1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những thay đổi cần thiết của quá trình dạy và học ở việt nam dựa trên nghiên cứu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA)

111 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 5,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể hơn, với nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu về kỳ thi PISA trong mối tương quan với giáo dục phổ thông ở Việt Nam trên ba phương diện chính: độ khó của bài thi PiSA đối

Trang 1

M ẪU 14/K H C N

(Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /QĐ-ĐHQGHN ngày’ 24 thảngio năm 2014

của Giảm đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)

ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI

BÁO CÁO TÔNG KỂT

KÉT QUẢ THựC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN

CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Tên đề tài: N h ữ n g th a y đổi cần th iết của quá trìn h dạy v à họ c ở V iệ t N am dựa

trê n n g h iên cứ u về c h ư ơ n g trìn h đ á n h giá h ọ c sin h quốc tế (P IS A )

Mã số đề tài: QG 14.51

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Phưoìig Hoa

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI

M ẢU 14/K H C N

(Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /QĐ-ĐHQGHN ngày 24 thángio năm 2014

của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)

BÁO CÁO TỎNG KẾT

KÉT QUẢ THựC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN

CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Tên đề tài: N h ữ n g th ay đổi cần thiết của qu á trìn h dạy v à họ c ở V iệ t N am dựa

trê n n g h iên cứ u về c h ư ơ n g trìn h đ á n h giá h ọ c sin h quốc tế (P IS A )

Mã số đề tài: QG.14.51

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Phưong Hoa

Hà Nội, 2017

Trang 3

M Ẫ U 14/KHCN

(Ban hành kèm theo Quyêt định số 3839 /QĐ-ĐHQGHN ngày 24 thángỉO năm 2014

của Giảm đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)

ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI

BÁO CÁO TỎNG KÉT

KÉT QUẢ THựC HIỆN ĐÈ TÀI KH&CN

CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Tên đê tài: N h ữ n g th ay đổi cần th iết củ a quá trìn h d ạy v à học ở V iệt N am dựa

trên ng h iên c ứ u về ch ư ơ n g trình đ á n h g iá h ọc sinh quốc tế (PIS A )

Mã số đề tài: QG.14.51

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NÔI Ị TRUNG TAM ĨHÔNG TIN IHƯ VIỆN

— Ũ Q ã £ W D Q J 2 ±

Hà Nội, 2017

Trang 4

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG

1.1 Tên đề tài: N h ữ n g th ay đổi cần th iết củ a quá trìn h d ạy v à học ở V iệ t N am d ự a trên

ngh iên cứ u về c h ư ơ n g trìn h đ ánh g iá học sinh quốc tế (P IS A )

1.2 Mã số:

1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài

6 PGS TS Nguyễn Chí Thành Trường TH PT H òa Bình -

La Trobe - H à N ội.La

Thành viên NC

1.4 Đon vị chủ trì: ĐH NN-ĐH Q G H N

1.5 Thời gian thực hiện:

1.5.1 Theo họp đồng: từ tháng 05 năm 2014 đến tháng 05 năm 2016

1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng 05 năm 2017

1.5.3 Thực hiện thực tể: từ tháng 05 năm 2014 đến tháng 05 năm 2017

1.6 Nhũng thay đổi so v ó i thuyết minh ban đầu (nếu có):

(Vẹ mục tiêu, nội dung, phư ơ ng pháp, kết quả nghiên cứu và t(ịch ứ c thực hiện; Nguỵẽn nhân; Ỷ / ^ kiến của Cơ quan quản lý) "Ỵ\\jUy IÁ b í u

Viết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:

1 Đặt vấn đề

PISA là chương trình đánh giá so sánh giáo dục lớn nhất toàn cầu từ trước tới nay, do OECD đứng ra tổ chức định kì 3 năm một lần, lần đầu diễn ra vào năm 2000 PISA chỉ tập trung đánh giá năng lực của HS ở độ tuổi 15, độ tuổi giáo dục bắt buộc ở tất cả các nước Các năng lực được đánh giá là: Đọc hiểu, Toán, Khoa học, Giải quyết vấn đề và tùy từng năm mà năng lực nào được xem là trọng yếu

Tháng 4/2012, lần đầu tiên 5.100 học sinh ở 162 trường thuộc 59 tỉnh, thành phố của Việt Nam đã tham gia PISA (kì thi Toán, Khoa học và Đọc dành cho học sinh quốc tế ở lứa tuổi 15) và khảo sát PISA (khảo sát các yếu tố liên quan đến việc học và kết quả của học sinh trong các môn PISA

kiểm tra) Mặc dù đây là lần đầu tham gia một kì thi đánh giá ở tầm cỡ quốc tế, Việt Nam đã đạt

1

Trang 5

kết quả đáng tự hào: đứng thứ 8 trên bảng điểm khoa học, 17 về toán học và 19 về đọc hiểu Điều này càng gây ngạc nhiên cho thế giới khi chỉ sổ GDP của Việt Nam thuộc hàng thấp nhất trong số

65 nước và lãnh phổ tham gia, và chi phí cho mỗi học sinh ỏ’ Việt Nam “nhỏ bé đến mức buồn cười hoặc đau lòng” (VietnamNet, 2014)

Tuy nhiên, đằng sau kết quả này là rất nhiều vấn đề chúng ta cần nhìn vào để có thể cải thiện nền giáo dục nước nhà Ví dụ, mặc dù điểm số của học sinh Việt Nam không hề thấp trong bài thi PISA nhưng tỉ lệ học sinh Việt Nam cảm thấy hứng thú với việc học hành và yêu thích trường lớp lại không như mong muốn, trong khi đó mục tiêu của một nền giáo dục không thể chỉ là điểm số

Do đó, chúng tôi cho rằng cần nhìn vào kết quả bài thi và phiếu trà lời khảo sát của PISA một cách đầy đủ hơn để từ đó có thể giúp chúng ta thấy đưọc một cách khách quan và biện luận hon

về giáo dục Việt Nam nói chung, và cách thức học sinh THPT Việt Nam đã được chuẩn bị như thế nào cho tương lai saư khi tốt nghiệp chương trình giáo dục cơ sở bắt buộc nói riêng Nhận thức được tầm quan trọng đó của việc nghiên cứu kết quả ki thi và khảo sát PISA, chúng tôi quyết định tiến hành nghiên cứu với tựa đề “Những thay đổi cần thiết của quá trình dạy và học ở Việt Nam dựa trên nghiên cứu về chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA)”

2 Mục tiêu

Trên cơ sỏ' nghiên cứu những thành công và thất bại của một số quốc gia trong PISA, lý giải một

sổ nguyên nhân dẫn đến những thành công hay thất bại đó, so sánh rút ra bài học cho giáo dục Việt Nam Cụ thể hơn, với nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu về kỳ thi PISA trong

mối tương quan với giáo dục phổ thông ở Việt Nam trên ba phương diện chính: độ khó (của bài thi PiSA đối với trỉnh độ của học sinh Việt Nam), độ tư ơng thích (giữa nội dung và hình thức kiểm tra bài thi PISA đổi với nội dung và hình thức kiểm tra đánh giá ở Việt Nam), và tính sát thực (của các tình huống trong đề thi với các nhiệm vụ trong cuộc sống mà học sinh Việt Nam sẽ

phải thực hiện) Ba phương diện này lần lượt sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn phản biện hơn về trình

độ của học sinh Việt Nam so với trình độ của học sinh trên thế giới (thông qua việc nhìn nhận về

độ khó), nội dung và hình thức kiểm tra đánh giá ở Việt Nam (thông qua việc nhìn nhận về độ tưong thích), cũng như tính ứng dụng của giáo dục Việt Nam vào thực tế cuộc sống của học sinh khi các em ở độ tuổi 15 (thông qua việc đánh giá về tính sát thực)

Nói cách khác, nghiên cứu này tập trung vào việc trả lời 03 câu hỏi nghiên cứu chính như sau:

1 Học sinh và giáo viên nhìn nhận như thế nào về độ khó của bài thi PISA?

2 Học sinh và giáo viên nhìn nhận như thế nào về tính tương tích của bài thi PISA đối với nội dung giáo dục và hình thức kiểm tra trong chương trình giáo dục phổ thông ở Việt Nam?

2

Trang 6

3 Học sinh và giáo viên nhìn nhận thế nào về tính sát thực của các tình huống trong bài thi PISA đối với cuộc sống của học sinh ở Việt Nam?

