- Khi mà trong mạch phân tử có mặt của các mối liên kết giữa các nguyên tố khác nhau thì năng lượng nội tại khác nhau thể hiện độ bền nguyên thuỷ polyme- Góc hoá trị còn chịu ảnh hưởng c
Trang 1CHƯƠNG IMỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
I/ MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
Người học nắm được khái niệm cơ bản về đặc điểm polyme
II/ NỘI DUNG
- Đặc điểm của hợp chất cao phân tử
Phân tử có kích thước, khối lượng, độ trùng hợp lớn
Có thể đồng mạch hoặc dị mậch, có cực hoặc không có cực
Có thể dạng polyme hoặc copolyme hình dáng của cùng loại có thể khác nhau: thẳng, mạch nhánh, mạng lưới
Nhiệt độ nóng chảy hoặc hoà tan không phải hằng số dẫn tới độ bền cơ học
Có khả năng trương nở và sau đó có thể hoà tan hoặc không tan
Sự hình thành hoặc tạo thành phân tử từ các mắc xích liên kết với nhau: đầu – đuôi, đầu – đầu
Có thể tạo ra các qui luật về sự sắp xếp của phân tử hoặc sắp xếp toàn mạch
Hình dáng của các phân tử cũng khác nhau
Cùng một bản chất nhánh hoặc khối nhưng tính chất khác nhau Tức là tính chất bền
cơ nhiệt, hoá học, môi trường phụ thuộc vào nhánh, khối
Từ đó, kết luận:
Tính chất cơ học, lí học, hoá học phụ thuộc không chỉ vào bản chất polyme (thành phần, nối liên kết, kết hợp) mà còn phụ thuộc vào hình dáng kích thước, cấu trúc, sự sắp xếp
I/ MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1 Trạng thái tập hợp:
Ba trạng thái tập hợp: khí, lỏng, rắn Các trạng thái phụ thuộc vào mối tương quan giữa kích thước của các phân tử với khoảng cách giữa các phân tử
Trang 2+ Kích thước giữa các phân tử rất bé hơn khoảng cách giữa các phân tử thì trạng thái khí
+ Kích thước giữa các phân tử rất lớn hơn khoảng cách giữa các phân tử thì trạng thái rắn vì dao động của các phân tử khó khăn, xê dịch để mà chuyển vị trí cho nhau rất khó+ Kích thước giữa các phân tử lớn hơn khoảng cách giữa các phân tử không nhiều thì trạng thái lỏng có thể dao động phân tử, khối lỏng có hình thù của vật chứa
- Polyme có khối lượng phân tử rất lớn (5000)
- Polyme có kích thước rất lớn, tập hợp lại với nhau tạo ranh giới vị trí mà với khoảng cách bé và tại đó xuất hiện những lực tác dụng tương hỗ với nhau (lực vật lý như Vaderval, tĩnh điện) dẫn dến polyme không có trạng thái lỏng, khí (chỉ có trạng thái rắn)
2 Trạng thái pha (pha tinh thể, pha vô định hình)
Là sự sắp xếp của các nguyên tử các nhóm nguyên tử Ví dụ các nguyên tử Cacbon (than, graphic, kim cương)
Sự khác nhau giữa pha tinh thể và pha vô định hình được biểu diễn bằng một dấu hiệu vật lí (đố thị Rơnghen, biểu đồ tia hồng ngoại)
Sự khác nhau giữa khu vực tinh thể và khu cực vô định hình được tao 5nên do tập hợp của một đoạn phân tử (hoặc của toàn bộ phân tử)
Giữa các khu vực tinh thể và vô định hình có một bề mặt phân chia tạo ra một kích thước tinh thể khác nhau, có xu hướng tạo thành những khu vực tinh thể với kích thước bé
Độ bền cơ học, chỉ tiêu vật lý của khu cực tinh thể và vô định hình khác xa nhau
3 Hình thái cấu tạo
Phụ thuộc vào bản chất hợp chất , cùng bản chat61 có hình thái cấu tạo phân tử khác nhau, liên kết giữa các mắc xích là khác nhau do đó có cấu trúc lập thể với mức độ khác nhau (cis(bất cân đối), trans(cân đối))
Trang 44/ Hình thái sắp xếp
Là sự phân bố trong không gian của nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử (ở một khoảng cách nhất định) tồn tại một lực tác dụng (lực hút, đẩy), khi mà chuyển dịch một vị trí tương hỗ với nhau cho nên sẽ có sự thay đổi năng lượng (tiêu tốn, sản sinh)
Ví dụ: Sự quay của Hidro trong phân tử C2H6
Các nguyên tử hidro khi chuyển từ trạng thái sắp xếp (I) sang trạng thái (II), do khoảng cách của các nguuyên tử hidro đánh dấu ở hai nhiệt độ khác nhau, ta quay thành các góc khác nhau và đòi hỏi năng lượng khác nhau Mà một mạch phân tử polyme chứa rất nhiều nhóm nguyên tử nên số khả năng khả năng để các nguyên tử quay (chuyển dịch) sẽ rất nhiều
Do đó ta có thể kết luận, hình thái sắp xếp của một mạch phân tử polyme sẽ trở nên rất
đa dạng
Trong điều kiện nhận cùng một năng lượng thì các mạch phân tử sẽ thay đổi hình thái sắp xếp ở mức độ khác nhau do đó giải thích vì sao polyme không có điểm nóng chảy hoà tan
5/ Góc hoá trị và năng lượng nội tại
Góc hoá trị là góc tạo ra giữa hai nối liên kết
- Tuỳ thuộc vào bản chất nguyên tử trong liên kết mà tạo ra góc hoá trị khác nhau
- Hấu như là không thay đổi ở điều kiện nhấy định, nhưng có thể thay đổi ở một điều kiện khác
- Giá trị của góc hoá trị (α) có ảnh hưởng đến năng lượng làm thay đổi góc hoá trị
Vì mạch phân tử chứa rất nhiều góc hoá trị và làm cho hình dạng của mạch thường tồn tại ở dạng Zic-zắc
- Do tác động của các mạch lân cận hoặc do nhóm nguyên tử trong nội phân tử mà mạch tồn tại dưới dạng chuỗi hoặc dưới dạng cuộn nên làm cho tính chất cơ lí khác nhau
Trang 5- Khi mà trong mạch phân tử có mặt của các mối liên kết giữa các nguyên tố khác nhau thì năng lượng nội tại khác nhau (thể hiện độ bền nguyên thuỷ polyme)
- Góc hoá trị còn chịu ảnh hưởng của nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử (có thể là độ phân cực) Vì vậy cùng một hình thái cấu trúc như nhau, mạch phân tử polyme có thể có hình thái sắp xếp khác nhau
Ví dụ: Atactic, izotactic, xindiotactic
C l
C C C
C l
Hình thái sắp xếp Izotactic,có quiluật, không cân đối
Trang 6Ở dạng xindiotactic bền vững hơn dạng izotactic, và izotactic bền vững hơn dạng atactíc và khó nóng chảy hơn, khó hoà tan hơn và khó nhuộm màu.
Như cùng là PVC – cùng M nhưng có tính chất khác nhau khi sắp xếp khác nhau, khi
đó năng lượng nội tại khác nhau
Số lượng khả năng thay đổi vị trí (nhóm nguyên tử ) của một mạch rất lớnvà có thể không ảnh hưởng lẫn nhaudo đó có sự quay tự do Nhờ có sự quay tự do mà hình thái mạch không được thay đổidưới ác dụng của một lực chính sự thay đổi này tạo ra một sự mền mại của polyme
Sự quay của nguyên tử phụ thuộc vào năng lượng bên ngoài tác dụng lên nó (độ bền nguyên thuỷ)
Khi quay đến các vị trí khác nhau (có các góc quay khác nhau) suy ra năng lượng cũng
có giá trị khác
Cl Cl
Cl Cl
Hình thái sắp xếp Xindiotactic, có qui luật, cân đối
Trang 7Giá trị của năng lượng này lớn hơn thế năng quay của nguyên tử và khi di chuyển vị trí thì nguyên tử có một giá trị khác nhau Năng lượng cực đại gọi là thềm năng lượng quay.
