1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những vấn đề phát sinh trong quá trình cổ phấn hóa và hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh đồng tháp

90 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH TRẦN VĂN PHÚ NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẤN HÓA VÀ HẬU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP Chuyên ngành: Tài chính công... HỒ CHÍ MINH T

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN PHÚ

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH

CỔ PHẤN HÓA VÀ HẬU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP

Chuyên ngành: Tài chính công

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN PHÚ

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH

CỔ PHẤN HÓA VÀ HẬU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP

Chuyên ngành: Tài chính công

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẤN HÓA VÀ HẬU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP” là công trình của việc học tập và nghiên cứu nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực

và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Văn Phú

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình theo học chương trình cao học ngành Tài chính công của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và nghiên cứu viết luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hỗ trợ, động viên từ phía nhà trường, cơ quan, gia đình

và bạn bè

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự đầu tư nghiêm túc của bản thân, tôi còn được sự hỗ trợ và động viên của nhiều người Nhân đây, tôi chân thành cảm ơn: Quý thầy, cô trường Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi; Gia đình và bạn bè đã hỗ trợ và động viên tinh thần cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Đặc biệt xin gửi lời cảm ơn đến Tiến sĩ Lê Quang Cường đã tận tình hướng dẫn và hỗ trợ trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp của tôi;

Mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, nhưng do hạn chế về mặt thời gian cùng với việc thiếu kinh nghiệm trong nghiên cứu nên đề tài luận văn không tránh khỏi có hạn chế và thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Thầy Cô để luận văn được hoàn thiện hơn nữa

Xin trân trọng cảm ơn

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tổng hợp các văn bản pháp luật hướng dẫn quá trình cổ phần hóa 18 Bảng 2.1: Các giai đoạn của quá trình cổ phần hóa tại Việt Nam 32 Bảng 2.2: Danh sách các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh Đồng Tháp đã thực hiện

cổ phần hóa tính đến năm 2011 37 Bảng 2.3: Cơ cấu vốn điều lệ dự kiến sau khi cổ phần hóa của Công ty TNHH MTV Cấp nước và Môi trường đô thị Đồng Tháp 40

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Biểu Đồ 1.1:Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần (CTCP) 23 Biểu Đồ 2.1: Kết quả CPH DNNN theo từng giai đoạn 36

Trang 9

TÓM TẮT

Mục tiêu chính của luận văn là phân tích quá trình cổ phần hóa và các vấn đề hậu cổ phần hóa ở tỉnh Đồng Tháp Quá trình cổ phần hóa đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Đồng Tháp nói riêng

và Việt Nam nói chung Tuy nhiên, phân tích tình hình thực tế cho thấy, cổ phần hóa và giai đoạn hậu cổ phần hóa ở tỉnh Đồng Tháp vẫn còn nhiều vấn đề khó khăn, bất cập làm ảnh hưởng đến chất lượng cổ phần hóa và khả năng tồn tại, cạnh tranh

và phát triển của doanh nghiệp hậu cổ phần hóa

Do đó, luận văn tìm hiểu cơ sở lý thuyết về cổ phần hóa Từ cơ sở này, luận văn phân tích thực trạng quá trình cổ phần hóa và các vấn đề hậu cổ phần hóa tại các doanh nghiệp vừa cổ phần hóa ở tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2018 Dựa trên những phân tích này, tác giả chỉ ra những khó khăn, hạn chế trong thực tiễn Từ đó, tác giả đưa ra các khuyến nghị và giải pháp phù hợp cho quá trỉnh cổ phần hóa tại tỉnh Đồng Tháp cũng như các giải pháp để các doanh nghiệp hậu cổ phần hóa của tỉnh Đồng Tháp có thể phát triển bền vững và hiệu quả

Từ khóa: Cổ phần hóa; Doanh nghiệp nhà nước

Trang 10

ABSTRACT

The objective of the thesis is to analyse equitization process and equitization issues in Dong Thap province Equitization process plays an important role in industrialization and modernization movement of both Dong Thap province and Vietnam Nevertheless, the factual circumstance indicates equitization and post-equitization in Dong Thap province have many problems that affect negatively to the output of equitization process Consequently, the thesis establishes a theoretical basis and analyzes the status of equitization process and post-equitization issues in Dong Thap province Based on these analyses, the author points out the difficulties and shortcomings in practice and offers appropriate recommendations and solutions for the post-equitized enterprises in the province to develop sustainably and effectively

post-Keywords: Equitization; State enterprise

Trang 11

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ v

TÓM TẮT vi

ABSTRACT vii

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG 1_ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu 4

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 5

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 7

1.4 Phương pháp nghiên cứu 7

1.5 Kết quả và đóng góp mới của luận văn 7

1.6 Quy trình nghiên cứu 8

1.7 Kết cấu luận văn 9

CHƯƠNG 2_CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA VÀ CÁC VẤN ĐỀ HẬU CỔ PHẦN HÓA 10

2.1 Các khái niệm chính 10

2.1.1 Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 10

2.1.2 Công ty cổ phần (CTCP) 12

2.1.3 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 14

2.2 Lý thuyết về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 16

2.2.1 Cở sở lý thuyết 16

2.2.2 Nội dung cổ phần hóa 18

2.3 Các vấn đề gây trở ngại quá trình cổ phần hóa 21

2.4 Các vấn đề phát sinh sau quá trình cổ phần hóa (hậu cổ phần hóa) 22

Trang 12

2.4.1 Bộ máy tổ chức và phương thức quản trị 22

2.4.2 Bất động sản và các tài sản khác 26

2.4.3 Khả năng vay các khoản nợ phải trả 27

2.4.4 Chính sách giải quyết đối với lao động dôi dư 27

2.4.5 Cải tiến công nghệ 28

2.4.6 Trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát 28

2.5 Tổng quan nghiên cứu về cổ phần hóa và giải quyết các vấn đề hậu cổ phần phần hóa 29

Kết luận chương 2 31

CHƯƠNG 3_NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA VÀ HẬU CỔ PHẦN HÓA TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP 32

3.1 Bối cảnh thực tiễn về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 32

3.1.1 Thực trạng và chính sách cổ phần hóa DNNN của Việt Nam 32

3.1.2 Đánh giá quá trình CPH DNNN trên phạm vi cả nước 36

3.2 Các vấn đề phát sinh trong quá trình cổ phần hóa các DNNN tại tỉnh Đồng Tháp 37

3.2.1 Thực trạng cổ phần hóa các DNNN tại tỉnh Đồng Tháp 37

3.2.2 Các vấn đề phát sinh trong quá trình cổ phần hóa DNNN tại tỉnh Đồng Tháp 43

3.3 Các vấn đề phát sinh giai đoạn hậu cổ phần hóa tại các DNNN tại tỉnh Đồng Tháp 44

3.3.1 Về bộ máy tổ chức và phương thức quản trị 44

3.3.2 Về quyền sử dụng bất động sản và các tài sản khác 48

3.3.3 Về khả năng vay và các khoản nợ phải trả 49

3.3.4 Về chính sách đối với lao động dôi dư 49

3.3.5 Về cải tiến công nghệ 50

3.3.6 Về trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát 50

Kết luận chương 3 51

CHƯƠNG 4_GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA VÀ HẬU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP 53

Trang 13

4.1 Giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp

nhà nước tại tỉnh Đồng Tháp 53

4.2 Giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hậu cổ phần hóa Doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Đồng Tháp 55

4.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 61

Kết luận chương 4 62

Kết luận chung 64

Tài liệu tham khảo tiếng Việt 66

Tài liệu tham khảo tiếng Anh 67

Các phụ lục 69

Trang 14

CHƯƠNG 1_ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu

Tiếp tục sắp xếp, chuyển đổi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp quốc doanh là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, quá trình cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp quốc doanh ở Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn, thử thách nên kết quả vẫn chưa tương xứng với kỳ vọng Cụ thể, theo số liệu của Bộ Tài chính (BTC), kể từ khi có chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh theo Nghị định số 28/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 1996 của Chính phủ đến nay, tổng số doanh nghiệp đã được CPH là 4.065 doanh nghiệp Tính đến hết tháng năm 2015, cả nước còn phải thực hiện CPH là 130 doanh nghiệp Như vậy, từ năm 2011 - 2015, cả nước chỉ mới CPH được 397 doanh nghiệp, đạt 75% kế hoạch của cả giai đoạn Nguyên nhân không hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa giai đoạn 2011- 2015 xuất phát từ nhiều nguyên nhân như việc định giá tài sản còn bất cập, các vấn đề pháp lý, giải quyết lao động dôi dư chưa thỏa đáng Mặt khác, sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu cũng đã ảnh hưởng đến tốc độ CPH doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Như vậy, công tác cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh ở Việt Nam còn phải trải qua một chặng đường khá dài và nhiều thử thách mới có thể hoàn thành được quá trình CPH doanh nghiệp quốc doanh

