Sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi là một hiện tợng độc đáo, đặc biệt là những tác phẩm viết về đời t, thế sự thì lại càng thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu.. Điều này
Trang 1TRƯờNG ĐạI HọC VINH KHOA NGữ VĂN
-
-NGUYễN THị THUý
Chất thơ trong truyện ngắn viết về
đời t của Nguyễn Minh Châu từ đổi mới
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Vinh, tháng 5/2007 - -
Trang 2TRƯờNG ĐạI HọC VINH KHOA NGữ VĂN
-
-NGUYễN THị THUý
Chất thơ trong truyện ngắn viết về
đời t của Nguyễn Minh Châu từ đổi mới
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Gv hớng dẫn : Lê Văn Tùng
Sinh viên : Nguyễn Thị Thúy
Lớp : 44B4 - Ngữ văn
Vinh, tháng 5/2007 - -
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn đợc sự hớng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo Lê Văn Tùng, sự góp ý chân tình của các thầy cô giáo trong tổ văn học Việt Nam hiện đại, sự động viên của gia đình và sự giúp đỡ của bạn bè
Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo ớng dẫn, tập thể các thầy cô trong tổ văn học Việt Nam hiện đại, gia đình và tất cả bạn bè
h-Công trình nghiên cứu này mặc dù đã rất cố gắng nhng chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết Vì vậy, tôi rất mong sự thông cảm, góp ý của các thầy cô và các bạn
để khóa luận hoàn chỉnh hơn
Trang 4Mở đầu
Chơng 1 Chất thơ và sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi 9
1.1 Chất thơ và vai trò của chất thơ 9 1.2 Hiện tợng cộng sinh thể loại trong văn học hiện đại và sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi 13 1.2.1 Khái niệm cộng sinh 13 1.2.2 Khái niệm thể loại 13
1.2.3 Hiện tợng cộng sinh thể loại 15 1.2.4 Có hay không hiện tợng cộng sinh thể loại trong văn học trung đại 18 1.2.5 Sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi trong văn học hiện đại 20
1.3 Nhìn chung về chất thơ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu 22
1.3.1 Khái quát phong cách sáng tác của Nguyễn Minh Châu 22
1.3.2 Nhìn chung về chất thơ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu 23
Chơng 2 Chất thơ trong truyện ngắn viết về đời t của Nguyễn Minh Châu 25
2.1 Bớc ngoặt của sáng tác 25 2.2 Biểu hiện của chất thơ trong truyện ngắn viết về đời t của Nguyễn Minh Châu 26 2.2.1.Tình cảm của tác giả khi viết về số phận con ngời sau chiến tranh 26 2.2.2 Chất thơ thể hiện qua tình cảm của tác giả dành cho ngời lao động 39 2.2.3 Chất thơ trong giọng điệu và ngôn ngữ của nhà văn 46 2.2.4 Ngọn nguồn chất thơ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu 52
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trang 5Văn học Việt Nam trớc đổi mới chủ yếu mang âm hởng sử thi với giọng điệu ngợi
ca cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc Việt Nam Hàng loạt các tác phẩm gắn liền với tên tuổi nhà văn, nhà thơ lớn nh: Tố Hữu, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Đình Thi đều có sức cổ động lớn trong cuộc chiến đấu của dân tộc ta Sau khi
đất nớc đợc hòa bình, thống nhất đề tài chủ yếu đợc các nhà văn khai thác lúc này là những vấn đề thuộc cuộc sống đời t, thế sự của mỗi cá nhân con ngời Chính vì thế nên văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới mang giọng điệu chung là giọng điệu phê phán, tự vấn, phản tỉnh Theo lôgíc thông thờng các sáng tác này khó có chỗ cho chất thơ tồn tại Vậy
mà trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu hầu nh tác phẩm viết về đời t, thế sự nào cũng
có chất thơ Đây cũng là một trong những nghịch lý trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu viết về đời t, thế sự từ đổi mới
Vấn đề mà chúng tôi nghiên cứu ở đây là chất thơ trong văn xuôi Đây là một trong những biểu hiện của tính năng động thể loại của văn học hiện đại Hiện tợng này là một trong những vấn đề mới mẻ, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên, việc nghiên cứu chất thơ trong văn xuôi, đặc biệt là trong sáng tác viết về đời t của Nguyễn Minh Châu từ đổi mới cha đợc quan tâm đúng mức và thấu đáo, mà mới chỉ dừng lại ở những nhận xét chung chung
Mặt khác, Nguyễn Minh Châu là nhà văn có vị trí quan trọng trong nền văn học hiện đại nớc ta nói chung và trong chơng trình dạy học văn ở trờng phổ thông nói riêng Tác phẩm của ông đợc đa vào giảng dạy ở cả cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ
thông Vì vậy, chúng tôi khi nghiên cứu đề tài: Chất thơ trong truyện ngắn viết về đời t
của Nguyễn Minh Châu từ đổi mới nhằm góp phần bổ sung kiến thức về nhà văn và
phong cách sáng tác của ông, giúp cho việc giảng dạy sau này
Đối với đời sống văn chơng đơng đại, nghiên cứu sự thâm nhập của chất thơ trong truyện ngắn viết về đời t của Nguyễn Minh Châu từ đổi mới có vai trò đặc biệt quan trọng
Sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi là một hiện tợng độc đáo, đặc biệt là những tác phẩm viết về đời t, thế sự thì lại càng thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này góp phần làm rõ đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu, thấy đợc đặc điểm đặc sắc, nổi bật của nhà văn Nguyễn Minh Châu
Trang 6so với các nhà văn cùng thời khác, đồng thời qua đấy góp phần khám phá bản chất của văn chơng hiện đại.
