1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện phương pháp định giá doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa ở việt nam

89 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 667,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 đô 1v.v… Qua đó, cho thấy một trong những nguyên nhân nổi bật của sự thất thoát tài sản của Nhà nước khi cổ phần hóa là vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp mà cụ thể là việc ứng dụng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN THỊ TRANG THANH

HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP

ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Mã số : 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2008

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 4

1.1.Doanh nghiệp Nhà nước 4

1.2.Cổ phần hóa DNNN 7

1.3.Giá trị doanh nghiệp 9

1.4.Phương pháp định giá doanh nghiệp 13

1.5.Vai trò định giá trong quá trình cổ phần hóa 17

1.6.Phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình 18

1.7.Bài học kinh nghiệm định giá DNNN ở các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 27

2.1.Thực trạng cải cách khu vực kinh tế Nhà nước 27

2.2.Thực trạng định giá DNNN trong quá trình CPH ở Việt Nam 38

2.3.Đánh giá việc vận dụng các phương pháp định giá DNNN trong quá trình CPH ở Việt Nam 57

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM 61

3.1.Định hướng cải cách DNNN đến năm 2020 61

3.2.Các giải pháp hoàn thiện phương pháp định giá DNNN 62

3.3.Các giải pháp hỗ trợ 76

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1:Tỷ trọng đóng góp của DNNN vào GDP ở các nước

Bảng 1.2:Bảng so sánh tỷ số P/E của một số công ty trong ngành SXKD phần mềm Bảng 1.3:Bảng so sánh tỷ số P/E của một số công ty trong ngành SXKD phần mềm Bảng 2.1:Tình hình cổ phần hóa của các DNNN

Bảng 2.2:Tình hình xác định giá trị vốn Nhà nước theo sổ sách kế toán

Bảng 2.3:Tình hình xác định lợi nhuận sau thuế

Bảng 2.4:Tình hình xác định giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp

Bảng 2.5:Tình hình nợ phải thu khó đòi

Bảng 3.1:Số liệu xác định giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp theo Thông tư

và theo cách tính của tác giả

Trang 4

EBIT : Thu nhập trước thuế và lãi vay

SXKD : Sản xuất kinh doanh

SCIC : Tổng công ty đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước WTO : Tổ chức thương mại thế giới

Trang 5

CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC KHI NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

I.ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP TÀI SẢN

1) Hoàn thiện công thức tính toán giá trị lợi thế kinh doanh theo phương pháp xác định theo tỷ suất lợi nhuận và lãi suất trái phiếu Chính phủ và theo phương pháp xác định trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý và giá trị thương hiệu;

2) Xây dựng phương pháp tính toán giá trị thương hiệu của doanh nghiệp;

3) Xây dựng công thức tính toán giá trị uy tín của doanh nghiệp;

II.ĐỐI VỚI PHƯƠNG PHÁP DÒNG TIÈN CHIẾT KHẤU

1) Hoàn thiện công thức tính toán dòng tiền thuần của doanh nghiệp;

2) Hoàn thiện công thức tính toán tỷ lệ chiết khấu của doanh nghiệp;

3) Hoàn thiện công thức tính toán giá trị thực tế của doanh nghiệp;

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Cổ phần hóa DNNN được coi là giải pháp quan trọng nhằm tạo sự chuyển biến

cơ bản trong việc thay đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN Trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 có nêu rõ:

“Triển khai tích cực, vững chắc cổ phần hóa DNNN nhằm huy động thêm vốn, tạo động lực mới thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản Nhà nước ngày càng tăng lên…” Và mỗi năm cả nước có hàng trăm DNNN tiến hành CPH Tuy nhiên, cổ phần hóa DNNN trên thực tế thực hiện vẫn còn lúng túng Việc xác định giá trị tài sản của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế và sai sót, mặc dù trong thời gian qua Nhà nước và các ban ngành có liên quan liên tục nghiên cứu, xây dựng và đưa ra các phương pháp định giá cho doanh nghiệp sao cho phù hợp trong thực tiễn Tuy nhiên, việc làm được cũng chỉ là phương pháp định giá doanh nghiệp

ra sau hoàn thiện hơn phương pháp trước đó và cũng vẫn còn mang nhiều bất cập

Và giá trị doanh nghiệp vẫn chưa được tính đúng, tính đủ, nhất là trong giai đoạn chưa đấu giá, niêm yết cổ phiếu doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán, thông qua việc chưa tính đủ giá trị thương hiệu, giá trị lợi thế kinh doanh, giá trị quyền sử dụng đất, chưa tính đến giá trị của uy tín, chất lượng nguồn nhân lực, lòng trung thành của khách hàng hay giá trị của bằng phát minh, sáng chế Vì vậy, quá trình

cổ phần hóa trong thời gian vừa qua đã làm thất thoát không nhỏ tài sản của Nhà nước, phát sinh nhiều tiêu cực và làm lợi cho một số cá nhân, tổ chức có liên quan

Có thể dẫn chứng vụ định giá khách sạn Tràng Tiền (Hà Nội) khi tiến hành cổ phần hóa Tọa lạc ở số 35 phố Tràng Tiền, với vị trí “trung tâm của trung tâm thủ đô”, sát

hồ Hoàn Kiếm, ít ai biết rằng khi tiến hành cổ phần hóa khách sạn này được định giá chỉ 4 tỷ đồng, đó là chưa kể đến giá trị thương hiệu Hay vụ khách sạn Phú Gia, cũng nằm ở vị trí đẹp, có truyền thống kinh doanh nhưng cũng chỉ được định giá 3,5 tỷ đồng, mức giá chỉ bằng một căn biệt thự thường thường bậc trung ở ven

Trang 7

2

đô 1v.v… Qua đó, cho thấy một trong những nguyên nhân nổi bật của sự thất thoát tài sản của Nhà nước khi cổ phần hóa là vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp mà cụ thể là việc ứng dụng phương pháp định giá tài sản Trong đó không thể không kể đến việc một số tổ chức định giá vì lý do khách quan hay chủ quan vẫn chưa nhận thức được vai trò của tài sản vô hình nên bỏ qua định giá tài sản vô hình hay định giá tài sản vô hình không đúng với giá trị thực của nó đã góp phần làm cho chính các doanh nghiệp nói chung và Nhà nước nói riêng bị thiệt hại Vì thế, trong khuôn

khổ nghiên cứu của mình tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện phương pháp định giá DNNN trong quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam” nhằm tìm ra các sai sót hiện có

và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các phương pháp định giá cho doanh nghiệp

2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

¨ Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa

¨ Vì đề tài định giá doanh nghiệp là một đề tài rộng nên luận văn chỉ nghiên cứu những phương pháp định giá DNNN trong cổ phần hóa ở Việt Nam hiện nay

3.Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng là kim chỉ nam trong suốt quá trình nghiên cứu và trình bày của đề tài

4.Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

¨ Hệ thống lại các phương pháp định giá DNNN ở Việt Nam hiện nay

¨ Đánh giá thực trạng và phân tích các ưu, nhược điểm của các phương pháp định giá doanh nghiệp trong quá trình CPH ở Việt Nam hiện nay Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện công tác định giá DNNN trong quá trình CPH ở Việt Nam

5.Kết cấu luận văn

¨ Chương 1: Lý luận tổng quan về DNNN và định giá DNNN

1 Theo Báo điện tử “Tin tức tìm nhanh” ngày 19/6/2007 [30]

Trang 9

4

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ

ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1.Doanh nghiệp Nhà nước

1.1.1.Khái niệm DNNN

a) Khái niệm DNNN theo một số nước trên thế giới

Ở Anh, để trở thành DNNN cần hội đủ 3 điều kiện đó là: Hội đồng quản trị doanh nghiệp do Chính phủ bổ nhiệm, Ủy ban quốc hữu hóa công nghiệp chịu trách nhiệm kiểm tra tài khoản kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập của doanh nghiệp phần lớn không dựa vào cung cấp của Quốc hội hoặc của các cơ quan tài chính Nhà nước

Ở Pháp, DNNN được xác định là các doanh nghiệp do Nhà nước nắm trên 50%

số vốn, có địa vị pháp lý độc lập và hoạt động kinh doanh độc lập

Ở Thụy Điển, Phần Lan, Braxin, Mêhicô… nói chung đều cho rằng doanh nghiệp mà trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn là DNNN

Theo Liên Hiệp Quốc: DNNN là các Xí nghiệp quốc doanh và các xí nghiệp này do Nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần vốn sở hữu Nhà nước kiểm soát tới một mức độ nhất định trong quá trình hoạt động và điều hành của xí nghiệp

Tóm lại, theo một số quốc gia trên thế giới, cơ sở để nhận định một doanh nghiệp có phải là DNNN hay không thì căn cứ vào tỷ trọng vốn đóng góp của Nhà nước trong tổng vốn chủ sở hữu và có những đặc điểm pháp lý chung như sau:

¨ Nhà nước sở hữu toàn bộ hay một phần vốn của doanh nghiệp

¨ Nhà nước có khả năng chi phối đến các hoạt động của doanh nghiệp

¨ Thường tồn tại và chi phối đến những lĩnh vực, ngành nghề trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh và cung cấp các dịch vụ quan trọng của nền kinh tế

¨ Hoặc hoạt động trong những lĩnh vực ít lợi nhuận, sự tham gia của DNNN có tính chất mở đường và thúc đẩy các doanh nghiệp khác phát triển (mang tính chất định hướng cho nền kinh tế)