Tuy nhiên, quá trình CPH chỉ mới phản ánh một phần của bức tranh về thực trạng và tác động của CPH đến nền kinh tế Việt Nam Mục tiêu của CPH không chỉ nhằm giảm bớt gánh nặng cho cán cân ngân sách mà còn phải hướng đến thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đóng góp nhiều hơn cho ngân sách và sự phát triển của đất nước Vì vậy, bên cạnh quá trình CPH, một vấn đề cần lưu tâm là hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp quốc doanh sau CPH Thực tế cho thấy,

cơ cấu tổ chức, cách thức quản lý, cơ chế hoạt động tại các doanh nghiệp này đang gặp nhiều vấn đề vướng mắc, như: Công tác tổ chức, bộ máy quản lý còn nhiều bất cập, năng lực quản lý và quản trị doanh nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường; Vấn đề đất đai và quyền sở hữu tài sản chưa được giải quyết một cách rõ ràng, minh bạch; Chính sách tín dụng đối với doanh nghiệp sau CPH còn có sự phân biệt đối xử; Chính sách, chế độ cho lao động dôi dư trong doanh nghiệp cổ phần hóa chưa

Trang 15

được thỏa đáng; Doanh nghiệp sau CPH không có điều kiện về tài chính để đổi mới công nghệ, dẫn đến tính cạnh tranh của đại bộ phận các doanh nghiệp sau CPH còn thấp Vì vậy, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn sau cổ phần hóa (hậu cổ phần hóa) cần được xem xét cẩn trọng và có hệ thống

Đồng Tháp là tỉnh vùng biên của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có trên 50

km đường biên giới giáp với nước bạn Cam-pu-chia; có vị trí địa lý và giao thông tương đối không thuận lợi bởi hệ thống sông ngòi chằng chịt trong khi cơ sở hạ tầng giao thông chưa phát triển đồng bộ Vì vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, nguồn thu ngân sách của tỉnh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hàng năm tỉnh phải nhận bổ sung gần 50% từ ngân sách trung ương Do đó, để giảm áp lực cho cán cân ngân sách, quá trình CPH là tất yếu và cần phải được thực thi hiệu quả, không chỉ hướng đến giảm áp lực cho cán cân ngân sách mà còn tiến tới đóng góp nhiều hơn cho NSNN

Như vậy, việc nghiên cứu quá trình CPH tại Việt Nam nói chung và tại tỉnh Đồng Tháp nói riêng là rất quan trọng và cần thiết, phục vụ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, việc cân bằng mục tiêu vừa đảm bảo vốn nhà nước, giảm áp lực cán cân ngân sách vừa đảm bảo doanh nghiệp sau cổ phần hóa phát triển bền vững là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn và cấp bách Theo đó, về

khái quát, đề tài mà luận văn hướng đến là “NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT SINH

TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẤN HÓA VÀ HẬU CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP” Luận văn thiết lập cơ sở lý luận

và phân tích thực trạng quá trình CPH và các vấn đề hậu CPH của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Từ đó, tác giả chỉ ra những khó khăn, bất cập trong thực

tế và đưa ra các khuyến nghị, giải pháp phù hợp để các doanh nghiệp sau cổ phần hóa trên địa bàn tỉnh phát triển bền vững và hiệu quả

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu chính mà luận văn hướng đến là phân tích những vấn đề CPH và các vấn đề hậu CPH tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Như vậy, hai mục tiêu cục thể của luận án là: (1) đánh giá quá trình cổ phần hóa DNNN tại tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2018; (2) Phân tích thực trạng các vấn đề hậu cổ phần

Trang 16

hóa tại các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa tại tỉnh Đồng Tháp hiện nay Theo đó, hai câu hỏi nghiên cứu mà luận văn cần phải giải đáp là:

(1) Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Đồng Tháp diễn ra như thế nào?

(2) Giải quyết những vấn đề phát sinh hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Đồng Tháp như thế nào?

Để thực hiện mục tiêu và giải đáp hai câu hỏi nghiên cứu này, luận văn thiết lập cơ sở lý luận trên cơ sở lược khảo lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước Dựa trên khung phân tích này, tác giả phân tích thực trạng cổ phần hóa và các vấn đề hậu CPH doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Từ đó, tác giả chỉ ra những khó khăn, bất cập trong thực tế Trên cơ sở phân tích này, tác giả đề xuất các khuyến nghị, giải pháp phù hợp để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình CPH và hậu CPH doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Theo đó, các mục tiêu cụ thể và cũng là quy trình thực hiện của luận văn bao gồm các nội dung cụ thể như sau:

- Tìm hiểu khung lý thuyết về CPH doanh nghiệp quốc doanh và các vấn đề hậu CPH

- Phân tích thực trạng quá trình CPH và những vấn đề phát sinh hậu CPH doanh nghiệp quốc doanh tại tỉnh Đồng Tháp Qua đó, luận văn đúc kết những thành tựu, hạn chế bất cập trong quá trình cổ phần hóa và các vấn đề hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Đồng Tháp thời gian qua

- Đề xuất các khuyến nghị, giải pháp nhằm đảm bảo các doanh nghiệp hậu CPH trên địa bàn tỉnh phát triển bền vững và hiệu quả trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quá trình CPH và các vấn đề hậu CPH doanh nghiệp quốc doanh tại tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011- 2018

Trang 17

ty TNHH MTV Cấp nước và Môi trường đô thị Đồng Tháp; (2) Công ty TNHH MTV Xây lắp và Vật liệu xây dựng Đồng Tháp; (3) Công ty TNHH MTV Thương mại dầu khí Đồng Tháp Bên cạnh đó, nhằm củng cố các phân tích về những thành tựu cũng như khó khăn, bất cập của quá trình CPH doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh, luận văn cũng phân tích khái quát thực trạng CPH tại 14 doanh nghiệp quốc doanh đã CPH trên địa bàn tỉnh giai đoạn trước

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê mô tả bằng kỹ thuật phân tích và tổng hợp: Quá

trình phân tích được thực hiện thông qua việc nghiên cứu chi tiết thực trạng doanh nghiệp nhà nước vừa CPH tại tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2018 Từ cơ sở này, luận văn thực hiện tổng hợp các phân tích nhằm đúc kết những nhận định mang tính tổng quát, hệ thống về thực trạng CPH và các vấn đề hậu CPH doanh nghiệp quốc doanh tại tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2011-2018

- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến chuyên gia: Dựa vào mục tiêu nghiên

cứu, tác giả thực hiện việc lấy ý kiến của các chuyên gia là cán bộ quản lý, đại diện doanh nghiệp tại các doanh nghiệp nhà nước đã và đang cổ phần hóa tại tỉnh Đồng Tháp

1.5 Kết quả và đóng góp mới của luận văn

Việc thực hiện luận văn kỳ vọng sẽ mang lại những giá trị nhất định cả về mặt khoa học và thực tiễn Tác giả hướng đến giải quyết vấn đề nghiên cứu mà bối cảnh

Trang 18

thực tiễn đặt ra: Phân tích thực trạng CPH và các vấn đề hậu CPH doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Luận văn tập trung khái quát hóa lý luận về doanh nghiệp quốc doanh, quá trình, nội dung của CPH Qua đó, luận văn cung cấp cho người đọc bức tranh tổng thể

về thực trạng CPH và các nút thắt hậu CPH của doanh nghiệp quốc doanh trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng và cả nước nói chung Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện chất lượng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh và đưa ra các khuyến nghị chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sau CPH hiện nay

1.6 Quy trình nghiên cứu

Luận văn được thực hiện bao gồm các bước chính như sau:

Thứ nhất, tác giả thực hiện khái quát lại các lý thuyết có liên quan nhằm hình thành khung phân tích, cơ sở lý luận về DNNN, CTCP, quá trình cổ phần hóa và các nút thắt phát sinh sau quá trình CPH Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành lược khảo các bài nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Tổng quan lý thuyết

Xác định mục tiêu nghiên cứu

Phân tích thực trạng và thảo luận

Kết luận và hàm ý chính sách

Trang 19

Thứ hai, từ cơ sở tổng quan lý thuyết được thực hiện ở bước thứ nhất, luận văn xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Luận văn hướng đến thực hiện câu hỏi

nghiên cứu chính là: “Giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình cổ phần hóa

và hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Đồng Tháp như thế nào?”

