Được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu, ứng dụng kiến thức bản đị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TẠI HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN ”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giáo viên hướng dẫn : TS Trần Văn Điền
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2Thực tập tốt nghiệp là việc hết sức cần thiết đối với mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và vận dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường, nó chính là hành trang quan trọng trước khi ra trường để vận dụng vào công tác và xây dựng quê hương, đất nước
Được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện
đề tài: “ Nghiên cứu, ứng dụng kiến thức bản địa trong xây dựng mô hình cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu tại Huyện Chợ Mới, Tỉnh Bắc Kạn ”
Để hoàn thành bản khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn sự giúp
đỡ tận tình của:
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Ban chủ nhiệm khoa cùng tập thể thầy, cô giáo khoa Môi trường đã truyền đạt kiến thức và giúp đỡ em trong quá trình học tập
Cán bộ trung tâm nghiên cứu và phát triển Nông Lâm nghiệp miền ADC và Ủy ban nhân dân xã Mai Lạp đã tạo điệu kiện cung cấp thông tin, tài liệu trong quá trình thực tập
núi-Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của
thầy giáo hướng dẫn: TS.Trần Văn Điền Hiệu trưởng trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên trong quá trình hoàn thành khóa luận này
Với trình độ năng lực và thời gian có hạn của bản thân, lần đầu tiên xây dựng khóa luận, mặc dù đã hết sức cố gắng song không tránh khỏi thiếu sót
Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo
và các bạn để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn./
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Lường Văn Bắc
Trang 3Bảng 2.1: Mức tăng nhiệt độ trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu ở nước ta
16
Bảng 2.2: Thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu nước ta 17
Bảng 2.3: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp(cm) 21
Bảng 2.4: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình(cm) 21
Bảng 2.5: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao(cm) 22
Bảng 2.6 : Mực nước biển qua các năm theo các kịch bản 22
Bảng 2.7: Dự báo tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp trong 50 tới 23
(Nguồn: trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Kạn, 2011) 34
Bảng 4.1 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) so với thời kỳ 36
1980 - 1999 ở vùng Đông Bắc Việt Nam 36
Bảng 4.2 Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 ở vùng Đông Bắc Việt Nam 36
Bảng 4.3 Đánh giá của người dân xã Mai Lạp về các hiện tượng thời tiết cực đoan ở địa phương 10 năm gần đây 37
Bảng 4.4 Sự hiểu biết của người dân xã Mai Lạp về BĐKH 38
Bảng 4.5 Hình thức tiếp cận thông tin về BĐKH của người dân xã Mai Lạp 38
Bảng 4.6 Tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp ở xã Mai Lạp 40
Bảng 4.7 Kết quả phân loại nhóm cây trồng tại Mai Lạp 49
Bảng 4.8 Tiêu chí lựa chọn mô hình trồng chuối xen gừng và củ đậu 51
Bảng 4.9 Danh sách trồng gừng xen chuối vụ mùa 2013 xã Mai Lạp 57
Bảng 4.10 Năng suất sinh khối khô của chuối-gừng và củ đậu 57
Bảng4.11 : Tình hình sử dụng thuốc BVTV trong mô hình khoai tây và đỗ xanh ở xã Mai Lạp 62
Bảng 4.12 Chi phí đầu tư cho mô hình 1000m2 62
Bảng 4.13 Tổng thu nhập năm đầu 63
Bảng 4.14 Ý kiến của người dân khi mở rộng mô hình 65
Bảng 4.15 Thang đánh giá đạm tổng số trong đất 65
Bảng 4.16 Ý kiến của người dân khả năng cải taọ đất của mô hình 66
Bảng 4.17 Phân tích đất của mô hình 67
Trang 4Hình 2.1: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm ( 0C ) trong 50 năm qua 15
Hình2.2: Mức tăng lượng mưa trung bình năm (%) trong 50 năm qua 16
Hình 2.5: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) vào cuối thế kỉ 21 theo kịch bản mức phát thải cao.(Nguồn Bộ TNMT,2012) 18
Hình 2.8: Mức thay đổi lượng mưa năm( %) vào cuối thế kỉ 21theo kịch bản phát thải cao 20
Hình 4.1: Cơ cấu sử dụng đất xã Mai Lạp năm 2012.[23] 29
Hình 4.2: Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại Bắc Kạn từ 2001-2011 34
Hình 4.3: Lượng mưa các tháng trong năm ở Bắc Kạn từ 2001-2011 35
Hình 4.4 Giống chuối để trồng 56
Hình 4.5: Sinh khối chuối-gừng và cây củ đậu 58
Hình 4.6 Sự phát triển của mô hình xen canh chuối-gừng và củ đậu trồng 2 tháng 60
Hình 4.7.Sự phát triển của mô hình xen canh chuối-gừng và củ đậu trồng 6 tháng 60
Hình 4.8.Sự phát triển của mô hình xen canh chuối-gừng và củ đậu 61
Hình 4.9 Thu hoạch chuối 64
Hình 4.10 Trồng xen theo kỹ thuật chuối, gừng 66
Trang 5ADC Trung tâm nghiên cứu và phát triển Nông Lâm nghiệp
miền núi phía bắc APO Tổ chức năng suất châu á
BĐKH Biến đổi khí hậu
BVTV Bảo vệ thực vật
IPCC Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change)
HTTTCĐ Hiện tượng thời tiết cực đoan
KTBĐ Kiến thức bản địa
MNPB Miền núi phía bắc
SXNN Sản xuất nông nghiệp
UNFCCC Công ước chung về biến đổi khí hậu
(Intergovernmental Panel on Climate Change)
NBD Nước biển dâng
UBND Ủy ban nhân dân
IMHEM Viện khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
TNMT Tài nguyên môi trường
NTTS Nuôi trồng thủy sản
WHO Tổ chức y tế thế giới
NXS Năng suất xanh
Trang 6PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài 3
1.2.1 Mục đích đề tài 3
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lí luận 4
2.1.2 Cơ sở pháp lí 8
2.2 Nghiên cứu BĐKH trên thế giới và ở Việt Nam 10
2.2.1 Nghiên cứu BĐKH trên thế giới 10
2.2.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam 13
2.2.3 Các kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam 17
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 24
3.4.2 Hoạt động sinh kế của người dân 26
3.5 Phương pháp tổng hợp xử lí số liệu 27
PHẦN 4 DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 28
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 30
4.1.3 Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật 31
Trang 74.1.6 Các kịch bản BĐKH liên quan đến vùng nghiên cứu 35
4.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống cây trồng, vật nuôi và sinh kế của người dân ở xã Mai Lạp 39
4.2.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thông cây trồng và vật nuôi 39
4.2.2 Tác động của biến đổi khí hậu đến hoạt động sinh kế của người dân 43
4.3 Phương thức canh tác - biện pháp kỹ thuật để thích ứng với BĐKH 44
4.3.1 Phương thức canh tác - biện pháp kỹ thuật để thích ứng với BĐKH 44
4.3.2 Thay đổi thời vụ gieo trồng phù hợp 48
4.3.3 Thay đổi giống, loại cây trồng phù hợp để thích ứng với BĐKH 48
4.3.4 Nhóm các loại cây trồng tại xã Mai Lạp 49
4.4 Mô hình xen canh chuối- gừng và cây củ đậu 51
4.4.1.Tiêu chí lựa chọn mô hình 51
4.4.2 Kỹ thuật nhân giống, thời vụ và chọn đất 52
4.5 Khả năng sinh trưởng tạo sinh khối của mô hình 56
4.5.1 Tổng sinh khối 56