Trang 10

5

Hầu hết ở các quốc gia trên thế giới đều có sự hiện diện của DNNN trong nền

kinh tế, và chính phủ các nước này đều sử dụng DNNN như một công cụ để điều

tiết nền kinh tế nhằm thực hiện một số chiến lược kinh tế vĩ mô Các nước càng có

nền kinh tế thị trường phát triển thì tỷ trọng đóng góp của DNNN vào GDP của nền

kinh tế càng thấp

Bảng 1.1:Tỷ trọng đóng góp của DNNN vào GDP ở các nước

Nguồn: Thư viện Bài Giảng Điện tử, Bộ Giáo dục và Đào tạo

b) Khái niệm DNNN theo Việt Nam

Tại Việt Nam, DNNN ra đời khá sớm và có vai trò rất quan trọng trong công

cuộc kháng chiến cứu nước cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển đất

nước ngày nay Có thể khái quát quá trình hình thành và phát triển của DNNN tại

Việt Nam qua các giai đoạn sau đây:

¨ Ngay sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời, ngày 01/01/1948, Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 104/SL về Doanh nghiệp quốc gia

Trong đó, Điều 2 của Sắc lệnh ghi rõ: “Doanh nghiệp quốc gia là doanh nghiệp

thuộc quyền sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển”

Trang 11

6

¨ Sau đó, khái niệm trên tiếp tục được kế thừa và phát triển tại Luật DNNN năm

1995 Cụ thể tại Điều 1 của Luật này quy định:

ƒ DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản

lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao

ƒ DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý

¨ Theo Điều 1 của Luật DNNN số 14/2003/QH11 ngày 26/11/2003 thì DNNN được định nghĩa như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”

¨ Tại khoản 22 điều 4 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 quy định: “DNNN là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”

c) Khái niệm DNNN theo tác giả

Qua các định nghĩa trên, tác giả xin đưa ra định nghĩa DNNN như sau: DNNN

là doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ, thành lập và tổ chức quản

lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nước giao Như vậy, tác giả có thể đưa ra các đặc điểm của DNNN như sau:

¨ Do Nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ

¨ Là tổ chức kinh tế do Nhà nước trực tiếp thành lập

¨ Do Nhà nước trực tiếp quản lý

¨ Là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân

¨ Thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước giao phó

1.1.2.Phân loại DNNN

¨ Căn cứ vào tỷ lệ vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp gồm có: Tập đoàn, Tổng Công ty/Công ty Nhà nước, Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH có hai thành viên trở lên, Doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần, vốn góp chi phối

Trang 12

1.1.3.Vai trò của DNNN trong nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, phạm vi hoạt động, lĩnh vực hoạt động của DNNN sẽ thu hẹp lại nhưng nó vẫn giữ vai trò chủ đạo bởi DNNN ra đời và phát triển nhằm mục đích sửa chữa những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường và bù đắp những thiếu hụt của thành phần kinh tế tư nhân.Vì thế nó vẫn sẽ được tồn tại và phát triển ở những ngành, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế để đủ sức thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô, can thiệp vào thị trường khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, thể hiện:

¨ DNNN giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội quan trọng, đi đầu trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhằm tạo động lực phát triển nhanh từ

đó thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, tích lũy cho xã hội và mở rộng sản xuất

¨ DNNN được duy trì và phát triển ở những ngành, những lĩnh vực kinh doanh đem lại ít lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận để đảm bảo nhu cầu chung của nền kinh tế, đảm bảo lợi ích công cộng Nhà nước còn phải đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn mà các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư Do đó cho thấy DNNN có vai trò rất quan trọng, vì thế việc đánh giá vai trò của DNNN không thể chỉ dựa vào lời lỗ trước mắt mà phải tính đến hiệu quả kinh tế lâu dài

1.2.Cổ phần hóa DNNN

Cổ phần hóa DNNN là việc bán một phần hoặc toàn bộ giá trị phần vốn Nhà nước tại những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn cho các đối tượng cổ đông là các thành phần kinh tế khác nhau

1.2.1.Mục tiêu cổ phần hóa DNNN

Cổ phần hóa là một biện pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của DNNN, nhưng không phải là tư nhân hóa, mục tiêu của cổ phần hóa là:

Trang 13

8

¨ Cổ phần hóa DNNN trước hết nhằm huy động vốn cho doanh nghiệp Huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, đặc biệt là vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

¨ Cơ cấu lại DNNN, giảm các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, các doanh nghiệp hoạt động ở các lĩnh vực không nhất thiết phải có Nhà nước tham gia, từ đó tập trung vốn Nhà nước vào các lĩnh vực then chốt, bảo đảm kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế

¨ Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh

tế khu vực và quốc tế, tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp

¨ Bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước, tăng thu cho ngân sách Nhà nước

1.2.2.Tác động của cổ phần hóa DNNN đến nền kinh tế

¨ Thứ nhất, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển thông qua việc không ngừng gia tăng hàng hóa có chất lượng cho thị trường bằng việc thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn và đạt hiệu quả kinh doanh cao Từ đó, từng bước đưa thị trường vốn trở thành một cấu thành quan trọng của thị trường tài chính, góp phần đắc lực trong việc huy động vốn cho đầu tư phát triển và cải cách nền kinh tế

¨ Thứ hai, tập trung huy động mọi nguồn vốn trong nền kinh tế, nhằm thực hiện các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp cổ phần hóa nói riêng và của nền kinh tế nói chung

¨ Thứ ba, tập trung vốn và quản lý vốn Nhà nước có hiệu quả hơn thông qua đầu tư vào các lĩnh vực, ngành nghề và địa bàn phù hợp với các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước

¨ Thứ tư, gia tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc gia nói riêng và thương mại toàn cầu nói chung

¨ Thứ năm, nâng cao tính chủ động sáng tạo và phát huy vai trò làm chủ của người lao động trong doanh nghiệp, vì khi đó người lao động không đơn thuần là người làm công ăn lương mà lúc đó họ đã trở thành một trong số những người chủ của

Trang 14

9

doanh nghiệp Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả lao động và hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp

1.3.Giá trị doanh nghiệp

1.3.1.Khái niệm giá trị doanh nghiệp và các yếu tố cấu thành giá trị doanh nghiệp

a) Khái niệm giá trị doanh nghiệp

Giá trị doanh nghiệp là sự biểu hiện bằng tiền tại một thời điểm nhất định về các khoản thu nhập mà doanh nghiệp có thể mang lại cho các nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh Giá trị doanh nghiệp bao gồm cả giá trị hữu hình và giá trị vô hình

b) Các yếu tố cấu thành giá trị doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp cũng là hàng hóa Cũng như mọi hàng hóa khác, giá trị của doanh nghiệp bao gồm: giá trị hữu hình và giá trị vô hình, được thể hiện qua giá trị của những tài sản hữu hình và tài sản vô hình:

¨ Tài sản hữu hình là những tài sản mang thuộc tính vật chất, là một vật hữu hình

có thể nhìn thấy hay sờ thấy được như đất đai, nhà cửa, máy móc, dụng cụ, thiết bị…

¨ Tài sản vô hình là những tài sản tự biểu lộ thông qua những đặc điểm kinh tế của chúng Những tài sản này không có hình thái vật chất, tạo ra những quyền và ưu thế cho người sở hữu và mang lại lợi ích kinh tế cho người sở hữu tài sản đó Vì không

có hình thái vật chất nào cả, nên nó không thể dễ dàng chuyển hóa thành tiền mặt (ví dụ: sự tín nhiệm của khách hàng, các mối quan hệ của doanh nghiệp, các hợp đồng lợi thế, các sản phẩm trí tuệ - bao gồm chứng chỉ về phát minh sáng chế, các bản quyền tác giả, các nhãn hiệu thương mại…) Ngày nay, vai trò của các tài sản

vô hình càng trở nên quan trọng và nó đang trở thành yếu tố quyết định giá trị doanh nghiệp

1.3.2.Các yếu tố tác động lên giá trị doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế quốc dân, vì thế giá trị doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều yếu tố Cụ thể:

Trang 15

10

¨ Thứ nhất, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Khi định giá giá trị tài sản để đầu

tư, thực chất nhà đầu tư không mua tài sản đó mà muốn sở hữu dòng thu nhập do tài sản đó mang lại cho họ trong tương lai Do đó, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

là mối quan tâm hàng đầu của nhà đầu tư khi mua doanh nghiệp

¨ Thứ hai, xu thế của lợi nhuận Kết quả trong quá khứ của doanh nghiệp chỉ là cơ

sở để xem xét, không phải là yếu tố có tính quyết định Khi nhà đầu tư quyết định mua doanh nghiệp có nghĩa là họ chấp nhận đánh đổi một lượng của cải chắc chắn của họ đang có để có cơ hội sở hữu một dòng của cải mà khả năng doanh nghiệp có thể tạo ra trong tương lai Điều đó có nghĩa là hoạt động đầu tư có rủi ro Như vậy điều gì đã hấp dẫn họ? đó chính là xu thế tăng trưởng lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra trong tương lai có thể cao hơn mức mà họ đang kiếm được tương ứng với mức độ rủi ro đã được nhận dạng