3 Phương pháp nghiên cứu

a Công cụ thu thập dữ liệu

Dựa trên CO' sở lý luận và thực tiễn đã trình bày ở trên, nhóm nghiên cứu đã thiết kế và sử dụng 02 nhóm công cụ thư thập dữ liệu bao gồm: 02 phiếu điều tra khảo sát dành cho giáo viên (Phụ lục 1)

và học sinh (Phụ lục 2); và 01 bản câu hỏi phỏng vấn dành cho giáo viên (Phụ lục 3) Ngoài ra, chúng tôi cũng có sử dụng các kết quả khảo sát cùa PISA 2012 mà có liên quan đến đề tài

i Phiếu điều tra

Lý do chúng tôi chọn bản khảo sát làm công cụ thu thập dữ liệu là vì khảo sát diện rộng là một cách thức lấy số liệu rất hiệu quả (Dốrnyei, 2003, 2007; Weir & Roberts, 1994) Trước hết, bản khảo sát có thể giúp thu thập được rất nhiều thông tin từ nhiều người tham gia cùng m ột lúc Thứ hai, khảo sát đảm bảo người tham gia đánh giá có thể không tiết lộ danh tính, giúp việc đánh giá được khách quan và chính xác hơn (Weir & Roberts, 1994) Thứ ba, sử dụng bản khảo sát giúp nhóm nghiên cứu tiết kiệm thời gian và nguồn lực trong khâu thu thập và phân tích số liệu (Dốrnyei, 2003, 2007; W eir & Roberts, 1994)

Cụ thể, phiếu khảo sát học sinh và giáo viên gồm 02 phần Phần đầu tiên nhằm thu thập thông tin

cá nhân về học sinh Phần thứ hai thu thập các nhận xét đánh giá của 2 nhóm đối tưọng này về ba

khía cạnh trọng tâm của bài thi PISA như là độ khó, tính tương thích, và tính sát thực Để trả lời

các câu hỏi, học sinh cần chọn các phương án phù hợp trong các đáp án cho sẵn Để người tham gia có đú thông tin để đánh giá, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số câu hỏi được OECD lựa chọn làm câu hỏi mẫu chính thức cho kỳ thi PISA

Sau khi thu thập và tiến hành phân tích sơ bộ các số liệu thu thập được từ học sinh và giáo viên, chúng tôi xác định các câu hỏi phỏng vấn để tìm hiểu thêm thông tin về những mảng mà bản khảo sát dù khá dài nhưng chưa khai thác được Danh mục câu hỏi có thể được xem ở Phụ lục 3 Đây là các câu hỏi bán cấu trúc, được viết trước khi phỏng vấn, nên mỗi khi gặp những điểm chưa rõ, người phỏng vấn có hỏi các câu hỏi phụ để khai thác thêm thông tin Chúng tôi chọn tiến hành phỏng vấn cá nhân với các câu hỏi bán cấu trúc (semi-structured questions) vì các lý do sau đây Thứ nhất, biện pháp phỏng vấn cá nhân giúp cho “quan điểm của người tham gia có ý nghĩa, có thể hiếu được, và có thể được làm rõ” trong khi vẫn đàm bảo được tính cá thể hóa và bảo mật thông tin trong quá trình lấy dữ liệu (Patton, 2002) Thứ hai, loại hình phỏng vấn được lựa chọn là loại hình phỏng vấn bán cấu trúc vì loại hình này có lợi trong việc đảm bảo người phỏng vấn không bỏ qua các hạng mục thông tin cần thiết, giúp việc thu thập thông tin được tổ chức tốt, và

3

Trang 7

giúp thông tin thu thập được đầy đủ (Krueger & Casey, 2009; Patton, 2002) Bên cạnh đó, các câu hỏi chính cũng là cơ sở để người phỏng vấn sắp xếp trình tự đặt câu hỏi và quyết định nên hỏi câu nào sâu hơn (Patton, 2002) Nhò' vậy, buổi phỏng vấn vừa tập trung vừa linh hoạt để thu thập được nhiều thông tin nhất từ người tham gia (Stewart, Shamdasani, & Rook, 2007).

b Quá trình thu thập số liệu

Việc khảo sát qua phiếu điều tra đưọc thực hiện trực tiếp tại các trường với sự cho phép của Ban giám hiệu Đầu tiên, người khảo sát sẽ giới thiệu mục đích, nội dung phiếu điều tra, cũng như hướng dẫn HS điền phiếu khảo sát Đặc biệt, chúng tôi nhấn mạnh tới ý nghĩa của việc điền phiếu điều tra một cách trung thực qua việc đảm bảo bảo mật thông tin, nêu rõ việc điền phiếu điều tra

là hoàn toàn tự nguyện, và người điền phiếu có lựa chọn “Không đánh giá” nếu không rõ về một phát biểu nào đó Toàn bộ số liệu khảo sát sẽ được nhập vào SPSS để được xử lư thống kê Quy trình này cũng được thực hiện tương tự với giáo viên

Các buổi phỏng vấn các giáo viên cũng được thực hiện trực tiếp Dù sự chủ quan trong trả lời phỏng vấn là không tránh khỏi, các đối tượng phỏng vấn được mời tham gia và trả lời theo tiêu chí đánh giá chương trình một cách khách quan, vì kết quả chỉ được dùng để phục vụ nghiên cứu chứ không để xếp hạng hay đánh giá cá nhân đối tượng Trước buổi phỏng vấn nhóm, các đối tượng được thông báo trước về mục tiêu của buổi phỏng vấn và được cung cấp câu hỏi trước để

họ nghiên cứu Điều này theo Alderson et al (1995, p 174) là rất quan trọng để người tham gia phỏng vấn có thể chuẩn bị trưóc và đưa ra được những nhận định riêng chứ không bị ảnh hưởng bời diễn biến của mạch thảo luận trong nhóm Buổi phỏng vấn được tiến hành bằng tiếng Việt trong k h o ản g 30 phút, và to à n bộ số liệu đư ợ c ghi ch cp lại B iện ph áp ghi ch ép đ ư ợ c lựa chọn vì ghi chép giúp người phỏng vấn cũng là nhà nghiên cứu tập trung theo dõi, kịp thời đặt các câu hỏi làm rõ thông tin, và thể hiện sự quan tâm tới thông tin nhận được (Patton, 2002, p 383)

c Đối tượng tham gia nghiên cứu

Như đã trình bày ở phần trên, hai đối tượng chính tham gia nghiên cứu của chúng tôi là học sinh

và giáo viên Cụ thể có 1,051 học sinh và 115 giáo viên tại các trường của các em tham gia nghiên cứu này Họ đến từ 30 trường thuộc 13 tỉnh khác nhau ở miền Bắc Việt Nam Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, việc chọn mẫu được tiến hành m ột cách thuận tiện (convenient sampling) Để phần nào khắc phục nhược điểm của phương pháp này là không cho phép đưa ra những kết luận

có tính phổ quát, chúng tôi đã chọn m ột số lượng mẫu tương đối lớn như trên và đến từ nhiều tỉnh thành, địa phương khác nhau (xem Bảng 1), đồng thời tiến hành thêm phỏng vấn để bổ trợ cho dù’ liệu điều tra 10 giáo viên tham gia vào bài phỏng vấn này

4

Trang 8

Bảng 1 Số lượng học sinh tham gia trả lòi phiếu điều tra và số lượng giáo viên

tham gia phỏng vấn (theo địa phương)

d Phưoìig pháp phân tích số liệu

Như cỏ thể thấy, các số liệu định tính và định lượng đòi hỏi các phương pháp phân tích số liệu khác nhau Theo đó, đề tài đó áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn họp (mixed methods) (Dốrnyei, 2007; Johnson & Christensen, 2012; Johnson & Onwuegbuzie, 2004; Johnson, Onwuegbuzie, & Turner, 2007) để phù hợp với sổ liệu và mục đích nghiên cứu Phương pháp này giúp phát huy tối ưu thế mạnh của cả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng

Cụ thể là các số liệu định lượng từ các phiếu điều tra được phân tích sử dụng các phép toán thống

kê trên SPSS để phân tích mô tả (descriptive analysis) cũng như mối tương quan (correlation test)

và khác biệt (ANOVA) giữa các biến hay các nhóm đối tượng được quan sát Các số liệu định tính từ các cuộc phỏng vấn và các buổi quan sát sẽ được phân tích sử dụng biện pháp so sánh thường xuyên (constant com parative analysis) đã được mô tả trong hai cuốn sách về nghiên cứu định tính của Corbin và Strauss (2008) và Strauss và Corbin (1998) và trong hai cuốn sách về phỏng vấn nhóm tập trung của Krueger và Casey (2009, p 125) và Litoselliti (2003, pp 85-88)

Kỹ thuật này tìm các ý tưởng lặp đi lặp lại trong buổi phỏng vấn và chia chúng thành nhóm thông

5

Trang 9

tin Trong nghiên cứu này, các thông tin đưọc phân theo các câu hỏi nghiên cứu liên quan đến độ khó, tính tương thích và tính sát thực nêu trên.

4 Tổng kết kết quả nghiên cứu

e Độ khó của bài thi PISA đối vói học sinh Việt Nam

Nhìn chung, phần lớn học sinh tham gia điều tra (67%) nhận định rằng các câu hỏi PISA không quá khó Cụ thể, 29% các em phản hồi rằng số lưọng câu hỏi khó tưong đương với số lượng câu

dễ, 17% cho rằng số câu dễ còn nhiều hon số câu khó Thậm chí 21% các em thấy bài thi tương đối dễ, chỉ có một vài câu hóc búa Tỉ lệ học sinh nhận xét rằng bài thi PISA 2012 là khó và có ít

■ TB (SỐ câu d ễ = số câu khó)

* Khá d ẻ (sổ câu d ễ > số câu khó)

m oễ (có vài câu khó)

BQuá dễ

Hình 1 Nhận xét của học sinh về độ khó bài thi

Tương tự, hơn m ột nửa số giáo viên được khảo sát (55%) đã cho rằng độ khó của bài thi PISA là tương đối vừa phải - ở mức trung bình Gần một phần ba (27%) lại cho rằng bài thi khá khó và một phần mười (10%) có nhận định rằng bài thi khá khó và khó so với khả năng của các em học

sinh (Hình 2).

