym pectinase này hoạt động thì các cầu nối giữa các sợi xelulose bị cắt đứt và các sợi xelulose có thể trượt tự do khi có lực dãn Lực gây nên sự dãn của thành tế bào là sức trương (P) của tế bào do quá trình hút nước thẩm thấu vào không bào (giống như ta bơm không khí vào quả bóng cao su làm cho thành cao su dãn ra)
Tăng thể tích và sinh khối tế bào:
o Tăng thể tích: Khi các sợi xelulose được tự do dãn ra thì chỉ cần có một lực dãn là gây nên sự dãn của thành tế bào để tăng thể tích tế bào Lực cho các sợi xelulose dãn
ra là áp lực trương của tác động lên thành tế bào khi không bào hấp thu nước thẩm thấu cho đến lúc bão hòa Quá trình dãn này cũng tương tự như khi ta bơm không khí vào quả bóng cao su cho thành quả bóng dãn ra Sau đó thì các cầu nối ngang được hình thành lại để ổn định trạng thái tế bào mới dãn ra
o Tăng sinh khối: Song song với việc dãn thành tế bào thì khối lượng chất nguyên sinh
và kích thước thành tế bào cũng tăng lên Do vậy các quá trình sinh tổng hợp mới các cấu tử cấu tạo nên chất nguyên sinh và thành tế bào như protein, photpholipit, axit nucleic, xelulose, pectin…cũng được tăng cường Vai trò của auxin trong giai đoạn này là hoạt hóa gen cho các quá trình sinh tổng hợp mới các chất này:
Trang 9Sự sinh trưởng của tế bào và của cây có được là do sự kết hợp hài hòa giữa hai quá trình: thành tế bào dãn và sinh khối, thể tích tế bào tăng Quá trình sinh trưởng dãn của tế bào tiếp tục cho đến khi trưởng thành đạt kích thước ổn định
III. HIỆU QUẢ SINH LÝ CỦA AUXIN
1. Kích thích tế bào dãn theo chiều ngang:
Làm cho tế bào phình to lên chủ yếu theo hướng ngang của tế bào Sự dãn của các tế bào gây nên sự tăng trưởng của cơ quan và toàn cây Auxin có hai hiệu quả lên sự dãn của tế bào: Hoạt hóa sự dãn của thành tế bào và hoạt hóa sự tổng hợp nên các chất tham gia cấu tạo nên chất nguyên sinh và thành tế bào
2. Gây tính hướng động:
Điều chỉnh các tính hướng của cây như tính hướng quang, hướng địa, hướng hóa, hướng thủy…
Trang 10Tính hướng là một trong những đặc tính vốn có của thực vật Cây có thể sinh trưởng hướng về tác nhân kích thích bên ngoài như cây sinh trưởng vươn về phía chiếu sáng (hướng quang), rễ đâm xuống đất (hướng địa), rễ tìm đến nguồn nước (hướng thủy) hay nguồn phân bón (hướng hóa)…Ta có thể lấy ví dụ về tính hướng quang: khi có chiếu sáng một hướng thì cây sẽ sinh trưởng về phía chiếu sáng Đấy
là do sự phân bố không đều nhau của auxin ở hai phía của thân Phía khuất sáng bao giờ cũng tích điện dương, còn phía chiếu sáng thì tích điện âm Trong tế bào, auxin thường bị ion hóa tạo nên IAA-, do đó nó phân bố về phía mang điện dương, tức phía khuất sáng và kích thích sinh trưởng ở phía khuất sáng mạnh hơn phía chiếu sáng Kết quả làm cây uốn cong về phía chiếu sáng…
Một số hình ảnh về cây hướng sáng
3. Điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn:
Ưu thế ngọn: Đây là đặc tính quan trọng của thực vật Đó là sự sinh trưởng của
chồi ngọn hoặc rễ chính sẽ ức chế sự sinh trưởng của chồi bên hoặc rễ phụ Khi có
sự tồn tại của chồi ngọn thì các chồi bên bị ức chế tương quan Nếu loại trừ chồi ngọn hoặc rễ chính, chồi bên hoặc rễ phụ thoát khỏi trạng thái ức chế và lập tức sinh trưởng
