Với hình thức công ty cổ phần, người không thông thạo kinh doanh cũng yên tâm vì đồng vốn của họ đóng góp vào công ty vẫn đem lại thu nhập do đã được các nhà chuyên nghiệp sử dụng.. Mà c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-
QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM
HÀ NỘI 2010
Trang 2nợ của công ty trong phạm vi vốn của mình góp vào công ty
Luật công ty nước ta (bàn hành 21/12/1990) và được sửa đổi ngày 22/6/1994 quy định công ty cổ phần là công ty trong đó:
- Số thành viên gọi là cổ đông phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy
- Vốn điều lệ của công ty được nhiều phần bằng nhau gọi là
cổ phần Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Mỗi cổ đông
có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu
- Cổ phiếu được phát hành có thể có ghi tên hoặc không ghi tên Cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên hội đồng quản trị phải là cổ phiếu có ghi tên
- Cổ phiếu không ghi tên có thể tự do chuyển nhượng Cổ phiếu có ghi tên chỉ được chuyển nhượng nếu có sự đồng ý của hội
đồng quản trị
Trang 31.1.2.Ưu điểm của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường
* Công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh huy
động tập trung được nhanh số vốn quy mô lớn và hiệu quả cao
Bằng việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu, công ty cổ phần
có thể huy động thu thú được những khoản tiền nhỏ bé, tản mạn nhàn rỗi trong xã hội, tập trung lại thành những khoản vốn lớn đầu tư vào những ngành, lĩnh vực đòi hỏi lượng vốn lớn và dài hạn, mà mỗi cá nhân hoặc doanh nghiệp không có khả năng tích luỹ được
Đây là ưu điểm lớn nhất của công ty cổ phần, khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác bởi vì công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp duy nhất được phép phát hành cả cổ phiếu và trái phiếu để huy động vốn Thông qua việc mua cổ phiếu và trái phiếu, các nhà đầu tư sẽ được nhận các cổ tức cao Các cổ đông mua cổ phiếu còn được quyền tham dự đại hội cổ đông, có quyền biểu quyết các quyết định phương hướng hoạt động, quyết định việc phân chia lợi nhuận, bầu và bãi miễn các thành viên của Hội đồng quản trị và nếu điều kiện và khả năng cho phép có thể được đề cử vào ban lãnh đạo của công ty Cũng chính vì những lợi ích trên mà việc mua cổ phiếu hấp dẫn hơn gửi tiền vào quỹ tiết kiệm hoặc các ngân hàng
* Công ty cổ phần tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh
Vốn được tập trung từ nhiều người với khối lượng lớn không chỉ có điều kiện thuận lợi đầu tư vào những ngành đòi hỏi vốn lớn, những ngành công nghiệp sử dụng công nghệ cao mà còn thúc đẩy các doanh nghiệp phải ra sức hoàn thiện tổ chức quản lý cho phù
Trang 4hợp với sản xuất kinh doanh kiểu mới, tạo được uy tín thật sự, gây
được tin tưởng đối với người góp vốn
Xét về cơ cấu kinh tế, công ty cổ phần phát triển cũng sẽ làm biến đổi cơ cấu ấy trên cơ sở sử dụng đồng vốn, khai thác tiềm năng lao động đất nước mang lại hiệu quả kinh tế xã hội tốt nhất, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội năng động nhất
* Công ty cổ phần tạo ra một cơ chế phân tán rủi ro, nhằm hạn chế các tác động tiêu cực về kinh tế xã hội, doanh nghiệp lâm vào tình trạng đình đốn phá sản
Công ty cổ phần hoạt động theo chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn Theo chế độ này thì có sự phân biệt rõ ràng tài sản của công ty
và phần vốn của cổ đông Trách nhiệm tài chính của công ty giới hạn trong phạm vi tài sản của công ty và phần vốn của cổ đông theo
tỷ lệ đóng góp của mỗi người Điều đó đã hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại rủi ro, thua lỗ
Dưới hình thức công ty cổ phần, người có nhiều vốn muốn
đầu tư có thể mua cổ phiếu, trái phiếu ở nhiều công ty khác nhau,
do đó, sự rủi ro và mạo hiểm của đầu tư được phân tán vào nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nhiều công ty, làm giảm bớt được thiệt hại của người đầu tư góp vốn hơn là tập trung vào một công ty khi công
ty bị phá sản Cơ chế phân bố rủi ro này sẽ tạo điều kiện cho những người có vốn mạnh dạn đầu tư theo sự tính toán, cân nhắc lựa chọn vào nhiều công ty mà họ tín nhiệm, làm cho nền kinh tế phát triển
và có xu thế ổn định
* Công ty cổ phần thúc đẩy quá trình phân công chuyên môn hoá
Trang 5Với khả năng tập trung vốn tương đối lớn, các công ty cổ phần có thể tranh thủ khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, mạnh dạn đầu tư vào các ngành nghề mới, có triển vọng đạt lợi nhuận cao làm biến đổi cơ cấu nền kinh tế, từ đó tác động đến phân công lao
