Có thể ý kiến của tác giả cuốn sách Một mình với mùa thu chưa thực sự xác đáng nhưng không thể phủ nhận rằng: trong sáng tác văn học nghệ thuật, chất thơ được xem như là một đặc tính q
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
NGƯỜI VIẾT
Trần Thị Hồng Minh
Trang 3MỤC LỤC
1.1.2 Phân biệt chất thơ với chất trữ tình 19
1.2.1 Thơ, văn xuôi - những kết hợp nghệ thuật 21 1.2.2 Biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi 27
Chương 2: Nội dung biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu 32
2.1.1 Chất thơ nhìn từ thiên nhiên nơi rừng núi 33 2.1.2 Chất thơ nhìn từ thiên nhiên nơi làng quê 37 2.1.3 Chất thơ nhìn từ thiên nhiên nơi thành thị 41
Trang 42.2 Chất thơ nhìn từ góc độ hình tượng nhân vật 47 2.2.1 Chất thơ nhìn từ hình tượng người lính 47 2.2.2 Chất thơ nhìn từ hình tượng người nông dân 55 2.2.3 Chất thơ nhìn từ hình tượng người trí thức 60
Chương 3: Hình thức biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu 71
3.1.2 Truyện không có cốt truyện - nét đặc sắc của truyện ngắn
3.2.1 Bức tranh vẽ bằng ngôn từ và các phương thức tạo hình 89 3.2.2 Sức hấp dẫn của nhạc tính và các phương thức tạo nhạc tính 96
3.3.2 Giọng điệu trữ tình sâu lắng - một giọng điệu chủ đạo trong
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thông thường, người ta cho rằng chất thơ là một thuộc tính chỉ riêng thơ mới có nhưng thực tế chất thơ có thể tìm thấy trong cả những loại văn học khác như văn xuôi, kịch Mở rộng hơn nữa, chất thơ còn có thể tìm thấy trong các loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc, hội họa, sân khấu… Chất thơ biểu hiện ở cái đẹp của ngôn ngữ và âm điệu, cái đẹp của cảm xúc và ý tưởng, của những khoảnh khắc tâm trạng… và nó chính là sự miêu tả, khắc họa và thể
hiện nghệ thuật trong sự giàu đượm ý thơ Theo K.Pauxtôpxki, "Văn xuôi là
sợi cốt, còn thơ là sợi ngang Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả…" Có thể ý kiến của
tác giả cuốn sách Một mình với mùa thu chưa thực sự xác đáng nhưng không
thể phủ nhận rằng: trong sáng tác văn học nghệ thuật, chất thơ được xem như
là một đặc tính quan trọng đem lại sự cuốn hút kì diệu cho hình tượng nghệ
thuật và tác phẩm Đó cũng chính là lí do các bài viết: Chất thơ trong tạp văn
Lỗ Tấn của Lưu Thu Hương, Chất thơ trong Vang bóng một thời của GS Đỗ
Đức Hiểu, Chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Đức Mậu của Nguyễn Thanh
Tú, Chất thơ trong truyện ngắn Văn Xương của Bùi Như Hải, Chất thơ trong
Cánh đồng bất tận của PGS.TS Đào Duy Hiệp… hình thành Có thể nói, chất
thơ không chỉ giữ vai trò quan trọng trong sáng tác văn học nghệ thuật mà còn
có giá trị không nhỏ trong cuộc sống hiện đại Chắc chắn tâm hồn mỗi chúng
ta sẽ lắng dịu lại trước những áng văn xuôi được tạo nên từ những hình ảnh đẹp, giàu sức biểu cảm, từ những ngôn từ mang tính nhạc điệu, bay bổng, thanh thoát để rồi có thể quên đi bao nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh và vượt lên trên tất cả để đến được những ước mơ, hoài bão của mình…
Trang 6Là một trong những gương mặt tiêu biểu của truyện ngắn Việt Nam hiện đại, Đỗ Chu không chỉ sớm tạo ra được phong cách riêng cho mình mà còn gặt hái được nhiều thành công lớn ở thể loại này: Giải thưởng Nhà nước
về Văn học nghệ thuật (năm 2001), giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2003 và năm 2005), giải thưởng Văn học Đông Nam Á (năm 2004) và
là một trong những nhà văn được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học- nghệ thuật (năm 2012) Những giải thưởng đó không chỉ khẳng định tài năng, vị trí và những đóng góp của Đỗ Chu đối với nền văn học Việt Nam mà còn khẳng định được vị thế của nền văn học dân tộc ta trong khu vực và trên thế giới Góp một phần không nhỏ cho những thành công ấy của nhà văn chính là những trang văn đậm đà chất thơ - một nét phong cách nổi bật, cái tạo nên "khuôn mặt" riêng của Đỗ Chu - đã thực sự làm "xao xuyến văn đàn" bao tháng năm
Nhận định về nét phong cách này của Đỗ Chu, khá nhiều ý kiến đã được đưa ra Tuy nhiên khi xem xét các ý kiến đã có, chúng tôi nhận thấy chất thơ là một vấn đề quan trọng trong truyện ngắn của Đỗ Chu nhưng chưa được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức Các bài viết có liên quan đến vấn đề này thường chỉ dừng ở mức độ nhận xét khái quát và ở phạm vi một truyện ngắn hoặc một tập truyện cụ thể mà chưa có sự bao quát toàn bộ sáng tác ở thể loại
này của nhà văn xứ Kinh Bắc Xuất phát từ lí do đó, chúng tôi chọn Chất thơ
trong truyện ngắn Đỗ Chu làm đề tài nghiên cứu của luận văn với mong
muốn đem đến một cái nhìn đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua quá trình tìm hiểu về Đỗ Chu, chúng tôi nhận thấy cho tới nay đã
có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về nhà văn xứ Kinh Bắc cùng các sáng tác cụ thể thuộc nhiều thể loại khác nhau của ông, đặc biệt là truyện ngắn Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ chú ý đến
Trang 7những ý kiến bàn về chất thơ trong sáng tác thuộc thể loại này của ông Cùng với lí thuyết về chất thơ và chất thơ trong văn xuôi, những nhận định dưới đây
sẽ là tiền đề quan trọng để người viết triển khai vấn đề
Trong bài viết Mấy cảm nghĩ khi đọc cuốn Hương cỏ mật của mình, Phan Hồng Giang đã bộc bạch: "Tôi yêu văn Đỗ Chu… yêu cái chất thơ trong
sáng, đẹp mà giản dị, giản dị mà không thô sơ, yêu cái tấm lòng trân trọng, yêu cái tinh tế của anh đối với mảnh đất quê hương, với những con người của chúng ta" Không chỉ vậy, tác giả còn khẳng định: nhà văn đã nhìn những
cảnh vật, con người với "một con mắt trong trẻo, giàu chất thơ", nhiều câu văn "có dùng chữ đẹp, có âm điệu uyển chuyển nhưng không vì thế mà rơi vào
bóng bẩy, sáo rỗng" [23]
Cũng bàn về tập Hương cỏ mật, Nguyễn Hoàng Sơn khẳng định:
Hương cỏ mật và một số truyện ngắn khác của Đỗ Chu "đẹp như thơ, tươi rói như anh tân binh mới nhận được quân phục" [55]
Đọc Phù sa của Đỗ Chu, nghĩ đôi điều về nguồn sức mạnh của con người và nghệ thuật chúng ta, Phan Hồng Giang cho rằng: Đến tập Phù sa Đỗ
Chu đã tạo cho mình một phong cách riêng "thiên về phía miêu tả cái chất thơ
của cuộc đời", "với những truyện không có chuyện" đồng thời tạo ra được
"một không khí trữ tình trong lành, đậm đà nuôi dưỡng nhân vật" và "quán xuyến toàn bộ truyện" [24]
Còn nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn khi đọc Phù sa đã chỉ rõ: "Những
truyện ngắn Đường qua nhà, Mùa cá bột… xinh như một bài thơ đọc xong lại muốn đọc lại" [49]
Cùng suy nghĩ với Phan Hồng Giang và Vương Trí Nhàn, PGS TS
Nguyễn Văn Long khẳng định: "Chất trữ tình là sắc thái nổi bật trong các
truyện ngắn trong tập Phù sa của Đỗ Chu" [39]
"Những truyện ngắn Hương cỏ mật, Thung lũng cò, Chiến sĩ quân
bưu… thuở ấy của Đỗ Chu chiếm lĩnh tôi bởi chất văn ngọt ngào, sâu lắng,
Trang 8giàu chất thơ" chính là lời bộc bạch của Nguyễn Kim Thanh trong bài viết Đỗ Chu - khoảng bình yên trong giông bão của mình [56]
Nhận định về tập Tháng hai, Ngô Văn Phú viết: "Truyện ngắn của anh
thường để lại trong chúng ta những dư vị ngọt dịu sau khi đọc Chất thơ, chất văn học ở mỗi truyện ngắn trong tập Tháng hai này vẫn giữ được cốt cách riêng của Đỗ Chu" [52]
Còn với bài viết Nhà văn Đỗ Chu: "Tôi bán là bán văn, không bán
giấy", Nguyễn Hoàng Sơn cũng đã bộc lộ quan niệm: Tập truyện Một loài chim trên sóng "chỉ có sự đào sâu, chín thêm của một phong cách sớm ổn định thiên về trữ tình" [55]
Bàn về vấn đề Đặc điểm kết cấu truyện ngắn Đỗ Chu, Nguyễn Thanh
Tú đã nhận xét: "Tuyển tập đã thể hiện một phong cách văn xuôi Đỗ Chu trữ
tình, đậm chất thơ, tinh tế, tài hoa…" [62]
Cùng chung quan điểm với các giả trên, GS.TS Nguyễn Văn Hạnh
trong bài viết Truyện ngắn của Đỗ Chu đã chỉ ra rằng: "Những đoạn văn xúc
động và giàu chất thơ như vậy rất nhiều trong tác phẩm của Đỗ Chu Người đọc có thể nghĩ đến phong cách của Nam Cao, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Ngọc và xa hơn nữa, đến Sêkhốp, Pauxtôpxki, Aitơmatốp, nhưng Đỗ Chu vẫn
có cái tươi mát, bồi hồi riêng biệt của anh Gần như anh không bao giờ miêu
tả "trần trụi", miêu tả cũng là hồi tưởng và biểu hiện" [26]
Cuối cùng là tác giả Lê Hương Thủy với nhận định: "Thiên về khai
thác cái đẹp trong đời sống là đặc trưng nổi bật trong truyện ngắn Đỗ Chu, đặc biệt là trong thời kì đầu của quá trình sáng tác (…) Những trang viết đầy chất thơ của Đỗ Chu hồi bấy giờ đã làm hấp dẫn nhiều thế hệ người đọc (…) Truyện của Đỗ Chu làm người đọc khó quên trước hết bởi cái không khí mà nhà văn tạo nên cho tác phẩm Bầu không khí bàng bạc chất thơ luôn "dăng dện" trong tâm trí người đọc Với một tâm hồn mẫn cảm và tinh tế trong cách