Sự chênh lệch năng lượng ở hai vị trí (vị trí ban đầu, vị trí cuối) là hiệu số thế năng Giá trị của nó phụ thuộc vào bản chất polyme Và sự thay đỏi của Uo và ∆U (∆U = U1 – U2) không tuân theo qui luật như nhau
Dòng biểu diễn năng lượng quay của phân tử chất tan ở các góc quay khác nhau:
U = f(φ) (Vì yếu tố hút đẩy của hai Cacbon)
Độ mềm của polyme được đánh giá bằng giá trị của Uo và ∆U
* Các yếu tố ảnh hưởng đến các giá trị của Uo và ∆U
Trang 8+ Kích thước, độ phân cực nhóm định chức
+ Hình dạng mạch: thẳng nhánh, lưới
Kích thước của mạch phân tử, giá trị Mtb (ntb)
Do bản chất của polyme nên nếu xét một mạch phân tử độc lập thì M càng lớn thì số khả năng thay đổi hình dạng càng nhiều, nên tính mềm có thể được tăng lên
Tuy nhiên các phân tử polyme chịu ảnh hưởng của các mạch lận cận nên mạch càng dài tổng năng lượng tác dụng tương hỗ giữa các mạch tăng Do đó thềm thế năng qua Uo
càng tăng xu hướng chung là M tăng dẫn đến độ mềm có thể giảm
Mật độ của một dạng liên kết trong mạch phân tử và liên kết giữa các mạch phân tử
Ví dụ: lượng số nối trong mạch khác nhau thì độ mềm khác nhau
(- CH2 – CH = CH - )(- CH2 – CH = CH – CH2-)
Số nối đôi tăng lên thì độ mềm giảm xuống
Phụ thuộc vào ngoại lực:
Điều kiện nhiệt độ khác nhau, lực tác động khác nhau thì độ mềm khác nhau
7/ Độ biến
Xác định khả năng chống lại tác động ngoại lực, để bảo toàn hình dạng, kết cấu vật liệu độ bền tuỳ thuộc vào bản chất, M, lực tác dụng giữa các phân tử
Ngoại lực (cơ học ) như lực kéo, nén, va, đập
Khoảng cách giảm, trật tự tập hợp mạch tăng dẫn đến б tăng (ứng suất)
C
CN
C
NC
Đóng Vòng C
CH2
C
CN
C
C
CH2
CN
Trang 9Polyme mạch lưới lớn nhất, nhánh bé nhất, chứa nhánh có cực б tăng dẫn đến lực tác dụng tương hỗ.
Ngoài ra độ bền còn phụ thuộc váo tần số và thời gian tác dụng lực
Việc tạo ra độ bền polyme thu được trong quá trình tổng hợp polyme, gia công tạo vật phẩm (kéo, nén …)tuỳ thuộc vào cấu trúc mạch polyme
Một polyme có độ bền khác nhau ứng với một б tác dụng mà lực (nén, xoắn, đứt) khác nhau
Ta có thể nhận xét: xu hướng để làm tăng б (độ bền), polyme có độ phân tán nhỏ nhất thì làm tăng hàm lượng cấu trúc tinh thể
8/ Cấu trúc ngoại vi phân tử
Cùng một polyme nhưng do điều kiện tập hợp mà quá trình tập hợp(gia công) khác nhau như chùm bó, có sự sắp xếp theo một trật tự hoặc sắp xếp theo một cách lộn xộn,
sẽ phân biệt được các chùm bó khác nhau bằng bề mặt phân chiadẫn đến hai kiểu cấu trúc ngoại vi phân tử là cấu trúc chùm bó chặt và cấu trúc cuộn rối
- Chùm bó chặt các mạch phân tử định hướng, khoảng cách nhỏ, đồng nhất tạo thành khu vực tinh thể quá trình kết tinh Các chùm bó chặt tiếp tục tập hợp với nhau để tạo ra những cấu trúc tấm, mixen
Điều kiện để các mạch phân tử tạo thành tấm hoặc mixen là yêu cầu các nhóm nguyên
tử, các đoạn có một quy luật về cấu hình như nhau
Ví dụ: Đối với Xenlulozơ, đơn vị nhỏ nhất: cặp mắc xích
Khi cần tăng hàm lượng của khu vực chùm bó chặt cần tiến hành một số biện pháp Ví
dụ như kéo dãn nhiệt sau đó nhờ ngoại lực để mà sắp xếp lại, hoặc bổ xung một số chất phụ gia tạo mần tinh thể từ đó biến tính polyme:
• Đưa nhóm định chức mới vào mạch
• Nhánh ngắn
Trang 10cơ, lý, hoá của cuộn rối khác khu vực chùm bó.
Khi mắc xích và mạch có qui luật tập hợp như nhau tạo thành cấu trúc tinh thể (c)(a), (b) khu vực trật tự gần
(c)
Trang 11Ôn tập – Bài tập:
1/ Thế nào là trạng thái tập hợp? Các trạng thái tập hợp?
2/ Hình thái cấu tạo và hình thái sắp xếp? Hính thái sắp xếp Xindiotắctic và izotactic? So sánh hai loại hính thái này? Loại nào bền vững hơn vì sao?
3/ Cấu trúc ngoại vi phân tử? Qui luật tập hợp, cấu trúc tinh thể?
CHƯƠNG II BIẾN DẠNG VÀ PHỤC HỒI
I/ MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
Người học hiểu được các hiện tượng biến dạng và phục hồi của polyme
II/ NỘI DUNG
Ở một điều kiện nhất định, vật liệu polyme chứa một hệ thống tập hợp của các mạch phân tử, tồn tại trong một hệ thống cân bằng (không có sự dịch chuyển vị trí, hình dạngcủa cá mắc xích hoặc là của các mạch phân tử)
Xu hướng tác dụng ngoại lực, áp suất, nhiệt độ, toàn mạch phân tử sẽ chuyển động Sự chuyển động này sẽ ngừng khi đạt cân bằng mới dẫn đến vật liệu polyme biến dạng.Ứng suất polyme chống lại ngoại lực để đạt cân bằng mới được gọi là ứng suất lực б, khả năng biến của vật liệu được gọi là độ biến dạng ()
Thời gian từ cân bằng cũ chuyển sang cân bằng mới được gọi là thời gian biến dạng (T)
Do vật liệu polyme là tập hợp của các mạch phân tử mà có kích thước và cấu hình khác nhau, đồng thời chịu lực tác dụng tương hỗ của các mạch lân cận khác nhau thì dẫn đến mật độ biến dạng của các mạch không giống nhau thì sẽ khác nhau, vận tốc biến dạng là khác nhau
Trang 12Hiện tượng thay đổi vị trí nguyên tử, nhánh nguyên tử đến trạng thái cân bằng mới được gọi là độ biến dạng.
Tuỳ thuộc vào đặc trưng của sự phục hồi, chia tành ba kiểu biến dạng:
+ Mạch phân tử ngắn dẫn đến độ linh động kém, liên kết ít, và ở khu vực kết bó
- suy ra ít phân tử có cực → vận tốc biến dạng lớn, dễ biến dạng.