Vai trò của auxin: Có hai quan điểm giải thích vai trò của auxin đối với hiện
Trang 11sinh trưởng Đó là quan điểm ức chế trực tiếp của auxin Quan điểm ức chế gián tiếp của auxin cho rằng auxin kích thích tạo nên một chất ức chế sinh trưởng (như etylen chẳng hạn) và chính chất ức chế này gây nên sự ức chế các chồi bên Dù là quan điểm nào thì auxin cũng có vai trò điều chỉnh đối với hiện tượng ưu thế ngọn
Hiện tượng ưu thế ngọn được điều chỉnh bằng cân bằng auxin/ xytokinin Auxin được tổng hợp trong chồi ngọn và vận chuyển xuống dưới, còn xytokinin thì được sản xuất trong rễ và được vận chuyển lên trên Càng xa chồi ngọn (gần rễ) hàm lượng auxin càng giảm và hàm lượng xytokinin càng tăng lên nên tỷ lệ đó càng giảm
và hiện tượng ưu thế ngọn càng yếu, chồi bên phát triển mạnh hơn
4. Kích thích sự hình thành rễ đặc biệt là rễ bất định
Trong sự hình thành rễ, đặc biệt là rễ bất định phát sinh từ các cơ quan sinh dưỡng thì hiệu quả của auxin là rất đặc trưng Có thể xem auxin là hoocmon hình thành rễ Vai trò của auxin với sự hình thành rễ được chứng minh rõ ràng trong nuôi cấy mô Nếu trong môi trường chỉ cho chất điều hòa sinh trưởng là auxin thì mô nuôi cấy chỉ xuất hiện rễ mà thôi Còn nếu muốn tạo chồi để có cây hoàn chỉnh thì phải
bổ sung vào môi trường chất tạo chồi là xytokinin
Có thể chia làm ba giai đoạn của quá trình hình thành rễ bất định của cành chiết, cành giâm
o Giai đoạn đầu là sự tái phân chia của mô phân sinh bên ( tầng phát sinh ) tức là một
số tế bào xảy ra sự phản phân hoá mạnh ở vùng xuất hiện rễ tạo nên một đám tế bào lộn xộn, đó là mầm mống của rễ
o Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn xuất hiện mầm rễ
o Giai đoạn cuối cùng là sự sinh trưởng và kéo dài của rễ, rễ chui qua vỏ để ra bên ngoài cành để tạo nên rễ bất định
Các giai đoạn này khác nhau về yêu cầu đối với auxin Giai đoạn đầu đòi hỏi một hàm lượng auxin rất cao để khởi xướng sự phản phân hoá tế bào mạnh mẽ nồng
độ kích thích của auxin là 10-4 - 10-5 g/cm3 Giai đoạn thứ hai cần hàm lượng auxin thấp hơn cho sự xuất hiện rễ ( 10-7 g/cm3 ), còn sự sinh trưởng của mầm rễ thành rễ thì đòi hỏi lượng auxin rất thấp ( 10-11 - 10-13 g/cm3 ) và thậm chí sự có mặt của auxin trong giai đoạn này còn gây hậu quả ức chế sự sinh truởng của rễ
Trang 12Trong kỹ thuật nhân giống vô tính cây trồng, muốn tạo rễ nhanh cho cành chiết, cành giâm và mô nuôi cấy trong ống nghiệm thì người ta phải xử lý auxin ngoại sinh…
5. Kích thích hình thành quả và tạo quả không hạt ( sẽ được đề cập ở phần ứng dụng của auxin)
6. Ức chế hình thành tầng rời, kìm hãm rụng hoa quả
Sự rụng của lá, hoa, quả là do sự hình thành tầng rời ở cuống để cắt rời cơ quan khỏi cơ thể Auxin có hiệu quả rõ rệt trong việc ức chế sự hình thành tầng rời vốn được cảm ứng hình thành bởi các chất ức chế sinh trưởng, do đó mà nó có thể kìm hãm sự rụng của lá, hoa và đặc biết có ý nghĩa là kìm hãm sự rụng của quả Thực chất thì sự rụng ngoài auxin còn được điều chỉnh bằng các hocmon khác: axit abxixic (ABA) và cả etylen ( sự cân bằng hocmon auxin/ ABA + etylen)
