Công ty cổ phần và quá trình cổ phần hóa ở việt nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÀI TIỂU LUẬN LUẬT KINH TẾ
Đề tài:
CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN
HÓA Ở VIỆT NAM.
GVHD : Th.S Dương Mỹ An Nhóm SV : Nguyễn Tấn Đương Nguyễn Thị Diễm Hương Nguyễn Thị Thanh Loan
Lê Đình Toàn
Tháng 5 năm 2010
Trang 2MỤC LỤC
I Những vấn đề cơ bản về công ty cổ phần
1 Lịch sử hình thành của công ty cổ phần……….3
2 Công ty cổ phần……… 7
3 Tính tất yếu khách quan của sự ra đời loại hình công ty cổ phần
và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế thế giới……… 11
II Thực trạng của các CTCP và tình hình cổ phần hóa
DNNN ở Việt Nam hiện nay
1 Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường….……13
2 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam……… 20
3 Thành công và những tồn tại của các công ty cổ phần ở Việt Nam trong thời gian qua……… 25
4 Nguyên nhân những hạn chế trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước……… 27
III Phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm đẩy
nhanh quá trình phát triển các công ty cổ phần trong nền kinh
Trang 3I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
1 Lịch sử hình thành của công ty cổ phần:
a Trên thế giới:
Ở các nước khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau
Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), ở Anh là công ty với
trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh
doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ
phần (Kabushiki Kaisha)…
Các giai đoạn hình thành CTCP:
- Giai đoạn mầm móng: góp vồn theo nhóm bạn – hoạt động liên
kết lỏng lẻo
- Giai đoạn hình thành: bắt đầu phát hành cổ phiếu, bước đầu xuất
hiện giao dịch chứng khoán, hoạt động có tổ chức hơn
- Giai đoạn phát triển: CTCP trở nên phổ biến ở các nước công
nghiệp Xuất hiện các hình thức đa quốc gia, các trung tâm giao dịch
chứng khoán lớn
- Giai đoạn trưởng thành: hình thức công ty xuyên quốc gia, đa quốc
gia; thu hút công nhân mua cổ phiếu; cơ cấu công ty cổ phần hoàn thiện,
pháp luật hoàn thiện
Quá trình công nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ từ thế
kỷ 18, 19 cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà tư bản đã
làm xuất hiện loại hình CTCP Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư
bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh
tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt Các chủ tư bản đi đến
thoả hiệp với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn
Giai đoạn trưởng thành
-các hình thức công ty đa quốc gia -khuyến khích công nhân mua cổ phiếu
Trang 4nữa thế lực kinh tế của mình CTCP là hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, nhu nhận định của Các Mác “Qua các công ty cổ phần,
sự tập trung đã thực hiện được việc đó trong nháy mắt”
Về mặt lịch sử hình thành, CTCP ra đời sau các loại công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn Khác với
sự ra đời của hình thức công ty TNHH – là sản phẩm của các nhà lập pháp xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn kinh doanh, CTCP được hình thành trong hoạt động kinh doanh và do nhu cầu của các nhà kinh doanh rồi sau đó mới được pháp luật thừa nhận và được hoàn thiện thành một chế định pháp lý Chẳng hạn như ở Anh, Luật công ty được ban hành lần đầu tiên năm 1844 nhưng trước đó hơn 100 năm đã có sự xuất hiện của các công ty cổ phần Và đến năm 1856, ở Anh mới có Luật về công ty cổ phần
Công ty cổ phần xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông
Ấn (East India Company) của Anh (1600-1874) Nó được thành lập ngày 31/10/1860 abởi một nhóm có 218 người, và được cấp phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở châu Á, châu Phi và được đi lại từ tất cả các hải cảng của các đảo, thị trấn và địa điểm ở châu Á, châu Phi và Mỹ hay bất kỳ địa điểm nào như thế nằm ngoài Mũi Hảo Vọng (Cape of Good Hope) và Eo biển Magellan Ngày 01/6/1874, Công ty bị giải thể khi giấy phép lần sau cùng không được gia hạn Công ty đầu tiên này hoạt động hết sức lỏng lẻo: “Người đầu tư góp vốn theo chuyến đi biển và sau mỗi chuyến đi biển nhận lại vốn cổ phần và tiền lãi” Đến năm 1602, ở Hà Lan xuất hiện
Trang 5các công ty cổ phần theo hình thức tương tự công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt CTCP xuất hiện ở Thụy Điển, Đan Mạch, Đức…