+ Mạch phân tử dài, khu vực kết cấu chặt nên vận tốc biến dạng nhỏ, đòi hỏi một thời gian nhất định mới đạt được cân bằng mới
Do đó lực đạt lên mẫu sẽ giảm dần theo thời gian
- (2): Sự biến dạng tăng theo thới gian tác động của ngoại lực (T), nhưng có đặt trưng khác nhau Ở giai đoạn từ 0 đến T : sự biến dạng tăng theo qui luật Huc nên đường biểu diễn là đường thẳng Từ T’ đến T ”: sự biến dạng không tuân theo qui luật qui luật Huc, đường biểu diễn là đường cong Từ T ” đến T ’’’ sự biến dạng tuân theo qui luật của một chất lỏng nên đường biểu diễn là đường cong giảm dần
- (3): Sự biến dạng và ứng suất lực tác dụng lực tác dụng có mối quan hệ khá phức tạp thông thường khi б tăng thì tăng, nhưng ở mật độ khác phụ thuộc vào giá trị của lực đặt
+ Từ 0 đến б’: tăng nhanh cùng với sự tăng б
+ Từ б’ đến б’’: tăng nhanh dù б tăng không đáng kể
+ Từ б’’ đến б’’’: tăng tương ứng với sự б tăng
Sự biến dạng của polyme là phụ thuộc vào mật độ dịch chuyển của nguyên tử, của nhóm nguyên tử hoặc là của toàn bộ mạch phân tử Ngoài ra còn phụ thuộc vào tần số đặt lực, tốc độ đặt lực, thời gian để tác dụng lực nhanh ngắn thì sự biến dạng của
Trang 13polyme ở nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử và ở phạm vi mật độ tác dụng vừa phải, tức
là giá trị lực và thời gian đặt lực vừa phải, tức là giá trị và thời gian đặt lực tương đối lớn thì góc hoá trị thay đổi khi đặt lực, thời gian lớn toàn bộ đoạn mạch có thể dịch chuyển đến mức độ mẫu polyme không thể trở lại hình dáng kích thước ban đầu
2/ Biến dạng đàn hồi
Khi tác dụng một ngoại lực không lớn trong một thời gian thì sẽ kích thích và kích động để các nguyên tử, nhóm nguyên tử chuyển chỗ thậm chí một số đoạn mạch của phân tử dịch chuyển xa nhau hoặc xích lại gần nhau
Từ đó kích thước của mẫu polyme bị thay đổi Nhưng khi giải phóng lực mẫu polyme trở về hình thái, hình dạng, kích thước ban đầu đó là hiện tượng đàn hồi
Trong vật liệu polyme luôn có lực hút lực đẩy, hút hoặc đẩy phụ thuộc vào khoảng cách các nguyên tử, hoặc các mạch phân tử Giá trị lực hút (đẩy) được biểu diễn như sau:
n đ h
r
b f r
bỏ lực tác dụng thì mẫu vật hoàn trở lại trạng thái cân bằng ban đầu (hồi phục) tuân theo định luật Huc
l E
∆
=
= δ ε
Trang 14Trong công thức trên thì:
độ biến dạng
б: Ứng suất
E: Mô đun đàn hồi
l: độ dài ban đầu
3/ Hiện tượng của sự hồi phục
Trong quá trình bị tác dụng của ngoại lực thì polyme có xu hướng biến dạng theo đặc trưng của lực tác dụng Nhưng đồng thời nó còn có xu hướng chống lại lực tác dụng, ở điều kiện nhất định (ví dụ: lực không lớn, tần số tác động lớn…) thì polyme trở lại hình dáng và kích thước ban đầu Tuy nhiên mối liên hệ giữa б và việc phục hồi cân bằng lúc ban đầu và quá trình biến dạng sẽ không trùng nhau
Quá trình biến dạng và hồi phục sẽ tạo ra vòng trể
Cùng một polyme thì vòng trễ sẽ có diện tích khác nhau, phụ thuộc vào điểm đặt lực
và điểm đặt giải phóng lực
(1) Khi lực đặt vào vào mẫu lớn và tháo lực nhanh
(2) Khi trị số của lực dặt và tháo lực có vận tốc vừa phải
Trang 15(3) Trị số và thời gian đặt tháo lực rất bé.
Khi diện tích của vòng trễ lớn thì năng lương dư còn lại trong mẫu polyme sẽ lớn và năng lựơng dư này sẽ được giải phóng dưới dạng nhiệt và làm biến dạng hoặc phá hủy vật liệu polyme Vì vậy mà trong quá trình gia công polyme thành các sản phẩm thì cần phải tính toán trị số và vận tốc đặt lực cũng như là tháo lực thích hợp để tránh hiện tượng trễ, từ đó không tạo vòng trễ lớn Do đó, cần tìm chế độ công nghệ tạo sản phẩm không có các khuyết tật phát sinh khi hoàn tất hoặc khi sử dụng
4/ Biến dạng mền cao.
* Hiện tượng đặt lực đủ lớn (б), lực trong thời gian dài làm vật biến dạng Sau khi giải phóng lực, mẫu polyme sẽ trở về hình dạng và kích thước ban đầu nhưng không xảy ra tức thời mà cần một khoảng thời gian nhất định hoặc thậm chí phải bổ xung một ngoại lực nào đó
Hiện tượng biến dạng rồi sau đó phục hồi, đòi hỏi thời gian hoặc ứng suất б bổ xung thì được gọi làbiến dạng mềm cao Biến dạng mền cao chỉ có ở vật liệu polyme
* Nguyên nhân: Sau khi biến dạng để có xu hướng thiết lập cân bằng khi trở lại trạng thái ban đầu thì các mạch polyme cần phải thắng lực liên kết tương hỗ giữa các phân tử mới được xác lập và nội lực Mặt khác sự dịch chuyển ở giai đoạn này xảy ra không chỉ các nguyên tử, các nhóm nguyên tử Mà còn do biến đổi các góc hóa trị, hình dáng phân
tử thay đổi dẫn đến có một số mạch trượt khỏi nhau nên trung tâm cân bằng của các mạch không thay đổi
* Đặc điểm:
Có tính chất thuận nghịch nghĩa là có khả năng đàn hồi nhưng biến dạng đàn hồi về
cơ chế: hoàn trả lại hình dáng toàn phân tử
Nôi năng của toàn bộ khối polyme: không bị biến đổi vì trung tâm cân bằng không thay đổi
Biến dạng phát triển với vận tốc lớn suy ra б nhỏ, thậm chí không còn tăng
Trang 16Một số polyme do đặc trưng về thành phần hóa học hoặc do đặc trưng về sự sắp xếp còn xuất hiện quá trình biến dạng mền cao bắt buộc
Hiện tượng mền cao xảy ra trong khoảng một nhiệt độ, từ nhiệt độ thủy tinh đến nhiệt
độ chảy dẻo trong đó nhiệt độ thủy tinh là nhiệt độ vật liệu polyme ở thể rắn nhưng vẫn có tính mền dẻo, đàn hồi Khi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ thủy tinh thì vật liệu trở nên cứng và giòn được gọi là nhiệt độ giòn
Trạng thái biến dạng mền cao bắt buộc chỉ có ở một số vật liệu polyme
* Trong công nghiệp để mở rộng sử dụng polyme thì người ta mở rộng phạm vi biến dạng mền cao bằng cách hạ thấp nhiệt độ thủy tinh hóa và nâng cao nhiệt độ chảy dẻo.Suy ra làm cho polyme không cóbiến dạng mền cao bắt buộc trở thành polyme biến dạng mền cao bắt buộc
Biện pháp: đưa chất hóa dẻo vào thành phần polyme, hoặc có thể phá bỏ độ đồng nhất của cấu trúc mạch Ví dụ: tọa copolyme
- Để tăng nhiệt chảy dẻo
+ Đưa nhóm định chức có cực
+ Tạo ra một số mối nối ngang
Chú ý: thường tiến hành trong quá trình gia công polyme
Nhận xét:
- Một polyme muốn có được độ biến dạng mền cao, có được tính mền nhất định Nếu tính mền cao quá bé thì polyme coi như một lưới không gian và khoảng biến dạng mền cao rất hẹp, hầu như chỉ có biến dạng đàn hồi nếu vượt quá biến dạng đàn hồi thì làm cho các polyme bị phá hủy
- Nếu polyme có nhóm thế thì các nhóm thế này có khoảng cách lớn
- Cùng một loại polyme nhưng độ biến dạng mền cao khác nhau, phụ thuộc vào một yếu tố:
Trang 17+ Thời gian tác dụng lực, nhiệt độ làm biến dạng
Trong đó: To: hằng số phụ thuộc bản chất polyme
∆U: độ chênh lệch năng lượng giữa trạng thái sau biến dạng với trạng thái ban đầu.T: nhiệt độ ở điều kiện biến dạng
Tần số tác dụng lực: số lần thay đổi lực trong một đơn vị thời gian khi tần số tác dụng càng cao thì độ biến dạng mền cao càng nhỏ
Nhiệt độ: nhiệt độ làm biến dạng có quan hệ tương hỗ với thời gian đặt lực để biến dạng mền cao càng ngắn
Kết lụân: Để bảo toàn biến dạng mền cao cho polyme thì cần duy trì nhiệt độ ở mức độ thấp Để rút ngắn thời gian phục hồi thì tăng nhiệt độ hoặc bổ xung ngoại lực
5/ Sự đàn hồi sau tác dụng lực của polyme mạch thẳng và polyme lưới không gian.
