Có rất nhiều nghiên cứu ởViệt Nam đã được triển khai để mô tả thực trạng bệnh sâu răng - viêm lợi.Tuy nhiên các nghiên cứu đó chưa tập trung mô tả các yếu tố liên quan tớibệnh sâu răng -
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, bệnh sâu răng và viêm lợi vẫn còn rất phổ biến ở các nước trênthế giới kể cả các nước đã phát triển Bệnh sâu răng, viêm lợi đang dần trở thànhmột vấn đề được quan tâm sâu sắc của thế giới Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã
tổ chức nghiên cứu thống kê ở một số nước trong khoảng thời gian từ năm 1994
- 2008, tỷ lệ trẻ đến tuổi 12 mắc bệnh sâu răng vẫn còn cao Theo WHO, bệnhsâu răng - viêm lợi được ghi nhận là căn bệnh phổ biến trên thế giới nhất là khuvực Châu Á và Mỹ Latin, bệnh cũng từng được xem là một trong ba mối nguyhàng đầu cho sức khỏe con người sau bệnh ung thư và tim Bệnh sâu răng thật sự
là mối lo của các bậc phụ huynh bởi theo thống kê của WHO có đến 60-90% trẻ
ở độ tuổi 6-18 tuổi bị sâu răng
Ở Việt Nam, bệnh sâu răng - viêm lợi rất phổ biến Theo Tổ chức Y tếThế giới (WHO), 85% trẻ em Việt Nam bị sâu răng Do việc sử dụng đườngtăng cao và việc vệ sinh răng miệng còn hạn chế, con số trên có nguy cơ tăngcao ở Việt Nam trong những năm sắp tới Bên cạnh đó, liên đoàn Nha khoaquốc tế (FDI) cũng cảnh báo nước ta là một trong những nước có tỷ lệ trẻ emmắc bệnh sâu răng cao nhất trên thế giới hiện nay Ngoài ra, theo các bác sĩnha khoa ở TP HCM, các bệnh về răng ở trẻ em có chiều hướng gia tăng vàViệt Nam hiện được xếp vào nhóm quốc gia có tỷ lệ bệnh này cao nhất thếgiới Sâu răng ở lứa tuổi học đường là một vấn đề nổi cộm Hiện nay, trẻ emtrong các trường tiểu học tỷ lệ sâu răng cũng khá cao Theo nghiên cứu đánhgiá hiệu quả chăm sóc răng miệng trẻ em học đường trong sâu răng và bệnhquanh răng tại Hải Dương năm 2000 của Trịnh Đình Hải thì tình trạng sâurăng sâu răng vĩnh viễn có xu hướng gia tăng, kèm theo đó là tình trạng vệsinh răng miệng kém và xấu đi theo tuổi Một cuộc “Điều tra sức khỏe răngmiệng toàn quốc” của Viện Răng Hàm Mặt TPHCM thực hiện đã đưa ra
Trang 2những kết quả sẽ khiến các bà mẹ không thể xem nhẹ căn bệnh này Cụ thể, tỷ
lệ trẻ bị sâu răng trong nhóm tuổi 6-8 là 25,4%, tỷ lệ này càng tăng lên theotừng nhóm tuổi như 54,6% trẻ ở độ tuổi 9-11, 64,1% của nhóm 12-14 tuổi vàvới 15-17 tuổi có 68,6% ca sâu răng
Cũng theo như các kết quả nghiên cứu, độ tuổi từ 6-11 tuổi (lứa tuổihọc sinh tiểu học) đa phần sâu răng sữa Đối với các trường hợp này, nếukhông được điều trị đúng thì nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình mọc răng vĩnhviễn là khó tránh khỏi Như vậy sâu răng ở trẻ em và đặc biệt là sâu răng ngay
từ lứa tuổi tiểu học là một vấn đề đáng quan tâm Có rất nhiều nghiên cứu ởViệt Nam đã được triển khai để mô tả thực trạng bệnh sâu răng - viêm lợi.Tuy nhiên các nghiên cứu đó chưa tập trung mô tả các yếu tố liên quan tớibệnh sâu răng - viêm lợi để từ đó có những biện pháp can thiệp làm giảm tỷ lệbệnh sâu răng - viêm lợi trong nhóm học sinh tiểu học cũng như tuổi họcđường nói chung Vì những vấn đề bức thiết trên Bộ y tế đã tiến hành chươngtrình nghiên cứu “Mô hình bệnh tật của trẻ em ở lứa tuổi học đường” trên quy
mô cả nước với đại diện là 8 tỉnh thành và bệnh răng miệng là nội dung trọngtâm của nghiên cứu này
Hòa Bình, một trong tám tỉnh thành được chọn, là những một tỉnh miềnnúi, điều kiện kinh tế còn khó khăn, do đó chưa có nhiều chương trình y tếchăm sóc sức khỏe cho nhân dân Với lứa tuổi học đường, chương trình Nhahọc đường là một chương trình đáng được quan tâm do tỷ lệ các bệnh về răngmiệng ở lứa tuổi này khá cao Tuy nhiên tại tỉnh miền núi này, chương trìnhNha học đường chưa phổ cập toàn bộ các trường tiểu học tại Hòa Bình nêncác bệnh về răng miệng là vấn đề nổi cộm tại Hòa Bình Ngoài ra, tại địa bànchưa có một nghiên cứu nào về thực trạng sâu răng - viêm lợi và các yếu tốliên quan đến bệnh để từ đó xây dựng được các chương trình can thiệp phòngchống bệnh sâu răng viêm lợi phù hợp Do đó, cùng với nghiên cứu của Bộ y
Trang 3tế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng bệnh sâu răng - viêm lợi và các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng - viêm lợi của trẻ từ 6-11 tuổi, tỉnh Hòa Bình năm 2011” với mong muốn đạt được 2 mục tiêu sau:
1 Thực trạng bệnh sâu răng - viêm lợi của trẻ em tiểu học, tỉnh HòaBình năm 2011
2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng sâu răng - viêm lợi của trẻ emtiểu học, tỉnh Hòa Bình năm 2011
Trang 4Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Một số đặc điểm về giải phẫu và sinh lý của bộ răng: [31], [33]
1.1 Tổ chức học của răng: [30], [32], [34]
Cấu tạo của răng gồm: men răng, ngà răng và tủy răng
Hình 1.1: Giải phẫu Răng
1.1.1 Men răng:
Men răng phủ mặt ngoài ngà thân răng, có nguồn gốc từ ngoại bì, là môcứng nhất trong cơ thể, có tỷ lệ chất vô cơ cao nhất (khoảng 96%) Men răngdày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng
cổ răng Hình dáng và bề dày của men được xác định từ trước khi răng mọc ra, trongđời sống, men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi nhưng có sựtrao đổi về vật lý và hóa học với môi trường trong miệng
Trang 51.1.2 Ngà răng:
Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơthấp hơn men (75%), chủ yếu là 3[(PO4)2Ca3)2H2O] Trong ngà răng cónhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà Bề dày ngà răngthay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càngdày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy
Về tổ chức học: ngà răng được chia làm hai loại:
- Ngà tiên phát: chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quátrình hình thành răng, nó bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà và dây Tôm
- Ngà thứ phát: được sinh ra khi răng đã hình thành gồm ngà thứ phátsinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt
1.1.3 Tuỷ răng:
Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tuỷ gồm tuỷ chân và tủy thân Tuỷrăng trong buồng tủy gọi là tủy thân hoặc tủy buồng, tuỷ răng trong ống tủygọi là tủy chân Các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy
Tuỷ răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng cụ thể là duy trỡ sự sốngcủa nguyên bào ngà, tạo ngà thứ cấp và nhận cảm giác của răng Trong tủy răng
có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh
Trang 6Xương ổ răng và xêmăng là thành phần tổ chức cứng của tổ chức quanhrăng Thành phần này không bị tổn thương trong bệnh viêm lợi, bị tổn thươngtrong bệnh viêm quanh răng.