2 Lịch sử vấn đề
So sánh với văn học trung đại ta thấy nền văn học trung đại là một nền văn học khép kín với những thể loại nh thơ, hịch, chiếu, cáo mang tính quy phạm một cách nghiêm khắc Chính vì vậy, các thể loại văn học ít có điều kiện giao lu, không phát huy đ-
ợc tính năng động, sáng tạo của nhà văn Đến hết thế kỷ XIX, nền văn học trung đại đã kết thúc mở đờng cho một nền văn học mới - văn học hiện đại đầy năng động, sáng tạo, một trong những hiện tợng năng động của nền văn học hiện đại là hiện tợng cộng sinh thể loại Sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi tạo nên thể loại văn xuôi trữ tình rất độc đáo,
là một trong những biểu hiện của hiện tợng cộng sinh thể loại
Trong sách Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỷ XX có bài của Vũ Tuấn Anh viết về
sự ảnh hởng, thâm nhập lẫn nhau giữa văn xuôi, thơ và kịch Tác giả cho chúng ta thấy rõ
sự cộng sinh giữa các thể loại: "Các thể này thờng xuyên có sự thâm nhập trong tiến trình văn học Mỗi thể loại tự phong phú lên và gia tăng sự phát triển trong quá trình thâm nhập, tiếp nhận và chuyển hóa này"[15 - 526] Sự thâm nhập của văn xuôi vào thơ tạo ra thể thơ
- văn xuôi một loại hình kết hợp còn tiếp tục sự sống nh một thể độc lập trong nhiều thập
kỷ sau Sự thâm nhập của thơ vào văn xuôi tạo ra chất thơ trong văn xuôi Sự pha trộn thơ
và kịch tạo nên "kịch thơ" có sự sống độc lập và có số phận thăng trầm riêng sau này Tác giả còn đề cập đến sự ảnh hởng của phóng sự đối với tiểu thuyết "phóng sự mở đờng cho tiểu thuyết và cũng để lại dấu vết rất rõ trong tiểu thuyết"[15-528] Đây là bài viết khá sắc sảo mà Vũ Tuấn Anh đã cung cấp cho chúng ta phần nào sự hiểu biết về "đời sống thể loại" của văn học Việt Nam thế kỷ XX Đặc biệt, sự thâm nhập của các thể loại đã đợc
ông đa ra thành một mục riêng để nghiên cứu Đối với chúng tôi, bài viết có vai trò quan trọng trong việc mở đờng để đi sâu vào nghiên cứu các hiện tợng cụ thể Tuy vậy, bài viết mới chỉ đề cập đến hiện tợng cộng sinh thể loại một cách chung chung, khái quát chứ cha
đi sâu vào từng tác giả, từng mảng đề tài nào
Mặt khác, Nguyễn Minh Châu là một nhà văn đứng trớc yêu cầu đổi mới và hiện
đại hóa văn học, trớc thực trạng của con ngời sau khi đất nớc hòa bình, thống nhất đã có
Trang 7nhiều trăn trở, đổi mới trong t duy nghệ thuật Những sáng tác của ông đã thể hiện đợc những cách tân trong văn học Cho nên khi nói về nhà văn đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, những trang tiểu luận phê bình của các nhà nghiên cứu, nhà văn khác nhau.
TS Nguyễn Trọng Hoàn trong bài viết Tiếp tục hành trình đọc Nguyễn Minh Châu đã khái quát lại cả một quá trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu hai thời kỳ trớc
và sau 1975 Tác giả đã rút ra nhận xét: "Nguyễn Minh Châu đã say sa thể hiện ý tởng sáng tạo của mình qua những nhân vật chính diện, qua việc xây dựng tình huống và xu h-ớng phát triển của lôgíc tác phẩm khiến cho truyện và ký trớc 1975 của ông thờng lấp lánh
vẻ đẹp và dồi dào chất thơ Điều này dờng nh khác hẳn với phong cách sáng tác của ông ở giai đoạn sau 1975, khi Nguyễn Minh Châu "bị giằng xé giữa hai đề tài văn học lớn: Chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội" nh ông tâm sự, khi những tác phẩm của ông xuất hiện với những cách trình bày và lý giải hiện thực mới vẫn là một Nguyễn Minh Châu tài hoa, tinh tế trong những phát hiện và phân tích, miêu tả hiện thực cuộc sống và tâm lý nhân vật - nhng trong giai đoạn này, sự tài hoa, tinh tế ấy không bay bổng trên đôi cánh lãng mạn, hùng tráng chất sử thi của một thời mà thể hiện qua bút pháp trần thuật trầm tĩnh đề cập những góc cạnh xù xì, phức tạp của cuộc sống"[9-18]
Lã Nguyên trong bài Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới t duy nghệ thuật (Tạp chí văn học số 2 -1989) đã nêu lên những trăn trở của Nguyễn Minh Châu
trong việc đổi mới t duy nghệ thuật Lã Nguyên nhân xét: "Cũng có thể nhận thấy ở đây những phẩm chất văn chơng của một tài năng độc đáo Đó là năng lực quan sát tinh tế, là ngòi bút giàu chất thơ và một tấm lòng đôn hậu rộng mở"
Cũng nói đến sự trăn trở trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, trong bài viết: Nguyễn Minh Châu và sự trăn trở của một ngòi bút đầy trách nhiệm (Kỷ yếu hội thảo 5 năm ngày mất Nguyễn Minh Châu, Hội văn nghệ Nghệ An,
1995) Đinh Trí Dũng đã đa ra nhận định: "Một khía cạnh có tính chất quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, vấn đề mà trớc đây Nam Cao cũng đã từng day dứt, đó là những tâm niệm, trăn trở về nhiệm vụ của nghệ thuật, về vai trò và trách nhiệm của ngời cầm bút trớc cuộc đời và con ngời nói chung, trớc quê hơng chôn rau cắt rốn nói riêng"
Trang 8Từ những bài viết trên có thể khẳng định sự luôn trăn trở trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Minh Châu, qua đó thấy đợc nhân cách của ông với t cách là một nhà văn Trớc yêu cầu của đổi mới, nhà văn luôn tìm tòi đổi mới t duy nghệ thuật, đáp ứng đợc yêu cầu đặt ra đối với văn chơng đơng đại.