Với polyme mạch thẳng khi tác dụng lực đủ lớn hoặc thời gian lâu, có hiện tượng
“trượt” của một số mạch Do đó, việc phục hồi một cách triệt để toàn bộ khối vật liệu rất khó khăn hoặc không thể xảy ra Và vì vậy sự hồi phục đòi hỏi phải có thời gian dài
- Đối với polyme lưới không gian thì khi tác dụng lực, hình dáng của mạch chính bị thay đổi
- Kích thước giữa các mạch chính sẽ thay đổi nhưng khôg có hiện tượng trượt
Mặt khác do có mặt các mối nối ngang nên lực làm biến dạng lớn hơn nhiều so với một polyme mạch thẳng khi mà giải phóng lực, polyme lập tức trở lại hình dáng và kích thước ban đầu
Trang 18Ý nghĩa: Trong thực tế công nghiệp người ta chuyển một số polmye mạch thẳng thành polyme mạch lưới với mật độ nối ngang nhỏ nhưng cầu nối dài Và được thực hiện trong quá trình gia công sản phẩm bằng biện pháp đưa thêm chất đóng rắn
Ví dụ: polyamin, polyancol epoxy, lưu huỳnh cho cao su,cho phenolformaldehit gia côn hoặc tạo ra mắc xích thứ ba có khả năng nối mạch trong gia công
6/ Biến dạng dẻo (biến dạng chảy nhớt)
* Hiện tượng: khi tăng lực tác dụng (ở nhiệt độ cao ) toàn bộ mạch phân ửt sẽ chuyển động nhiệt với năng lượng đủ thắng được năng lượng nội tại và năng lượng tương tác giữa các mạch do đó các mạch trượt khỏi nhau, vị trí của trung tâm cân bằng đã biến đổi Khi giải phóng lực thì vật liệu không thể trở lại hình dáng, kích thước ban đầuđược nữa Lực tác dụng rất nhỏ, polyme ở thể rắn chuyển sang thể lỏng (thay đổi trạng thái),
có hình dạng của vật chứa Polyme đã chuyển thành trạng thái chảy dẻo
* Đặc điểm:
- Biến dạng không thuận nghịch
- Các phân tử chuyển động theo hướng của lực tác dụng và tạo nên các lớp lỏng, không có tác động ảnh hưởng nhau nhưng có lực ma sát Và lực ma sát của chất lỏng ở trạng thái dẻo tuân theo định luật Newton
dz
dv S
- Hiện tượng chảy dẻo chỉ có với polyme mạch thẳng
- Trong khối polyme ở nhiệt chảy dẻo vẫn còn có hiện tượng biến dạng mền cao được gây nên bởi các mạch polyme lớn, có n lớn hoặc bởi tập hợp các chùm bó
Do đó cần tạo polyme đảm bảo yêu cầu độ phân tán khối lượng phân tử nhỏ nhất
Trang 19* Những yếu tố ảnh hưởng đến nhiệt độ chảy dẻo.
- Khối lượng phân tử tăng nên nhiệt độ chảy càng cao
- Hiện tương các khu vực tinh thể và vô định hình
- Đưa chất hóa dẻo vào vật liệu và với những sản phẩm được sử dụng thì người ta có
xu hướng tăng nhiệt độ nóng chảy, nghĩa là mở rộng khoảng biến dạng mền cao về hai phía (làm giảm nhiệt độ giòn, nhiệt độ cao cũng không làm biến dạng polyme) quá trình được thực hiện bằng cách khâu mạch
+ Đưa vào polyme chất ổn định
+ giảm độ mền của mạch khi thay đổi đặc trưng của mối liên kết nội phân tử
+ Kéo dãn mạch khi tăng hàm lượng khu vực kết tinh
7/ Hóa dẻo vật liệu polyme
* Mục đích: làm tăng độ bền trong mạch polyme, nếu dùng biện pháp thay đổi thành phần của dạng phân tử bằng cách đồng trùng hợp, đồng trùng ngưng hoặc đưa nhóm định chức mới vào mạch hoặc tạo polyme nhánh thì đó là quá trình hóa dẻo nội
- Có thể tăng độ mền của vật liệu polyme trong quá trình gia công bằng cách trộn thêm vào polyme một số hợp chất lưỡng chức, bằng cách có khả năng khuếch tán vào khoảng trống mạch phân tử và có lực tương tác nhất định với polyme Do đó làm giảm lực tương tác giữa một mạch polyme với các mạch lân cận Quá trình gia công như vậy được gọi là quá trình gia công hóa ngoại
+ Hiệu quả: Dẻo hóa theo phương pháp này nhỏ hơn phương pháp hóa dẻo nội
Vì:
Trang 20+ Không làm thay đổi bản chất vật liệu polyme do không ảnh hưởng đến nội năng phân tử.
+ Lực tương tác của chất hóa dẻo với polyme chỉ ở dạng hóa lí (vanderwaals, hidro) nên kém bền theo thời gian
* Yêu cầu đối với một chất hóa dẻo:
- Có ái lực (chứa nhóm định chức có ái lực ) với polyme
- Giá trị của lực không lớn lắm
- Nhiệt độ sôi (nhiệt độ bay hơi) đủ cao để không bị phân hủy trong quá trình gia công trong sử dụng
- Không độc, khó cháy
- Rẻ, phổ biến (có khả năng trộn lẫn tốt với polyme – khả năng khuếch tán)
* Ảnh hưởng tác dụng của chất hóa dẻo
- Khi hàm lượng chất hóa dẻo tăng thì nhiệt độ nóng chảy giảm Tuy nhiên có thể xảy
ra hiện tượng nhiệt thủy tinh hóa giảm, nên sản phẩm dễ biến dạng
- Khi hàm lượng chất hóa dẻo tăng thì khoảng biến đổi của biến dạng mền cao tăng lên do đó khả năng chịu va đập, cọ sát, uốn, gập cũng sẽ được tăng Nhưng độ chịu nhiệt, chịu tải giảm
- Khi hàm lượng chất hóa dẻo tăng lên thì sự lão hóa của polyme giảm Đặt biệt khi chất hóa dẻo có tác dụng chống sự phá hủy, oxi hóa
Trang 21Ôn tập – Bài tập:
CHƯƠNG III DUNG DỊCH POLYME
I/ MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
Người học hiểu được các đặc điểm của dung dịch polyme, cơ chế quá trình trương nở,
ý nghĩa thực tế của polyme ở trạng thái dung dịch
II/ NỘI DUNG
1/ Đặc điểm của dung dịch polyme.
Các đặc điểm cơ bản của tính chất polyme, cũng như các tính chất khác xét ở phần trước, là do cấu trúc mạch dài của hân tử polyme gây nên
Đặc điểm quan trọng nhất là khái niệm hoàn toàn khác với dung dịch thấp phân tử về mức độ loãng và đậm đặc
Trong dung dịch polyme loãng, các phân tử riêng rẽ được hình dung như một bó rối, xốp, thấm đầy dung môi Trong chuyển động Brao, nó xoay tròn như một thể thống nhất xung quanh trọng tâm.Vì vậy, có thể coi phan 6ửt chiếm một vùng rộng lớn trong chất lỏng Nếu độ dài phân tử tương ứng với mức độ polyme hóa trung bình 103 – 104 thì trong một cuộn như vậy bản thân mạch polyme chỉ chiếm không quá 1% thể tích và 99% thể tích còn lại là dung môi Điều đó có nghĩa là trong dung dịch polyme 1% các
Trang 22đại phân tử đều tiếp xúc với nhau Như vậy với các polyme có khối khối lượng phân ửt như trên, chỉ những dung dịch có nồng độ 10-2% trở xuống dưới được coi là loãng.