1.2.2 Xêmăng :
Là mô đặc biệt, hình thành cùng với sự hình thành chân răng, phủ mặtngoài ngà chân răng Xê măng được bồi đắp thêm ở phía chóp chủ yếu để bùtrừ sự mòn mặt nhai, được coi là hiện tượng mọc răng suốt đời
1.2.3 Dây chằng nha chu:
Dây chằng nha chu nằm ở khe giữa xương ổ răng và xêmăng, bìnhthường khe này rộng 0,15 - 0,25mm Dây chằng nha chu có nhiệm vụ giữ chorăng gắn vào xương ổ răng và đồng thời có chức năng làm vật đệm, làm chomỗi răng có sự xê dịch nhẹ độc lập với nhau trong khi ăn nhai, giúp lưu thôngmáu, truyền cảm giác áp lực và truyền lực để tránh tác dụng có hại của lựcnhai đối với răng và nha chu
1.2.4 Lợi răng:
Bao gồm lợi tự do và lợi bám dính
- Lợi tự do: gồm có bờ lợi tự do (đường viền lợi) và nhú lợi (núm lợi).Bình thường lợi tự do hình lượn sóng ôm sát xung quanh một phần thân răng
và cổ răng Đường viền lợi ở mặt ngoài và mặt trong của răng, nhú lợi ở phần
kẽ giữa hai răng đứng cạnh nhau Mặt trong của đường viền lợi và núm lợicùng với phía ngoài của thân răng có khe hở gọi là khe lợi Khe này sâu 0,5 -1mm Khi răng mới mọc có thể có chiều sâu 0,8 - 2mm Đáy khe lợi ở ngang
cổ răng
- Lợi bám dính: Vùng lợi dính hơi gồ lên, nối tiếp từ phần lợi tự do đếnphần niêm mạc di động
Trang 71.3 Bộ răng:
Bộ răng sữa là bộ răng bắt đầu mọc lúc trẻ 6 tháng tuổi và mọc đầy đủlúc 24-36 tháng tuổi Bộ răng sữa gồm có 20 chiếc, 10 chiếc ở mỗi hàm
Hình 1.2: Lát cắt ngang răng người
Bộ răng sữa mọc đầy đủ vào khoảng hai tuổi rưỡi.Các răng sữa sẽ đượcthay thế bởi các răng vĩnh viễn Bộ răng sữa không có răng cối nhỏ và không
có răng nào giống răng cối nhỏ vĩnh viễn Vào khoảng 6 tuổi, bắt đầu xuấthiện sự mọc răng vĩnh viễn thay thế dần cho bộ răng sữa, qua trình nàythường kết thúc vào khoảng 12 tuổi Bộ răng vĩnh viễn gồm 28 đến 32 chiếc(4 răng số 8 có thể không có) là hàm răng thay thế cho bộ răng sữa, nó có một
số đặc điểm khác biệt với bộ răng sữa cần lưu ý
Về hình thể bên ngoài:
- Răng sữa nhỏ hơn răng vĩnh viễn tương ứng cùng nhóm
Trang 8- Thân răng so với chiền dài toàn bộ của răng ngắn hơn răng vĩnh viễn.
- Các răng cửa sữa có mặt ngoài và mặt trong lồi hơn nhiều ở 1/3 cổ tạothành các gờ cổ
- Mặt ngoài và mặt trong của các răng cối sữa phẳng và hội tụ nhiều từvùng gờ cổ về phía nhai, vì thế bản nhai của chúng hẹp
- Chân răng sữa dài và mỏng hơn…
- Thân răng có màu trắng sữa đục hơn răng vĩnh viễn
Về hình thể trong:
- Thân răng rộng hơn mọi hướng so với vùng cổ
- Men răng khá mỏng và độ dày giữa các vùng thân răng ít có sự khác biệt
- Lớp ngà giữa men răng và buồng tủy khá mỏng
- Các sừng tủy nhô cao và buồng tủy rộng
- Các chân răng sữa dài hẹp, dang rộng đáng kể và thuôn dài về phía chóp.Ngoài ra khi mới mọc men răng chưa hoàn toàn được ngấm vôi đầy đủ,các rãnh mặt nhai của răng vĩnh viễn thường sâu tạo ra những vùng đọng thức
ăn Đó là những yếu tố thuận lợi cho sâu răng dễ hình thành ở trẻ em Cấutrúc bên trong với đặc điểm men mỏng, sừng tuỷ nhô cao…là những yếu tốthuận lợi làm cho bệnh sâu răng nhanh chóng chuyển sang bệnh lý tuỷ răng.Cấu trúc bên ngoài với nhiều vị trí lồi lõm cùng với sự phát triển của xươnghàm làm các răng sữa thưa dần tạo điều kiện thuận lợi cho lắng đọng và mắcdắt thức ăn làm tăng cơ hội hình thành bệnh sâu răng và viêm lợi
2 Bệnh Sâu răng và Viêm lợi:
2.1 Sâu răng ở trẻ em:
Sâu răng là một bệnh rất phổ biến ở các nước trên thế giới Bệnh mắc
từ rất sớm và ở mọi lứa tuổi, ở trẻ em ngay sau khi răng mọc cũng như ởngười già Tổ chức cứng của răng bị phá huỷ tạo thành lỗ sâu trên răng, cósâu răng sữa và sâu răng vĩnh viễn
Trang 9Sâu răng là bệnh tổn thương không hồi phục do đó nếu không được chữa trị
và phòng bệnh kịp thời, sâu răng sẽ tích lũy ngày càng cao
Việc chữa răng rất tốn kém nhưng cũng không thể chữa răng hồi tái tạo lại tổ chức cứng của răng như trước Sâu răng nếu không chữa trị kịpthời sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, có thể gây các biến chứng nguy hiểm
phục-Đánh giá tình hình sâu răng và có biện pháp dự phòng phù hợp, hữuhiệu là phương pháp duy nhất hiện nay trên thế giới thực hiện Để có thể đánhgiá sâu răng sữa cũng như sâu răng vĩnh viễn người ta thường chọn:
- Trẻ 6 tuổi: Đánh giá răng sữa
- Trẻ 12 tuổi: Đánh giá răng vĩnh viễn
Sâu răng sớm là hiện tượng xuất hiện rất phổ biến ở trẻ, chiếm tỷ lệ 30
- 50% ở các nước phát triển và đến 70% ở các nước đang phát triển Các kếtquả nghiên cứu đã cho thấy rằng, trẻ bị sâu răng khi còn nhỏ có nguy cơ bịsâu răng nhiều hơn khi lớn lên Vì vậy, việc phòng ngừa sâu răng sớm ở trẻgiúp tránh được các vấn đề quan trọng về răng miệng sau này