Dơng Thị Thanh Hiên trong bài viết Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (Tạp chí nhà
văn, số 7, 2001) đã đi vào phân tích vai trò của hình ảnh biểu tợng trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu Khi nói về mối quan hệ giữa biểu tợng và chất trữ tình tác giả cho biết: "Trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, biểu tợng thờng lặp đi lặp lại nhiều lần tạo thành tứ thơ liên kết các sự kiện và cảm xúc, chi phối toàn bộ kết cấu tác phẩm, tạo thành
điểm tựa phát triển hình tợng Nói cách khác, nó là nơi dồn nén của cảm xúc, t tởng, tình cảm, sự kiện và tình huống để tạo nên cái mạch chính của truyện Nó nh một tứ thơ trữ tình, nhờ đó truyện có thể phát triển theo nhiều hớng khác nhau đạt đến đợc chiều sâu khái quát và đem đến cho truyện ngắn chất trữ tình" "Nó đánh dấu một chất lợng mới của sự phát triển t duy nghệ thuật và đa văn xuôi xích lại gần với thơ" Bài viết đã có sự quan tâm đến chất thơ khi nghiên cứu về "biểu tợng", trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu Tuy vậy, bài viết cha đề cập hết những biểu hiện của chất thơ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, đặc biệt là những truyện ngắn viết về đời t từ đổi mới, một đặc điểm
đặc sắc và độc đáo trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
Đỗ Đức Hiểu trong bài Đọc Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu (Văn học và
nhân cách, Nxb Văn học, 1994) đa ra ý kiến: "Miêu tả cuộc hành trình bên trong tâm linh
con ngời, bằng nhiều bút pháp, cái tĩnh lặng và cái bùng nổ, chất thơ và cái dữ dằn, ảo giác và cái thực bao giờ cũng dồn nén, chứa đựng nhiều tầng lớp ý nghĩa, những bút pháp này hòa lẫn nhau, tiếp nối nhau, chồng chéo lên nhau, tạo nên nhiều bức tranh, nhiều sơng
mù, mỗi lần đọc lại có thể tìm thấy những ý nghĩa chìm dới "tảng băng trôi""
Tác giả Chu Văn Sơn trên báo Văn nghệ, số 42 - 1993 trong bài Đờng tới Cỏ lau đã
viết: "Đó là một giọng điệu trầm lắng, se se buồn của một bài văn xuôi trong nh lọc mà ngấm mọi nỗi đời ở đó, một chất thơ vốn có từ Cửa sông, Mảnh trăng cuối rừng, từ Dấu chân ngời lính đã thấm đẫm thêm một khí vị triết học nhân văn vừa đến hồi kết lắng".