Trang 9cảm nhận cái đẹp, Đỗ Chu thường có xu hướng khai thác chất thơ trong đời sống Chất thơ ấy toát lên từ vẻ đẹp bên trong của tâm hồn con người, ở những khoảnh khắc lắng đọng (…) Chất thơ toát lên từ những cảm giác ám ảnh trong cuộc đời mỗi người" [58]
Từ sự thống kê trên chúng tôi nhận thấy:
Thứ nhất: Theo sát quá trình sáng tác của nhà văn Đỗ Chu, đặc biệt là ở
lĩnh vực truyện ngắn, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những bài viết hoặc những công trình nghiên cứu của riêng mình, từ đó hướng chúng ta tới cái nhìn toàn diện hơn về Đỗ Chu cũng như các tác phẩm cụ thể của ông
Thứ hai: Những truyện ngắn của Đỗ Chu hoặc là "bàng bạc chất thơ"
hoặc là "giàu chất thơ" Một điều không thể phủ nhận là chất thơ hiện hữu ở hầu hết truyện ngắn của ông
Thứ ba: Vấn đề chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu dường như vẫn
chưa được giải quyết thấu đáo, toàn diện trên các phương diện biểu hiện cụ thể Các bài viết có liên quan đến vấn đề này thường chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét khái quát, hầu như chưa đi sâu phân tích cụ thể để làm sáng rõ nhận định Mặt khác, các bài viết thường chỉ dừng ở phạm vi một truyện hoặc một tập truyện cụ thể mà chưa có sự bao quát một cách hệ thống toàn bộ truyện ngắn của nhà văn - người lính tài năng này
Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng chất thơ giữ vai trò quan trọng trong truyện ngắn của Đỗ Chu nhưng vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mức Theo sự bao quát tài liệu (có thể chưa thực sự đầy đủ) của chúng tôi, hiện nay chưa có công trình nào tập trung đi sâu tìm tòi, khám phá
chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu Tiếp thu những nhận định nêu trên,
chúng tôi sẽ cố gắng đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, cụ thể, chi tiết biểu hiện của chất thơ trong các truyện ngắn tiêu biểu của ông Tất nhiên với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ và năng lực bản thân có hạn, chắc chắn luận
Trang 10văn sẽ khó tránh khỏi thiếu sót và sự phân tích, đánh giá có thể sẽ phần nào chủ quan, phiến diện nhưng người viết vẫn hi vọng đem đến cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về vấn đề đặt ra
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Triển khai đề tài này, chúng tôi cố gắng phát hiện và chỉ rõ nội dung và hình thức biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn của Đỗ Chu thông qua các phương diện cụ thể tương ứng Từ đó, một lần nữa khẳng định lại nét phong cách nổi bật - cái tạo nên "khuôn mặt" riêng của Đỗ Chu trên văn đàn Việt-
đó chính là những trang văn đậm đà chất thơ
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã nêu, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Đưa ra một cách hiểu chung về chất thơ, biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi trên cơ sở các quan niệm đã có;
- Phát hiện và chỉ ra các biểu hiện cụ thể của chất thơ trong truyện ngắn
Đỗ Chu trên hai phương diện cơ bản: nội dung và hình thức biểu hiện;
- So sánh với một số tác giả Việt Nam tiêu biểu có tác phẩm tương đồng để chỉ rõ nét đặc sắc của chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu nói riêng và truyện ngắn Đỗ Chu nói chung Từ đó một lần nữa khẳng định vị trí văn học
sử của nhà văn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu
* Phạm vi nghiên cứu
Năm mươi năm cầm bút, Đỗ Chu đã sáng tác ở nhiều thể loại(tuỳ bút, tiểu thuyết, kí sự…) nhưng tạo nên "khuôn mặt" Đỗ Chu và khẳng định vị trí của ông trong nền văn học nước nhà chủ yếu là thể loại truyện ngắn Bởi vậy,
Trang 11luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu 35 truyện ngắn được tập hợp
trong cuốn Tuyển tập truyện ngắn (Nxb Hội Nhà văn phát hành năm 2003)
của Đỗ Chu Ngoài ra, khi cần liên hệ làm rõ vấn đề, chúng tôi khảo sát thêm một số tác phẩm khác của Đỗ Chu và của các tác giả: Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Zếnh, Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp…
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát - thống kê:
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát sự hiện diện của chất thơ trong từng truyện ngắn cụ thể từ đó thống kê những dẫn chứng tiêu biểu tương ứng với các phương diện thuộc nội dung và hình thức biểu hiện của
chất thơ trong Tuyển tập truyện ngắn của Đỗ Chu
- Phương pháp hệ thống:
Đề tài được đặt trong hệ thống truyện ngắn của Đỗ Chu để xem xét, phát hiện và đánh giá nội dung cũng như hình thức biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu
- Phương pháp so sánh:
Dựa trên phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại để tìm ra nét đặc sắc của truyện ngắn Đỗ Chu so với sáng tác của các tác giả khác trên phương diện biểu hiện của chất thơ trong tác phẩm
- Vận dụng và kết hợp các hướng nghiên cứu: Thi pháp học, Ngôn ngữ
Trang 12- Đem đến một cách hiểu về chất thơ cũng như chất thơ trong văn xuôi
để tạo tiền đề cho việc tìm hiểu chất thơ trong những tác phẩm văn xuôi khác không chỉ của Đỗ Chu mà còn của các nhà văn khác
7 Bố cục của luận văn
Luận văn gồm ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận Trong đó, phần Nội dung được triển khai thành ba chương:
- Chương 1: Chất thơ và chất thơ trong văn xuôi
- Chương 2: Nội dung biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn của Đỗ Chu
- Chương 3: Hình thức biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn của Đỗ Chu
Trang 13NỘI DUNG
Chương 1 CHẤT THƠ VÀ CHẤT THƠ TRONG VĂN XUÔI
1.1 Chất thơ
1.1.1 Các quan niệm về thơ và chất thơ
1.1.1.1 Các quan niệm về thơ
Lấy Chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu làm đối tượng nghiên cứu,
chúng tôi không thể không tìm hiểu lí thuyết về chất thơ Song, muốn hiểu rõ chất thơ thì càng không thể không biết "thơ là gì" Điều này cũng giống với việc một ai đó muốn tìm một chiếc áo "chất cotton" thì người đó phải biết
"cotton" là gì Bởi vậy, mặc dù khái niệm về thơ vô cùng phong phú và cũng
đã quá quen thuộc nhưng để hình thành cơ sở lí thuyết - một nền tảng vững chắc cho luận văn - chúng tôi không thể không đề cập đến các quan niệm về thơ Tuy nhiên, trong khuôn khổ và phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ điểm lại một số quan niệm thi ca tiêu biểu của nước ngoài và của Việt Nam Đồng thời, chúng tôi cũng xin tự giới hạn ở những quan niệm bàn về thơ từ thời cổ đại đến thời hiện đại, loại trừ thơ đương đại bởi đối với chúng ta, nó vẫn còn
là một câu hỏi lớn cần được giải đáp
Như chúng ta đã biết, thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài người Chính vì vậy, trong một thời gian rất dài thuật ngữ "thơ" được dùng chỉ chung cho văn học Thơ có lịch sử lâu đời như thế nhưng để tìm một định nghĩa thể hiện hết đặc trưng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thì thật không dễ
Trong nền Lí luận văn học cổ điển Trung Hoa, "thơ" đã được đề cập
đến từ rất sớm Cách đây khoảng 1500 năm, trong cuốn Văn tâm điêu long,
Trang 14Lưu Hiệp đã đề cập đến ba phương diện cơ bản cấu thành nên một bài thơ- đó là: tình cảm, ý nghĩa (tình văn), ngôn ngữ (hình văn) và âm thanh (thanh văn)
Kế thừa quan niệm của Lưu Hiệp, đến đời Đường, Bạch Cư Dị đã nêu lên các
yếu tố then chốt tạo thành điều kiện tồn tại của thơ: "Cái cảm hoá được lòng
người chẳng gì trọng yếu bằng tình cảm, chẳng gì đi trước được ngôn ngữ, chẳng gì gần gũi bằng âm thanh, chẳng gì sâu sắc bằng ý nghĩa Với thơ, gốc
là tình cảm, lá là ngôn ngữ, hoa là âm thanh, quả là ý nghĩa" Quan niệm này
không chỉ dừng lại ở việc nêu lên các yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn chỉ ra mối quan hệ gắn bó giữa chúng, giống như gốc rễ, lá, hoa, quả gắn liền với nhau trong một thể thống nhất hoàn chỉnh và sống động Có thể coi đây là quan niệm về thơ toàn diện và sâu sắc nhất trong nền Lí luận văn học cổ điển Trung Hoa đồng thời cũng tiêu biểu cho quan niệm về thơ của phương Đông nói chung
Vậy, người phương Tây suy nghĩ và cảm nhận như thế nào về thơ? Nếu như nhà thơ lãng mạn Pháp Du Bellay (thế kỉ XII) quan niệm:
"Thơ là người thư kí trung thành của trái tim đa cảm" thì Jonathan Swift lại rất coi trọng một yếu tố hình thức thơ: "Câu thơ không có vần là một cơ thể