Cơ chế gây bệnh:
Sự hình thành sâu răng phụ thuộc vào các axít hữu cơ được tạo ra từ sựlên men của các carbohydrate trong thức ăn do vi khuẩn làm giảm độ pH ởcác mảng bám răng và tạo ra những chỗ bị mất khoáng Sâu răng ban đầu códạng các điểm trắng đục trên men răng và các lỗ sâu răng sẽ xuất hiện khi tìnhtrạng mất khoáng tiến triển mạnh
Nhóm các vi khuẩn atreptococcus mutans có liên quan đến sự hìnhthành sâu răng Các vi khuẩn này có khả năng bám dính vào men răng, tạo ranhiều chất axít và sống ở môi trường pH thấp Khi men răng bị thủng lỗ, cácloại vi khuẩn khác (các lactobacillus) sẽ sinh sôi ở răng, tạo ra môi trường axít
và thúc đẩy hóa trình mất khoáng Sự mất khoáng do axít được tạo ra từ vikhuẩn phụ thuộc vào số lần tiêu thụ và loại carbohydrate có trong thức ăn
Nguyên nhân, triệu chứng, biểu hiện:
Trang 10Sâu răng có thể gặp cả trên răng vĩnh viễn và răng sữa nhưng hay gặphơn ở răng sữa vì những lý do sau:
- Mức độ canxi hóa của răng chưa hoàn thiện, lớp men răng sữa cònmỏng nên dễ bị vi khuẩn tấn công Những bà mẹ ăn uống thiếu canxi khimang thai thì sau này men răng của con cũng dễ bị yếu
- Do bé sử dụng quá nhiều đồ ngọt
- Do cha mẹ không biết cách chăm sóc răng cho bé
- Ngoài ra, những yếu tố như bé bú bình, bé sinh mổ… cũng làm gia tăngtình trạng sâu răng sữa ở bé
Sâu răng thường khởi đầu ở các hố và rãnh Các tổn thương nhỏ khó cóthể phát hiện bằng mắt thường; nhưng các tổn thương lớn thường có biểu hiện
là lỗ thủng ở bề mặt nhai Vị trí sâu răng thường gặp là ở mặt bên (mặt tiếpxúc giữa các răng) và rất nhiều trường hợp chỉ có thể phát hiện khi chụp X-quang răng mà thôi Các tổn thương do sâu răng biểu hiện ở bề mặt trơn láng(mặt ngoài và mặt trong) thường chỉ gặp ở trẻ bị sâu nhiều răng nghiêm trọng
Sâu răng sớm ở trẻ (Early Childhood Caries – ECC) rất phổ biến Bệnh
có thể xuất hiện sớm trước 12 tháng tuổi Các đối tượng có nguy cơ bị ECCbao gồm những trẻ thường xuyên ăn chất đường (thường xuyên dùng các thứcuống, thức ăn có đường, bánh snack), trẻ có nhiều người thân như cha mẹ haycác anh chị em ruột bị sâu răng, hay trẻ có dị dạng ở răng
Nhiều cha mẹ nghĩ sâu răng sữa không quan trọng vì sớm muộn gì nhữngrăng này cũng bị mất đi và được thay thế bằng răng vĩnh viễn Điều này khônghoàn toàn đúng:
- Nếu răng sữa bị sâu và rụng quá sớm thì sau này, răng trưởng thành của
bé có thể bị mọc lệch lạc, gây xô hoặc nghiêng hàm
- Ngoài ra, răng sữa cũng có tác dụng nhai thức ăn như răng vĩnh viễn Nếurăng sữa bị rụng sớm, khả năng nghiền nát thức ăn bị hạn chế khiến bé tiêu hóa kém
Trang 11- Răng sữa cũng đóng vai trò trong việc giao tiếp, giúp bé phát ẩm chuẩntrong quá trình học nói.
Phòng ngừa sâu răng sữa ở trẻ em:
Biện pháp phòng chống sâu răng hiệu quả nhất là cho fluor tối ưu vàonước sinh hoạt hàng ngày với nồng độ 1ppm Trẻ em sống ở vùng mà nguồnnước thiếu fluor có nguy cơ sâu răng cao hơn nên cần được dùng bổ trợ chấtfluor Để tránh trường hợp dùng quá liều fluor cần thiết, bác sĩ không kê đơnthuốc fluor với số lượng quá 120mg Biểu hiện cấp tính của quá liều fluor (caohơn 5mg/kg) cần được xử trí khẩn cấp Dùng các dạng fluor bôi ngoài (do bác sĩchỉ định) có lợi cho các bệnh nhi có nguy cơ bị sâu răng
Vệ sinh răng miệng:
Đánh răng hàng ngày, nhất là với kem đánh răng có fluor, sẽ giúp ngănngừa sâu răng Đa số trẻ em dưới 8 tuổi không chịu đánh răng đúng theo quyđịnh Do vậy, các bậc cha mẹ cần giám sát trẻ làm vệ sinh răng miệng thườngxuyên và đúng cách để tránh sâu răng
Chế độ ăn uống:
Giảm ăn các thực phẩm chứa các chất có đường sẽ đem lại nhiều hiệuquả trong việc phòng ngừa sâu răng Vì vậy, không nên cho trẻ dùng các thứcuống ngọt, hay dùng chất ngọt vào ban đêm Đối với trẻ có nguy cơ bị sâurăng cao cần tránh dùng các loại bánh snack vào giữa các bữa ăn
Trang 12- Chuẩn bị tâm lý cho con bằng cách, dẫn chúng đi siêu thị tự mình chọnnhững chiếc bàn chải trẻ em xinh xinh, đày màu sắc.
- Làm mẫu và giải thích cho trẻ, đánh răng không hề gây đau mà trái lại,điều này sẽ giúp răng sạch sẽ và thơm tho hơn, để cười xinh mỗi khi soigương cùng mẹ
- Mua những loại kem đánh răng có mùi vị để trẻ không có cảm giác cay
và sợ thuốc đánh răng
- Cho trẻ xem những băng hình có cảnh các bạn cùng trang lứa khácđang đánh răng để trẻ bắt chước
- Chọn mua ở các nhà sách hoặc các trung tâm nha khoa những bức hình
về răng miệng để giúp trẻ tìm hiểu thế nào là răng sâu, răng hỏng, thế nào quytrình đánh răng đúng cách?