Trang 9Tác giả Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết: Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự
đổi mới cách nhìn về con ngời đăng trên Tạp chí văn học, số 3 - 1993 đã viết: "Nhà văn
tập trung chú ý vào "số phận con ngời", tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào, ấn tợng tơi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng, ấm áp" Tác giả còn viết: "Tâm hồn Nguyễn Minh Châu giàu yêu thơng và dễ xúc động, anh xót xa trớc bất hạnh và đau khổ của con ngời, mải mê viết
về cái đẹp, chất thơ của đời sống, trân trọng những cố gắng bền bỉ, âm thầm của con ngời
để chống chọi với những hoàn cảnh khắc nghiệt, để sống lơng thiện, trung hậu" Bên cạnh
đó, tác giả còn chỉ rõ mặt khác trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu: "Khẳng
định cái đẹp, chất thơ của đời sống nhng Nguyễn Minh Châu không thi vị hóa cuộc sống, không nhìn cuộc sống một chiều, dễ dãi"
Tôn Phơng Lan trong bài viết: Giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu (Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Nxb KHXH, H, 1999) đã viết:
"Để phù hợp với ý đồ coi tâm linh nh một chỗ dựa cho đời sống tinh thần của nhân vật,
điều tiết mọi hành động của con ngời hớng tới cái Thiện, Nguyễn Minh Châu đã sử dụng giọng điệu trữ tình, ngợi ca đó trầm lắng hơn, đợm nhiều trắc ẩn hơn so với trớc đây" Nguyễn Minh Châu còn là ngời rất coi trọng câu văn,"chất văn", cũng nh các đặc trng thể loại Tôn Phơng Lan đã khảo sát ngôn ngữ mà Nguyễn Minh Châu sử dụng trong các sáng tác của mình Tác giả viết: "Nguyễn Minh Châu là ngời có biệt tài trong miêu tả cảnh sắc thên nhiên nhuốm màu tâm trạng Ông là "ngời mải miết với cái Đẹp", là ngời "say sa
đón lấy mọi vẻ đẹp của đời sống con ngời" Đồng thời, rất tinh tế trong ngôn ngữ văn học" "Cảm quan về thiên nhiên của ông có thể nói ít nhiều có nét giống Đỗ Chu ở việc phát hiện ra cái "làn hơng cỏ mật" của đồng nội, cũng là làn hơng dịu ngọt của đời thờng
và tạo nên một thứ men lạ trong các sáng tác văn xuôi hồi ấy" Đồng thời Tôn Phơng Lan còn khẳng định: "Đa sự vật này so sánh với sự vật kia chủ yếu bằng chất liệu ngôn ngữ
đời thờng, một mặt Nguyễn Minh Châu đã nâng cấp tính bác học cho câu văn của mình, mặt khác chính ông kéo gần các sáng tác đó lại với đời sống Đó là lý do khiến cho ngôn ngữ trong tác phẩm của ông giàu tính biểu cảm, sâu sắc, lắng đọng bởi những câu văn
Trang 10mang ý nghĩa triết lý, văn Nguyễn Minh Châu còn sâu sắc và đợm chất trữ tình bởi những hình ảnh biểu trng ".
Phạm Vĩnh C trong bài: Về những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đăng trên báo Văn nghệ, số 7-1990, nhận xét về sáng tác của Nguyễn Minh
Châu: "Cái văn phong gợi cảm, giàu hình tợng, mợt mà nghe êm ái, nhng hơi đơn điệu, tựa
hồ nh tiếng đàn dây độc tấu"
Khảo sát các bài nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu, chúng ta có thể thấy đợc sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, nhà phê bình và bạn đọc đối với nhà văn Qua đấy, ta thấy đợc vị trí quan trọng của Nguyễn Minh Châu trong nền văn học Việt Nam hiện đại Nhìn chung các bài viết trên đã có một sự phân tích, đánh giá về phong cách sáng tạo của nhà văn Các bài viết đã chỉ ra đợc trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu thấm đợm chất trữ tình, chất thơ Điều này đã khẳng định đợc ngòi bút tài hoa của Nguyễn Minh Châu,
đồng thời thấy đợc xu hớng vận động của nền văn học hiện đại Tuy nhiên, các bài viết này mới chỉ có những nhận định, những khái quát còn rất chung chung về chất thơ trong sáng tác Nguyễn Minh Châu mà cha đi sâu vào khai thác một cách triệt để về chất thơ trong các truyện ngắn viết về đời t, thế sự từ đổi mới của nhà văn
Với khóa luận này, chúng tôi muốn bớc đầu góp phần làm sáng tỏ vấn đề chất thơ
trong truyện ngắn viết về đời t của Nguyễn Minh Châu từ thời kỳ đổi mới
3 Phơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề: Chất thơ trong truyện ngắn viết về đời t của Nguyễn Minh
Châu từ đổi mới là quan tâm đến đặc trng loại hình của chất trữ tình trong tự sự (truyện
ngắn), đồng thời thấy đợc sự tác động qua lại giữa hai thể loại nh một quy luật thể hiện tính năng động thể loại của văn học Việt Nam hiện đại Do đó, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi dùng phơng pháp phân tích, so sánh
Bên cạnh đó, để thấy đợc quá trình sáng tạo độc đáo của nhà văn chúng tôi so sánh với các sáng tác của tác giả trớc năm 1975 và dòng truyện ngắn trữ tình 1932 - 1945
Đặc biệt, để có cơ sở nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi sử dụng nguyên tắc, quy luật về tính năng động nghệ thuật của văn học hiện đại biểu hiện qua sự phát triển thể loại
Trang 11Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp khảo sát, thống kê vào việc nghiên cứu khóa luận này.
4 Phạm vi của đối tợng nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi tìm hiểu hiện tợng cộng sinh thể loại giữa trữ tình (chất thơ) và tự sự (truyện ngắn) trong tác phẩm viết về đời t, thế sự của Nguyễn Minh Châu từ
đổi mới, nên chúng tôi chỉ dừng lại ở các tác phẩm tiêu biểu in đậm chất thơ của nhà văn nh: Cỏ lau; Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành; Bức tranh; Mùa trái cóc ở miền Nam; Phiên chợ Giát; Khách ở quê ra; Chiếc thuyền ngoài xa; Bến quê.