động xã hội Cơ cấu đội ngũ công nhân cũng biến đổi không chỉ tăng về số lượng mà còn trình độ lành nghề, các chức năng của đội ngũ cán bộ quản lý điều hành cũng chuyên sâu và đa dạng hơn Trong nội bộ công ty do phân định rõ ràng giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh nên tạo cho những người góp vốn tham gia quản
lý thật sự công ty và lựa chọn những giám đốc, những thành viên Hội đồng quản trị có tài năng và tích cực, đủ sức đảm nhiệm chức trách, bảo đảm được quyền lợi, lợi ích trách nhiệm của các chủ sở hữu Với hình thức công ty cổ phần, người không thông thạo kinh doanh cũng yên tâm vì đồng vốn của họ đóng góp vào công ty vẫn
đem lại thu nhập do đã được các nhà chuyên nghiệp sử dụng
Như vậy, qua nghiên cứu về công ty cổ phần trên đây ta có thể thấy công ty cổ phần có một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường Đó là mọi loại hình công ty có cấu trúc khá phức tạp - một kết cấu kinh tế tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng
để chuyên môn hoá kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất Đồng thời công ty cổ phần giải quyết được một cách hợp lý vấn đề lợi ích tạo động lực kinh doanh có hiệu quả của các nhóm thành viên trong công ty: cổ đông, Hội đồng quản trị và người quản lý (Ban giám
đốc) Có thể nói công ty cổ phần là kiểu tổ chức kinh doanh tiến bộ văn minh nhất, ưu việt nhất của xã hội nhân loại so với các kiểu công ty khác Và đây là loại hình công ty không thể thiếu đối với các nước có nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, từ khi chuyển sang cơ chế thị trường đã hình thành một mạng lưới các công ty cổ phần
Trang 6Tuy số lượng chưa phải là nhiều song loại hình doanh nghiệp này đã
tỏ rõ tính hiệu quả của nó Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển mạnh hệ thống công ty cổ phần mà một trong các cách để thực hiện việc đó là cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
đúng với một số doanh nghiệp nhà nước nhất định Khi mà các doanh nghiệp ấy xét thấy quốc doanh làm không hiệu quả có thể cho tư nhân mua lại và như vậy là tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước
Nhưng ý kiến đó không đúng ở nhiều điểm:
• Lẫn lộn khái niệm cổ phần hoá với tư nhân hoá Tư nhân hoá
là biến một tài sản vốn thuộc sở hữu công thành sở hữu tư, có thể diễn ra cả đối với doanh nghiệp nhà nước và tập thể Còn cổ phần hoá là đa sở hữu hoá tài sản, tức là chấp nhận nhiều người cùng sở hữu tài sản - sở hữu hỗn hợp
• Phương pháp tư nhân hoá là bán tài sản doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân hoặc thậm chí cho không tư nhân tài sản đó Còn phương pháp cổ phần hoá là huy động nhiều chủ thể đầu tư thuộc
Trang 7các thành phần khác nhau và cũng có thể là các chủ thể trong một thành phần kinh tế cùng góp vốn để chuyển từ một chủ sở hữu sang
đa sở hữu Khi đánh giá phần giá trị tài sản để cổ phần hoá có thể nhà nước cũng góp cổ phần vào doanh nghiệp vốn của mình đã cổ phần hoá
• Hình thức cổ phần hoá rất đa dạng:
- Bán cho các tư nhân khác nhau cùng góp cổ phần thành một công ty cổ phần Hình thức này đồng dạng với tư nhân hơn nhưng lại khác là đa số hơn
- Tất cả các thành phần kinh tế cùng góp cổ phần để mua doanh nghiệp nhà nước (kể cả quốc doanh) để chuyển sang công ty
cổ phần Hình thức này vừa đa sở hữu vừa đa thành phần, nói đúng hơn là đa sở hữu đa thành phần Trong hình thức này tuỳ thuộc vào phần trăm cổ phần trong doanh nghiệp để xác định vai trò của người chủ sở hữu chủ yếu
- Chỉ có nhà nước và tư nhân cùng góp vốn cổ phần để mua lại
- Tập thể và tư nhân cùng góp cổ phần để mua lại
- Các doanh nghiệp khác cùng nhauu góp cổ phần để mua lại, nhà nước cũng có thể tham gia một phần
- Các doanh nghiệp khác nhau cùng góp cổ phần để mua lại
- Công nhân vốn của doanh nghiệp ấy đứng ra góp vốn để mua lại doanh nghiệp để cổ phần hoá, hoặc Nhà nước cho cán bộ công nhân viên doanh nghiệp ấy và chia cổ phần cho công nhân
- Nhà nước cùng các công ty nước ngoài cùng góp vốn để cổ phần hoá
Trang 8- Bán hẳn cho các công ty nước ngoài góp vốn mụa để thành công ty cổ phần
Như vậy, không thể quan niệm cổ phần hoá thực chất là tư nhânhoá Mà cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nên được hiểu là quá trình chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần với hai nội dung là chuyển toàn bộ hay một phần vốn và tài sản thuộc
sở hữu Nhà nước và các lĩnh vực lâu nay nhà nước độc quyền cho các cổ đông
1.3 Những nguyên nhân dẫn đến phải tiến hành cổ phần hoá