4.5.2 Các yếu tố cho phát triển sinh khối 58
4.5.3 Hiệu quả và năng suất kinh tế của mô hình chuối-gừng và củ đậu 60
4.6 Khả năng cải tạo đất của mô hình xen canh chuối-gừng và củ đậu 65
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Kiến nghị 70
Trang 8PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, biến đổi khí hậu đang là một vấn đề được các nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm, những cơn bão bất thường, những đợt hạn hán, cháy rừng…xảy ra trái với chu kì của nó hàng thập kỷ qua, điều này dẫn đến những thiệt hại hết sức nặng nề cả về con người và sự phát triển của các nền kinh tế Theo RSEX – báo cáo đặc biệt về quản lí rủi ro của các sự kiện cực đoan và thảm họa, nhận định rằng Việt Nam xếp hạng thứ 23 trên 193 quốc gia về chỉ số chịu thương tổn do các tác động của BĐKH trong vòng 30 năm tới Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nơi được xem là vựa lúa của cả nước, sản xuất ra hơn 1/2 lượng thủy sản và trái cây của cả nước, UNDP ước tính, đến năm 2030, nước biển dâng sẽ làm cho 45% diện tích đất bị tổn thương do hiện tượng mặn hóa cực đoan Tình trạng này khiến cuộc sống của hơn 4 triệu người đói nghèo tại đây có nguy cơ tổn thương cao.Ông RK Pachauri - chủ tịch IPCC cho rằng: nền nông nghiệp của Việt Nam sẽ phải nghiên cứu giống cây chịu sự thay đổi nhiệt độ nếu cần thiết Việt Nam phải tính đến việc thay đổi cơ cấu mùa vụ
Ai cũng biết tác hại của biến đổi khí hậu mang lại, có thể thấy tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu thể hiện ở 10 điều tồi tệ sau đây: Gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về 2 cực, những đợt nóng, bão tố và lũ lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa dạng sinh học và phá hủy hệ sinh thái việt nam có đường bờ biển dài với hai phần ba lãnh thổ
là diện tích đất đồi núi, nên là một trong những nước dễ bị tổn thương nhất trong khu vực Đông Nam Á khi phải đối mặt với biến đổi khí hậu Chưa bao giờ vấn đề biến đổi khí hậu lại được đề cập nhiều và nóng bỏng như thời điểm này Theo nghiên cứu của liên hợp quốc, việt nam sẽ là quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất ở khu vực Đông Nam Á từ sự biến đổi khí hậu này
Khu vực trung du và miền núi phía Bắc được đánh giá là khu vực chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu không kém so với các tỉnh ven biển và các tỉnh trung bộ, về mùa đông những đợt không khí lạnh kéo dài, những trận
Trang 9lũ ống, lũ quét, các dịch bệnh,… trong khi người dân nơi đây sống dựa vào nguồn thu nhập chính từ các hoạt động thuộc lĩnh vực nông – lâm nghiệp, những thay đổi khí hậu sẽ làm ảnh hưởng xấu đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp: năng suất giảm, cây sinh trưởng chậm, gia súc chết,… làm cho đời sống người dân trở nên khó khăn Chính vì vậy mà việc tìm ra các mô hình trồng trọt, chăn nuôi để thích ứng với thực trạng BĐKH đối với khu vực này là rất quan trọng Một trong những hướng đi mà hiện nay các nhà khoa học đang quan tâm để giải quyết vấn đề này là đó là dựa vào kiến thức của người dân bản địa để tìm ra các mô hình sản xuất nông nghiêp thích ứng với BĐKH
Bắc Kạn một tỉnh thuộc khu vực trung du và miền núi phía Bắc là nơi sinh sống của bảy dân tộc anh em bao gồm Tày, Dao, Việt (Kinh), H’Mông, Nùng, Sán Chay, Hoa Trong 5 năm gần đây là tỉnh phải chịu thiệt hại lớn nhất trong sản xuất nông nghiệp do sự xuất hiện tượng thời tiết cực đoan (CARE international in Viet Nam, 2010) Do vậy trong những năm qua tỉnh
đã và đang được tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam và nhiều tổ chức khác triển khai các dự án xóa đói giảm nghèo và giảm thiểu các tác động xấu của biến đổi khí hậu Do nơi đây có nhiều dân tộc cùng sinh sống cùng với việc hoạt động nông nghiệp là chủ yếu nên vốn kiến thức truyền thống và kinh nghiệm trong trồng trọt và chăn nuôi của họ rất phong phú, những kinh nghiệm quý giá này được lưu truyền có chọn lọc từ thế hệ này qua thế hệ khác, giúp cho người nông dân có các mô hình canh tác phù hợp với sự biến đổi của khí hậu
Cộng đồng dân ở Bắc Kạn nói riêng và miền núi phía bắc nói chung có vốn kiến thức truyền thống và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp giúp họ linh hoạt hơn với những biến đổi khắc nghiệt trong môi trường sống Nhiều cộng đồng bản địa là dân tộc thiểu số ở Bắc kạn đã có rất nhiều kinh nghiệm trong canh tác nông nghiệp bền vững và quản lý tài nguyên thiên nhiên Những kiến thức và các kỹ thuật bản địa nãy đã được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong từng cộng đồng dân tộc thiểu số (Tran Van Đien, 2012)
Từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu, ứng dụng kiến thức bản địa trong xây dựng mô hình cây trồng thích ứng với biến
đổi khí hậu tại Huyện Chợ Mới, Tỉnh Bắc Kạn”
Trang 101.2 Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của đề tài
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Thông tin số liệu thu thập phải trung thực, khách quan, chính xác
- Đánh giá được hiệu quả, khả năng tạo sinh khối, khả năng cải tạo đất
và tính phù hợp của một số mô hình cây trồng trên cơ sở áp dụng kiến thức bản địa của cộng đồng các dân tộc thiểu số tại Xã Mai Lạp, Huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
1.2.3 Ý nghĩa của đề tài
- Đối với việc học tập và nghiên cứu
+ Nâng cao được kĩ năng và kiến thức thông qua các hoạt động thực tế + Vận dụng được những kiến thức đã được học
+ Nâng cao khả năng tự học, khả năng tìm kiếm, chọn lọc tài liệu + Hiểu biết rõ hơn về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
+ Củng cố thêm kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở
- Đối với hoạt động thực tiễn
+ Từ các mô hình thử nghiệm tại địa phương từ đó tìm ra mô hình thích hợp nhất cho người dân
+ Góp phần giảm thiểu được các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh miền núi phía bắc
Trang 11PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lí luận
2.1.1.1Các khái niệm có liên quan :
+ Biến đổi khí hậu : là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người (Liên Hiệp Quốc, 1992)
+ Khả năng bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ
mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu + Ứng phó với biến đổi khí hậu là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu
+ Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc số lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng
+ Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại
+ Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức bao gồm kiến thức kỹ thuật bản địa và kiến thức địa phương, nhưng được cụ thể hóa trong khía cạnh liên quan đến sinh thái, đến quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên: rừng, đất rừng, nguồn nước Nó phản ánh những kiến thức kinh nghiệm của từng nhóm cộng đồng đang cùng sinh sống trong từng vùng sinh thái nhân văn, đây là hệ thống kiến thức kết hợp các hiểu biết bên trong lẫn bên ngoài, sự giao thoa kế thừa giữa kinh nghiệm của các dân tộc đang chung sống, sự kiểm nghiệm các