5 Đóng góp mới của đề tài
Với đề tài này, chúng tôi một mặt muốn chứng minh tính năng động nghệ thuật của thể loại văn học hiện đại, là quy luật phổ biến, mặt khác làm cho độc giả có cái nhìn biện chứng, toàn diện, đa chiều trong việc tiếp nhận văn học ở góc độ thể loại: phải thấy đợc sự thâm nhập, tác động qua lại lẫn nhau giữa các thể loại để thấy đợc sự độc đáo, đa dạng của thể loại văn học hiện đại Đồng thời, qua đề tài này, chúng tôi muốn khẳng định ngòi bút tài hoa, độc đáo của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong việc thể hiện chất thơ trong truyện ngắn viết về đời t, thế sự từ đổi mới
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khóa luận
gồm 2 chơng:
Chơng 1 Chất thơ và sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi
Chơng2 Chất thơ trong truyện ngắn viết về đời t của Nguyễn Minh Châu từ đổi mới
Trang 12Nội dung Chơng 1Chất thơ và sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi
1.1 Chất thơ và vai trò của chất thơ
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa "Chất thơ chỉ những sáng tác văn học (bằng
văn xuôi hoặc văn vần) giàu cảm xúc, nội dung cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp
điệu"[4 - 310]
Bên cạnh đó, có rất nhiều ý kiến, định nghĩa về chất thơ của các nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nói: "Nhng khi chúng ta nói quan niệm chất thơ không phải là một cái gì thần
bí, siêu việt, thơ gắn liền với cuộc sống, với tâm hồn con ngời và năng lực sáng tác của
ng-ời nghệ sĩ thì việc tìm hiểu chất thơ lại là cần thiết và có thể tiến hành đợc trên những nét lớn dễ chấp nhận"
Hà Minh Đức cũng đã đa ra quan niệm của mình về chất thơ Tác giả viết: "Chất thơ là một sản phẩm chất tổng hợp đợc tạo nên từ nhiều nhân tố Những nhân tố này cũng
có thể có trong nội dung cấu tạo của các thể loại khác, nhng ở trong thơ biểu hiện tập trung hơn và đợc hòa hợp, liên kết một cách vững chắc để tạo nên những phẩm chất mới"
Ông cũng quan niệm: "Chất thơ gắn liền với sự rung động và những cảm xúc trực tiếp Thơ là ở tấm lòng, nhng cũng chính là cuộc sống, thơ gắn liền với trí tởng tợng và chất thơ cũng gắn liền với cái đẹp"
Đỗ Minh Tuấn nói: "Chất thơ của bài thơ nằm trong một cái đích rất mơ hồ nhng lại rất cụ thể, nó mơ hồ ở chỗ nó tan biến vào từng câu thơ, nó chảy ra bàng bạc trong từng tác phẩm nhng nó cụ thể ở chỗ nó tụ lại ở một điểm ngời sáng nào đó làm cho cái bàng bạc trải rộng kia lấp lánh lên "Điểm ngời sáng" là nơi gặp gỡ của tất cả các câu thơ, ý thơ,
là nơi ngã ba, ngã bảy tỏa đi các câu thơ, đối với ngời làm thơ là nơi cảm xúc gặp gỡ, đối với ngời đọc thơ là nơi cảm xúc tỏa đi Ngời làm thơ mà không bắt nối các cảm xúc tinh tế
Trang 13và trải rộng đi nhiều hớng của mình khi tụ lại một điểm thì ngời đọc thơ cứ phải đuổi bắt chất thơ bàng bạc, chập chờn và phải sống trong trạng thái chờ đợi vô vọng, phải chịu
đựng một bớc hẫng hụt trong thi ca"
Qua các định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra một số khái quát về chất thơ trên các phơng diện: loại hình, mỹ học, cảm hứng, ngôn ngữ
ở phơng diện loại hình: Thơ gắn liền với phơng thức biểu hiện trữ tình, nó dành u
thế cho cảm xúc cái tôi trữ tình Đối với chất thơ trong văn xuôi cũng vậy Chất thơ đó chính là thái độ, tâm tình, là phản ứng của tác giả Nh vậy, có nghĩa là có những đối tợng cái nên thơ không bộc lộ ra ở bên ngoài, nếu miêu tả theo cách sao chép và mô phỏng tự nhiên thì khó có thể tạo nên chất thơ Nhng nếu phát hiện đợc một nét nào đó ẩn sâu trong bản chất của đối tợng và cung cấp cho nó một hiện tợng đẹp, một sự giải thích, một sự tô
điểm giàu ý nghĩa thẩm mỹ và ý nghĩa xã hội thì chất thơ sẽ xuất hiện và bao trùm lấy hình tợng
Trên phơng diện mỹ học: Thơ đợc xem là cái đẹp của tâm hồn, của cuộc sống và
cao hơn nữa nó còn nói về cuộc sống với một lý tởng đẹp Ngay khi thơ nói đến cái hùng, cái bi, cái cao cả, cái tầm thờng của cuộc sống thì cũng nhìn những cái đó dới con mắt cái
đẹp mới có chất thơ Nếu nói ý thức và thiên hớng của mọi hoạt động sáng tạo của con
ng-ời theo quy luật của cái đẹp nh Mác nói thì với thơ, ý thơ và cảm hứng sáng tạo biểu hiện
rõ rệt đặc tính này Etagapô cho rằng: "Cái đẹp là địa hạt hợp pháp của thơ ca", Bôđơle xem thơ ca là: "ớc mong của con ngời vơn tới cái đẹp cao thợng", Sile nhấn mạnh đến cái
đẹp và năng lực tạo nên cái đẹp ở trong thơ: "Thơ ca biến mọi vật thành đẹp, nó làm tăng
vẻ đẹp của những cái gì đẹp nhất, nó đem lại vẻ đẹp cho những cái gì xấu xí nhất" Mặc
dù quan niệm đó của Sile có hơi quá song thực tế thơ là đẹp, là sự phản ánh cái đẹp, làm
đẹp lòng ngời, tâm hồn con ngời và đó hẳn là một điều hiển nhiên của thơ
Xét trên phơng diện cảm hứng: Chất thơ gắn liền với cảm hứng bay bổng lãng mạn
nh M.Medestach nói: "Khó lòng nói hẳn thế nào không phải là thơ nếu muốn hiểu thơ là gì, cần nhớ lại những cảm xúc trớc một miền có phong cảnh đẹp hay khi nghe một bản nhạc du dơng, khi nhìn thấy một vật yêu dấu và hơn hết ở một niềm tin cho ta nhận thấy trong thâm tâm sự hiện diện của thần linh" và "năng khiếu bày tỏ những gì nhận thấy ở
Trang 14đáy lòng rất hiếm có, song chất thơ vẫn có ở các tâm hồn biết yêu thơng mạnh mẽ, sâu xa" Nh vậy, chất thơ đối lập với hiện thực đầy phức tạp.