Việc xử lý auxin để ngăn ngừa sự rụng là biện pháp kỹ thuất rất có ý nghĩa để chống rụng cho quả non, tăng tỷ lệ đậu quả và góp phần tăng năng suất quả
7. Tăng tốc độ vận động của nguyên sinh chất, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất
8. Kích thích tổng hợp polime, ảnh hưởng đến quang hợp, hô hấp và vận chuyển chất trong cây
IV. ỨNG DỤNG CỦA AUXIN CHO CÂY TRỒNG
1. Kích thích sự ra rễ của cành giâm, chiết trong nhân giống vô tính
Người ta sử dụng auxin như IBA, α-NAA, 2,4D…để tăng tỷ lệ ra rễ, rút ngắn thời gian ra rễ, tăng hệ số nhân giống Tùy theo chất, cây trồng và phương pháp xử
lý mà nồng độ sử dụng khác nhau Có ba phương pháp chính xử lý auxin cho sự ra rễ bất định:
o Phương pháp xử lý nồng độ loãng: Nồng độ xử lý vào khoảng vài chục ppm Với việc giâm cành thì ta ngâm phần gốc vào dung dịch trong thời gian từ 12 đến 24 giờ rồi cắm cành giâm vào giá thể; Còn với chiết cành thì người ta trộn dung dịch xử lý với chất bó bầu trước khi bó bầu lại
o Phương pháp xử lý nồng độ đặc: Nồng độ xử lý giao động từ 1000 - 10000 ppm Với cành giâm thì nhúng phần gốc vào dung dịch trong 3-5 giây, rồi cắm vào giá thể
Trang 13đầu của sự xuất hiện rễ Ngoài ra, phương pháp này không đòi hỏi các thiết bị ngâm cành giâm và hoá chất tiêu tốn ít hơn
o Sử dụng dạng bột: Có nhiều chế phẩm giâm chiết cành dạng bột, trong đó có chất điều hòa sinh trưởng auxin với một tỷ lệ nhất định được phối trộn với một loại bột nào đó Khi giâm cành, ta chỉ cần chấm vết cành giâm vào chế phẩm bột rồi cắm vào giá thể
Trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu các vấn đề :
o Hiệu quả của các phương pháp xử lí
o Đặc điểm cành giâm, tuổi cành, vị trí cành giâm, số lá để lại, cây mẹ
o Các điều kiện ngoại cảnh : ánh sáng nhiệt độ giá thể
Kết quả nghiên cứu đã cho phép các nhà nghiên cứu tạo nên được một chế phẩm giâm chiết cành có hiệu quả tốt cho sự ra rễ của cành chiết cành giâm và đã được sử dụng rộng rãi, đưọc đánh giá cao trong sản xuất Chế phẩm giâm chiết cành bao gồm hỗn hợp của auxin (BA< α- NAA) phối chế với một số chất khác như axit nicotinic và vitamin
Quy trình giâm cành cây ăn quả, cây cảnh, cây công nghiệp:
1 Chọn cành giâm : cành bánh tẻ, lá không bị bệnh
2 Cắt các đoạn cành giâm ( 10 -15 cm ) có ít nhất 1 lá Nếu cành giâm có nhiều
lá thì cắt bớt lá
3 Nhúng phần gốc vào dung dịch ngâm chiết cành với thời gian 3 - 5 giây
4 Cắm cành giâm vào giá thể - giá thể phải ấm, thoáng, tốt nhất là cát sạch
5 Nhà giâm cành phải che ánh sáng trực xạ, chỉ sử dụng ánh sáng tán xạ
6 Phun ẩm thường xuyên bằng máy phun sương hoặc bình phun thuốc trừ sâu Trong thời gian đầu phải đảm bảo thường xuyên lá không bị héo, lá luôn ướt
7 Khi xuất hiện rễ thì giảm phun nước và có thể cho vào bầu đất nilông Giá thể tốt nhất là 1/2 phân chuồng mục và 1/2 đất màu Khi thấy rễ đâm ra sát túi nilông thì có thể trồng ra vườn ươm hoặc trực tiếp ra vườn
Thời vụ giâm chiết cành tốt nhất là vào mùa xuân sang hè (tháng 3, 4, 5) và thời vụ thu (tháng 9 và 10) Nếu giâm chiết cành vào những tháng nóng nực của mùa hè và những tháng lạnh lẽo của mùa đông thì rất khó thành công