kỹ thuật mới du nhập và sự thích ứng nó với điều kiện sinh thái địa phương
Trang 122.1.1.2 Nguyên nhân của BĐKH
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến BĐKH đó là do thiên nhiên và do con người Trong những thập niên gần đây các hoạt động kinh tế - xã hội của con người ngày một phát triển dẫn đến lượng khí thải nhà kính không ngừng tăng lên, cùng với đó việc khai thác các bể hấp thụ khí nhà kính như rừng, hệ sinh thái biển làm cho hàm lượng các khí nhà kính trong không khí luôn ở mức cao Một số loại khí nhà kính điển hình :
- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép
- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than
- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và
HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22
- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm
- SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê
Hiện nay, Nghị định thư kyoto vẫn là một công cụ hữu hiệu được hầu hết các quốc gia ủng hộ nhằm hạn chế và ổn định các loại khí nhà kính nói trên
2.1.1.3 Vai trò của kiến thức bản địa đối với việc thích ứng BĐKH
Hiện nay BĐKH được coi là một trong những thách thức lớn nhất của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ở thế kỉ 21 Nhận thức được điều
đó, chương trình mục tiêu quốc gia nhằm ứng phó với BĐKH đã chỉ rõ: Ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, mọi người dân; trong nội dung huy động mọi tiềm năng có thể Một trong các tiềm năng để thực hiện nội dung đó chính là kiến thức bản địa của người dân địa phương, việc áp dụng kiến thức bản địa vào việc thích ứng với BĐKH cũng đang là một hoạt động chiến lược ứng phó với BĐKH của các ban ngành tại địa phương Khác với các kiến thức tiếp
Trang 13thu từ bên ngoài( kiến thức qua quá trình học tập), kiến thức bản địa( KTBĐ)
là một kho tri thức vô cùng quý giá của cộng đồng dân cư, được kết tinh từ các kinh nghiệm hoạt động sản xuất thực tế qua các mùa vụ, các thế hệ ( sửa chữa thiếu sót của những kiến thức chưa đúng của thế hệ trước, giữ lại những kiến thức đúng và tiếp tục phát triển chúng qua thời gian) hoặc qua quá trình truyền khẩu để phù hợp với điều kiện tự nhiên – xã hội của vùng tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế
Đặc trưng của kiến thức bản địa
- Kiến thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế hệ trong một cộng đồng địa phương nhất định
- Kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng địa phương - nơi đã hình thành và phát triển kiến thức đó
- Kiến thức bản địa rất đơn giản, chi phí thấp và bền vững đối với điều kiện tự nhiên địa phương
- Kiến thức bản địa do toàn thể cộng đồng trực tiếp sáng tạo ra qua lao động trực tiếp
- Kiến thức bản địa không được ghi chép bằng văn bản cụ thể mà được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca, tế lễ và nhiều tập tục khác nhau
- Kiến thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa, tập tục địa phương
- Kiến thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát triển nông thôn bền vững
- Tính đa dạng của kiến thức bản địa rất cao
2.1.1.4 Một số kiến thức bản địa của người dân trong sản xuất nông nghiệp thích ứng BĐKH
Thực chất khái nhiệm ứng phó và thích ứng với BĐKH là một cụm từ mới được đưa vào trong truyền thông và các hoạt động của các chương trình
và dự án ở Việt Nam cũng như các tỉnh MNPB Tuy nhiên bản chất các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu đã được hình thành, tích lũy và lưu truyền nhiều thế hệ trong các cộng đồng dân tộc thiếu số Với đời sống phụ thuộc
Trang 14vào sản xuất nông nghiệp là chính nên KTBĐ trong sản xuất nông nghiệp được xác định là phong phú đa dạng và đang đóng một vai trò quan trọng trong phát triển một nền sản xuất nông nghiệp bền vững thích ứng với BĐKH ngày nay
KTBĐ trong sản xuất nông nghiệp hiện nay được áp dụng phổ biến và nhiều nhất trong sản xuất nông nghiệp hiện nay là sử dụng các giống cây trồng và vật nuôi bản địa Vũ Văn Liết và cộng sự (2011) đã chỉ ra rằng cộng đồng người Thái ở MNPB hiện nay đang sử dụng rất phổ biến các giống bản địa bao gồm: 7 giống cây lương thực thực phẩm, 13 giống cây rau quả, 7 giống gia cầm và 9 giống gia súc Tác giả cũng cho rằng các cộng đồng dân tộc thiểu số MNPB đang quản lý và sử dụng một tập đoàn giống cây trồng và vật nuối rất phong phú và rất có giá trị cho sản xuất nông nghiệp do có tính chống chịu cao với các điều kiện bất lợi Ví dụ cộng đồng người Tày ở Bắc Kạn đang sử dụng tới 20 giống cây trồng và 3 giống vật nuôi bản địa phổ biến, trong khi đó cộng đồng người Dao ở Bắc Kạn cũng đang sử dụng tới 19 giống cây trồng và 4 giống vật nuôi bản địa trong phát triển sinh kế của mọi gia đình (Vũ Văn Liết, Vũ Thị Bích Hạnh, Phan Đức Thịnh, Nguyễn Văn Hà, Nhâm Xuân Tùng, Nguyễn Thị Hảo, Phạm Mỹ Linh, Đàm Văn Hưng, Vũ Quốc Đại, Nguyễn Bằng Tuyên, Phạm Quang Tuân, 2011) [6] Các giống bản địa này đang góp phần quan trọng giúp cho sản xuất của người dân tránh được hiện tượng thời tiết cực đoan xẩy ra mấy năm gần đây
Kiến thức bản địa còn được ứng dụng nhiều trong kỹ thuật canh tác trong điều kiện thời tiết khí hậu cực đoan Với điều kiện canh tác chủ yếu trên đất dốc nhiều biên pháp kỹ thuật truyền thống đã được áp dụng để han chế xói mòn đất do mưa to như tạo ruộng bậc thang, xếp đá tạo đường đồng mức, để bang cỏ tự nhiên theo đồng mức, trồng xen canh để che phủ mặt đất Đặc biệt
kỹ thuật bản địa tưới nước và giữ nước trong điều kiên địa hình đồi núi phức tạp đã được áp dụng rất phổ biến ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số như làm guồng, cọn tát nước, ống bương dẫn nước đào giếng tại ruộng giữ nước đã giúp cho cây trồng tránh được khô hạn Đặc biệt những kiến thức về thời vụ gieo trồng và dự báo thời tiết khi hậu bất lợi đã giúp cho các cộng đồng dân
Trang 15tộc thiểu số giảm thiệu thiệt hại do thiên tai Ví dụ người Dao cho biết “khi thấy trâu đang thả trong rừng mà chạy bỏ về nhà là trời sắp có mưa to chuẩn
bị tránh lũ Hay mặt nước ao đang bình thường chuyển sang màu xanh rêu 2-3 ngày là trời sẽ mưa to (Huyền Nữ Phương Vinh và Trần Đình Hữu Ái, 2009) [19] Kiến thức bản địa thực sự giúp cho việc sản xuất nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc thiểu số được phát triển bền vững qua nhiều thế hệ
- Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg, ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững
ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam);
- Quyết định số 35/2005/QĐ-TTg ngày 17/12/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định thư Kyoto ở Việt Nam;
- Quyết định số 47/2007/TTg ngày 6/4/2007, Thủ tướng Chính phủ ra phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị định thư Kyoto trong giai đoạn 2007-2010;
- Năm 2007, Việt Nam công bố Chiến lược Quốc gia về phòng chống, thích nghi và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 (SRV, 2007);