Ở Mỹ, CTCP phát triển rất mạnh Lúc đầu là vì phải xây dựng đường xe lửa, sau này là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ rộng lớn của Mỹ Chính do yêu cầu tài trợ cho các công ty làm đường xe lửa mà thị trường chứng khoán ở NewYork phát triển Năm 1811, bang NewYork ban bố luật về tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các công ty sản xuất Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về NewYork và tính hữu hạn kia trở thành phổ biến vì bang nào không dùng đến nó là không thu hút được vốn
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, CTCP bắt đầu phát triển
ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm…ở các nước tư bản phát triển và về sau phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới Đến những năm 20,
30 của thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật, nền kinh tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sơ hạ tầng kinh tế - xã hội Công ty cổ phần là một trong những công cụ giúp thực hiện nhanh chóng vấn đề tập trung vốn Vì vậy, có ý kiến bình luận rằng
“Nếu như cứ phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho số tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn chưa có đường sắt” Sự ra đời của CTCP đã giúp cho các nhà doanh nghiệp giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo
Tóm lại, trải qua quá trình phát triển lâu dài, CTCP đã từ phạm vi
ở một nước, một khu vực nhất định đã phát triển thành những công ty đa quốc gia, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đúng như nhận định:
Trang 6“Công ty cổ phần đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một quôc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty đa quốc gia”
Ở Mỹ, năm 1989, số lượng các công ty cổ phần chiếm 31,7% trong tổng số các xí nghiệp công nghiệp và chiếm 92,6% giá trị tổng sản phẩm công nghiệp Ngày nay, công ty cổ phần đã chiếm vị trí thống lĩnh trong các ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng và trong các ngành khác nhau của nền kinh tế Hoa Kỳ
Ở các nước phương tây, công ty cổ phần là mô hình phổ biến nhất cho các doanh nghiệp có quy mô lớn Ở Đức, vốn cơ bản trung bình của các công ty cổ phần năm 1980 là 43 triệu DM, trong khi đó vốn trung bình của một công ty TNHH chỉ là 0,38 triệu DM Trong 100 công ty lớn nhất của Đức năm 1980 có tới 66 công ty cổ phần Ở Pháp, vào năm
1986, có tới 123.303 công ty cổ phần, chiếm tới 15,22% tổng số các doanh nghiệp
b Ở Việt Nam:
Trong lịch sử hình thành và phát triển có hai phương pháp để thành lập công ty cổ phần đó là thành lập mới các công ty cổ phần và cổ phàn hóa các doanh nghiệp nhà nước đã có
Do nền kinh tế Việt Nam có những đặc điểm riêng biệt so với các nước khác trên thế giới nên việc thành lập mới các công ty cổ phần không được chú trọng phát triển Chính việc cải cách DNNN bằng cách
cổ phần hóa là con đường khả thi và có hiệu quả nhất được Đảng và Nhà nước ta quán triệt nên chúng ta chỉ tập trung đi sâu vào việc hình thành công ty cổ phần bằng cách cổ phần hóa DNNN
Việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo ba phương thức: thứ nhất, giữ nguyên giá trị hiện có của doanh nghiệp và
Trang 7phát hành cổ phiếu theo quy định nhằm thu hút cổ đông; thứ hai, bán một phần doanh nghiệp hiện có của doanh nghiệp; thứ ba, tách một bộ phận doanh nghiệp đã đủ điều kiện cổ phần hóa
Quá tình cổ phần hóa ở nước ta trải qua 3 giai đoạn:
Giai đoạn thí điểm (1992 - 1995)
Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp gọi là cổ đông
Trang 8- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết;
- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba
và không hạn chế số lượng tối đa
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán
Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban kiểm soát
b Nguyên tắc cơ cấu:
Công ty cổ phần là một thể chế kinh doanh, một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông Trong công ty cổ phần, số vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành
Trang 9các phần bằng nhau gọi là cổ phần Các cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu Chỉ có công ty cổ phần mới được phát hành
cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu chính là một bằng chứng xác nhận quyền sở hữu của một cổ đông đối với một Công ty Cổ phần và cổ đông là người