Đặc điểm thứ hai là độ nhớt rất cao của dung dịch dù là rất loãng Đặc điểm này liên quan tới cấu trúc mạch dài của phân tử polyme
Trong dung dịch polyme tồn tại những hạt kích thước lớn làm hệ thống này về hình thức giống như một hạt keo, ví dụ huyện phù Những nét chung của dung dịch polyme
và hệ keo là:
a/ Sự tồn tại những hạt có kích thước lớn, thể hiện sự không thẩm thấu qua các màng bán thấm Điều này cũng được chứng minh bằng các phương pháp khác (như phương pháp tán xạ ánh sáng)
b/ Khả năng tạo ra tập hợp các hạt – sự kết tụ của các hệ keovà sự tập hợp các đại phân tử trong dung dịch (dù rất loãng) do cấu trúc mạch dài của chúng
c/ Đối với dung dịch polyme không áp dụng được các định luật Raol và VanHop
Trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX, một trong những phương pháp xác định khối lượng phân tử polyme là xác định sự thay đổi nhiệt độ sôi và nhiệt độ dông đặc các
dung dịch loãng (~1%) của chúng Nhưng các dung dịch này thực tế không phải dung
dịch loãng (xem đặc điểm thứ nhất), chúng khác xa với dung dịch lý tưởng Vì vậy, các hiệu ứng như tăng nhiệt độ sôi hoặc giảm nhiệt độ đóng băng bị phóng đại lên nhiều.Tuy nhiên, dung dịch polyme trong chất lỏng thấp phân tử là một dung dịch thật Những dấu hiệu của dung dịch thật là:
a/ Sự tương hợp giữa các cấu tử tạo thành dung dịch
b/ Quá trình hình thành dung dịch là quá trình tự phát triển
c/ Nồng độ dung dịch luôn luôn cố định
d/ Dung dịch là đồng thể (chỉ có một pha)
e/ Sự ổn định về nhiệt động
Trang 23Khác với dung dịch polyme, các hệ keo không đồng thể, không ổn định về nhiệt động (dễ bị phá hủy, dễ kết tụ, v.v…), tính chất của hệ keo phụ thuộcvào phương pháp điều chế.
Dung dịch polyme có đầy đủ các dấu hiệu của dung dịch thật nói trên Ngoài ra, tính chất dung dịch không phụ thuộc vào phương pháp điều chế Nó cũng tuân theo định luật nhiệt động học, ví dụ như định luật pha của Gibbs Tất cả chứng tỏ rằng dung dịch polyme là dung dịch thật Bên cạnh đó có những phương pháp chứng minh tính thật của dung dịch polyme Ví dụ bằng phương pháp tán xạ ánh sáng có thể chứng minh sự tồn tại các đại phân tử riêng rẽ trong dung dịch polyme
Mặc dù vậy cần luôn luôn lưu ý đến các tính chất của dung dịch polyme Ví dụ khả năng tạo ra một tập hợp các đại phân tử trong dung dịch polyme Về hình thức đây là dấu hiệu của hệ keo Ngoài ra, cũng như các chất thấp phân tử, polyme không thể tan trong mọi chất lỏng Chẳng hạn cao su dễ dàng tan trong benzen, nhưng không tan trong nước Rõ ràng trong một số trường hợp, giữa poplime và chất lỏng thấp phân tử có sự tương hợp – chúng tạo thành dung dịch thật Trong nhũng trường hợp không có sự tương hợp chúng tạo ra hệ keo Ví dụ dung dịch cao su trong benzen (trường hợp thứ nhất) và latex cao su trong nước (trường hợp thứ hai)
Đặc điểm thứ tư có liên quan dến quá trình hình thành dung dịch, tức động học hòa tan polyme Nét đặc trưng của quá trình hòa tan là tồn tại giai đoạn trương trước khi tan Trong giai đoạn này polyme hút chất lỏng thấp phân tử và tăng lên cả về thể tích và trọng lượng Có thể phân biệt trương hạn chế và trương không hạn chế
Trương không hạn chế là giai đoạn đầu của quá trình tự hòa tan Khi đó các mạch đại phân tử dần dần tách ra khỏi nhau do các phân tử dung môi chen vào giữa chúng Các phân tử polyme ít linh động hơn, việc chúng chen các phân tử dung môi đòi hỏi thời gian dài Vì vậy quá trình trương là quá trình trộn từ một phía (từ dung môi vào polyme) do kích thước quá lớn của phân tử polyme Polyme trương là dung dịch thấp phân tử trong polyme Dung dịch này tiếp giáp với lớp chất lỏng thấp phân tử Sau một
Trang 24khoảng thời gian nào đó, khi mạch đại phân tử đã cách nhau đủ xa, chúng bắt đầu khuếch tán một cách chậm chạp vào dung môi Lúc đó sẽ hình thành một lớp dung dịch loãng hơn tiếp giáp với lớp dung dịch đặc Dần dần nồng độ của hai lớp sẽ sang bằng và tạo thành hệ thống một pha đồng nhất – dung dịch polyme.
Trương hạn chế là quá trình chỉ giới hạn trong giai đoạn các phân tử dung môi xâm nhập vào polyme; sự tự tan của polyme không xảy ra Lúc này sẽ hình thành hai pha – pha thứ nhất là dung dịch chất lỏng trong polyme, pha thứ hai hoặc là chất lỏng nguyên chất, hoặc là dung dịch chất lỏng nguyên chất, hoặc là dung dịch rất loãng của polyme trong đó Hai pha này có bề mặt phân cách rõ ràng và cân bằng nhau
Sự trương hạn chế đặc trưng cho các polyme me mạng lưới và một số polyme mạch thẳng, chẳng hạn Gelatin Gelatin không cò cấu trúc không gian (mạng lưới) nhưng do
có các liên kết hidro bền vững nên ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ phòng nó chỉ trương hạn chế trong nước; các liên kết hidro cản trở các đại phân tử tách khỏi nhau Khi nhiệt độ lên tới 30 – 40oC, gelatin tạo thành dung dịch đồng nhất trong nước
2.1.1/ Các yếu tố quyết định sự trương và hóa tan polyme
a/ Bản chất của polyme và dung môi
Cấu tạo hóa học của phân tử polyme và dung môi, trước hết là độ phân cực của chúng,
là yếu tố` chủ yếu gây nên sự trương và hòa tan của polyme vô định hình mạch thẳng Nếu các mắc xích của đại phân tử và các phân tử dung môi có độ phân cực gần nhau và
sự trương sẽ xảy ra Nếu độ phân cực các mắc đại phân tử và các phân tử dung môi quá
xa nhau thì sự trương và hòa tan sẽ không xảy ra
Các polyme không phân cực (polyizopren, polybutadien) trộn hợp không hạn chế với hydroCacbon no và hoàn toàn không tác dụng với các chất lỏng phân cực (nước, rượu) Các polyme phân cực (polyvinylacol, xenlulo) không tác dụng với các hydroCacbon nhưng trương rất mạnh trong nước Polyme có độ phân cực trung bình tan trong các chất lỏng phân cực trung bình, ví dụ polystyren không trương và không tan trong các hydroCacbon no hoặc nước, nhưng tan tốt trong các hydroCacbon thơm
Trang 25b/ Độ mền dẻo của mạch polyme
Các polyme mạch mền dẻo thường trương và tan tốt Độmền dẻo cao làm các mạch phân tử dễ tách khỏi nhau khi trương vì chúng có thể chuyển dịch từng phần và sự chuyển dịch này lại được chuyển thành các chuyển động nhiệt thúc đẩy làm cho dễ dàng hơn Mạch mền dẻo khi đã tách khỏi các mạch lân cận dễ dàng khuếch tán vvào dung dịch hơn Các mạch cứng rất khó chuyển dịch từng phần, do đó để tách chúng ra khỏi nhau đòi hỏi một năng lượng khá lớn thường vượt quá năng lượng tương tác giữa chúng với dung môi Vì vậy các polyme vô định hình mạch thẳng có mạch cứng bởi các nhòm thế phân cực thường dễ trương trong các chất lỏng phân cực nhưng không tan ở nhiệt độ thường Để hòa tan các polyme với mạch rất cứng cần có những dung môi tác dụng rất mạnh với các mạch này Ví dụ Xenlulo hòa tan trong các bazo Amon bậc bốn, còn poliacronitril trong dimetylfomamid
c/ Khối lượng phân tử polyme
độ dài mạch càng lớn thì năng lượng tương tác giữa các mạch càng lớn, càng khó tách chúng ra khỏi nhau khi hòa tan Vì vậy khi khối lượng phân tử tăng lên trong dãy đồng đẳng polyme, khả năng hòa tan trong cùng một dung môi giảm xuống Người ta lợi dụng khả năng hòa tan khác nhau của các polyme trong dãy đồng đẳng để tách chúng thnàh từng phần có khối lượng phân tử khác nhau
d/ Nhiệt độ
Đối với đa số polyme, khả năng hòa tan tăng lên khio nhiệt độ tăng, những polyme mạch thẳng trương hạn chế có thể tan không hạn chế khi nhiệt độ tăng Tuy nhiên cũng
có những trường hợp ngược lại, khi nhiệt độ tăng thì độ hòa tan giảm
e/ Trạng thái pha của polyme
polyme tinh thể tan kém hơn polyme vô định hình rất nhiều vì để tách các đại phân tử trong tinh thể cần tiêu tốn năng lượng vượt quá năng lượng tương tác giữa các phân tử
và năng lượng mạng tinh thể Vì vậy ở nhiệt độ thường các polyme tinh thể thương không tan ngay cả trong các chất lỏng có độ phân cực gần với chúng Ví dụ, ở 20oC
Trang 26polyetylen trương rất hạn chế trong n-Hexan và chỉ tan khi nung nóng; polytetrafloretylen (teflon) không hòa tan trong tất cả các dung môiở bất kỳ nhiệt độ nào.