Phơng diện ngôn ngữ: Thơ có tính nhạc, ngay cả trong dòng "phong cách trữ tình"
thì ngôn ngữ cũng giàu tính nhạc vì bản thân nó giàu chất thơ Chất thơ trong thơ gắn với nhạc điệu, trong truyện, nhất là truyện ngắn trữ tình - tính nhạc dẫu không rõ ràng lắm nh-
ng chính âm hởng, tiếng vang của nó lan tỏa trong lòng ngời đọc lại chính là tiếng nhạc
đậm đà, dịu dàng, nhẹ nhàng và cũng lại ấn tợng
Từ đó ta có thể thấy để nhận diện chất thơ trong một tác phẩm văn xuôi, yêu cầu ngời đọc cần phải có cái nhìn tinh tế, nhạy cảm và giàu cảm xúc Trong thực tế các sáng tác văn xuôi mang đậm chất thơ cần đợc xét ở tất cả các phơng diện trên Văn học Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 có sự xuất hiện của dòng "truyện ngắn trữ tình ", tức những truyện ngắn mang chất thơ Trong bài viết: Truyện ngắn trữ tình 1932 - 1945, Một dòng chảy sâu lắng giữa hai bờ văn xuôi nghệ thuật Việt Nam của Tiến sĩ Phạm Hơng, đã đề
cập đến một loại truyện không có cốt truyện, tái hiện một hiện thực đã đợc trải nghiệm "là một dòng chảy lặng lẽ mà sâu lắng nằm giữa các dòng văn xuôi nghệ thuật giai đoạn này
Nó vừa nh một dung hòa lại vừa tồn tại với những nét phong cách riêng Không có đợc cái dữ dội, cái quyết liệt của văn xuôi hiện thực phê phán cũng không lý tởng hóa hình ảnh nhân vật để họ mang một tầm vóc khác thờng với những khát vọng lớn lao nh văn xuôi lãng mạn Tự lực văn đoàn Truyện ngắn trữ tình không có cốt truyện Nó có kết cấu gần với cấu tứ của thơ trữ tình Truyện ngắn trữ tình thờng đi sâu miêu tả một cách tinh tế những phản ứng của tâm thức đối với kinh nghiệm sống"
Trên thực tế, dòng truyện ngắn trữ tình 1932 - 1945 đã đợc công nhận là một "nền truyện ngắn lãng mạn Việt Nam" Nền truyện ngắn lãng mạn Việt Nam 1932 - 1945 đã
đạt đến sự hng thịnh của nó Các nhà văn lãng mạn khi viết truyện ngắn đã tạo nên một thứ văn xuôi giàu chất thơ, hay gọi cách khác là kiến tạo ra loại tự sự - trữ tình Ngay nhan
đề của tác phẩm đã vang lên nh âm điệu của lời thơ: Chơi giữa mùa trăng (Hàn Mặc Tử),
Điệu thu ca (Đỗ Tốn), Tình trong câu hát (Thanh Tịnh), Bến trúc trăng vàng nhớ cố nhân (Thanh Tâm), Tình xa (Thạch Lam), Phấn thông vàng (Xuân Diệu) Với cái nhìn
thi ca, lãng mạn họ đã làm cho "chất liệu của cuộc đời và cảm xúc của tác giả đã luyện
Trang 15thành một thứ hợp kim nhuyễn từng phân tử"(Huy Cận) Với các nhà văn lãng mạn, dờng
nh cái đẹp hiện diện xung quanh ta "Cái đẹp man mác khắp vũ trụ, len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, tiềm tàng ở mọi vật tầm thờng Công việc của nhà văn là phát hiện cái đẹp chính
ở chỗ mà không ai ngờ, tìm cái đẹp kín đáo, che lấp của sự vật, cho ngời khác một bài học trông nhìn và thởng thức" (Thạch Lam - Theo dòng - Tiểu luận văn học) Truyện ngắn
lãng mạn là vơng quốc của tình yêu, là khu vực nhiều cây xanh bóng mát và hoa, là nơi tĩnh lặng thanh bình có hiệu quả di dỡng tinh thần con ngời Nơi đó con ngời có thể khoan thai, trầm ngâm suy nghĩ về cuộc đời
Dòng truyện ngắn trữ tình 1932 - 1945 đã để lại nhiều tên tuổi với các sáng tác mang đậm dấu ấn riêng của mình Chúng ta có thể kể đến các tên tuổi nh: Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh và hàng loạt các tên tuổi nổi tiếng khác
Dòng chảy hùng hậu của truyện ngắn trữ tình 1932 -1945 là biểu hiện nổi bật nhất của sự thâm nhập chất thơ vào văn xuôi trong văn học hiện đại Việt Nam Nguyễn Minh Châu là nhà văn đã tiếp thu đợc sự đổi mới của thể loại văn học hiện đại ở điểm này Mặc
dù truyện của ông ngời ta không gọi là truyện trữ tình nh với Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh nhng sáng tác của ông ở cả trớc và sau 1975 đều mang đậm chất thơ Qua