Tâm lý của trẻ là rất thích đua đòi Vì thế, trong những ngày đầu tiên,hãy tập trung vài bé cùng một lúc để thực hành những bài học về răng miệng.Chúng sẽ bắt chước và ganh đua với nhau trong quá trình học tập Và từ đó,chúng sẽ bớt đi cảm giác nhàm chán, sợ sệt Cha mẹ phải bình tĩnh chứ khôngnên quát tháo, la mắng trẻ Điều này chỉ làm chúng sợ thêm mà thôi Độngviên con hoặc bày ra những trò chơi trong quá tŕnh cùng trẻ tập đánh răng sẽgiúp trẻ cảm thấy hứng thú mỗi ngày
2.2 Bệnh viêm lợi:
Trang 13Hình 1.3: Viêm lợiBệnh quanh răng là bệnh rất phổ biến, tỷ lệ mắc rất cao, ở trẻ em chủyếu là bệnh viêm lợi Bệnh quanh răng do nhiều nguyên nhân như thiếu sinh
tố, sang chấn khớp cắn, vi khuẩn và VSRM kém tạo nên cặn bám là nguyênnhân chính Mảng bám răng hình thành trên bề mặt răng ngay sau khi ăn, pháttriển khi môi trường trong miệng giàu chất dinh dưỡng, nhất là đườngSaccharose Lúc đầu, mảng bám là vô khuẩn, sau vi khuẩn xâm nhập và pháttriển thành mảng bám vi khuẩn (MBVK) sau 2 giờ Ở giai đoạn này, cácmảng bám dễ dàng được làm sạch bằng cách chải răng Thành phần trongmảng bám răng: vi khuẩn chiếm chủ yếu đến 70% trọng lượng, còn 30% làchất tựa hữu cơ:
- Hai ngày đầu chủ yếu là vi khuẩn Gram dương
- Hai ngày tiếp theo vi khuẩn hình sợi và hình thoi phát triển
- Ngày thứ tư đến ngày thứ chín có xoắn khuẩn
Chiều dày của MBVK thay đổi từ 54-2000µm Theo Theilade và Loe(1966) thành phần, số lượng của các loại vi khuẩn thay đổi theo thời gian, vịtrí phát triển của các MBVK Theo Ritz (1969), khi MBVK dày lên và cónhiều lớp thì vi khuẩn yếm khí và trực khuẩn Gram âm tăng lên, các loại nàykhởi điểm cho tổ chức viêm và thấy rõ trên lâm sàng
Các vi khuẩn xâm nhập vùng quanh răng gây viêm, phá hủy tổ chức
Trang 14- Tác động trực tiếp: do hoạt động của vi khuẩn sản sinh ra các men, nộiđộc tố, các sản phẩm đào thải
- Tác động gián tiếp: do vai trò kháng nguyên của chúng
Viêm lợi xuất hiện rất sớm khi cặn bám hình thành được 7 ngày
Viêm lợi ở trẻ em:
Trẻ bị viêm lợi sẽ có những triệu chứng như lợi sưng đỏ, đau, chảymáu, hôi miệng Có 3 thể viêm thường gặp:
- Viêm lợi do mọc răng
- Viêm lợi hoại tử lở loét cấp tính: Là một nhiễm trùng cấp tính, thường
do stress hay giảm sức đề kháng Bệnh nhân đau liên tục và dữ dội, hôimiệng, có các sang thương trên lợi Nếu không được điều trị kịp thời, viêm vàhoại tử sẽ lan rộng đến mào xương ổ, dẫn đến bệnh nha chu, hoại tử, làmxương tiêu nhanh và tụt lợi
- Viêm lợi do vệ sinh răng miệng kém
2.3 Tình hình mắc bệnh sâu răng - viêm lợi ở trẻ em:
2.3.1 Trên thế giới:
Tại hội nghị Alma Ata (1978), WHO đã công bố có hơn 90% dân sốthế giới mắc bệnh sâu răng và đã phát động chương trình hành động vì sứckhỏe răng miệng cho con người đến năm 2000 Đồng thời có chương trìnhgiúp đỡ cho tất cả các nước trên thế giới triển khai chương trình này Qua haithập kỷ, chương trình này đã phát huy được hiệu quả to lớn ở nhiều quốc giatrong đó có Việt Nam
Ở các nước đang phát triển: ở thời điểm những năm của thập kỷ 60,tình hình sâu răng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước phát triển Chỉ sốSMT tuổi 12 ở thời kỳ này nói chung từ 1,3-3,0; thậm chí một số nước dưới1,0 như Thái Lan, Uganda, Zaire Tới thập kỷ 1970 và 1980 thì chỉ số này lạităng lên ở mức 3,0-5,0 và một số nước còn cao hơn như Chile 6,3; French
Trang 15Polynesia 10,7 [9] Nhìn chung, tình trạng sâu răng của các nước đang pháttriển có xu hướng tăng.
Trước thập niên 60 của thế kỷ XX, sâu răng ở các nước phát triển rấtcao Song từ thập kỷ 70- 80 của thế kỷ XX nhờ áp dụng những biện phápphòng chống sâu răng, tình hình sâu răng đã giảm xuống cho đến nay SMT
ở trẻ 12 tuổi (thập kỷ 70 thế kỷ XX trở về trước được công bố như sau:[44], [50]
Bảng 1.1 Chỉ số SMT một số nước trên thế giới
Trong khi đó ở các nước đang phát triển ở thập kỷ 60 của thế kỷ XX trở
về trước sâu răng rất thấp Sau thập kỷ 60 của thế kỷ XX sâu răng có khuynhhướng tăng lên
Trang 16Bảng 1.2 SMT tr 12 tu i m t s n ở trẻ 12 tuổi ở một số nước đang phát triển ẻ 12 tuổi ở một số nước đang phát triển ổi ở một số nước đang phát triển ở trẻ 12 tuổi ở một số nước đang phát triển ột số nước đang phát triển ố nước đang phát triển ước đang phát triển đang phát triển c ang phát tri n ển [43]:
Sâu răng là một bệnh rất phổ biến ở các nước trên thế giới Bệnh mắc
từ rất sớm và ở mọi lứa tuổi; ở trẻ em ngay sau khi răng mọc cũng như ởngười già Tổ chức cứng của răng bị phá huỷ tạo thành lỗ sâu trên răng, cósâu răng sữa và sâu răng vĩnh viễn.Điều tra sức khỏe răng miệng trên toàn
Trang 17quốc năm 2000 của Trần Văn Trường, tỷ lệ sâu răng sữa ở trẻ em 6 tuổi là83,7%, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ 12 tuổi là 56,6% [5].
Theo điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2001, tỷ lệ mắc bệnhrăng miệng trong cộng đồng là 90%, tỷ lệ mắc bệnh răng miệng ở học sinh cao,đặc biệt cao nhất ở lứa tuổi 6 tuổi 83,7% [3], trong đó phổ biến là các bệnh vềsâu răng và viêm quanh răng
Điều tra về tình hình sức khỏe răng miệng toàn quốc mới nhất của ViệnRăng Hàm Mặt cho thấy tình trạng sâu răng sữa trẻ em VN ở mức độ nghiêmtrọng cả về tỉ lệ mắc và mức độ ở từng người Có gần 85% trẻ ở lứa tuổi từ 6-
8 bị sâu răng sữa Vừa qua, tại hội thảo về chăm sóc răng miệng do Bệnh việnRăng Hàm Mặt TPHCM tổ chức, thạc sĩ – bác sĩ Nguyễn Đức Minh cho biếthiện nay, tỉ lệ sâu răng vĩnh viễn ở nước ta khá cao, khảo sát đã chia tìnhtrạng sâu răng theo từng độ tuổi Cụ thể là lứa tuổi từ 6 - 8 có hơn 25% trẻ bịsâu răng, nhóm tuổi từ 9 - 11 có đến gần 55% trẻ bị sâu răng và mức độ sâurăng cũng nhiều hơn so với nhóm trẻ 6 - 8 tuổi Tình trạng sâu răng tăng dầntheo lứa tuổi, cả về số người mắc lẫn mức độ nặng Phân bổ theo vùng địa lýthì vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỉ lệ cao nhất: 93,7% Đối vớingười lớn, tỉ lệ có bệnh quanh răng rất cao, từ 93,3% đến 98,3%