Thứ ba, từ cơ sở tổng quan lý thuyết được thực hiện ở bước thứ nhất và mục tiêu nghiên cứu được xác định ở bước thứ hai, luận văn thực hiện thu thập số liệu nhằm phân tích thực trạng quá trình CPH và các vấn đề hậu CPH doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói riêng và cả nước nói chung Từ cơ sở này, tác giả thảo luận về những ưu điểm cũng như hạn chế, bất cập còn tồn tại trong quá trình

cổ phần hóa và các vấn đề hậu cổ phần hóa tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Cuối cùng, từ cơ sở lý thuyết và kết quả phân tích thực trạng, tác giả rút ra các kết luận về những hạn chế, bất cập còn tồn tại cũng như nguyên nhân của chúng trong quá trình thực hiện cổ phần hóa và hậu cổ phần hóa tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Qua đó, luận văn đề xuất các giải pháp khả thi nhằm giải quyết các nút thắt trong quá trình cổ phần hóa và hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

1.7 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 04 chương chính, ngoài chương 1 giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu, nội dung luận văn được cấu trúc như sau:

Chương 1_Tổng Quan Nghiên Cứu

Chương 2_ Cơ sở lý luận về CPH và các vấn đề hậu CPH

Chương 3_ Các nút thắt trong quá trình CPH và hậu CPH tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

Chương 4_ Giải quyết các nút thắt trong quá trình CPH và hậu CPH doanh nghiệp nhà nước tại tỉnh Đồng Tháp

Trang 20

CHƯƠNG 2_CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA VÀ CÁC VẤN ĐỀ HẬU

Trong nền kinh tế bao cấp, thương nghiệp tư nhân gần như bị hạn chế Nhà nước nắm vai trò chủ đạo, điều hành, kiểm soát trên thị trường theo chế độ tem phiếu nên hạn chế tối đa việc mua bán hoặc vận chuyển tự do hàng hoá trên thị trường Theo

đó, các doanh nghiệp ở thời kỳ này đều là doanh nghiệp nhà nước Các doanh nghiệp này hoạt động trên cơ sở các quyết định của CQNN quản lý trực tiếp và các chỉ tiêu

pháp lệnh được giao “Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn; định giá

sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu”(Dương Văn Hòa, 2016)

Kể từ khi Nhà nước thực hiện chính sách Đổi mới, chuyển cơ chế quản lý từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan điểm về doanh nghiệp nhà nước cũng có nhiều thay đổi Bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước, các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân bắt đầu hình thành và phát triển Năm 1995, luật doanh nghiệp nhà nước ra đời, định nghĩa chính thức về khái niệm doanh nghiệp nhà nước Theo quy định của luật, doanh

nghiệp nhà nước là “tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức

quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao”(Quốc hội IX, 1995) Theo đó, khái niệm này chỉ ra

Trang 21

điểm khác biệt chính giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân là quyền

sở hữu và quản lý Từ năm 2003 trở đi, doanh nghiệp nhà nước được định nghĩa là “tổ

chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”(Quốc hội XI, 2003) So sánh hai khái niệm này cho thấy, có một sự

chuyển biến lớn trong quan niệm về doanh nghiệp nhà nước Theo đó, doanh nghiệp nhà nước không hoàn toàn chỉ dựa vào vấn đề quyền sở hữu và quản lý để phân loại

mà thay đổi theo hướng nhìn nhận sự bình đẳng giữa các hình thức doanh nghiệp Lúc này, doanh nghiệp nhà nước được xác định dựa trên quyền kiểm soát và chi phối của nhà nước đới với doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước cũng được tổ chức với nhiều hình thức như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn như khu vực tư nhân, đây

là điểm mới và tiến bộ trong quan điểm về doanh nghiệp nhà nước

Năm 2014 đánh dấu một bước ngoặt lớn về sự thay đổi quan điểm về doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng Hơn hai thập kỷ đổi mới và phát triển, NN ban hành thống nhất một luật doanh nghiệp duy nhất, áp dụng thống nhất và bình đẳng, không phân biệt cách thức đối xử đối với mọi loại hình doanh nghiệp (trước đây, Việt Nam có luật doanh nghiệp và luật DNNN) Điều này cho thấy sự bình đẳng, tiến tới cạnh tranh công bằng giữa các loại hình doanh nghiệp, phù hợp với nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp năm 2014 lại đưa ra thay đổi lớn về định nghĩa

doanh nghiệp nhà nước Theo luật này, DNNN là “Doanh nghiệp nhà nước là doanh

nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” (Quốc hội XIII, 2014) Vì vậy, những

DN mà NN không sở hữu tố đa 100% vốn điều lệ thì không được coi là DNNN Điều này đặt ra những vấn đề phát sinh, đặc biệt là đối với quá trình cổ phần hóa DNNN hiện nay

Lược khảo cho thấy, khái niệm DNNN theo văn bản pháp luật của nước ta hiện nay và khái niệm DNNN tại các quốc gia khác trên thế giới có nhiều khác biệt Theo Dương Văn Hòa (2016), tại những quốc gia khác trên thế giới, hầu như ít còn tồn tại các doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ Cụ thể, tác giả nhận định, ở những quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi nơi mà vẫn còn nhiều doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực then chốt, mức sở hữu nhà nước trong các doanh nghiệp

Trang 22

này thường chỉ ở mức từ 40 - 51% Hơn nữa, những doanh nghiệp này phải thực hiện giải trình công khai, minh bạch một cách bắt buộc thông qua việc niêm yết trên thị trường chứng khoán Tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển như Châu Âu hay Hoa

Kỳ, số lượng doanh nghiệp mà nhà nước sở hữu vốn điều lệ còn rất ít và tỷ lệ cổ phần

mà nhà nước sở hữu thường ở mức rất thấp, dưới 30% Tương tự, những doanh nghiệp này cũng phải thực hiện giải trình công khai minh bạch thông qua việc niêm yết trên thị trường chứng khoán

Thực tế cho thấy, số lượng DN mà NN đang sở hữu vốn ở Việt Nam vẫn chiếm

tỷ trọng lớn cả về số lượng (về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh) lẫn tỷ trọng vốn sở hữu (rất nhiều doanh nghiệp mà NN nắm giữ từ 51% cổ phần chi phối trở lên) Như vậy, bên cạnh những DNNN (NN sở hữu 100% vốn), vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp

mà nhà nước nắm giữ cổ phần ở mức có quyền chi phối Từ đó, một vấn đề lớn phát sinh là những doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (nhà nước nắm giữ từ 51% cổ phần chi phối trở lên) liệu có phải tiếp tục cổ phần hóa Theo quan điểm trước đây, các doanh nghiệp này vẫn là doanh nghiệp nhà nước Vì vậy, các doanh nghiệp này cần phải tiếp tục cải cách, còn bây giờ là các doanh nghiệp này không nằm trong đối tượng doanh nghiệp nhà nước cần phải cải cách Hơn nữa, quyền lợi và tiếng nói của các cổ đông chiếm giữ số cổ phần còn lại sẽ được giải quyết như thế nào nếu nhà nước quyết định cổ phần hóa các doanh nghiệp này Có thể nói, đây là khoảng trống pháp lý khi có sự thay đổi lớn khái niệm doanh nghiệp nhà nước so với chính bản thân nó trước đây cũng như so với quan niệm về doanh nghiệp nhà nước trên thế giới hiện nay.Vì vậy, thực trạng này đòi hỏi sự thay đổi về quy định pháp luật đối với doanh nghiệp có vốn mà nhà nước sở hữu Ở nội dung luận văn này, để phù hợp với bối cảnh thực tiễn và chủ trương, quy định về cổ phần hóa, doanh nghiệp cổ phần hóa mà luận văn phân tích là doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp

2.1.2 Công ty cổ phần (CTCP)

Loại hình Công ty cổ phần xuất hiện từ cuối thế kỷ 16 ở các quốc gia Châu Âu Theo đó, CTCP đến nay đã có lịch sử phát triển qua nhiều thế kỷ (Phạm Thị Thùy Linh, 2015) Loại hình doanh nghiệp này là sự hình thành một kiểu tổ chức công ty

Trang 23

trong nền kinh tế thị trường (KTTT) Nó ra đời không thuộc ý muốn chủ quan của bất

cứ lực lượng nào mà là một tiến trình kinh tế khách quan, do đòi hỏi của xã hội hóa lực lượng SXKD trong KTTT, kết quả hiển nhiên của quá trình tập trung tư bản, diễn

ra một cách mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp và sự tự do cạnh tranh của Chủ nghĩa tư bản Đồng thời, trở thành một loại hình công ty phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới Sự ra đời của công ty cổ phần trong nền KTTT diễn ra như một tất yếu khách quan

Công ty cổ phần là một loại hình công ty với vốn điều lệ được phân chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau, gọi là các cổ phần Các cổ đông là những nhà đầu tư sở hữu cổ phần của doanh nghiệp, cùng chia sẻ lợi ích, rủi ro trong phạm vi phần góp vốn của mình trên cơ sở tự nguyện cùng nhau thực hiện các hoạt động SXKD nhằm thu lợi nhuận Theo đó, thực chất CTCP là một sự kết nối về mặt kinh tế của nhiều nhà đầu tư, với mục tiêu chung là thành lập một tổ chức sản xuất kinh doanh, có tài sản độc lập, có tư cách pháp nhân và có các quyền quản lý sử dụng tài sản và các quyền khác trong doanh nghiệp Theo đó, công ty cổ phần có những đặc điểm chính như sau:

“- Là loại hình công ty theo chế độ trách nhiệm hữu hạn, nghĩa là trách nhiệm của các chủ sở hữu doanh nghiệp được giới hạn trong phạm vi tỷ lệ số vốn đã góp vào vốn điều lệ của công ty

- Là chủ thể SXKD và có tư cách pháp nhân hợp pháp, tính từ ngày CTCP được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

- Có cấu trúc vốn mở

- Phải chịu trách nhiệm một cách độc lập về các nghĩa vụ tài sản bằng toàn bộ tài sản của công ty Tuy nhiên, ngoài phạm vi giá trị cổ phần mà mình nắm giữ, các cổ đông không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ nợ, tài sản của CTCP

- Phải có ít nhất ba cổ đông trong suốt quá trình hoạt động, không hạn chế số lượng cổ đông tối đa

- Là công ty đối vốn, trong đó các thành viên liên kết với nhau dựa trên cơ sở vốn góp Quan hệ nhân thân giữa các thành viên chỉ là yếu tố thứ yếu “

Trang 24

2.1.3 Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

 Khái niệm quá trình cổ phần hóa

Có nhiều học giả đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm CPH doanh nghiệp nhà nước, tuy nhiên, điểm chung của các khái niệm này đều nhận định rằng CPH là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ nhà nước sở hữu sang hình thức sở hữu

cổ phần Theo Dương Đức Chính (2006), CPH DNNN được hiểu là “quá trình chuyển

đổi từ mô hình doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần Sau khi đã hoàn tất quy trình chuyển đổi này, doanh nghiệp cổ phần hóa sẽ chuyển sang loại hình công ty cổ phần, hoạt động như một công ty thuộc khu vực tư nhân” Tương tự, Vũ Văn Sơn

(2009) nhận định “cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là biện pháp có tính đặc thù

của quá trình đổi mới các doanh nghiệp nhà nước, là quá trình chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần”

Đúc kết từ các khái niệm trên, tác giả nhận định rằng, CPH là quá trình chuyển

đổi các doanh nghiệp quốc doanh sang hình thức CTCP CPH là phương thức nhằm

thực hiện xã hội hóa quyền sở hữu, chuyển dần từ hình thái doanh nghiệp thuộc sở hữu NN (hoặc NN nắm quyền chi phối) sang hình thức CTCP với nhiều cổ đông sở hữu để tạo ra mô hình doanh nghiệp năng động, phù hợp với nền KTTT

 Vai trò của quá trình CPH

Theo đó, mục tiêu của quá trình CPH là huy động nguồn vốn từ các nhà đầu tư (NĐT) trong nước và ngoài nước nhằm nâng cao năng lực SXKD, đổi mới công nghệ cũng như đổi mới phương thức quản trị Bên cạnh đó, quá trình này còn giúp doanh nghiệp quốc doanh sau khi cổ phần hóa thực hiện giải trình công khai, minh bạch thông tin theo nguyên tắc thị trường và giá trị thị trường, từ đó, gắn kết quá trình cổ phần hóa với thị trường vốn, thị trường chứng khoán

Ở mục tiêu vĩ mô, quá trình CPH nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên: Nhà nước, doanh nghiệp, NĐT (cổ đông) và người lao động Cụ thể, tổng hợp từ các nghiên cứu trước (Meggionson & ctg, 1994; Dương Đức Chính, 2006; Vũ Văn Sơn, 2009; Dương Đức Tâm, 2016;Nguyễn Thị Xuân Hồng, 2017), quá trình CPH DNNN thực thi hiệu quả

và chất lượng sẽ mang lại những tác động tích cực đến kinh tế, xã hội, như sau:

Trang 25

- Giảm số lượng doanh nghiệp quốc doanh đồng nghĩa với việc giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, từ đó, giảm bớt áp lực cho tăng thu từ thuế Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cán cân ngân sách của nước ta đang trong tình trạng thâm hụt dai dẳng như hiện nay Hơn nữa, nếu cán cân ngân sách thặng dư, nhà nước có thêm nguồn lực để cải thiện thu nhập cho đội ngũ cán bộ công chức ( tăng chi thường xuyên) hoặc dành cho các khoản đầu tư công, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội (tăng chi đầu tư)

- Kết quả của quá trình CPH là sự xuất hiện nhiều hơn các CTCP với quy mô vừa và lớn Theo cơ chế thị trường, cổ phần được lưu chuyển thông qua thị trường vốn

và thị trường chứng khoán, quá trình luân chuyển này sẽ đẩy dòng vốn từ nơi không

có hiệu quả hoặc hiệu quả sử dụng thấp sang nơi có hiệu quả sử dụng vốn cao: “Đối

với doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa tạo ra khả năng phát triển nguồn vốn Nhà nước bằng cách thu hút và tổ chức thêm nhiều nguồn vốn từ xã hội, mở rộng phạm vi chi phối của nguồn vốn Nhà nước” (Tô Huy Rứa, 2007) Qua đó, nguồn lực xã hội

không chỉ huy động được từ nhiều thành phần kinh tế mà còn được sử dụng một cách hiệu quả hơn

- Thông qua cơ chế công khai minh bạch của CTCP, quá trình CPH doanh nghiệp quốc doanh góp phần đẩy lùi tình trạng tham những, trì trệ, lãng phí tại các doanh nghiệp quốc doanh Đây là thực trạng khá phổ biến tại các các doanh nghiệp quốc doanh cũng như cơ quan quản lý bởi cơ chế bao cấp của ngân sách sẽ hạn chế động lực phát triển doanh nghiệp, cơ chế "Xin - Cho" là nguyên nhân của các biểu hiện lãng phí, tiêu cực và tham nhũng

- Quá trình CPH DNNN sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả SXKD, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hậu cổ phần hóa có khả năng cạnh tranh và cạnh tranh công bằng với các loại hình doanh nghiệp khu vực tư Ngoài ra, quá trình CPH giúp doanh nghiệp ra quyết định hiệu quả hơn Qua đó, quá trình này buộc các doanh nghiệp phải phát triển, thúc đẩy người lao động làm việc hăng say và có trách nhiệm,

từ đó góp phần vào việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và SXKD hiệu quả

Trang 26

- Quá trình CPH doanh nghiệp sẽ góp phần phát triển thị trường chứng khoán Nguồn vốn huy động ngày càng nhiều và đa dạng thông qua việc phát hành cổ phiếu

Để huy động vốn hiệu quả qua thị trường này thì các doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả Từ đó, quá trình này thúc đẩy và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hậu CPH cải tiến công nghệ, mở rộng sản xuất, đào tạo tay nghề cho người lao động, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp.”