- Tình trạng hoạt động thiếu hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước Đây là nguyên nhân quan trọng khiến hầu hết các chính phủ đi đến quyết định cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước Do
đâu mà có tình trạng này? Một điều dễ nhận thấy là ngay cả những
điều kiện thuận lợi thì hiệu quả của các xí nghiệp quốc doanh cũng chỉ đạt mức thấp hơn nhiều so với mức trung bình của khu vực tư nhân Những doanh nghiệp nhà nước thường có vị thế độc quyền,
được nhà nước bảo hộ và không có sự cạnh tranh với hàng nhập khẩu, mặc dù về quản lý đã được điều hành không có hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước trong bản thân sở hữu nhà nước với sự
điều tiết trực tiếp của nhà nước ở các doanh nghiệp này Đó là: + Hệ thống kế hoạch và tài chính cứng nhắc không có tính chất thích ứng với cơ chế thị trường vì được quản lý theo hệ thống chính sách từ trên xuống với nhiều cấp trung gian Nguồn tài chính được
sử dụng hoàn toàn theo kế hoạch được duyệt từ đầu năm, không có
sự chuyển đổi linh hoạt nhằm sử dụng hợp lý nguồn vốn và cũng không được chuyển sang cho năm sau Điều này làm cho các kế
Trang 9hoạch tài chính của doanh nghiệp không có động cơ tiết kiệm vì vậy không hợp lý hoá được sản xuất và giá thành luôn luôn phải cộng nhiều chi phí so với các doanh nghiệp tư nhân
+ Tính tự chủ trong quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước bị hạn chế vì nhiều qui chế liên quan đến quyền sở hữu của nhà nước, do đó gây ra những yếu tố làm cản trở đến hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp Chẳng hạn, việc bổ nhiệm lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước được quyết
định từ cơ quan cấp trên, nên sẽ xuất hiện xu hướng là các nhà quản
lý cao cấp cố gắng thiết lập các mối quan hệ thân thiện với cấp trên hoặc các nhà hoạt động chính trị và tranh thủ tìm những doanh nghiệp ở những vị trí béo bở hơn là tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp hoặc là vì nhà nước là chủ sở hữu các doanh nghiệp nên các quyết định kinh doanh về đầu tư, giá cả thị trường cung ứng và tiêu thụ của doanh nghiệp lại do hệ thống phức tạp của chủ thể cấp trên điều tiết vừa thiếu thống nhất vưà không rõ ràng về trách nhiệm với các quyết định của mình, gây trở ngại tới hiệu quả công việc của các doanh nghiệp nhà nước
+ Tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước trên thị trường được pháp luật của nhà nước củng cố đã đánh mất những
động lực nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này,
đưa đến tình trạng xã hội buộc phải chấp nhận tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ cho chúng sản xuất ra với chất lượng ít được cải tiến nhưng giá cả ngày càng tăng không hợp lý và nếu không tăng giá thì nhà nước phải chịu những gánh nặng trợ cấp ngày càng lớn
+ Các doanh nghiệp nhà nước được thành lập nhờ nguồn vốn của nhà nước, không được phép phá sản và được che chắn từ các
Trang 10khoản trợ cấp từ ngân sách hoặc được sử dụng các nguồn vốn nội bộ với lãi suất thấp hoặc được ưu tiên tiếp cận với các nguồn tài chính nước ngoài Vì vậy các doanh nghiệp nhà nước không có các yếu tố kích thích phải nâng cao hiệu quả để tồn taị trong cạnh tranh đối với các doanh nghiệp tư nhân
+ Động cơ hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước chỉ nhằm củng cố tránh né sự thẩm xét của các cơ quan cấp trên trước những sản phẩm và dịch vụ đối với người tiêu dùng cũng như tránh né sự xung đột trong nội bộ, tránh né những sự cải tổ đổi mới tổ chức quản lý để nâng cao hiệu quả, đảm bảo cho xí nghiệp có điều kiện hoạt động dễ chịu và ổn định Do đó, mua sắm trang thiết bị ngày càng dư thừa, biên chế ngày càng phình to dẫn đến chi phí quá mức
so với nguồn thu Đó là chưa kể đến “chi phí chính trị” to lớn để trốn tránh những cuộc kiểm tra của các cơ quan cấp trên như quốc hội hoặc bộ chủ quản Tình trạng này đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến việc tiết kiệm các nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp
Trang 11Cũng giống các nước theo nền kinh tế xã hội chủ nghĩa khác Việt Nam đã vận dụng học thuyết Mác - Lênin để thực hiện chế độ
Thứ nhất, xây dựng bằng nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ hoặc đi vay (của Liên xô cũ, Trung Quốc và các nước XHCN khác trong thời kỳ đó)
Thứ hai, quốc hữu hoá xí nghiệp của các nhà tư sản mại bản, tư sản dân tộc đã bỏ ra nước ngoài hoặc xí nghiệp nhà nước của chế độ
cũ Hình thức này được áp dụng rộng rãi trong những năm 50, 60