6

Trang 10

vê độ khó bài thi

■ Quá khó (rất ít câu dễ)

■ Khò {có vài câu dễ)

■ Khá khó (số càu khó > sổ cáu dễ)

■ Trung bình (sổ câu d ễ = s ô câu khó)

■ Khá d ễ (số câu d ễ > sổ câu khó)

61 De (có vài càu khó)

■ Quá d ễ (rất nhiều câu dễ)

Hình 2 Nhận xét của giáo viên về độ khó bài thi

Khi so sánh với phản hồi của học sinh về độ khó của bài thi (Hình 1), ta cỏ thể thấy rằng tỉ lệ học

sinh đánh giá độ khó của bài thi PISA ở mức trung bình cũng là lớn nhất với 29% Tuy nhiên, trong khi gần 40% các thầy cô giáo lo lắng rằng bài thi khá khó so với khả năng của các em, tì lệ này ở học sinh chỉ là 20% Phần lớn học sinh cho rằng bài thi PISA là ở từ mức trung bnh đến dễ Điều này cũng phần nào có thể lý giải cho kết quả “gây ngạc nhiên” của học sinh Việt Nam trong

toán, đọc hiểu, khoa học thường thức)

Đê bài có nhiều câu hỏi đề cập đến các sự 40.8% (1) 34.2% (1)

việc, hiện tượng lạ lẫm/mới mẻ với học

Bảng 2 Yếu tố gây khó khăn lớn nhất đối vói người làm bài thi

Nhận xétcủa giáo viên

Trang 11

Khi được hỏi, cả giáo viên và học sinh đều cho rằng các sự việc-hiện tượng mới lạ được đề cập trong bài thi, cách nêu câu hỏi - tình huống của đề bài, cách tích hợp các câu hỏi thuộc các môn khác nhau là những yếu tố gây khó khăn nhất cho học sinh trong quá trình làm bài Tỉ lệ giáo viên

và học sinh chọn những yếu tố này làm yếu tố khó khăn nhất đều khá ngang bằng nhau, và đều cao hon 24% Đặc biệt, các sự việc-hiện tượng mới lạ trong bài thi nhìn chung đều được cả hai đối tượng nhất trí đánh giá là điểm hóc búa nhất với 40.8% giáo viên và 34.2% học sinh lựa chọn Tương tự, kết quả phân tích số liệu khảo sát đối với học sinh cho thấy có m ột mối quan hệ có ý nghĩa thống kê (p<0.05) giữa sự quen thuộc của học sinh với các sự việc-hiện tượng được đề cập trong đề thi PISA và đánh giá về độ khó bài thi PISA Cụ thể, các sự kiện và tình huống trong PISA càng quen thuộc thì học sinh càng thấy bài thi PISA đon giản hơn, và ngược lại khi các sự kiện và tình huống càng mới mẻ và xa lạ với các em thỉ các em càng thấy P1SA khó hơn (Bảng 3)

* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed)

Bảng 3 Tưong quan giữa sq2 (nhận xét của học sinh về độ khó của PISA) và sq7 (nhận xét

của học sinh về sự mói mẻ của các sự kiện, tình huốngtrong câu hỏi).

Tương tự, khi phân tích số liệu thống kê từ khảo sát đối với giáo viên, chúng tôi cũng thấy một mối quan hệ có ý nghĩa thống kê (p<.05) giữa đánh giá độ khó bài thi PISA và sự quen thuộc của các sự việc-hiện tượng như với đối tượng học sinh (Bảng 4)

Correlations

8

Trang 12

* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed).

Bang 4 Tỉ lệ thuận giữa tq4 (nhận xét về độ khó của bài thi PISA) và tqio (nhận xét của

giáo viên về sự mới mẻ của các sự kiện, tình huốngtrong câu hỏi).

Đe làm rõ thêm nội dung này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các giáo viên về các tình huống

và vấn đề trong bài thi PISA Đa số đều đồng ý là câu hỏi ứng dụng trong PISA có phù hợp với văn hóa và thực tế Việt Nam Tuy nhiên, giáo viên cũng làm rõ m ột số tình huống chưa phù họp, chủ yếu do một số yếu tố mang tính quốc tế (vd chương trình Quốc tế Plan) trong khi chương trình giáo dục tại Việt Nam chưa dạy học sinh được các khái niệm mang tính quốc tế hóa Bên cạnh đó, giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về mức độ cần thiết của việc phải dạy học sinh được các khái niệm mang tính quốc tế hóa Cuối cùng, các giáo viên đều nhận định rằng chưa có sự đồng đều về việc tiếp cận các khái niệm khoa học thường thức giữa các trường, các vùng khác nhau

Trong nội dung phỏng vấn, các giáo viên cũng nhấn mạnh và làm rõ một điểm khó khác của bài thi PISA đối với học sinh Việt Nam, đó là tính liên môn Trong khi cách dạy và học ở Việt Nam khiến học sinh coi các môn học là những ngành tách biệt và chưa thấy được mối quan hệ giữa chúng, bài thi PISA yêu cầu các em tổng hợp kiến thức từ nhiều môn học để làm bài Hơn nữa, độ khó của PISA còn nằm ở cách tiếp cận kiến thức của bài thi này Trong khi cách dạy, học và thi ở nước ta thường bắt các em ghi nhớ kiến thức phi tình huống, bài thi PISA lại đưa các câu hỏi trong nhũng tình huống cụ thể và yêu cầu các em phân tích và khái quát dữ liệu trong tình huống thì mới trả lời đưọc câu hỏi - đây là kĩ năng mà học sinh Việt Nam còn yếu Mặt khác, trong khi nước ta có xu hướng phổ biến bài thi trắc nghiệm như một hình thức đánh giá khách quan, bài thi PISA yêu cầu các em phải tự trình bày câu trả lời một cách chính xác và mạch lạc Một ý kiến khác thường được nêu lên trong các buổi phỏng vấn với giáo viên đó là tình trạng học tủ, học

9

Trang 13

lệch của học sinh diễn ra phổ biến, đặc biệt với các em đi thi học sinh giỏi các cấp và thi đại học nên yêu cầu dùng kiến thức tổng hợp, liên môn khiến bài thi PISA khó hơn với các em.

Như vậy có thể thấy theo đánh giá của học sinh và giáo viên thì bài thi PISA nhìn chung không khó với học sinh Điểm gây khó khăn chủ yếu của bài thi nằm ở các sự việc và hiện tượng mói lạ, cũng như dạng thức câu hỏi tổng hợp nhiều kiến thức với các em Điều này được cho là bắt nguồn

từ việc chương trình giáo dục phổ thông còn thiếu tính quốc tế và liên môn trong nội dung và hình thức giảng dạy cũng như kiểm tra đánh giá

> Độ tương thức của nội dung bài thi với nội dung học ở trường

Nhìn chung, các em học sinh nhận định rằng độ tương thích của nội dung bài thi với nội dung học

ở trường là không cao lắm khi chỉ khoảng 20% số học sinh được hỏi lựa chọn ở các mức từ “hoàn toàn trùng khóp” đến “sát” Trong khi đó, gần một phần ba (30.8%) và hơn một phần tư (25.7%)

học sinh đánh giá độ tưong thích này ở mức lần lượt là “trung bình” và “hơi khác” Khoảng 'A số học sinh được hỏi đánh giá hai nội dung này “khác” hay “không có điểm giống” (Hình 3).

ĐộtU’0'ng thích của nội dung bài thi với nội dung học ò’

tru’OTig (đánh giá của học sinh)

Hình 3 Độ tưong thích của nội dung bài thi với nội dung học ở trưcmg (đánh giá của HS)

Trong khi đó, ở phía giáo viên lại có sự phân hóa ý kiến khá rõ khi có quan điểm khá khác nhau khi số lượng giáo viên cho rằng các câu hỏi PISA tương thích và không tương thích với bài thi là

gần như tương đương (Hình 4).

10

Trang 14

Độtu’OT»g thích của nội dung bài thi vói nội dung học ò’

tru’d'ng (đánh giá cùa giáo viên)

Hình 4 Độ tương thích của nội dung bài thi vói nội dung học ở trường (đánh giá của GV)

p Độ tương thích của đề bài thi PISA với đề bài thi, kiểm tra ở trường

Tương tự như nhận định của học sinh về độ tương thích của nội dung thi với chương trình học, phần lớn các em cho rằng độ tương thích của đề bài thi với đề bài kiểm tra ở trường ở mức trung bình đến hoàn toàn khác Cụ thể, trong khi 31% các em nhận định mức tương thích ở mức trung bình thì có đến 25% và 20% cho rằng đề thi là khác lạ và rất khác lạ Đặc biệt, có đến 13% còn

cho rằng các em chưa gặp dạng đề thi nào như đề thi trong bài thi PISA 2012 (Hình 5).

