Phẩm chất thẩm mỹ của phong cách không đơn thuần là vấn đề kĩ thuật, hình thức mà nó đòi hỏi phải có tính nghệ thuật cao và chân chính bởi “phong cách nghệ thuật là một phạm phạm trù thẩ
Trang 1Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Ngụy Thị Bình
Lời cảm ơn
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS- TS Đoàn Đức Phương, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Sự nhiệt tình, nghiêm túc và niềm say mê khoa học của thầy đã đem đến cho tôi tình yêu đối với con đường nghiên cứu khoa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các tác giả, các nhà nghiên cứu đã giúp tôi những tư liệu quý báu để tôi hoàn thành luận văn
Trang 2Có được luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thày cô giáo trong tổ Lí luận Văn học, sự say mê giảng dạy và dìu dắt của các thầy cô đã bồi đắp cho tâm hồn chúng tôi tình yêu đối văn học Tôi xin cảm ơn khoa Ngữ văn, phòng sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập tại trường ĐHSP Hà Nội 2
Tôi cũng xin gửi tới Sở GD- ĐT Bắc Giang, Ban giám hiệu Trường THPT Yên Dũng Số 3, các thầy cô giáo trong nhà trường và những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp … lòng biết
ơn sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện, động viện, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua để hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn
Trang 3nhà văn đó thì phải xuất hiện thường xuyên, có tính chất nhất quán, bền vững, nếu không sự độc đáo đó chỉ là ngẫu nhiên hay nhất thời Cái cốt lõi của phong cách là sự nhất quán và bền vững còn sự triển khai của nó là đa dạng và luôn luôn đổi mới Độc đáo và đa dạng chưa đủ, phong cách phải có phẩm chất thẩm mỹ tức là phải đem lại cho người đọc một sự hưởng thụ mỹ cảm dồi dào Phẩm chất thẩm mỹ của phong cách không đơn thuần là vấn đề kĩ thuật, hình thức mà nó đòi hỏi phải có tính nghệ thuật cao và chân chính bởi “phong cách nghệ thuật là một phạm phạm trù thẩm mỹ chỉ sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống tưởng tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [33, tr.255-256] Vì thế không phải nhà văn nào cũng có phong cách dù xét cho cùng nhà văn nào cũng có đặc điểm riêng Phong cách không những là dấu hiệu trưởng thành của một nhà văn, khẳng định được chỗ đứng của nhà văn trên văn đàn mà hơn thế nữa phong cách khi
đã nở rộ nó còn chính là bằng chứng của một nền văn học đã trưởng thành
Là hình thức ngắn của tự sự, truyện ngắn có thể kể về cả cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một chốc lát mà vẫn gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời
và tình người So với các thể loại văn học khác, “truyện ngắn là một thể loại dân chủ, gần gũi với đời sống hàng ngày, lại súc tích, dễ đọc, gắn liền với hoạt động báo chí,
có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống” [41, tr.398] Vì thế trải qua bao biến
cố, thăng trầm của thể loại, đến nay truyện ngắn vẫn luôn khẳng định được vị trí quan trọng trên văn đàn là một thể loại đang “lên ngôi”, “được mùa”, “thăng hoa” với
“chân trời của truyện ngắn” [58, tr.204] Đặc biệt ở thế kỷ XXI, với những đổi thay nhanh chóng trong đời sống vật chất và tinh thần của con người thì vị trí của một thể loại năng động như truyện ngắn lại càng được khẳng định
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Đỗ Chu là một trong số những nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ có được nhiều thành tựu ở thể loại truyện ngắn Nhìn lại chặng đường sáng tác hơn bốn mươi năm qua của nhà văn, chúng ta có thể nhận thấy Đỗ Chu đã từng sáng tác ở nhiều thể loại: truyện ngắn, ký, tiểu thuyết nhưng thể loại thành công nhất, tạo nên tên tuổi và chỗ đứng của ông trên văn đàn chính là truyện ngắn Chính Đỗ Chu đã từng tâm sự: “Tôi thấy mình chủ yếu
Trang 4là ngòi bút viết truyện ngắn, “định mệnh” đã gắn mình với truyện ngắn” [27] Ngay từ những năm 1961, khi đang còn ngồi trên ghế nhà trường, Đỗ Chu đã có truyện ngắn
Ao làng in trên tạp chí Văn nghệ quân đội để hơn bốn mươi năm sau, người đọc cùng
thế hệ Đỗ Chu vẫn còn “nhớ cái ý vị man mác gợi lên từ những dòng chữ giản dị” trong thiên truyện đầu tay ấy của ông Không lâu sau đó, Đỗ Chu đã thực sự làm “xao
xuyến văn đàn” với Hương cỏ mật, Mùa cá bột, Chiến sĩ quân bưu Từ đó đến
nay, bền bỉ trên con đường văn nghiệp với một sức viết dồi dào, Đỗ Chu đã cho ra
mắt bạn đọc hàng chục tập truyện đặc sắc: Hương cỏ mật (1965), Phù sa (1967), Gió
qua thung lũng (1971), Trung du (1977), Nơi con đường gặp biển (1978), Tháng hai (1985), Mảnh vườn xưa hoang vắng (1989), Mận trắng (1997), Một loài chim trên sóng (2002) Với 35 truyện ngắn xuất sắc được lựa chọn từ các tập truyện ngắn
trên, năm 2003 Đỗ Chu đã hoàn thành một Tuyển tập truyện ngắn Hơn bốn mươi
năm tung hoành văn trường, không phô diễn mà cứ cặm cụi, âm thầm trong công việc viết của mình, Đỗ Chu đã tạo cho mình một “khuôn mặt” riêng, một nét tinh thần riêng biệt, một phong cách truyện ngắn giàu chất thơ Không chỉ khẳng định được sự
có mặt của mình trong nền văn học dân tộc, Đỗ Chu còn khẳng định được mình trong nền văn học khu vực với giải thưởng ASEAN năm 2004
Nhận xét, đánh giá về truyện ngắn Đỗ Chu, đã có không ít bài giới thiệu, nghiên cứu Qua quá trình tìm hiểu, người viết luận văn thấy sơ bộ có thể thống kê như sau:
Ngay từ truyện ngắn đầu tay Ao làng (1961), dư luận đã nhận ra có “cái ý vị
man mác gợi lên từ những dòng chữ giản dị ấy”của Đỗ Chu
Mấy năm sau, với ba truyện ngắn in trong tập Hương cỏ mật (1965 - in
chung với Trúc Hà và Văn Ngữ), ngòi bút Đỗ Chu đã thực sự thu hút được sự chú ý của giới phê bình văn học Các ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu: Phan Hồng Giang, Nguyễn Hoàng Sơn, Vương Trí Nhàn đều khẳng định sự thành công của Đỗ Chu và thấy đó là “những sáng tác biểu dương cái đẹp, cái mới trong xã hội ta, trên đất nước ta” [31], “là những truyện ngắn đẹp như thơ” [66], được viết với “con mắt trong trẻo, giàu chất thơ” Ở đó Đỗ Chu đã “chớm nở một lối viết riêng” [31]
Trang 5Hơn một năm sau, tập Phù sa ra mắt bạn đọc và vẫn tiếp tục thu hút sự chú
ý của Phan Hồng Giang, Vương Trí Nhàn Mặc dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng
cả hai tác giả đều khẳng định thành công của tập truyện, đồng thời còn nghiêm túc chỉ
ra những nhược điểm của tập truyện ấy Phan Hồng Giang khi đọc Phù sa đã có dịp
“nghĩ đôi điều về nguồn sức mạnh của con người và nghệ thuật chúng ta” và đã nhận
ra Đỗ Chu là cây bút “thiên về phía miêu tả cái chất thơ của cuộc đời” [32] Vương
Trí Nhàn thì thấy ở Phù sa “một cuộc gặp gỡ nhiều cảm tình” dù cả tập Phù sa “cơ
hồ như không có chuyện” [44] Cả hai tác giả cùng chỉ ra nhược điểm của tập truyện:
“bố cục truyện đôi khi có phần nào cồng kềnh” [32] hay hình thức câu chuyện “có vẻ không chặt chẽ” [44] Bên cạnh hai bài viết công phu kể trên, cũng cần phải kể đến
những nhận xét khá xác đáng của một số cây bút tuy không đi sâu nghiên cứu tập Phù
sa nhưng đã chớp đúng cái “thần” của Đỗ Chu trong tập truyện ấy Nguyễn Văn Long
nhận thấy “chất trữ tình cũng là sắc thái nổi bật trong tập Phù sa của Đỗ Chu” [38].Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình cho rằng “Đỗ Chu viết Phù sa, Hương cỏ mật để diễn
tả vẻ đẹp ngời sáng của thế hệ trẻ chống Mỹ, ung dung, tự tin, tự hào, nhẹ nhõm một khát vọng chiến đấu ” [22]
Tập truyện Gió qua thung lũng ra đời (1971) không gây được nhiều sự chú
ý như Phù sa Các bài viết của Vương Trí Nhàn, Ngô Văn Phú, Phạm Thị Minh Thư, Nguyễn Văn Hạnh, Văn Chinh đều tập trung vào truyện ngắn Ráng đỏ,coi đó là tác
phẩm “lộng lẫy, huy hoàng của một thời truyện ngắn Đỗ Chu” [60], ở đó “hiện thực được lĩnh hội, thể nghiệm và biểu hiện qua góc độ trữ tình bởi sự nhào nặn bằng chất men riêng của tâm hồn người viết” [52]
Sau 1975, trong hai năm 1977 và 1978, Đỗ Chu cho ra đời liên tiếp hai tập
Trung du và Nơi con đường gặp biển Thời gian này “như chùng gân sau khi trèo lên
một đỉnh cao” [23], sáng tác của Đỗ Chu không còn thu hút được nhiều sự chú ý của giới phê bình và bạn đọc như trước Ngô Vĩnh Bình và Văn Chinh đều cho rằng hai tập truyện này đã thể hiện “cái uể oải tâm thế” và “gần giống với sự tẻ nhạt mà người đọc quen sài mì chính cảm thấy” [24] Đỗ Chu lúc này “đến với người đọc như một người bạn bình thường nếu không muốn nói là vô duyên” [25]
Trang 6Sau một thời gian dài “dường như vắng bặt trong đời sống văn học” [21],
Đỗ Chu đã trở lại với tập Tháng hai (1985) Cả Ngô Văn Phú và Văn Chinh đều thấy
Đỗ Chu đã không đánh mất mình, “vẫn giữ được phong độ truyện ngắn xưa”, “chất
thơ, chất văn học ở mỗi truyện ngắn trong tập Tháng hai này vẫn giữ được cốt cách
riêng của Đỗ Chu” và Đỗ Chu “đã biết bổ sung những điều cần thiết mới, những lối viết mới để thỏa mãn nhu cầu và trình độ của người đọc” [45]
Năm 1989, tập truyện Mảnh vườn xưa hoang vắng ra đời, một lần nữa Đỗ
Chu lại chiếm được cảm tình và gây được sự chú ý đặc biệt của người đọc Xung quanh tập truyện này có rất nhiều những ý kiến đánh giá của hàng loạt tác giả:Văn Chinh, Ngô Vĩnh Bình, Nguyễn Hoàng Sơn, Phạm Thị Minh Thư Các ý kiến đều khẳng định ở đây có sự “đằm chín” trong phong cách Đỗ Chu, “Đỗ Chu vẫn giữ được phong độ, một phong độ rất Đỗ Chu, không lẫn, không trộn vào bất cứ ai”, ta vẫn thấy
“một Đỗ Chu xưa, một Đỗ Chu nhẩn nha, một Đỗ Chu trữ tình, một Đỗ Chu phóng khoáng, một Đỗ Chu tinh tế” [20], nhưng Đỗ Chu cũng đã “bắt đầu vào một chặng mới” và “Đỗ Chu đã có một hình hài cụ thể trong văn xuôi anh” [60]
Tám năm sau thành công của Mảnh vườn xưa hoang vắng, Đỗ Chu lại ra mắt bạn đọc tập Mận trắng (1997) Nhưng thực chất đây chỉ là một tập truyện tuyển
những truyện ngắn của Đỗ Chu từ những tập truyện trước Bởi vậy dường như không
có những bài nghiên cứu về tập truyện này Tới khi Một loài chim trên sóng ra đời
(2002), dư luận lại mới xôn xao bàn luận về truyện ngắn Đỗ Chu Nhiều tác giả đều
có chung cảm nhận rằng với Một loài chim trên sóng, Đỗ Chu “đã đi từ tài hoa của thời Hương cỏ mật đến tài năng của thời văn học đa giọng điệu ” [24] Nguyễn
Hoàng Sơn khẳng định ở tập truyện này Đỗ Chu đã có “sự đào sâu, chín thêm của một phong cách sớm ổn định, thiên về trữ tình ” [46]
Năm 2003, Tuyển tập truyện ngắn Đỗ Chu hoàn thành gồm 35 truyện ngắn
xuất sắc trong hơn bốn mươi năm cầm bút của Đỗ Chu đánh dấu chặng đường sáng tạo nghệ thuật của ông Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tú khi nhận xét về tuyển tập này đã khẳng định: “Tuyển tập đã thể hiện một phong cách văn xuôi Đỗ Chu trữ tình, đậm chất thơ, tinh tế, tài hoa” [61] Nhận xét này đã thâu tóm được cái “thần” cái “cốt” cơ bản trong phong cách truyện ngắn Đỗ Chu
Trang 7Có thể thấy, xung quanh mỗi tập truyện, thậm chí mỗi truyện ngắn tiêu biểu của Đỗ Chu đều có những nhận xét xác đáng Nhưng bên cạnh đó còn phải kể đến một số bài viết có tính khái quát về truyện ngắn Đỗ Chu Bao quát sự nghiệp sáng tác của Đỗ Chu gần mười năm đầu, chỉ rõ đặc điểm truyện ngắn của cây bút này trên từng