được tiếp tục trong những năm 70 và đỉnh cao vào năm 1975, 1976 Thứ ba, biến các xí nghiệp tư nhân của các nhà tư sản dân tộc thành các xí nghiệp công tư hợp doanh và sau đó thành các xí nghiệp quốc doanh
Trang 12công hữu về tư liệu sản xuất, coi chế độ công hữu là nền tảng kinh
tế để xoá bỏ sự phân hoá giàu nghèo, bất công xã hội do nền kinh tế thị trường và chế độ tư hữu gây ra, để xây dựng một chế độ công hữu do nhân dân lao động làm chủ Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nước ta đã nhấn mạnh vào nhiệm vụ và vai trò của kinh
tế nhà nước, coi đó là hiện thân của chế độ công hữu có sức mạnh toàn năng trong việc tổ chức mọi hoạt động kinh tế của xã hội đồng thời phủ nhận vai trò của thị trường, của kinh tế tư nhân
Vì vậy nền kinh tế quốc dân ở nước ta không phải là một nền sản xuất hàng hoá mà là một nền kinh tế hiện vật và xã hội hoá
được quản lý theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp: Nhà nước XHCN vừa tập trung quyền lực chính trị vừa là chủ sở hữu duy nhất và thống nhất đối với tuyệt đại đa số các tư liệu sản xuất của xã hội Và nhà nước vừa là người chỉ huy, vừa là người tổ chức thực hiện sản xuất kinh doanh
ở nước ta, trong thời gian dài trước đại hội Đảng lần thứ VI (12
- 1986) doanh nghiệp nhà nước đã hình thành và phát triển với một cơ cấu tương đối hoàn chỉnh, ở tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân như hàng không, hàng hải, bưu điện, đường sắt, nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh cá đến các dịch vụ đơn giản Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và nắm 100% các ngành then chốt như điện, khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy công cụ, hoá chất, nhiên liệu, xi măng, bưu điện viễn thông, giao thông đường sắt, đường thủy, ngoại thương, ngân hàng, quốc phòng và an ninh Trong công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, lực lượng doanh nghiệp nhà nước cũng chiếm
tỉ trọng tuyệt đối lớn hoặc phần lớn đối với các sản phẩm chủ yếu
Trang 13như: 100% hàng dệt kim, thuốc chữa bệnh, bia, 90% quạt điện, 85% giấy viết, 85% vải mặc, 70% xe đạp hoàn chỉnh
Các doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 85% vốn cố định của nền kinh tế, 90% lao động có kỹ thuật, cán bộ khoa học và quản
lý được đào tạo của cả nước Nhà nước cũng ưu tiên dành nhiều nguồn lực để phát triển các doanh nghiệp nhà nước Chỉ tính riêng trong khoảng mười năm, từ 1976 đến 1985, nhà nước đã phân bố từ
60 - 70% vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế và trên 90% vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các doanh nghiệp nhà nước
Hàng năm các doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 30 - 40% tổng sản phẩm xã hội và 28 - 30% thu nhập quốc dân Phần thu của doanh nghiệp nhà nước từ doanh nghiệp nhà nước thông qua doanh nghiệp nhà nước là phần thu lớn nhất, dao động hàng năm trong khoảng 60 - 70%
Do chúng ta duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp trong khu vực doanh nghiệp nhà nước nên khu vực kinh
tế này đã bộc lộ những yếu kém nghiêm trọng Đó là:
- Năng suất, chất lượng và hiệu quả rất thấp Toàn bộ khu vực doanh nghiệp nhà nước không vượt qua ngưỡng cửa tái sản xuấta giản đơn Tính chung trong vòng mười năm 1976 - 1985 tỉ lệ chi của nhà nước và thu của doanh nghiệp nhà nước là 3:1
- Doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo cơ chế thực thanh - thực chi, giao đủ nộp đủ Nhà nước bao cấp và quyết định giá đầu vào, đầu ra, nên doanh nghiệp không phải tính toán hiệu quả kinh doanh Hoạt động thua lỗ có nhà nước gánh chịu
Trang 14- Sự phân phối thu nhập trong doanh nghiệp theo cách bình quân đã làm suy yếu động lực kích thích lao động, làm việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả
- Bộ máy doanh nghiệp cồng kềnh, nhiều cấp trung gian với chức năng chồng chéo Các cơ quan quản lý thường can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh ngày ngày của doanh nghiệp
2.1.2 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay
Trong một thời kỳ dài chúng ta đã mắc sai lầm quá sùng bái kinh tế quốc doanh, đã thành lập tràn lan các doanh nghiệp nhà nước Trong cơ chế cũ các doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ các yếu kém như đã trình bày ở phần trên
Chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, hệ thống kinh tế quốc doanh vẫn được xác định vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân cần phải củng cố và phát triển nhất là trong ngành và lĩnh vực then chốt, quan trọng, có tác dụng mở đường và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển
Doanh nghiệp nhà nước có vai trò chủ đạo theo nghĩa là công
cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế Vai trò chủ đạo của nó gắn liền với vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường Đây là yêu cầu có tính quy luật chung của sự phát triển kinh tế xã hội, vì bản thân nền kinh tế thị trường chứa đựng những khuyết tật mà muốn khắc phục nhất thiết phải có sự quản lý của nhà nước
Các doanh nghiệp nhà nước bao gồm các các doanh nghiệp hoạt động hoạt động kinh doanh và các doanh nghiệp hoạt động
Trang 15công ích được củng cố và phát triển trong các ngành và lĩnh vực then chốt, tạo cơ sở hạ tầng và tiền đề tốt cho sự phát triển của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Thông qua doanh nghiệp nhà nước, nhà nước tạo ra nguồn dự trữ đủ mạnh để có thể can thiệp vào thị trường, thực hiện điều chỉnh các cân đối cơ bản của nền kinh tế Doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư có định hướng để khắc phục bản chất “vô chính phủ” của nền kinh tế thị trường, duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống xu hướng độc quyền của tập
đoàn tư nhân, đi đầu trong đổi mới công nghệ thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu hướng năng suất - chất lượng - hiệu quả
Như vậy, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước xuất phát
từ yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường nước ta và được ghi thành chủ trương, chính sách và pháp luật của nhà nước Vai trò luật định này là yếu tố quan trọng chi phối sự điều chỉnh pháp lý đối với tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Để thực hiện
được vai trò đó trước hết phải kiên quyết đổi mới hệ thống doanh nghiệp này Việc đổi mới phải được đặt trong sự phát triển tổng thể nền kinh tế quốc dân và phải xuất xứ từ thực trạng doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
2.1.3 Thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ta hiện nay
Trong cơ chế cũ, ở nước ta doanh nghiệp nhà nước tồn tại với một số lượng khổng lồ Theo số liệu của tổng cục thống kê, tính đến ngày 1 - 9 - 1990 cả nước có 12.084 doanh nghiệp trong tất cả các ngành các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân và do nhiều cấp quản
lý Sau khi thực hiện việc tổ chức sắp xếp lại theo quyết định 315/HĐBT ngày 1 - 9 - 1990 và thành lập lại các doanh nghiệp nhà
Trang 16nước theo nghị định 388/ HĐBT và ngày 20 - 11 - 1991 và sau hàng loạt cải cách, đến nay doanh nghiệp nhà nước vẫn còn khoảng 5800 doanh nghiệp (theo số liệu của vụ đăng ký kinh doanh - Bộ kế hoạch đầu tư) Trong đó có khoảng 30% là doanh nghiệp nhà nước
do các bộ ngành trung ương quản lý và khoảng 70% doanh nghiệp
do uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý
Đến năm 1995, số lượng các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm
tỷ trọng lớn so với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh: trong lĩnh vực công nghiệp là 78,8%; Xây dựng cơ bản: 49%; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm: 99,6%, giao thông vận tải, bưu điện: 54%; thương nghiệp, vật tư: 46,5%
Sau 5 năm đổi mới và điều hành, số lượng các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta giảm gần song như vậy vẫn còn quá nhiều Các doanh nghiệp nhà nước hiện nay vẫn còn tồn tại ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực, điều đó là không cần thiết Hơn nữa với số lượng doanh nghiệp nhà nước nhiều như vậy làm vượt quá khả năng nguồn lực về vốn và cán bộ quản lý của nước ta hiện có
Hệ thống doanh nghiệp nhà nước phân bố còn nhiều bất hợp lý Các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh Nhiều vùng của đất nước có nguồn tài nguyên phong phú, lao động dồi dào ở miền núi phía Bắc hầu như không có doanh nghiệp nhà nước Sự phân tán của các doanh nghiệp nhà nước ở các ngành các lĩnh vực dẫn đến các tình trạng trên cùng một địa bàn lãnh thổ doanh nghiệp nhà nước của Trung ương, địa phương hoạt động chồng chéo, cạnh tranh lẫn nhau một cách vô tổ chức, gây khó khăn cho nhau trong việc sản xuất kinh doanh
Trang 17Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước ta có quy mô nhỏ và hoạt động kém hiệu quả
Theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính, tổng số vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước là 70.184 tỷ đồng, bình quân một doanh nghiệp là 11,6 tỷ đồng tương đương với vốn một doanh nghiệp loại nhỏ ở các nước như Thái Lan, Inđônêxia, Malaysia
Đến nay vẫn còn 46,1% doanh nghiệp nhà nước có số lao động dưới 100 người và gần 50% doanh nghiệp nhà nước có mức vốn dưới 1 tỷ đồng, trong đó gần một nửa số vốn dưới 500 triệu đồng Các doanh nghiệp có số vốn lớn từ 100 tỷ trở lên chỉ chiếm 1,5% tổng số doanh nghiệp Số doanh nghiệp có từ 1000 lao động trở lên chỉ chiếm 4% trong tổng số doanh nghiệp