¨ Thứ ba, sự lành mạnh của tình hình tài chính Một doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh sẽ làm giảm rủi ro của đồng vốn đầu tư, hay nói cách khác các nhà đầu tư đánh giá cao các cơ hội đầu tư tương đối an toàn Những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính yếu sẽ khó tìm được người mua hoặc phải bán với giá thấp Nhà đầu tư trả giá thấp để có thể đạt được một tỉ suất lợi nhuận cao bù đắp cho mức rủi

ro mà họ có thể phải gánh chịu

¨ Thứ tư, hiện trạng của tài sản hữu hình Tài sản hữu hình là những trang thiết bị

cũ hay mới, trình độ công nghệ như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ trong tương lai, đồng thời cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của chúng trên thị trường về mặt chi phí sản xuất và chất lượng Điều này sẽ quyết định thị phần của doanh nghiệp, và trực tiếp ảnh hưởng đến dòng doanh thu và lợi nhuận mong đợi sẽ kiếm được trong tương lai Nếu hàng tồn kho không phù hợp với hướng hoạt động mới thì chi phí giải quyết hàng tồn kho sẽ làm tăng chi phí hoạt động hay làm giảm giá trị doanh nghiệp

¨ Thứ năm, tài sản vô hình Các mối quan hệ hợp tác, các nguồn lực và đặc quyền kinh doanh, hợp đồng thuê bao, bằng phát minh sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu hàng hóa, là những yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Các

Trang 16

11

công ty danh tiếng sẽ dễ dàng thành công khi tung một sản phẩm mới ra thị trường Một sản phẩm mang nhãn hiệu có uy tín bao giờ giá cả cũng cao hơn những sản phẩm cùng loại khác của các công ty vô danh

¨ Thứ sáu, yếu tố nhân sự cũng được kể đến khi định giá doanh nghiệp Trong thời đại ngày nay, mọi thứ đều cơ bản được quyết định bởi năng lực hoạt động của con người Doanh nghiệp có thể nhanh chóng đạt được trình độ công nghệ như đối thủ, tuy nhiên để có được một đội ngũ lao động giỏi, nhiệt tình, có thái độ đúng đắn trong lao động, đòi hỏi doanh nghiệp phải có một chính sách nhân sự phù hợp, phải xây dựng được văn hóa tổ chức đặc trưng cần thiết mà điều đó không thể thực hiện trong một thời gian ngắn Do đó vấn đề con người trong lao động sản xuất và hoạt động quản lý cực kỳ quan trọng, quyết định lợi thế nhiều mặt của doanh nghiệp Yếu tố này được quan tâm khi định giá là lẽ tất nhiên, vì nó quyết định năng suất lao động, một yếu tố chi phí của đầu vào, đồng thời nó cũng quyết định đến quá trình đổi mới công nghệ và hoàn thiện sản phẩm cũng như khả năng thích ứng của doanh nghiệp đối với sự thay đổi của môi trường kinh doanh

1.3.3.Các loại giá trị doanh nghiệp

1.3.3.1.Giá trị kiểm kê

¨ Giá trị kiểm kê là giá trị của tất cả các tài sản của doanh nghiệp sau khi đã loại trừ các giá trị các khoản nợ Giá trị kiểm kê được xác định thông qua việc kiểm kê, đánh giá lại tất cả các thành phần của tài sản, kể cả tài sản cố định và tài sản lưu động

¨ Khi thanh lý doanh nghiệp, giá trị kiểm kê phải dựa trên cơ sở những giá trị bị phân tán Đó là cách duy nhất có thể thực hiện để phục vụ cho việc phát mãi tài sản

và thanh toán nợ Trong trường hợp đặc biệt, giá trị có thể bị giảm bớt vì doanh nghiệp với tư cách là một cấu trúc đã bị phá vỡ, giá trị các tài sản phân tán sẽ lệ thuộc vào việc bán đấu giá

¨ Đối với doanh nghiệp còn tiếp tục hoạt động, giá trị kiểm kê hiện hữu như là một

bộ phận của giá trị tổng thể Đó là giá trị tài sản thuần đã được đánh giá lại

Trang 17

12

1.3.3.2.Giá trị tài chính

Giá trị kiểm kê chỉ phản ánh giá trị thuần đã được đánh giá lại của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Giá trị này không phản ánh khả năng sinh lời hoặc rủi ro thua lỗ của doanh nghiệp trong tương lai Nhưng người mua tiến hành mua doanh nghiệp với hy vọng kiếm được lợi nhuận ngắn hạn dưới dạng cổ tức và lợi nhuận trung, dài hạn dưới dạng giá trị siêu ngạch khi bán lại doanh nghiệp Do vậy trên quan điểm của người mua doanh nghiệp, giá trị doanh nghiệp là giá trị tài chính Giá trị này được xác định dựa vào các tài liệu tham khảo, đặc biệt là tài liệu của các nhà quản lý chứng khoán trên sự định giá của thị trường chứng khoán Việc mua hay bán một chứng khoán dựa trên sự phân tích tài chính doanh nghiệp ngầm chứa việc đầu cơ trên cổ tức và giá bán lại, theo đó nhà đầu tư tiến hành cuộc mua bán trên cơ sở đối chiếu với các chứng khoán khác hiện có hay các doanh nghiệp hay của việc bỏ vốn thuần túy tài chính Giá trị tài chính thường bắt nguồn từ cái nhìn bên ngoài doanh nghiệp và các chuyển dịch chứng khoán được thực hiện, họ không

có ý đồ làm thay đổi hay kiểm soát doanh nghiệp Đây chính là quan điểm của các nhà đầu tư qua thị trường chứng khoán

1.3.3.3.Giá trị kinh tế

Giá trị tài chính có hạn chế là nó xem đầu tư vào doanh nghiệp chỉ thuần túy là việc

“cho vay lấy lãi” và giá trị được xác định trên cơ sở phân tích thông tin trên các báo cáo tài chính không phải lúc nào cũng đủ để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết về các nhân

tố phát triển doanh nghiệp cũng như triển vọng của nó Để đánh giá tốt hơn các khả năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp cần phải có sự hiểu biết bên trong doanh nghiệp hay cấu trúc của doanh nghiệp Từ đó xuất hiện một quan niệm khác

về giá trị đó là giá trị kinh tế của doanh nghiệp Giá trị kinh tế của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở giả thiết của một cuộc chuẩn đoán tổng thể doanh nghiệp

về các yếu tố thặng dư hay thiếu hụt tài sản, lượng hóa các yếu tố rủi ro hay thành công… là những yếu tố cần phải tính tới trong các dự toán cũng như vốn hóa các kết quả Nó nhìn doanh nghiệp như một dự án kinh tế ở đó giá trị phê chuẩn một sự

Trang 18

13

phán quyết về việc điều hành kinh doanh và sự thích hợp trong việc lựa chọn chiến lược phát triển qua các kết quả tài chính

1.4.Phương pháp định giá doanh nghiệp

Hiện nay, các phương pháp định giá doanh nghiệp có thể được chia làm ba phương pháp chính: phương pháp định giá theo chiết khấu dòng tiền, phương pháp định giá theo giá trị tài sản thuần và phương pháp định giá theo bội số

1.4.1.Phương pháp định giá theo chiết khấu dòng tiền

Phương pháp định giá theo chiết khấu dòng tiền dựa trên lý thuyết tài chính được mọi người chấp nhận rằng giá trị của một khoản đầu tư chính là những giá trị tương lai do sự đầu tư đó mang lại được chiết khấu về hiện tại để thể hiện giá trị theo thời gian của đồng tiền Theo phương pháp này, giá trị của doanh nghiệp là giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai mà doanh nghiệp sẽ tạo ra Tỷ suất chiết khấu dùng để chiết khấu dòng tiền tương lai thể hiện tỷ suất sinh lời mong muốn của doanh nghiệp được định giá và rủi ro vốn có của nó

Phương pháp định giá này gồm hai biến chính là dòng tiền tương lai và tỷ suất sinh lời mong muốn Do đó phương pháp này có thể được áp dụng dễ dàng khi hai biến này có thể dự đoán được với độ tin cậy nhất định Trên thực tế, phương pháp định giá phân tích theo dòng tiền là phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất Theo một tài liệu nội bộ của PricewaterhouseCoopers, có khoảng 90% nhà đầu tư

sử dụng phương pháp phân tích chiết khấu dòng tiền và 65% nhà đầu tư sử dụng mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) để xác định tỷ suất sinh lời trên vốn2

1.4.2.Phương pháp định giá theo giá trị tài sản thuần

Phương pháp định giá theo tài sản thường được sử dụng hiện nay là phương pháp giá trị tài sản thuần Theo phương pháp này, giá trị của doanh nghiệp bằng với giá trị thị trường của toàn bộ tài sản trừ đi cho giá trị thị trường của tất cả các khoản

nợ của doanh nghiệp

Định giá doanh nghiệp bằng phương pháp giá trị tài sản thuần thường mất nhiều thời gian và chi phí Để xác định giá trị thị trường của các loại tài sản hữu

2 Theo Http://www.sme.com.vn ngày 06/09/2003 [31]

Trang 19

14

hình khác nhau của doanh nghiệp, cần phải có sự tham gia nhiều chuyên gia chuyên định giá cho nhiều loại tài sản khác nhau Do đó, doanh nghiệp có thể mất nhiều thời gian để tìm kiếm các chuyên gia và chi phí cho việc định giá các tài sản của doanh nghiệp cũng khá cao và tốn kém