Liên kết hóa học giữa các phân tử mạch thẳng cản trở sự tách chúng khỏi nhau khi hòa tan, vì vậy polyme có cấu trúc mạng lưới chỉ có thể trương ( nếu không phá vỡ các liên kết hóa học) Muốn polyme hoàn toàn không tan chỉ cần một liên kết hóa học cho mỗi cặp hai mạch phân tử Một khối lượng không đáng kể tác nhân khâu mạch là hoàn toàn
đủ để làm mất khả năng hòa tan của polyme Ví dụ, khi lưu hóa cao su vối khối lượng phân tử 100000, chỉ cần 0,16g lưu huỳnh cho 1kg cao su là đủ để sản phẩm lưu hóa không tan Tuy nhiên, polyme mạng lưới đễ trương và đại lượng trương thường được
sử dụng để đánh giá mức độ khâu mạch (mức độ tạo cấu trúc) của polyme
2.1.2/ Tập hợp trong dung dịch polyme
Ái lực giữa polyme và dung môi xác định, ở một mức độ rất lớn, tính cách và hình dạng đại phân tử trong dung dịch Nếu năng lượng tương tác giữa mạch polyme và các phân tử dung môi nhỏ hơn năng lượng tương tác giữa các mạch polyme với nhau thì trong dung dịch sẽ có hiện tượng tạo tập hợp, nghĩa là hình thành nhóm phân tử Kích thước và độ bền vững của tập hợp phụ thuộc vào bản chất của polyme và dung môi, cũng như nồng độ và nhiệt độ Nồng độ càng cao và nhiệt độ càng thấp thì càng nhiều phân tử tập trung vào tập hợp và tập hợp càng bền Như vậy, tập hợp là một loại cấu trúc ngoại vi phân tử tồn tại nhất thời, có thể bị phá vỡ bởi chuyển động nhiệt Tuy nhiên, do thời gian hồi phục của mạch rất lớn, các tập hợp có thể tồn tại trong dung dịch polyme khá lâu và có thể quan sát chúng bằng những phưong pháp thích hợp
Khi thêm vào dung dịch polyme đồng nhất một lượng chất lỏng không tác dụng với polyme (chất kết tủa), tức khả năng hòa tan của môi trường giảm xuống, kích thước các tập hợp sẽ tăng lên và đến một lúc nào đó chúng có thể tách ra thành một pha riêng Đó
là quá trình tách polyme khỏi dung dịch
Trang 27Do khả năng tạo thành tập hợp, vấn đề hình dạng các đại phân tử trong dung môi rất quan trọng Các dữ kiện thực nghiệm (phương pháp tán xạ ánh sáng, khúc xạ hai lần v.v…) cho thấy các các dung dịch rất loãng, với độ mềm dẻo thích hợp và không va chạm trực tiếp nhau, các phân tử polyme cuộn lại thành globul Hình dạng và kích thước các globul thay đổi trong phạm vi rất rộng tùy thuộc vào tính chất tương tác giữa polyme và dung môi.
Nếu phân tử dung môi có ái lực rất lớn với phân tử polyme và năng lượng tương tác giữa chúng cao (giá trị nhiệt hòa tan lớn), thì dung môi được gọi là dung môi “tốt” Trong dung môi “tốt” các globul sẽ xốp hơn, duỗi thẳng và kéo dài hơn, nồng độ dung dịch bão hòa sẽ cao hơn
Ngược lại, nếu ái lực giữa polyme và dung môi không lớn lắm, năng lượng hòa tan không cao, polyme và dung môi sẽ tương tác với nhau yếu Trong globul, tương tác giữa các đoạn bên trong đại phân tử sẽ chiếm ưu thế và hậu quả là các globul sẽ có hình dạng chặt chẽ hơn Những dung môi như vậy gọi là dung môi “xấu” Nồng độ bão hòa trong dung môi xấu thường không cao Tuy nhiên trong dung môi xấu tương tác giữa các phân
tử rất yếu do đó dung dịch của chúng gần với dung dịch lý tưởng hơn
- Dung dịch polyme là một hệ thống bao gồm hai hoặc ba cấu tử, được tạo nên qua hai giai đoạn:
Trương nở chất tan
Phân tán chất hòa tan thành những phân tử riêng biệt, độc lập
+ Trương nở chưa phân tán được gọi là trương nở giới hạn
+ Trương nở phân tán được gọi là trương nở vô hạn (hòa tan)
- Mạch polyme trong môi trường lỏng có thể bị solvat hóa hoặc hidrat hóa Và tuân theo qui luật: Polyme có cực tan trong dung dịch có cực, polyme khong phân cực tan trong dung môi không phân cực Tuy nhiên, nếu căn cứ vào hiện tượng solvat thì chưa
Trang 28đủ mà cần phải căn cứ vào tính chất nhiệt động học hệ thống, có nghĩa là khi năng lượng
Với [C]polyme < 0,01% thì dung dịch loãng
[C]h/c thấp phân tử ≤ 10% thì dung dịch loãng
Có khả năng động tụ khi có mặt của chất diện li
Khi nồng độ dung dịch đủ lớn thì xuất hiện các tổ hợp phân tử polyme
Giữa polyme và dung môi có thể tạo ra một lớp điện tích kép trái dấu
Dung dịch thật:
Giữa các mạch phân tử tồn tại một lực tương tác
Có độ bền nhiệt động, ít bị thay đổi bởi yếu tố nhiệt độ
Là một hệ đồng nhất, đồng thể và quá trình li tan là quá trình tự tạo
Trang 29Nồng độ của dung dịch không biến đổi theo thời gian và không tùy thuộc vào phương pháp tạo dung dịch.
+ Tùy thuộc vào bản chất Polyme mà sự phân tán phân tử tạo ra dung dịch điện li hoặc dung dịch không điện li
Ví dụ
Dùng polyacrylat dễ bị điện li, kết hợp với axit thì đông tụ
2/ Lý thuyết về dung dịch polyme
a Thuyết Mixen
Dựa vào hiện tượng thẩm tích polyme qua màng bàn thấm Polyme không thể đi qua màng bán thấm Polyme không thể đi qua màng bán thấm Do đó ta có thể kết lụân dung dịch polyme là hệ thống bao gồm dung môi và mixen polyme
Khi tồn tại mixen thì các dung môi sẽ khuếch tán vào và chiếm chỗ khoảng trống trong mixen và ở một điều kiện nào đó thì mixen sẽ bị phá vỡ để tạo nên phân tử polyme riêng biệt
Nhược điểm:
+ Chưa giải thích được mixen được tạo nên do năng lượng liên kết nào
+ Nếu dung dịch có mặt mixen thì đó là một hệ keo nên sẽ không bền về mặt nhiệt động học
b Thuyết phân tử:
Thuyết phân tử cho rằng dung dịch polyme là một hệ thống chỉ chứa các phân tử riêng biệt, độc lập nên tồn tại dưới dạng cuộn hoặc các khối cầu (hoặc một dải) chứa đựng (hoặc kết hợp) các phân tử dung môi
- Vậy dung dịch polyme là một hệ thống chưa hai pha
+ Một pha chứa dung môi và polyme
+ Một pha chỉ chứa dung môi
Trang 30- Do các phân tử polyme có nội năng nên nó có khả năng biến dạng, có khả năng bị solvat hóa (một phần hoặc toàn bộ phân tử) do đó tạo nên một độ bền nhất định Khả năng solvat hóa phụ thuộc vào đặc trưng của nhóm định chức.