có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu Công ty cổ phần là một trong loại hình công ty căn bản tồn tại trên thị trường và nhất là để niêm yết trên thị trường chứng khoán
Bộ máy các công ty cổ phần được cơ cấu theo luật pháp và điều lệ công ty với nguyên tắc cơ cấu nhằm đảm bảo tính chuẩn mực, minh bạch
và hoạt động có hiệu quả
Công ty Cổ phần phải có Đại hội đồng Cổ đông, Hội đồng Quản trị
và Ban Điều hành Đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông phải có Ban Kiểm soát
Kỳ đều cho thấy điều này, từ các sàn sơ khai như Pink Sheet, OTCBB, NASDAQ, NYSE; trong đó OTCBB yêu cầu công ty ít nhất có 40 cổ đông, còn NYSE lại yêu cầu công ty phải có ít nhất 2.000
cổ đông
Trang 10Cơ quan tối cao của các công ty cổ phần là Đại hội đồng Cổ đông Các cổ đông sẽ tiến hành bầu ra Hội đồng Quản trị với Chủ tịch Hội đồng Quản trị, các Phó Chủ tịch và thành viên (kiêm nhiệm và không kiêm nhiệm) Sau đó, Hội đồng quản trị sẽ tiến hành thuê, bổ nhiệm Giám đốc (Tổng giám đốc) và/hoặc Giám đốc điều hành Hội đồng này cũng có thể tiến hành thuê, bổ nhiệm các Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) hoặc
ủy quyền cho Ban Giám đốc (công ty) làm việc này
Quan hệ giữa Hội đồng Quản trị và Ban giám đốc là quan hệ quản trị công ty Quan hệ giữa Ban giám đốc và cấp dưới, người lao động nói chung là quan hệ quản lý Xung quanh vấn đề quan hệ giữa các chủ sở hữu là cổ đông của công ty và những người quản lý thông thường cần được tách bạch và kể cả các đại cổ đông cũng không nhất nhất là được hay có thể tham gia quản lý công ty Để đảm bảo khách quan, nhiều công
ty đã quy định chặt chẽ về điều này
Việc hoạt động của công ty đạt hiệu quả cao do tính độc lập giữa quản lý và sở hữu
e Nhược điểm:
Trang 11 Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế mà công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo qui định của luật pháp;
Chi phí cho việc thành lập doanh nghiệp khá tốn kém;
Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do công ty phải công khai và báo cáo với các cổ đông;
Khả năng thay đổi phạm vi lĩnh vực kinh doanh cũng như trong hoạt động kinh doanh không linh hoạt do phải tuân thủ theo những qui định trong Điều lệ của công ty, ví dụ có trường hợp phải do Đại hội đồng Cổ đông của Công ty Cổ phần quyết định
3 Tính tất yếu khách quan của sự ra đời loại hình công ty cổ phần
và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế thế giới:
a Tinh tất yếu:
Xuất phát từ thực tế khách quan do đòi hỏi của sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường Do đó, việc hình thành các công ty cổ phần (CTCP) và vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là tất yếu đối với quá trình phát triển mạnh của nền kinh tế thị trường
a.1 Quá trình xã hội hóa tư bản, tăng cường tích tụ và tập trung tư bản ngày càng cao
Trong nền sản xuất hàng hóa quy luật giá trị tác động mạnh đến sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhà tư bản Điều này đã thúc đẩy họ phải nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, năng suất lao động…mà làm đươc điều đó chỉ có các nhà tư bản lớn mới đủ sức thực hiện Vì thế các nhà tư
Trang 12bản vừa và nhỏ đã liên kết để mạnh hơn nhằm tiếp tục cạnh tranh và phát triển và thu lại lợi tức sau 1 thời gian nhất định.
a.2 Sự ra đời và phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần
a.3 Sự phân tán tư bản để tránh rủi ro trong kinh doanh và tạo thế mạnh quản lý Khi công nghệ phát triển, sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì rủi ro trong kinh doanh cũng ngày càng lớn Để tránh rủi ro này, các nhà tư bản đã phân tán vốn của mình đầu tư ở nhiều ngành, nhiều công ty khác nhau nhằm phân tán rủi ro và tập trung sức mạnh trí tuệ…a.4 Sự phát triển của tín dụng tạo điều kiện thúc đẩy công ty cỏ phần
ra đời và phát triển
Tóm lại, sự ra đời của công ty cổ phần là 1 tất yếu khách quan trong sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường và tập trung tư bản
- CTCP tạo được 1 cơ chế riêng biệt nhằm hạn chế tối đa các tác động tiêu cực vào thị trường khi các doanh nghiệp này lâm vào khủng hoảng
- CTCP vận động được sự tham gia đông đảo của dân chúng lại có
cơ cấu tổ chức chặt chẽ, phân định rõ giữa quyền sở hữu và quyền kinh
Trang 13doanh, nó đã đem lại quyền lợi cho người lao động được quản lý thực sự công ty.