Vốn thực tế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chỉ bằng 80% vốn hiện có do kinh doanh thua lỗ, công nợ khó đòi, tài sản mất mát, kém phẩm chất chưa được xử lý Riêng vốn lưu động có 14.239 tỷ đồng và chỉ có 50% được huy động vào kinh doanh, 50% còn lại nằm ở lỗ, công nợ khó đòi
Các doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay, do quy mô nhỏ, vốn ít không có khả năng đầu tư trang thiết bị hiện đại, mở rộng sản xuất kinh doanh nên yếu sức cạnh tranh trên thị trường
Trình độ kỹ thuật, công nghệ cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của hệ thống doanh nghiệp nhà nước Trừ một số rất
ít (18%) doanh nghiệp nhà nước mới được đầu tư (sau năm 1986) còn chủ yếu được thành lập từ lâu có trình độ kỹ thuật thấp, công nghệ lạc hậu Giá trị còn lại của tài sản cố định trong doanh nghiệp nhà nước là 61,4% so với nguyên giá
Trang 18Theo đánh giá của Bộ khoa học và công nghệ và môi trường: máy móc thiết bị của doanh nghiệp nhà nước lạc hậu với thế giới từ
10 - 20 năm Theo điều tra của Tổng cục thống kê: thiết bị của doanh nghiệp nhà nước lạc hậu từ 2 - 3 thế hệ Các doanh nghiệp
TW có tới 54,3% trình độ thủ công, 41% trình độ cơ khí và 3,7% trình độ tự động Doanh nghiệp địa phương còn lạc hậu hơn; chỉ có 2% trình độ tự động, 24% trình độ cơ khí và 74% trình độ thủ công Nhiều thiết bị trong các doanh nghiệp nhà nước sau 14 - 15 năm mới được thay đổi, thậm chí trong một số ngành vẫn sử dụng thiết bị từ năm 1938 - 1940 trong khi đó thời gian đổi mới thiết bị ở các nước khác trung bình là 5 năm Các báo cáo về tình hình hoạt
động của doanh nghiệp nhà nước cho thấy chỉ có khoảng 15% sản phẩm công nghiệp của ta đạt tiêu chuẩn xuất khẩu: 65% số sản phẩm đạt mức dưới trung bình để tiêu dùng nội địa, 20% số sản phẩm kém chất lượng Hiện tượng hàng hoá ứ đọng với khối lượng lớn và chiếm hơn 10% số vốn lưu động của toàn xã hội Chính do công nghệ lạc hậu nên năng suất, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp nhà nước kém Theo kết quả điều tra xét về mặt hiện vật, năng suất lao động của ta về chế biến dầu thực vật chỉ bằng 10% mức thế giới, về sản xuất các sản phẩm dệt, giấy, may chỉ bằng 30%
đến 40% mức của thế giới, về thi công cầu đường chỉ bằng 1/20 mức của Pháp
Hiện nay, việc quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước chưa hợp lý Một mặt các cơ quan chủ quản vẫn can thiệp khá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác trong nhiều lĩnh vực hoạt động đặc biệt là quản lý tài chính lại bị buông lỏng Điều này hạn chế quyền tự chủ trong sản xuất kinh
Trang 19doanh của doanh nghiệp đồng thời làm cho Nhà nước mất vai trò thực sự là người chủ sở hữu và tạo cơ hội cho nhiều cá nhân lạm dụng, chiếm đoạt tài sản công để làm giàu cá nhân, hoặc làm ăn phi pháp Trong một số doanh nghiệp nhà nước, đội ngũ cán bộ chủ chốt có trình độ chuyên môn và tổ chức quản lý chưa đủ tiêu chuẩn vì không đủ sức giải quyết các vấn đề phát sinh trong sản xuất kinh doanh Nhiều giám đốc, kế toán trưởng đã phải vào tù vì tham ô tài sản của Nhà nước, vi phạm chế độ quản lý tài chính
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước còn thấp Mấy năm gần đây, sản xuất trong các doanh nghiệp nhà nước bắt đầu được phục hồi và phát triển, nhưng nhìn chung hiệu quả vẫn còn thấp, thấp nhất là ở các ngành sản xuất vật chất Trong các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động chỉ có 11,28% doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận từ 15%/năm trở lên trong ngành sản xuất vật chất và 4,3% doanh nghiệp nhà nước có tỷ suất lợi nhuận từ 20%/năm trong các ngành dịch vụ
Tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu vực kinh tế nhà nước cao gấp 2 lần so với kinh tế tư nhân Hệ số sinh lời của khu vực doanh nghiệp nhà nước rất thấp Hệ số sinh lời của vốn lưu động tính chung chỉ đạt 7%/năm trong đó ngành giao thông vận tải 2%/năm, ngành công nghiệp khoảng 3%/năm, ngành thương nghiệp đạta 22%/năm
Các doanh nghiệp nhà nước hoạt động thu lỗ chiếm tỷ trọng lớn Cụ thể ở thời điểm 1997 chỉ có 76% hoạt động có lãi ở mức thấp, 22% doanh nghiệp bị thua lỗ, bình quân mỗi doanh nghiệp lỗ 0,6 tỷ đồng/năm, 2% doanh nghiệp hoạt động không thua lỗ, nhưng không có lãi Các số liệu đó cho thấy việc làm ăn thua lỗ của các
Trang 20doanh nghiệp nhà nước đã gây ra tổn thất lớn cho ngân sách nhà nước và là một trong những nguyên nhân đưa đến việc bội chi ngân sách