không có hồn" Còn với Samuel Taylor Coleridge, thơ có giá trị vô cùng to
lớn: "Thơ là đối với tôi là một phần thưởng vô cùng to lớn; thơ đã xoa dịu
những nỗi sầu não; thơ đã làm tăng gấp bội và thanh lọc những niềm vui của tôi; thơ đã nâng niu nỗi cô đơn của tôi và thơ đã cho tôi thói quen khám phá
ra Thiện và Mỹ trong moi điều hội ngộ ở xung quanh tôi"
Trong tiểu luận Thơ là gì, Jakobson viết: "Nhưng tính thơ được biểu
hiện ra như thế nào? Theo cái cách từ ngữ được cảm nhận như là từ ngữ chứ không phải như vật thay thế đơn giản của đối tượng được chỉ định, theo cách những từ, những cú pháp, những ngữ nghĩa của chúng, hình thức bên trong
và bên ngoài của chúng không phải là các dấu hiệu vô hồn của hiện thực mà
Trang 15còn có trọng lượng riêng, giá trị riêng" Tiếp tục triển khai lí thuyết tự qui
chiếu, Jakobson sau khi nhắc lại hai kiểu sắp xếp cơ bản của hoạt động ngôn
ngữ là tuyển chọn và kết hợp, đã đi đến kết luận: "Chức năng thi ca đem
nguyên lý tương đương của trục tuyển lựa chiếu lên trục kết hợp" Mặc dù có
lưu ý ít nhiều đến hoạt động nguyên lý tương đương về ý nghĩa nhưng trong
tư duy nghiên cứu của Jakobson, cái ý nghĩa ở đây chỉ là ý nghĩa của đối tượng gọi tên và ý nghĩa ngữ pháp nảy sinh từ những mối quan hệ giữa các thành tố cấu trúc có tính chất khép kín của văn bản Điều đó cũng có nghĩa là khái niệm ý nghĩa được hiểu một cách hạn hẹp Bởi trong thực tế, như ta thấy,
ý nghĩa của thơ nhiều khi đã vượt ra ngoài giới hạn của văn bản
Tiếp nối chủ nghĩa hình thức, cách tiếp cận của các nhà cấu trúc, tiêu biểu là I.U.Lotman khẳng định lặp lại là nguyên lí kết cấu văn bản thơ:
"Khuynh hướng hướng tới tính lặp lại được xem như là một nguyên lí mang
tính cơ cấu thi ca" Nguyên lí lặp lại được triển khai trên nhiều cấp độ: ngữ
âm, từ vựng, cú pháp, nhịp điệu… Tác giả cũng vừa xét câu thơ như một tổng thể giai điệu, vừa xét như một tổng thể ý nghĩa Và cũng như các nhà hình thức, I.U.Lotman xác định tính cấu trúc của câu thơ trên cấp độ ngữ nghĩa, từ vựng là dựa trên cơ chế song hành
Ở Việt Nam, khái niệm "thơ" cũng đã được đề cập đến với nhiều quan niệm, nhiều khuynh hướng khác nhau
Trước hết, xuất phát từ phẩm chất “thơ là tiếng nói của tâm hồn, của niềm mơ ước; thơ bộc lộ khát vọng vươn tới một lí tưởng đẹp đẽ và cao
thượng”, nhà thơ Sóng Hồng cho rằng: "Thơ là sự thể hiện của con người và
thời đại một cách cao đẹp" Cùng quan điểm với Sóng Hồng, Huy Cận cũng
cho rằng: "Cái chỗ đến cuối cùng của thơ là phải đem đến một cái gì nâng sự
sống lên"
Không chỉ vậy, nói đến thơ cũng chính là nói đến một phương diện của tinh hoa con người và tạo vật Thơ được khai thác từ trong đời sống, cũng như
Trang 16những vỉa quặng được lấy ra từ lòng đất, và cao hơn nữa đó là chất kim được chắt lọc ra từ những đống quặng bề bộn Nhiều nhà thơ đã tìm nghĩa cho thơ
qua phẩm chất này Tố Hữu quan niệm: "Thơ là cái nhụy của cuộc sống" Xuân Diệu cũng cho rằng: "Thơ là lọc lấy tinh chất" Cùng quan điểm với hai nhà thơ, Thanh Tịnh khẳng định: "Thơ là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí
tuệ và tình cảm"
Bên cạnh việc khẳng định thơ là một phương diện của tinh hoa con người và tạo vật, các tác giả còn nhấn mạnh năng lực đồng cảm nhanh chóng
và lạ kì của thơ ca Xuân Diệu - người được đánh giá là "nhà thơ mới nhất
trong các nhà thơ Mới" - đã khẳng định: "Thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng
thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" Cùng chung cảm nghĩ ấy, nhà thơ
cách mạng Tố Hữu nhấn mạnh: "Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn
đồng điệu" hay "Thơ là tiếng nói tri âm", "Thơ là chuyện đồng điệu"…
Nhiều định nghĩa khác về thơ lại gắn liền bản chất của thể loại này với
sự sáng tạo Tiêu biểu là quan niệm của Nguyễn Tuân: "Thơ là mở ra một cái
gì mà trước câu thơ đó, nhà thơ đó vẫn bị phong kín" Có thể nói, nghệ thuật
là sáng tạo và với thơ, sự sáng tạo phải trở thành mục đích, yêu cầu và nội dung của hoạt động này Sáng tạo là đi về phía tương lai, về phía chân lí; từ trong những tìm tòi, nghĩ suy, từ trong đấu tranh để khẳng định cái mới
Như vậy có thể thấy, xác định bản chất của thơ ca là hành động giao cảm, là một ước mơ hay một sự sáng tạo đều đúng với bản chất của thơ nhưng
có lẽ là chưa đầy đủ Tuy nhiên những định nghĩa, những quan niệm trên đây của các tác giả văn học Việt Nam đều có ý nghĩa tích cực, góp phần tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của thơ, đặc biệt là định nghĩa của nhà thơ Sóng
Hồng: "Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quí, tinh vi Người làm thơ phải
có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lí
Trang 17trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhip điệu khác thường"
Vậy, các học giả, các nhà nghiên cứu Việt Nam nói gì về thơ?
Học giả Lê Quý Đôn nhìn nhận: "Thơ phát khởi ở trong lòng người ta"
và ông cho rằng: "Làm thơ có ba điều chính: một là tình, hai là cảnh, ba là sự"
Dưới cái nhìn cấu trúc, nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã đưa ra một định
nghĩa đáng chú ý: "Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt
người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải nghĩ cho chính hình thức ngôn ngữ này" Định nghĩa này của giáo sư Phan Ngọc đã kế thừa được
những khám phá quan trọng về thơ của nhiều nhà nghiên cứu thuộc các trường phái khác nhau của Tây Âu trong mấy chục năm qua Đặc biệt, định nghĩa của ông đã gợi ra một trường nghiên cứu thơ hết sức rộng rãi: thơ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học thuần tuý mà chủ yếu là hiện tượng giao tiếp nghệ thuật, một phát ngôn trong ý nghĩa đầy đủ của từ này
Trong công trình Thi pháp hiện đại, GS Đỗ Đức Hiểu cho rằng nếu chỉ
hiểu vào cách định nghĩa "truyền thống" chắc chắn không phân biệt dược thơ với văn xuôi mà phải dựa vào Thi pháp học thế kỉ thứ XX Từ đó ông đưa ra bốn đặc trưng cơ bản của thơ, đó là: Kết cấu trùng điệp; kiến trúc đầy âm vang; nhiều khoảng trắng trên không gian thơ và chất nhạc tràn đầy
Khác với Đỗ Đức Hiểu, dưới sự soi sáng của lí thuyết ngôn ngữ Jakobson, Nguyễn Phan Cảnh phân biệt thơ và văn xuôi dựa vào cách tác giả
tư duy ngôn ngữ Theo ông, khác với văn xuôi làm việc với thao tác kết hợp, nhà thơ làm việc trên trục lựa chọn; văn xuôi kị sự lặp lại còn điều tối kị đó là thủ pháp quan trọng của thơ Tuy nhiên hạn chế của Nguyễn Phan Cảnh trong
công trình Ngôn ngữ thơ chính là ông đã phủ định nhạc tính trong văn xuôi và
coi đó là "ưu thế tuyệt đối" của thơ so với văn xuôi
Cuối cùng để xác định nghĩa cho “thơ”, các tác giả cuốn Từ điển thuật
ngữ văn học cho rằng: thơ là "hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc
Trang 18sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu"
Như vậy, chúng ta dễ dàng nhận thấy có rất nhiều những câu trả lời khác nhau cho câu hỏi "Thơ là gì?" Tuy nhiên, hầu hết các tác giả văn học cũng như các học giả, các nhà nghiên cứu phê bình đều thống nhất ở hai nét
cơ bản dưới đây của thơ:
Thứ nhất: Thơ là thể loại thuộc phương thức trữ tình Nó chính là tiếng
nói của tâm hồn, của niềm mơ ước, bộc lộ khát vọng vươn tới một lí tưởng cao đẹp của cá nhân và có khả năng đồng cảm nhanh chóng và lạ kì đối với độc giả
Thứ hai: Thơ là “sự sáng tạo của sáng tạo” với một hình thức tổ chức
ngôn ngữ đặc biệt
Dựa trên những quan niệm trên đây về thơ, chúng tôi xin đưa ra một cách hiểu ngắn gọn: Thơ là một hình thức sáng tác văn học thể hiện một cách trực tiếp và cô đọng cảm xúc, suy nghĩ, lí tưởng, ước mơ…của cá nhân đối với thế giới và nhân sinh thông qua một tổ chức ngôn ngữ đặc biệt thành những câu văn vần cô đọng, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm với nhiều khoảng trắng trên không gian thơ Một điều không thể phủ nhận thơ chính là một sự kết hợp giữa cảm xúc và suy nghĩ, giữa tưởng tượng và liên tưởng, giữa cái đẹp và chất thơ… Chỉ khi kết hợp được các yếu tố đó trong quá trình sáng tạo ngôn từ nghệ thuật thì người làm thơ - với con tim và khối
óc của mình - mới trở thành nhà nghệ sĩ ngôn từ thực thụ và tạo ra được những thi phẩm thực sự có giá trị, có sức đồng cảm mạnh mẽ và sức sống lâu bền trong lòng người đọc bao thế hệ
1.1.1.2 Các quan niệm về chất thơ
Như chúng ta đã biết "chất thơ" hiện hữu trong cả đời sống và trong văn học Tuy nhiên ở luận văn này, chúng tôi xin tự giới hạn cho việc tìm hiểu "các quan niệm về chất thơ" chỉ trong phạm vi "chất thơ trong văn học"