Bên cạnh đó, phương pháp này cũng không đưa ra hướng dẫn cụ thể cho việc định giá các tài sản vô hình như danh tiếng, uy tín trên thị trường, nhãn hiệu hàng hóa, sở hữu trí tuệ… do đó việc xác định giá trị của tài sản vô hình sẽ phụ thuộc rất nhiều vào chủ quan của người định giá dẫn đến việc giá trị của chúng có thể được định giá quá cao hoặc quá thấp so với giá trị hợp lý Việc định giá sở hữu trí tuệ nếu không tính đến đặc thù của các ngành công nghiệp dựa trên khoa học kỹ thuật cũng như các công ty tập trung đầu tư cho nghiên cứu và phát triển có thể sẽ định giá quá thấp sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp

Vì giá trị doanh nghiệp chỉ là giá trị thị trường của tổng tài sản thuần của doanh nghiệp tại thời điểm định giá nên tiềm năng tăng trưởng trong tương lai của doanh nghiệp không được tính đến trong phương pháp định giá này Giá trị doanh nghiệp theo phương pháp định giá giá trị tài sản thuần không phải là giá trị tương lai

mà doanh nghiệp sẽ tạo ra Nếu áp dụng phương pháp này để định giá một doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao trong tương lai, giá trị của doanh nghiệp có thể được định giá quá thấp vì khả năng tăng trưởng cao trong tương lai của các doanh nghiệp này không được tính đến

Phương pháp định giá giá trị tài sản thuần có thể áp dụng cho doanh nghiệp

“có vấn đề” đang trong giai đoạn thua lỗ và có dòng tiền tương lai âm, vì đối với các doanh nghiệp này việc dự đoán dòng tiền tương lai sẽ rất khó khăn vì doanh nghiệp có khả năng bị phá sản Đối với doanh nghiệp dự kiến sẽ bị phá sản, phương pháp phân tích chiết khấu dòng tiền thường không áp dụng vì phương pháp này xem doanh nghiệp là một sự đầu tư luôn tiếp diễn và tạo ra dòng tiền dương cho nhà đầu

tư Ngay cả đối với các doanh nghiệp đang thua lỗ nhưng còn có thể tồn tại được, sẽ rất khó khăn khi áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền vì dòng tiền sẽ phải

Trang 20

ty đầu tư kinh doanh bất động sản) có thể phần lớn phụ thuộc vào giá trị tài sản mà

nó nắm giữ

1.4.3.Phương pháp định giá theo bội số

Phương pháp định giá theo bội số là phương pháp xác định giá trị của một doanh nghiệp trên cơ sở giá cổ phiếu của những công ty tương tự được niêm yết thông qua một bội số thích hợp Các bội số thường sử dụng có thể là bội số giá trên thu nhập (P/E), bội số doanh thu và bội số thu nhập trước lãi vay và thuế (EBIT) Đặc tính của phương pháp định giá theo bội số là rất đơn giản và có thể dùng

để ước đoán giá trị của doanh nghiệp một cách nhanh chóng Ví dụ như nếu ta chọn thu nhập làm tiêu chí để định giá thì bội số giá trên thu nhập có thể được sử dụng bằng cách tính tỷ số giá trên thu nhập của các công ty được chọn làm công ty so sánh để sau đó tính một tỷ số giá trên thu nhập bình quân đại diện cho cả ngành Để xác định giá trị của một doanh nghiệp, ta nhân lợi nhuận dự kiến của doanh nhiệp với bội số giá trên thu nhập bình quân này

Có thể có rất nhiều những công ty tương tự được niêm yết nên việc chọn lựa một trong số các công ty này để làm công ty so sánh chủ yếu dựa trên chủ quan của người định giá Việc thêm vào hay bớt ra số lượng công ty so sánh có thể làm thay đổi đáng kể giá trị của bội số và do đó ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp Ví

dụ ta đang muốn định giá một doanh nghiệp sản xuất phần mềm theo bội số giá trên thu nhập Tỷ số giá trên thu nhập của ngành sẽ được tính toán như sau3:

3 Theo tạp chí kế toán ngày 12/06/2006 [33]

Trang 21

Bảng 1.3:Bảng so sánh tỷ số P/E của một số công ty trong ngành SXKD phần mềm

Trang 22

17

Mặt khác, nếu thị trường đang đánh giá quá cao tất cả các doanh nghiệp sản xuất phần mềm trong ví dụ này sẽ dẫn đến tỷ số giá trên thu nhập trung bình của ngành được đánh giá quá cao và do đó việc định giá theo bội số giá trên thu nhập sẽ định giá quá cao giá trị của doanh nghiệp Vì vậy, các nhà định giá trong nước thường chỉ sử dụng phương pháp định giá theo bội số để tham chiếu hay để hỗ trợ cho phương pháp định giá khác

Nhìn chung, nếu sử dụng phương pháp định giá không phù hợp, giá trị doanh nghiệp có thể được đánh giá quá cao hay quá thấp Để có thể tránh được những bất cập của các phương pháp định giá nhằm xác định được giá trị hợp lý của doanh nghiệp, cần phải thận trọng trong việc áp dụng các phương pháp định giá và nếu cần thiết phải có những điều chỉnh cho phù hợp từng ngành, từng loại hình doanh nghiệp và từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp

Do đó cần thiết có những nghiên cứu sâu hơn về phương pháp định giá cũng như nghiên cứu về các điều chỉnh thích hợp cho từng ngành hay từng loại hình doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể đặc biệt là nghiên cứu về phương pháp định giá và những điều chỉnh cho phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì những bất cập đã nêu trên của phương pháp định giá phân tích chiết khấu dòng tiền

sử dụng Mô hình định giá tài sản vốn cho việc xác định giá trị của các doanh nghiệp này

1.5.Vai trò định giá trong quá trình cổ phần hóa

Như chúng ta cũng đã biết, tiêu chí để xác định kết quả cổ phần hóa doanh nghiệp có thành công hay không chủ yếu dựa vào kết quả định giá doanh nghiệp mà Ban cổ phần hóa đưa ra Trong đó, việc lựa chọn và sử dụng phương pháp định giá

có tính chất quyết định đến việc xác định chính xác giá trị của doanh nghiệp

Như đã trình bày ở phần trên, giá trị của doanh nghiệp bao gồm hai thành phần chính: tài sản cố định và tài sản lưu động, do đó khi vận dụng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp thì chủ yếu vận dụng sao cho xác định giá trị của hai thành phần này được chính xác nhất, điều đó có nghĩa là xác định được giá trị thực

Trang 23

18

tế của các tài sản của doanh nghiệp Có như vậy thì việc định giá doanh nghiệp mới

có ý nghĩa thực sự và nó cũng phản ánh đúng mong muốn của Nhà nước và xã hội

Cổ phần hóa doanh nghiệp được ví như con dao hai lưỡi trong nền kinh tế Trong đó việc vận dụng phương pháp định giá doanh nghiệp mang tính chất quyết định và là vấn đề then chốt trong công tác định giá Nếu vận dụng chính xác và hợp

lý phương pháp định giá doanh nghiệp, chắc chắn doanh nghiệp sẽ cổ phần hóa thành công vì trong quá trình CPH doanh nghiệp ngoài công tác định giá doanh nghiệp thì bên cạnh đó còn có các vấn đề có liên quan như: xử lý lao động dôi dư sau CPH, xử lý các vấn đề tài chính sau CPH, giải quyết các quyền lợi cho NLĐ sau CPH… nhưng nhìn chung các vấn đề có liên quan này đều ít nhiều bị tác động bởi kết quả định giá của doanh nghiệp cũng như kết quả CPH Nếu doanh nghiệp CPH thành công, trước tiên các chế độ và quyền lợi của NLĐ sẽ tăng lên, doanh nghiệp

xử lý các vấn đề tài chính cũng khá thuận lợi Như vậy, vô hình trung đã làm cho giá trị sản xuất của xã hội tăng lên cùng với niềm tin của xã hội vào công cuộc CPH các doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng Và ngược lại, nếu quá trình CPH doanh nghiệp không thành công trước tiên sẽ ảnh hưởng đến các phúc lợi cho NLĐ trong chính doanh nghiệp đó, tiếp đến là các hiệu ứng không tích cực cho dư luận

và xã hội Điều này đã làm cho giá trị của xã hội không được phản ánh một cách trung thực và rõ ràng vì giá trị của cải trong xã hội thông qua quá trình CPH đã chảy vào túi riêng của một số thành phần trong xã hội và điều này giống như tảng băng chìm của nền kinh tế Nó không những phương hại đến quyền lợi của NLĐ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến các giá trị đạo đức và niềm tin trong nhân dân và xã hội

1.6.Phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình

1.6.1.Tài sản vô hình

a) Khái niệm tài sản vô hình

Như trình bày ở trên, giá trị của tài sản hữu hình và tài sản vô hình là các yếu

tố cấu thành giá trị doanh nghiệp Tài sản vô hình cũng như tài sản hữu hình là những tài sản có giá trị, thời gian hữu ích lâu dài, có hình thái biểu hiện đa dạng Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì chủng loại tài sản vô hình càng phong

Trang 24

19

phú Thực tế đã chứng minh, giá trị vô hình của doanh nghiệp là đại lượng có thật,

có thể tính toán được và trong nhiều trường hợp nó có giá trị rất lớn thậm chí lớn hơn giá trị hữu hình của doanh nghiệp

Tài sản vô hình là những tài sản thể hiện bằng những lợi ích kinh tế Chúng không có cấu tạo vật chất mà tạo ra những quyền và những ưu thế với người sở hữu,

và thường sinh ra thu nhập cho người sở hữu chúng4 Tuy tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng vẫn xác định được giá trị và khi doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng chúng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn được ghi nhận

là tài sản cố định vô hình5

b) Đặc điểm của tài sản vô hình

¨ Có hình thái không rõ ràng Các loại tài sản hoàn toàn vô hình như: uy tín trên thị trường, lòng trung thành mến mộ của khách hàng, mối quan hệ kinh doanh…