phương diện, từng khía cạnh, Nguyễn Văn Hạnh có bài viết Truyện ngắn Đỗ Chu
Trong bài viết này tác giả khẳng định Đỗ Chu đã “có vị trí riêng trong nền văn học
của chúng ta những năm sáu mươi” [34] Ở một góc nhìn khác trong bài Người chiến
sĩ chống Mỹ trong văn học, tác giả Ngô Thảo cũng có những nhận xét tinh tế về chặng
đường sáng tác mười năm đầu của Đỗ Chu Theo tác giả bài viết, “Đỗ Chu là người viết mà ngay từ những tác phẩm đầu tay đã biểu hiện một bản sắc riêng, một phong cách văn học đã chín” [52] Gần ba mươi năm sau, khi hai bài viết trên xuất hiện, có dịp quan sát sự nghiệp sáng tác của Đỗ Chu hơn bốn thập kỉ, Văn Chinh đăng bài
“Nhà văn Đỗ Chu: con người phải được yêu mến và kính trọng” Ở đó sau khi tản
mạn về con người và gia cảnh của nhà văn, tác giả đã khẳng định “có một nét Đỗ Chu rất đáng trọng là ông không bị bồng bềnh trên sóng dư luận về tác phẩm của mình”
[24] Nguyễn Hoàng Sơn trong bài “Nhà văn Đỗ Chu: tôi bán là bán văn, không bán
giấy!” cảm thấy “không có sự thay đổi kiểu xu thời trong phong cách truyện ngắn Đỗ
Chu chỉ có sự đào sâu, chín thêm của một phong cách sớm ổn định, thiên về trữ tình” [46] Cũng bao quát toàn bộ sự nghiệp sáng tác truyện ngắn của Đỗ Chu còn phải kể đến hai bài viết của hai tác giả Nguyễn Thanh Tú và Lê Hương Thủy Tác giả Nguyễn Thanh Tú đã đi sâu phân tích kiểu kết cấu nổi bật mang phong cách Đỗ Chu Còn Lê
Hương Thủy thì khái quát những “Đặc trưng truyện ngắn Đỗ Chu” Những nhận xét,
đánh giá của các tác giả trên dù mới là những bài viết riêng lẻ nhưng lại là những gợi
mở có tính chất định hướng quan trọng, là nguồn tư liệu quý báu giúp chúng tôi hiểu
rõ hơn về Đỗ Chu và truyện ngắn của ông Ngoài ra còn có những luận văn thạc sĩ
khảo sát và tìm hiểu truyện ngắn Đỗ Chu khá đầy đủ như: Luận văn Truyện ngắn Đỗ
Chu (2003) của Trần Xuân Trà, luận văn Đặc sắc truyện ngắn Đỗ Chu (2005) của Tạ
Duy Kiên
Trên cơ sở tiếp thu những ý kiến đúng đắn của những người đi trước, chúng tôi muốn tìm một cách đánh giá khái quát hơn, hệ thống hơn khi chỉ ra những biểu hiện cụ thể trong phong cách truyện ngắn của Đỗ Chu để có cái nhìn thấu đáo toàn
Trang 8diện hơn về những đóng góp của nhà văn, từ đó khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại
Về phía tác giả luận văn, với tư cách là một giáo viên dạy văn ở Bắc Giang, chúng tôi coi Đỗ Chu là nhà văn Bắc Giang Tên tuổi của ông ít nhiều đã được học sinh biết đến qua những đoạn văn tả cảnh như một mẫu mực về cách sử dụng ngôn từ
và cú pháp Hơn thế nữa, việc tìm hiểu những nhà văn của quê hương trong những giờ ngoại khóa hay tiết học tự chọn cũng là một cách để người giáo viên dạy văn đánh thức ở học sinh tình yêu văn học, niềm tự hào về con người, văn hóa quê hương, từ đó
mà mở rộng thành tình yêu đất nước Còn với tư cách là người bước đầu tập nghiên cứu khoa học, khả năng nhận thức và xử lí vấn đề cùng kinh nghiệm nghiên cứu còn nhiều hạn chế, khi thực hiện đề tài luận văn này, chúng tôi mong muốn và hi vọng có những đóng góp khoa học nhất định với công tác nghiên cứu và giảng dạy văn chương Thành quả ấy có thể là nhỏ bé nhưng cũng là nguồn động lực thôi thúc chúng tôi theo đuổi con đường mình đã lựa chọn
Trên đây là những lí do gợi dẫn chúng tôi lựa chọn đề tài Phong cách nghệ
thuật truyện ngắn Đỗ Chu làm đối tượng nghiên cứu của luận văn Hi vọng rằng qua
việc tìm hiểu, nghiên cứu một gương mặt nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo, luận văn góp phần vào việc nhận diện sự phát triển thể loại truyện ngắn nói riêng và nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung Đồng thời đây cũng là cơ hội để tác giả luận văn có điều kiện bổ sung kiến thức, mở rộng tư liệu tham khảo, làm giàu vốn văn học cho bản thân và rèn luyện các thao tác nghiên cứu khoa học, kĩ năng phân tích, cảm thụ tác phẩm Thiết nghĩ rằng đó là những công việc quan trọng và cần thiết đối với người giáo viên dạy văn hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài đã chọn, luận văn của chúng tôi nhằm đến những mục đích sau: Củng cố vững chắc thêm một số vấn đề lí luận về phong cách nghệ thuật trong sáng tác văn chương
Chỉ ra một cách hệ thống những biểu hiện cụ thể của phong cách truyện ngắn Đỗ Chu
Trang 9Tạo thêm cơ sở cho việc khẳng định vị trí, tài năng, đóng góp của Đỗ Chu đối với sự phát triển của thể loại truyện ngắn và cả nền văn học Việt Nam hiện đại
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khảo sát khái lược về phong cách nghệ thuật nhà văn và những biểu hiện cơ bản của nó
Khảo sát có hệ thống kèm theo những nhận xét cụ thể về các ý kiến liên quan đến truyện ngắn Đỗ Chu
Khảo sát và xác lập hệ thống những biểu hiện của phong cách nghệ thuật truyện ngắn Đỗ Chu
Khảo sát và phân tích kĩ một số truyện ngắn tiêu biểu của Đỗ Chu, so sánh đối chiếu với truyện ngắn của một số tác giả khác để làm sáng tỏ những biểu hiện của phong cách nghệ thuật truyện ngắn Đỗ Chu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Những tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề phong cách nghệ thuật nhà văn
Những tài liệu và công trình nghiên cứu có liên quan đến loại tác phẩm tự
sự, đặc biệt là thể loại truyện ngắn
Những bài viết và công trình nghiên cứu về Đỗ Chu và các truyện ngắn của ông
Những truyện ngắn tiểu biểu của Đỗ Chu được in trong các tập truyện của
ông Đặc biệt chúng tôi lựa chọn 35 truyện ngắn trong Tuyển tập truyện ngắn Đỗ
Chu (2003) để tìm hiểu phong cách nghệ thuật truyện ngắn của ông Ngoài ra một số
tùy bút hay các bài phát biểu của Đỗ Chu cũng được sử dụng như là những tài liệu tham khảo
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 10Để thực hiện đề tài luận văn Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Đỗ Chu,
chúng tôi kết hợp sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp phân tích: Một trong những phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học là phương pháp phân tích Chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp này để phân tích cụ thể các yếu tố về nội dung hoặc hình thức nghệ thuật của tác phẩm làm dẫn liệu minh họa cho các luận điểm được đưa ra trong luận văn
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình tìm hiểu đề tài luận văn, người viết luận văn sẽ tiến hành so sánh đối chiếu các tập truyện ngắn của Đỗ Chu ở các chặng đường sáng tác, so sánh đối chiếu đặc điểm truyện ngắn của Đỗ Chu với một số tác giả khác để tìm ra diện mạo và phong cách riêng của Đỗ Chu
Phương pháp tổng hợp, khái quát: Từ sự phân tích những dẫn liệu cụ thể, người viết luận văn sẽ tổng hợp, khái quát để tìm ra những nét chung thống nhất và tiêu biểu trong phong cách nghệ thuật truyện ngắn Đỗ Chu
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ
QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC CỦA ĐỖ CHU 1.1 Phong cách nghệ thuật nhà văn
1.1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật nhà văn
“Qua giọng hát, anh nhận ra người hát Qua nét khắc, anh nhận ra người thợ bạc” [18] Quả thật, qua tiếng hát, ta nhận ra tâm hồn người nghệ sĩ dịu dàng đằm thắm hay khỏe khoắn lạc quan Qua nét khắc, nét chạm và những đường nét hoa văn ta nhận ra
Trang 12sự tinh tế, cảm quan về cuộc sống của người nghệ nhân Có thể nói qua mỗi tác phẩm nghệ thuật, người ta nhận ra được “khuôn mặt", tâm hồn, nét dáng riêng, dấu ấn riêng
hay nói cách khác là nhận ra phong cách riêng của người làm nghệ thuật
Nhìn từ phương diện lịch sử thì “phong cách” (style) có gốc gác sâu xa Xưa kia người Hi Lạp dùng từ stylos để chỉ một cái que có đầu nhọn và đầu tù Người La Mã thì gọi là stylus cũng để chỉ cái que đó nhưng để viết lên những tấm ván nhỏ có phủ
một lớp sáp bên trên: đầu nhọn của que đóng vai trò là cây bút ngày nay, còn đầu vót
bè ra để xoa sáp, chữa lỗi và xóa đi những chữ đã viết Như vậy ngay từ đầu từ
“phong cách” đã được dùng để chỉ một vật có để lại dấu ấn: chữ Đến người Pháp, họ
dùng chữ style nhưng ban đầu cũng chỉ có nghĩa là nét chữ, sau dần mới có nghĩa là
bút pháp với những đặc điểm về ngôn ngữ và văn thể Và cuối cùng mới có nghĩa là
“phong cách” như trong quan niệm của Buy Phông “phong cách là người” hay nói rộng ra “văn là người” Khi bàn về phong cách, Buy Phông còn định nghĩa rõ ràng hơn: “phong cách là cái còn lại hoặc hạt nhân mà sau khi từ nhà văn chúng ta bóc đi những cái không phải của bản thân anh ta, và tất cả những thứ mà anh ta giống với người khác ” Như thế phong cách chính là cá tính,nhưng không phải là cá tính trong đời sống mà là cá tính trong sáng tác nghệ thuật Qua mỗi tác phấm văn học ta nhận ra
được nét dáng tâm hồn của nhà văn Nguyễn Định Cát trong Cẩn trai thi tập đã nhận
xét: “ Người nào trội về nhân cách thì làm thơ hay trang nhã, người nào trội về khí phách thì làm thơ hay hùng hồn, người nào giỏi về dùng chữ, đặt câu thì làm thơ hay
hoa mỹ, xem thơ có thể mường tượng thấy người ” Trong Nam sơn tùng thoại,
Nguyễn Đức Đạt cũng khẳng định: “Văn như con người của nó Văn thâm hậu thì con người của nó trầm mà tĩnh; văn ôn nhu thì con người của nó khiêm mà hòa; văn cao khiết thì con người của nó đạm mà giản; văn hùng hồn thì con người cương mà nhanh; văn uyên sâu thì con người nó thuần túy mà đứng đắn” Song mệnh đề “phong cách là người” hay nói rộng ra “văn là người” phải được hiểu một cách biện chứng, điều đó có nghĩa là văn và người có sự thống nhất chứ không phải là đồng nhất Người ta có thể tìm thấy bóng dáng nhà văn trong tác phẩm, song người ta cũng biết: Cornây thường ngày rất khác với những nhân vật lí tưởng mà ông ca tụng và mơ ước Veclen thường hành động trái ngược với những điều ông tâm niệm trong tác phẩm Phêt vốn là một ông chủ tính toán chi li, nhưng trong tác phẩm lại tỏ ra là một nhà thơ
Trang 13trữ tình tinh tế, say đắm ca ngợi tình yêu, thiên nhiên Vì vậy mà nhà văn Nguyễn Tuân gọi phong cách là “nhỡn quan về thế giới”, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Trần Đình Sử gọi đó là “thế giới cảm”
Thật ra, viết văn không phải chỉ phản ánh mà còn biểu hiện, không phải chỉ tái hiện mà còn thông báo, tâm sự, tâm tình; chỉ viết cái gì thực sự xúc động, dồi dào tràn đầy trong lòng, kết quả của một sự thanh lọc, tự vượt mình theo hướng cao đẹp hơn Cái viết ra là một nhu cầu nội tâm mãnh liệt, tâm huyết, gan ruột Tất cả những cái đó
dĩ nhiên không tách rời với cuộc sống hàng ngày của nhà văn nhưng rõ ràng không phải là một Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Phải lắng nghe cái gì sâu xa nhất trong con người mình, bồi dưỡng cho mình một bản lĩnh vững vàng, một phong cách độc đáo, vì nghệ thuật không phải là sản xuất hàng loạt như sản xuất công nghiệp
Hãy suy nghĩ lời khuyên của M.Gorki: “Bạn hãy giữ lấy cái gì là riêng của mình, làm
sao cho nó phát triển tự do Lúc một người không có cái gì là riêng của mình thì phải thấy ở người đó chẳng có gì hết” [65, tr.267]
Xưa nay, các nghệ sĩ lớn đều nhất trí nhấn mạnh tầm quan trọng của chỗ độc đáo
cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật Phát triển cá tính riêng trong sáng tạo nghệ thuật