2.2 Lý thuyết về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

2.2.1 Cở sở lý thuyết

Vì nhiều lý do, thực tế cho thấy doanh nghiệp quốc doanh đã hình thành và tồn tại ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc và các quốc gia Đông Âu (Bai, Lu, & Tao, 2009; Bonin & ctg, 2005; Chen & ctg, 2009; Hung & ctg, 2017; Loc, Lanjouw, & Lensink, 2006; Reza, 1999) Tuy nhiên, lược khảo lý thuyết chỉ ra, phần lớn các lý thuyết đều ủng hộ quá trình CPH bởi nhiều lý do khác nhau

Lý thuyết đại diện và lý thuyết về lựa chọn công chỉ ra sự không hiệu quả của doanh nghiệp quốc doanh Theo lý thuyết đại diện (Agency theory), quá trình cổ phần hóa giúp doanh nghiệp ra quyết định hiệu quả hơn do tăng cường sự liên kết của quyền quyết định (Boycko; Dharwadkar, George, & Brandes, 2000; Jensen & Meckling, 1976; Megginson, Nash, & Van Randenborgh, 1994; Prosser & Graham, 1991; Tan, 2007) Jensen & Meckling (1976) luận giải ban quản trị trong công ty quốc doanh không có động cơ để tìm kiếm cơ hội gia tăng lợi nhuận bởi vì lợi ích của người đại diện và chủ chủ sở hữu đã mâu thuẫn với nhau Cùng với đó, vấn đề về bản chất tính tư lợi của con người cũng như thông tin bất cân xứng lâu dài sẽ dẫn đến các hành vi trục lợi, cơ hội của người đại diện Tương tự, lý thuyết về lựa chọn công (Public choice theory) mà đại diện là Buchanan (1978) và Hartley, Parker, & Martin (1991) nhận định sự thiếu hiệu quả của sở hữu nhà nước xuất phát từ lợi ích chính trị của các quản lý tại các doanh nghiệp quốc doanh Các nhà quản lý mang tính chính trị này theo đuổi mục tiêu chính trị, đôi khi những mục tiêu này lại mâu thuẫn với mục tiêu kinh tế là tối đa hóa lợi nhuận Hay nói theo một cách khác, như Shleifer &

Vishny (1997) nhận định: “sự can thiệp chính trị vào kinh tế có thể làm lệch mục tiêu

Trang 27

và gây trở ngại đến công việc điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản lý”

Ngoài ra, một số học giả chỉ ra can thiệp chính trị là nguyên nhân chính của sự thiếu hiệu quả trong việc quản lý đối với doanh nghiệp quốc doanh (Cook, Kirkpatrick, & Nixson, 1998; Parker & Kirkpatrick, 2005; Tan, 2007) Cook, Kirkpatrick, & Nixson (1998) lý giải các nhà quản lý doanh nghiệp quốc doanh chủ yếu được bổ nhiệm chính trị với cực kỳ ít kinh nghiệm quản lý kinh doanh; nhiều quyết định quản lý quan trọng,

ví dụ như vấn đề việc làm, giao dịch, và định giá tài sản đều có động cơ chính trị Can thiệp chính trị được thể hiện ra ở các khía cạnh như quá tải số lượng nhân viên, đánh giá thấp các chiến lược, mục tiêu dài hạn, qui hoạch không hợp lý và đánh giá tài sản dưới giá trị thị trường, gây tốn kém chi phí và thất thoát tài sản Nhà nước

Trong khi đó, lý thuyết về quyền sở hữu tài sản (Property right theory) tập trung luận giải lợi thế của sở hữu tư nhân so với sở hữu quốc doanh Theo lý thuyết này luận giải, quyền sở hữu tài sản được tập trung vào tư nhân sẽ thúc đẩy động lực doanh nghiệp tìm kiếm, gia tăng lợi nhuận hơn là sự phân tán hay quyền sở hữu không

rõ ràng của việc sở hữu nhà nước (Alchian & Demsetz, 1973; Coase, 1960; Furubotn

& Pejovich, 1972) Theo đó, quá trình cổ phần hóa DNNN, quá trình dịch chuyển quyền sở hữu và quyền chi phối các doanh nghiệp quốc doanh từ nhà nước sang khu nhà đầu tư tư nhân, là biện pháp hiệu quả nhất để nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh

Như vậy, cơ sở lý thuyết chỉ ra, quá trình CPH doanh nghiệp quốc doanh thực

sự cần thiết và đóng vai trò quan trọng đối với nền KTTT Quá trình này giúp doanh nghiệp tăng khả năng ứng biến và thích nghi linh hoạt với KTTT, áp dụng, cải tiến KHCN, chủ động thu hút vốn để phát triển năng lực SXKD, tìm kiếm lợi nhuận Từ

đó, các doanh nghiệp này góp phần hình thành nên động lực phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, thúc đẩy qúa trình quốc tế hóa”(Dương Đức Tâm, 2016) Tuy nhiên, quá trình CPH là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn Để quá trình CPH đạt được mục tiêu mà nó đề ra, việc tìm hiểu và thực thi hiệu quả các bước này là điều cần thiết

và cấp bách

Trang 28

2.2.2 Nội dung cổ phần hóa

Như đã trình bày ở phần trước, quá trình CPH là quá trình gồm nhiều giai đoạn

và phức tạp Để đảm bảo quá trình cổ phần hóa được thực thi hiệu quả, việc tìm hiểu

và thực thi hiệu quả các bước trong quá trình này là điều cần thiết và cấp bách Theo

đó, các văn bản pháp luật hướng dẫn về cổ phần hóa thường xuyên được cập nhật và điều chỉnh theo tình hình thực tế Một cách khái quát, các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện quá trình cổ phần hóa được mô tả dưới đây:

Bảng 1.1: Tổng hợp các văn bản pháp luật hướng dẫn quá trình cổ phần hóa

NGHỊ ĐỊNH VỀ CHUYỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

VÀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ 100% VỐN ĐIỀU LỆ THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN

Nguồn: do tác giả tổng hợp

Trang 29

Tuy nhiên, do nội dung luận văn tập trung vào là các vấn đề phát sinh hậu cổ phần hóa của doanh nghiệp, tác giả chỉ trình bày khái quát các nội dung của quá trình

cổ phần hóa và phương thức tiến hành theo Nghị định 59/2011/NĐ-CP ký ngày 18 tháng 7 năm 2011 và Nghị Định 126/2017/NĐ-CP ký ngày 16 tháng 11 năm 2017 của thủ tướng Chính phủ

 Đối tượng, điều kiện và hình thức cổ phần hóa

a Đối tượng cổ phần hóa:

- Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của TĐKT; TCT Nhà nước (kể cả Ngân hàng Thương mại Nhà nước)

- Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là

DN thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương

- Doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước chưa chuyển thành công ty TNHH một thành viên

b Điều kiện để thực hiện cổ phần hóa:

DNNN muốn CPH, phải đảm bảo cả hai điều kiện sau:”

Không thuộc diện Nhà nước cần nắm

giữ 100% vốn điều lệ Danh mục doanh

nghiệp nhà nước thuộc diện Nhà nước

c Các hình thức CPH:

Trang 30

cổ phiếu để tăng vốn điều

lệ

Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn

bộ vốn Nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ

d Đối tượng và điều kiện mua cổ phần:

tổ chức được phép cung ứng dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật về ngoại hối

Nhà đầu tư chiến lược

là các nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài

có năng lực tài chính Số lượng nhà đầu tư chiến lược mua cổ phần tại mỗi doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa được xác định tối đa là 03 nhà đầu tư

Tuy nhiên, quá trình CPH, chuyển đổi doanh nghiệp quốc doanh sang CTCP là một quá trình phức tạp Hiện nay, các văn bản pháp luật về quá trình CPH doanh nghiệp quốc doanh yêu cầu các doanh nghiệp phải xử lý nhiều vấn đề trong khi thực hiện CPH hóa, cụ thể:

- Thực hiện “lành mạnh hóa” tình hình tài chính (tiến hành xử lý tài chính);

- Xác định giá trị công ty theo giá thị trường;

- Phương thức bán cổ phần lần đầu;