Trang 19Cho đến nay, "chất thơ" đã trở thành thuật ngữ quen thuộc, được sử dụng khá phổ biến trong các tài liệu lí luận nghiên cứu và phê bình văn học đặc biệt là đối với nền văn học Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, "chất thơ" vẫn chưa phải là một khái niệm có tính công cụ của các cuốn từ điển thuật ngữ ở nước ta bởi "chất thơ" phải được suy ra từ định nghĩa thơ mà các quan niệm
về thơ thì vô cùng phong phú, đa dạng (như đã trình bày phần nào ở mục trước) Chính bởi lẽ đó, với mong muốn có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn
về "chất thơ", trên cơ sở trình bày một cách ngắn gọn quan niệm về "chất thơ" của một vài tác giả văn học và các nhà phê bình văn học, chúng tôi sẽ đưa ra một hướng hiểu của bản thân về khái niệm này để chúng ta cùng suy ngẫm…
Trong bài nghiên cứu của mình, đặc biệt là mục Chất thơ trữ tình trong
truyện Kiều, GS Trần Đình Sử đã khẳng định: "Nói tới chất thơ trữ tình là nói tới sự cảm xúc, cảm nhận của chủ thể, tính chủ quan của con người Chất thơ thể hiện sự nội cảm hoá, nội tâm hoá, cá tính hóa các sự vật, hiện tượng"[18, tr.227] Từ đó ông đã chỉ ra ba phương diện biểu hiện chủ yếu của
chất thơ trữ tình trong Truyện Kiều Đó là:
Thứ nhất, "Trước hết là chất thơ ở trong cảnh vật Cảnh vật là phương
tiện nội tâm hóa" (…) Cùng với tả cảnh là tả tình Tình thấm trong cảnh, cảnh quyện với tình Tình cảnh giao hoà là truyền thống lớn của thơ ca Trung Quốc
và thơ cổ điển Việt Nam Nguyễn Du đã hấp thụ truyền thống đó để tạo ra chất thơ cho tác phẩm của mình"
Thứ hai, "Đặc điểm thứ hai trong chất thơ Truyện Kiều là trực tiếp
miêu tả tình cảm cá thể của nhân vật"
Thứ ba, "Nói tới chất thơ trong Truyện Kiều không thể nói tới chất thơ
trong lời văn và cấu trúc tự sự (…) Nhưng đáng chú ý là chất thơ nằm ngay trong cấu trúc thơ"
Chính những ý kiến quý báu đó của GS Trần Đình Sử đã định hướng
cho tác giả luận văn "Chất thơ trữ tình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du"
Trang 20triển khai nội dung chính với hai chương trọng tâm là: "Chất thơ trữ tình qua bút pháp khắc hoạ thiên nhiên và nội tâm nhân vật trong Truyện Kiều" và
"Chất thơ trữ tình trong cấu trúc thơ, ẩn dụ và sự lặp lại các yếu tố tự sự"
Không dừng lại ở đó, cùng với các cộng sự của mình, GS.Trần Đình Sử
đã tiếp tục trình bày quan điểm của mình về "chất thơ": khái niệm "chất thơ"
để chỉ "những sáng tác văn học (bằng văn vần hoặc văn xuôi) giàu cảm xúc, nội dung cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu" trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học [25, tr.262]
Như vậy, dựa trên cơ sở định nghĩa thơ "là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có tính nhịp điệu", Trần Đình Sử cùng Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa cho thuật ngữ "chất thơ"
đồng thời các tác giả còn chỉ rõ "tiêu chuẩn khách quan cho "chất thơ" chân
chính ở mỗi thời đại" là "lí tưởng và khát vọng của đông đảo nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó" và nhấn mạnh "Chất thơ
là điều kiện cơ bản của bài thơ, không có chất thơ thì nhất quyết không thể có thơ hay" [25, tr.262-263] Có thể thấy, các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã có cái nhìn khá đầy đủ về chất thơ (tương song với đặc điểm thường
thấy có của thơ) Tuy nhiên, như đã trình bày "chất thơ" được suy ra từ định nghĩa thơ mà các quan niệm về thơ thì vô cùng đa dạng, phong phú Bởi lẽ đó, chúng tôi xin tiếp tục ghi nhận quan niệm của một số tác giả khác về thuật ngữ này
Tìm hiểu, khám phá Chất thơ trong tạp văn Lỗ Tấn, ThS Lưu Thu
Hương nhìn nhận: "Trong sáng tác văn học nghệ thuật, chất thơ được xem như một đặc tính quan trọng đem lại lại sự cuốn hút kỳ diệu cho hình tượng
nghệ thuật và tác phẩm" và cho rằng: "Chất thơ biểu hiện ở cái đẹp ngôn ngữ
và âm điệu, cái đẹp của cảm xúc và ý tưởng, của những khoảnh khắc tâm
Trang 21trạng… Chất thơ được tạo nên từ những hình ảnh đẹp, giàu sức biểu cảm, từ những ngôn ngữ mang tính nhạc điệu, bay bổng thanh thoát" Nói một cách
khái quát theo tác giả Lưu Thu Hương, "Chất thơ chính là sự miêu tả, khắc
họa và thể hiện nghệ thuật trong sự giàu đượm ý thơ" [32, tr.54]
Cùng suy nghĩ với Ths Lưu Thu Hương, tác giả bài viết "Chất thơ
trong đoạn văn ngắn (Trích "Vợ nhặt" của Kim Lân)" cũng cho rằng: "Chất
thơ có tác dụng nối kết hiện thực, thể hiện ở việc ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn trong trẻo ( ) ngôn ngữ chắt lọc tạo hình, giàu nhạc điệu" và bổ sung cho
quan niệm của Lưu Thu Hương ở việc chỉ ra rằng: Chất thơ còn thể hiện ở
"cách miêu tả cuộc sống, nhân vật giàu đường nét" và "còn toát ra từ ngôn ngữ sinh hoạt hết sức đời thường" Đồng thời, tác giả bài viết này cũng đề cao vai trò của chất thơ khi khẳng định: "Chất thơ" là một phẩm chất cơ bản trong sáng tạo văn chương nghệ thuật
Còn theo GS Hà Minh Đức, có chất thơ trong đời sống và chất thơ trong văn học Chất thơ trong văn học là sự phản ánh chất thơ trong đời sống thông qua tâm hồn thơ của nhà văn "Nó là một phẩm chất tổng hợp được tạo nên từ nhiều nhân tố" Vậy đó là những nhân tố nào?
Trước hết, GS Hà Minh Đức cho rằng: Chất thơ gắn liền với sự rung
động và cảm xúc trực tiếp [21, tr.36] Yếu tố cảm xúc, nhất là cảm xúc ở dạng
trực tiếp của chủ thể, là một nhân tố rất cơ bản để tạo nên chất thơ Cảm xúc
là gốc của hồn thơ, cảm xúc vơi dần thì chất thơ cũng bị hạn chế Mặt khác, thơ cũng chính là cuộc sống Cảm nghĩ của nhà thơ phải lấy điểm tựa ở phần hiện thực được chọn lọc, có "tức cảnh" mới "sinh tình" Đúng như Sepnưsepxki từng nói: "Ở đâu có sự sống là ở đấy có thơ ca" Tuy nhiên, hiện thực đời sống đi vào trong thơ không theo diện mà theo điểm, bằng những hình ảnh tiêu biểu được lọc qua cảm xúc Đó chính là chất thơ đời sống được chắt lọc và sẽ trực tiếp tạo thành chất thơ trong văn học
Trang 22Không dừng lại ở đó, GS Hà Minh Đức còn khẳng định: "chất thơ gắn
liền với cái đẹp" [21, tr.47] Thơ phản ánh cái đẹp của cuộc sống và nói về
cuộc sống với một lí tưởng đẹp trong tâm hồn nhà thơ Nói như Seli: "Thơ ca
biến mọi vật thành đẹp, nó làm tăng vẻ đẹp của những cái gì đẹp nhất, nó đem lại vẻ đẹp cho những cái gì xấu xí nhất" Cái đẹp là phẩm chất và cũng là
qui luật chung của sự nhận thức và sáng tạo nghệ thuật Với thơ, cái đẹp là sự thống nhất thẩm mĩ giữa những phẩm chất của thực tại khách quan với cái đẹp trong tâm hồn nhà thơ Không có cái đẹp thuần tuý vĩnh cửu tách rời khỏi quan điểm của người sáng tác Điều quan trọng và cũng dường như một qui luật trong thơ là các nhà thơ thường nhấn mạnh mặt đẹp của đối tượng miêu
tả trên cơ sở những phẩm chất tích cực vốn có ở đối tượng Chính bởi lẽ đó,
khẳng định "chất thơ gắn liền với cái đẹp" không có nghĩa là thơ chỉ nói đến
cái đẹp mà là thơ chủ yếu "nhấn mạnh mặt đẹp của đối tượng miêu tả" Bởi lẽ không phải và cũng không nhất thiết tác phẩm nào cũng đi theo hướng khai thác cái đẹp nhưng ít nhất trong khi miêu tả một cái gì cho dù là đau thương quyết liệt hay có phần tăm tối bi lụy cũng phải làm nổi lên sự thắng thế của một lí tưởng tiến bộ hay thắp sáng lên niềm tin và mơ ước Đó chính là điểm đặc biệt của thơ
Cũng theo GS Hà Minh Đức, một yếu tố khác tạo nên chất thơ chính là
trí tưởng tượng [21, tr.42] Nói đến thơ là nói đến sức tưởng tượng Nhà thơ
Sóng Hồng đã chỉ ra đặc điểm quan trọng này của thơ: "Thơ là nghệ thuật kì
diệu bậc nhất của trí tưởng tượng" Trí tưởng tượng là nhịp cầu nối liền
khoảng cách không gian và thời gian Nó dựng lại quá khứ và dự cảm tương lai Đồng thời bổ sung cho đời sống những cái cần có, nên có, làm cho lí tưởng xích gần lại hiện thực
Toàn bộ những phẩm chất trên hợp thành chất thơ trong đời sống văn học Ở mỗi tác giả, chất thơ được hình thành với những đặc điểm riêng do
Trang 23trình độ và năng lực tinh thần, do hoàn cảnh cụ thể của từng người qui định Chất thơ trong tác phẩm của Tố Hữu và Chế Lan Viên nói chung là tạo được
sự hài hoà giữa các nhân tố Còn chất thơ của Tế Hanh nổi bật lên hai yếu tố: cảm xúc và cái đẹp Chất thơ của Hoàng Trung Thông mạnh về chất sống thực tế nhưng có phần yếu về năng lực tưởng tượng…
Ngoài ba nhân tố kể trên, ông còn cho rằng: một hiện tượng tâm lí, xã hội hoặc thiên nhiên nào muốn thành đề tài, đối tượng biểu hiện của thơ cũng
là tiềm lực mang những yếu tố để tạo nên chất thơ Soi chiếu vào những đặc trưng cơ bản mang tính bản chất của thơ mà chúng tôi đã nêu ở phần trước-