- Quyết định số 172/2007/QĐ-TTg, ngày 16 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020;
- Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg, ngày 02 tháng 12 năm 2008, của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH ;
- Quyết định số 1002/QĐ-TTg, ngày 13 tháng 07 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án Nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng;
Trang 16- Quyết định số 2139/QĐ-TTg, ngày 5/12/2011, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về BĐKH;
- Quyết định số 1781/QĐ – TTg ngày 24/09/2010 v/v bổ sung kinh phí năm 2010 để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về biến đổi khí hậu
- Quyết định số 669/QĐ- TTg ngày 05/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung kinh phí khắc phục hậu quả hạn hán, xâm nhập mặn vụ Đông - Xuân năm 2011 – 2012
• Một số văn bản, chính sách thực hiện chương trình BĐKH quốc gia được triển khai ở tỉnh Bắc Kạn :
- Quyết định số 799/QĐ – UBND ngày 25/12/2012 về việc ban hành kế hoạch hoạt động ứng phó với BĐKH của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2011 – 2020
- Quyết định số 1130/QĐ-UBND ngày 26/7/2012 về việc thực hiện kế hoạch hoạt động ứng phó với BĐKH của tỉnh
- Quyết định số 420/QĐ – UBND ngày 18/03/2011 của UBND tỉnh Bắc Kạn v/v giao sở tài nguyên môi trường thực hiện 2 đề án BĐKH
- Quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 27/6/2011 của UBND tỉnh Về việc Phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí Dự án: Đánh giá mức độ BĐKH , xây dựng các kịch bản BĐKH của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2020
- Quyết định số 1114/QĐ-UBND ngày 27/6/2011 của UBND tỉnh Về việc Phê duyệt đề cương và dự toán kinh phí Dự án: Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH của tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2011-2020
• Trong sản xuất nông nghiệp: các văn bản, chỉ thị sản xuất nông nghiệp và các văn bản khắc phục hậu quả thiên tai như:
- Quyết định số 590/QĐ-UBND ngày 13/4/2011 của UBND tỉnh Về việc quy định mức hỗ trợ trực tiếp về giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
- Quyết định số 1045/QĐ-UBND ngày 10/7/2012 về việc cấp bổ sung kinh phí thực hiện phòng, chống và khắc phục hậu quả hạn hán vụ đông – xuân năm 2011 – 2012
Trang 172.2 Nghiên cứu BĐKH trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Nghiên cứu BĐKH trên thế giới
Trái đất nóng lên là hậu quả của một quá trình tích lũy lâu dài của khí nhà kính, chủ yếu là CO2 và metan Những khí này khi được thải vào bầu khí quyển sẽ "nhốt” hơi nóng của ánh mặt trời bên trong bầu khí quyển, vì vậy làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên
Nhiều hậu quả không diễn tiến theo một con đường thẳng Thí dụ về mặt sinh thái, khí CO2 tăng sẽ ảnh hưởng có lợi cho sự phát triển rừng, nhưng khi khí hậu biến đổi thì rừng sẽ bị phá hủy – đây là tác động có hai hậu quả đối nghịch với điều chúng ta dự kiến trong tương lai ( Nhóm công tác biến đổi khí hậu, 2011)[4]
• Núi băng biến mất
Hậu quả thấy rõ nhất của việc khí hậu nóng lên là lượng núi băng giảm xuống Dù chúng ta không có các số liệu đo đạc chắc chắn từ các trạm đo khí tượng, nhưng các hình chụp tư liệu trước đây và các băng tích của núi băng là một dấu hiệu rõ ràng về sự biến đổi khí hậu Nó đã làm băng hà biến mất dần dần Những lãnh nguyên bao la từng được bao phủ bởi một lớp băng vĩnh cữu rất dày giờ đây được cây cối bao phủ
Các hiểu biết khoa học hiện nay (và trong thời gian gần tới đây) chưa
đủ để đưa ra một dự báo chắc chắn về sự phát triển tương lai của băng phủ Khí hậu càng nóng thì rủi ro băng giá bắt đầu tan nhanh càng nhiều và một khi nó đã bắt đầu tan thì sẽ rất khó ngăn chặn
• Mực nước biển đang dâng lên
Người ta đã từng quan sát hiện tượng này trong lịch sử phát triển của khí hậu Vào cao điểm của thời băng giá (cách đây khoảng 20 000 năm), lúc khí hậu toàn cầu lạnh hơn khoảng 4 đến 70C thì mực nước biển thấp hơn hiện nay khoảng 120m và người ta có thể đi bộ mà không bị ướt chân từ châu Âu lục địa sang Anh quốc Vào cuối thời băng giá, mực nước biển tăng nhanh, đến khoảng 5m cho mỗi thế kỷ ( Trần Thục, Nguyễn Văn Thắng, Hoàng Đức Cường, 2012)[17]
Trang 18• Dòng hải lưu biến đổi
Từ cái nhình khoa học không có một dấu hiệu nào cho thấy sự thay đổi
bi thảm của dòng hải lưu, vì vậy kịch bản loại này được xem như không xuất hiện Nhưng về mặt lâu dài và nhiệt độ khí tăng lên – như đến khoảng giữa của thế kỷ này – thì nó sẽ trở thành một yếu tố nguy hiểm đáng lo ngại Khí hậu nóng lên có thể làm các chuyển động hải lưu yếu đi bằng hai cách: sức nóng làm giảm độ đậm đặc của nước biển do nước giãn nở ra và gia tăng tăng lượng nước mưa cũng như nước ngọt từ các núi băng tuyết tan, nhất là ở Greenland đổ vào Hai yếu tố này làm cản trở sự hình thành dòng hải lưu dưới sâu và trong trường hợp xấu nhất có thể làm chúng biếm mất hoàn toàn ( Nhóm công tác biến đổi khí hậu, 2011) [4]
• Thời tiết cực đoan
Những hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lụt lội hay khô hạn là hậu quả của sự biến đổi khí hậu mà nhiều người phải trực tiếp chịu đựng
Những đợt nắng nóng gay gắt
Trái đất đang ngày một nóng lên “nhờ” khí thải cũng như hiệu ứng nhà kính cùng sự phát triển công nghiệp quá mức Hàng loạt những kỷ lục về nhiệt độ bị xô đổ, hạn hán, cháy rừng cùng những hệ lụy xấu chưa bao giờ xuất hiện nhiều và liên tục đến như thế Chính con người chứ không phải ai khác phải hứng chịu tất cả những hậu quả này Bắt đầu với những năm đầu thế kỷ 20: Lần đầu tiên trên thế giới ghi nhận những trận hạn hán, nắng nóng ghê gớm xảy ra tại các nước nhiệt đới châu Á, châu Phi Năm 1900, ở Ấn Độ
đã xảy ra một trận nắng nóng gay gắt, không mưa và nhiệt độ tăng cao từ 40 -
45 độ C trong suốt nhiều ngày liên tục Điều này đã dẫn tới hạn hán lớn, số người thiệt mạng dao động từ 250.000 tới gần 3,25 triệu người Đợt nắng nóng quét qua Châu Âu hồi năm 2003 đã làm thiệt mạng khoảng 20 đến 30 ngàn người Đó thật sự là dấu hiệu đáng báo động của những thay đổi ngày càng tồi tệ của khí hậu ( Nguyễn Văn Thắng, Đào Thị Thúy và các cộng tác viên, 2009) [15]
Bão lụt:
Trang 19Để dự đoán các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến thời tiết, các nhà khoa học phải dùng đến các thiết bị hiện đại Nhưng chẳng cần có thiết bị hiện đại cũng thấy được những cơn bão khốc liệt đang ngày một nhiều hơn Trong vòng chỉ 30 năm qua, số lượng những cơn giông bão Theo ước tính, chỉ riêng ở Mỹ, trong vòng 100 năm qua (từ 1905 đến 2005), số lượng những cơn bão mạnh đã tăng không ngừng Nếu từ 1905 - 1930 chỉ có khoảng trung bình 3,5 cơn/năm thì con số này là 5,1 trong khoảng 1931-1994, và lên đến 8,4 từ 1995-2005 Mức độ thiệt hại về sinh mạng và vật chất do các cơn bão
và các trận lụt lội gây ra cũng đang ở mức kỷ lục ( Nguyễn Văn Thắng, Đào Thị Thúy và các cộng tác viên, 2009) [15]
Hạn hán:
Trong khi một số nơi trên thế giới chìm ngập trong lũ lụt triền miên thì một số nơi khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài Hạn hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của nhiều nước Hậu quả là sản lượng và nguồn cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất đang và sẽ chịu cảnh đói khát
• Các hệ sinh thái bị phá hủy
Tại nhiều hội nghị quốc tế, các công trình nghiên cứu ở địa phương về ảnh hưởng do biến đổi khí hậu đén hệ thống sinh thái nhạy cảm đã đưa ra thảo luận Kết quả của các cuộc hội thảo là một kịch bản đầy nguy cơ Chỉ cần nhiệt độ khí hậu tăng lên 10C thì hệ thống sinh thái nhạy cảm sẽ bị ảnh hưởng: san hô, rừng nhiệt đới trên vùng cao ở Queensland, Úc và các vùng đất khô trồng các giống cây thấp ở Nam Phi (đặc biệt là loài xương rồng Karoo) Nếu nhiệt độ tăng lên từ 1 đến 20C thì nó sẽ gây hại đến hệ sinh thái này, ngoài ra còn gây hại thêm hệ sinh thái ở vùng Bắc cực và vùng núi Trung Đông sẽ xảy ra nhiều vụ hỏa hoạn lớn và sẽ bị nhiều loài côn trùng tấn công Một tai họa sẽ xuất hiện và không thể đạo ngược lại, có thể làm cho rừng nhiệt đới Amzon “chết cứng” Nếu nhiệt độ tăng lên 30C thì băng tuyết ở Bắc cực sẽ biến mất, tai họa sẽ đến với các loại gấu tuyết và các loài khác Vườn quốc gia ở Nam Phi sẽ mất hai phần ba số động vật của mình
Trang 20• Mất đa dạng sinh học
Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc
có nguy cơ tuyệt chủng Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa,
do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên Các nhà sinh vật học nhận thấy đã
có một số loài động vật di cư đến vùng cực để tìm môi trường sống có nhiệt
độ phù hợp Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã chuyển lên vùng Bắc cực
• Dịch bệnh
Cho đến nay, công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về hậu quả của sự biến đổi khí hậu là do WHO thực hiện năm 2002 đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu, từ bệnh tim do nhiệt độ tăng quá cao, đến các vấn đề hô hấp và tiêu chảy, sốt rét ( Burton, I., Feenstra, J.F., Smith, J.B & Tol, R.S Introduction In: Feenstra, J.F, 1998) [26]
2.2.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Các nghiên cứu có tính bước ngoặt như Báo cáo đánh giá thứ tư của Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC) phát hành năm 2007 (IPCC 2007), Báo cáo Phát triển con người của UNDP (2007-2008), Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới về tác động của mực nước biển dâng tới các nước đang phát triển (World Bank 2007), Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH (MoNRE 2008), cũng như một số báo cáo khác của Viện khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường gần đây và Các kịch bản BĐKH cho Việt Nam (MoNRE 2009), tất cả đã chỉ ra rằng Việt Nam "đặc biệt dễ bị tổn thương bởi những ảnh hưởng bất lợi của BĐKH" như được nêu ra theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC).Các quan sát của Viện khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường (IMHEN) cho thấy những tác động lớn
Trang 21của BĐKH đến Việt Nam bao gồm mực nước biển dâng tương ứng vớisự gia tăng các hiện tượng khí hậu cực đoan, dần dần làm gia tăng áp lực khí hậu đối với tài nguyên và cộng đồng Báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC định nghĩa về “kịch bản khí hậu” như sau: "Sự thể hiện đáng tin cậy và đơn giản hóa, về khí hậu trong tương lai dựa trên một tập hợp thống nhất nội tại các mối quan hệ khí hậu học được xây dựng để sử dụng trong tìm ra những hậu quả tiềm tàng của BĐKH do con người gây ra, thường được coi như là đầu vào của các mô hình tác động Kịch bản BĐKH là sự khác biệt giữa kịch bản khí hậu và khí hậu hiện hành".Trong năm 2009, IMHEN áp dụng các kịch bản BĐKH toàn cầu để xây dựng các kịch bản BĐKH ở Việt Nam (MoNRE, 2009) Các kịch bản BĐKH toàn cầu được lấy từ Báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC Đây là các kịch bản kinh tế xã hội toàn cầu khác nhau liên quan đến các mức độ cụ thể của phát thải khí nhà kính trong tương lai, và làm thay đổi khí hậu theo ở các mức độ khác nhau (UNDP, 2008)
IMHEN đã chọn ra ba (B1, B2 và A2) trong sáu kịch bản (xem Phụ lục 4) để xây dựng kịch bản BĐKH ở Việt Nam Ba kịch bản này bao gồm kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình của nhóm kịch bản trung bình (B2), và kịch bản phát thải trung bình của nhóm kịch bản cao (A2) Giai đoạn cơ sở được xác định là 1980-1999, đây cũng là giai đoạn được sử dụng trong Báo cáo đánh giá lần thứ tư của IPCC Trong số những kịch bản được lựa chọn để sử dụng tại Việt Nam, kịch bản phát thải môi trường B2 được chínhthức đề xuất là cơ sở chính để lên kế hoạch và quy hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu
Nhiều nghiên cứu kết luận rằng Việt Nam là một trong những quốc gia chịu những tác động nặng nề nhất của BĐKH và nước biển dâng sau Banglades và các quốc gia nhỏ khác (Thayer, 2007; UN, 2009) [30]
Trang 22( Nguồn Bộ TNMT,2012)
Hình 2.1: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm ( 0 C ) trong 50 năm qua
Ở Việt Nam trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC trên phạm vi cả nước và lượng mưa có xu hướng giảm ở phía Bắc và tăng ở phía Nam lãnh thổ ( Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) [2]
Nhiệt độ: Nhiệt độ tháng I (tháng đặc trưng của mùa đông), nhiệt độ tháng VII ( tháng đặc trưng mùa hè) và nhiệt độ trung bình năm tăng trên phạm vi cả nước trong 50 năm qua, nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn so với mùa hè Kết quả được thể hiện ở bảng 2.1 và hình 2.1 ( Bộ Tài nguyên và Môi trường , 2012) [2]
Trang 23Bảng 2.1: Mức tăng nhiệt độ trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu ở nước ta
Hình2.2: Mức tăng lượng mưa trung bình năm (%) trong 50 năm qua
Lượng mưa: Lượng mưa mùa khô ( tháng XI – IV) tăng ít hay không thay đổi đáng kể ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng mạnh mẽ ở các vùng
Trang 24khí hậu phía Nam trong 50 năm qua Lượng mưa mùa mưa ( tháng V – X) giảm từ 5% đến 10% trên đa phần diện tích phía Bắc và tăng khoảng từ 5% đến 20% ở các vùng khí hậu phia Nam, kết quả được thể hiện ở bảng 2.2 và hình 2.2 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) [2]
Bảng 2.2: Thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở các vùng khí hậu nước ta
Bão và áp thấp nhiệt đới: Trung bình hàng năm có khoảng 12 cơn bão
và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông trong đó thì 45% số cơn bão nảy sinh ở ngay trên biển Đông và 55% là do di chuyển từ Thái Bình Dương
di chuyển vào Số lượng xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực biển Đông có xu hướng tăng nhẹ, khu vực đổ bộ của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới vào Việt Nam có xu hướng lùi dần về phía Nam lãnh thổ nước ta, số lượng các cơn bão rất mạnh có xu hướng gia tăng, mùa bão có dấu hiệu kết thúc muộn hơn trong những năm gần đây.(Trần Thục, 2012) [17]
2.2.3 Các kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam
2.2.3.1 Về nhiệt độ