Trang 31

- Quản lý, sử dụng tiền thu từ cổ phần hóa1

2.3 Các vấn đề gây trở ngại trong quá trình cổ phần hóa:

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, quá trình CPH DNNN ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế Một vấn đề đáng lưu ý là để đảm bảo và giảm áp lực về tiến độ thực hiện CPH các DNNN, có thể dẫn đến chất lượng quản trị doanh nghiệp lẫn tính minh bạch đều không được cải thiện Thậm chí, có ý kiến cho rằng, đó chỉ là thay đổi cơ chế huy động vốn chứ chưa phải là cổ phần hóa thực sự; thậm chí có người còn nói CPH như

là “bình mới - rượu cũ” Một cách tổng quát, quá trình cổ phần hóa không đạt được mục tiêu có một số hạn chế chủ yếu sau:

(1) Tiến độ CPH DNNN vẫn còn rất chậm

Cơ chế chính sách về CPH doanh nghiệp hiện hành chưa được hoàn chỉnh Trong thời gian tới, đối tượng thực hiện cổ phần hóa giai đoạn tiếp theo là các TĐKT, TCT Nhà nước, công ty mẹ - con có qui mô vốn lớn, tình hình tài chính phức tạp nên

đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện cổ phần hóa

Việc thực hiện nhiệm vụ của bộ, ngành cơ quan, tổng công ty, địa phương liên quan đến cổ phần hóa các DNNN có qui mô lớn chưa được như mong muốn Hiệu quả của CPH chưa được đánh giá đầy đủ và kịp thời

Các địa phương cũng như các bộ, các ngành chưa thực hiện công khai danh sách và tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp một cách đầy đủ, minh bạch và kịp thời Công tác giám sát, kiểm tra chưa tốt nên không thể kịp thời xử lý các vấn đề nảy sinh, bất cập phát sinh tại doanh nghiệp

Chậm trễ trong cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan hay những “nút thắt” vướng mắc trong chính sách, qui định cũng là những rào cản đối với tiến độ cổ phần hóa

Một số cán bộ chủ chốt tại DN vẫn còn tâm lý chần chừ, e ngại Họ sợ có những bất lợi sau khi CPH như vị trí của mình sẽ ra sao Điều này ảnh hưởng kết quả

cổ phần hóa

(2) Chất lượng CPH chưa đạt như mong muốn

Cổ phần hóa không phải chỉ để chuyển DNNN thành CTCP, kết thúc ở đăng ký

là CTCP, mà là một quá trình bao gồm cả thoái vốn Nhà nước, cải thiện quản trị CTCP Tuy nhiên, về chất lượng CPH chưa đảm bảo yêu cầu Việc chuyển đổi thực sự

từ phương thức quản lý theo cơ chế doanh nghiệp quốc doanh sang CTCP theo KTTT cũng chưa đạt yêu cầu Bởi lẽ, trong quá trình cổ phần hóa DNNN, có DNNN mới chỉ

1

Các nội dung này được trình bày chi tiết trong phụ lục

Trang 32

bán được khoảng vài ba phần trăm cổ phần, như thế chưa thể nói là đã thực sự được CPH

Một trong những khó khăn là do thị trường chứng khoán không thuận lợi Nhu cầu của các nhà đầu tư không tăng Trong khi đó cổ phần hóa với số lượng lớn, cung nhiều hơn cầu, nên không hấp thụ được Công tác chuẩn bị cổ phần hóa chưa tốt, nhất

là về chọn cổ đông chiến lược, chọn được tư vấn, xác định doanh nghiệp, tư vấn xây dựng cổ phần hoá, xây dựng hình ảnh CTCP trong tương lai, tính đúng tính đủ giá trị

nghiệp: “Nếu thông tin mù mờ thì nhà đầu tư không thể yên tâm được”

2.4 Các vấn đề phát sinh sau quá trình cổ phần hóa (hậu cổ phần hóa)

Những phân tích trên cho thấy, mặc dù còn nhiều bất cập song các văn bản pháp luật hướng dẫn về các nội dung của CPH thường xuyên được điều chỉnh, cập nhật nhằm phù hợp hơn với thực tế như phần trên mô tả Tuy nhiên, các vấn đề phát sinh sau quá trình CPH (hậu CPH) dường như chưa được quan tâm đúng mức Thực tế cho thấy, quá trình CPH là một bước ngoặt lớn đối với doanh nghiệp quốc doanh, vốn

đã quen được nhà nước quản lý, sang cơ chế thị trường Theo đó, hàng loạt khó khăn bất cập sau quá trình cổ phần hóa phát sinh Nếu không giải quyết một cách hiệu quả thì doanh nghiệp hậu CPH sẽ khó có thể tồn tại và phát triển bền vững trong nền kinh

tế thị trường Theo đó, dựa trên lược khảo các nghiên cứu trước (Trần Tiến Cường, 2016; Dương Văn Hòa, 2016; Dương Đức Tâm, 2015, 2016) và quy định của luật doanh nghiệp cho thấy, các vấn đề chính phát sinh sau quá trình CPH bao gồm:

2.4.1 Bộ máy tổ chức và phương thức quản trị

Để CPH thật sự là một bước ngoặt cho con đường phát triển của doanh nghiệp,

tự bản thân lãnh đạo doanh nghiệp phải chủ động thay đổi nhận thức Theo đó, ban quản trị tiếp nhận những tư duy mới từ cổ đông bên ngoài, lắng nghe và có trách

Trang 33

nhiệm giải trình công khai minh bạch trước cổ đông Từ đó, CPH mới thực sự trở thành động lực cho doanh nghiệp, góp phần làm giảm gánh nặng của NSNN phải bao cấp, bù lỗ hàng năm, xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp trước khi CPH để lại, chấm dứt khuynh hướng thành lập doanh nghiệp quốc doanh một cách tràn lan, cụ thể:

 Tổ chức bộ máy quản lý của CTCP:

Theo Luật DN quy định, cơ cấu tổ chức trong một CTCP gồm: Đại hội đồng cổ đông(ĐHĐCĐ),Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS) và Ban giám đốc công ty Bộ máy tổ chức quản lý này xác định rõ ràng quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bộ phận trong CTCP để SXKD một cách hiệu quả Một cách khái quát,

cơ cấu tổ chức của một công ty cổ phần được mô tả một cách khái quát theo biểu đồ dưới đây:

Biểu Đồ 1.1:Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần(CTCP)

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN KIỂM SOÁT

PHÒNG CÔNG NGHỆ

PHÒNG

KẾ HOẠCH KINH DOANH

NHÀ MÁY SẢN XUẤT 1

NHÀ MÁY SẢN XUẤT 2

NHÀ MÁY SẢN XUẤT 3

Trang 34

Nguồn: do tác giả tổng hợp

- Đại hội đồng cổ đông: Đây là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của CTCP

Đại hội đồng cổ đông có quyền hạn và nhiệm vụ chính là: phê duyệt định hướng phát triển, thông qua các phương án, nhiệm vụ SXKD; ra quyết định sửa đổi, bổ sung vốn điều lệ của công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, BKS và quyết định tổ chức lại hoặc giải thể CTCP cũng như thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Điều lệ CTCP

- Hội Đồng quản trị: Là tổ chức quản lý cao nhất của CTCP do Đại hội đồng

cổ đông bầu, gồm có: Chủ tịch Hội Đồng quản trị và các thành viên của Hội Đồng quản trị (tối thiểu là 04 thành viên), với nhiệm kỳ là 05 năm Hội Đồng quản trị (HĐQT) quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích và quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ Ngoài ra, Hội Đồng quản trị có trách nhiệm giám sát hoạt động của Giám đốc, phó giám đốc và những cán bộ quản lý khác trong CTCP Quyền và nghĩa vụ của Hội Đồng quản trị do pháp luật, Điều lệ công ty cũng như các nghị quyết mà Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) quy định

- Ban kiểm soát:Do Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) bầu ra, Ban kiểm soát (BKS) có nhiệm kỳ thường là 05 năm BKS hoạt động một cách độc lập với HĐQT cũng như Ban Giám đốc.”BKS có nhiệm vụ kiểm tra tính trung thực, hợp lý, hợp pháp cũng như mức độ rủi ro trong việc quản lý, điều hành hoạt động SXKD, trong tổ chức công tác kế toán, lập BCTC cũng như kiểm toán nhằm mục tiêu đảm bảo các lợi ích hợp pháp của cổ đông

- Ban giám đốc (BGĐ): BGĐ chịu trách nhiệm trước HĐQT đối với việc thực

hiện các quyền và nghĩa vụ được giao BGĐ trực tiếp điều hành, quản trị và đưa ra quyết định về các vấn đề phát sinh trong hoạt động SXKD của công ty