Độ tương thích cùa đề bài bài thi PISA vói đề bài thỉ, kiểm

tra ỏ’ trường (đánh giá của học sinh)

■ Hoàn toàn khác lạ

■ Rất khác iạ HKháclạ

Trang 15

Hình 5 Độ tương thích của đề bài bài thi PISA với đề bài thi, kiểm tra ở trường

(đánh giá của học sinh)

Phản hồi của giáo viên về độ tương thích của đề bài bài thi PISA với đề bài thi kiểm tra ở trường khá nhất quán với phản hồi của học sinh Tỉ lệ giáo viên cho rằng độ tương thích là thấp (khác lạ)

v à rất thấp (rất khác lạ) và không có (hoàn toàn khác lạ) còn cao hơn tỉ lệ này ở phản hồi của học

sinh vói lần lượt là 27.8%, 11.3% và 18.6% (Hĩnh 6).

Độ tương thích của đề bài bài thỉ PISA vói đề bài thi, kiềm

tra d'trường (đánh giá của giáo viên)

giá của giáo viên)

g Tính sát thực của tình huống bài thi PISA

Trước tiên, hãy quan sát tính ứng dụng, sát thực cùa bài thi PISA qua một trường hợp điển hình:

đó là bài thi Toán học, kỳ thi PISA 2012 Một trong những câu hỏi trong bảng điều tra của PISA cho học sinh các nước là về tần suất xuất hiện của các bài Toán ứng dụng và Toán lý thuyết trong chưong trình học trên lóp và trong các bài kiểm tra của học sinh Học sinh được yêu cầu trả lời bằng cách chọn đáp án đúng nhất với mình thông qua hệ thống số biểu trưng cho mức độ thường xuyên của trải nghiệm: 1 - thường xuyên, 2 - thỉnh thoảng, 3 - hiếm khi, 4 - không bao giờ Để kiểm tra xem loại trải nghiệm nào (với Toán ứng dụng hay thuyết) học sinh có nhiều hơn, chúng tôi đã tiến hành chạy số liệu với phép Paired-Sample t test Phép tính cho thấy giá trị trung bình cao nghiêng về phía các bài tập mang tính ứ n g dụng (1.98 - 2.72 đối với chương trình học, 2.31 - 3.0 đối với đề kiểm tra) Do giá trị càng cao thì tần suất tiếp xúc càng thấp, cộng với chỉ số

Trang 16

sig trong t-test đêu nhỏ hơn 05 chứng tỏ đối với cả chương trình học trên lớp và trong các bài kiếm tra thì học sinh Việt Nam đều trả lời là được tiếp xúc với các bài tập mang tính Lý thuyết nhiều hơn.

Nhìn kĩ hơn vào các con số chúng ta thấy đáng chú ý khi được hòi về tần suất xuất hiện của các bài tập mang tính ứng dụng trong thi cử, kiểm tra trên lớp; câu trả lời được đưa ra nhiều nhất là Không bao giờ (36.5% học sinh đưa ra câu trả lời này - đây là con số đã được tính sau khi loại ra các trưòng hợp không có số liệu họp lệ) Cụ thể hơn, phép independent - sample t test đã được sử dụng nhằm so sánh câu trả lời của học sinh Việt Nam với học sinh các nưóc trong và ngoài khu vực về tần suất xuất hiện của các câu toán có tính ứng dụng trong cả chương trình học trên lóp lẫn bài thi và kiểm tra có khác biệt hay không Phép phân tích này cho thấy giá trị trung bình của Việt Nam nhỏ hon Hồng Kông là 0.22 (t=9.6, pc.001, df=6247.5) trong lớp học và 0.39 ( t= l7.9, p<.001, df=6332) trong bài kiểm tra; nhỏ hơn Thượng Hải là 0.334 ( t= l4.72, pc.001, df=6732) trong bài học và 0.23 (t=23.31, p<.001, df=6715.3) trong bài kiểm tra; nhỏ hơn Phần Lan 0.347 (t= 18.272, p<.001, df=9003) trong bài học và 0.335 (t= 17.55, pc.001, df=6376.5) trong bài kiểm tra; nhỏ hơn Đức 0.484 (t= 2 1.075, pc.001, df=5969) trong bài học và 0.422 ( t= l8.014, pc.OOl, đf=5819) trong bài kiểm tra

Do giá trị trên càng nhỏ thì tần suất xuất hiện của các câu hỏi toán ứng dụng càng thấp nên có thể

thây học sinh ở cả 04 quôc gia và vùng lãnh thô nên trên đều được tiếp xúc nhiều hơn với các bài

toán úng dụng so với Việt Nam Như vậy có thể thấy trong mối tương quan với một số các bước

và lãnh thổ trong khu vực châu Á, nơi mà nền giáo dục thường được cho là mang tính lý thuyết, hay so với các nước Châu Âu, nơi mà nền giáo dục chú trọng nhiều hơn vào thực hành thì theo nhận xét của học sinh, chương trình học và hình thức kiểm tra tại Việt Nam vẫn chưa trao nhiều

cơ hội đế học sinh có thể phát huy các kĩ năng ứng dụng thực tế

Do đó, không khó hiểu khi nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy những kết luận tương đương: Mặc dù tỉ lệ giáo viên khi được hỏi đều cho rằng tính sát thực của tình huống trong đề thi PISA

2012 ỏ’ mức trung bình là lớn nhất (43.3%) nhưng nhìn chung giáo viên có phản hồi khá tích cực

về tính thực của đề thi khi có đến 26.8% cho rằng đề thi đã khá sát với thực tế và 20.6% là sát với

thực tế (Hình 7) Do đó, phần lớn giáo viên đều nhất trí rằng cần phải phát huy “tính thực” trong nội dung kiểm tra đánh giá ở Việt Nam với tỉ lệ 18.8% là hoàn toàn nhất trí, 36.5% là nhất trí và 26% là khá nhất trí (Hình 8).

Trang 17

thi (phản hôi của giáo viên)

■ Hoàn toản sát với thực tế Tính sát thực cùa tình huống trong để

■ Sát với thực tế

Si Khá sót với thực tể

■ Cộ điểm sát với thực tể có điểm không

■ Hoi xa với thực tế

■ Xa rời th ự c t ế

Hình 7 Tính sát thực của tình huống trong đề thi (phản hồi của giáo viên)

Phản hồi của giáo viên về việc có nên phát huy tính sát thực trong

nội dung kiêm tra đánh giá ờ V iệ t Nam

a Hoàn toàn phản đối

Hình 8 Tính sát thực của tình huống trong đề thi (phản hồi của giáo viên)

Dữ liệu nghiên cứu cũng chỉ ra rằng giáo viên thấy sự khác biệt giữa PISA và kiểm tra/đánh giá trưòng mình càng lớn thì càng thích cách kiểm tra/đánh giá của PISA hơn (Bảng 9), và càng đánh giá cao mặt tích cực của khả năng tiến hành thi PISA 2012 thường xuyên ở lớp 10 (3 năm một lần) (Bảng 10)

Correlations

tqố tqi o

14

Trang 18

* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed).

Bảng 5 Tương quan giữa tq6 (mức độ yêu thích PISA hon so vói cách kiểm tra đánh giá của

thầy/cô vẫn gặp hoặc thiết kế trong các bài kiểm tra hay thi ở trường).

* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed)

Bảng 6 Tưong quan giữa tq6 (mức độ yêu thích PISA hơn so với cách kiểm tra đánh giá của

trường mình) và tq l5 (nhận xét về tác động của việc tiến hành thi PISA 2012 thường xuyên

ở lớp 10 (3 năm một lần) vói công việc học tập, giảng dạy ở trưòng)

Dữ liệu phỏng vấn tiếp tục làm rõ quan điểm này khi 100% giáo viên đều đánh giá cao tính sát

thực trong câu hỏi của đề thi PISA Các giáo viên chỉ ra rằng “Chương trình dạy ở Việt Nam chỉ tập írung học sinh vào làm quen với dạng bài lý thuyết, do đó có thể làm hạn chế khả năng sáng tạo ở học sinh, gây ra sự nhàm chán, và giáo điều” Một giáo viên khẳng định lý do là “(các) bài thi hiện nay xoay quanh bộ môn chuyên ngành hẹp, kiến thức m ang tính hàn lãm” Mặc dù một số

giáo viên cũng có chỉ ra m ột số hoạt động ứng dụng thực tế trong quá trình giảng dạy tại trường phổ thông, tất cả đều nhất chí chỉ ra những hạn chế của những hoạt động này như tần suất của các

Trang 19

hoạt động chưa cao, và hoạt động đang chi dừng lại ở chỗ mang tính giải trí, phong trào là chính Một lí do khác cũng được đề cập đến, đó là lãnh đạo trường chưa chú trọng đến các hoạt động ngoại khóa, hay các hoạt động mang tính thực hành Lí do tiếp theo được nêu ra là cơ sở vật chất tại các trường còn nghèo nàn, chưa đủ hiện đại để đáp ứng nhu cầu thực hành của học sinh Lí do thứ tư là tỉ trọng thời gian dành cho tiết thực hành chưa được nhiều, giáo viên và học sinh bị áp lực chạy đủ nội dung lý thuyết Thứ năm, năng lực của giáo viên cũng là m ột việc cần được tính đến khi bàn về vấn đề nâng cao ứng dụng trong giảng dạy và kiểm tra đánh giá ở Việt Nam.