• Theo kịch bản phát thải thấp, đến cuối thế kỉ 21 nhiệt độ trung bình năm tăng 1,6 0C đến hơn 2,2 0C trên đại bộ phận diện tích phía Bắc Mức tăng nhiệt từ 10C đến 1,60C ở đại bộ phận các tỉnh phía Nam.( Hình 2.3) (Bộ Tài nguyên và Môi trường , 2012) [2]
Trang 25• Theo kịch bản phát thải trung bình đến cuối thế kỉ 21 nhiệt độ tăng
từ 1,90C đến 3,10C hầu khắp diện tích cả nước, nơi có mức tăng cao nhất là khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị với mức tăng trên 3,10C một phần Tây Nguyên và Tây Nam Bộ có mức tăng thấp nhất, (Hình 2.4) ( Bộ Tài nguyên
và Môi trường , 2012) [2]
• Theo kịch bản phát thải cao đến cuối thế kỉ 21 nhiệt độ trung bình năm có mức tăng chủ yếu từ 2,50C đến 3,70C trên hầu khắp diện tích cả nước Nơi có mức tăng thấp nhất từ 1,6oC đến 2,5oC là ở một phần diện tích thuộc Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, ( hình 2.5) ( Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) [2]
Hình 2.5: Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (oC) vào cuối thế kỉ 21 theo kịch
bản mức phát thải cao.(Nguồn Bộ TNMT,2012)
Trang 262.2.3.2 Về lượng mưa
• Theo kịch bản phát thải thấp thì lượng mưa năm sẽ tăng trên 6% vào cuối thế kỉ 21 Mức tăng thấp nhất là ở Tây Nguyên khoảng dưới 2%, (hình 2.6) ( Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) [2]
• Theo kịch bản phát thải trung bình mức tăng phổ biến của lượng mưa năm trên lãnh thổ Việt Nam từ 2% đến 7% vào cuối thế kỉ 21 Tây Nguyên là khu vực có mức tăng thấp hơn so với các khu vực khác trên cả nước, với mức tăng từ dưới 1 đến gần 3% vào cuối thế kỷ 21,( hình 2.7) ( Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) [2]
• Theo kịch bản phát thải cao, lượng mưa năm đến cuối thế kỷ mức tăng
có thể từ 2 đến trên 10% Khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít nhất từ 1 đến 4% vào cuối thế kỷ 21, (hình 2.8) (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) [2]
Trang 27(Nguồn Bộ TNMT,2012)
Hình 2.8: Mức thay đổi lượng mưa năm( %) vào cuối thế kỉ 21theo kịch bản
phát thải cao
2.2.3.3 Các kịch bản cho nước biển dâng
• Theo kịch bản phát thải thấp, đến cuối thế kỉ 21 trung bình toàn Việt Nam nước biển dâng trong khoảng từ 49cm đến 64 cm (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)[2] Kết quả được thể hiện trong bảng 2.3
Trang 28Bảng 2.3: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải thấp(cm)
Khu vực Các mốc thời gian của thế kỉ 21
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Móng Cái – Hòn Dấu 7-8 10-12 14-17 19-22 23-29 28-36 33-43 38- 50 42-57 Hòn Dấu- Đèo Ngang 8-9 11-13 15-17 19-23 24-30 29-37 34-44 38-51 42-58
Đèo ngang – Đ.Hải vân 7-8 11-12 16-18 22- 24 28-31 34-39 41-47 46-55 52-63
Đ.Hải Vân–Mũi Đại Lãnh 7-8 12- 13 17-18 22-25 29-33 35-41 41-49 47-57 52-65 Mũi Đại Lãnh–Mũi Kê Gà 7-8 11-13 16-19 22-26 29-34 35-42 42-51 47-59 53-68 Mũi Kê Gà – Mũi Cà Mau 8-9 11-13 17-19 22-26 28-34 34-42 40-50 46-59 51-66 Mũi Cà Mau – Mũi Kiên
Giang 9-10 13- 15 18-21 24-28 30-37 36-45 43-54 48-63 54-72
(Nguồn Bộ TNMT,2012)
•Theo kịch bản phát thải trung bình đến cuối thế kỉ 21 nước biển dâng cao nhất ở khu vực từ Cà Mau đến Kiên Giang, thấp nhất ở khu vực Móng Cái – Hòn Dấu Trung bình toàn Việt Nam nước biển dâng trong khoảng từ 57cm – 73 cm (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) [2]
Bảng 2.4: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải trung bình(cm)
Khu vực Các mốc thời gian của thế kỉ 21
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Móng Cái – Hòn Dấu 7-8 11-12 15-17 20-24 25-31 31-38 36-47 42-55 49-64 Hòn Dấu- Đèo Ngang 7-8 11-13 15-18 20-24 25-32 31-39 37-48 43-56 49-65 Đèo ngang – Đ.Hải vân 8-9 12-13 17-19 23-25 30-33 37-42 45-51 52-61 60-71 Đ.Hải Vân–Mũi Đại Lãnh 8-9 12-13 18-19 24-26 31-35 38-44 45-53 53-63 61-74 Mũi Đại Lãnh–Mũi Kê Gà 8-9 12-13 17-20 24-27 31-36 38-45 46-55 54-66 62-77 Mũi Kê Gà – Mũi Cà Mau 8-9 12-14 17-20 23-27 30-35 37-44 44-54 51-64 59-75 Mũi Cà Mau – Mũi Kiên Giang 9-10 13-15 19-22 25-30 32-39 39-49 47-59 55-70 62-82
(Nguồn Bộ TNMT,2012)
• Theo kịch bản phát thải cao, trung bình toàn Việt Nam nước biển dâng trong khoảng từ 78 cm – 95 cm trong đó thấp nhất là ở Móng Cái – Hòn Dấu và cao nhất ở Cà Mau - Kiên Giang (Bộ Tài nguyên và Môi trường, (2012) [2]
Trang 29Bảng 2.5: Nước biển dâng theo kịch bản phát thải cao(cm)
Khu vực Các mốc thời gian của thế kỉ 21
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Móng Cái – Hòn
Dấu 7-8 11-13 16-18 22-26 29-35 38-46 47-58 56-71 66-85 Hòn Dấu- Đèo
Cà Mau 8-9 13-14 19-21 26-30 35-41 45-53 56-68 68-83 77-99 Mũi Cà Mau – Mũi
Bảng 2.6 : Mực nước biển qua các năm theo các kịch bản
Kịch bản NBD Các mốc thời gian của thế kỷ 21
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Kịch bản thấp( B1) 11 17 23 28 35 42 50 57 65 Kịch bản trung bình (B2) 12 17 23 30 37 46 54 64 75 Kịch bản cao(A1FI) 12 17 24 33 44 57 71 86 100
(Nguồn Bộ TNMT,2012)
Trang 30Bảng 2.7: Dự báo tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp trong 50 tới
Nhiệt độ
Tăng 1-2 0 C Mùa đông ấm lên nhiều hơn so với mùa
hè Tăng tần số của sóng nhiệt
Cao
Mùa vụ nhanh hơn, ngắn hơn trước đó, phạm vi dịch chuyển
về những khu vực vùng cao phía bắc, áp lực nhiệt, tăng bốc hơi
Lượng mưa Thay đổi theo mùa ± 10% Thấp
Tác động đến nguy cơ hạn hán, khai thác thủy lợi cung cấp nước
Bão gió
Tăng tốc độ gió, đặc biệt là
ở phía bắc Lượng mưa
nhiều hơn với cường độ cao
Rất thấp Xói mòn đất, giảm khả năng
thẩm thấu của mưa
Nguồn: IPCC, 2007
Mực nước biển trung bình trên dải bờ biển Việt Nam có thể tăng lên 1m vào năm 2100 (Bùi Cách Tuyết, 2008) [20]
Trang 31PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các cộng đồng dân tộc thiểu số đang sinh sống trên địa bàn xã
- Các mô hình trồng trọt thích ứng với BĐKH
- Mô hình cây trồng xen canh chuối-gừng và cây củ đậu
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Xã Mai Lạp, Huyện Chợ Mới, Tỉnh Bắc Kạn
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông lâm nghiệp miền núi ADC
- Thời gian thực hiện:Từ tháng 01/2014 đến tháng 05/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Xác định được điều kiện tự nhiên của địa phương ( Đất, nước, không khí, rừng )
- Điều kiện kinh tế-xã hội của địa phương ( Dân cư, dân tộcc, tôn giáo, kinh tế, giáo dục, y tế )
- Các hoạt động tại sinh kế tạo sinh kế của người dân
- Kiến thức bản địa của người dân về biến đổi khí hậu
- Xác định những khó khăn của biến đổi bất thường của khí hậu trong vòng 5 năm gần đây tại địa phương (Rét, hạn hán, lũ lụt )
- Tìm ra những thuận lợi của địa phương nhằm xây dựng các mô hình
để ứng phó với biến đổi khí hậu
- Khả năng tạo sinh khối và cái tạo đất của mô hình xen canh chuối – gừng và cây củ đậu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.4.1.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Các thông tin từ cấp xã, huyện, tỉnh đến các lĩnh vực có liên quan đến
đề tài như :
Trang 32Báo cáo liên quan đến điều kiện TN – KT – XH