Điều tra cũng ghi nhận có hơn 60% trẻ em và trên 50% người lớnkhông bao giờ được khám răng miệng, tất cả trẻ em bị sâu răng sữa tìm đếnphòng khám đều đã ở tình trạng nặng: đau nhức, viêm mủ và lây lan sangrăng bên cạnh Đó là do khi trẻ bị sâu răng sữa, đa số cha mẹ không đưa trẻ đikhám vì tưởng rằng bệnh lý này sẽ không ảnh hưởng đến răng vĩnh viễn saunày Trên thực tế, sâu răng sữa nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn tới sâurăng vĩnh viễn, răng mọc lệch, răng không chắc khỏe
Bệnh viêm lợi:
Theo nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài, tỷ lệ trẻ em bị viêm lợi
Trang 18ở các nước trên thế giới đều cao, có nơi tỷ lệ này là trên 90% Ngoài ra, kếtquả điều tra của Trần Văn Trường và CS về tình trạng viêm lợi ở Việt Namqua điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc lần 2, năm 2002 cho thấy tỷ lệ trẻ
có chảy máu lợi ở các độ tuổi từ 6-8 tuổi, 9-11 tuổi lần lượt là 42,7%, 69,2%
tỷ lệ trẻ em có cao răng ở các độ tuổi này lần lượt là 25,5%, 56,8% Theo báoTiền Phong ngày 20/3/2011: 80% trẻ em Việt Nam bị viêm lợi
2.3.3 Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng – viêm lợi ở trẻ em:
Các yếu tố liên quan đến bệnh sâu răng:
- Nhóm yếu tố nguy cơ về tập quán ăn uống
- Nhóm yếu tố nguy cơ về chăm sóc, vệ sinh răng miệng
- Nhóm yếu tố nguy cơ về các đặc trưng cá nhân của trẻ, của cha mẹ trẻ.Các tác giả thường mô tả các yếu tố nguy cơ, không phân tích sâu vềcác mối liên quan giữa chúng và bệnh sâu răng ở trẻ em [42]
2.3.3.1 Nhóm yếu tố nguy cơ về tập quán ăn uống:
Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu các tập quán ăn uốngliên quan đến bệnh sâu răng ở trẻ em như tần suất sử dụng các đồ ăn thứcuống có nhiều đường, ăn thêm bữa phụ buổi tối, đồ ăn thức uống nóng lạnh,
đồ ăn cứng, tiền sử bú bình, khẩu phần ăn:
- Al Ghanin đã phân tích đa biến về các mối liên quan giữa chế độ ăn cónhiều sữa hộp, tần suất sử dụng đồ ăn uống ngọt, trẻ có tiền sử bú bình vớicác bệnh sâu răng và sâu - mất - trám răng, kết luận rằng những yếu tố nàyliên quan chặt chẽ với các bệnh sâu răng [20] Một nghiên cứu tại thành phốKerela, Ấn Độ năm 2005 do David và CS thực hiện cho biết trẻ ăn nhiều đồngọt có nguy cơ mắc bệnh sâu răng cao gấp 1,4 lần những trẻ ăn ít đồ ngọt, sựkhác biệt này mang ý nghĩa thống kê [22] Okeigbemen nghiên cứu ở Nigerianăm 2004 cho thấy tỷ lệ học sinh có ăn phụ buổi tối là rất cao 87,5% nhưng tỷ
Trang 19lệ sâu răng ở đây lại thấp Điều này có thể là do những trẻ này sử dụng bànchải răng cao (95,8%) [23].
- Petersen và CS nghiên cứu ở Thái Lan (2001) công bố tỷ lệ sử dụng đồuống ngọt hàng ngày rất cao như sữa đường (34%), chè đường (26%), nướcngọt (24%) liên quan đến tỷ lệ sâu răng rất cao 70-96,3% tùy độ tuổi và chỉ sốDMFT là 8,1 răng/học sinh Đồng thời tác giả cũng nêu lên tập quán sử dụng
đồ ngọt nhiều ở những người theo đạo Hồi và đặc biệt là ở nữ học sinh [24]
2.3.3.2 Nhóm yếu tố nguy cơ về chăm sóc vệ sinh răng miệng:
Một số tác giả nước ngoài và trong nước đã nghiên cứu về các yếu tốchăm sóc răng miệng như hiểu biết về chăm sóc răng, khám định kỳ răng, thóiquen chải răng, tuổi sử dụng bàn chải, thuốc, vật liệu chải răng:
- Rao và CS cho biết tại Ấn Độ có đến 59,2-62% học sinh có chải răng ítnhất 1 lần/ngày nhưng chỉ có 5,7-13,6% sử dụng thuốc đánh răng; 3,1% dùngtay làm sạch răng và 21,1% dùng tro và than để đánh răng hàng ngày [47]
- Okeigbemen và CS thông báo 81,4% học sinh chưa bao giờ được khámrăng tại các cơ sở y tế, 95,8% có sử dụng bàn chải răng [45]
- Petersen và CS cũng thông báo tỷ lệ học sinh chải răng 1 lần/ngày là88% [36]
- David và CS cho rằng trẻ không sử dụng bàn chải răng thì có nguy cơsâu răng cao gấp 1,9 lần những trẻ khác [43]
2.3.3.3 Nhóm yếu tố nguy cơ về các đặc trưng cá nhân của trẻ em, của cha
mẹ học sinh:
Các nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy nam học sinh mắc bệnhsâu răng cao hơn nữ, tuy nhiên cũng có một số tác giả lại không có sự khácbiệt về sâu răng giữa nam và nữ [48] Có nghiên cứu nhấn mạnh đến sự khácbiệt hay không khác biệt giữa nam và nữ còn phụ thuộc vào một số yếu tốkhác như lứa tuổi, địa dư, loại trường công/tư và hành vi chăm sóc sức khỏe
Trang 20răng miệng.
- Rao và CS cho rằng học sinh nội thành có tỷ lệ sâu răng cao hơn ởngoại thành (22,8% so với 15%), học sinh dân tộc ít người có chất lượng răngtốt hơn học sinh không phải là dân tộc ít người [45]
- Okeigbemen và CS cho biết học sinh thành thị có chỉ số SMT cao hơnhọc sinh nông thôn (0,72 so với 0,53) và học sinh ở trường tư thục có chỉ sốSMT cao hơn học sinh ở trường công lập (0,75 so với 0,55) nhưng chỉ sốSMT ở nữ lại cao hơn học sinh nam (0,7 so với 0,59) [45]
- David và CS thông báo trẻ sống ở thành phố có nguy cơ sâu răng caohơn 1,5 lần trẻ ở nông thôn, trẻ em nghèo cũng có nguy cơ sâu răng 1,7 lần sovới trẻ em ở các gia đình giầu [43]
- Ciuffolo và CS cho rằng tỷ lệ sâu răng ở nam học sinh cao hơn ở nữhọc sinh [43]
Các yếu tố liên quan đến bệnh viêm lợi:
Mọi người đều có thể bị viêm lợi, và yếu tố góp phần phổ biến nhất làthiếu chú ý đến vệ sinh răng miệng đúng cách Nhưng các yếu tố khác cũng
có thể làm tăng nguy cơ Nguyên nhân chủ yếu gây nên viêm lợi trên chính làcác mảng bám trên răng
- Không quan tâm tới vệ sinh răng miệng: Khi các mảng bám khôngđược thường xuyên làm sạch, vi khuẩn sẽ tấn công đến tận chân răng và sảnsinh tại đó các enzym có khả năng phá huỷ sự liên kết của các biểu mô (nốilợi và răng) và gây ra viêm lợi
- Chế độ dinh dưỡng mất cân bằng: thuốc lá, rượu, đồ ăn ngọt, đồ ăn quánóng hoặc quá lạnh… sẽ gây nên những mảng bám trên răng, từ đó tạo thuậnlợi cho bệnh viêm lợi tiến triển
- Thường xuyên ăn thức ăn quá mềm làm cho hàm răng của mình lườihoạt động và làm cho cấu trúc bảo vệ răng yếu đi
Trang 21- Tụt lợi: khi lợi và răng không khít, các thức ăn và các mảng bám củarăng sẽ nằm lại ở đây.