- Các phòng, ban có liên quan, như: Phòng Tiêu thụ; phòng Tổng hợp; phòng

Kỹ thuật; phòng Tài chính- kế toán thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của tổ chức trong CTCP

Cơ cấu tổ chức theo loại hình doanh nghiệp CTCP như trên tạo thêm động lực

và tính năng động cho doanh nghiệp trong SXKD CTCP được quyền tự chủ, tự chịu

Trang 35

trách nhiệm hiệu quả hoạt động của mình, cụ thể là tự chủ trong việc đầu tư phát triển, sắp xếp tổ chức SXKD, phân phối lợi nhuận, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ Ngoài ra,

tổ chức bộ máy theo loại hình CTCP sẽ góp phần tiết kiệm chi phí, đẩy mạnh sản xuất

và tiêu thụ, thực hiện nghiêm túc quy chế tài chính, quy chế lao động, quy chế tuyển dụng, đề bạt cán bộ, xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn, quyền lợi và nghĩa vụ của BLĐ của NLĐ, của NĐT (cổ đông), có cơ chế phân phối rõ ràng, minh bạch…

Có thể nói, việc tổ chức bộ máy quản lý hiệu quả là rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường Một cách khái quát, việc tổ chức bộ máy quản lý của CTCP có thể theo mô hình trực tuyến chức năng hoặc trực tuyến tham mưu tùy thuộc vào yêu cầu quản trị của đơn vị,

từ trình độ của cán bộ quản lý, từ trình độ cơ giới hóa ứng dụng trong quản lý

 Phương thức quản trị doanh nghiệp trong Công ty cổ phần:

Quản trị doanh nghiệp hậu CPH là một nội dung quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty Để thực hiện tốt công tác quản trị doanh nghiệp, đòi hỏi các CTCP phải đi sâu nghiên cứu nội dung của quản trị doanh nghiệp Trong đó, bộ phận Quản trị chiến lược (QTCL); Quản trị tài chính (QTTC) và Quản trị nhân sự (QTNS) là ba lĩnh vực trọng tâm nhất trong quản trị doanh nghiệp, cụ thể:

Công tác quản trị chiến lược: gồm 03 nội dung chính sau:

(1) Hoạch định chiến lược: đây là quá trình định hình nhiệm vụ SXKD, thực hiện điều tra, phân tích nghiên cứu để xác định các nhân tố khuyết điểm nội tại và bên ngoài, đề ra các mục tiêu chiến lược, dài hạn và lựa chọn các kế hoạch thay thế Giai đoạn này bao gồm các hoạt động cụ thể như: Nghiên cứu; hợp nhất trực giác và phân tích để từ đó đưa ra các quyết định quản trị phù hợp

(2) Thực thi chiến lược: Là việc biến những chiến lược được hoạch định thành hành động cụ thể

(3) Đánh giá chiến lược: Là việc phân tích lại những nhân tố nội tại và bên ngoài doanh nghiệp được sử dụng làm nền tảng cho các hoạch định chiến lược, kế hoạch SXKD hiện tại, đánh giá mức độ thực hiện cũng như điều chỉnh những sửa đổi nếu cần thiết

Trang 36

Như vậy, để giúp cho doanh nghiệp có một chiến lược kinh doanh tốt, người làm công tác quản trị trước hết phải xác định nguồn lực hiện có trong doanh nghiệp, từ

đó xác định mục tiêu theo nguồn lực hiện có và lựa chọn phương pháp thích hợp để thực hiện mục tiêu đã đề ra, có như vậy chiến lược đề ra mới đạt hiệu quả cao

Công tác quản trị tài chính: Để thực hiện tốt công tác quản trị tài chính,

các doanh nghiệp hậu cổ phần hóa cần làm tốt các vấn đề sau:

“(1) Tham gia đánh giá, lựa chọn các dự án đầu tư và kế hoạch kinh doanh (2) Xác định nhu cầu vốn, lựa chọn cách thức và tổ chức huy động vốn để tài trợ cho các dự án, hoạt động của CTCP

(3) Tổ chức sử dụng vốn hiệu quả, kiểm soát các khoản thu, chi nhằm đảm bảo tính thanh khoản của CTCP

(4) Thực hiện tốt việc phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các quỹ của CTCP

(5) Kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với hoạt động của CTCP và thực hiện thường xuyên các phân tích tài chính.”

Công tác quản trị Nhân sự:“Quản trị nhân sự (QTNS) quá trình tuyển dụng, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực cần được phân bố một cách có hiệu quả, khoa học Ngoài ra, công ty cần có cơ chế đánh giá và chế độ đãi ngộ nhân sự hợp lý để kích thích người lao động không ngừng nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh doanh, thực hiện tốt mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra Quản trị nhân sự tốt sẽ giúp cho các CTCP có một cơ cấu lao động hợp lý, tiết kiệm được chi phí lao động sống trong giá thành sản phẩm, góp phần tăng tích lũy cho doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân.”

2.4.2 Bất động sản và các tài sản khác

Doanh nghiệp quốc doanh đang CPH có thể được lựa chọn những hình thức như giao đất hay thuê đất theo quy định của luật đất đai Khi còn là doanh nghệp quốc doanh, BĐS cùng với quyền sở hữu các tài sản khác đều chịu sự chi phối của CQNN, quyền hoạch định kinh doanh, quyền định đoạt vốn và tài sản trong doanh nghiệp quốc doanh luôn gắn chặt với quyền của người chủ sở hữu duy nhất là nhà nước Tuy

Trang 37

nhiên, khi CPH, nhà nước chỉ là một chủ sở hữu dựa trên số cổ phần nhà nước nắm giữ

Theo đó, việc xác định ranh giới rõ ràng giữa quyền hạn, trách nhiệm của NN với tư cách là chủ sở hữu với quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp quốc doanh đối với việc quản lý vốn, tài sản trong doanh nghiệp CPH đang là vấn đề hết sức phức tạp

và có nhiều ý kiến khác nhau Vấn đề đặt ra là quyền tự chủ về tài chính của DN CPH, trong đó có việc định đoạt tài sản được thực hiện đến đâu? như thế nào? Máy móc, Thiết bị, Nhà xưởng nào là quan trọng? Đây là vấn đề hết sức phức tạp và còn có sự chồng chéo trong việc thực hiện quyền của chủ sỡ hữu là nhà nước với tư cách là người góp vốn đối với việc quản lý vốn, tài sản trong doanh nghiệp

2.4.3 Khả năng vay các khoản nợ phải trả

Theo quyết định của Thống đốc NHNN về việc “ban hành quy chế cho vay của

tổ chức tín dụng đối với khách hàng” thì DNNN sau khi CPH cũng chỉ là một CTCP

thông thường, có tư cách pháp nhân được quyền vay vốn của các tổ chức tín dụng Vì vậy, DNNN sau khi CPH sẽ phải cạnh tranh công bằng với các CTCP tư nhân khác trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng mà không có sự ưu tiên nào

Về các khoản nợ phải trả đối với nhà nước, khi còn là doanh nghiệp quốc doanh, các khoản nợ phải trả đối với nhà nước thường được Nhà nước bảo hộ, được Nhà nước cấp bổ sung vốn khi thiếu vốn, khi doanh nghiệp nhà nước không có khả năng thanh toán, thì Nhà nước có thể cho phép xóa nợ Nhưng khi chuyển sang CTCP, những doanh nghiệp phải có trách nhiệm với các khỏan nợ phải trả này nên áp lực phải sử dụng đồng vốn hiệu quả trong giai đoạn đầu chuyển đổi đối với BGĐ là rất lớn

2.4.4 Chính sách giải quyết đối với lao động dôi dư

Các doanh nghiệp quốc doanh hậu cổ phần hóa phải kế thừa một số lượng NLĐ dôi dư đáng kể từ doanh nghiệp cũ chuyển sang Số lao động dôi dư này phần lớn là lao động có tay nghề thấp, lao động phổ thông và lao động lớn tuổi Đây là những lao động không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp do phải làm quen với công nghệ mới, do cơ cấu lại lao động, do thay đổi nhiệm vụ chính trị của doanh nghiệp sau cổ