¨ Có tính mới, là một kỹ thuật mới, một sáng chế mới, một sáng tác mới hoặc một tác phẩm mới không sao chép lại của các tác giả trước Tính mới là nét đặc trưng của mặt hàng trí tuệ mới phải động não nhiều để làm ra và phải làm được trước những người khác vì có những tình huống có nhiều tác giả làm việc tại các địa điểm khác nhau, nhưng trong cùng một thời gian đã cùng phát hiện ra một kỹ thuật mới

¨ Việc xác định giá trị rất phức tạp Có loại có thể định giá và mua bán được như: bản quyền, phát minh sáng chế, chi phí thành lập, vị trí kinh doanh… Bên cạnh đó,

có những tài sản vô hình vô giá về giá trị chẳng hạn như chữ tín trong kinh doanh Loại tài sản này không thể mua bán được, nó được tạo ra bởi sự cố gắng của tập thể lãnh đạo công nhân toàn doanh nghiệp Giá trị của những tài sản này không thể đo đếm được cụ thể nhưng nó được thể hiện ở khả năng sinh lời của doanh nghiệp

¨ Tồn tại sự hao mòn vô hình của tài sản cố định vô hình Đối với tài sản cố định hữu hình thì có hai hình thức hao mòn là: hao mòn vật lý (phụ thuộc vào mức độ sử dụng hoặc bị môi trường thiên nhiên phá hủy) và hao mòn vô hình (do tiến bộ của

4 Theo Ủy ban Tiêu chuẩn Thẩm định giá quốc tế hướng dẫn số 4 năm 2000 [28]

5 Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 04 Tài sản cố định vô hình, ban hành theo Quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài Chính số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 [5]

Trang 25

20

khoa học kỹ thuật nên những tài sản hiện tại bị mất giá) Còn đối với những tài sản

cố định vô hình, chỉ có một hình thức biểu hiện hao mòn đó là hao mòn vô hình của những tài sản vô hình Sự bùng nổ kỹ thuật, sự cạnh tranh quyết liệt trên thương trường và những yếu tố khác đã dẫn đến sự mất giá nhanh chóng của một tài sản cố định vô hình nào đó

¨ Thời gian sử dụng hữu ích của một tài sản cố định vô hình bình thường là một đại lượng biến đổi, không cố định, có thể dài ngắn khác nhau nhưng không phải là

vô hạn định Sản phẩm trí tuệ, ngoài các tác phẩm văn chương hay nghệ thuật, các sản phẩm khác có tính thời gian, vì khoa học kỹ thuật ngày nay biến chuyển rất nhanh

c) Phân loại tài sản vô hình

¨ Các quyền Mọi doanh nghiệp đều có quyền của mình Những quyền này có thể

tồn tại theo những điều kiện của một hợp đồng dưới hình thức văn bản hay không bằng văn bản, là các giấy phép hoạt động do cơ quan có thẩm quyền cấp, là các hợp đồng thuê mướn, hợp đồng cung ứng, hợp đồng phân phối, hợp đồng cung cấp hoặc các thỏa thuận đặc quyền khác Giá trị của “quyền” phụ thuộc vào những lợi ích tài chính mà quyền đó mang lại cho doanh nghiệp

¨ Mối quan hệ giữa các bên Mọi doanh nghiệp đều phải thiết lập mối quan hệ với

các đơn vị, các chủ thể và các cá nhân bên ngoài khác Mối quan hệ này có thể không thể hiện thành hợp đồng nhưng nó rất quan trọng đối với doanh nghiệp

¨ Các tài sản vô hình lập thành nhóm Là giá trị vô hình thặng dư còn lại sau khi

tất cả các tài sản vô hình có thể nhận biết được đã được đánh giá và trừ ra khỏi tổng

số giá trị tài sản vô hình, thường được gọi là uy tín Đặc biệt đối với các công ty đang làm ăn phát đạt và có lợi thế kinh doanh Uy tín là tài sản vô hình xuất hiện do

sự hợp nhất hoặc đánh giá tổng hợp bởi các yếu tố như tên tuổi, tiếng tăm, sự bảo trợ khách hàng, địa điểm, sản phẩm và các yếu tố tương tự khác có sinh ra các lợi thế kinh tế

¨ Tài sản sở hữu trí tuệ Là những tài sản vô hình không nằm ở dạng vật chất

nhưng chúng có giá trị (do đó có giá cả) vì chúng có khả năng sinh ra trong tương

Trang 26

21

lai dòng lợi nhuận dương (>0) Tài sản sở hữu trí tuệ là một loại đặc biệt của tài sản

vô hình, nó thường được luật pháp bảo vệ khỏi những sự sử dụng trái thẩm quyền của những người khác Ví dụ như tên nhãn hàng hay nhãn hiệu thương mại, bản quyền, bằng sáng chế, các bí quyết thương mại hay bí quyết kinh doanh và nhiều tài sản khác

1.6.2.Phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình

1.6.2.1.Các phương pháp trực tiếp

1.6.2.1.1.Phương pháp chi phí

Các phương pháp này dựa trên cơ sở cho rằng giá trị của một tài sản được đo bằng chi phí để làm ra tài sản đó Và hiện tại, có hai phương pháp xác định giá trị tài sản vô hình dựa trên chi phí: phương pháp chi phí quá khứ và phương pháp chi phí tái tạo

a) Phương pháp chi phí quá khứ

Để xác định giá trị tài sản vô hình của doanh nghiệp, người ta đi vào trực tiếp xác định và tổng hợp các chi phí đã phát sinh trong quá trình xây dựng tài sản vô hình đó Phương pháp này có ưu điểm, chỉ ra được những chi phí cụ thể để tạo ra tài sản vô hình Tuy nhiên, nó lại chứa đựng nhược điểm lớn, đó là chi phí không phản ánh giá trị thị trường hiện tại của tài sản vô hình, đồng thời phương pháp này không tính đến những lợi ích mà tài sản vô hình mang lại trong tương lai

b) Phương pháp chi phí tái tạo

Phương pháp này đi vào tính toán tất cả các chi phí cần thiết hiện nay để tạo dựng tài sản vô hình như hiện tại Như vậy, phương pháp chi phí tái tạo cho phép xác định giá trị tài sản vô hình với giá trị thị trường hơn, nhưng một trong những khó khăn của phương pháp này là khó khăn khi xác định các chi phí hiện tại tương đương để hình thành ra tài sản, đặc biệt khi tài sản đó lại là tài sản vô hình

1.6.2.1.2.Phương pháp tính siêu lợi nhuận

Phương pháp này dựa trên cơ sở cho rằng một doanh nghiệp có thể đạt tỷ suất

lợi nhuận cao hơn tỷ suất lợi nhuận trung bình của ngành nghề mà doanh nghiệp đang hoạt động, bởi vì doanh nghiệp đó có tài sản vô hình Cho nên, giá trị tài sản

Trang 27

V : Giá trị tài sản vô hình

SLNt : Siêu lợi nhuận năm t

i : Tỷ lệ chiết khấu

n : Số năm chiết khấu

Việc xác định giá trị tài sản vô hình theo phương pháp này có ưu điểm nổi trội

đó là có tính đến khả năng đóng góp và lợi ích mà tài sản vô hình mang lại trong tương lai, từ đó, giá trị tính toán ra có tính thuyết phục cao Tuy nhiên, phương pháp này gặp khó khăn trong việc lập luận về dòng siêu lợi nhuận trong tương lai, cũng như khó khăn trong việc xác định các tham số như: n, i

1.6.2.2.Các phương pháp gián tiếp

Các tính toán thông qua việc xác định giá trị doanh nghiệp tổng thể sau đó trừ

đi giá trị của tài sản hữu hình trong doanh nghiệp đó Theo hướng này, trước hết là xác định tổng thể giá trị doanh nghiệp (bao gồm cả giá trị sản sản hữu hình và giá trị tài sản vô hình) bằng các phương pháp khác nhau, như phương pháp chiết khấu dòng tiền sau đó đi vào đánh giá trực tiếp giá trị của các tài sản hữu hình trong doanh nghiệp bằng phương pháp tài sản Khi đã xác định được hai đại lượng nêu trên, chúng ta nhanh chóng tìm ra được giá trị của tài sản vô hình trong doanh nghiệp bằng cách lấy giá trị tổng thể của doanh nghiệp trừ đi giá trị của tài sản hữu hình đã đánh giá lại theo giá trị thị trường của doanh nghiệp đó

Đóng góp của phương pháp này chính là sự thuận lợi hơn trong kỹ thuật tính toán giá trị doanh nghiệp tổng thể, cũng như giá trị tài sản hữu hình, và nếu hai đại lượng đó được xác định đáng tin cậy, thì giá trị tài sản vô hình tính ra có độ chính

t n

t

t 1

S L N V

Trang 28

23

xác rất cao Tuy vậy, phương pháp này cũng chứa đựng nhược điểm là khó khăn khi

dự báo về dòng tiền tương lai mà doanh nghiệp tạo ra, cũng như khó khăn trong việc xác định các tham số n, i và việc tổng hợp chuẩn xác giá trị thị trường của các tài sản hữu hình trong doanh nghiệp cũng không phải là điều dễ dàng