đó là con đường tạo ra phong cách riêng của người nghệ sĩ Raxun Gamzatop khẳng định: “Tác phẩm văn học mà không thấy rõ tác giả thì chẳng khác gì con ngựa chạy trên đường mà không có người cưỡi” [18] Tuôcghenhep viết: “Phải chăng anh chưa bao giờ đọc hàng tập giấy viết kín và có cảm giác rằng anh cũng có thể viết không kém và đúng nguyên như thế cũng nên Hoặc là anh, hoặc bất kì một người nào khác,
có thể làm thế, vì trong ấy không có gì là đặc sắc riêng biệt Nhưng liền ngay đó, anh bắt gặp một mẩu truyện ngắn, một bức phác thảo, chỉ một vài dòng thôi và anh cảm
thấy khác hẳn Anh không thể nói được như thế Có thể là hay hơn hoặc kém hơn, nhưng nhất định là phải khác, bởi vì muốn nói được như thế, muốn bắt đúng cái nốt
ấy thì phải có một thanh quản tổ chức đúng như thế Cũng giống như chim ấy Đó là nét riêng biệt chủ yếu của một tài năng độc đáo và đầy sức sống” [64, tr.712] Với tinh thần ấy, Letxinh khi đọc Sêchxpia đã phát hiện ra trong tác phẩm của Sêchxpia
“mỗi một ưu điểm nhỏ nhất cũng in dấu ấn riêng, dấu ấn đó có thể lập tức nói với toàn thế giới rằng: Tôi là Sêchxpia”
Trang 14Tiếp thu những ý kiến, những quan niệm đó, sau này các nhà nghiên cứu lí luận
văn học đã đưa ra một định nghĩa đúng đắn về phong cách: “Phong cách là chỗ độc
đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật có phẩm chất thẩm mĩ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú” [41, tr.482] Theo định nghĩa này, phong cách đòi hỏi trước
hết nhà văn phải đem lại một tiếng nói mới cho văn học Nếu không có tiếng nói ấy, thì dù vấn đề lập trường, vốn sống, tự cho là đã giải quyết đến đâu chăng nữa thì tác phẩm của nhà văn vẫn cứ bị rơi vào quên lãng Nghệ thuật tối kị sự chung chung, lặp lại Nghệ thuật có thể học tập người khác nhưng không phải là mô phỏng mà phải biết biến thành cái của riêng mình Danh họa nổi tiếng Trung Quốc là Tề Bạch Thạch có nói: “Học ngã giả sinh, tựa ngã giả tử” (người học tôi thì sống, người giống tôi thì chết) L.Tônxtôi cũng đồng quan điểm như vậy khi ông nói: “Nếu như đó là một nhà
văn cũ đã quen thuộc, thì câu hỏi không phải anh ấy là người như thế nào ? Mà sẽ là:
nào, anh có thể nói cho tôi thêm một điều gì mới ?” Và Nguyễn Đình Thi trong bài Tiếng nói của văn nghệ, khi bàn về nội dung phản ánh của nghệ thuật cũng khẳng
định: “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng chất liệu mượn ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ” Lẽ đương nhiên, cái gọi là mới mẻ, độc đáo ấy là phải ít thấy ở người khác nhưng riêng ở nhà văn đó thì phải xuất hiện thường xuyên, bền vững, nhất quán Nhưng bền vững và nhất quán là nói từ cốt lõi, chứ sự triển khai lại phải đa dạng và đổi mới bởi đúng như Buy Phông đã nói: “Một nhà văn lớn quyết không thể mang một con dấu”
Độc đáo một cách đa dạng, bền vững mà luôn luôn đổi mới – bấy nhiêu điều đó là những tiền đề rất quan trọng, nhưng chưa đủ làm nên phong cách Bởi vì trong văn học cũng có cái dở đến “độc đáo”, thậm chí đến gàn dở, mà cũng rất ngoan cố, thì rõ ràng đó không phải là phong cách Độc đáo và bền vững, nhưng lại cần phải hay nữa
Do đó, phong cách phải có phẩm chất thẩm mỹ, có tính nghệ thuật cao, nghĩa là nó phải đem lại cho người đọc một sự hưởng thụ mỹ cảm dồi dào
Có thể nói, phong cách có vai trò rất quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật, là một yêu cầu đặt ra đối với mỗi nhà văn Phong cách không chỉ là dấu hiệu trưởng thành của một nhà văn mà nó còn là bằng chứng của một nền văn học đã trưởng thành
Trang 15Hiện nay, khái niệm phong cách không chỉ thu hẹp trong phạm vi sáng tác văn học mà còn mở rộng ra các lĩnh vực hoạt động sáng tạo văn hóa tinh thần và vật chất trong những không gian, thời gian khác nhau với nhiều chủ thể sáng tạo khác nhau Vì thế có sự xuất hiện của một loạt khái niệm: Phong cách dân tộc, phong cách thời đại, phong cách cá nhân Ở luận văn này, người viết tìm hiểu phong cách ở cấp độ cá nhân tác giả - phong cách nghệ thuật nhà văn
1.1.2 Những biểu hiện của phong cách nghệ thuật nhà văn
Nói đến phong cách nghệ thuật nhà văn là nói đến quy luật thống nhất của chỉnh thể nghệ thuật qua hàng loạt tác phẩm của nhà văn đó như: đề tài, cảm hứng chủ đạo, thể loại, kết cấu, hình tượng, giọng điệu, ngôn ngữ Cái riêng để tạo nên sự thống nhất, lặp lại ở mỗi nhà văn thể hiện ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới với hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy “Sự thật, có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách của từng nhà văn thể hiện” [41, tr.484] Phong cách có thể biểu hiện ở việc chọn đề tài Có nhà văn ưa chọn những đề tài nên thơ, lại có nhà văn ưa chọn những đề tài rắc rối, phức tạp Phong cách có thể biểu hiện ở cảm hứng chủ đạo Có nhà văn mạnh về cảm hứng ngợi ca, lại có nhà văn mạnh về cảm hứng phê phán; có nhà thơ thiên về tình cảm ngọt ngào êm dịu, lại có nhà thơ thiên về trí tuệ sắc sảo Phong cách cũng biểu hiện ở việc xây dựng nhân vật
Có nhà văn cực kì thành công với loại nhân vật này nhưng lại thất bại với loại nhân vật khác Phong cách cũng biểu hiện ở thể loại Thông thường, mỗi nhà văn, nhà thơ đều có sở trường về một thể loại nào đó Cũng có những người viết được nhiều thể loại nhưng chỉ thành công ở một thể loại nào đó mà thôi Có thể viết thơ hay, nhưng viết văn dở Cũng một đề tài tương tự nhưng viết bút kí thì hay mà viết truyện lại xoàng Thậm chí viết truyện ngắn thì xuất sắc nhưng không viết được truyện dài hoặc ngược lại Ví như Nguyễn Công Hoan thành công nhất ở truyện ngắn trào phúng, Xuân Diệu rất thành công với thơ trữ tình Nguyễn Tuân bằng cá tính sáng tạo độc đáo đã kiến tạo và sở hữu luôn cả một thể văn – thể tùy bút, hay như Đỗ Chu viết cả
kí, tiểu thuyết, truyện ngắn nhưng đặc biệt thành công với truyện ngắn Phong cách còn biểu hiện ở việc sử dụng ngôn ngữ của mỗi nhà văn Ngôn ngữ là tài sản chung của cả cộng đồng dân tộc nhưng lại là cái riêng để đánh giá phong cách mỗi nhà văn
Trang 16Mỗi nhà văn, nhà thơ có phong cách đều tự tìm và khẳng định mình ở một địa hạt ngôn ngữ riêng Nếu như ngôn ngữ thơ Tố Hữu ngọt ngào, quen thuộc; ngôn ngữ thơ Xuân Diệu táo bạo bộc lộ trực tiếp tất cả cảm giác, khát vọng của con người thì ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên lại đầy triết lý, suy tư Dù muốn hay không thì đây cũng là những kết luận thường thấy trong thực tiễn phê bình khi bàn về phong cách của nhà văn
Xưa kia trong Lịch triều hiến chương loại chí, sau khi giới thiệu một tác giả,
Phan Huy Chú thường có nhận xét ngắn gọn về phong cách của họ Trần Thái Tông thì “lời thơ thanh nhã”; Trần Quang Khải thì “lời thơ thanh thoát, nhàn nhã, xem thơ
có thể thấy tướng mạo, phong thái con người”; Trần Nguyên Đán thì “đại để là cảm khái thế sự, thân tuy ở ẩn, nhưng lòng không quên việc nước”; Chu Văn An thì “lời thơ thanh nhàn, có thể trông thấy ý thú thanh tao của người ở ẩn”; Huyền Quang thì
“lời thơ phóng khoáng, câu xinh đẹp ”; Nguyễn Bỉnh Khiêm thì “rong chơi nhàn nhã hơn bốn mươi năm mà không ngày nào quên đời, lòng lo đời, thương đời, thể hiện ra thơ văn”
Phong cách của một nhà văn có nhiều phương diện biểu hiện, song “phong cách không thể không có sự tham gia của thế giới quan, của các thủ thuật của cá nhân nghệ
sĩ, của các nhận thức thời đại của người nghệ sĩ, của tính độc đáo có tính dân tộc trong tác phẩm, phong cách là sự thống nhất ở trình độ cao các phạm trù đó” [16]
Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có phong cách mà chỉ những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có được phong cách riêng độc đáo Mỗi nhà văn khi đã thấm nhuần những cảm nhận về thế giới trong tình cảm, cảm xúc và biết cách thể hiện trong tác phẩm bằng cảm quan riêng của mình thì nhà văn đó có phong cách Cảm quan về thế giới đã chi phối thế giới nghệ thuật của nhà văn hay nói cách khác là chi phối đặc trưng cơ bản phong cách nghệ thuật nhà văn đó Cùng một hiện thực khách quan nhưng tùy theo lăng kính chủ quan của từng người mà thế giới khách quan đó được khúc xạ khác nhau, được phản ánh và biểu hiện khác nhau Điều này có thể thấy
rõ qua việc nhận dạng phong cách ngắn gọn nhưng thật chính xác và tinh tế của Hoài Thanh về những nhà Thơ mới giai đoạn 1930 – 1945: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi
ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ
Trang 17người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [54] Cũng như vậy, ở văn xuôi ta có thể nói về một Nguyễn Công Hoan hóm hỉnh mà sắc sảo khi cười cợt vào mặt trái của xã hội; một Vũ Trọng Phụng cay độc trong một bút lực dồi dào và mãnh liệt khi viết về cái xã hội “chó đểu” và “khốn nạn”; một Ngô Tất Tố vừa thâm trầm vừa quyết liệt và đầy nhân đạo với niềm tin yêu, khẳng định phẩm chất của người nông dân dù họ phải sống trong bùn lầy nhơ bẩn; một Nguyên Hồng luôn thành thật phơi trải hết lòng mình trên trang viết; một Thạch Lam tinh tế và tao nhã; một Nam Cao sâu xa, chua chát trong những trang văn đầy biến hóa Và ở kịch, ta có thể nhận ra lối dồn nén xung đột kịch của riêng Vi Huyền Đắc, chất thi vị và giầu ý tưởng triết lí của kịch Đoàn Phú Tứ và cách để lịch sử cất lên tiếng nói trong mỗi hồi kịch của Nguyễn Huy Tưởng
Phong cách có thể thiên về nội dung tư tưởng hoặc hình thức nghệ thuật đều được chấp nhận Nguồn gốc của phong cách chính là cá tính sáng tạo của nhà văn, chủ yếu thuộc phương diện nội dung, nhưng sự biểu hiện của phong cách thì hoàn toàn có thể thiên về lĩnh vực nội dung hoặc lĩnh vực hình thức Do đó không cần thiết đòi hỏi phong cách là sự hài hòa cao độ những chỗ độc đáo cả về nội dung lẫn hình thức Bởi
có những nhà văn tư tưởng đúng song không lấy gì làm sâu sắc nhưng lại có những biểu hiện nghệ thuật độc đáo Trái lại, có những nhà văn tư tưởng sâu sắc thể hiện sự
am hiểu cuộc sống một cách kì lạ nhưng cách viết của họ không thật hấp dẫn Phong cách không chỉ thể hiện ở việc hình thành cấu trúc bên trong tác phẩm mà còn thể hiển ở các yếu tố bên ngoài, ở khả năng giao tiếp giữa tác phẩm và độc giả Nhà lí luận Xô viết Goixuôxky viết: “Phong cách đó là khả năng một cách nhà văn khắc phục những chướng ngại vật giữa mình với độc giả, còn sự thành công cao nhất ở phong cách là ở sự giao tiếp chặt chẽ với độc giả, do đó khi cuộc sống thay đổi, thị hiếu thẩm mỹ của độc giả thay đổi thì nhà văn cũng cần phải thay đổi hệ thống phong cách, miễn là nó tạo được hiệu quả thẩm mỹ cần thiết và vẫn giữ được bản sắc riêng của người viết”
Trang 18Phong cách tuy là chỗ độc đáo của từng nhà văn nhưng nó vẫn mang dấu ấn của dân tộc và thời đại Tính dân tộc là thuộc tính tất yếu của văn học, phong cách nhà văn không thể thoát li thuộc tính này Đúng như Vônte đã nói: “Cũng giống như từ gương mặt, ngôn ngữ, hành động cụ thể có thể nhận ra quốc tịch của con người, thì cũng có thể từ phong cách sáng tác nhận ra một số người là người Ý, người Pháp, người Anh hay người Tây Ban Nha một cách dễ dàng” Tính dân tộc còn là phẩm chất của văn học Nhưng phẩm chất này không phải là tất yếu cho mọi nhà văn mà chỉ có ở những nhà văn nào biểu hiện được tư tưởng, tình cảm của những lực lượng xã hội tiêu biểu cho dân tộc, phản ánh được bản chất hoặc một vài khía cạnh bản chất cuộc sống