Ví dụ:
Khả năng solvat hóa càng tăng thì khả năng phân tán càng dễ dàng
- Nhược điểm:
+ Chưa giải thích được sự tăng nhanh của độ nhớt theo nồng độ
- Ưu điểm: Thuyết này cũng đã giải quyết được một số vấn đề
Phù hợp với:
+ Trong hệ thống không có mặt của mixen
+ Trong quá trình hòa tan thì có hiện tượng tỏa nhiệt (thay đổi năng lượng)
+ Có tác dụng tương hỗ giữa từng phân tử và làm cho ∆F < 0 giảm xuống
+ Sự hòa tan polyme vào dung môi không cần có mặt của chất ổn định nhằm bảo vệ hệ keo
+ Ở trạng thái cân bằng nhiệt động học thì polyme có đặc trưng thuận nghịch, cụ thể
là khi cho dung môi bay hơi, polyme sẽ kết tủa lại, khi bổ xung dung môi ta thu được dung dịch
3/ Cơ chế quá trình trương nở (trương nở giới hạn)
Các phân tử dung môi tập hợp mạch phân tử polyme, chiếm chỗ khoảng trống, làm cản trở lực tác dụng tương hỗ, nhưng chưa đủ năng lượng để phá vỡ hoàn toàn năng lượng của lực liên kết hóa lí này
Khả năng khuếch tán và khả năng đẩy các phân tử polyme ra xa nhau của chất lỏng phụ thuộc vào mật độ kết bó của polyme (tinh thể, cuộn rối) nên khả năng gây trương xảy ra ở mật độ khác nhau nên trương nở kết bó: - trương ở ngoài kết bó (ở ngoài phân tử) – trương trong kết bó (ở trong tinh thể)
Trong điều kiện mà sự kết bó không thay đổi mà chỉ có hiện tượng tăng khoảng cách giữa phân tử này với phân tử khác thì độ bền của vật liệu polyme giảm, độ mền tăng
Trang 31Và hiện tượng hòa tan vô hạn chỉ xảy ra khi hệ thống được chuyển thêm năng lượng (tăng nhiệt độ, khuấy trộn hoặc đưa thêm một cấu tử thấp phân tử thứ hai để tạo ra hệ có nhiều hơn bốn cấu tử )
Chú ý: Tuy nhiên có một số polyme, hiện tượng hòa tan vô hạn xảy ra ở điều kiện nhiệt độ thấp (hạ nhiệt độ)
Suy ra ở một tỷ lệ giữa chất lỏng và polyme nhất đinh thì độ bền có thể được tăng lên.Chú ý: do tác dụng phân tử chất lỏng và polyme sẽ có một năng lượng kết hợp dưới dạng solvat hóa hoặc hidrat hóa làm cho tổng số năng lượng liên kết giữa hai mạch polyme sẽ được tăng lên
Do các polyme lưới không gian thì chỉ xảy ra hiện tượng trương giới hạn mà không xảy ra hiện tượng trương vô hạn Vì giữa các mạch đã liên kết với nhau theo kiểu hóa học
Trong đó: m, v khối lượng, thể tích mẫu sau khi trương
mo, vo khối lượng, thể tích mẫu ban đầu
- Khả năng trương tính theo vận tốc
+ Giá trị mức độ trương cực đại hoặc mức độ trương cân bằng (α)
Polyme (1) có vận tốc trương lớn hơn polyme (2)
5/ Các yếu tố ảnh hưởng đến sự trương và tan
- Bản chất polyme độ phân cực (Độ phân cực co 1ảnh hưởng đến nội năng của phân tử đến năng lượng tương tác ngoại phân tử) khi mức độ phân cực quá lớn thì các phân tử dung môi được hấp phụ bởi các` phân tử polyme có năng lượng liên kết bé hơn tổng các năng lượng nêu trên và không đủ khả năng tách mạch phân tử ra khỏi nhau
Trang 32Trong điều kiện lực hấp phụ lớn, đồng thời lực kết hợp của các phân tử dung môi lớn thì hiện tượng trương vô hạn có thể xảy ra Như vậy khả năng trương còn phụ thuộc vào bản chất của dung môi.
- Độ mền mạch phân tử polyme, khi độ mền tăng, khả năng thay đổi hình dạng mạch polyme tăng, khả năng trương nở dễ dàng hơn, nên sự thay đổi năng lượng tương hỗ của khối polyme là dễ dàng hơn
- M (n)- kích thước của phân tử tăng nên khả năng hòa tan vô hạn giảm, khả năng trương nở dễ dàng
- Thành phần hóa học: Tùy thuộc vào mức độ
Tùy thuộc vào độ đồng đều của nhóm định chức, của mắc xích có trong mạch polyme
Ví dụ: thông thường copolyme dễ hòa tan hơn polyme (ý nghĩa) phá vỡ cấu trúc đều đặn nên giảm nội năng tương tác
Khi nhiệt độ (P) tăng ảnh hưởng đến α
6/ Ý nghĩa thực tế của polyme ở trạng thái dung dịch:
Tùy thuộc vào bản chất polyme và của dung dịch mà dung dịch sẽ được sử dụng trong những phạm vi khác nhau trên cơ sở lợi dụng độ nhớt lớn ở nồng độ nhỏ của hệ thống,
Trang 33(+) Hoặc dung dịch tạo ra lớp kết dính giữa các vật liệu khác nhau.
(+) Có thể làm sạch vật liệu polyme, đồng nhất polyme: dùng phương pháp hòa tan hoặc kết tủa phân đoạn, dùng các mạch polyme có M (n) khác nhau (phụ thuộc vào lượng dung môi hoặc phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ)
- DUNG DỊCH POLYME ĐẬM ĐẶC
Việc nghiên cứu các đặc điểm tính chất của dung dịch polyme đậm đặc không những có ý nghĩa lý thuyết mà có cả ý nghĩa thực tế quan trọng vì rất nhiều polyme được sử dụng dưới dạng dung dịch đậm đặc (keo, vécni, các polyme dẻo hóa)
Dung dịch polyme đậm đặc là dung dịch trong đó các phân tử polyme tương tác với nhau dẫn đến độ nhớt tăng vọt so với độ nhớt của dung môi nguyên chất Ví dụ, có đề nghị gọi những dung dịch polyme có độ nhớt tương đối trên 100 là đậm đặc (ηtd=ηdd/ηdm
xem 2.5.3) Giới hạn dưới của nồng độ polyme trong những dung dịch như vậy có thể từ vài phần nghìn (cho các polyme mạch thẳng cứng) đến 10% cho các polyme mạch mềm dẻo và khối lượng phân tử không cao lắm Người ta quy ước chia dung dịch đậm đặc ra hai loại: đậm đặc vừa phải và đậm đặc cao Loại sau bao gồm các dung dịch có phần thể tích polyme trong đó bằng hoặc lớn hơn 0,3 và các polyme dẻo hóa
Dung dịch polyme đậm đặc không tuân theo các định luật của Newton và Purzeil,
độ nhớt của chúng phụ thuộc vào thời gian, vào lịch sử trước đó của dung dịch và điều kiện tác động cơ học; sự phụ thuộc của độ nhớt các dung dịch polyme đậm đặc vào nhiệt độ có tính chất dị thường (hiện tượng trễ)
Sự sai lệch so với định luật Newton thể hiện ở chỗ khi ứng suất tăng thì độ nhớt lại giảm, nghĩa là không có sự tỷ lệ thuận giữa ứng suất và gradient tốc độ trượt Cũng tương tự, trái với định luật Purzeil, lượng dung dịch polyme đậm đặc chảy ra khỏi mao quản không tỷ lệ với áp suất đặt vào mà lại tăng nhanh hơn Những sự dị thường này được gây ra bởi các cấu trúc khác nhau trong dung dịch polyme đậm đặc (các tập hợp của đại phân tử, các mạng không gian hình thành bởi liên kết giữa các phân tử, ví dụ liên kết hydro) Khi tăng ứng suất, các cấu trúc này dần dần bị phá hủy làm tốc độ dòng
Trang 34chảy thay đổi Ngoài ra trong quá trình chảy của dung dịch polyme đậm đặc có xảy ra sự định hướng các đại phân tử theo hướng chảy Điều này cùng với một số yếu tố khác làm giảm sức cản dòng chảy.