Từ năm 1989 đến nay, nền kinh tế đã thực sự bước sang hoạt
động theo cơ chế thị trường Các chính sách kinh tế, tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước đã được thay đổi theo hướng tự do hoá giá cả, chi phí ngân sách nhà nước cho bù lỗ, bù giá, bổ sung vốn lưu động cho khu vực này đã giảm đáng kể Nhưng tư tưởng bao cấp trong đầu tư vẫn còn nặng nề Hàng năm 85% vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi được dành cho doanh nghiệp nhà nước vay Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước không bảo toàn được nguồn vốn nhà nước
đầu tư Theo báo cáo của Tổng cục thống kê, nhìn chung các doanh nghiệp nhà nước mới chỉ bảo toàn được vốn lưu động, còn vốn cố
định thì mới bảo toàn ở mức 50% so với chỉ số lạm phát Hai ngành chiếm giữ vốn lớn nhất là công nghiệp và thương nghiệp (72,52%) lại là ngành có tỷ lệ thất thoát vốn lớn nhất (16,41% và 14,95%) Vấn đề nợ nần vòng vo mất khả năng thanh toán còn diễn ra khá nghiêm trọng do tình trạng quản lý của nhà nước về tài chính còn lỏng lẻo, từ đó nạn tham nhũng lãng phí diễn ra mức báo động
Từ sự phân tích trên ta có thể rút ra kết luận về thực trạng của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay
- Số lượng các doanh nghiệp quá nhiều và bố trí không hợp lý
- Quy mô của doanh nghiệp nhà nước còn nhỏ bé
- Kỹ thuật và công nghệ ở các doanh nghiệp nhà nước còn lạc hậu
Trang 21- Việc quản lý đối với hệ thống doanh nghiệp nhà nước còn yếu kém
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước còn thấp
Từ bản chất cũng như thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, chúng ta có thể thấy một vấn đề lớn trong cơ chế quản lý hiện nay làm cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động chưa có hiệu quả là:
Cơ chế thực hiện quyền sở hữu toàn dân trong các doanh nghiệp nhà nước là chưa rõ ràng Người đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước chưa được xác định cụ thể do đó dẫn đến tình trạng vô chủ hoặc quá nhiều chủ trong các doanh nghiệp Nhà nước Do không có sự phân biệt đầy đủ quyền sở hữu Nhà nước và quyền quản lý kinh doanh của giám đốc và tập thể người lao động trong doanh nghiệp nên tài sản của doanh nghiệp Nhà nước không
được sử dụng có hiệu quả Người lao động chưa thực sự gắn bó, làm việc hết sức vì doanh nghiệp Một số nhà quản lý doanh nghiệp đã lợi dụng chức quyền bòn rút tài sản của Nhà nước làm giàu cho cá nhân
2.2 Chủ trương của nhà nước ta về quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước
Xuất phát từ tình trạng hoạt động yếu kém của hệ thống doanh nghiệp Nhà nước và những đòi hỏi cấp bách phải có một giải pháp thích hợp cho khu doanh nghiệp Nhà nước Đây là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực cải cách doanh nghiệp Nhà nước
Trang 22Giải pháp chuyển xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần lần đầu được đề cập trong Quyết định số 143 - HĐBT ngày 10 - 5 -
1990 của Hội đồng bộ trưởng về việc tổng kết thực hiện Quyết định
217 - HĐBT ngày 14 - 11 - 1987, các nghị định 50 - HĐBT ngày 22
- 3 - 1988 về làm thử việc tiếp tục đổi mới quản lý xí nghiệp quốc doanh Văn bản này đề cập việc nghiên cứu và làm thử về mô hhình chuyển xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần Việc chuyển
xí nghiệp quốc doanh thành công ty cổ phần trong giai đoạn này là hết sức mới mẻ ở nước ta vì lúc đó luật công ty chưa được ban hành Quyết định 143 - HĐBT ngày 5 - 10 - 1990 chỉ quy định một vài vấn đề liên quan đến cổ phần hoá hoá doanh nghiệp nhà nước như: mục đích của việc làm thử, điều kiện các xí nghiệp quốc doanh
được chọn để tổ chức thành công ty cổ phần Có thể nói chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về cổ phần hoá các doanh nghiệp đã có từ rất sớm, chỉ sau vài năm khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường
Nó chứng tỏ sự nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường, đánh giá đúng thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp quốc doanh và chọn
đúng hướng đi đúng trong việc cải cách các doanh nghiệp này Chủ trương đó còn được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2
- Ban hành Trung ương khoá VII (11/1991):”Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành một
số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp
Ngày 8 - 6- 1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ban hành quyết định 202/CT về việc tiếp tục làm thí điểm chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ
Trang 23phần áp dụng tại các doanh nghiệp được chọn làm thí điểm Quyết