và chiến đấu của dân tộc, sử dụng một cách nghệ thuật những phương tiện hình thức ngôn ngữ và thể loại của văn học dân tộc Phong cách còn có tính thời đại vì suy cho cùng không có nhà văn nào thoát li được thời đại của mình
Phong cách phải là các đặc điểm mang giá trị nghệ thuật cao được kết tinh trong
sự sáng tạo văn học Một tác giả văn học chỉ có thể sống mãi trong lòng các thế hệ bạn đọc khi tác giả đó tạo ra cho mình được một phong cách, một gương mặt không lẫn với ai Ở trên chúng tôi đã khẳng định không phải bất cứ nhà văn, nhà thơ nào cũng có phong cách dù nhà văn nhà thơ nào cũng có điểm riêng Thực tế trong lịch sử văn học dân tộc, những nhà văn có phong cách là những nhà văn ưu tú, thực sự có tài năng, họ đã có những tác phẩm trường tồn cùng thời gian mà vẫn mang đậm dấu ấn riêng Nền văn học viết nước ta thực sự ra đời từ thế kỉ X Mười thế kỉ văn học trung đại, do sự chi phối của quan niệm thời đại, cái “tôi” của các nhà thơ hầu như còn mờ nhạt Thế nhưng người đọc vẫn không thể quên sự xuất hiện một nhà thơ lớn của dân
tộc - Nguyễn Trãi (cuối thế kỉ XIV- đầu thế kỉ XV) Với các tập thơ Ức Trai thi tập
và Quốc âm thi tập thì tính “phi ngã” của văn học trung đại bị phá vỡ, xuất hiện chân
dung một nhà thơ với tài “kinh bang tế thế” vừa đầy hăm hở, đầy nhiệt huyết cứu nước, cứu đời, lo cho dân cho nước, vừa thanh tao nho nhã trong cuộc sống ẩn dật, hòa mình với thiên nhiên Đến cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, trong vòng chưa đầy một trăm năm, người đọc bắt gặp cùng một lúc rất nhiều gương mặt thơ tiêu biểu
Đó là một đại thi hào dân tộc Nguyễn Du với Truyện Kiều, Văn chiêu hồn thấm đầy
máu và nước mắt của một trái tim nhân đạo sâu sắc mà vẫn tinh tế đến lạ kì Đó là một Hồ Xuân Hương - “bà chúa thơ Nôm” mà những bài thơ của bà vừa là niềm cảm
Trang 19thông tột độ với nỗi khổ của người phụ nữ vừa là sự trỗi dậy của một sức sống đầy bản lĩnh trong một phong cách nghệ thuật độc đáo khó có sự lặp lại lần thứ hai Đó là một Cao Bá Quát tài hoa phóng túng, một Nguyễn Công Trứ mang trong mình khát vọng lớn lao của bậc đại trượng phu Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, đất nước chìm trong đau thương của thân phận nô lệ, những nhà thơ mang trong mình nỗi buồn, nỗi sầu hận không thể tiêu tan đã để lại cho hậu thế những tiếng kêu não lòng Đó là một tiếng thơ nghẹn ngào như tiếng khóc thương của một con người đang vắt kiệt sức mình gọi đất nước- Nguyễn Khuyến Đó là một tiếng thơ cười nhạo mà chua chát trước thế sự đảo điên, thay đen đổi trắng của Tú Xương Có khi ta lại bắt gặp một tiếng thơ uất nghẹn của nhà thơ tài tử Tản Đà
Đến giai đoạn 1930 - 1945, văn học Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng, với nhiều xu hướng, nhiều thể loại và đã hình thành nhiều phong cách nhà văn độc đáo Về thơ, có thể nhận ra cả một “thời đại trong thi ca” của thơ lãng mạn với Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận Bên cạnh đó là dòng văn học cách mạng với Hồ Chí Minh, Tố Hữu Về văn xuôi lãng mạn có thể kể đến Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân Văn xuôi hiện thực phê phán có thể kể đến tên tuổi của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao
Ba mươi năm chiến tranh (1945 - 1975), trên đất nước ta diễn ra nhiều biến cố, sự kiện lớn lao: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài, công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới ở miền Bắc Đáp ứng yêu cầu của lịch sử,
vì mục tiêu chung của toàn dân tộc, văn học Việt Nam giai đoạn này chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước, nền văn học được kiến tạo theo mô hình “văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” cùng với kiểu nhà văn mới: nhà văn - chiến sĩ Lúc này ý thức, trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ được đề cao Gắn bó với dân tộc, với nhân dân và đất nước, dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu là đòi hỏi là yêu cầu của thời đại, đồng thời cũng là tình cảm, ý thức tự giác của nhà văn Trong hoàn cảnh đặc biệt của những năm “cả nước có chung khuôn mặt ” đó, nền văn học vẫn phát triển với những gương mặt nghệ sĩ rất riêng: Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Cầm, Thanh Hải, Giang Nam, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo Và
Trang 20những Kim Lân, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Nguyễn Tuân, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu
Năm 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước chuyển sang một vận hội mới Đối với văn học, bối cảnh mới tạo nên những chấn động sâu xa trong ý thức nghệ thuật Đặc biệt từ đại hội Đảng lần VI (1986), cái mốc của sự đổi mới văn học được ghi nhận Từ đây văn học mang một màu sắc khác, một tinh thần khác: tinh thần dân chủ Điều này
đã tạo ra một tư thế mới, một tâm thế mới cho nhà văn Nhà văn là người phát ngôn của ý thức xã hội, nhưng bằng tiếng nói của mình Do đó, nhà văn chủ động tạo ra bức tranh hiện thực mang đậm dấu vết của kinh nghiệm và thể nghiệm cá nhân Để đạt đến một cá tính sáng tạo, một phong cách còn là cả một chặng đường khó khăn, nhưng sự tự do và chủ động bộc lộ bản lĩnh sáng tạo cá nhân là tiền đề thuận lợi để người ta có thể nghĩ đến sự hình thành những phong cách của một nền văn học “Đã
có thể nói đến một Nguyễn Minh Châu luôn trăn trở và tha thiết trên mỗi trang văn, một Nguyễn Huy Thiệp với những câu văn nhát gừng, khô lạnh mà đầy xao động và
ẩn ức bên trong Cũng đã có thể nhận ra một cái gì đó như là phong cách Bảo Ninh
trong cuốn tiểu thuyết đầu tay Nỗi buồn chiến tranh Ở nhiều tác giả đã có quá trình
sáng tác dài, và cả lớp người viết trẻ, như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ đã bắt đầu thấy rõ những dấu ấn cá nhân trong tư duy nghệ thuật và cách thể hiện” [19]
Vượt qua năm tháng thời gian, dù mỗi thời kì có những tiêu chí khác nhau để đánh giá tác phẩm văn học, song những tác phẩm có giá trị đặc sắc của những tác giả
có những phong cách vẫn có sức sống mãnh liệt trong lòng người đọc Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, cùng với một số nhà văn, nhà thơ khác, bằng sự lao động không mệt mỏi trên hành trình đi tìm cái đẹp của nghệ thuật, Đỗ Chu đã tạo cho minh một phong cách nghệ thuật riêng rất độc đáo góp phần làm đổi mới và hiện đại hóa nền văn học dân tộc
1.2 Quá trình sáng tác của Đỗ Chu
Đến với truyện ngắn từ những năm đầu thập kỉ sáu mươi của thế kỉ XX, đến nay
Đỗ Chu vẫn bền bỉ trên con đường văn nghiệp Tuy sáng tác cả truyện ngắn, tiểu thuyết và tùy bút nhưng thể loại thành công nhất của Đỗ Chu là truyện ngắn Ngoài
Trang 21cuốn tiểu thuyết Đám cháy trước mặt (1973), tập tùy bút Những chân trời của các
anh (1968), Tản mạn trước đèn (2004), Thăm thẳm bóng người (2008) và các tập
truyện viết cho thiếu nhi Bồng chanh đỏ (1974), Thoang thoảng hoa cau (1975), Đỗ Chu đã lần lượt ra mắt bạn đọc hàng chục tập truyện ngắn: Hương cỏ mật (in chung - 1965), Phù sa (1967), Gió qua thung lũng (1971), Nơi con đường gặp biển (1978),
Tháng hai (1982), Mảnh vườn xưa hoang vắng (1989), Mận trắng (1997), Một loài chim trên sóng (2002) Có thể khái quát quá trình sáng tác của Đỗ Chu vào hai giai
đoạn sau:
1.2.1 Những năm chống Mỹ cứu nước
“Mùa đông 1962, một đêm rét, ngoài đường gió lùa lá cây dào dạt, trong nhà đàn muỗi vo ve, trên căn gác xép ọp ẹp ở một dãy phố nghèo và buồn của thị xã Bắc Ninh
thủa ấy, Đỗ Chu đã ngồi thu lu bên một chiếc kỷ cổ xưa để viết truyện ngắn Hương
cỏ mật gửi về tạp chí Văn nghệ quân đội Năm đó anh 18 tuổi, đang còn là một cậu
học trò lớp 10 hệ phổ thông 10 năm, trường cấp III Hàn Thuyên Thi cử đến nơi rồi
mà học hành thì thật quá chểnh mảng, văn lười đằng văn, toán dốt đằng toán, lại chẳng họp Đội họp Đoàn, ở trường về là leo tót lên ngồi ôm lấy cái kỷ gỗ vàng tâm,
ngồi đấy mà đọc sách, tập dịch Dã thảo của Lỗ Tấn và rồi bỗng một hôm động dở, bắt
đầu cầm bút viết văn” [66]
Đầu tiên Đỗ Chu viết truyện ngắn Ao làng và được in trên tạp chí Văn nghệ quân
đội Và hơn bốn mươi năm sau, người đọc cùng thế hệ với Đỗ Chu vẫn còn nhớ cái “ý
vị man mác gợi lên từ những dòng chữ giản dị” viết về vẻ đẹp đầy chất thơ của một vùng quê quan họ Còn lúc đó trong lá thư ngắn gọn gửi theo đường bưu điện, nhà
văn Nguyễn Minh Châu khen: “Ao làng hay, anh hãy viết tiếp, gửi thêm về cho chúng tôi lấy vài cái, càng sớm càng tốt” Bởi thế mới có Hương cỏ mật Truyện ngắn này được giới thiệu trên Văn nghệ quân đội số tháng 3/1963, lại được xếp vào những
truyện dự thi Cuối năm, Đỗ Chu được mời về nhận giải thưởng truyện ngắn hay của tạp chí, lúc đó Đỗ Chu đã nhập ngũ được năm tháng, là binh nhì bộ đội phòng không
Cùng năm đó, vẫn trên tạp chí Văn nghệ quân đội, sau Hương cỏ mật Đỗ Chu đã kịp
có thêm hai cái nữa, đúng như lá thư hẹn của Nguyễn Minh Châu hôm nào Một
Thung lũng cò là quà tháng sáu dành cho bầy em nhỏ quê nhà, một Mùa cá bột là để
Trang 22tạ ơn những người đã ngã xuống vì nền tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của những
người đang còn sống Đỗ Chu đã được các nhà văn đàn anh ở Văn nghệ quân đội như
Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu đón nhận như một đồng
nghiệp ngang ngửa văn tài Hai “thủ lĩnh” của tờ Văn nghệ quân đội là Vũ Cao và Từ
Bích Hoàng lúc bấy giờ đã rất tự hào, mãn nguyện mỗi khi khoe số báo mới bên cạnh bài “đinh” của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu là bài “đinh” của Đỗ Chu Vào những năm tháng chiến tranh ấy, các khóa đào tạo người viết trẻ, các trại sáng tác văn học do Hội nhà văn Việt Nam, Tổng cục chính trị chủ trì mở ra liên tục Trong giờ lên lớp, các nhà văn đàn anh thường lấy truyện ngắn của Đỗ Chu làm dẫn chứng về cách cấu tứ, vận dụng tu từ, cách tạo chi tiết Bạn viết cùng trang lứa thì không một ai dám coi Đỗ Chu chỉ có học vấn phổ thông Đỗ Chu đọc nhiều, sức nhớ tốt, lại biết khái quát, đúc rút rất nhanh điều đã đọc thành vốn liếng của riêng mình Nhà văn Nguyễn Khải từng nói, tài năng của người viết là ở chỗ anh ta biết gọi tên của từng hiện tượng, sự việc mà người khác không thể hoặc không có năng lực ấy Về phương diện này Đỗ Chu nổi trội Đỗ Chu quan sát tinh tường, sắc sảo thế giới xung quanh và tóm thành chi tiết văn chương để đưa vào tác phẩm Khi những truyện ngắn đầu tiên này của Đỗ Chu ra đời (1962-1963) thì các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học tên tuổi sau này như Phạm Tiến Duật, Tô Nhuận Vỹ, Vương Trí Nhàn, Lâm Quang Ngọc đang còn là sinh viên năm thứ hai, khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội Những truyện ngắn ấy đầy sức hấp dẫn và cũng đầy chất kích thích các chàng sinh viên sư phạm nhưng lại ấp ủ hoài bão trở thành nhà văn, nhà thơ Lâm Quang Ngọc
đã viết lên vách tường cạnh chỗ nằm ở kí túc xá sinh viên: “Cố gắng đuổi kịp và vượt