"Các quan niệm về thơ" - chúng ta có thể nhận thấy những nhân tố tạo nên chất thơ mà Hà Minh Đức đưa ra là hợp lí và rất đáng ghi nhận
Từ những quan niệm trên đây về "chất thơ", chúng ta có thể hiểu "chất thơ" chính là sự miêu tả, khắc hoạ và thể hiện nghệ thuật trong sự giàu đượm
ý thơ Nó là một phẩm chất tổng hợp được tạo nên từ nhiều nhân tố như: cảm xúc, trí tưởng tượng, cái đẹp… Chất thơ thường được sử dụng để chỉ những sáng tác văn học không chỉ bộc lộ một cách trực tiếp, cô đọng cảm xúc chủ quan của cá nhân trước thế giới và nhân sinh, thể hiện sự kết tinh của cái đẹp qua những hình tượng nghệ thuật được tạo dựng bằng ngôn ngữ chắt lọc tạo hình, giàu nhạc điệu và biểu cảm
1.1.2 Phân biệt chất thơ với chất trữ tình
Có lẽ, khi đọc tên tiểu mục này sẽ không ít người băn khoăn: "Điều này
có cần thiết không vì rõ ràng chất thơ không đồng nhất với chất trữ tình" hoặc cũng sẽ có người không đồng thuận với người viết vì trong quan niệm của họ
"chất thơ và chất trữ tình là một" Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp
đã sử dụng "chất thơ" và "chất trữ tình" như hai thuật ngữ tương đương về mặt ý nghĩa, thậm chí ngay trong một bài nghiên cứu, chúng còn được đồng thời sử dụng và thay thế cho nhau (có lẽ để tránh lặp từ?! ) Chính vì vậy, để
Trang 24tránh những trường hợp nhầm lẫn đáng tiếc khi đồng nhất hai khái niệm này, đặc biệt để tránh việc coi "Chất thơ trong tác phẩm A của tác giả B" và "Chất trữ tình trong tác phẩm A của tác giả B" là một, chúng tôi sẽ vẫn triển khai một cách ngắn gọn nhất mục "Phân biệt chất thơ với chất trữ tình" Hi vọng
sự phân biệt này sẽ phần nào hữu ích
Trước tiên, để hiểu về chất trữ tình, chúng tôi xin chiết tự "trữ tình"-
khái niệm nguồn cội của "chất trữ tình" Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy
Anh, "trữ" có nghĩa là: "chứa, cất" [tr.498], "tình" có nghĩa là "những mối trong lòng vì cảm xúc mà phát động ra ngoài như mừng, giận, vui, buồn…" [tr.399]
Theo các nhà từ điển học, "trữ tình" là phương thức "phản ánh đời sống
bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh" [25, tr.316] Cũng theo nhóm tác giả này, "Nội dung
của phương thức trữ tình đòi hỏi một hình thức thể hiện phù hợp, tương ứng
Lời văn của tác phẩm trữ tình phải hàm súc, giàu nhịp điệu Chính vì thế, tác
phẩm trữ tình có thể được viết bằng thơ hoặc văn xuôi, nhưng thơ vẫn là hình thức tổ chức ngôn từ phù hợp nhất với nó" [25, tr.318]
Nhìn một cách khái quát, chất trữ tình có thể hiểu là tổng thể nói chung
những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật, sự việc "có nội dung phản ánh
hiện thực bằng cách biểu hiện những ý nghĩ xúc cảm, tâm trạng riêng của con người, kể cả bản thân người nghệ sĩ trước cuộc sống" (Viện Ngôn ngữ học,
Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, 2001, tr.1054) Chất trữ tình được nhấn mạnh ở đặc trưng cơ bản nhất- đó là bộc lộ trực tiếp ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của cá nhân đối với thế giới và nhân sinh Với đặc trưng trọng yếu này, chúng ta có thể thấy chất trữ tình chưa hề là độc quyền của các tác phẩm thuộc phương thức trữ tình (trong đó có thơ) mà chất trữ tình còn được các sáng tác thuộc hai phương thức còn lại là tự sự và kịch dung nạp
Trang 25Như vậy, nếu như "chất trữ tình" thường được sử dụng để chỉ những
sáng tác văn học bộc lộ trực tiếp ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của cá nhân đối
với thế giới và nhân sinh thì "chất thơ" lại thường được sử dụng để chỉ những
sáng tác văn học không chỉ bộc lộ trực tiếp ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của cá
nhân đối với thế giới và nhân sinh mà còn thể hiện sự kết tinh của cái đẹp qua những hình tượng nghệ thuật được tạo dựng bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu…
Cuối cùng, chúng tôi xin kết thúc bằng một câu hỏi: "Nếu chất thơ và chất trữ tình là một thì tại sao từ trước đến nay người ta vẫn thừa nhận và sử dụng khái niệm "thơ trữ tình" (trong tương quan với khái niệm "thơ tự sự") hay vẫn công nhận giá trị của mục "Chất thơ trữ tình trong Truyện Kiều"(Thi pháp Truyện Kiều) của GS Trần Đình Sử?
1.2 Chất thơ trong văn xuôi
1.2.1 Thơ, văn xuôi - những kết hợp nghệ thuật
Theo quan niệm của Lí luận văn học Nga - Xôviết, "một tác phẩm văn học bất kì nào đó không nằm ngoài cái khung ba phương thức - thể loại: trữ tình, tự sự và kịch Đại để, tác phẩm văn học, nếu không là thơ thì sẽ là văn xuôi (văn xuôi nghệ thuật - để phân biệt với văn xuôi chính luận và các dạng văn xuôi khác mà ta không thể đưa vào cùng khái niệm "văn học") hoặc là kịch" Cái nhìn mang tính phân loại của Lí luận văn học là vậy nhưng trên thực tế đã, đang và sẽ tiếp tục hình thành những tác phẩm mà không thể khẳng định chắc chắn chúng là đại diện của duy nhất một thể loại nào
Sự kết hợp, trộn lẫn, xuyên thấm giữa những yếu tố hình thức và "cái nhìn bên trong" của các thể loại khác nhau trong cùng một tác phẩm (ở những mức độ đậm nhạt nhất định) đã cho ra đời những tác phẩm "là nó nhưng đồng thời không chỉ là nó" khá đặc sắc Trong khuôn khổ và phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi chỉ xin bàn qua về thơ, văn xuôi (chủ yếu là truyện ngắn) và những kết hợp nghệ thuật giữa chúng
Trang 26Nhìn lại tiến trình văn học Việt Nam, chúng ta dễ dàng nhận diện những tác phẩm là kết hợp của sự giao thoa giữa hai thể loại văn học tiêu biểu
- thơ và truyện Có thể kể ra một số tác phẩm như: Truyện Kiều của Nguyễn
Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình chiểu, Hầu trời của Tản Đà, Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính, Màu tím
hoa sim của Hữu Loan Từ một phía khác, chúng ta có thể nhắc tới một số
truyện ngắn của Thạch Lam với Dưới bóng hoàng lan, Hai đứa trẻ, Trở về, Thanh Tịnh với Quê mẹ,…
Những kết hợp nghệ thuật giữa thơ và văn xuôi thường được thực hiện theo hai hướng sau:
- Hướng thứ nhất: Văn xuôi thâm nhập vào lãnh địa thơ
- Hướng thứ hai: Thơ thâm nhập vào lãnh địa văn xuôi
Chúng tôi tạm phân định như vậy bởi với hướng thứ nhất ta có những tác phẩm vẫn thuộc phương thức trữ tình (thơ) nhưng mang chất văn xuôi, còn với hướng thứ hai ta có những tác phẩm thuộc phương thức tự sự nhưng mang chất thơ (văn xuôi đậm đà hoặc chất thơ), thậm chí thơ trở thành một bộ phận của tác phẩm văn xuôi
Dựa vào hai hướng trên chúng tôi tiếp tục đưa ra các phương thức kết hợp giữa thơ và văn xuôi để chúng ta cùng xem xét và suy ngẫm
Thứ nhất là phương thức dùng thơ để "kể chuyện" hay "kể chuyện" qua thơ hoặc bằng thơ Theo cách này chúng ta nhóm các tác phẩm thơ tự sự như: Hầu trời của Tản Đà, Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính… Dĩ nhiên, cốt truyện của "truyện" trong những tác
phẩm thuộc nhóm này thường đơn giản và trọng tâm của tác phẩm là sự bộc
lộ cái tôi cảm xúc, cái tôi suy nghĩ, cái tôi đánh giá của chính tác giả về
"truyện" được kể chứ không phải bản thân việc kể chuyện Với những đặc điểm như vậy những tác phẩm thuộc phương thức này vẫn thuộc về phương thức trữ tình
Trang 27Thứ hai là phương thức sử dụng cấu trúc câu gần gũi với câu văn xuôi
để sáng tác thơ Ví dụ như: Cành phong lan bể của Chế Lan Viên, Lúa mới
của Huy Cận… Đó chính là những bài thơ văn xuôi Vậy, thơ văn xuôi khác với văn xuôi và khác với các thể loại thơ khác như thế nào?
Trước hết là sự khác biệt giữa thơ văn xuôi và văn xuôi Mặc dù cấu trúc câu của thơ văn xuôi rất gần với cấu trúc của văn xuôi song thơ văn xuôi vẫn là một thể thơ thuộc phương thức biểu hiện trữ tình (dựa trên sự bộc lộ cảm xúc trực tiếp qua hình ảnh và tâm trạng) còn văn xuôi thì có thể thuộc nhiều phương thức biểu hiện khác nhau (nhưng chủ yếu là thuộc phương thức
tự sự) Do đó, thơ văn xuôi hàm chứa tình cảm, cảm xúc phong phú hơn nhiều
so với văn xuôi
Một phương diện khác và cũng là phương diện chủ yếu phân biệt thơ văn xuôi và văn xuôi là chất thơ thể hiện trong cảm xúc, trong cấu tứ và hình ảnh thơ Những hình thức so sánh và vận dụng ngôn ngữ của thơ văn xuôi cũng khác với lối so sánh và vận dụng ngôn ngữ trong cách diễn đạt thông thường của văn xuôi Câu thơ văn xuôi thường mang nhiều tính chất cách điệu hoá và lý tưởng hoá từ nội dung cảm nghĩ, liên tưởng đến cách vận dụng ngôn ngữ và hình ảnh để nắm bắt cho được tính chất của sự vật biểu hiện dưới dạng thức khác nhau Như vậy, nội dung của thi tứ vẫn là vấn đề cơ bản nhất
để phân biệt giữa thơ văn xuôi và văn xuôi Vậy điều gì tạo nên diện mạo riêng biệt của thơ văn xuôi so với các thể thơ khác?