5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thực hiện rất nghiêm túc đề tài Ngoài những phân tích dựa trên các kết quả PISA do OECD công bố, đề tài đã tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá của giáo viên (115 GV) và học sinh (1051) trên diện rộng 13 tỉnh thành khác nhau của Đồng bằng Bắc Bộ, phỏng vấn sâu 10 giáo viên ở 5 tỉnh thành để có cơ sở dữ liệu đủ độ tin cậy làm cơ sở cho những kiến giải khoa học giúp giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra

1 Sách chuyên khảo "PISA và những vấn đề của giáo dục Việt N am ”, NXB DHSPHN 2015

2 Pisa và những bùi học rút ra cho giáo dục Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐI 1QG1 IN.

Nghiên cứu Giáo dục, tập 29, số 2, 2013, tr 1-6

4 Những học sinh có kết qua tồi tại các kỳ thi PISA: Kết quá, nhận định và những bài học rút ra cho nền giáo dục các nước Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Nghiên cứu Giáo dục sô

30 /1 s - 2014

5 Inert Knowledge in Tertiary Teacher Training and How to Activate it Tạp chí Khoa học

ĐIIQGỈ1N Vol 31 No 4, 2015

6 I’ISA và một quan niệm mới về đánh giá trong giáo dục Tạp chí Khoa học ĐQGHN:

Nghiên cứu Nước ngoài, Tập 32, s ố 1 (2016) 58-65

7 PISA Tiếng nói cùa người trong cuộc Kỷ yểu Hội thảo khoa học quốc gia, tháng 4 năm

2017

6 Tóm tắ t kết q u ả (tiếng Việt và tiếng Anh)

Đề tài đã tập trung đi vào giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:

1 Nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố cốt lõi của chương trình đánh giá PISA như xác định cấu trúc năng lực người học, cách thức ra đề thi định hướng đánh giá năng lực người học, cách thức tổ chức các đề trắc nghiệm và cách thức chấm điểm (scoring ) các bài trắc nghiệm nhằm xác định được năng lực cụ thể của mỗi người học

2 Nghiên cứu nguyên nhân thành công và thất bại của m ột số quốc gia qua các kì đánh giá PISA để từ đó rút ra những bài học cần thiết cho giáo dục Việt Nam

16

Trang 20

3 Trên cơ sở nghiên cứu về PISA trong mối tương quan với giáo dục phổ thông ở Việt Nam

trên ba phương diện chính: độ khó (của bài thi PISA đối với trình độ của học sinh Việt Nam), độ tương thích (giữa nội dung và hình thức kiểm tra bài thi PISA đối với nội dung

và hình thức kiểm tra đánh giá ở Việt Nam), và tính sát thự c (của các tình huống trong đề

thi với các nhiệm vụ trong cuộc sống mà học sinh Việt Nam sẽ phải thực hiện) đề tài đã đưa ra được nhũng lý giải khoa học về trình độ của học sinh Việt Nam so với trình độ của học sinh trên thế giới (thông qua việc nhìn nhận về độ khó), nội dung và hình thức kiểm tra đánh giá ở Việt Nam (thông qua việc nhìn nhận về độ tương thích), cũng như tính ứng dụng của giáo dục Việt Nam vào thực tế

4 Từ những nghiên cứu trên, đề tài cũng đã đề xuất những thay đổi cần thiết trong dạy học ỏ' nhà trường Việt Nam ở các khía cạnh chính như sau: xác định cấu trúc năng lực người học, xây dựng các nội dung học, phương pháp và các hình thức tổ chức dạy-học cũng như kiểm tra đánh giá theo hưóng phát triển năng lực người học, theo như xu hướng hiện nay trong giáo dục thế giới

Các kết quả nghiên cứu chính của đề tài đã được công bố trong 01 cuốn sách chuyên khảo với tựa đề “ PISA và những vấn đề của giáo dục Việt N am ” và các bài báo đăng trên tạp chí và báo cáo tham gia hội thảo khoa học

Tóm tắt tiếng Anh

The study aims to achieve the following research objectives:

(1) Exploring the fundamental elements o f PISA (the Program for International Student Assessment), including identifying the structure o f learner competency, methods o f developing learner competency-oriented tests, methods o f structuring and scoring multiple choice (MCQ) tests in a way that allows identifying the specific competencies of individual learners

(2) Studying the causes o f success or failure in some countries in the PISA test to the end

o f drawing lessons for education in Vietnam

(3) Based on studying PISA in relation to general education in Vietnam in three main areas, including level o f difficulty (of the PISA test for Vietnam ese students), compatibility (between the content and form o f the PISA test and those o f testing and assessment in Vietnam), and authenticity (of the test situations compared with the tasks that Vietnamese students have to handle in life), the study offers scientific explanations o f Vietnamese students’ level against that o f students in the world (through the recognition o f difficulty level), content and form o f assessment in Vietnam (through the recognition o f compatibility level) as well as the applicability o f Vietnamese education in real life and

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TẦM THONG TIN THƯ VIÊN

17

m o i 0 0 0 0 m

Trang 21

(4) Proposing necessary changes for teaching in Vietnam in the following aspects: identifying the structure o f learner competency, developing learning content, methods and forms o f organising teaching towards the development o f learner competency in line with the current trends in global education The main results o f the study have been shared in a reference book entitled "PISA and the issues o f education in Vietnam" as well as a number

o f publications in scientific journals and conferences

PHẦN III SẢN PHẨM , CÔNG BÓ VÀ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐÈ TÀI

3.1 Kết quả nghiên cứu

(Đã in/ chap nhận in/ đã nộp

đơ n/ đã được chấp nhận đơn hợp lệ/ đã được cấp giấy xác nhận SH TT/ xác nhận sử dụng sản phẩm)

Ghi địa chỉ

và cảm ơn

sự tài trợ của ĐHQGHN đúng quy định

Đánh giá chung

(Đạt, không đạt)

5 Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa h

ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu hội ng

ọc chuyên

lị quốc tế5.1 03 bài đăng TCKH, 01 bài đăng

kỷ yếu HNKH quốc gia

5.2

6 Báo cáo khoa học kiến nghị, tư vấn chính sách theo đặt hàng của đơn vị sử

dụng

6.1 1

Trang 22

- Cột sản phẩm khoa học công nghệ: Liệt kê các thông tin các sản phẩm K H C N theo thứ tự

<tên tác giả, tên công trình, tên tạp chí/nhà xuất bản, sổ phát hành, năm phát hành, trang đăng công trình, m ã công trình đăng tạp chí/sách chuyên khảo (DOI), loại tạp chí ISỈ/Scopus>

- Các ấn phẩm khoa học (bài báo, báo cáo KH, sách chuyên khảo ) chỉ được chấp nhận nếu có ghi nhậu địa chỉ và cảm ơn tài trợ của ĐH Q G H N theo đúng quy định.

Bản phô tô toàn văn các ấn phẩm này phải đưa vào ph ụ lục các minh chứng cùa báo cáo Riêng sách chuyên khảo cần có bản phô tô bìa, trang đầu và trang cuối cỏ ghi thông tin mã số xuất bản.

3.3 Kết quả đào tạo

Cột công trình công bố ghi như mục III 1.

PHẢN IV TỎNG HỢP K ÉT QUẢ CÁC SẢN PHẨM KH& CN VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐÈ TAI

đăng ký

Sô lượng đã hoàn thành

1 Bài báo công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống

ISI/Scopus

2 Sách chuyên khảo được xuất bản hoặc ký hợp đồng xuất

bản

3 Đăng ký sở hữu trí tuệ

4 Bài báo quốc tế không thuộc hệ thống ISI/Scopus

5 Số lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN,

tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa

học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế

Trang 23

7 Kết quả dự kiến được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định

chính sách hoặc CO' sở ứng dụng KH&CN

8 Đ ào tao/hỗ trơ đào tao NCS

9 Đ ào tao thac sĩ

PHÀN V TÌNH HÌNH s ử DỤNG KINH PHÍ

Kinh phí được duyệt

(triệu đồng)

Kinh phí thực hiện

(triệu đồng)

Ghi chú

A C hi p h í trực tiêp

1 Viết đề cưo'ng, tổng quan tư liệu, viết chuyên đề 34.020.000

6 Hội nghị, Hội thảo, kiểm tra tiến độ, nghiệm thu 20.000.000

B Chi p h í gián tiêp

PHÀN V KIẾN NGHỊ (về p h á t triển các kết quả nghiên círu của đề tài; về quản lý, tổ chức thực

hiện ở các cap)

PHẦN VI PHỤ LỤC (minh chím g các sản phẩm nêu ở Phần III)

Đ ề tài có 04 ph ụ lục k èm theo (1) B ản g hỏ i giáo viên (2) B ả n g hỏi học sinh (3) B ảng các c â u hỏ i p h ỏ n g v ấn sâu d à n h cho giáo viên (4) C ác m inh ch ứ n g c ủ a đề tài liên quan đến các cô n g bố

Trang 24

6 T h â y /c ô th ấ y n ộ i d u n g bài th i PISA 2012 c ó s á t v ớ i c h ư ơ n g trìn h h ọ c ờ trư ờ n g (từ lớ p 1 đến 10) k h ô n g (c h ọ n MỌT cả u trả lờ i)?