Báo cáo hậu quả thiên tai hàng năm,
Số liệu khí tượng thủy văn của địa bàn nghiên cứu theo thời gian (trạm khí tượng thuỷ văn, sở tài nguyên môi trường hoặc sở nông nghiệp nếu có) Các kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam, các tỉnh phía Bắc… Các chính sách phát triển nông nghiệp nói chung và ứng phó BĐKH của huyện, tỉnh
3.4.1.2 Thảo luận nhóm( Lập 5 nhóm từ 7 – 10 người là những người đại diện cho các dân tộc chính trong xã gồm
- Nhóm nam giới
- Nhóm nữ giới
- Nhóm nam dân tộc khó khăn nhất
- Nhóm nữ dân tộc khó khăn nhất
- Thu thập các nội dung chính :
+ Các HTTTCĐ và biến đổi của khí hậu thời tiết xẩy ra trong mấy năm gần đây;
+ Tác động của các HTTTCĐ đến qui mô và mức độ thiệt hại của sản xuất nông nghiệp
+ Tác động của các HTTTCĐ đến từng loại cây trồng và vật nuôi tại địa phương
+ Các hoạt động thích ứng của cộng đồng người dân địa phương để hạn chế tác động
+ Lựa chọn mô hình cây trồng thích ứng với một số HTTTCĐ chính ở địa phương (loại cây trồng, giống, kỹ thuật canh tác? Đặc tính thích nghi, đặc điểm văn hóa, hiệu quả kinh tế, khả năng nhân rộng, nhu cầu thị trường, đối tượng hưởng lợi vvv )
3.4.1.3 Phỏng vấn trực tiếp người dân bằng bảng hỏi số lượng 30 phiếu :
Nhằm tìm ra khả năng hiệu quả tạo sinh khối và cải tạo đất của mô hình Thành phần phỏng vấn gồm :
- Giàu, trung bình, nghèo
- Nhóm người các dân tộc sống trong địa bàn xã
Trang 33- Hoạt động sinh kế của người dân
Sinh kế: Năng lực, tài sản và các hoạt động cần thiết để duy trì mức sống và chất lượng sống, bao gồm thu nhập bằng tiền mặt và sản phẩm tự cung tự cấp
- Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế (sự mất cân bằng
về năng suất, cây nông nghiệp, chăn nuôi và lâm nghiệp)
3.4.2 Hoạt động sinh kế của người dân
- Nông nghiệp
- Chăn nuôi
- Lâm nghiệp
3.4.2.1 Phân tích hiệu quả kinh tế
- Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ sản phẩm sant xuất ra trong kỳ sử dụng đất ( một vụ )
- Chi phí trung gian (IC): là tòa bộ chi phí vật chất và dịch vụ sản xuất qui ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất( giống, phân bón, thuốc hóa học, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu)
- Giá trị gia tăng (VA): là giá trị sản phẩm vật chất mới tạo ra trong quá trình sản xuất, trong một năm hoặc trong một chu kỳ sản xuất, được xác định bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian
+ Giá trị một ngày công lao động của loại cây trồng
+ Hiệu quả đồng vốn đầu tư vào sản xuất
3.4.2.3 Phân tích hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường phân tích thông qua các chỉ tiêu sau:
+ Mức độ sử dụng phân hóa học của loại cây trồng so với quy trình + Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường
+ Mức độ sử dụng phân hữu cơ từ các phế thải nông nghiệp
Trang 343.5 Phương pháp tổng hợp xử lí số liệu
Các thông tin dữ liệu định lượng sẽ được mã hóa, lưu trữ và xử lí phân tích định lượng bằng phần mềm Excel
- Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý thống kê mô tả các đặc điểm của hộ,
cơ cấu cây trồng, vật nuôi của hộ, các tác động của biến đổi khí hậu, các hoạt động thích ứng mà hộ áp dụng
- Phương pháp phân tích định tính được sử dụng để phân tích thực trạng nhận thức của người dân trong thích ứng với biến đổi khí hậu
Trang 35PHẦN 4
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
-Phía Tây giáp xã Yên Mỹ của huyện Chợ Đồn
Xã Mai Lạp có diện tích 43,96 km², dân số khoảng 1.602 người, mật độ đạt 36 người/km² Mai Lạp có tuyến đường liên xã nối đến quốc lộ 3 ở xã Nông Hạ Xã Mai Lạp được chia thành các xóm bản: Khuổi Đác, Ruộc, Pá, Tổng Vụ, Khau Ràng, Khau Tổng, Nà Điếng, Bản Rả (ADC, 2012) [2]
Nằm cách trung tâm huyện Chợ Mới 35 km về phía Tây, xã Mai Lạp có tổng diện tích tự nhiên là 4,310.22 ha, trong đó đất Lâm nghiệp chiếm tới 3691.75 ha (chiếm 85,7% tổng diện tích tự nhiên) Diện tích đất nông nghiệp nhỏ và manh mún, chủ yếu nằm dọc theo ven suối và chân khe, chiếm 238,8
ha (chiếm 5,5% tổng diện tích tự nhiên), diện tích đất nông nghiệp trung bình của các hộ là 2,858m2, trong đó diện tích đất lúa một vụ 442m2, đất lúa 2 vụ
là 1,471m2, diện tích đất trồng màu trung bình của các hộ rất ít (945m2/hộ) Tuy diện tích đất Lâm nghiệp của xã rất lớn nhưng do thiếu sự quan tâm và đầu tư phát triển nên nguồn thu chủ yếu của nông hộ lại tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp (ADC, 2012) [2]
Trang 3685%
9%
Nông nghiệp Lâm nghiệp Đất khác
Hình 4.1: Cơ cấu sử dụng đất xã Mai Lạp năm 2012.[23]
Đất lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên của xã trong đó chủ yếu là đất đồi núi những diện tích đất này phần lớn được dân canh tác từ lâu đời chủ yếu trồng keo, mỡ.Ngô và sắn được trồng ở ven đồi là chủ yếu.Đất nông nghiệp được canh tác các loại cây trồng như lúa, ngô, khoai sắn, đậu đỗ các loại Về sản xuất Nông nghiệp mũi nhọn chủ yếu là thâm canh 2 vụ: lúa, hoa màu Mở rộng diện tích trồng cây hàng năm tích cực đưa các giống mới vào sản xuất Trong những năm tới đây tiềm năng đất chưa sử dụng đáp ứng tốt nhu cầu gia tăng diện tích đất nông lâm nghiệp của địa phương.Qua biểu đồ trên cho thấy: tiềm năng về lâm nghiệp của xã là rất lớn cho thấy được thế mạnh của địa phương là về lâm nghiệp nhân dân trong xã nên phát huy thế mạnh này để đưa kinh tế của xã đi lên
4.1.1.2 Khí hậu - thủy văn
* Khí hậu
Mang đặc điểm chung của khí hậu vùng cao phía Bắc, được chia thành
2 mùa rõ rệt: Mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10 với thời tiết nắng nóng, mưa nhiều, độ ẩm không khí cao Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với không khí lạnh, hanh khô và ít mưa Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1369 mm, nhiệt độ trung bình 22,8oC, độ ẩm trung bình từ 82-84%
Trang 37* Thủy văn
Trên địa bàn Mai Lập có nhiều con suối nhỏ như: khuổi Quoi, khuổi Đen, khuổi Dần, Khuổi Ky, Khuổi Kang, khuổi Chiêng, khuổi Tau, khuổi Nọt, khuổi Rao, khuổi Pau, Na My và khuổi Tang.Có hệ thống dẫn nước sạch
từ khe núi đến tận nhà cho từng hộ dân sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày Ngoài ra, giếng khoan và giếng đào là nguồn nước ngầm cung cấp cho sinh hoạt hàng ngày của người dân địa phương(ADC, 2012) [2]
4.1.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
* Thuận lợi
Xã Mai Lạp có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu đi lại và vận chuyển hàng hóa với các vùng có đường bê tông liên thôn, liên xã phục vụ nhu cầu không những của bà con trong xã mà còn của bà con các xã xum quanh
Đất đai đưa vào sử dụng hiệu quả chưa cao
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1 Dân số và nguồn lao động
Theo số liệu thống kê của xã cho tới ngày 1/4/2010, toàn xã Mai Lạp có
396 hộ gia đình với 1552 nhân khẩu Trên địa bàn điều tra có 5 dân tộc cùng sinh sống: Dao, Tày, Kinh, Nùng, H’Mông, trong đó chủ yếu là người dân tộc thiểu số với tỷ lệ 92.5% Trong những năm gần đây, do làm tốt công tác kế hoạch hóa gia đình nên tỉ lệ tăng dân số của xã đã giảm dần, số hộ gia đình sinh con thứ 3 cũng giảm đi đáng kể Nguồn lao động chủ yếu tập trung vào lĩnh vực Nông-Lâm nghiệp và một số ngành nghề khác Tuy nhiên, lực lượng lao động phần lớn là lao động phổ thông, chưa được đào tạo bài bản (ADC, 2012) [2]