1.7.Bài học kinh nghiệm định giá DNNN ở các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Anh là nước thực hiện phương thức đấu giá rộng rãi trong việc bán tài sản và DNNN với những biện pháp cứng rắn, đặc biệt từ năm 1987 trở về sau, nhằm đạt được nguồn thu cao nhất từ chương trình này Bên cạnh đó để tăng nhanh số lượng

cổ đông là người lao động, chính phủ Anh cũng đã thực hiện nhiều chính sách ưu đãi khác nhau như bán chịu, cho tặng cổ phiếu cho công nhân, người về hưu… Nhật Bản thực hiện chính sách CPH đối với các DNNN từ những năm 1980 Nhìn chung Nhật Bản cũng thực hiện theo các phương pháp của các nước tư bản khác Trong quá trình chuyển đổi DNNN, Nhật Bản cũng gặp phải những vấn đề nan giải, trong đó có cả vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp Chính phủ Nhật cũng thực hiện bán đấu giá cạnh tranh và bán cổ phần thông qua các doanh nghiệp bảo hiểm

Một trong những vấn đề được chính phủ Trung Quốc quan tâm đó là “đánh giá tài sản nhà nước”, nhưng không phải là vấn đề mang tính kỹ thuật như phương pháp

và trình tự đánh giá mà là ai chủ trì việc đánh giá tài sản nhà nước Trong thời gian đầu thì người lãnh đạo DNNN chủ trì việc đánh giá tài sản, nhưng trong thực tế những người này lại trở thành người kinh doanh hay chi phối thực tế tài sản của công ty sau khi CPH nên tài sản nhà nước thường bị đánh giá thấp, mặc dù các ngành quản lý tài sản nhà nước và cơ quan tài chính Trung Quốc có cử người tham gia đánh giá tài sản nhà nước và có đủ thẩm quyền phê duyệt kết quả đánh giá, nhưng do những người này không tiếp cận được thực tế của doanh nghiệp, vì vậy quyết định cuối cùng lại phụ thuộc vào lãnh đạo doanh nghiệp Để giải quyết vấn đề này, chính phủ Trung Quốc chủ trương thành lập các đơn vị kinh doanh tài sản nhà

Trang 29

hồ hởi đón nhận cổ phần hóa Người lao động, các tổ chức công đoàn không thể không lo lắng trước khả năng mất việc làm của công nhân trong DNNN sẽ cổ phần hóa Ngay cả giới chủ doanh nghiệp cũng có thái độ không đồng tình vì nếu cổ phần hóa sẽ hình thành các doanh nghiệp làm mất vị trí đương quyền hoặc làm thay đổi môi trường làm ăn dễ dàng của họ…

Mục đích lợi nhuận cao chi phối mọi hoạt động của doanh nghiệp, tạo ra động lực cạnh tranh mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đồng thời, động lực này cũng làm cho nền kinh tế thị trường chứa đựng nhiều khiếm khuyết, làm hạn chế hiệu quả và tốc độ tăng trưởng kinh tế, và gây bất bình đẳng trong xã hội Một trong những khiếm khuyết đó là các doanh nghiệp không muốn đầu tư vào các ngành, lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp, thời gian thu hồi vốn lâu, như các ngành thuộc kết cấu hạ tầng, giáo dục và đào tạo, y tế và văn hóa – xã hội Cổ phần hóa DNNN dễ được chấp nhận hơn về mặt chính trị nhưng lại có những khó khăn khác như Nhà nước không dễ dàng theo được hoặc có khả năng ứng trước cho các chi phí sản xuất, mặt khác do không có những ràng buộc về tài sản của mình nên trách nhiệm quản lý tư nhân mới sẽ không cao Để khắc phục tình trạng này cần phải có một cơ quan thuộc chính quyền trung ương để giám sát, kiểm tra quá trình cổ phần hóa và thông báo tình hình cho các cấp ra quyết định Cần thành lập các tổ chức có đủ thẩm quyền và năng lực chuyên sâu để giúp Nhà nước trong việc xác định giá trị tài sản, doanh nghiệp nhằm hạn chế những tổn thất trong quá trình cải cách các DNNN Ngoài ra, chính phủ ở hầu hết các nước phải đứng ra xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội, chăm lo giáo dục, y tế, kết cấu hạ tầng kỹ thuật, và trực tiếp đầu tư vào

Trang 30

¨ Tạo ra cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi sở hữu các DNNN Đó là việc xây dựng, đưa các ra dự thảo và thông qua các văn bản luật pháp Chủ động thực hiện

và phối hợp hoạt động với các cơ quan chức năng có liên quan Bên cạnh đó, cần có một đội ngũ các chuyên gia giỏi, nhạy bén, năng động với đủ trình độ nghiên cứu,

xử lý các vấn đề phát sinh ở các doanh nghiệp cổ phần hóa

¨ Phân loại DNNN theo từng ngành, nghề để xác định doanh nghiệp có đủ điều kiện để cổ phần hóa Cải cách cơ chế quản lý ngân hàng và công tác kiểm toán phù hợp với cơ chế thị trường Áp dụng cổ phần hóa toàn bộ DNNN hoặc cổ phần hóa một phần để vừa thay đổi cơ cấu vốn vừa đảm bảo các mục tiêu của Nhà nước

¨ Phải có sự quyết tâm của Chính phủ trong công cuộc chuyển đổi sở hữu DNNN

Từ xem xét thay đổi môi trường kinh doanh đến những thay đổi về luật pháp Không thể tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nếu thiếu sự quan tâm của Chính phủ và thái độ kiên quyết của các cơ quan có thẩm quyền Phải xác định rõ ràng quan điểm cổ phần hóa DNNN và xác định mục tiêu cổ phần hóa DNNN

¨ Chính phủ phải chấp nhận một khoản chi phí cho chương trình cổ phần hóa DNNN, cần giải quyết tốt các vấn đề xã hội khi chuyển DNNN thành công ty cổ phần như vấn đề việc làm, thu nhập của người lao động, các vấn đề xã hội…

¨ Phải có sự đồng thuận của xã hội, các cá nhân và tổ chức có liên quan Nếu quá trình CPH được thực hiện một cách thành công thì trước hết phải công khai hóa, tránh thái độ thiên vị, tư túi cá nhân của những người điều hành Qua đó sẽ tạo ra sự hưởng ứng của dư luận xã hội, tạo cơ hội cho việc mở rộng đầu tư trong nước

¨ Tốc độ của tiến trình cổ phần hóa DNNN phụ thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế thị trường Do đó, ở nước nào có nền kinh tế thị trường và thị trường

Trang 31

26

chứng khoán phát triển, khu vực kinh tế tư nhân đã mạnh thì quá trình cổ phần hóa diễn ra đơn giản và thuận lợi

¨ Xem CPH là một mắt xích quan trọng trong công cuộc đổi mới DNNN Xác định

rõ đây là cách tìm kiếm một cơ chế kinh doanh có hiệu quả, chứ không phải tìm kiếm các hình thức sở hữu khác nhau Vả lại, cổ phần hóa DNNN là công việc mới

mẻ, do đó nên tiến hành CPH các doanh nghiệp nhỏ làm bài học kinh nghiệm để cổ phần hóa các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn

Kết luận chương 1:

Ở các quốc gia khác nhau thì có các khái niệm về DNNN cũng khác nhau, tuy nhiên xét cho cùng, bản chất của DNNN vẫn là doanh nghiệp có sự tham gia góp vốn hay quản lý của Nhà nước

Định giá doanh nghiệp hay xác định giá trị doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng ngày nay đã trở thành vấn đề ngày càng được xã hội quan tâm Vì đây là

xu thế tất yếu của thời đại – thời đại hội nhập kinh tế thế giới – Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đổi mới đó Theo đó, Việt Nam muốn thành công trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước thì vấn đề CPH các DNNN đã, đang và sẽ là vấn đề mà Nhà nước phải quan tâm và thực hiện tích cực hơn Nếu xác định được phương pháp tối ưu để vận dụng định giá doanh nghiệp sao cho ra kết quả định giá hợp lý hay nói cách khác là giá trị doanh nghiệp sau khi định giá có giá trị ngày càng tiệm cận với giá trị thực tế của doanh nghiệp trên thị trường đã là thành công của các nhà nghiên cứu, nhà soạn luật, Nhà nước và của xã hội Trong

đó, việc xây dựng được phương pháp xác định giá trị vô hình của doanh nghiệp trong thời đại ngày nay không những là vấn đề của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu mà là của Nhà nước, các nhà quản lý kinh tế và xã hội

Trang 32

27

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1.Thực trạng cải cách khu vực kinh tế Nhà nước

2.1.1.Khái quát cải cách khu vực kinh tế Nhà nước

Trong vòng hai thập kỷ trở lại đây, cải cách khu vực kinh tế Nhà nước nói chung và cải cách DNNN nói riêng luôn được coi là ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta Sự ra đời của Luật doanh nghiệp Nhà nước 2003 và sau đó là Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư năm 2005 và nhiều văn bản pháp luật khác không những tạo ra bước đột phá lớn trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế mà còn hứa hẹn cho sự lớn mạnh của các doanh nghiệp bởi có sự đảm bảo bình đẳng hơn trong quyền và nghĩa vụ giữa các doanh nghiệp Trong khu vực DNNN, những chính sách, biện pháp điều chỉnh và sắp xếp lại doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lý tài chính của công ty Nhà nước, quản lý các nguồn vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp ngày càng được hoàn thiện hơn như: Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà nước và quản lý vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác ra đời thay thế cho Quy chế quản lý tài chính doanh nghiệp Nhà nước được ban hành kèm theo Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 03/10/1996 và Nghị định số 27/1999/NĐ-CP ngày 20/04/1999, quy chế quản lý vốn ở doanh nghiệp khác trong Nghị định số 73/2000/NĐ-CP ngày 06/12/2000 Hay như việc chuyển các công ty Nhà nước thành công ty cổ phần theo tinh thần cải cách mạnh

mẽ hơn nữa các doanh nghiệp Nhà nước, ngày càng được coi trọng nhằm nâng cao tính hiệu quả cho khu vực kinh tế quốc doanh