G Chẳng giống điểm nào (0%)

H Tôi không biết/không chắc

7 T h ầ y/cỏ th ấ y câu h ỏ i, tìn h h u ố n g , đề bài của PISA c ó gì khác v ớ i câu h ỏ i, tìn h h u ố n g , đề bài

mà thầy/cô vẫn gặp hoặc th iết kế trong các bài kiểm tra hay thi ở trường không (chọn MỘT câu

A Hoàn toàn trùng hợp với thực tế mà học sinh Việt Nam có thể gặp ngoài cuộc sống

B Sát với thự c tế mà học sinh Việt Nam có thể gặp ngoài cuộc sống

c Khá sát với thự c tế mà học sinh Việt Nam có thể gặp ngoài cuộc sống

D Có điểm sát, lại có điểm làm bài kiểm tra không sát với thực tế mà học sinh Việt Nam có thể gặp ngoài cuộc sống

E Hơi xa rời thự c tế mà học sinh Việt Nam có thể gặp ngoài cuộc sống

F Xa rời thực tế m à học sinh Việt Nam có thể gặp ngoài cuộc sống

G Hoàn toàn không liên quan chút nào đến thực tế mà học sinh Việt Nam có thể gặp ngoài cuộc sống

9 Nếu chọn câu trả lời nằm trong khoảng từ A đến E trong câu hỏi số 8 trẽn đây, thầy/cô có thấy nên phát huy “tính th ự c ” này trong nội dung kiểm tra đánh giá ở V iệt Nam không (chọn MỘT câu trả lời)?

Trang 25

G Hoàn toàn phản đối

10 Kết quả của Việt Nam trong kì thì PISA 2012 được đánh giá là “T ố t” Cụ thể là V iệt Nam đứng thứ 17 trong tổng số 65 nước ở lĩnh vực Toán học, th ứ 8 trong tổng số 65 nước ở lĩnh vực Khoa học, và thứ 16 trong tổng số 65 nước ở lĩnh vực Đọc hiểu Thầy/cô có ngạc nhiên với kết quả này (chọn MỘT câu trả lời)?

B Chương trình học ở trường tốt, phù hợp với cách ra đề thi PISA

c Bài thi PISA 2012 không quá khó

D Cách đ ư a vấn đề, nêu tình huống trong các câu hỏi của PISA 2012 gần gũi với đời sống thực

tế của học sinh

E Sự chuẩn bị của nhà trường (nói chung) cho học sinh cho kỳ kiềm tra này

F Sự chuẩn bị của chính thầy (cô) cho học sinh mình cho kỳ kiểm tra này

G Quá trình giám sát, trông thi chưa nghiêm túc, học sinh có thể trao đổi

H Tôi không biết

12 Theo thầy/cô việc tiến hành thi PISA 2012 thường xuyên ở lớp 10 ( 3 năm m ột lần) sẽ có tác động thế nào với công việc học tập, giảng dạy ờ trường của thầy (cô) (chọn MỘT càu trả lời)?

G Tác động hoàn toàn tiêu cực

H Tôi không biết

Lưu ý: Nếu chọn câu trả lời H, thầy/cô có thể bỏ qua câu hỏi số 13.

13 Những tác động mà thầy c ô muốn nói tới trong câu hỏi trên là gì (có thể chọn MỘT hoặc NHIÈU câu trả lời)?

A Làm cho nội dung chương trình học thay đổi theo hướng tốt hơn

B Làm cho nội dung chương trình học thay đỗi theo hướng tồi đi

c Làm cho phương pháp dạy học thay đổi theo hướng tốt hơn

D Làm cho phương pháp dạy học thay đỗi theo hướng tồi đi

E Giảm nhẹ áp lực thi cử, kiểm tra cho học sinh

Trang 26

F Gây thêm áp lực thi cử, kiểm tra cho học sinh

G Giảm bớt các hoạt động học thêm, dạy thêm

H Làm phát sinh các hoạt động học thêm, dạy thêm

I Tiết kiệm thời gian học tập

J Tốn thêm thời gian học tập

K Tiết kiệm tiền của

L Tốn thêm tiền của

M Khác (xin ghi rõ):

Trang 27

PHỤ LỤC 2 PHIÉU KHẢO SÁT Ý KIÉN HỌC SINH

Họ và tên:

Trường: L ớ p: Thành phố/Tỉnh:

Ngày tháng năm s in h : Giới tính: Nam / Nữ

1 Năm 2012 (khi em đang là HS lớp 10), điểm trung bình (điểm TB) của em của các môn học sau là (đánh dấu X vào ô thích hợp):

V ật lý

Hóa học

S in h học

N gữ Văn

Em hãy đọc lại m ộ t só câu h ỏ i của b ài thi PISA 2012 ở phần đầu tập p h iếu này.

2 v ề tổng quan, em hãy đánh giá độ khó của bài thi PISA 2012 (chọn MỘT câu trả ĩời).

A Câu nào cũng khó.

B, Hầu hết là câu khó, ngoại trừ vài câu dễ.

c Câu Khó nhiều hơn câu dễ, nhưng cũng có khá nhiều câu dễ.

D Số câu dễ và khó cũng ngang gần bằng nhau.

E Câu dễ nhiều hơn câu khó, nhưng cũng có khá nhiều câu khó.

F Hầu hết là câu dễ, ngoại trừ vài câu khỏ.

c Cách nêu câu hỏi, tình huống của đề bài

D Đề bài có nhiều câu hỏi đề cập đến các sự việc, hiện tượng lạ lẫm/mới mẻ với mẻ với học sinh

E Cách trình bày câu hỏi (cỡ chữ, màu sắc, hình minh hoạ v.v.)

F Cách tích hợp các loại câu hỏi thuộc các môn khác nhau

G Áp lực phải đạt điềm cao

H Em không thấy có gì khó hết

I Khác (xin ghi rõ):

Trang 28

4 Em thấy nội dung bài thi của PISA có sát với chương trình học ở trường (từ lớp 1 đến 10) không (chọn MỘT câu trả lời)?

A Hoàn toàn trùng khớp

B Rất sát (hầu như tất cả nội dung trong đề thi đã được học trên lớp)

c Sát (nhiều nội dung trong đề thi đã được học trên lớp, một số thì chưa)

D Trung bình (có nhiều nội dung trong đề thi đã được học trên lớp rồi, nhưng cũng có nhiều nội dung em chư a từng đ ư ợ c học trên lớp)

E Hơi khác (có khá nhiều nội dung trong đề thi em chưa từng học trên lớp)

F Khác (đa phần nội dung trong đề thi là chưa từng được học trên lớp)

G Không có điểm giống nào

5 Em thấy câu hỏi, tình huống, đề bài của PISA 2012 có gì khác với câu hỏi, tình huống, đề bài

mà em hay gặp trong các bài kiểm tra hay thi ờ trường (từ lớp 1 đến 10) không (chọn MỘT câu trả lời)?

A Hoàn toàn khác lạ (Em chưa từng gặp kiểu câu hỏi, tình huống, đề bài của bài thi này trước đó)

B Rất khác lạ (Em có nhớ là đã gặp kiểu câu hỏi, tình huống, đề bài của bài thi này trước đó rồi, nhưng rất ít thôi)

c Khác lạ (Em có nhớ vài lần gặp kiểu câu hỏi, tình huống, đề bài của bài thi này)

D Trung bình (Em thỉnh thoảng vẫn gặp kiểu câu hỏi, tình huống, đề bài của bài thi này trước đó)

E Quen (Em thường xuyên gặp kiểu câu hỏi, tình huống, đề bài của bài thi này trước đó)

F Rất quen thuộc (Em chủ yếu gặp kiều câu hỏi, tình huống, đề bài của bài thi này trước đó)

G Hoàn toàn quen thuộc (Em hay gặp kiểu câu hỏi, tình huống, đề bài của bài thi này trước đó)

6 So sánh cách kiểm tra đánh giá ở trường với cách kiểm tra đánh giá của PISA 2012, em thích kiểu kiểm tra đánh giá nào hơn (chọn MỘT câu trả lời)?

A Em thích kiểu kiếm tra đánh giá ở trường hơn nhiều

B Em thích kiểu kiếm tra đánh giá ở trường nhiều hơn, nhưng kiểu của PISA 2012 cũng có cái hay

c Em thích hai kiểu kiểm tra đánh giá này như nhau

D Em thích kiểu kiếm tra đánh giá của PISA 2012 nhiều hơn, nhưng kiểu ờ trường cũng có cái hay

E Em thích kiểu kiếm tra đánh giá của PISA 2012 hơn nhiều

F Em không có ý kiến

Trang 29

PHỤ LỤC 3 CÂU HỎI PHỒNG VẤN DÀNH CHO GIÁO VIÊN

Phiếu khảo sát này nhằm tìm hiếu suy nghĩ và ý kiến đánh giá của các thây/cô liên

quan đến kì thi PISA Phiếu khảo sát là một phần của nghiên cứu “N hũng thay đoi

can thiết của quả trình dạy và học ở Việt Nam dựa trên nghiên cứu vê chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA)” do nhóm nghiên cứu thuộc ĐHQGHN thực hiện

Những thông tin mà thầy/cô cung cấp sẽ được đảm bảo giữ bí mật, và sẽ không có ảnh hưởng gì đến kết quả giảng dạy cũng như quyền lợi của thầy/cô tại trường sở

Trước khi trả lời các câu hỏi trong phiếu khảo sát, mời các thầy cô đọc qua file đính kèm gồm các câu hỏi trong các đề thi mẫu PISA.