đó ta thấy đợc tài năng, phong cách sáng tác nghệ thuật đầy tài hoa của ông Trớc 1975, với đề tài chiến tranh và ngời lính, tởng chừng nh chiến tranh là một nơi đầy ác liệt với bao bom đạn và chết chóc thì không có chỗ cho chất thơ tồn tại, nhng trong các sáng tác của ông chất thơ lại tràn ngập Sau 1975, với đề tài đời t, thế sự, với giọng điệu phê phán chủ yếu, nhà văn đã đi sâu vào mọi ngóc ngách của tâm hồn, của cuộc sống thực tại đầy bon chen, giả dối thì giọng văn của nhà thơ vẫn phủ đầy chất thơ Đây có thể coi là một trong những biểu hiện tởng chừng nghịch lý trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
1.2 Hiện tợng cộng sinh thể loại trong văn học hiện đại và sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi
1.2.1 Khái niệm cộng sinh
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: "Cộng sinh là sự hợp lại hai hoặc nhiều cơ quan khác
nhau để cùng sinh sống"[14-250]
Trang 16Nh vậy, hiện tợng cộng sinh có thể hiểu là hiện tợng của các yếu tố khác nhau hợp lại tạo ra một yếu tố khác Yếu tố đợc tạo ra bởi hiện tợng cộng sinh phong phú hơn, đa chức năng hơn so với các yếu tố tạo ra nó Trong quá trình thâm nhập đó cả hai yếu tố cùng có lợi, và nếu chúng ta tách riêng từng yếu tố, chúng đều có khả năng tồn tại một cách độc lập
1.2.2 Khái niệm thể loại
Thể loại, một trong những quan niệm quen thuộc và ổn định của lý luận cũng nhthực tiễn sáng tạo là các dạng tổ chức tác phẩm, quy tụ những hình thức nhìn nhận và phản ánh đời sống
Chúng ta đều biết rằng tác phẩm văn học là sự thống nhất trọn vẹn của các yếu tố
đề tài, chủ đề, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, lời văn Nhng sự thống nhất ấy lại đợc thực hiện theo những quy luật nhất định Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể
Tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất, quy định lẫn nhau của các loại đề tài, chủ đề, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn Chẳng hạn, nhân vật kịch, kết cấu kịch, hành động kịch với lời văn kịch, nhân vật trữ tình, kết cấu thơ trữ tình và lời thơ luật thơ sự thống nhất này lại do những phơng thức chiếm lĩnh đời sống khác nhau quy định, thể hiện những quan hệ thẩm mỹ khác nhau đối với hiện thực, mang những khả năng khác nhau trong tái hiện đời sống Bởi vì các phơng thức ấy ứng với các hình thức hoạt động nhận thức của con ngời hoặc trầm t, hoặc chiêm nghiệm, hoặc qua các biến cố liên tục, hoặc qua xung đột, mâu thuẫn, hoặc qua các sự thật sinh
động Đến lợt mình các thể loại tạo cho nó một kênh giao tiếp với ngời đọc Giao tiếp thơ khác giao tiếp kịch, giao tiếp bằng tiểu thuyết khác với giao tiếp bằng thể loại ký Mỗi kiểu giao tiếp nh vậy lại đòi hỏi ngôn ngữ và phơng tiện riêng, truyền thống và kinh nghiệm riêng Chính vì vậy mà thông tin về thể loại tác phẩm là rất cần thiết đối với sáng tác và tiếp nhận văn học Không phải ngẫu nhiên mà sau nhan đề tác phẩm ngời ta thờng thông báo luôn tên thể loại tác phẩm: Epghêniônêghin - tiểu thuyết bằng thơ, Vờn anh
đào- hài kịch bốn hồi, Con trâu- tiểu thuyết, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành -
Trang 17truyện ngắn, Ngời đàn bà ngồi đan - thơ Hoặc xa xa hơn, tên thể loại trở thành một bộ
phận không tách rời của tên tác phẩm: Bình Ngô đại cáo, Bạch Đằng giang phú, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Truyền kỳ mạn lục, Hoàng Lê nhất thống chí, Truyện Hoa tiên, Chinh phụ ngâm, Tam quốc chí diễn nghĩa ở đây, nói tới thể loại là nói tới một cách tổ
chức tác phẩm, một kiểu tái hiện đời sống và một kiểu giao tiếp nghệ thuật
Thể loại văn học là một hiện tợng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học hình thành trên cơ sở của sự lặp lại của các yếu tố tác phẩm Đó cũng là cơ sở để ngời ta tiến hành phân loại tác phẩm Nhng thể loại tác phẩm không giản đơn là loại hình và lặp lại Bản chất của sáng tạo nghệ thuật là tính độc đáo không lặp lại Sự vận động cuộc sống cũng luôn luôn sản sinh và biến động các giới hạn phản ánh, đổi mới các kênh giao tiếp và làm cho chúng tác động vào nhau, đan bện vào nhau trong các tác phẩm nghệ thuật độc