Đỗ Chu!” Các chàng sinh viên mê văn chương ấy càng ngạc nhiên, sửng sốt hơn khi phát hiện ra Đỗ Chu khi viết những truyện ngắn ấy mới 17 tuổi và mới khoác áo lính chưa bao lâu Còn ở quân chủng Phòng không - không quân dường như với ảnh hưởng của Đỗ Chu đã xuất hiện một loạt những cây viết khác như Nguyễn Trí Huân, Lưu Quang Vũ, Thao Trường, Duy Khán
Năm 1965, tập truyện Hương cỏ mật ra đời (in chung với các truyện ngắn của
Trúc Hà, Văn Ngữ), Đỗ Chu đã lọt vào “mắt xanh” của công chúng và giới phê bình văn học Đó là thời kì “anh hoa phát tiết” của một cây bút mới “chập chững vào nghề” nhưng đã “chớm nở ở anh một lối viết riêng” [31] Phan Hồng Giang trong bài viết
Trang 23Mấy cảm nghĩ khi đọc cuốn Hương cỏ mật đã khẳng định: “Ba truyện ngắn in trong
tập sách này là những sáng tác đầu tay trội nhất của anh ” và cũng là “những trang hấp dẫn người đọc hơn cả trong tập sách này” Nguyễn Hoàng Sơn trong một bài viết
cũng khẳng định Hương cỏ mật và một số truyện ngắn khác của Đỗ Chu là những
“truyện ngắn đẹp như thơ, tươi rói như anh tân binh mới nhận được quân phục, được
cả làng văn và bạn đọc đón nhận chằm bặp” [46] Có thể nói với tập truyện này, Đỗ Chu đã gây được sự chú ý lớn với độc giả và giới phê bình văn học
Hơn một năm sau khi xuất hiện Hương cỏ mật, Đỗ Chu lại cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn Phù sa (1967) gồm chín truyện, trong đó ba truyện đã có trong
Hương cỏ mật Có thể xem Phù sa là sự tiếp nối và bổ sung thêm những truyện ngắn
trước đó để tạo nên “khuôn măt” riêng một thời của Đỗ Chu Lối viết riêng của Đỗ
Chu mới “chớm nở” ở Hương cỏ mật đến Phù sa đã được khẳng định “ chất trữ tình cũng là sắc thái nổi bật trong các truyện trong tập Phù sa của Đỗ Chu” [38] Nguyễn Thị Bình cho rằng: “Đỗ Chu viết Phù sa; Hương cỏ mật diễn tả vẻ đẹp ngời
sáng của thế hệ trẻ chống Mỹ, ung dung, tự tin, tự hào, nhẹ nhõm trong một khát vọng chiến đấu ” [22] Vào giữa và cuối những năm sáu mươi, truyện ngắn của Đỗ Chu từ
Hà Nội vào tuyến lửa khu Tư qua đường bưu điện và giao liên, qua túi quà tết hay quà nhân ngày khai giảng của người nhà ở Hà Nội đưa về đã làm rất nhiều thanh niên
chuyền tay nhau đọc đầy thân quý nâng niu Rồi các truyện Hương cỏ mật, Thung
lũng cò, Mùa cá bột, Phù sa của Đỗ Chu lần lượt tuyển vào sách cho trẻ em học và
đọc thêm, thậm chí nó còn được dịch qua nhiều tiếng nước ngoài Như vậy có thể
khẳng định tập Phù sa là ấn tượng đẹp trong trái tim độc giả, như một mốc son đánh
dấu thành tựu ban đầu đáng ghi nhận của Đỗ Chu – một điều mà không phải một nhà văn nào mới vào nghề cũng có được
Năm 1971, một tập truyện ngắn nữa của Đỗ Chu lại ra đời: Gió qua thung lũng
Ở tập truyện này, lộ trình của người viết với những Hương cỏ mật, Mùa cá bột là
thống nhất Người đọc vẫn thấy rõ những đoạn văn “giàu chất thơ” vốn quen thuộc
trước đó vẫn tiếp tục xuất hiện Đặc biệt, người đọc không thể quên Ráng đỏ - một
truyện ngắn được coi là hay nhất tập truyện, “là tác phẩm lộng lẫy, huy hoàng của một thời truyện ngắn Đỗ Chu”
Trang 24Nhìn lại chặng đường sáng tác của Đỗ Chu trong những năm chống Mỹ, có thể thấy Đỗ Chu là một trong số ít những nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống
Mỹ đã làm “xao xuyến văn đàn” ngay từ những tác phẩm đầu tay Đánh giá về những sáng tác của Đỗ Chu ở giai đoạn đầu, Phạm Tiến Duật cho rằng Đỗ Chu đã tạo nên
“những quầng sáng vô cùng sinh động” Còn Ngô Thảo thì xếp Hương cỏ mật, Mùa
cá bột, Chiến sĩ quân bưu, Ráng đỏ vào loại những “truyện trội nhất trong văn học
mười năm lại đây” Ở chặng đường này người đọc đã biết đến Đỗ Chu với cái văn phong ngọt ngào, tinh tế được diễn đạt bằng một giọng điệu trữ tình sâu lắng và giàu sức biểu cảm, với sự giản dị tự nhiên trong kết cấu, trong nghệ thuật dẫn truyện Một đặc điểm nổi trội nhất trong các truyện ngắn của Đỗ Chu ở giai đoạn này là ngòi bút của nhà văn luôn hướng về việc ca ngợi con người nói chung, những phẩm giá tốt đẹp trong mối quan hệ giữa con người với con người nói riêng Đó là nét hiện thực cơ bản, tạo nên sức mạnh tinh thần của người dân miền Bắc trong thời kì vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa chiến đấu, tích cực chi viện sức người, sức của cho miền Nam ruột thịt Đúng như Lê Hương Thủy đã khẳng định: “Thiên về khai thác cái đẹp trong đời sống là đặc trưng nổi bật trong truyện ngắn Đỗ Chu, đặc biệt là ở thời kỳ đầu của quá trình sáng tác Cái đẹp được biểu hiện ở tình yêu quê hương, tình quân dân, tình đồng chí, đồng đội, ở những mối tình trong trắng, đầy thi vị- những tình yêu chớm nở và được nuôi dưỡng trong chiến tranh dù phía trước đang là cuộc chiến cam go và thử thách Đỗ Chu đã tạo được dấu ấn trên văn đàn trong bối cảnh của đời sống văn học đông đảo về đội ngũ sáng tác nhưng lại không dễ tạo dựng cá tính và phong cách” [59] Tắm mình trong không khí hào hùng của một thời kì lịch sử oanh liệt, với cái nhìn trong trẻo, yêu thương, những trang truyện của Đỗ Chu đã “làm cho người đọc nhận thức và xúc cảm được những cái gì đẹp đẽ, cao thượng và anh hùng trong đời sống của nhân dân ta” Đỗ Chu nhiệt tình ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và công cuộc xây dựng đất nước Cùng với các sáng tác văn học khác như thơ của Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Xuân Quỳnh các ca khúc trữ tình của Huy Du, Doãn Nho, Nguyễn Đức Toàn các vở kịch và các bộ phim truyện ngắn của Đỗ Chu không chỉ
cổ vũ, động viên đồng bào chiến sĩ trong những năm tháng chiến tranh ác liệt mà còn lưu giữ mãi giá trị của việc phản ánh tình người, tinh thần cao thượng và đức hi sinh chịu đựng của cả dân tộc ở một khúc ngoặt lịch sử
Trang 251.2.2 Những năm đất nước thống nhất và đổi mới
Sau những thành công trên bước đường khởi nghiệp với Hương cỏ mật, Mùa cá
bột, Phù sa Đỗ Chu đã có một quãng lặng khá dài Ông chưa vượt qua được cái
bóng của chính mình Không ít lần ông trăn trở về những gì mình đã viết, về sự đổi mới ngòi bút, đổi mới cách nghĩ của người cầm bút Đã có lúc ông cảm thấy đau xót
vì “những gì mình đã có, lại nhoài khỏi vòng tay mình” Ranh giới giữa truyện ngắn
và kí trong tác phẩm của ông nhiều khi khó phân định và điều này không tránh khỏi gây cho người đọc cảm giác về sự dềnh dàng và ôm đồm Nửa sau thập kỷ bẩy mươi
và nửa đầu thập kỷ tám mươi là những năm “bản lề” của một giai đoạn văn học mới
Thời kỳ này Đỗ Chu vẫn tiếp tục sáng tác Tuy nhiên hai tập truyện ngắn Trung du (1977), Nơi con đường gặp biển (1978) được viết trong quãng thời gian này chưa gây
được sự chú ý của người đọc Người đọc cảm thấy Đỗ Chu “như chùng gân sau khi đã trèo lên một đỉnh cao” [23] Thậm chí “nhiều người trong giới văn nghệ tin rằng Đỗ Chu đã hết, khi nền văn nghệ mà ông góp phần đổi mới những năm sáu mươi đi vào
đổi mới những năm tám mươi” [24] Nhưng nhìn một cách tổng quát, với Trung du
và Nơi con đường gặp biển, mặc dù cái “duyên” của cây bút trữ tình ấy không còn
đậm đà, không còn làm “xao xuyến văn đàn” như trước, nhưng cái “điệu” Đỗ Chu vẫn không hề lẫn Đó là cái “tạng”, là “thói quen nghề nghiệp” của riêng Đỗ Chu, hay cũng là những hạn chế chung của không ít những nhà văn cùng thời chưa bắt kịp với những biến thiên lịch sử vĩ đại của đất nước, trong những năm bản lề của đại thắng mùa xuân 1975 Đỗ Chu đã từng phát biểu: “Sứ mệnh cao cả của mỗi nhà văn chính là việc sáng tạo nên những tác phẩm đóng góp một cách có hiệu quả vào quá trình lớn mạnh của nền văn học nước nhà Ở đây không có chỗ đứng cho chủ nghĩa trung bình với đủ mọi thứ tầm thường của nó Văn học lúc nào cũng phải là lời kêu gọi để con người biết ngẩng lên nhìn xa về phía trước với đôi bàn chân luôn luôn bước Chúng ta không được phép bằng lòng về những gì mình đã có, không được phép tự phỉnh nịnh mình một cách tội nghiệp, nhà văn không đồng nghĩa với đám thơ lại ươn hèn” Với bản lĩnh đó, trong khoảng thời gian đầu những năm tám mươi, Đỗ Chu đã “tự nguyện vắng bóng trong những trang văn học, chỉ viết chút ít trên báo chí vì cảm thấy hình như những trang viết của mình chưa thật ổn, cần phải nỗ lực hơn trước những trang viết tự thấy mình phải nghiêm khắc hơn, đòi hỏi nhiều hơn ở mình” [26] Chính vì
Trang 26thế, sau một thời gian vắng bóng, Đỗ Chu đã trở lại văn đàn với tập Tháng hai
(1985) “Truyện ngắn của anh để lại trong chúng ta những dư vị ngọt ngào sau khi
đọc Chất thơ, chất văn học ở mỗi truyện ngắn trong tập Tháng hai này vẫn giữ được cốt cách riêng của Đỗ Chu” [45] Vẫn giữ được phong độ xưa nhưng ở Tháng hai, Đỗ
Chu cũng “bổ sung những điều cần thiết” để “thỏa mãn nhu cầu và trình độ người đọc” [26]
Những dấu hiệu đổi mới đã có ở tập Tháng hai nhưng phải đến khi Mảnh vườn
xưa hoang vắng ra mắt bạn đọc năm 1989, Đỗ Chu mới thực sự làm cho cả người
đọc lẫn nhiều nhà nghiên cứu, phê bình phải thêm một lần khâm phục bởi những nỗ lực làm mới mình của một người nghệ sĩ tâm huyết với nghề nghiệp Không bằng lòng với những gì đã viết, đã có, vẫn cố gắng vượt lên chính mình, “Đỗ Chu đã nhọc nhằn trườn qua sự nổi tiếng cũ mà không đánh mất mình”, “đã không phụ thế hệ bạn
đọc của mình” Mảnh vườn xưa hoang vắng là một tập truyện mà “số truyện đã ít,số
trang cũng rất đỗi khiêm nhường, vừa vặn, xinh xắn” [60] nhưng một lần nữa Đỗ Chu lại chiếm được cảm tình và gây được sự chú ý đặc biệt của người đọc Với tập truyện này “Đỗ Chu đã bắt đầu một chặng đường mới Khi người ta đã quên một Đỗ Chu tài hoa, rực sáng thì lộ trình nhà văn của anh mới bắt đầu và phải chăng nó sẽ là giai đoạn chính yếu của đời văn anh” [60] Có thể nói thời gian đã trở thành phép thử để khẳng định thêm những dấu hiệu đã được phát lộ Vẫn là một Đỗ Chu với những trang viết giàu chất trữ tình của hơn hai mươi năm về trước, nhưng giờ đây đã có thêm những sắc thái và giọng điệu mới Giữa xô bồ đời sống, giữa đám đông ồ ạt, Đỗ Chu đã ý tứ giữ được cho mình một khoảng lùi nhã nhặn mà thực cứng cỏi, không chịu lẫn lộn, đây vừa là cốt cách lại vừa là văn phong Rõ ràng là đã có một cách nhìn khác ở Đỗ Chu so với những tập truyện ngắn trước đó Cũng có thể coi đó là sự phá cách, bởi từ trước Đỗ Chu luôn được nhìn nhận là nhà văn “thiên về khai thác cái đẹp trong đời sống” Ở tập truyện, này cảm hứng bi kịch đã trở nên đậm đặc, ở đó “cái nhìn của anh
là cái nhìn khắc khoải, nhiều trải nghiệm và thấm đượm nỗi buồn nhân thế” [60] nhưng người đọc vẫn nhận ra “thái độ nghiêm khắc và cái gốc nhân đạo đáng quý của nhà văn” Đã bắt nhịp được với cuộc sống đương đại, khám phá ra nhiều vỉa tầng của hiện thực và thể hiện nó bằng một lối viết “đằm chín” và ấn tượng, Đỗ Chu đã không
Trang 27bị vượt qua, nhà văn vẫn tiếp tục tiến hành cùng đồng nghiệp, cùng đất nước trong thời kì đổi mới, mở cửa này
Tám năm, sau khi tập Mảnh vườn xưa hoang vắng ra đời, Đỗ Chu lại cho ra mắt bạn đọc tập truyện Mận trắng (1997) Tập truyện này chỉ có hai truyện mới còn
những truyện khác đều đã xuất hiện trong các tập truyện trước đó của Đỗ Chu, vì thế
Mận trắng không tạo được dấu ấn Năm 2001, Một loài chim trên sóng ra đời là sự