- Giảm tiết nước bọt: nguyên nhân là do tuổi tác, dùng các loại thuốc(chống trầm cảm, lợi niệu, histamin…) hoặc các bệnh làm giảm việc tăng tiếtnước bọt, gây khô miệng, dẫn đến không loại bỏ được các mảng bám trênrăng Di truyền: Vi khuẩn gây viêm lợi có hại cho lợi của một số người nàyhơn một số người khác Những người mẫn cảm với bệnh thường có cơ địa ditruyền bị bệnh lợi
- Thuốc: Một số thuốc làm giảm tiết nước bọt, gây khô miệng Không cótác dụng làm sạch của nước bọt, mảng bám răng và cao răng có thể tích tụ dễdàng hơn Sự tích tụ này cũng làm tăng nguy cơ sâu răng Hàng trăm loạithuốc chống trầm cảm và thuốc cảm lạnh có kê đơn và không kê đơn có chứanhững thành phần làm giảm tiết nước bọt Uống rượu cũng làm giảm tiếtnước bọt
- Tiểu đường: Người bị tiểu đường không kiểm soát được hoặc kiểm soátkém dễ bị bệnh lợi hơn Tiểu đường làm mạch máu dầy lên, giảm khả năngvận chuyển chất dinh dưỡng đến mô lợi và mang chất cặn bã đi Điều này làmcho lợi bị yếu và dễ nhiễm khuẩn
- Giảm miễn dịch: Một số bệnh có thể làm suy yếu hệ miễn dịch, khiếnbạn dễ bị nhiễm khuẩn dẫn đến bệnh lợi
Vệ sinh răng miệng kém dẫn đến tình trạng tích tụ chất bẩn và vi khuẩnquanh răng nhất là ở khe lợi gây viêm lợi Trẻ đang giai đoạn mọc răng, lợirăng trở nên dễ bị tổn thương và nhạy cảm hơn bình thường nên cũng dễ bịviêm lợi hơn Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác như tình trạng dinhdưỡng kém, trẻ đang sốt vì mắc các bệnh lý toàn thân, đang dùng thuốc chốngđộng kinh (Bác sĩ Nguyễn Văn Đẫu, Trưởng khoa răng hàm mặt bệnh việnNhi Đồng 1)
Trang 22Ngoài ra, trẻ nhỏ dễ bị viêm lợi là vì hệ miễn dịch chưa hoàn thiện,răng sữa yếu là yếu tố thuận lợi cho vi khuẩn gây viêm lợi tấn công trẻ Nếukhông điều trị sớm, răng của bé có thể lung lay, rụng và gây ra những bệnhrăng miệng nghiêm trọng như viêm răng, viêm lợi.
Tóm lại, nguyên nhân gây viêm lợi chính là các mảng bám hình thànhtrên răng Do thấy trẻ còn nhỏ, nhiều gia đình cho rằng bé chưa nhất thiếtphải vệ sinh răng miệng hàng ngày như người lớn hoặc không được vệ sinhrăng miệng đúng cách, khiến vi khuẩn khu trú trên răng lâu ngày sẽ gây tổnhại lợi răng Vi khuẩn tấn công làm các mô răng bị tổn thương, đóng mủ gâyviêm lợi
Trang 233 Một số biện pháp dự phòng sâu răng, viêm lợi:
3.1 Dự phòng sâu răng:
- Sử dụng Fluor
- Trám bít hỗ rãnh: áp dụng đối với các mặt nhai để ngăn ngừa sâu ở hốrăng sau khi răng vĩnh viễn mọc
- Chế độ ăn uống hợp lý: Kiểm soát các thức ăn và đồ uống có đường
- Hướng dẫn vệ sinh răng miệng
Từ năm 1979 đến năm 1994, WHO đã nhiều lần đưa ra các mục tiêu và
bổ sung các mục tiêu toàn cầu về dự phòng sâu răng
Bảng 1.4 Mục tiêu toàn cầu dự phòng sâu răng trẻ em cho năm 2000
5-6 90% trẻ em không bị sâu răng
12 Răng sâu mất trám <1
Ở Việt Nam, mục tiêu của chương trình nha học đường là đạt đượcmục tiêu về dự phòng sâu răng của WHO và đảm bảo ít nhất 80% học sinhtiểu học và trung học cơ sở được CSRM ổn định, dài lâu qua chương trìnhnha học đường
Trang 243.2 Dự phòng viêm lợi:
Các biện pháp can thiệp :
- Chải răng đúng cách
- Làm sạch kẽ răng bằng chỉ tơ nha khoa, bàn chải kẽ…
- Phương pháp phun tưới
- Kiểm soát cặn bám răng bằng phương pháp hoá học: Là biện phápdùng nước súc miệng có tác dụng lên cặn bám răng
- Khắc phục sửa chữa các sai sót: Bao gồm sửa chữa lại các răng hànhoặc phục hình sai quy cách, tạo điểm tiếp giáp giữa các răng …
- Đảm bảo chế độ ăn uống
- Tuyên truyền phòng bệnh răng miệng
Mục tiêu can thiệp dự phòng bệnh quanh răng:
Tổ chức Y tế thế giới đã đặt ra mục tiêu cho năm 2000: 90% số người ởlứa tuổi 18 có sức khoẻ lợi ở mức chấp nhận được, tức là mỗi người có ít nhất
ba vùng lục phân lành mạnh (CPITN 0)
Ở Việt Nam, mục tiêu từ năm 2000 đến năm 2010 là giảm tỷ lệ trẻ emviêm lợi xuống 50% so với năm 1990
4 Chương trình nha học đường:
Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, các nước phát triển đã thànhcông trong việc giảm tỷ lệ sâu răng nhờ vào các biện pháp phòng bệnh sâurăng hữu hiệu, đó là việc sử dụng fluor trong cộng đồng, đặc biệt là trongtrường học Xây dựng chương trình phòng chống sâu răng, viêm lợi hiệu quảbằng chăm sóc răng miệng trẻ em trong nhà trường là giải pháp tốt nhất Đâychính là cách thức mà Việt Nam và các nước đang phát triển đang triển khaithực hiện
Ở nước ta, chương trình nha học đường đã được tiến hành từ đầu nhữngnăm 1980 Đến nay đã được thực hiện ở 64 tỉnh thành với 3 nội dung can thiệp:
Trang 25- Nội dung 1: Giáo dục nha khoa: Hướng dẫn học sinh phương pháp chảirăng và các biện pháp khác làm sạch răng, giữ gìn VSRM Khắc sâu thói quenchải răng hàng ngày và kỹ năng chải răng đúng cho trẻ em.
- Nội dung 2: Cho học sinh súc miệng nước có fluor 0,2% tại trường họcmỗi tuần một lần
- Nội dung 3: Dự phòng lâm sàng: bao gồm khám và VSRM răng miệngđịnh kỳ, trám bít hố rãnh, lấy cao răng, điều trị viêm lợi, hàn răng sâu sớm,nhổ răng sữa thay
Tuy nhiên, cần tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương mà triển khaicác nội dung ở các mức độ khác nhau cho phự hợp và đạt hiệu quả cao nhất
Nha học đường tại các trường tiểu học của Hòa Bình:
Hòa Bình là một tỉnh miền núi, kinh tế và xã hội còn kém phát triển sovới các vùng miền khác trên cả nước Toàn tỉnh có 220 trường tiểu học, tuynhiên chương trình Nha học đường chỉ được triển khai tại khá ít trường chủyếu là tại Thành phố Hòa Bình Do đó, hiệu quả của chương trình đối với toàntỉnh chưa cao, là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ học sinh tiểu họcgặp các bệnh về răng miệng tương đối nhiều
Đối với ngành y tế, hệ thống cán bộ làm công tác chăm sóc sức khoẻrăng miệng vừa thiếu vừa yếu (cán bộ y tế nha học đường chỉ có tại cáctrường ở thành phố Hoà Bình và bằng cấp chỉ là y sỹ, y tá hoặc điều dưỡng đakhoa mà chưa có chứng chỉ về chuyên khoa RHM) Trang thiết bị RHM tạicác cơ sở khám chữa bẹnh không đồng bộ, ngân sách cho chương trình NhaHọc Đường rất hạn chế, công tác tuyên truyền giáo dục kiến thức VSRMchưa được chú trọng đúng mức, trình độ dân trí và điều kiện sống của nhândân còn thấp, nhận thức về công tác chăm sóc răng miệng của đồng bào cácdân tộc Tỉnh Hoà Bình chưa được đầy đủ…Điều đó chứng tỏ cả 4 nội dung
Trang 26của chương trình NHĐ tại các trường học và các tuyến y tế cơ sở đều chưađược triển khai hiệu quả.