Trang 33

212 doanh nghiệp thì năm 2004 đã cổ phần hóa được 753 doanh nghiệp Hình thức

cổ phần hóa cũng khá đa dạng Tất cả các hình thức được pháp luật qui định đều được áp dụng trong thực tế Trong đó, hình thức bán một phần vốn Nhà nước hiện

có và phát hành thêm cổ phiếu chiếm 43,4%; hình thức bán một phần vốn Nhà nước hiện có chiếm 26%; bán toàn bộ vốn Nhà nước tại doanh nghiệp chiếm 15,5%; hình thức giữ nguyên vốn Nhà nước chiếm 15% Tính bình quân trong các doanh nghiệp

cổ phần hóa, Nhà nước vẫn còn nắm giữ 46,5% vốn điều lệ, cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp nắm 38,1%, ngoài doanh nghiệp nắm giữ 15,4% vốn điều lệ6 Bên cạnh việc sắp xếp lại các DNNN làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, đổi mới các Tổng công ty Nhà nước thành các tập đoàn kinh tế đóng vai trò then chốt để thích ứng với những điều kiện của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt Cụ thể như: tập đoàn tàu thủy Việt Nam (Vinashin), tập đoàn than Việt Nam, tập đoàn bưu chính viễn thông Bên cạnh đó, sự ra đời của Tổng công ty đầu

tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) vào tháng 06/2005 là một trong những bước đột phá trong cải cách khu vực kinh tế Nhà nước, một sáng kiến mới của Chính phủ trong công cuộc cải cách khu vực kinh tế Nhà nước trong điều kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), của thời kỳ hội nhập kinh tế và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và đó cũng là nhiệm vụ trọng tâm của cải cách khu vực kinh tế Nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Với tư cách là tổ chức chuyên kinh doanh vốn của Chính phủ Việt Nam, sự ra

6 Theo Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp [26]

Trang 34

29

đời của SCIC nằm trong tiến trình cải cách kinh tế nói chung và cải cách DNNN nói riêng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của Nhà nước SCIC là đại diện duy nhất chủ sở hữu vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp, thực hiện quyền đầu tư tài chính, kinh doanh vốn theo những nguyên tắc, quy luật thị trường Theo điều lệ, SCIC sẽ thực hiện quyền sở hữu Nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hóa, hướng tới bán nốt phần vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước không cần giữ cổ phần chi phối Việc thành lập SCIC được đánh giá là một bước đi đúng nhằm tách biệt quyền của chủ sở hữu và trách nhiệm quản lý điều hành của Nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN, giảm thiểu can thiệp chính trị vào việc quản lý tài sản Nhà nước và thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa ở nước ta Từ đó cho thấy việc cải cách khu vực kinh tế Nhà nước có những chuyển biến tích cực đó là sắp xếp lại các lĩnh vực thuộc độc quyền Nhà nước, bước đầu khắc phục được tình trạng độc quyền doanh nghiệp; đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước với nhiều hình thức khác nhau, gắn cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, từng bước hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh với nhiều chủ sở hữu Chính phủ đặt quyết tâm từ nay đến 2010 cổ phần hóa khoảng 1.505 doanh nghiệp, tập trung nhiều nhất vào 2 năm 2007-2008 Sau khi sắp xếp theo phương án trên, cả nước còn 554 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, tổng công ty, 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ thiết yếu

Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp cho thấy số doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối vẫn chưa thay đổi nhiều về chất Tâm lý “chủ quản, chi phối” tại các doanh nghiệp sau cổ phần hóa còn tồn tại ở các bộ, ngành và các tổng công ty Các lực cản này đang làm chậm tiến trình đổi mới doanh nghiệp

Ngoài ra, vấn đề hiện đang được các nhà đầu tư, các chuyên gia thảo luận đặc biệt lưu tâm là về tỉ lệ vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần Trong số hơn 3.000 doanh nghiệp đã cổ phần hóa, có tới khoảng 30% trong số này có tỉ lệ vốn

Trang 35

Mặt khác, hiện nay kinh tế dân doanh trong nước đã đạt tỉ trọng trên 40%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gần 20%; doanh nghiệp Nhà nước gần 40%

Sự biến đổi về cơ cấu thành phần kinh tế như vậy thể hiện xu hướng tất yếu tiến bộ

là chuyển mạnh chức năng tích lũy, đầu tư và điều hành sản xuất kinh doanh từ Nhà nước sang khu vực kinh tế dân doanh Tuy vậy, trên thực tế, chuyện bao cấp đối với DNNN vẫn chưa dứt Nếu từ khoảng năm 1990 về trước là bao cấp hiện vật trong hoàn cảnh Nhà nước rất túng thiếu thì từ trên 10 năm gần đây đã chuyển thành bao cấp dưới hình thức tài chính hào phóng hơn nhiều Gần đây nhất mới có một số quyết sách cơ bản tạo khả năng xóa bỏ cơ chế bao cấp với DNNN; trong đó quan trọng nhất là chủ trương xóa bỏ chính sách phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, giành đặc quyền đặc lợi cho DNNN và chính sách nhất quán chủ động hội nhập vào WTO Từ đó đã đưa ra giải pháp tầm chiến lược: xây dựng hệ thống Luật kinh tế và Luật kinh doanh áp dụng thống nhất với tất cả các loại hình doanh nghiệp

Việc thực hiện giải pháp chiến lược này đang vấp phải khó khăn lớn, cụ thể là: việc sắp xếp, chuyển đổi DNNN sang loại hình doanh nghiệp có thể hoạt động theo Luật doanh nghiệp thống nhất sẽ không thể làm được, nếu vẫn giữ tính chất DNNN

về sở hữu cũng như về tổ chức quản lý Đây là nguyên nhân trực tiếp đưa tới sự bế tắc kéo dài cho đến nay trong chuyển đổi DNNN cũng như trong đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế, thể hiện trên hai mặt: Một là, nhiều cơ quan Nhà nước vẫn còn

sa lầy trong chức năng chủ đầu tư và chủ quản quá nhiều DNNN và dự án đầu tư

7 Theo Http://vietbao.vn [34]

Trang 36

31

Mọi giải pháp đã và đang làm về “bỏ chủ quản” vẫn chỉ là di chuyển địa chỉ chủ đầu

tư và chủ quản, chứ chưa thể giảm tải đi tới trút gánh nặng Hai là, sự trì trệ kéo dài trong việc chuyển DNNN sang công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, do

cổ phần hóa khép kín nội bộ, hoặc giữ cổ phần Nhà nước khống chế, gắn liền với việc giữ nguyên cách tổ chức quản lý bên trong doanh nghiệp

Để vượt ra khỏi cục diện trì trệ kéo dài đó, đã có rất nhiều kiến nghị công bố trên sách báo Nhưng điều quan trọng nhất là Nhà nước phải chủ động rút khỏi chức năng đầu tư và điều hành doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh cạnh tranh, theo phương châm Nhà nước chỉ làm DNNN khi khu vực dân doanh chưa thể làm và chưa muốn làm Sự nhất quán theo xu hướng này sẽ đẩy nhanh quá trình tạo lập kinh tế thị trường đầy đủ với khu vực dân doanh làm nền tảng trong kinh doanh cạnh tranh Dẫu sao vẫn còn không ít DNNN, mà ở cấp Trung ương thường là những doanh nghiệp lớn rất quan trọng và một số doanh nghiệp thuộc loại đặc biệt Trong trường hợp đó cũng không thể giữ cơ chế tổ chức quản lý cùng với chế độ chủ quản như hiện nay

Theo báo cáo của Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc Hội Phùng Quốc Hiển, về việc trình bày báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật

về xử lý đất đai, mua bán cổ phiếu trong thực hiện cổ phần hóa các DNNN cho biết, trong hơn 10 năm qua (từ năm 1997 đến nay), những mục tiêu đặt ra cho quá trình

cổ phần hóa cơ bản đã đạt được, cổ phần hóa đã huy động thêm nguồn vốn dồi dào

từ xã hội đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa sở hữu, lành mạnh hóa tài chính doanh nghiệp và thúc đẩy hoạt động của thị trường tài chính…

Được xác định là một trong hai khía cạnh quan trọng của chương trình giám sát lần này, vấn đề “mua, bán cổ phiếu cho người lao động” trong các DNNN cổ phần hóa được trình bày khá chi tiết Theo đó, sau khi có các Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002, 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 và mới đây là Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007, chính sách bán cổ phần cho người lao động (NLĐ) đã từng bước được hoàn thiện Vì vậy, NLĐ tại các doanh nghiệp cổ phần hóa đã được mua cổ phần ưu đãi giảm giá từ 30 - 40% so với giá bán công