tiếp nối ý thức đổi mới ngòi bút trước yêu cầu của hiện thực và tâm lý tiếp nhận của người đọc Cập nhật với đời sống xã hội đương đại, Đỗ Chu đã cho thấy một cách nhìn mới về hiện thực đời sống Lão Mai trong truyện ngắn cùng tên dường như đang sống một cuộc sống ẩn dật giữa một thành phố đang ngày một ồn ào xáo động bởi ông
cảm thấy sợ cái văn minh vật chất, sợ “một đời sống tiện nghi”, “sợ các cỗ máy” vì chính nó sẽ phá vỡ đời sống tâm linh của con người Ở Họa mi hót là thực trạng tha
hóa nhân cách vì đồng tiền Đứa con của ông Thiêm đang định cư ở Đức đã đáp lại lời thỉnh cầu của bố - một ông tướng về hưu đang sống cô độc - bằng lối suy nghĩ thực
dụng đến tàn nhẫn Anh ta sẵn sàng “nhổ toẹt” vào cái quá khứ, cái hiện tại và cả cái tương lai mà người cha của anh ta phải “mất trọn một đời tìm kiếm” Đó còn là những
kẻ cơ hội, lợi dụng thời thế để phất lên làm giàu bất chính như Hinh trong Người của
muôn năm trước Trên “những trang văn không có mùi thuốc súng”, Đỗ Chu đem
đến cho người đọc những không gian hiện thực mới Nhiều mảng tối của đời sống được lật xới, cái bi kịch trở thành một xu hướng trong các sáng tác của Đỗ Chu ở thời
kì đổi mới Tuy nhiên, với ông dù viết về cái bi kịch thì trong tác phẩm vẫn chất chứa một niềm tin và cái nhìn không bi quan trước hiện thực Cuộc sống trong tác phẩm của ông dù có những đổi thay đến chóng mặt vẫn tồn tại những tình yêu đẹp (ông
Thiêm, bà Lương – Họa mi hót); vẫn có những con người đáng nhớ và đáng trọng
như ông già viết sớ ở đền bà Chúa – người lưu giữ, bảo tồn những nét đẹp văn hóa
của đời sống ( Ngày đang trôi); những nhà khoa học chân chính (Lăng – Chuyến đi
cuối năm); những con người đã trở thành “biểu tượng cho những giá trị bền vững”
(ông Vồ - Người của muôn năm trước )
Đi từ tài hoa của thời Hương cỏ mật đến tài năng của một thời văn học đa giọng
điệu, ở Đỗ Chu đã có sự “đào sâu, chín thêm của một phong cách” Giờ đây, “bám
Trang 28vào vỉa sâu hơn, vào mô típ thân phận con người phụ thuộc, tác động vào số phận dân tộc, ngòi bút Đỗ Chu linh hoạt, bay bổng Và ông đã ung dung đi đến một chỉnh thể
truyện ngắn đa tầng” [60] Với tập truyện Một loài chim trên sóng, Đỗ Chu đã vinh
dự đại diện cho các nhà văn Việt Nam nhận giải thưởng văn học ASEAN tại Băngkok (Thái Lan) vào ngày 12- 10- 2004
Đỗ Chu đã từng dự định “khi nào đến tuổi sáu mươi sẽ cho ra đời một tuyển tập truyện ngắn nữa, coi đó là món quà khiêm nhường tặng đến bạn đọc” [55] Và năm
2003 Tuyển tập truyện ngắn của Đỗ Chu đã ra đời Đây là một cuốn sách với những
truyện ngắn xuất sắc nhất trong hơn bốn mươi năm viết văn của Đỗ Chu, ghi dấu chặng đường sáng tác của ông “Tuyển tập đã thể hiện một phong cách văn xuôi Đỗ Chu trữ tình, đậm chất thơ, tinh tế, tài hoa mang rõ dấu ấn của Đỗ Chu” [61]
Khoảng chục năm trở lại đây, Đỗ Chu như chuyên tâm vào thể tùy bút, đã được
nhà xuất bản Hội nhà văn Viêt Nam tập hợp in thành mấy tập như Tản mạn trước
đèn (2004), Thăm thẳm bóng người (2008) Vẫn là những rung động sâu lắng, những
quan sát tinh tế, sự kĩ càng trong lựa chọn câu văn, chữ nghĩa, tài năng bật nẩy những liên tưởng đúng lúc đúng chỗ, kết dính được những liên tưởng ấy lại với nhau Và cả tài năng từ những liên tưởng của riêng mình làm bật tung những liên tưởng đồng vọng trong bạn đọc
Nhìn lại quá trình sáng tác của Đỗ Chu với trên bốn mươi năm cầm bút, với khoảng hai mươi đầu sách được đưa tới bạn đọc, Đỗ Chu đã trở thành một trong số những nhà văn hàng đầu của văn xuôi Việt Nam đương đại Miệt mài, tâm huyết với nghề nghiệp, Đỗ Chu đã cặm cụi, âm thầm trong công việc viết của mình với một sức viết dồi dào Trong quá trình sáng tác, đã có lúc ở Đỗ Chu có những “khoảng lặng minh triết”, nhà văn chưa theo kịp những biến đổi của lịch sử để thay đổi lối viết, cách tư duy cho phù hợp với thời đại Nhưng điều quan trọng là ông luôn bền bỉ, kiên trì sáng tác, không đánh mất mình Ông đã có những cuộc bứt phá ngoạn mục, lấy lại được lòng tin, tiếp tục chinh phục được độc giả và giới phê bình
Với Đỗ Chu vẻ đẹp giản dị và sang trọng của văn học chính là cái mà ông đang phải lặn lội, nhọc nhằn tìm kiếm, tìm kiếm suốt đời Một sự khai mở vững vàng, một
Trang 29hành trình học tập, sáng tạo của một cây bút với những thành tựu không dễ thấy trong đời sống văn học những thập kỉ vừa qua, Đỗ Chu đã vinh dự được nhận giải thưởng
Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001 với cụm tác phẩm Hương cỏ mật, Phù sa,
Mảnh vườn xưa hoang vắng Năm 2003 Đỗ Chu tiếp tục nhận được giải thưởng của
Hội nhà văn Việt Nam với tác phẩm Một loài chim trên sóng và cũng với tập truyện
này ông còn nhận được giải thưởng văn học Đông Nam Á, khẳng định vị trí của mình trên văn đàn nước nhà và khu vực
CHƯƠNG 2 NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG CÁCH NHÌN CUỘC SỐNG VÀ
CON NGƯỜI 2.1 Cái nhìn cuộc sống và con người qua từng chặng đường sáng tác
Cuộc sống, con người luôn là mối quan tâm hàng đầu trong sáng tác văn chương Với đặc trưng là ngành nghệ thuật ngôn từ, văn học đã khám phá cuộc sống, con người bằng thế giới riêng của nó với tất cả sự phong phú, phức tạp và bí ẩn vốn
có Văn chương chân chính là văn chương lấy con người làm mục đích hướng tới, lấy việc phục vụ con người làm tiêu chí để khẳng định mọi giá trị Từ góc độ phong cách thì cái nhìn cuộc sống và con người là một trong những tiêu chí để xác định phong cách của một nhà văn bởi “phong cách văn học biểu hiện trước hết ở cách nhìn, cách
Trang 30cảm thụ có tính chất khám phá của tác giả” [39] Cái nhìn ấy ở Đỗ Chu có thể thấy
rõ qua từng chặng đường sáng tác
2.1.1 Cái nhìn trong trẻo, yêu thương những năm chống Mỹ cứu nước
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là “một cuộc tái sinh màu nhiệm” vĩ đại đã
mở ra trên đất nước ta một kỉ nguyên mới: nhân dân được giải phóng và tự do đang vươn lên làm chủ số phận của mình với nhịp độ sống khẩn trương “một ngày bằng hai mươi năm” Từ năm 1945 đến năm 1975, trên đất nước ta diễn ra bao biến cố, sự kiện trọng đại: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt ba mươi năm, công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới ở miền Bắc Những biến động lịch sử lớn lao, những kì tích trong thời đại mới đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc tới văn học “Lí tưởng và nội dung yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội là đặc điểm nổi bật của văn học giai đoạn này” Đó là nền văn học “chứa chan tình cảm yêu nước và cao hơn không chỉ là chủ nghĩa yêu nước mà là chủ nghĩa anh hùng của thời đại cách mạng vô sản” [30,tr.52-53] Nó không chỉ khơi dậy niềm tự hào, kiêu hãnh của lớp lớp thế hệ người Việt mà còn trở thành “cảm hứng cao đẹp” dạt dào tuôn chảy trong sáng tác văn chương thời kì này Và như một điều tất yếu, Đỗ Chu cũng cuốn vào dòng chảy ào ạt ấy
Viết truyện ngắn khi còn là học sinh phổ thông trung học, hai mươi tuổi đã được bạn bè hâm mộ bởi những truyện ngắn đầy chất thơ phảng phất hơi hướng Pautôpxki nhưng bước đường tiếp theo của người học sinh tài hoa ấy không phải là cổng trường đại học với những giảng đường, thư viện đầy ắp sách vở mà cũng như phần đông bạn bè cùng lứa, sau khi rời ghế nhà trường phổ thông, theo tiếng gọi của đất nước, Đỗ Chu vào quân ngũ và trở thành nhà văn – chiến sĩ
Vào quân ngũ, Đỗ Chu có điều kiện tham gia trực tiếp vào cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của dân tộc Và chính sự trải nghiệm của một người lính đã giúp ông hiểu rõ hơn về cuộc kháng chiến thần thánh ấy của dân tộc, về những con người mang lí tưởng cao đẹp của thời đại, về những đổi thay kì diệu của cuộc sống hòa bình và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc Tất cả đều rất đáng tự hào, rất đáng ngợi ca Đỗ Chu đã đón nhận tất cả những vang động
Trang 31của thời đại bằng một trái tim nghệ sĩ nhạy cảm, bằng cái nhìn trong trẻo, giàu yêu thương để tạo ra những trang văn thấm đượm chất trữ tình và tràn đầy lòng tin yêu vào cuộc sống và con người Các nhà lí luận cho rằng: “Nghệ thuật thời nào cũng vậy, luôn luôn có xu hướng khuếch đại cái tốt để nó trở nên đẹp đẽ, lộng lẫy, từ đó lôi cuốn, hấp dẫn mọi người, làm cho mọi người tin rằng trên đời bao giờ cũng còn có công lí, lương tri, bao giờ cũng có người tốt, khơi dậy ở mỗi người khát vọng vươn tới
lí tưởng, muốn noi gương, bắt chước làm theo điều thiện, điều hay Vì vậy trong nghệ thuật không bao giờ được thiếu cái đẹp, thiếu chất lí tưởng, thiếu chất anh hùng lãng mạn, thiếu nhân vật tích cực” [40, tr.175] Ta hiểu vì sao ngợi ca cái đẹp, cái thiện đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn học Việt Nam mọi thời Từ những sáng tác dân gian tự ngàn xưa đến những sáng tác của các nhà văn, nhà thơ hiện đại, ở những mức
độ và cách thức khác nhau, văn học đều không nguôi ngợi ca những giá trị vĩnh hằng cao đẹp và nhân bản ấy
Là thế hệ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, được tắm mình trong không khí hào hùng của một thời kì lịch sử oanh liệt của dân tộc, nhiệt tình ca ngợi cái đẹp, cái thiện, những giá trị nhân bản truyền thống dường như đã trở thành nhu cầu bức thiết trong cảm hứng sáng tác của Đỗ Chu “Với một tấm lòng nhân hậu, bao dung và gần như tuyệt đối tin vào tình đời, tình người, Đỗ Chu đã có một quan niệm về con người hết sức trong sáng, nhân ái, vị tha Trong thế giới nhân vật của Đỗ Chu không có kẻ ác và rất ít cái xấu” [61] Khảo sát 20 truyện ngắn những năm chống
Mỹ trong số 35 truyện ngắn trong Tuyển tập truyện ngắn của Đỗ Chu thì chỉ thấy có một truyện xuất hiện nhân vật có dấu hiệu tiêu cực ( Triều - Chân trời) Còn lại “hầu
như chỉ có nhân vật chính diện”, “những nhân vật đẹp và ân nghĩa” Vẻ đẹp ấy hiện lên rất gần gũi, bình dị trong tình yêu quê hương, làng xóm, trong lao động và trong cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù Đỗ Chu đã có lần nói rằng: “Cái chân đế của một tác phẩm chính là sự gắn bó với đời sống” [25], vì thế sáng tác của ông dù thiên về trữ tình vẫn luôn có sự bám rễ sâu xa vào hiện thực đời sống Cảm hứng sáng tạo của ngòi bút Đỗ Chu được khơi nguồn trực tiếp từ cuộc sống chiến đấu gian khổ nhưng hào hùng của dân tộc, của những con người sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ quốc Nổi bật lên từ những trang truyện của Đỗ Chu là những nhân vật xứng đáng được gọi là “những người con trai con gái của đất nước, những năm đất nước gian
Trang 32lao” “Mai đây người ta sẽ nhắc đến những ngày hôm nay như thế nào nhỉ? Hẳn
không ai có thể quên những người con trai, con gái hôm nay đang có mặt trên khắp các nẻo đường đất nước, đã sống những ngày đầy cực nhọc nhưng cũng phơi phới một niềm tin tưởng, đã biết gắn bó cuộc đời mình với sự sống còn của Tổ quốc, với số phận của nhân dân Những năm này là những năm chúng ta lên đường đánh giặc, những năm đi xa Lịch sử đã mở tung cửa cho cả một thế hệ tốt đẹp và đầy kiêu hãnh bước ra cuộc đời rộng lớn Và đó là hạnh phúc của đất nước ” (Trên một chặng đường) Những người con trai con gái của đất nước ấy là những thanh niên ưu tú,