Nghiên cứu này được triển khai sẽ giúp Hòa Bình có những bằngchứng cụ thể hơn, thuyết phục hơn, để từ đó đưa ra các biện pháp can thiệpphù hợp nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh răng miệng ở địa phương
Trang 27Chương II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Địa điểm nghiên cứu: 4 trường tiểu học tại tỉnh Hòa Bình.
- Trường tiểu học Cù Chính Lan
- Trường tiểu học Đồng Tiến
- Trường tiểu học Kim Bình
- Trường tiểu học Thị Trấn Bo
2 Đối tượng nghiên cứu:
2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
Học sinh tiểu học từ 6 – 11 tuổi đang học tại 04 trường tiểu học tỉnh Hoà Bình được chọn ngẫu nhiên vào mẫu nghiên cứu, tự nguyện tham gia nghiên cứu và được sự đồng ý của phụ huynh học sinh.
2.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Không tự nguyện tham gia nghiên cứu.
- Nhỏ hơn 6 tuổi và lớn hơn 11 tuổi.
3 Thời gian nghiên cứu: Tháng 10/2011 – 7/2012.
4 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu:
Áp dụng công thức:
n =
2 ) 2 / 1 (
Trang 28- p = 81,6% (tỷ lệ sâu răng ở trẻ em theo kết quả cuộc Điều tra sức khỏerăng miệng của trẻ em do Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y
Hà Nội tại 5 tỉnh công bố vào ngày 5/4/2010)
4.3 Cách chọn mẫu:
Theo cách chọn mẫu của dự án “Mô hình bệnh tật trẻ em học đườngViệt Nam” của Bộ y tế Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên nhiều bước:
- Bước 1: Lập danh sách 12 huyện của tỉnh Hòa Bình
- Bước 2 (chọn huyện): Chọn chủ đích 4 huyện (có tham khảo Trung tâm
Y tế dự phòng tỉnh và Sở Giáo dục – Đào tạo)
- Bước 3 (chọn xã): chọn ngẫu nhiên một xã/phường trong huyện đượclựa chọn (tốt nhất là một xã/phường có triển khai chương trình Nha họcđường, một xã/phường chưa triển khai chương trình Nha học đường bằngcách lập danh sách các xã đã triển khai, các xã chưa triển khai và bốc thămngẫu nhiên)
- Bước 4 (chọn trường): Tại mỗi xã/phường lựa chọn 1 trường tiểu học.Như vậy chọn được 8 trường của tỉnh vào nghiên cứu trong đó có 4 trườngPTTH và 4 trường tiểu học:
+ Tiểu học Cù Chính Lan - TP Hoà Bình
+ Tiểu học Đồng Tiến - TP Hoà Bình
+ Tiểu học Kim Bình - Huyện Kim Bội - Hoà Bình
Trang 29+ Tiểu học thị trấn Bo - Huyện Kim Bội - Hoà Bình.
Tổng sổ học sinh nghiên cứu tại 4 trường tiểu học thực tế là 1245 em, đạt
cỡ mẫu nghiên cứu yêu cầu (Hai trường Đồng Tiến và Cù Chính Lanthuộc thành phố Hoà Bình xếp vào vùng thành thị, hai trường còn lại thuộcvùng sâu vùng xa của tỉnh xếp vào vùng nông thôn)
5 Phương pháp thu thập thông tin:
Công cụ thu thập số liệu:
Số liệu được thu thập thông qua phiếu khám răng miệng cho học sinh,
có kết hợp giữa phỏng vấn và khám lâm sàng với nội dung theo phiếu khám
in sẵn Phiếu khám răng miệng gồm 2 phần : phỏng vấn và khám lâm sàng
Phỏng vấn bao gồm các nội dung:
- Thông tin chung
- Thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh
- Các yếu tố liên quan khác
Khám lâm sàng:
- Dụng cụ:
+ Bộ khay khám răng: khay quả đậu, gương, thám châm, gắp
+ Cây thăm dò nha chu của WHO
+ Dụng cụ để khử khuẩn: Cồn, bụng, dung dịch khử trùng dụng cụ…+ Đèn pin, giấy lau…Phiếu khám răng miệng học sinh
- Biện pháp vô khuẩn:
Trang 30+ Trang phục bảo vệ: Áo Bluse, mũ, khẩu trang, găng khám vụ khuẩn.+ Từng loại dụng cụ được tiệt trùng và bảo quản trong hộp kim loại.+ Khử khuẩn dụng cụ đó sử dụng: Ngâm dụng cụ vào dung dịchHydroperoxyde 6% trong 30 phút.
- Người khám:
+ Các Bác sỹ của viện RHM có trình độ chuyên môn nội trú và thạc sỹcùng các bác sỹ chuyên khoa Răng Hàm Mặt Tỉnh Hoà Bình được tậphuấn, định chuẩn, thống nhất cách khám và phương pháp đánh giá.+ Trong khi khám, có 5 – 10% các mẫu được khám lại bởi cùng một ngườikhám và bởi một người khác để đánh giá độ tin cậy trên cùng người khám
và giữa những người khám khác nhau, phiếu khám được ghi lại như bìnhthường
+ Để đánh giá độ tin cậy trong chẩn đoán, chúng tôi dựa theo chỉ số Kappa
Trang 31o Khi cần nghi ngờ thì không ghi sâu răng [3].
- Chẩn đoán phân biệt sâu răng với:
+ Răng sữa cần chẩn phân biệt sâu răng với sún răng: thường gặp ở cácrăng cửa và răng nanh hàm trên Sún thường gặp ở 2 cạnh bên răng cửa
và kèm theo đổi màu răng
+ Ở răng vĩnh viễn cần phân biệt với: thiểu sản, lõm hình chêm, vết tiềnsâu răng, men răng đổi màu do nhiễm fluor, mòn mặt nhai …
- Thiểu sản: thường là những vệt mất men dài tạo thành dải,ngấnbậc thang và thường đi kèm với nhiễm tetracylin
- Lõm hình chêm: vết lõm thường gặp ở vùng cổ răng, nhẵnbóng
+ Chào hỏi, làm quen với học sinh tạo không khí cởi mở, gần gũi
+ Lắng nghe học sinh nói
+ Tư vấn cho học sinh về tác hại và cách phòng bệnh răng miệng
+ Khám dưới ánh sáng tự nhiên: Quan sát kết hợp dụng cụ để phát hiệnsâu răng, viêm lợi
Trang 32- Tổ chức phỏng vấn và khám lâm sàng Học sinh được khám lâm sàngngay sau khi được phỏng vấn Khám lâm sàng do các bác sĩ chuyên khoaRăng Hàm Mặt đã được tập huấn thống nhất cách khám và phương phápđánh giá.