Thơ văn xuôi khác các thể thơ khác ở nhiều khía cạnh như: tổng số tiết tấu trong một nhịp thơ, số từ trong một câu và lối diễn đạt nội dung ý thơ
Diễn giải theo cách của các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì "Thơ
văn xuôi khác thơ tự do ở chỗ không phân dòng không dùng hình thức dòng thơ (cũng gọi là "câu thơ") làm đơn vị nhịp điệu, không có vần"
Như vậy, sự thâm nhập của văn xuôi vào lãnh địa thơ thông qua hai phương thức kết hợp chủ yếu nêu trên đã tạo nên những tác phẩm thơ tự sự và
Trang 28thơ văn xuôi Vậy theo hướng ngược lại, thơ đã thâm nhập vào lãnh địa văn
xuôi như thế nào?
Đọc Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ hay một số tác phẩm của một
số tác giả Việt Nam hiện đại, đặc biệt là Nguyễn Huy Thiệp (các truyện ngắn:
Huyền thoại đường phố, Kiếm sắc, Phẩm tiết, Thương nhớ đồng quê…) hay
Võ Thị Hảo (tiểu thuyết Giàn thiêu), chúng ta thấy sự xuất hiện khá thường
xuyên của thơ Ở trường hợp Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ, đó có thể là
những bài thơ do các nhân vật ngâm vịnh, xướng họa cũng có thể là những bài thơ nằm trong "bình luận ngoại đề" của người kể chuyện Thơ đã được Nguyễn Dữ sử dụng nhằm cá biệt hóa nhân vật hoặc định giá tổng kết, đúc rút bài học nào đó cho người đọc các thế hệ… Còn trường hợp một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thì thơ xuất hiện trong tác phẩm hoặc của người khác, hoặc của chính tác giả Nhà nghiên cứu người Nga T.N.Filimonova ở
bài viết Thơ trong văn Nguyễn Huy Thiệp đã phân biệt hai cách nhà văn đưa
thơ vào truyện ngắn
Cách thứ nhất là thơ được motif hóa theo cốt truyện: các nhân vật hát những bài ca hoặc đọc những bài thơ có chức năng nhấn mạnh chính cái cần thiết về mặt cốt truyện trên bình diện tư tưởng hoặc theo tính cách nhân vật
Cách thứ hai là thơ không được motif hóa mà xuất hiện như những đoạn trữ tình ngoại đề, hoặc như giọng nói bên trong của nhân vật, hoặc như giọng của người kể chuyện và các giọng này thường hòa quyện với nhau
Trong cả hai cách, những câu thơ hay những đoạn thơ, bài thơ được đưa vào được đưa vào truyện đều có giá trị riêng của nó và đều tạo nên một trong những sự khác lạ cho truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp so với truyện ngắn cùng thời Có thể nói hai cách Nguyễn Huy Thiệp đưa thơ vào tác phẩm
của ông hay cách mà thơ xuất hiện trong Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ
chính là hai phương thức kết hợp chủ yếu để thơ trở thành một bộ phận trong
Trang 29cấu trúc tổng thể của tác phẩm văn xuôi và mang một giá trị thẩm mĩ nhất định
Tuy nhiên, hiện tượng phổ biến nhất cho hướng thơ thâm nhập vào lãnh địa văn xuôi mà chúng ta không thể không kể đến chính là kiểu tác phẩm văn xuôi có chất thơ (hoặc là "đậm chất thơ” hoặc là "bàng bạc chất thơ")
Phần lớn những sáng tác kiểu này là truyện tâm tình (theo cách gọi của Bùi Việt Thắng) Đó là "truyện ngắn gần với thơ vì trong đó có sự phối hợp giữa
việc diễn tả cảm xúc trữ tình với kể truyện" Cũng theo Bùi Việt Thắng kiểu
truyện này có những đặc điểm sau:
- Tính phi cốt truyện
- Cấu trúc truyện rất lỏng lẻo
- Bộc lộ tính chủ quan sự tư duy của nhà văn về đời sống vì thế cần đến một lối kể chuyện tự do
- Cảm thụ thiên nhiên trong toàn bộ giác quan
Ở kiểu truyện tâm tình "văn xuôi là sợi cốt, thơ là sợi ngang” (theo
cách nói của K.Pauxtopxki) Soi chiếu vào tiến trình phát triển của văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX, chúng ta thấy phần lớn truyện - tâm tình đều xuất hiện sau năm 1936 với một số sáng tác của: Thạch Lam, Xuân Diệu, Thanh Tịnh,
Hồ Zếnh, Đỗ Tốn… về sau là Đỗ Chu, Nguyễn Thành Long, Lê Minh Khuê, …
Ở những truyện tâm tình nói riêng và những tác phẩm văn xuôi mang
chất thơ nói chung, "chúng ta chứng kiến sự xích lại gần nhau giữa thơ và
văn xuôi Sự xích lại gần làm cho văn xuôi của chúng ta thêm nồng ấm, run rẩy, nhiều chất hội hoạ, cô đọng hơn trong những ẩn dụ thấm vào từng câu, từng đoạn Việc xích lại gần thơ làm cho văn xuôi trở nên vừa sâu sắc hơn, vừa dễ hiểu hơn Thứ dòng chảy này cần cho mọi truyện ngắn, nó giúp cho truyện có thể ngắn gọn mà vẫn súc tích" (Kuranôp) Đây chính là hiện tượng
liên quan trực tiếp đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 30Không dừng lại ở đó, sự kết hợp, trộn lẫn ở bề sâu hơn, còn là sự hoán đổi "cái nhìn bên trong" của các thể loại Đó là trường hợp tác giả sẽ viết truyện theo cách làm một bài thơ và ngược lại, làm thơ theo cách viết một tác phẩm truyện Chúng ta có thể quan sát thấy tương đối rõ về hiện tượng này
qua hai ví dụ rất gần đây: tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara (2006) và tập thơ Gửi VB của Phan Thị Vàng Anh
Đọc Chân dung cát ta sẽ thấy khó có thể kể lại tác phẩm theo một kiểu
"tóm tắt cốt truyện" bởi thời gian trong tiểu thuyết bị triệt tiêu: không có thời gian làm yếu tố nối kết, sẽ không có biến cố (hay sự hành động) như một quá trình
Còn trong tập thơ Gửi VB của Phan Thị Vàng Anh, hầu hết các bài đều
được triển khai theo cấu trúc: Phần đầu - liệt kê liên tiếp các sự vật, hành động để chuẩn bị cho phần sau - trọng tâm ngữ nghĩa Có thể nói, ở tập thơ này, chìa khóa để mở ra thông điệp của bài thơ nằm ở những câu kết, sự bất ngờ dành cho người đọc cũng nằm ở những câu kết Chính sự xuất hiện của những câu kết - trong tương quan với phần còn lại của bài thơ - đã tạo cho độc giả điều gì đó giống như là sự đoản mạch cảm xúc: đột ngột lóe sáng và người
ta buộc phải nhìn lại toàn bộ văn bản bằng ánh sáng của cái chớp đột ngột ấy
Lí giải cho hiện tượng này, Hoài Nam cho rằng: "Và đây là điều, trong một số trường hợp, có quan hệ mật thiết với quán tính sáng tạo của chính tác giả: Vào một ngày đẹp trời nào đó, một người trước nay chuyên làm thơ bỗng quay ra viết truyện - hoặc một người vốn chỉ viết truyện bỗng chuyển sang làm thơ - vậy là, giống như những di dân khi phải rời bỏ miền quê của mình
để chuyển qua sinh sống ở một vùng đất mới, anh ta vứt đi một số thứ rườm
rà bất tiện, nhưng vẫn giữ lại cho mình những gì đã trở thành vật bất li thân Vật bất li thân ấy, với người sáng tác, đó chính là "cái nhìn bên trong" của thể loại mà anh ta vốn đã quen thuộc và anh ta sẽ sử dụng nó để nhào nặn lại các thể loại mà anh ta đang muốn tiếp cận" [44]
Trang 31Như vậy, thông qua các hướng kết hợp nghệ thuật đã nêu, sự kết hợp trên nhiều phương diện giữa thơ và văn xuôi (truyện) trong cùng một tác phẩm tiềm tàng khả năng mang lại sự đa dạng về sắc thái thẩm mĩ cho tác phẩm Tất nhiên sự đa dạng ấy thực sự có giá trị hay không và giá trị đến đâu thì còn phụ thuộc vào năng lực của chính người viết Bởi lẽ, bên cạnh những tác phẩm (sản phẩm của sự kết hợp giữa thơ và văn xuôi) khá đặc sắc thì vẫn tồn tại những tác phẩm mà khi đọc xong, ta không rõ nó là thơ hay văn xuôi? Không phải vì tác giả đã "cao tay" trong việc xóa bỏ ranh giới giữa các thể loại để tạo ra cái gì đó độc đáo mà đơn giản, đó là loại "sản phẩm" văn chương "thơ không tới, văn xuôi cũng chẳng xong"! (theo cách nói của Hoài Nam) Tuy nhiên, nếu không có sự giao thoa giữa thơ và văn xuôi (đặc biệt là giữa thơ và truyện ngắn) thì chúng ta không thể có được những tác phẩm đặc sắc thuộc thơ tự sự, thơ văn xuôi, truyện - tâm tình hay rất nhiều sáng tác văn xuôi có chất thơ gắn liền với các tên tuổi nổi tiếng khác Trong đó có thể nói, đối với con người hiện đại đã đầy ứ thông tin, loại tác phẩm mà trong đó tác giả phô diễn những cảm xúc tinh tế, tạo được sự đồng cảm cao với người đó
sẽ có một chỗ đứng vững chắc cũng như sức sống mạnh mẽ trong lòng độc giả Những truyện ngắn hoặc là "giàu chất thơ" hoặc là "bàng bạc chất thơ" của Đỗ Chu chính là một trong số đó
1.2.2 Biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi
Như chúng ta đã biết, nội dung và hình thức là hai phương diện cơ bản
của một tác phẩm văn học Nội dung của một tác phẩm văn học là "hiện thực
cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn" [25, tr.207] Các khái niệm thường được coi là thuộc về mặt nội dung
của văn bản văn học gồm: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng nghệ thuật Còn
hình thức của một tác phẩm văn học là "cấu tạo gồm nhiều yếu tố phụ thuộc