mang trong mình lí tưởng sống cao đẹp, gắn bó với vận mệnh của dân tộc, sẵn sàng nhập cuộc trong thời chiến Họ sẵn sàng “gác bút nghiên theo việc đao cung”, sẵn sàng “gian nhà không mặc kệ gió lung lay” để “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
Tự nguyện lên đường theo tiếng gọi của quê hương, đất nước, họ ra trận với một bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ muốn được cống hiến cho sự nghiệp chung, được góp một phần công sức nhỏ bé của mình cho đất nước, với một lòng căm thù sâu sắc, một quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù Những người thanh niên lên đường ra trận, trực tiếp giáp mặt với kẻ thù, tuy mỗi người một vẻ, một hoàn cảnh khác nhau nhưng
đều “thèm muốn một cuộc sống chiến đấu, sống giữa dân tộc đang chiến đấu” (Chuyện mùa hạ), họ “sống và chiến đấu bằng chất men thần diệu, lòng yêu nhân
dân, yêu xứ sở, nâng niu từng chút tâm hồn” (Ngọn lửa), họ “nhìn đời bằng đôi mắt trong trẻo của tuổi mười tám trong trẻo” (Một người lính trở về) và “muốn được bay bổng như một cánh chim và muốn cùng một lúc phải có mặt ở nhiều nơi, tham gia vào nhiều sự kiện sôi nổi nhất” (Ráng đỏ) Những sinh viên như Huân (Ráng đỏ); Tiêu,
Cung (Khoảng xanh)… trước hoàn cảnh đất nước, sẵn sàng “xếp bút nghiên” để lên
đường nhập ngũ, nhận lấy về ḿnh trách nhiệm lớn lao Trong không khí “những buổi vui sao cả nước lên đường ”, họ cũng lên đường với một niềm hứng khởi đặc biệt, vì
“đã chờ đợi chuyến đi này từ rất lâu, từ buổi mới vào đại học, xa hơn nữa từ những
ngày còn ở trường phổ thông mười sáu, mười bảy tuổi” (Khoảng xanh) Và Tuân
(Hương cỏ mật), ngay sau khi rời ghế nhà trường phổ thông, đã tự nguyện tham gia làm nghĩa vụ quân sự, nối tiếp con đường của cha dù những ngày đầu còn “biết bao
ngượng ngập, vụng về, biết bao suy nghĩ nhớ thương” Còn Hàm (Ráng đỏ) vốn là
giáo viên dạy lái xe nhưng một mực xin được vào tuyến lửa để trực tiếp chiến đấu,
Trang 33sẵn sàng làm bất cứ việc gì kể cả “ở chiến trường nếu cần tôi có thể lấy vai gùi hàng
chạy bộ cũng được” Cũng với tinh thần ấy, Hà (Gió qua thung lũng) sau khi tốt
nghiệp trường y loại xuất sắc, được giữ lại làm giáo viên ở trường nhưng anh đã tình nguyện ra mặt trận để phục vụ trực tiếp cho chiến trường Cha anh- vị giáo sư, người
đã rất mong muốn cậu con trai theo nghề của mình không hề ngạc nhiên trước quyết
định ấy bởi ông hiểu rằng “đằng sau anh bác sĩ đầy tinh thần phục vụ kia, còn là một
anh chàng nghệ sĩ, chính tâm hồn anh ta, những thôi thúc của anh đã thổi bùng ngọn lửa chiến đầu trong lòng người con trai”
Lên đường vào tuyến lửa tức là phải đấu tranh giáp mặt với kẻ thù, ở đó ranh giới giữa sự sống và cái chết là vô cùng mong manh, là máu và nước mắt, là hi sinh mất mát Thế nhưng không một ai trong họ lùi bước, không một ai quên cái điều đơn giản là quân thù vẫn còn đang ở trước mặt, ai nấy đều sẵn sàng xuyên qua mưa bão
bất chấp tất cả để lên đường , “đường ra trận mùa này đẹp lắm”, “chưa bao giờ như
những ngày này, trời và rừng đều mở ra bát ngát và xanh vô cùng Những dãy núi xô đuổi nhau tít tắp và con đường khuất rồi lại hiện ra như một sợi chỉ hồng ấy”, những người lính “cảm thấy mùa xuân đang về rạo rực hơn bao giờ hết, có một cái gì vừa rộng rãi khoáng đạt vừa sôi sục đang bừng dậy trong lòng họ Nó phải chăng là ngọn lửa của tình yêu, của cuộc chiến đấu chưa một phút nào ngừng” (Khoảng xanh)
Trong những trang truyện của Đỗ Chu, nổi bật lên là hình ảnh những người
lính thuộc đủ mọi quân chủng Đó là những anh lính công binh (Toại, Đồng - Chuyện
mùa hạ; Phong, Thắng - Nhành quế); những anh lính lái xe (Bá, Thuyên - Trên một chặng đường; Liệu - Tiếng vang của rừng ) Đặc biệt là những anh lính pháo Có
đến vài chục nhân vật của Đỗ Chu là những người thuộc các đơn vị pháo, ở đủ mọi cương vị: liên lạc, thợ chữa pháo, anh nuôi, pháo thủ (Tiêu, Cung, Chi, Trung, Khởi -
Tiếng vang của rừng) Bao giờ thì đó cũng là những chàng trai mau mồm mau
miệng, khéo léo, hay đùa nghịch, giữa bom đạn cũng có thể đùa tếu được, đối đáp được nhưng chiến đấu thì dũng cảm, thông minh, tài hoa Người đọc khó có thể quên
anh trung sĩ với một cái tên nghe rất lạ: Nguyễn Bập Bùng (Gió qua thung lũng) khi
bị thương nghe bác sĩ kết luận là không thể trở lại nghề lái xe được nữa, phải trở về
tuyến sau đã “ức đến chảy nước mắt” Cũng như Bùng là Dậu (Một vùng phía Bắc)
Trang 34mặc dù bị thương trong một trận đánh, điếc không nghe thấy gì nhưng vẫn một mực xin ở lại tuyến lửa, nhất định không chịu lui về tuyến sau Anh muốn ở lại với những người đồng chí, muốn cùng họ chia sẻ mọi gian khổ và buồn vui của người lính trong
chiến đấu “Cái gì đã làm cho Dậu khao khát được lắng nghe, khao khát được thấy lại
âm sắc cuộc đời? Cái đó chính là lòng yêu cuộc sống, là sự đòi hỏi được sống và chiến đấu hết mình cho cuộc sống đó” Những anh lính lái xe mệt nhoài sau những
chặng đường hành quân và chiến đấu vẫn không mất đi vẻ trẻ trung, tinh nghịch cất
lên lời ca yêu đời trêu chọc các cô gái: “ơ hò cơm trắng ăn với muối vừng- lấy
chồng cao xạ xin đừng chê đen” Ở nơi mưa bom bão đạn đầy dữ dội, nơi “nắng lửa Trường Sơn hum héo cỏ đỏ lá”, vậy mà cuộc sống của người lính không hề khô cằn,
cuộc sống ấy vẫn rất đáng yêu, “vui và ấm áp” “Các chiến sĩ chuẩn bị xạ kích, tiếng
khóa nòng đập vào máng thép, tiếng chân dận vào bàn đạp cò những âm thanh đó nghe vui như một khung cửi đang làm việc” (Gió qua thung lũng).Qua những giây
phút căng thẳng cận kề với cái chết thì “bao trùm lên tất cả là sự yên tâm về nhau, là
những ý nghĩ tốt đẹp hướng về nhau” (Tiếng vang của rừng) Và rồi những con
người vui tính, dễ thân ấy gặp mấy o thanh niên xung phong thì “rõ ràng hai bên
đang bắt đầu vào một câu chuyện vui, loáng thoáng có tiếng đối đáp ráo riết, rồi sau
đó câu chuyện nở tung ra thành những chuỗi cười giòn giã quấn quýt bay trong khoảng rừng thưa và sáng” Họ là vậy, “những khuôn mặt đầy nhiệt tình”, rất đời
trong những phút nghỉ ngơi hiếm hoi sau cuộc chiến nhưng cũng rất dũng cảm, gan dạ khi giáp mặt với kẻ thù Cuộc sống chiến đấu với bao gian khổ hi sinh cũng không làm họ chùn chân, nhụt chí Dường như trong chiến đấu, trong những hi sinh mất mát,
vẻ đẹp của họ càng được tỏa sáng
Bên cạnh những anh lính trẻ như Bùng, Dậu, Liệu, Chi có không ít những người lính đã đi qua hai cuộc chiến tranh, vẫn tiếp tục cống hiến sức lực của mình cho
lí tưởng thời đại như Huy (Hương cỏ mật); Bài, Ngoạn (Thung lũng cò); Nham (Phù
sa); Xuyên (Một vùng phía Bắc) Đặc biệt có cả thế hệ cha- con cùng ra trận: Huy-
Tuân (Hương cỏ mật); Liệu- Sơn (Tiếng vang của rừng); cha con ông Thành (Nơi
con đường gặp biển) Là nhà văn mặc áo lính, Đỗ Chu hiểu và viết về họ với một
niềm ngưỡng vọng thực sự, nhìn họ bằng con mắt thán phục và yêu mến ra mặt Niềm ngưỡng vọng, sự yêu mến ấy được thể hiện trong suy nghĩ, cảm nhận của các nhân vật
Trang 35trong tác phẩm Đó là suy nghĩ của cô kĩ sư trạm khí tượng thủy văn Nhiên (Chuyện
mùa hạ): “Qua những người mà cô quen biết, cô nhận thấy các anh bộ đội mặc dù công việc có khác nhau nhưng mỗi người đều có những nét giống nhau Vẻ đẹp chung của mỗi người đều thấm nhuần một lòng dũng cảm chân thực và nhiều từng trải” Trong suy nghĩ của Lưu - cô con gái nghèo của một thị xã, thủa nhỏ thích không
biết bao nhiêu là nghề, cuối cùng tình nguyện vào đội thanh niên xung phong thì “
Thật là kì diệu cô đã đến nhiều nơi và gặp nhiều người, mỗi người một vẻ không ai giống ai, nhưng trong nếp suy nghĩ trong nhân cách, trong khuôn mặt tinh thần của mỗi người, cô vẫn thấy có những nét gì rất giống nhau Phải chăng đó là một vẻ đẹp thông minh, một tâm hồn đa cảm, yêu thương sâu sắc và rất khỏe khoắn” (Trên một chặng đường) Còn Liên (Trong tầm súng) thì cảm nhận rất rõ “những người con trai mặc áo lính rất dễ để người ta phải nghĩ đến Với họ ta có một cảm tình thật đặc biệt, hình như ta đã có lỗi nếu lại quên rằng chính họ đang vì chúng ta mà sống, mọi niềm vui và nỗi phiền muộn trong cuộc đời họ đều bắt nguồn từ mỗi chúng ta”
Vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh không chỉ có ở những người lính đang trực tiếp cầm súng chiến đấu mà còn ngời sáng ở những cô thanh niên xung phong, những cô gái mở đường, những chiến sĩ quân y, những cô văn công phục vụ chiến trường Họ là những cô gái trẻ trung, đến từ những miền quê khác nhau, có tính cách và hoàn cảnh riêng khác nhau nhưng đều có chung một mục đích, một lí tưởng
cao đẹp là được cống hiến sức mình cho quê hương đất nước Đó là Chuyên (Ráng
đỏ); Hồng, Vui, Thư (Gió qua thung lũng); Lý (Khoảng xanh); Kiều Mong (Tiếng vang của rừng); Thi (Một vùng phía Bắc); Lưu, Yến (Trên một chặng đường)
Chiến tranh đã gõ cửa từng nhà, những tháng ngày bình yên không còn nữa, cuộc đụng đầu lịch sử với một tên đế quốc xâm lược tàn bạo, giàu có với những phương tiện chiến tranh hiện đại bậc nhất chính là một thử thách khốc liệt Niềm tự hào bị xúc phạm hay là sự nôn nóng cảm động trước những đòi hỏi của tiền tuyến mà mọi người đều nghe thấy, niềm mong mỏi cho con đường được sống lại hay là sự thách thức dũng cảm đối với quân thù khó mà nói cho thật đầy đủ, nhưng rõ ràng là vì tất cả những điều đó mà trên những tuyến đường giao thông huyết mạch - nơi là trọng điểm đánh phá của bom đạn kẻ thù, luôn có những cô gái thanh niên xung phong dũng cảm, không chịu lùi bước trước mọi khó khăn gian khổ Hơn ai hết họ hiểu được tầm quan
Trang 36trọng của những con đường và ý thức trách nhiệm của mình: “Mặt trận đang kêu gọi,
những người đang chiến đấu ngày đêm chờ đợi, và hậu phương thôi thúc Họ thầm hiểu điều đó và con đường lúc bấy giờ, trong quan niệm của họ, trở nên hệ trọng như vai trò của một cái cuống nhau nối liền bào thai với cơ thể người mẹ” (Trên một chặng đường) Gắn bó và coi con đường như chính sinh mạng của mình, những cô
gái thanh niên xung phong ấy đã kiên cường bám trụ trên từng mét đường mà họ đảm
nhận Đó là Chuyên (Ráng đỏ), cô chính trị viên một đội thanh niên xung phong, dịu
dàng, mau mắn, nhưng khi thì chỉ huy đội bảm đảm đường cứu xe, khi thì đi làm lán giữ kho, cuối cùng hi sinh trong một trận cứu xe rất dũng cảm Lý và đồng đội của cô
(Khoảng xanh) cũng chính là như thế Những cơn sốt rét rừng liên tục hành hạ, con
đường đèo do tiểu đội cô phụ trách liên tục bị bom Mỹ bắn phá, công việc hết sức vất
vả nặng nhọc nhưng Lý không nản lòng “đã hai lần đội thanh niên xung phong thay
quân mà cô vẫn tình nguyện ở lại” Nhiều người lính sau mấy năm đi xa về đây đã
không thể không khâm phục: “Gớm chưa kìa, con bé này kiên gan thật, mày còn đứng
đấy ư em?” Khi có người hỏi tha thiết: “Em bao nhiêu tuổi rồi, Lý?”, cô trả lời: “Anh
ơi, em sinh cùng năm với con đường này” Cũng gắn bó với những con đường, Lưu
(Trên một chặng đường) “nhiều đêm thao thức, cô có dịp nhận ra một tình cảm mới
mẻ mà bấy lâu nay cô chỉ nhìn thấy một cách mơ hồ ở mình, đó là lòng căm thù, đó là lòng yêu quê hương và rộng hơn đó là sự bắt đầu của lòng yêu nước Cô muốn hành động, muốn có một công việc nào đó thật cụ thể để trực tiếp đánh trả lại quân thù”