Trang 38

phần hóa Sự gia tăng số lượng lao động dôi dư sau cổ phần hóa chính là trợ lực lớn đối với sự phát triển của doanh nghiệp, làm tăng thêm các khoản chi, như: chi để đào tạo lại cho những lao động có trình độ thấp hoặc trình độ chuyên môn không phù hợp, chi để đào tạo mới số lao động phổ thông, tăng lương cho những lao động có trình độ chuyên môn cao, để từ đó giữ chân và khuyến khích NLĐ tích cực cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển của doanh nghiệp Giải quyết chế độ, chính sách một cách thỏa đáng cho số lao động mà doanh nghiệp không thể bố trí, sắp xếp công việc cho họ được

2.4.5 Cải tiến công nghệ

Công nghệ có vai trò hết sức quan trọng, quyết định đến năng suất, chất lượng

và hiệu quả hoạt động của CTCP Công nghệ là nhân tố đóng vai trò quyết định trong việc nắm bắt những cơ hội phát triển mới của thời đại, rút ngắn khoảng cách về khoa học công nghệ giữa các quốc gia, từ đó, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế khu vực

và kinh tế toàn cầu Sự phát triển, tiến bộ của khoa học công nghệ cũng thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các CTCP và các Quốc gia trở lên khốc liệt và có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín cũng như vị thế của CTCP trên thương trường

2.4.6 Trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát

Công khai và minh bạch thông tin trong xã hội nói chung và trong các công ty SXKD nói riêng, được xác định là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất, giúp cho người dân nắm được thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động của các tổ chức Công quyền trong xã hội cũng như hoạt động SXKD, tình hình tài chính của các

DN, các tổ chức kinh tế, làm rút ngắn khoảng cách giữa người lao động với DN

Công khai, minh bạch thông tin đồng thời là biện pháp hữu hiệu nhằm phòng ngừa các hành vi sai trái, các biểu hiện tiêu cực làm suy giảm hoạt động của DN Ngoài ra công khai, minh bạch thông tin còn là kênh thông tin quan trọng đảm bảo và tăng cường sự giám sát của xã hội đối với các cơ quan công quyền của Nhà nước cũng như hoạt động SXKD, hoạt động tài chính, tương lai phát triển của DN, của các tổ chức kinh tế trong xã hội Qua đó có thể thấy rằng công khai, minh bạch thông tin sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho người lao động trong DN, giúp họ tin tưởng, gắn bó lâu dài với DN, từ đó họ có thể cống hiến hết mình cho sự phát triển của DN

Trang 39

Tùy thuộc vào mục đích, nội dung và phạm vi thực hiện công khai mà doanh nghiệp sẽ xác định hình thức công khai Đối với các DN sau cổ phần hóa thì các lĩnh vực cần công khai, như: mua sắm và quản lý vật tư; Công tác xây dựng cơ bản; Công tác tuyển dụng; Giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động; Tình hình đề bạt cán bộ; Công khai các báo cáo tài chính; Tình hình thanh toán; Các khoản nộp ngân sách; Thu nhập của người lao động; Tỷ lệ cổ tức; Khả năng sinh lợi; Hiệu quả kinh doanh Đây là những thông tin cơ bản để người lao động trong DN cũng như những người có quan tâm biết được hiệu quả hoạt động của DN, tình hình và khả năng tài chính cũng như xu thế phát triển của DN trước mắt cũng như trong tương lai, để từ đó giúp cho người lao động yên tâm, gắn bó lâu dài với DN, đồng thời giúp cho các đối tượng ngoài DN có quyết định đúng đắn trong việc đầu tư, góp vốn hoặc có quan hệ giao dịch với DN

2.5 Tổng quan nghiên cứu về cổ phần hóa và giải quyết các vấn đề hậu cổ phần phần hóa

Tổng quan các nghiên cứu trước cho thấy đã có nhiều nghiên cứu về quá trình

cổ phần hóa tại nhiều trường hợp nghiên cứu khác nhau Trong đó, đa phần các nghiên cứu tập trung vào các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi như Nga và các quốc gia Đông Âu (Bonin & ctg, 2005; Brown, Earle, & Telegdy, 2006; Parker & Kirkpatrick, 2005; Sachs, 1992), Trung Quốc (Bai, Lu, & Tao, 2009; Guo & Yao, 2005; Jefferson & Su, 2006) và Việt Nam (Phạm Ngọc Linh, 2009;Lê Chi Mai, 2001;Lê Minh Thông, 2009; Đinh Văn Sơn, 2009; Đoàn Thị Thu Hà & Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2010; Đoàn Hồng Lê, 2010; Đặng Đức Thành, 2011; Đinh Thị Nga, 2011; Nguyễn Hữu Xuyên,2012; Nguyễn Thị Thúy Hồng, 2014; Nguyễn Phạm Duy Nghĩa & Dương Kim Thế Nguyên, 2014, Dương Văn Hóa, 2016; Dương Đức Tâm,

2016, Phan Thị Thùy Linh,2017)

Vì nhiều lý do, quá trình cổ phần hóa ở các quốc gia có nhiều khác biệt, vì vậy, các nghiên cứu thường tập trung phân tích quá trình cổ phần hóa ở từng quốc gia cụ thể Lược khảo các nghiên cứu về quá trình cổ phần hóa tại Việt Nam cho thấy, các công trình nghiên cứu có nhiều khác biệt song tựu chung lại có thể phân loại thành hai hướng nghiên cứu chính

Trang 40

Thứ nhất, một số công trình ngiên cứu hướng đến tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về vai trò cũng như tác động của cổ phần hóa đến các yếu tố kinh tế vĩ mô hoặc hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hậu cổ phần hóa (Hung & ctg, 2017; Loc, Lanjouw, & Lensink, 2006; Vixathep & Matsunaga, 2012) Do hướng đến phân tích thực nghiệm, phạm vi nghiên cứu của các nghiên cứu này thường ở phạm vi toàn quốc hoặc một ngành sản xuất kinh doanh Đa phần các nghiên cứu theo hướng này ủng hộ

sự vượt trội về hiệu quả kinh tế của cổ phần hóa (sở hữu tư nhân so với sở hữu nhà nước), tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa chú trọng phân tích các hạn chế từ nội tại của quá trình cổ phần hóa ở từng trường hợp nghiên cứu Hay nói cách khác, mặc dù các nghiên cứu này khắc họa được bức tranh tổng quát về vai trò, tác động của cổ phần hóa đến nền kinh tế cũng như hiệu quả của doanh nghiệp nhưng lại chưa chú trọng phân tích và đưa ra các giải pháp cụ thể cho các vấn đề của quá trình cổ phần hóa hiện nay ở Việt Nam

Thứ hai, một số nghiên cứu hướng đến phân tích các vấn đề và đề xuất giải pháp cho quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam (Phạm Ngọc Linh, 2009;Lê Chi Mai, 200;Lê Minh Thông,2009;Đinh Văn Sơn,2009; Đoàn Thị Thu Hà &Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2010; Đoàn Hồng Lê, 2010; Đặng Đức Thành, 2011; Đinh Thị Nga, 2011; Nguyễn Hữu Xuyên, 2012;Phạm Duy Nghĩa &Dương Kim Thế Nguyên, 2014; Nguyễn Thị Thúy Hồng, 2014) Ở các góc nhìn khác nhau, các tác giả thực hiện phân tích và đề xuất các khuyến nghị nhằm giúp quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam được thực hiện hiệu quả hơn

Tuy nhiên, các vấn đề phát sinh sau quá trình cổ phần hóa (hậu cổ phần hóa) dường như chưa được chú trọng phân tích Theo đó, trong những năm gần đây, đã có một số nghiên cứu tập trung phân tích các vấn đề phát sinh sau quá trình cổ phần hóa tại các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa tại Việt Nam Thực sự, quá trình cổ phần hóa là một bước ngoặt lớn đối với các doanh nghiệp thực hiện quá trình này Doanh nghiệp bắt buộc phải thay đổi từ tư duy đến phương quản trị kinh doanh khi chuyển từ

cơ chế bao cấp của sở hữu nhà nước sang cơ chế thị trường Vì vậy, việc nghiên cứu

và giải quyết các vấn đề hậu cổ phần hóa là rất cần thiết và cấp bách Tuy vậy, các nghiên cứu này thường ở phạm vi quốc gia hoặc tập trung vào một ngành sản xuất

Ngày đăng: 08/11/2019, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w