lẫn nhau và phụ thuộc vào nội dung tác phẩm" [25, tr.208] Hình thức thường
Trang 32được cấu tạo bởi các yếu tố như: ngôn từ, kết cấu, thể loại Như Hêghen từng
nói: "Nội dung chẳng phải là cái gì khác, mà chính là chuyển hóa của hình
thức vào nội dung, và hình thức cũng chẳng gì khác hơn là sự chuyển hóa của nội dung vào hình thức"
Trong tác phẩm văn học có giá trị, nội dung biểu hiện qua hình thức, thấm nhuần trong hình thức; nội dung quyết định việc lựa chọn hình thức thể loại, ngôn ngữ, nhân vật, kết cấu, cốt truyện… Về phía mình, hình thức không chỉ có vai trò biểu hiện nội dung mà còn có tính độc lập tương đối ở chỗ khi phù hợp với nội dung thì nó có thể phát huy mạnh sức tác động của nội dung
và ngược lại Chính bởi vậy, "tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau
một cách hữu cơ như là tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì cũng
có nghĩa là huỷ diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy" (Bêlinxki)
Tuy nhiên, trong thực tế nghiên cứu - phê bình văn học, người ta thường phân chia nội dung và hình thức của văn bản văn học để có thể đi sâu tuần tự vào các lớp của văn bản, cũng như để nghiên cứu chuyên biệt một phương diện nào đó của văn bản Trên cơ sở đó, nhà nghiên cứu đưa ra một nhận định tổng hợp, chính xác và vẫn đảm bảo "hình thức mang tính nội dung" hay "nội dung thấm nhuần trong hình thức" Không nằm ngoài qui luật
đó, chúng tôi cũng tiến hành phân chia nội dung biểu hiện và hình thức biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi để tạo cơ sở cho việc khám phá, tìm hiểu và chỉ ra chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu Ngoài ra, sở dĩ chúng tôi lựa chọn hướng đi này (thay vì việc liệt kê toàn bộ biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi mà không có sự phân tách nội dung và hình thức) - đó là do nếu nghiên cứu theo hướng tuân thủ chặt chẽ sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của văn bản văn học thì chúng tôi sẽ phải lần lượt chỉ rõ chất thơ trong từng truyện ngắn cụ thể thuộc tuyển tập truyện ngắn của Đỗ Chu Và như vậy, luận văn sẽ trở thành tập hợp rất nhiều bài viết riêng biệt, người đọc sẽ rất khó theo
Trang 33dõi, nắm bắt vấn đề và dĩ nhiên sẽ không thể có được cái nhìn toàn diện, hệ thống và sâu sắc về vấn đề này
Xuất phát từ những lí do trên đây, chúng tôi xin chỉ ra một cách cụ thể hơn nội dung biểu hiện và hình thức biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi để chúng ta cùng xem xét, suy ngẫm bởi mọi sự phân chia đều chỉ mang tính chất tương đối và có giá trị khi gắn với một mục đích nghiên cứu nhất định
1.2.2.1 Nội dung biểu hiện
Thứ nhất là: Chất thơ nhìn từ góc độ thiên nhiên
Nhìn từ góc độ này, chúng ta sẽ thấy thiên nhiên dù là nơi núi rừng hay nơi làng quê hoặc nơi phố thị dù hoang sơ, hùng vĩ, hiểm trở hay thanh bình, yên ả… đều mang vẻ đẹp riêng của nó Và đó chính là chất thơ thể hiện trong thiên nhiên - một đề tài hết sức quen thuộc bao đời nay của văn xuôi nói riêng
và văn học nói chung
Thứ hai là: Chất thơ nhìn từ góc độ hình tượng nhân vật
Cùng với thiên nhiên, con người đã trở thành một trong hai đề tài muôn thuở của văn chương Con người cùng với tất cả những thuộc tính vốn có cũng như các mối quan hệ nhân sinh đã đi vào văn học và đã để lại bao dư âm trong lòng bạn đọc mọi thế hệ Người đọc đâu thể thờ ơ trước những biến động trong suy nghĩ, tâm trạng, tình cảm, cảm xúc của các nhân vật gắn liền với những biến cố trong cuộc đời họ Độc giả cũng không thể không xúc động khi tình người giữa các nhân vật tỏa sáng và giúp ta ấm lòng khi mà cuộc sống quá bộn bề, trắc trở và không ít mưu toan Bạn đọc cũng không thể không ngỡ ngàng những vẻ đẹp hình thức và đặc biệt là vẻ đẹp tâm hồn của các nhân vật để rồi tin yêu, trân trọng hơn khi biết rằng bên ta vẫn có biết bao con người đẹp, tình người đẹp và những rung cảm đẹp Tất cả những điều đó tạo nên chất thơ cho hình tượng con người trong tác phẩm Bởi "thơ là vương quốc của cái đẹp", "là địa hạt hợp pháp của cái đẹp" nên một lẽ tất yếu, chất
Trang 34thơ gắn liền với cái đẹp Dĩ nhiên, cái đẹp ấy phải được tổng hợp từ các phẩm chất thẩm mĩ khác
Thứ ba là: Chất thơ nhìn từ một số góc độ khác thuộc nội dung phản ánh của tác phẩm
Ngoài hai phương diện thiên nhiên và con người (hai đề tài tiêu biểu trong văn học nói chung và văn xuôi nói riêng), chất thơ còn có thể hiện hữu
ở một số khía cạnh khác thuộc về nội dung phản ánh của tác phẩm Ví dụ như: cuộc đời thường nhật, phong tục tập quán…
ở những thời khắc tiêu biểu hoặc là nhà văn tạo dựng được những tình huống tâm trạng đặc sắc
Thứ hai là về ngôn ngữ: ngôn ngữ trong tác phẩm văn xuôi mang chất thơ thường rất biểu cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu
Về phương diện biểu hiện này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nêu ra bởi ngôn ngữ biểu cảm, giàu hình ảnh và nhạc điệu là một đặc trưng mang tính bản chất của thơ
Thứ ba là về giọng điệu: tác phẩm văn xuôi mang chất thơ thường có giọng điệu tâm tình thiết tha hoặc giọng điệu trữ tình sâu lắng
Trang 35Trong đời sống hàng ngày, giọng điệu là giọng nói, lời nói biểu thị một
thái độ nhất định Còn trong văn học giọng điệu là thái độ, tình cảm của nhà
văn đối với sự việc, hiện tượng được miêu tả mà người đọc có thể cảm nhận qua sắc thái biểu cảm của lời văn Đặc trưng nổi bật của giọng điệu là màu
sắc cảm xúc trong mối quan hệ mật thiết với các yếu tố thuộc nội dung cũng như hình thức của tác phẩm Bất cứ một nhà văn tài năng nào cũng thường tạo nên trong sáng tác của mình một hệ thống giọng điệu, một môi trường giọng điệu Có thể thấy, giọng điệu văn chương rất đa dạng Ta có thể nhận ra trong một tác phẩm bất kì một giọng điệu hoặc một môi trường giọng điệu Song, giọng điệu chủ đạo góp phần làm nên chất thơ cho một tác phẩm văn xuôi chính là giọng điệu trữ tình sâu lắng hoặc tâm tình thiết tha
Những phương diện biểu hiện cụ thể nêu trên xuất hiện trong từng tác phẩm không giống nhau Có thể tất cả các biểu hiện trên đều tồn tại trong cùng một sáng tác nhưng thông thường mỗi một tác phẩm văn xuôi lại hiện hữu một hoặc một số phương diện biểu hiện của chất thơ và ở các mức độ đậm nhạt khác nhau Dựa trên cơ sở nội dung biểu hiện và hình thức biểu hiện của chất thơ trong văn xuôi đồng thời kết hợp với các quan niệm về thơ, về chất thơ và những kết hợp nghệ thuật giữa thơ và văn xuôi, chúng tôi sẽ tiến
hành tìm hiểu và chỉ ra Chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu trong hai chương:
Nội dung biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu và Hình thức biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn Đỗ Chu
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG BIỂU HIỆN CỦA CHẤT THƠ TRONG TRUYỆN NGẮN ĐỖ CHU
2.1 Chất thơ nhìn từ góc độ thiên nhiên
Thiên nhiên - người bạn đồng hành với con người - đã trở thành một đối tượng thẩm mĩ có tác dụng nối kết tâm hồn con người với ngoại giới và tăng thêm sức hấp dẫn nghệ thuật cho tác phẩm văn học Không nằm ngoài qui luật chung ấy, thiên nhiên trong truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam thời kì chống Mĩ nói chung và Đỗ Chu nói riêng tràn đầy sự sống, giàu sức gợi và rất có hồn Nó không chỉ là mạch nguồn cảm hứng dồi dào mà có khi
trở thành nguyên cớ trực tiếp để tác giả sáng tác: "Bắt tay vào truyện ngắn, có
truyện ban đầu chỉ đến với tác giả bằng một cái tên Hương cỏ mật, Mùa cá bột… Có truyện chỉ bắt đầu từ một khung cảnh Như trường hợp truyện Phù
sa do "yêu quá một khung cảnh sông nước mà tác giả thấy cần phải viết một cái gì đền đáp" Có thể nói, thiên nhiên trong truyện ngắn Đỗ Chu chưa bao
giờ xuất hiện đơn thuần chỉ nhằm tả cảnh nào đó mà cảnh và tình trong các truyện ngắn của ông luôn quyện chặt lấy nhau, tạo nên một không khí trữ tình trong trẻo, đậm đà chất thơ Mặt khác, nếu như trong truyện ngắn của Nguyễn Trung Thành, thiên nhiên thường được sử dụng để ca ngợi sức sống mạnh mẽ, bất diệt và cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Tây Nguyên thời kì chống Mĩ; hay trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng, thiên nhiên luôn hiện diện và đồng hành với người dân Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mĩ