6 Các chỉ số dùng trong điều tra dịch tễ học bệnh răng miệng: [25], [26], [27]
Để đánh giá tình hình sức khoẻ răng miệng, trong điều tra dịch tễ học
sử dụng nhiều chỉ số khác nhau nhưng trong phạm vi đề tài này chúng tôi sửdụng một số chỉ số sau:
- Chỉ số smt: chỉ số sâu mất trám răng sữa
- Chỉ số SMT: chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn
- Chỉ số CPITN: chỉ số tình trạng quanh răng và nhu cầu điều trị củacộng đồng
- Chỉ số DI-S: chỉ số cặn bám đơn giản
6.1 Chỉ số sâu - mất - trám răng vĩnh viễn (SMT): [28]
- Dùng cho răng vĩnh viễn với tổng số răng là 32 răng Răng chưa mọc, răngthừa, răng sữa không được tính vào chỉ số này Chỉ số này gồm 3 thành phần:
- S : gồm tất cả các răng bị sâu chưa được điều trị ở thân và chân răng
- M : răng mất do sâu
- T : răng đã hàn không sâu hoặc có sâu tái phát
- Chỉ số SMT của cá thể là tổng số răng vĩnh viễn bị sâu, bị mất và đượctrám trên mỗi người được khám
- Chỉ số SMT của quần thể là tổng số răng vĩnh viễn (sâu + mất + trám)của quần thể trên số người được khám
- SR : Chỉ số răng sâu không được điều trị trong cộng đồng
- MR + TR: Chỉ số răng sâu được điều trị trong cộng đồng
Trang 33- Khám theo mẫu phiếu điều tra của Bộ y tế dùng cho dự án “Mô hìnhbệnh tật trẻ em học đường Việt Nam”, ghi đầy đủ các mục cần điều tra Mã sốtrong phiếu khám được quy ước theo WHO [51]
Bảng 2.1 Quy ước của WHO về ghi mã số SMT
6.2 Chỉ số smt:[51]
- Ý nghĩa như SMT nhưng dùng cho răng sữa
Bảng 2.2 Quy ước của WHO về ghi mã số smt
-6.3 Chỉ số cặn bám đơn giản (DI -S):
- Cặn bám răng là tất cả các chất ngoại lai mềm dính vào răng
- DI- S là chỉ số cặn bám đơn giản sử dụng để đánh giá đơn thuần khảnăng VSRM của trẻ em ở lứa tuổi 7-11 với hàm răng hỗn hợp
- Chọn răng và mặt răng:
Khám 6 răng đại diện: R16, R26, R11, R31: Khám mặt ngoài
R36, R46 : Khám mặt lưỡi
Trang 34- Cách khám:
+ Khám 1/2 chu vi răng đại diện bao gồm cả mặt bên tới vùng tiếpgiáp
+ Tối thiểu phải khám 2 trong 6 mặt răng cần khám
+ Ghi 6 mã số cặn bám cho 6 răng đại diện
- Tiêu chuẩn đánh giá:
+ Mã số 0: Không có cặn bám
+ Mã số 1: Cặn mềm phủ không quá 1/3 bề mặt răng
+ Mã số 2: Cặn mềm phủ quá 1/3 nhưng không quá 2/3 bề mặtrăng
+ Mã số 3: Cặn mềm phủ quá 2/3 bề mặt răng
Công thức tính DI-S cá nhân: [29]
DI-S = Tổng mã số chất cặn
Tổng số răng khámCông thức tính DI-S cho quần thể [29] = Tổng chỉ số DI-S cá nhân chiacho số người khám
Trong nghiên cứu, để đánh giá tình trạng VSRM của học sinh chúng tôiphân chia chỉ số DI-S chung theo giới, tuổi, trường
Trang 35 Hạn chế của nghiên cứu:
- Do thời gian, kinh phí và nguồn lực hạn chế nên nghiên cứu chỉ tiếnhành ở học sinh tiểu học của 4 trường, không bao phủ toàn bộ các trườngtrong toàn tỉnh
- Chất lượng các thông tin thu thập bằng Phiếu phỏng vấn sẽ phụ thuộcvào kỹ năng phỏng vấn của điều tra viên
- Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu cắt ngang không can thiệp nênkhông thể kết luận được các yếu tố cắt ngang là căn nguyên hay không
- Nghiên cứu chưa đề cập một số yếu tố liên quan khác như: chất lượng nước
- Nghiên cứu phỏng vấn phần thực hành chứ không quan sát được trực tiếp
Cách khắc phục:
Trang 36- Tập huấn điều tra viên và giám sát thu thập số liệu.
- Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn có nội dung đơn giản, dễ hiểu, dễ trả lời,phù hợp với lứa tuổi học sinh
- Tiến hành điều tra thử và điều chỉnh bộ câu hỏi cho phù hợp
- Các bác sĩ khám răng cho các em là bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt
8 Xử lý số liệu:
- Số liệu được làm sạch trước khi phân tích
- Số liệu được nhập bằng phần mềm Epi DATA
- Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS Kết quả phân tích được chialàm 2 phần:
+ Phần mô tả: thể hiện tần số của các biến trong nghiên cứu
+ Phân phân tích: Kiểm định khi bình phương được sử dụng để tìmhiểu mối liên quan
- Phương pháp đánh giá thực hành vệ sinh răng miệng:
Cách chấm điểm, đánh giá này chỉ áp dụng trong nghiên cứu này Đánhgiá thực hành vệ sinh răng miệng của học sinh qua việc chấm điểm theokhung điểm như sau:
3
Trang 37Câu 2
Chải răngSúc miệngDùng tăm
210
3
Câu 3
SángTốiSáng và tốiSau ăn
1123
5
Câu 4
Trong vòng 1 phút2-3 phút
Trên 3 phút
123
3
Câu 5
Lên xuốngNgangXoay tròn
111
0123
0123
3
Phân loại điểm thực hành VSRM:
Trang 38Không đạt <11 điểm
9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:
- Nghiên cứu được sự chấp thuận của các ban ngành liên quan tại địaphương như Sở Y tế, Trung tâm y tế tỉnh và các huyện cũng như Sở giáo dụcđào tạo, phòng giáo dục đào tạo và ban giám hiệu các trường tiểu học
- Tất cả các đối tượng nghiên cứu được giới thiệu rõ mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu không ảnh hưởng đến kinh tế của đối tượng tham gianghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành với sự tự nguyện hoàn toàn của các họcsinh Khi học sinh không muốn tham gia có thể từ chối
- Những học sinh tham gia nghiên cứu sẽ được tư vấn về kiến thức liênquan đến bệnh sâu răng sau khi khám Các kết quả khám lâm sàng và hướngđiều trị được thông báo cho cha, mẹ học sinh thông qua phiếu khám răng chohọc sinh
Trang 39Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1.Phân bố của học sinh theo tuổi - giới:
Giới
6
78 (54,9%)
64 (45,1%)
142 (100%)
7
139 (54,9%)
114 (45,1%)
253 (100%)
8
141 (54,7%)
117 (45,3%)
258 (100%)
9
135 ( 54,7%)
112 (45,3%)
247 (100%)
10
117 (54,9%)
96 (45,1%)
213 (100%)
11
72 (54,5%)
60 (45,5%)
132 (100%)
Tổng
683 (54,9%)
562 (45,1%)
1245 (100%)
P
>0,05
Bảng 3.2 Phân bố học sinh theo tuổi - địa dư
Trang 40- Học sinh nam chiếm tỷ lệ 54,86%, học sinh nữ chiếm tỷ lệ 45,14% Sự khác biệt tỉ
lệ giữa nam và nữ không có ý nghĩa thông kê với p> 0,05.
- Học sinh thành thị chiếm 55,4% học sinh nông thôn chiếm 44,6% tuy nhiên sự khác biệt về tỉ lệ này không có ý nghĩa thông kê với p >0,05.