Đi thanh niên xung phong, thành cô gái mở đường sau đó lại chuyển sang làm đường sắt, để nối những chuyến gòong đưa quân, chuyển đạn vào tuyến trong, Lưu và các đồng chí của mình tin rằng những con đường đó “cũng sẽ đánh giặc, cũng sẽ biết yêu thương và căm giận Rồi lịch sử cũng sẽ nhắc đến nó như một niềm tự hào” Lời thề
của Lưu trong lễ kết nạp Đảng: “chúng tôi xin thề suốt đời phấn đấu cho chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản” cũng là lời thề của cả một thế hệ Ghi khắc trong lòng lời
thề thiêng liêng với đất nước, họ đã vượt qua tất cả khó khăn, gian khổ “Các cô gái
vẫn thường biết tạo ra ở xung quanh mình một không khí vui vẻ, dù là trong hoàn cảnh nào Những đêm làm việc của họ nói đúng ra là vừa căng thẳng, vừa dễ chịu Giữa không gian mênh mông, tiếng phản lực và tiếng bom dội đến lúc xa lúc gần, nhưng cuộc sống vẫn trong trẻo rung lên những âm thanh thường nhật của nó” (Gió
Trang 37qua thung lũng) Giữa bom đạn, bùn đất, đá cằn, các cô “vẫn vui, vẫn ca hát, vẫn thổi sáo, đánh cờ, khâu vá, và viết thư, viết rất nhiều thư Giống như người lính sau một trận đánh, giấc ngủ của họ kéo đến hồn nhiên và thanh thản, dấu vết của mọi cực nhọc và khó khăn bị xóa đi nhanh chóng trên những khuôn mặt trẻ trung chưa kịp lau sạch những vết dầu mỡ, mồ hôi và bụi bặm” (Trên một chặng đường) Những niềm
vui giản dị, những niềm tin đã trở thành lẽ sống, vì tất cả những điều gần gũi đó mà
họ đã có mặt ở đây, “tự nguyện sống những ngày dữ dội nhất, nhìn vào mọi thử thách
bằng đôi mắt can đảm nhất Tình cảm của mỗi người đều gắn liền với những thăng trầm của đất nước Niềm tin của họ như một ngọn lửa bùng cháy trước ngọn gió lớn của cuộc đời ” (Gió qua thung lũng) Những con người ấy vừa mang vẻ đẹp truyền
thống của phụ nữ Việt Nam, vừa lấp lánh tinh thần thời đại Họ rất gần với những cô thanh niên xung phong trong thơ Phạm Tiến Duật, Lâm Thị Mỹ Dạ hay trong những truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Lê Minh Khuê
Ấn tượng đẹp về những nhân vật nữ trong truyện ngắn của Đỗ Chu không chỉ
có ở những cô thanh niên xung phong mà còn có ở những nữ chiến sĩ quân y, những
cô văn công giàu tình yêu thương và lòng nhiệt huyết Thư (Gió qua thung lũng) - cô
sinh viên y khoa, sau khi tốt nghiệp đã xung phong vào tuyến trong trở thành chiến sĩ quân y Nơi chiến trường lửa đạn mặc dù không trực tiếp cầm súng chiến đấu nhưng bằng trách nhiệm và tình thương của một bác sĩ với những người lính bị thương, Thư
nhận thấy “giữa cô với họ có một sự gắn bó rất tự nhiên, cô hết lòng lo cho họ và cô
hiểu mình đang giữ một trách nhiệm rất lớn, đó là trách nhiệm đối với một cuộc chiến đấu chung Những niềm vui lớn nhất của cô trong những ngày này cũng bắt đầu từ đó cô cảm thấy rất tự hào vì mình đã xứng đáng với lòng tin của họ, xứng đáng với lòng tin của những người đang chiến đấu, với đồng đội” Nếu như những chiến sĩ
quân y như Thư đem khả năng nghề nghiệp của mình đến chiến trường giúp những người lính chữa lành vết thương, xoa dịu nỗi đau thể xác thì những cô gái văn công
như Quế (Nhành quế), Bích (Trung du) lại đem tài năng nghệ thuật đến với những
người lính trên tuyến đầu chống Mỹ Từ trong những bãi bom ngổn ngang trên những
trận địa còn sặc mùi thuốc súng, các cô “đã xuất hiện với một nụ cười tươi rói, một
tiếng gọi làm mát cả lòng” “Lam lũ cơ hàn thế, nhưng vẫn không bao giờ chịu để tắt mất nụ cười, kẻ thù muốn dồn chúng ta vào cảnh mông muội, nhưng chúng ta sẽ chiến
Trang 38thắng chúng bằng chính nụ cười đó” (Nhành quế) Dưới những làn bom đạn ác liệt,
lời ca của các cô vang lên, như xoa dịu nỗi đau, sự hi sinh mất mát, như động viên khích lệ cổ vũ tinh thần chiến đấu của những người lính Những cô gái ấy, dù ở những hoàn cảnh khác nhau, làm những công việc khác nhau nhưng đều có chung một tình yêu và sự gắn bó sâu nặng với từng tấc đất quê hương, nguyện cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng đất nước Những cô gái ấy mỗi người một vẻ đẹp riêng như những bông hoa rừng đủ màu sắc, ngát hương thơm, góp phần làm đẹp thêm những trang sử hào hùng của dân tộc Những năm tháng chiến tranh, bao nhiêu thanh niên trẻ tuổi của chúng ta đã có mặt trên mọi ngả đường chiến đấu như thế Đi bao nhiêu nơi, làm bao nhiêu việc, có lúc tưởng gian khổ và mệt mỏi đã làm cho họ xao lãng mọi kỉ niệm, cằn đi trong suy nghĩ Nhưng rồi một tiếng hát, một lá thư, hay một người cùng quê đi qua đủ làm cho họ xao động cả lên Bắt đầu là một nỗi niềm nhớ quê rồi ít nhiều kỉ niệm tuổi trẻ cùng những mong mỏi, dự định tương lai Những
kỉ niệm đến với họ như một nhắc nhở, một chỗ dựa, nhờ đó mà họ thấy công việc có
ý nghĩa thêm “Dọc con đường mòn lịch sử, có biết bao nhiêu đống lửa và có biết bao
nhiêu người đang nhóm lửa? Những đống lửa tỏa sáng các cánh rừng già và những con người nhóm những ngọn lửa đó, bằng hai bàn chân dầm đất và một niềm tin tưởng lớn lao vào sự bất diệt của dân tộc đã lên đường, đã làm một cuộc trường chinh giải phóng đất nước Đất nước Việt Nam, người đang chịu muôn nghìn gian nan để đánh kẻ thù Và chính là để chiến thắng kẻ thù mà người đã biết mỉm cười đón nhận lấy mọi gian nan Đất nước vĩ đại mà xiết bao gần gũi, hùng tráng thiêng liêng
mà lại cũng chất phác để chúng ta phải yêu bằng một tình yêu máu thịt, có tiếng hát,
có nụ cười và có cả nước mắt” (Tiếng vang của rừng)
Có thể nói, từ những người lính thuộc đủ mọi binh chủng, đến những cô thanh niên xung phong trong sáng tác của Đỗ Chu, tuy mỗi người một vẻ, một cá tính: trẻ trung, tinh nghịch như Liệu; chín chắn điềm tĩnh như Thuyên; kín đáo e thẹn như Lầm; chân chất mộc mạc mà chan chứa ân tình như Nham; ồn ào sôi nổi như Kiều Mong; ít lời mà duyên thầm như Quế nhưng họ đều gặp nhau ở phẩm chất chung là dũng cảm, gan góc, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc, gắn bó trong tình đồng đội, thủy chung son sắt trong tình yêu, gắn bó với quê hương, vững một niềm tin ở tương lai
Đã hình thành một thứ nhân vật riêng của Đỗ Chu, những con người của làng xóm
Trang 39nông thôn, của thị xã phố huyện, có học hành nhưng còn nguyên dáng dấp của những đứa con gia đình nghèo, chăm chỉ lao động, yêu cuộc sống, nhanh chóng thích hợp với cuộc chiến đấu Họ tự nhận sự nghiệp chống Mỹ là hoàn cảnh giáo dục họ, với tâm hồn trong trẻo, họ đi vào cuộc chiến đấu gian khổ một cách thanh thản, thoải mái
Họ âm thầm chịu đựng mọi khó khăn, nhưng nhờ thế mà họ trưởng thành Nghĩ tới họ bao giờ ta cũng ấm lòng mà tin tưởng
Hòa vào không khí chung của đất nước, không chỉ có những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu, những cô thanh niên xung phong phục vụ chiến trường, trong truyện ngắn của Đỗ Chu còn xuất hiện không ít hình ảnh những bà mẹ Họ là những người phụ nữ trong suốt hai cuộc kháng chiến hết tiễn đưa chồng, lại tiễn đưa con ra trận Lòng kiêu hãnh sẵn sàng hiến dâng một phần máu thịt của mình cho Tổ quốc, ý thức sâu sắc và thấm thía về trách nhiệm trước vận mệnh của nước nhà làm cho những bà mẹ trở nên bình thản, rắn rỏi lúc phải xa con Những cuộc “chia li màu đỏ”, “lưu luyến mà nhẹ nhõm” ấy xuất hiện khá nhiều qua những trang truyện của Đỗ
Chu Đẹp biết bao là hình ảnh bà mẹ “ngồi ngây ra” nhìn con “húp canh xì xụp” rồi nhắc nhở con “đường dài, được nghỉ rồi thì chạy vào đỡ thay cho anh em khác một
vai” (Đường qua nhà) Xúc động biết bao trước hình ảnh bà mẹ chong đèn đốt muỗi
canh giấc ngủ cho con trước lúc lên đường (Gia đình những người đi xa), hay hình ảnh người mẹ chậm rãi gói vào ba lô con trai “một đùm cơm nắm lớn và một khúc cá
thu kho mặn” (Từ một trang nhật kí chiến đấu) Những lời nói, cử chỉ, hành động ấy
tưởng chừng hết sức bình thường, như thiên tính tự nhiên của người mẹ, nhưng lại chứa đựng trong đó những biểu hiện giản dị và cao đẹp của lí tưởng thời đại Bởi vậy mặc dù không trực tiếp ra trận nhưng những bà mẹ ấy luôn là hậu phương vững chắc,
là niềm tin, là chỗ dựa tinh thần để những đứa con ra trận vững tin chiến đấu
Viết ngay trong chiến tranh, viết về đất nước đang có chiến tranh với những con người đang “xoay trần đánh giặc”, Đỗ Chu không có thiên hướng xây dựng
những điển hình xuất sắc, những tính cách phi thường như anh hùng Núp (Đất nước
đứng lên); Tnú, cụ Mết (Rừng xà nu) của Nguyễn Trung Thành; anh Trỗi (Sống như anh - Trần Đình Vân); chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng - Nguyễn Thi); chị Sứ (Hòn đất - Anh Đức) Những trang viết của Đỗ Chu chủ yếu “ca ngợi những con người
Trang 40đang gánh lấy cuộc chiến tranh ấy một cách tự giác và dũng cảm - khiêm tốn và bình tĩnh đến kì lạ” Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Đỗ Chu ít có những trang miêu tả trực tiếp chiến tranh, cuộc kháng chiến chống Mỹ với tất cả quy mô của nó, với tất cả vẻ sôi nổi, dữ dội, sự lay chuyển nhiều mặt của nó, chưa vào tác phẩm của Đỗ Chu một cách mãnh liệt Không khí cuộc sống hôm nay, trên những trang viết của Đỗ Chu vẫn
có cái gì phảng phất như trong cuộc kháng chiến chống Pháp lần trước mà đã kết tinh
lại trong Làng của Kim Lân, Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng Nhưng
đọc Đỗ Chu, người đọc có thể tìm thấy những biểu hiện phong phú của con người thời đại Với khả năng nắm bắt “linh hồn của hiện thực một giai đoạn” hơn là tái hiện hiện thực một cách trực tiếp, Đỗ Chu đã có những trang viết thật đẹp, thật thơ, góp vào dàn đồng ca hùng tráng của dân tộc những khúc ca trữ tình thi vị giúp người đọc “nhận thức và cảm xúc được những gì đẹp đẽ, cao thượng và anh hùng trong đời sống của nhân dân ta” [31] Đó cũng là cách Đỗ Chu tạo cho mình một nốt nhạc riêng, một giai điệu thẩm mỹ riêng không dễ trộn lẫn
Nếu như trong chiến đấu, vẻ đẹp của con người Việt Nam hiện lên bằng lòng dũng cảm, kiên cường thì trong lao động, vẻ đẹp ấy lại hiện lên bằng lòng nhiệt tình hăng say và tinh thần sẵn sàng cống hiến trí tuệ, sức lực cho công cuộc lao động xây dựng đất nước Ở những trang viết của Đỗ Chu về đề tài lao động xây dựng đất nước,
“cuộc sống trong tác phẩm của anh luôn lung linh, xao động, như chào mời, như khơi dậy, nhóm lên, đốt cháy trong lòng ta khát vọng cống hiến thật nhiều cho lí tưởng” [32] Đó là những cảnh lao động tập thể diễn ra thật khẩn trương, hào hứng, nhộn
nhịp, tươi vui, của người dân làng Hà trong những ngày lò gốm đỏ rực (Phù sa) Họ
làm việc với niềm hăng say, với một tinh thần lạc quan tin tưởng vào cuộc sống mới tốt đẹp hơn Trong lao động, vẻ đẹp của họ hiện lên thật tự nhiên và gần gũi với
“Những bộ ngực nở nang như khuôn đổ, những đôi vai để trần bóng nhẫy như đồng
hun, những cánh tay rắn chắc và những khuôn mặt cả trong những cuộc vật lộn vất
vả nhất với đất vẫn sáng lên những nụ cười hào hứng” Những con người ấy cũng
“giống như những lớp phù sa giấu kín dưới nó những dải đất sét quý giá”, “đang ẩn
tàng những tình cảm, những suy nghĩ tốt đẹp mà người ta không dễ dàng nhận thấy ngay một lúc được” Ở Mùa cá bột, không đơn giản là sự vất vả, cực nhọc của những
người nông dân để giành sự sống mà còn là một bức tranh sinh động về quang cảnh