ác liệt; hoặc trong truyện ngắn của mình, Nguyễn Thành Long thường mượn thiên nhiên để diễn tả niềm vui, niềm hăng say của người lao động trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trong những năm kháng chiến
chống Mĩ thì trong Tuyển tập truyện ngắn của Đỗ Chu, thiên nhiên hiện lên
Trang 37vô cùng phong phú, đa dạng Đó là cảnh sắc của những vùng rừng núi khác nhau, của những miền quê khác nhau, của những phố thị khác nhau trên đất nước Việt Nam xuất hiện ở nhiều thời điểm khác nhau và gắn liền với những sắc thái tình cảm, tâm trạng của nhân vật thuộc các tầng lớp khác nhau trong
xã hội đương thời Sự phong phú, đa dạng đó không chỉ tạo nên nét khác biệt, độc đáo cho thiên nhiên trong truyện ngắn Đỗ Chu mà còn góp phần không nhỏ tạo nên chất thơ trong sáng, tươi tắn cho truyện ngắn của Đỗ Chu nói riêng và truyện ngắn thời kì chống Mĩ nói chung
2.1.1 Chất thơ nhìn từ thiên nhiên nơi rừng núi
Là một nhà văn chiến sĩ với bao năm lăn lộn trên chiến trường, giống như bao người lính khác, ngoài những người đồng chí đồng đội của mình, Đỗ Chu còn có một người bạn hết sức đặc biệt - đó chính là thiên nhiên nơi đại ngàn sơn cước Bởi vậy, rất tự nhiên cảnh vật núi rừng đi vào những trang truyện của ông thường xuyên như "bạn đến chơi nhà" vậy Bởi lẽ đó, sẽ là một thiếu sót lớn nếu chúng ta không tìm hiểu, khám phá chất thơ từ góc độ này và càng thiếu sót hơn nữa khi nói đến thiên nhiên nơi núi rừng mà chúng
ta bỏ qua hai hình ảnh đặc trưng của nó - đó chính là rừng và núi
Hiện lên qua những trang truyện của Đỗ Chu là hình ảnh "những dải
rừng rậm rạp"với hai đặc tính cơ bản: "bát ngát" và "xanh vô cùng" Vào
những ngày xuân, "Cỏ non trải trên những sườn non xa xa Đó là những mầm
tranh bỗng một đêm bật dậy, lấp ló Mặt đất bừng sáng trong cái màu sinh sôi
ấy của cỏ" [13, tr.187] và cây lá luôn tạo nên một "cái nền xanh sẫm, mênh mông" [13, tr.192] Vào mùa mưa, "những cánh rừng gần xa đều bị che phủ bởi những bức thành nước trắng xóa" [13, tr.347] nhưng đến mùa khô,
"những bụi cây bám trên vách đá héo xác đi một cách gan góc" [13, tr.339]
Song song với rừng, hình ảnh núi cũng hiện lên thật đặc biệt "Những
dãy núi nhấp nhô suốt ngày vây bọc lấy tầm mắt con người" [13, tr.275] cùng
Trang 38"những phiến đá kiêu kì chồng lên nhau, lúc nào cũng có thể tưởng như
chúng sắp đổ" [13, tr.339] và "những vách đá cao ngất đứng lặng im ở hai bên đường" [13, tr.369] hay "một dãy núi đá với những hình thù kì dị, nom hiểm trở đến nỗi phải sửng sốt" [13, tr.326]… Tất cả đều toát lên nét hoang
sơ, kì vĩ nhưng cũng không kém phần hiểm trở rất đặc trưng của núi, đặc biệt
là những dãy núi Trường Sơn
Tuy nhiên, viết về thiên nhiên nơi núi rừng- cái phông nền để lớp nhân vật người lính xuất hiện, Đỗ Chu không chỉ dừng ở việc giúp người đọc hình dung được diện mạo của rừng và núi mà điều đặc biệt là ông đã khám phá và miêu tả được nét nên thơ của cảnh vật ở nơi vốn được biết đến là đẹp một cách hoang sơ, kì vĩ, hiểm trở Có thể nói dù là mùa mưa hay mùa khô, mùa xuân hay mùa hạ, dù là đêm hay ngày, dù là dưới ánh nắng mặt trời hay dưới ánh trăng… thì vạn vật nơi đây vẫn luôn vô cùng sống động và thi vị
Đọc những câu văn, đoạn văn viết về thiên nhiên nơi đây, độc giả không thể quên được hai hình ảnh trở đi trở lại nhiều lần đó là những cơn mưa
và những buổi đêm Dù "đêm mùa xuân" hay "đêm đầu hè mát mẻ" thì "đêm ở
rừng bao giờ cũng nhuốm một vẻ trang nghiêm" [13, tr.275] hoặc "huyền bí
và trang trọng" [13, tr.84] Cái vẻ "trang nghiêm", "trang trọng" và "huyền bí"
ấy được tạo nên từ chính "Những dải rừng rậm rạp, những dãy núi nhấp nhô
suốt ngày vây bọc lấy tầm mắt con người bây giờ đều chìm cả trong bóng tối." Tất cả chỉ "còn một màu đen, mông lung và khoáng đãng." [13, tr.275]
Đó chính là nét đặc trưng nhất của đêm ở núi rừng Cùng với đêm ở rừng, mưa rừng cũng hiện lên với nhiều vẻ khác nhau Trong những ngày xuân,
"mưa phùn giăng màn mù mịt Những hạt mưa nhỏ li ti từ khoảng đen thấm
dần xuống vai áo các chiến sĩ" [13, tr.136] Đến mùa mưa, "những cơn mưa rừng ập đến trút nước ào ào trên các vách núi, những cánh rừng gần xa đều
bị che phủ bởi những bức thành nước trắng xóa" [13, tr.347] khiến cho
Trang 39"Những đám mây sũng nước bị gió đánh cho tơi tả, trôi giạt khắp nơi" còn
"Những đoạn đường vắt ngang qua các suối ngày nào xe chúng tôi lăn qua
còn vang lên tiếng các phiến đá nghiến vào nhau nghe khô xạo, giờ nước cũng tràn lên lênh láng" [13, tr.346] Có thể nói, "chỉ bằng một cơn dông chớp nhoáng thể là đủ để cho mùa khô bị dìm ngập trong nước" [13, tr.357]
Đó mới thực sự là mưa rừng Và hơn ai hết, những chiến sĩ trong truyện ngắn của Đỗ Chu đã gọi tên chính xác những tính chất của đêm ở rừng ("trang nghiêm", "mông lung" và "khoáng đạt") và cảm nhận rõ sự biến đổi của mưa:
"Cũng như bất kì sự chuyển tiếp thay đổi nào, thoạt đầu thần mưa chỉ mới
tung từ đôi cánh của mình ra những cơn mưa nhỏ, chạy thoảng qua, còn có phần dè dặt và nể nang nữa là đằng khác Nhưng cũng chẳng được lâu, người
ta sẽ thấy nhỡn tiền là chỉ bằng một cơn dông chớp nhoáng thể là đủ để cho mùa khô bị dìm ngập trong nước" [13, tr.357]
Đêm rừng và mưa rừng là vậy đó! Còn trong "Một buổi sáng yên tĩnh", rừng núi lại mang một diện mạo hoàn toàn khác: "Sương tan rất nhanh, vừa
mới đặc như sữa mà giờ đã loãng nhẹ và bay phiêu diêu Lát nữa, khi ánh mặt trời từ bên kia dãy Đồng Tiền đâm thẳng lên như những lưỡi kiếm, sương
sẽ trôi dần xuống làm thành một biển mây trắng ngần, phủ đầy thung lũng Đỉnh đèo sẽ là một hòn đảo Cho đến non trưa thì biển mây biến mất, rừng và sông hiện ra Dòng sông thấp thoáng trên cái nền xanh sẫm, mênh mông của cây lá" [13, tr.192] "Chưa bao giờ như những ngày này, trời và rừng đều mở
ra bát ngát và xanh vô cùng Những dãy núi xô đuổi nhau tới tít tắp và con đường khuất rồi lại hiện, như một sợi chỉ hồng ấy" [13, tr.212] hay "Khoảng trời trên đầu trong veo như một tấm gương vừa được lau sạch Trên những bãi rộng loang lổ hố bom, cỏ non đang mọc lên từng đám, những ngọn cỏ tranh nhọn như những lưỡi mác đâm tua tủa qua lớp tro đen Và những cánh rừng trên núi cao cũng đang thay lá" [13, tr.658] Có lẽ chỉ bấy nhiêu thôi đã
Trang 40đủ để chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp nên thơ của núi rừng dưới ánh sáng mặt trời Và sẽ là vô ích nếu ai đó cố gắng diễn đạt lại những câu văn ấy bởi nó dường như đã trở thành mẫu mực Làm sao ta có thể thay thế những hình ảnh
như: "Sương tan rất nhanh, vừa mới đặc như sữa mà giờ đã loãng nhẹ và bay
phiêu diêu" hay "khi ánh mặt trời từ bên kia dãy Đồng Tiền đâm thẳng lên như những lưỡi kiếm, sương sẽ trôi dần xuống làm thành một biển mây trắng ngần, phủ đầy thung lũng" hoặc " Chưa bao giờ như những ngày này, trời và rừng đều mở ra bát ngát và xanh vô cùng Những dãy núi xô đuổi nhau tới tít tắp và con đường khuất rồi lại hiện, như một sợi chỉ hồng ấy" [13, tr.212]
bằng bất kì hình ảnh nào khác mà không làm mất đi sự sinh động cũng như nét nên thơ rất đặc trưng của tạo vật nơi núi rừng Trường Sơn
Không chỉ vậy, người đọc cũng sẽ rất ấn tượng với hình ảnh "mặt trăng
mỏng như một cái vẩy cá trôi vùn vụt sau những đám mây nhẹ như khói"
[13,tr.144] hay "nắng hoe vàng trên đỉnh núi và mây bông cuộn đầy trong các
lèn đá; con diều hâu uy nghiêm bay trên khoảng ánh dáng thanh xuân của mặt trời" [13, tr.354] hoặc "Ẩn hiện sau những đám mây mỏng là vài ngôi sao nhấp nháy như bị ướt" [13, tr.369]; đặc biệt là hình ảnh "ráng chiều như một nỗi nhớ, loé lên lấp lánh nơi đầu núi, nhuốm hồng những dải mây đang trôi bảng lảng và làm ửng lên khuôn mặt của mỗi người" [13, tr.372]…
Tất cả những hình ảnh ấy đã không chỉ góp phần tạo nên một vẻ đẹp
đa dạng của thiên nhiên núi rừng mà còn đem lại chất thơ trong trẻo, say đắm lòng người cho cảnh vật nơi đây nói riêng và thiên nhiên trong truyện ngắn của Đỗ Chu nói chung Chính vẻ đẹp đa dạng đó cũng đã mang đến cho thiên nhiên núi rừng trong truyện ngắn Đỗ Chu một khuôn mặt riêng, khác biệt hẳn
so với thiên nhiên núi rừng trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, của Nguyễn Thành Long…, đặc biệt là so với truyện ngắn của Nguyễn Trung
Thành Có thể thấy rằng, trong các truyện ngắn Dũng cảm, Rừng xà nu…