Độ nhớt của dung dịch polyme đậm đặc có thể coi như được cấu thành từ hai thành phần: độ nhớt thường ηn liên quan đến dòng chảy điều hòa và tuân theo các định luật Newton và Purzeil, và độ nhớt cấu trúc ηct do sự tương tác của các đại phân tử trong dung dịch gây nên
η = ηn + ηct
Chính thành phần ηct gây nên sự tăng độ nhớt dị thường khi nhiệt độ giảm hoặc nồng độ tăng vì các cấu trúc bị phá hủy (một phần hay toàn bộ) ở nhiệt độ cao hoặc nồng độ thấp sẽ xuất hiện trở lại khi nhiệt độ giảm hoặc nồng độ dung dịch tăng lên.Hiện tượng thay đổi độ nhớt của dung dịch polyme đậm đặc theo thời gian cũng như các hiện tượng trễ nhiệt có nguyên nhân là do quá trình đạt đến cân bằng khá chậm chạp khi một cấu trúc xuất hiện hoặc biến đi trong dung dịch Nếu như ngay sau khi pha chế, độ nhớt dung dịch tương đối nhỏ thì cùng với quá trình tạo cấu trúc nó sẽ trở nên lớn hơn nhiều theo thời gian
Hình vẽ : Hình 2.6 ********
Hiện tượng trễ nhiệt của độ nhớt dung dịch polyme đậm đặc được biểu diễn bằng
sơ đồ trên hình 2.6 Nếu dung dịch polyme ở nhiệt độ T2 được làm lạnh nhanh đến nhiệt
độ T1 thì độ nhớt của nó sẽ tăng lên theo đường a2a1 Tiếp tục giữ mẫu ở nhiệt độ T1 thì
độ nhớt sẽ tăng theo đường a1b1 Nếu đun nóng nhanh dung dịch đó từ T1 đến T2 thì độ nhớt lại giảm theo đường b1b2, và sau khi được giữ ở nhiệt độ T2 một thời gian độ nhớt
sẽ tiếp tục giảm xuống đến giá trị c tương ứng với trạng thái cân bằng mới Nhưng nếu đun nóng thật chậm dung dịch trên thì độ nhớt sẽ giảm xuống theo đường b1c
Đôi khi một số cấu trúc tương đối kém bền vững trong dung dịch polyme đậm đặc
có thể bị phá hủy bởi tác động cơ học như lắc, khuấy, v.v… Sau khi ngừng tác động một khoảng thời gian nào đó (phụ thuộc vào nồng độ dung dịch, bản chất polyme, các tạp
Trang 35chất v.v…), các cấu trúc trên và độ nhớt lại được phục hồi Hiện tượng phá hủy thuận nghịch đẳng nhiệt của các cấu trúc dưới tác động cơ học và khôi phục lại chúng sau khi ngừng tác động gọi là ticxotrop (xem 1.3.6) Nhiều kỹ thuật trong sơn, vecni và các dung dịch polyme đậm đặc là dựa trên hiện tượng này.
Polyme dẻo hóa – đó là một dạng dung dịch polyme đậm đặc Việc đưa vào polyme
một lượng không lớn (tới 30%) các chất lỏng thấp phân tử có độ sôi cao (gọi là chất hóa dẻo) là một trong những phương pháp quan trọng nhất để biến tính cấu trúc vật liệu polyme Trên thực tế việc hóa dẻo làm tăng độ đàn hồi của vật liệu, tăng độ chịu lạnh và làm quá trình gia công nó dễ dàng hơn Về mặt lý thuyết, bản chất của hóa dẻo là thay đổi độ nhớt của hệ thống, tăng độ mềm dẻo của đại phân tử và tăng độ linh động của các cấu trúc ngoại vi phân tử
Khi xảy ra quá trình dẻo hóa, các phân tử tương đối nhỏ của chất hóa dẻo thâm nhập vào polyme, tách các đại phân tử polyme ra, phá vỡ các cấu trúc ngoại vi phân tử, bao bọc các đại phân tử bằng một lớp đơn phân tử, che chắn các nhóm có cực Nếu chất hóa dẻo không đủ để tách các đại phân tử ra khỏi nhau thì các cấu trúc ngoại vi phân tử
có thể không bị phá vỡ nhưng độ linh động của chúng sẽ tăng lên và ảnh hưởng đến tính chất polyme Loại dẻo hóa này có thể xảy ra cả khi ái lực giữa polyme và chất hóa dẻo rất thấp: các phân tử chất hóa dẻo không thể phá vỡ các cấu trúc ngoại vi phân tử mà chỉ chen vào giữa chúng trên mặt phẳng phân cách, dường như chỉ để thấm ướt và bôi trơn chúng, tăng độ linh động của các cấu trúc này lên Loại dẻo hóa này được gọi là dẻo hóa giữa các cấu trúc (giữa các bó)
Ta hãy xét trường hợp chung khi polyme và chất hóa dẻo trộn hợp tốt với nhau Ở đây có thể có một số khả năng sau
Nếu polyme có các phân tử mềm dẻo, việc đưa chất hóa dẻo vào làm tăng độ linh động của các đơn vị động học dẫn tới giảm nhiệt độ hóa thủy tinh và nhiệt độ chảy nhớt, đồng thời làm các nhiệt độ này gần lại với nhau (Hình 2.7)
Trang 36Vì vậy, vùng trạng thái mềm cao của polyme chuyển sang vùng có nhiệt độ thấp hơn, đồng thời khoảng nhiệt độ mềm cao nhỏ lại và mođun đàn hồi giảm xuống Khi lượng hóa dẻo đủ lớn, trạng thái mềm cao biến mất (Hình 2.7, đường 4) tương ứng với
sự chuyển biến từ polyme dẻo hóa sang dung dịch polyme trong chất hóa dẻo
Hình vẽ : Hình 2.7******************
Trong trường hợp polyme có đại phân tử rất cứng, trạng thái mềm cao hoàn toàn không có hoặc thể hiện rất yếu Khi đó chất hóa dẻo chỉ có tác dụng làm giảm nhiệt độ
hóa thủy tinh – lượng hóa dẻo càng nhiều thì Tg càng giảm mạnh Cũng có thể do tương
tác mạnh giữa các phân tử chất hóa dẻo và các nhóm nguyên tử trong đại phân tử mà độ mềm dẻo của các loại phân tử polyme tăng lên đáng kể và kích thước của các đoạn – đơn vị động học của đại phân tử giảm xuống Vì vậy, nhiệt độ thủy tinh hóa sẽ giảm
mạnh (T g phụ thuộc vào kích thước đoạn) trong khi sự giảm nhiệt độ chảy vẫn bình thường với mọi sự dẻo hóa Do đó khi đưa chất hóa dẻo vào, có thể sẽ xuất hiện hoặc
mở rộng khoảng nhiệt độ mềm cao của polyme (Hình 2.8, đường 1,2,3)
Nếu vẫn tiếp tục tăng lượng chất hóa dẻo khi độ mềm dẻo của phân tử không tăng được nữa thì sự thay đổi đường cong cơ nhiệt lại có đặc tính tương tự như đối với polyme có mạch mềm dẻo (Hình 2.8, đường 4,5)