định và đề án này sẽ quy định tương đối rõ vè mục tiêu, đối tượng, cách thức tiến hành cổ phần hoá cũng như cách thức xác định giá trị doanh nghiệp, quyền lợi của người lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá Cũng trong ngày 8 - 6 - 1992, Chủ tịch HĐBT đã ban hành quyết định 203/CT kèm theo danh sách của 7 doanh nghiệp nhà nước được chọn để Chính phủ chỉ đạo thực hiện thí điểm cổ phần hoá Theo điều 2 QĐ 202/CT, Chủ tịch HĐBT uỷ quyền cho
Bộ trưởng Tài chính xem xét và ra quyết định về danh sách các doanh nghiệp nhà nước được phép làm thí điểm cổ phần hoá do các
bộ và uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đề nghị Tuy nhiên, quyết định 202/CT và chỉ thị 84/TTg của Thủ tướng chính phủ chưa có những quy định hợp lý về quyền lợi của người lao động và doanh nghiệp được tiến hành cổ phần hoá cũng như chưa có quy định rõ ràng chặt chẽ về quy trình thực hiện Để khẳng định quyết tâm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, các văn kiện của Đảng ban hành trong các năm 1994, 1995, 1996, 1997 đều
đề cập đến vấn đề này Cụ thể: Nghị quyết hội nghị toàn quốc ban chấp hành TW khoá II, Nghị quyết số 10 NQ/TW của Bộ chính trị
đều khẳng định tầm quan trọng của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 7/1996) khẳng định: “Tổng kết kinh nghiệm, hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý để triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo thêm động lực mới trong quản
lý, huy động vốn thêm cho yêu cầu phát triển và điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp nhà nước Trong quá trình cổ phần hoá, tiền thu được
do bán cổ phần của doanh nghiệp phải đầu tư lại để mở rộng sản xuất kinh doanh”
Trang 24Các văn kiện của đảng nêu trên đã thể hiện quyết tâm đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước với quy mô và trên lĩnh vực rộng lớn hơn Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết đó, ngày 7/5/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định 28/CP về việc chuyển một số doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần Có thể nó Nghị định 28/CP là một mốc quan trọng đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn thí điểm sang giai đoạn thực sự triển khai chưong trình cổ phần hoá Và mới đây chính phủ đã ban hành Nghị định 44/CP ngày 29/6/1998 về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần thay thế cho Nghị định 28/CP, trong đó các vấn đề như mục tiêu cổ phần hoá, điều kiện để lựa chọn doanh nghiệp cổ phần hoá, nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp, hình thức cổ phần hoá, việc tổ chức thực hiện đã quy định rõ ràng và cụ thể hơn Nghị định 28/CP trước đó
2.3 Quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước và kết quả bước đầu
Quá trình cổ phần hoá ở nước ta về cơ bản có thể chia làm hai giai đoạn:
2.3.1 Thời kỳ thí điểm cổ phần hoá (6/1992 đến hết năm 1996)
Thực hiện Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc tiếp tục thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, các Bộ, ngành đã hướng dẫn doanh nghiệp nhà nước đăng ký thực hiện thí điểm chuyển sang công ty cổ phần Trên cơ sở số lượng doanh nghiệp nhà nước đã đăng ký, Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ) đã chọn 7 doanh nghiệp nhà
Trang 25nước do Chính phủ chỉ đạo thí điểm chuyển thành công ty cổ phần,
đó là:
1 Nhà máy xà phòng Việt Nam (Bộ công nghiệp)
2 Nhà máy diêm Thống nhất (Bộ công nghiệp)
3 Xí nghiệp nguyên vật liệu chế biến thức ăn gia súc Hà Nội (Bộ Nông nghiệp)
4 Xí nghiệp chế biến gỗ lạng Long bình (Bộ nông nghiệp),
5 Công ty vật tư tổng hợp Hải Hưng (Bộ Thương mại)
6 Xí nghiệp sản xuất bao bì (thành phố Hà Nội)
7 Xí nghiệp dệt da may Lagamex (thành phố Hồ Chí Minh) Sau một thời gian làm thử, 7 doanh nghiệp nhà nước được Chính phủ chọn làm thí điểm đều xin rút lui, hoặc không đủ điều kiện để tiến hành cổ phần hoá như Legamex, nhà máy xà phòng Việt Nam
Hơn 30 doanh nghiệp đã đăng ký với Bộ tài chính để thí điểm thực hiện cổ phần hoá và 3 doanh nghiệp nhà nước xin chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn theo chỉ thị 84/TTg Có 5 doanh nghiệp nhà nước được phép chuyển sang công ty cổ phần, đó là:
1 Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển (thuộc Bộ giao thông)
2 Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (TP Hồ Chí Minh)
3 Công ty cổ phần giầy Hiệp An ( Bộ Công nghiệp)
4 Công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An (tỉnh Long An)
5 Công ty cổ phần chế biến thức ăn gia súc (Bộ công nghiệp)