-CTCP là hình thức tranh thủ nguồn vốn đầu tư từ ngoại quốc thông qua hình thức liên doanh
II THỰC TRẠNG CỦA CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HÓA DNNN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY:
1 Vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường;
- Trong nền kinh tế thị trường, việc huy động vốn đưa vào SXKD thông qua thị trường chứng khoán là một kênh rất quan trọng Mà muốn
"gia nhập" thị trường chứng khoán thì chỉ có các doanh nghiệp cổ phần Bạn thấy đấy giá trị giao dịch hàng ngày trên các sàn chứng khoán Việt Nam lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng/ngày; nhờ vậy, đã huy động được mọi nguồn vỗn trong xã hội đưa vào lưu thông, làm cho đồng tiền không
"ngủ yên" mà luân chuyển không ngừng nghỉ Tốc độ luân chuyển tiền tệ càng nhanh thì kinh tế càng phát triển mạnh
- Giờ đây, không chỉ có nhà doanh nghiệp mới kinh doanh; mà bất
cứ ai khi đã mua cỏ phần, chứng khoán thì cũng đã trở thành người SXKD rồi
- So với các loại hình doanh nghiệp khác hiện nay ở nước ta, thì loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần (hình thức pháp lý liên kết các nhà đầu tư, các chủ thể kinh doanh cùng nhau hùn vốn để thành lập và tổ chức vận hành công ty theo những mục đích nhất định) có nhiều lợi thế hơn hẳn Lợi thế hơn hẳn đó xuất phát từ những lợi ích và đặc điểm pháp
lý mà pháp luật qui định và được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Trang 14 Công ty cổ phần là tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập Pháp
luật về công ty của các nước đều xác lập một cách cụ thể về các quyền và nghĩa vụ pháp lý của công ty cổ phần với tư cách
là một pháp nhân độc lập, có năng lực và tư cách chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty Trong quá trình hoạt động, công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng chính tài sản của mình; với tư cách chủ thể là pháp nhân thông qua người đại diện của mình theo qui định của pháp luật, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án Khi công ty mua sắm các tài sản mới, thì tài sản đó thuộc sở hữu của công ty chứ không thuộc sở hữu của các cổ đông công ty vì lúc này công ty cổ phần là một pháp nhân, tách biệt hoàn toàn với các cổ đông Trong trường hợp này, cổ đông không được xem tài sản mà công ty mới mua sắm là tài sản của cá nhân mình; mặc dù trên thực tế cổ đông là chủ sở hữu một số quyền lợi có giá trị của công ty cổ phần như:quyền tham gia quản lý, điều hành công ty theo qui định, quyền được chia cổ tức, quyền được chia tài sản theo tỷ lệ cổ phần sở hữu khi công ty giải thể
… Tuy nhiên, với tư cách là một pháp nhân, công ty có quyền
sở hữu tài sản riêng còn các cổ đông chỉ được sở hữu cổ phần trong công ty mà không có bất kỳ quyền sở hữu nào đối với tài sản của công ty
Các cổ đông trong công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn
Khi một tổ chức hay cá nhân mua cổ phiếu của công ty cổ phần tức là họ đã chuyển dịch vốn của mình theo những
Trang 15phương thức nhất định vào công ty cổ phần và trở thành tài sản thuộc sở hữu của công ty cổ phần, nhưng cổ đông vẫn được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn Với tư cách là một pháp nhân, công ty có năng lực pháp luật độc lập,
có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo qui định của pháp luật nên các quyền và nghĩa vụ của công ty hoàn toàn tách biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông vì công
ty là chủ thể của quyền sở hữu công ty Vốn thuộc sở hữu công
ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư vào công ty, nên trách nhiệm của những cổ đông đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình Xét về phương diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không có quyền đối với tài sản của công ty cổ phần nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty cổ phần; công ty cổ phần chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình Cả công ty
cổ phần lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền kiện đòi tài sản của cổ đông trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ tiền góp vốn hoặc chưa thanh toán đủ cho công ty cổ phần số tiền mua cổ phiếu phát hành Đây là điểm khác nhau
cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh, đối với công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân (theo pháp luật Việt Nam) và đối với công ty đối nhân hay doanh nghiệp một chủ của hầu hết các nước thì các thành viên hợp danh (hay thành viên nhận vốn) và chủ doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm
cá nhân vô hạn về các nghĩa vụ của công ty hay của doanh
Trang 16nghiệp bằng tài sản của mình, bất kể tài sản đó có liên quan đến hoạt động kinh doanh hay không.
Việc chuyển nhượng các phần vốn góp được thực hiện một
cách tự do Hầu hết pháp luật về công ty của các nước trên thế
giới đều qui định và cho phép chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành
từ cổ đông sang chủ sở hữu mới Vì khác với các loại công ty khác, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Việc góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu nên cổ phiếu được xem là hình thức thể hiện phần vốn góp của các cổ đông Các cổ phiếu
do công ty cổ phần phát hành là hàng hóa nên các cổ đông khi
sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các
cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho người khác thì họ thực hiện rất dễ dàng Trong khi đó đối với công ty trách nhiệm hữu hạn theo qui định của pháp luật Việt Nam thì khi chuyển nhượng các phần vốn góp của mình, thành viên đó phải chuyển nhượng trước hết cho các thành viên còn lại trong công
ty hoặc chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty trong trường hợp các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết Đó là lý do giải thích vì sao
có rất nhiều người muốn đầu tư vào công ty cổ phần chứ không muốn đầu tư vào các loại hình doanh nghiệp khác Đây