Họ và tên:

Giáo viên môn:

Trường đang giảng dạy:

Thâm niên công tác:

I CÁC CÂU HỞI LIÊN QUAN ĐẾN Đ ộ KHÓ CỦA KÌ THI PISA

1 Thầy/cô có nhận xét như thế nào về độ khó của kì thi PISA? (Vui lòng giải thích

cụ thể vì sao thầy cô lại có đánh giá đề thi PISA khó/dễ hơn ).

- So với chương trình học/thi của học sinh lớp 10 nói chung ở Việt Nam

- So với chương trình học/thi của học sinh lớp 10 do thây/cô dạy.

2 Thầy/cô giảng dạy môn học có trong kì thi PISA (hoặc giúp học sinh luyện tập cho kì thi PISA), thầy cô có thể nhận xét cụ thể hơn về độ khó/dễ của bài thi môn

Trang 30

này trong kì thi PISA so với chương trình học lớp 10 nói chung, ví dụ như độ khó/dễ tập trung ở mảng nào, vì sao lại khó/dễ với học sinh (dạng câu hỏi, tình huống trong đề thi PISA so với các bài kiểm tra ở trường/chương trình học? yêu cầu kiến thức/kĩ năng gì mà học sinh ở trường thầy/cô mạnh/còn yếu?)

3 Theo thầy/cô, ngoài các yếu tố về nội dung bài thi, còn yếu tố nào khác khiến PISA khó/dễ đối với học sinh lóp 10 nói chung và đối với học sinh của thầy/cô? (chẳng hạn như: dạng bài thi trắc nghiệm/tự luận, học sinh có thể hiểu nhưng chưa biết diễn đạt, áp lực thời gian và sự mệt mỏi khi học sinh không quen làm bài thi trong thời gian dài, Xi n vui lòng giải thích (và cho ví dụ cụ thế nếu có thê).

- Đối với học sinh lớp 10 nói chung:

- Đôi với học sinh của thầy/cô:

4 Với thầy/cô cho rằng PISA so với chương trình học/thi của học sinh lớp 10 ở Việt Nam là khó hơn/dễ hơn, theo thầy/cô, độ khó/dễ của PISA cho một học sinh ở

độ tuổi 15 (lớp 10) là hợp lý hay không? (nhận xét trên cơ sở khả năng nhận thức ở lứa tuổi học sinh, yêu cầu nhận thức chung với một người ở độ tuối này).

5 Với thầy/cô cho rằng PISA so với chương trình học/thi của học sinh lớp 10 ở Việt Nam là như nhau về độ khó/dễ, thì thầy/cô thích cách trình bày và khai thác kiến thức theo kiểu nào hơn, kiểu đề thi PISA hay kiểu đề thi của nhà trường Việt Nam? (chẳng hạn như: cách nêu câu hỏi, tình huống dựa trên kiến thức với cùng độ khó, PỈSA hay chương trình học/thi là hợp lý hơn?) Xin vui lòng giải thích cụ thể.

Trang 31

II CÁC CÂƯ HỞI VÊ TÍNH THỤC

6 Câu hỏi trong bài thi PISA thường được lồng ghép trong những tình huống và vấn đề gắn với thực tế Theo thầy/cô những tình huống và vấn đề trong PISA có phù hợp với thực tế và văn hóa Việt Nam hay không? Nếu không thì thầy/cô làm rõ

là chưa phù họp ở chỗ nào?

7 Nếu so sánh giữa bài thi PISA và bài thi hiện được sử dụng tại trường các thầy/cô thì theo thầy/cô đề thi nào yêu cầu học sinh có khả năng áp dụng kiến thức

đã học vào giải quyết các vấn đề trong thực tế hơn?

8 Theo các thảy/cô thì chương trình học, tài liệu dạy và học, cách dạy và học, cách kiểm tra đánh giá hiện tại được sử dụng tại trường của các thầy/cô có giúp học sinh rèn luyện khả năng áp dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề trong thực

tế không? Tại sao các thầy/cô lại nói có hoặc tại sao lại nói không?

9 Nếu câu trả lời với câu 8 là KHÔNG, thì các thầy/cô có thể đề xuất 1 số giải pháp để chương trình học, tài liệu dạy và học, cách dạy và học, cách kiểm tra đánh giá tại trường của các thầy/cô sẽ giúp học sinh rèn luyện khả năng áp dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề trong thực tế.

10 Theo các anh/ chị có thể sẽ có khó khăn nào cho giáo viên và học sinh khi chúng ta áp dụng các giải pháp trên?

III CÂU HỎI VỀ Đ ộ TƯƠNG THÍCH

ỉ 1 Nội dung bài thi PISA nhăm đánh giá năng lực học sinh ở độ tuôi 15 Theo nhận định của thày/ cô, chương trình học của học sinh Việt Nam cho đến hết lớp 9

có sát với các nội dung được hỏi đến trong bài thi PISA không? Neu trả lời cho câu

3

Trang 32

hoi 1 1 là KHÔNG, xin thày/ cô chỉ rõ là bài thi PISA khác với nội dung học sinh

đ ư ợ c học ở trường phổ thông (chủ yếu ở cấp THCS) như thế nào, mức độ ra sao?

12 Theo thầy/cô thì tình huống, nhiệm vụ trong bài thi PISA có gì khác và giống với tình huống, nhiệm vụ mà thầy/cô vẫn gặp trong các bài thi ở Việt Nam hoặc vần thiết kể trong các bài kiểm tra hay các bài thi mà mình phụ trách Xin vui lòng giải thích cụ thể: giống ở những điểm nào? Mức độ ra sao? Khác ở những khía cạnh nào? Mức độ khác ra sao?

13 Thày/ cô có thấy cách đặt câu hỏi, tình huống trong bài thi PISA phù hợp và hiệu quả đổi với học sinh Việt Nam trong độ tuổi 15? Có điểm nào là phù hợp, hiệu quả và điểm nào là không phù họp, không hiệu quả? Thày/ cô có sử dụng cách đặt câu hỏi này không? Nếu không, thày/ cô có nghĩ mình sẽ thử sử dụng cách đặt câu hỏi này với học sinh không?

14 Theo thầy/cô, với nội dung dạy học cũng như với cách dạy và học trong nhà trường phổ thông hiện nay thì việc áp dụng cách ra bài thi như PISA có hiệu quả không? (Giải thích lý do tại sao?) Và theo thầy cô, cách đánh giá trong nhà trường Việt Nam có nên thay đổi theo cách của PISA không? Tại sao?

15 Có những điểm gì về cách thiết kế câu hỏi, tình huống, đề bài của bài thi PISA

mà theo thầy/cô nên được áp dụng vào chương trình dạy và học của học sinh Việt Nam? Xin vui lòng giải thích cụ thể Vì sao nên áp dụng các điểm này? Cách thức

áp dụng ra sao?

16 Trong kì thi PISA 2012 Việt Nam đứng thử 8/65 (tổng quốc gia/nền kinh tế tham gia) ở môn Khoa học, thứ 17/65 ở môn Toán và 19/65 ở môn Đọc hiểu Thầy/cô có kết quả như vậy liệu có phản ánh đúng thực chất chất lượng của giáo dục phổ thông Việt Nam (độ tuổi 15), tại sao?

4

Trang 34

PISA V À N H Ử N G V Ấ N ĐẾ C Ủ A G IÁ O D Ụ C VIỆT N A M PGS.TS N guyễn Thị Phương Hoa (Chù biên)

TS Vũ Hải Hà (Đ ống chủ biên) - Nguyễn Thị Thu Hà Trán H oàng Anh - Vú Thị Kim Chi - Vũ Bảo Châu

Mã sách quổc té: ISBN 978-604-54-2229-8

Bản quyên xuất bản thuộc vé Nhà xuát bàn Đại học Sư phạm.

Mọi hình thức sao chép toàn bộ hay một phẫn hoặc các hình thức phát hành

mà không cỏ sự cho phép trước bằng vãn bản của Nhà xuất bản Đại học Sư phạm đéu là vi phạm pháp luật.

m°,n9 T Ó n nhặn đuợc nhữn9 ỷ kiên dóng gop cùa quỷ vị độc già đề sách ngày cáng hoàn thiện han Mọi góp ỷ vé sách, liên hệ về bàn thào và dịch vụ bón quyén xin vui lòng gửi vé địa chi email: kehoach@nxbdhsp.edu vn

M ã SỐ: 0 2 0 2 0 9 /1 1 - T K 2 0 1 4

2

Trang 35

1 1.4 C ách thức tổ chức P IS A ; 26

D AN H MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1 32

2.133

m ' “ HƯƠNG THỨC ĐÁNH GIÁ CỦA P IS A 33

2-1 Sờ lược vẻ phương thức đánh giá của P IS A 33

2 2 N guyên tắc đo các năng lự c 35

m 2-3- Các phạm vi nội d u n g 38 2.4 Các phiếu khảo sát nền và mục đích sử d ụ n g 90 :■* 2S- Những ý kiến phê phán phương pháp khảo sát của P IS A 93

O A N H MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 2 97

I 3 9 9

N c ầ c K Ế T QUẢ CỦA P IS A 99

3 J Thử hạng các nước trong từng lĩnh vực nội d u n g 99

3? Những vấn đề đặc biệt trong phân bố các kết q u ả 110 3.3 Những nhóm học sinh có kết quả tồi tại P IS A 149 OANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 3 156ilv&v- '

3

Trang 36

Phu l ụ c 2 ' I I ' I I I 255

Trang 37

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC sư PHẠM

Địa chỉ: 136 Xuẳn Thuỳ, cắ u Giấy, Hà Nội Điện thoại: 04.37547735 I Fax: 04.37547911 Email: hanhchin h© nxbdhsp.edu.vn I Website: ww w.nxbdhsp.edu.vn

C hịu trách n hiệm x uất bản:

Giám đốc: TS NGUYỄN BÁ CƯỜNG

Quyết định xuất bản số: 1235/QĐ-ĐHSP ngày 05/12/2014.