4.1.2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Số hộ nghèo trên địa bàn xã Mai Lạp chiếm 56,3%, thu nhập bình quân hàng năm theo đầu người là 4,5 triệu đồng/ người, thu nhập bình quân hàng
Trang 38năm của hộ là 17,9 triệu đồng/ hộ Trong đó, nguồn thu từ Nông nghiệp chiếm tới 43,05% và chủ yếu là từ cây lương thực (lúa, ngô, khoai, sắn…) và một số cây hàng hóa (chuối, mận, cây ăn quả…) Thu nhập từ chăn nuôi chiếm 20,1% (chủ yếu là trâu, lợn, gia cầm) Thu nhập từ Lâm nghiệp là: 19,35% (chủ yếu là từ khai thác gỗ, củi và măng), còn lại là ngành nghề phụ chiếm 17,5% Mức thu nhập và tỷ lệ hộ nghèo của các thôn trong xã không đồng đều, thu nhập bình quân của các xã còn thấp, nguồn thu chủ yếu dựa và nông nghiệp Tuy diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn hai xã lớn nhưng do thiếu
sự quan tâm và đầu tư phát triển, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế… Do vậy thu nhập từ Lâm nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng hiện có tại địa phương (ADC, 2012) [2]
4.1.2.3 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội
* Thuận lợi
Trong những năm qua, xã Mai Lạp đã có nhiều cố gắng trong việc đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Các công trình về giao thông, thủy lợi, điện, đường, trường học, dịch vụ, văn hóa đã được tạo lập và phát triển khá toàn diện
Đời sống nhân dân được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần do có sự quan tâm đầu tủ cải tiến công cụ sản xuất và áp dụng những tiến bộ khoa học
kỹ thuật làm năng suất lao động tăng, các ngành nghề phát triển đa dạng và dần ổn định
* Khó khăn
Mai Lạp vẫn là một xã miền núi gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng nhiều nơi còn kém do thiếu nguồn kinh phí đầu tư Các ngành kinh tế, sản xuất, dịch vụ vẫn chưa phát triển, người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp nên đời sống còn rất bấp bênh
Do có nhiều dân tộc cùng chung sống nên trình độ dân trí nhiều nơi còn hạn chế, nhất là các dân tộc thiểu số Ít có điều kiện tiếp xúc với tiến bộ khoa học
kỹ thuật nên khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế
4.1.3 Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật
• Giao thông:
Trang 39Tuy là xã miền núi nghèo của huyện Chợ Mới song cơ sở hạ tầng của
xã Mai Lạp đã và đang được đầu tư phát triển và ngày càng hoàn thiện Tuyến đường Thanh Mai-Mai Lạp được hoàn thành, người dân được tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ thương mại, trao đổi hàng hóa và giao lưu thương mại.Cơ
sở hạ tầng phục vụ cho giáo dục của các xã đã được kiên cố hóa, đảm bảo chất lượng Công tác chăm sóc sức khỏe cho người dân trên địa bàn xã đã và đang được nâng cao Hiện nay các xã đã có mạng điện lưới quốc gia và gần 100% số hộ dân đã sử dụng lưới điện quốc gia để phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Các hoạt động văn hóa tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và nhiệm vụ chính trị của từng địa phương tới người dân
• Thủy lợi
Hệ thống mương thủy lợi, phai, đập phục vụ cho sản xuất trên địa bàn
xã đã được xây dựng, cải tạo và nâng cấp Tuy nhiên, địa hình của các xã không bằng phẳng và bị chia cắt mạnh do vậy phần lớn nước phục vụ cho sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nước khe, suối tự nhiên và nước ao hồ Do không chủ động được nguồn nước nên sản xuất nông nghiệp của địa phương gặp không ít khó khăn, diện tích đất sản xuất nông nghiệp chủ yếu sản xuất một vụ và hai vụ Vào mùa khô hầu như diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị
bỏ hoang do không có nguồn nước tưới
• Thông tin liên lạc
Hầu như tất cả các hộ trong xã vùng dự án đều tiếp cận với thông tin đại chúng qua truyền hình địa phương và trung ương nên người dân có thể tiếp cận được thông tin về kinh tế xã hội, văn hóa, thể thao và dự báo thời tiết qua các chương trình truyền hình Một số thôn khu vực trung tâm xã có thể tiếp cận thông tin địa phương (Cấp xã, huyện, tỉnh) qua các bản tin truyền thanh hàng ngày Xã có tổ truyền thông lưu động hỗ trợ công tác truyền thông khi có các sự kiện lớn Một số thôn bản có bản tin thông báo hàng ngày cho người dân khi có các thông tin liên quan đến sản xuất nông nghiệp Ngoài
ra tất cả các thôn của xã đều có phủ sóng 3 mạng điện thoại Mobiphone, Vinaphone và Viettel (ADC, 2012) [2]
Trang 404.1.4 Đặc điểm dân tộc, văn hóa xã Mai Lạp
Xã Mai Lạp là xã nằm trong những xã nghèo nhất của huyện Chợ Mới, cộng dồng dân cư tại đây đang đối mặt với nhiều khó khăn trong sản suất nông nghiệp và trong đời sống (tỷ lệ nghèo đói cao)
Tại xã Mai Lạp, các dân tộc (tày, kinh, nùng, dao, mông) sống đan xen trong các thôn bản, tập trung ở nơi đất bằng phẳng, ven suối, thuận tiện cho sản suất nông nghiệp Xã có hai thôn người Dao di cư từ Cao Bằng về những năm 1990, họ sống tập trung ở vùng đồi (định canh, định cư) chia làm hai thôn: Thôn Tổng Vụ và Thôn Khuổi Đác với số hộ tương ứng là 15 hộ, 31 hộ Các hộ này có hoặc không có đất sản suất nông nghiệp (thôn Tổng Vụ có 15
hộ, nhưng chỉ có 1,2 ha đất nông nghiệp)
Hiện tại thu nhập của người dân từ các nguồn chính như: trồng trọt (lúa, ngô, sắn, đậu đỗ), chăn nuôi (trâu, bò, lợn, gà), thuỷ sản (cá), lâm nghiệp (keo, mỡ, các lâm sản phụ như: măng các loại, dược liệu, nứa) Với thu nhập bình quân đầu người trung bình 4.5 triệu đồng/người/năm Các hoạt động mang lại thu nhập cho người dân đang chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết khí hậu: Cây lúa bị nhiều sâu bệnh hơn (sâu cuốn lá, rầy nâu, bọ xít…) làm cho phí sản suất lúa tăng lên, lượng mưa phân bố không đều trong năm ảnh hưởng đến năng suất lúa (trong giai đoạn trổ bông bị hạn cây lúa không trổ được bông, nếu có trổ được bông thì bông nhỏ), những diện tích trước đây làm lúa một vụ (vụ mùa) có nguy cơ không đủ nước để sản xuất dẫn đến bị bỏ hoang hoặc chuyển cây trồng khác, lượng mưa phân bố không đều còn ảnh hưởng đến thời vụ của cây trồng Chăn nuôi cũng chịu nhiều tác động của thời tiết khí hậu: rét đậm, rét hại làm chết trâu bò, các loại dich bệnh phát sinh nhiều (dịch lở mồn long móng, cúm gia cầm,…) làm ảnh hưởng đến kinh tế của các
hộ khi sản phẩm chăn nuôi không bán được hoặc phải bán với giá rẻ
Tỷ lệ nghèo đói của xã Mai Lạp là 48.4%, các hộ trong nhóm nghèo bao gồm cả hộ người Tầy, Kinh, Dao, Mông, Nùng Các hộ nghèo ở hai xã gồm các hộ thiếu đất sản suất nông nghiệp, có hoặc có ít đất rừng, thiếu lao động, hoặc nhà thường xuyên có người ốm đau, các gia đình mới tách hộ
Xã Mai Lạp là nơi sinh sống của 5 dân tộc anh em Tày, Dao Mông, Nùng, Kinh trong đó cộng đồng người Tầy, Dao là đông dân cư nhất Trình
độ học vấn của người dân còn thấp, số người không biết chữ vẫn còn tập