Trang 37

32

khai hoặc giá đấu bình quân trên thị trường Tuy nhiên, trong thực hiện, về mặt chính sách cũng bắt đầu bộc lộ những bất cập Cụ thể, mặc dù việc cho mua giảm giá đã thể hiện sự ưu ái song nhiều NLĐ cho rằng, giá vẫn quá cao so với thu nhập của họ, nhất là trong điều kiện thị trường chứng khoán “nóng” như hồi cuối năm

2006 và đầu năm 2007 và khi thị trường giảm sụt như hiện nay, thì sự ưu đãi này lại trở thành thiệt thòi với họ Thực tế, do thu nhập thấp, vốn ít, lại phải đi vay nên nhiều NLĐ đành chấp nhận “bán lúa non” cổ phần của mình hoặc có tình trạng vốn thực sự của doanh nghiệp cuối cùng tập trung trong tay một số người

Cũng theo Báo cáo giám sát chuyên đề trên, nhờ có cổ phần hóa mà vấn đề đất đai trong các DNNN được rà soát, sắp xếp, thu hồi, đồng thời xử lý được tình trạng

sử dụng đất sai mục đích Tuy nhiên, quá trình định giá tài sản khi cổ phần hóa ở một số địa phương vẫn có nơi, có lúc chưa sát với thực tế; các lợi thế về đất đai, vị trí đắc địa… của doanh nghiệp không được đưa vào giá trị doanh nghiệp hoặc có đưa vào nhưng chỉ mang tính hình thức, không phản ánh hết giá trị của tài sản dẫn đến Nhà nước phải chịu nhiều thua thiệt Theo ông Phùng Quốc Hiển dẫn chứng, trường hợp Công ty cổ phần Du lịch Ngọc Lan (Lâm Đồng), kinh doanh ở vị trí rất đẹp, với diện tích đất thuê 2.292m2, nhưng khi định giá để cổ phần hóa chỉ có 3,5 tỷ đồng, trong khi theo người dân, thì giá trị tài sản thực trên thị trường cao gấp nhiều lần

Đặc biệt, trong quá trình giám sát, Đoàn giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội còn ghi nhận một thực trạng đó là có tới 85% các doanh nghiệp lựa chọn hình thức thuê đất để không phải xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp Mặt khác, do một số địa phương muốn thu hút đầu tư đã quy định giá thuê đất ở mức thấp hơn giá thị trường (thấp khoảng 30%) đã thành động lực để các doanh nghiệp lựa chọn hình thức nói trên Đó là chưa kể, nếu nộp trước tiền thuê đất trong một thời gian nhất định thì sẽ được giảm tiền thuê đất Có thể nói, đây là yếu tố góp phần làm thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, nhất là ở các thành phố, thị xã giá trị quyền sử dụng đất cao và cũng dễ phát sinh hiện tượng lợi dụng sắp xếp lại đất đai trong cổ phần hóa để phân đất cho một số cá nhân thuê với giá rất rẻ, sau đó

Trang 38

33

tiếp tục đem cho thuê để kiếm lợi Ngoài ra, còn có trường hợp, một số địa phương thu hồi đất của doanh nghiệp cổ phần hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng với giá chưa sát với giá thị trường, gây thiệt hại rất nhiều cho Nhà nước…8

2.1.2.Những thành công trong cải cách khu vực kinh tế Nhà nước

Qua thực trạng cải cách khu vực kinh tế Nhà nước trong thời gian qua, tác giả xin tóm lược một số thành công như sau:

¨ Thông qua việc nhận thức trong hoạt động thực tiễn và ban hành một số các văn bản pháp lý có liên quan kịp thời, nên trong thời gian qua DNNN đã có được sự chuyển biến tích cực cả về mặt lượng và chất Cụ thể, số lượng DNNN đã được cải cách, chuyển đổi sở hữu và cổ phần hóa tăng lên rõ rệt Số DNNN sau khi cải cách, chuyển đổi và cổ phần hóa hoạt động có hiệu quả hơn Điều này chính là nhân tố tích cực cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung và khu vực kinh tế nhà nước nói riêng thông qua việc giải phóng và thúc đẩy phát triển một phần lực lượng sản xuất quan trọng trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý vốn nhà nước

¨ Luật DNNN được Quốc hội thông qua ngày 20/04/1995 đánh dấu sự đổi mới quan trọng trong cơ chế quản lý DNNN và tạo cơ sở pháp lý cơ bản cho DNNN hoạt động, xác định rõ mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Nhà nước, DNNN hoạt động công ích và DNNN hoạt động sản xuất – kinh doanh, quyền tự chủ và nghĩa

8 Theo www.toquoc.gov.vn [35]

Trang 39

34

64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002 về việc chuyển một số DNNN thành Công ty cổ phần, Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về việc chuyển một số DNNN thành Công ty cổ phần và mới nhất là Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007

về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành Công ty cổ phần Từ phương diện tạo sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế trong xã hội đến phương thức quản lý vốn nhà nước sao cho hiệu quả nhưng đảm bảo tuân thủ các yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước Cụ thể tính từ năm 1987 đến nay Nhà nước

đã ban hành trên 200 văn bản pháp lý nhằm tháo gỡ cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để DNNN nâng cao tính chủ động, sáng tạo, phát huy tiềm năng phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh và hội nhập

¨ Ngoài ra, việc quyết tâm thực hiện chuyển đổi từng bước các Tổng công ty thành các tập đoàn kinh tế của quốc gia, đồng thời hình thành Tổng công ty và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) là một bước chuyển biến tích cực trong công cuộc cải cách khu vực kinh tế nhà nước cũng như các DNNN Qua đó, hạn chế dần những khiếm khuyết mà cơ chế trước đó tạo ra, đó là việc Nhà nước vừa trực tiếp điều hành và quản lý các DNNN trong hệ thống nhưng vừa ban hành và quản lý về mặt chính sách và cơ chế Vì vậy, trong thời gian qua Nhà nước đã khắc phục dần những xung đột trong công tác điều hành, quản lý DNNN và quản lý về mặt cơ chế, chính sách

Từ đó, góp phần vào hiệu quả chung của các DNNN nói riêng và khu vực kinh tế nhà nước nói chung

2.1.3.Những hạn chế trong cải cách khu vực kinh tế Nhà nước

¨ Tuy việc cải cách và chuyển đổi các DNNN với mục đích là tạo sự chủ động hơn trong công tác quản lý cho các doanh nghiệp sau cải cách, chuyển đổi và cổ phần hóa, qua đó giảm bớt sự bao tiêu của nhà nước đối với doanh nghiệp, phát huy tính

tự chủ và sáng tạo của doanh nghiệp trong hoạt động thực tế nhằm nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp, từ đó giảm bớt áp lực lên ngân sách nhà nước và quan trọng nhất là tạo sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế trong xã hội Tuy nhiên trong thực tế hiện tượng bao cấp cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa về vốn hay về

cơ chế, chính sách tuy không hiện diện rõ ràng nhưng vẫn tồn tại và điều này đã làm

Trang 40

35

giảm bớt tính hiệu quả của các chính sách của nhà nước Bên cạnh đó, tâm lý muốn doanh nghiệp của mình vẫn được bao cấp để an toàn trong công tác quản lý, ngại mất quyền lợi cá nhân khi chuyển đổi, cổ phần hóa doanh nghiệp của một số lãnh đạo các DNNN vẫn còn tồn tại, điều này cũng đã và đang làm cho hiệu quả của chủ trương Nhà nước bị giảm sút

¨ Đa số các DNNN chưa tự tích tụ vốn, chủ động tái đầu tư phát triển, tạo lập quỹ

dự phòng để phòng rủi ro trong cơ chế thị trường Bên cạnh đó, do chính sách tài chính chưa phân định rõ ràng đối với DNNN công ích và DNNN sản xuất – kinh doanh nên hiện tượng bao cấp giá đầu vào đối với một số mặt hàng và một số ngành nghề vẫn còn tồn tại Kiểm soát của Nhà nước còn thiếu chặt chẽ, chưa rõ ràng về chức năng chủ sở hữu và chức năng quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp

¨ Tỷ lệ vốn nhà nước trong các doanh nghiệp sau khi chuyển đổi và cổ phần hóa vẫn còn cao mặc dù các doanh nghiệp này hoạt động trong các ngành, nghề không nằm trong danh mục ngành nghề do Nhà nước chi phối Do vậy, đồng vốn của Nhà nước còn đang bị đầu tư dàn trải trong các lĩnh vực mà Nhà nước không cần chi phối hay các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả hay đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản kéo dài Điều này đã làm cho đồng vốn của Nhà nước hoạt động không hiệu quả, gây trì trệ cho nền kinh tế và không tạo được động lực cho các thành phần kinh tế khác trong xã hội phát triển, nhằm giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước

¨ Đối với các DNNN hoạt động kém hiệu quả trong thời gian dài hoặc quy mô của doanh nghiệp dạng nhỏ và vừa hoặc doanh nghiệp hoạt động có lãi nhưng lãi ít, thì Nhà nước chưa có cơ chế, chính sách về việc thí điểm cho thuê kinh doanh hay khoán kinh doanh như các nước

¨ Tình trạng thiếu vốn của các DNNN diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng

Do DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư và thành lập nhưng vốn Nhà nước cấp không đủ mức tối thiểu cần thiết cho hoạt động sản xuất – kinh doanh Trước đây có tới 60% số DNNN không đủ vốn pháp định theo quy định tại Nghị định số 50/CP ngày 28/08/1996 của Chính phủ Vốn nhà nước trong các DNNN chỉ chiếm

Ngày đăng: 09/01/2018, 13:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w