In xong và nộp lưu chiểu tháng 1 năm 2015.

3 2 0

Trang 39

itted by the VNU

ordance with the

ietnamese Laws.

Nguyễn Đình Đức Đinh Văn Đức Trương Quang Hái Nauyễn Hòa Wolfgang Knoll Ngô Tự Lập Nguyễn Hoàng Lươns Phan Tuấn Nahĩa Nguyễn Hồng Sơn Nguyễn Thanh Thủy

Phạm Hùng Việt (Thành viên thường trực/P erm anent M ember)

Ban biên tập/E ditorial Board

Nguyễn Hòa (Trưởng ban/H ead o f B oard) Huỳnh Anh Tuân (Phó Trường barvVice H ead o f Board)

Will Baker Nguyễn Văn Hiệp Nguyễn Văn Khang Nguyễn Quý Mão Trần Văn Phước Trịnh Sâm Yokomizo Shinichiro Saw - Choo Teo Nguyễn Lân Trung Hoáng Văn Vân Jeannine Richard - Zappella Zhou Xiaobing

Trợ lý Ban Biên tập/ Editorial Board Assistant Ngô Việt Tuấn

T el: (84) 906149896 E-mail: tuanviet8484@amail.com

T hư ký/Secretarv Đào Thị Làn

T el: (84)975896543 E-mail: lantckh@vnu.edu.vn/ daolantckh(§/<rmai] com

T ỉ' ngày 22/7/2014 * [n tại Công ty c ổ phần in cao cấp Quang Minh 3 1 n®ỗ Tiến Bộ

:fi, Đốn? Đa Hà Nội, Việt Nam * Nộp lưu chiếu: Quý 1/20ỉ 6

í ìssiiid -2/7 /2 0 1 4 í Printed al Còn? iy c ổ phần in cao cấp Quang Minh, i i Tiến Bộ

Itcĩ f;òng Đa District Hanoi Vietnam * Legal Deposit: Quarter 1/20J6

ir.g 6, Nhà C lT , 144 Xuân Thủy Cáu Giáv, Hà Nội Việt Nam

; ■'7~■' '50':’ 184-4) 61280348 * http:,/jh.vnu.edu.vn

C i"y- ì44 Xuân Thủy K o'1 Oral Giấv Disr-;c t Hanoi, Vietnam

N G H IÊN CỬU 1

I ĩ LậP’ Tư chủ nghĩa Marx đẽn chu nẵhĩa hậu hiện đại: Một số vấn đề học thuật hậu huyên thoại Bakhtin

Đặng l hị L an’ Các yếu tố hưởng đến khó khăn tâm lý trong hoạt động học ngoại ngữ của sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ nhất Trường Đại học Ngoại n g ữ X u

9

Nguyễn Thị H ằng Nga, Nguyễn Ngọc Toàn, Nghiên cứ„ tmòng họp v ỉ mò hình giọng nói hiệu quả trons diễn thuyết

Lạtí J hịJ hm m ? Thả0’ Vai nghĩa Hiện tượng tr0nẵ m?nh đề chỉ quá trình trải

nghiệm tiêng Anh

Nguyên Thị Bình, Gustave Lanson và giải thích văn ban văn học

Phạm Ngọc Hàm, Suy ngẫm về bài thơ “Xuân tử" của Lý Bạch

NgUyễ” Thị P h f ơng H oa’ Lê Diễm P húc> Nguyễn T h ị T h u Hà, PISA và một quan mẹm mơi vê đánh 2Ìá trong giáo dục

v S : 1 n, , ĩ hị ^ inh/ Ng“ yễ” Thị Hèng N hân' ■*■> văn ban chính luẩn Trung

38

4753

58

66

Trang 40

PISA và một quan niệm mới vê đánh giá trong giáo dục

Nsuyễn Thị Phương Hoa*, Lê Diễm Phúc, Nguyễn Thị Thu H à

Trường Đại học N ° oại ngữ, ĐHQGHN, Phạm Văn Đồng, Câu Giây, Hà Nội, Việt Nam

Nhận bài ngày 12 tháng 05 năm 2015 Chình sửa ngày 20 tháng 01 năm 2016: Châp nhận đãns ngày 28 thánẹ 02 năm 2016

Tóm tắt: Sau khi giới thiệu khái quát chuna về PISA - Chương trình đánh giá học sinh quốc tế

bài báo eiới thiệu một phương thức mới trons đánh giá chất lượng giáo dục - phươno thức đánh

giá năng lực trone các kì kiêm tra PISA Cụ thè bài báo cũnơ đã làm rõ các vân đê chính như:

Quan niệm “năng lực" trons PISA, phạm vi nội dun2 các mản2 năn2 lực đọc hiêu toán học và

khoa học nguyên tăc đo các năng lực và một sô ý kiên phê phán vê phươns pháp khảo sát của

PISA

Từ khóa: PIS A đánh giá chất lượng, năns lực.

1 Dạv học định hướng phát triển năng lực

vói vêu cầu đổi mói đánh giá

Phần lớn giới học thuật cho răng dạy học

theo định hướnơ phát triên năns lực đưcrc phát

triên từ đào tạo sư phạm vào cuối nhữns năm

] 960 rồi dân dân được áp dụns trong ạiáo dục

tiểu học truno học phô thôns và dạy nghê vào

nhữns năm 1970 [1], Xu hướng này được tiếp

nhận trong chươns trình dạy nehề ờ Anh và

Đức vào nhữns năm 1980 và chương trình

đào tạo nshiệp vụ ở A ustralia vào những năm

nở rộ của các học thuyết trong bộ môn Tâm lí học, việc này đã đánh dâu một sự chuyên dịch

từ chủ nghĩa hành vi 2ắn với các tác phẩm của Skinner san2 chủ nơhĩa kết cấu (constructivism) với các côns trình của Piaset

V.TJP H oa và un.

nủnq ’ực ỉ à đánh giá kiên thức, kỹ nãn? \-ò thái

độ trong bôi cành có ý nghĩa".

2 Vài n é t khái quát về P1SA - C hư ơ ng trìn h

“Đánh giá học sinh quốc tế”

thống này phục vụ cho mục đích cuns câp thôns tin cho các nước thành viên của tô chức này về nhừns ưu điêm và nhược điểm của nền giáo dục nước họ

Được tổ chức định kì 3 năm một lần (bắt đầu từ năm 2000) và sử dụng như một sự theo dõi liên tục việc quản lý tổ chức hệ thống giáo dục, PISA cuno cấp cho chính phủ các nước tham gia dự án những kết quả m ans tính thực nshiệm siúp họ định hưómo, điều chình hệ thống giáo dục trên cơ sờ dữ liệu mang quy mô lón và đáng tin cậy PISA kiểm tra, đánh 2Ìá sự chuẩn bị của nhà trườnơ dành cho học sinh đê bước vào xã hội tri thức, nói cách khác là khả năng thích nshi của học sinh đối với những thách thức của một xã hội tri thức PISA đánh giá học sinh ở d a i đoạn chuẩn bị kết thúc thời gian học tập bắt buộc về kiến thức và kĩ năns cần thiết cho việc sống và làm việc trong xã hội, tập trune vào ba mảna kĩ năng: khoa học

đọc hiểu, và toán học (năm 2003 PISA bổ sung đánh giá năng lực giải quyết vấn đề, năm 2012

bô sunơ đánh giá năng lực giải quyêt vân đẻ một cách sáng tạo và năns lực tài chính, năm

2015 bổ suns đánh giá năng lực giải quyết vấn

đề theo nhóm) PISA tập trung vào những năna

■ :ho học ,SĨI)Ì

.1100 sát C3.C Miều kiện ki íáộr.2 lực, K

kỹ năn s, chi gia đình trêi trườn 2 21 áo các yếu tố li kiện cơ sở trang thiết I vấn đề tự c lượng - số 1 giáo viên đ írườns siác trườn? học) nhà nước cl

về 2Ìáo dục việc đâu tư quan điêm,Tuy PIS các nước bi trườn2 học thập được 1 giáo dục m nền giáo di cho phép c: nhất và từ ( dục của họ

Kỳ thi năm một la

ra đên năm nước tham gồm 41 ni (2006) gồư

tư (2009) ị

thứ năm (2

Ngày đăng: 25/10/2018, 23:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w