đáo Vì vậy, đối với từng tác phẩm văn học cụ thể có tầm cỡ, thể loại là toàn bộ các phơng thức tổ chức, phản ánh và giao tiếp độc đáo của nó nh một hệ thống chỉnh thể Sự phân loại là một yêu cầu không thể thiếu để nhận thức các hiện tợng phức tạp, muôn vẻ của thế giới và của cả văn học Sự phân loại thể loại cũng nh phân loại đề tài, chủ đề, cảm hứng, nhân vật, kết cấu, lời văn dầu quan trọng đến đâu thì cũng chỉ là vấn đề có tính thứ hai, có tính ớc lệ, nhằm hệ thống hóa các sự vật bề bộn
Vấn đề có tính thứ nhất ở đây là hình thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm Một hình thức nh vậy trên thực tế đa dạng hơn bất cứ hệ thống phân loại nào Ngời sáng tác, khi xây dựng tác phẩm không giản đơn là làm cho tác phẩm của mình giống với các mẫu mực có trớc Rõ ràng, muốn nhận thức đặc điểm thể loại của một tác phẩm có giá trị, ngời ta vừa phải có tri thức về các quy luật lặp lại của thể loại, lại vừa phải biết nhận ra tính độc đáo trong sự vận động sáng tạo của tác giả
Thể loại văn học là "dạng thức của tác phẩm văn học, đợc hình thành và tồn tạo
t-ơng đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau của các hình thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tợng đời sống đợc miêu tả và tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tợng đời sống ấy"[4- 245]
Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hớng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học cà các thể loại văn học tồn tại là để giữ gìn, đổi mới thờng xuyên
Trang 18các khuynh hớng ấy Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định Vì vậy, khi tiếp cận cần tính đến thời đại lịch sử của văn học và những biến
đổi, thay thế của chúng
1.2.3 Hiện tợng cộng sinh thể loại
Nền văn học trung đại do chịu ảnh hởng của hệ ý thức phong kiến và các tôn giáo trung đại, nên văn học trung đại là một nền văn học yên tĩnh trong một xã hội yên tĩnh Tduy nghệ thuật trung đại là kiểu t duy bảo thủ, mang tính phục cổ Đó là kiểu t duy khuôn mẫu, tuân thủ các quy tắc nghệ thuật mang tính tiền định, không thừa nhận những sáng tạo vợt ra ngoài barie nghệ thuật Đến văn học hiện đại, toàn bộ hệ thống mở Tính năng
động chi phối cả hệ thống và chi phối cả thể loại, phơng thức và quan niệm thể loại cũng thay đổi Đầu những năm 30 là cả một cuộc cách mạng về thể loại Từ những mẫu gốc của thể loại văn học phơng Tây đi qua ý thức sáng tạo về nhà văn Việt Nam làm cho hệ thống thể loại luôn luôn biến hóa cả chiều sâu lẫn chiều rộng Các thể loại văn học thờng xuyên
có sự thâm nhập lẫn nhau Mỗi thể loại tự phong phú lên và gia tăng sự phát triển trong quá trình thâm nhập, tiếp nhận và chuyển hóa này - sự ảnh hởng thâm nhập lẫn nhau tạo ra các khu trung gian về thể loại, tạo ra cả những "thể ghép" làm phong phú rất nhiều cho mặt bằng thể loại Nói cách khác, hoạt động tích cực này tạo ra bội số công năng thể loại Mỗi thể loại không chỉ là nó mà rộng hơn, giàu có hơn bản thân nó Chẳng hạn nh sự ảnh hởng lẫn nhau giữa văn xuôi và thơ Vào giai đoạn khởi phát Thơ mới, văn xuôi mở cuộc xâm lăng "tràn vào thơ, phá phách tan tành"(chữ dùng của Hoài Thanh) Trong Thơ mới
có những câu ngắt dòng, vắt dòng rất độc đáo:
Trời cao xanh ngắt - ô kìa!
Hai con hạc trắng bay về bồng lai
Cũng nh xa quá nên ta chỉ Thấy núi yên nh một miếng bìa
(Xuân Diệu)
Sự thâm nhập của văn xuôi và Thơ mới tạo ra thể thơ văn xuôi, một loại hình kết hợp còn tiếp tục sự sống nh một thể độc lập trong nhiều thập kỷ sau Hiện tợng đối thoại
Trang 19trong thơ là một biểu hiện của sự thâm nhập của văn xuôi vào thơ Ví dụ bài thơ Chùa
h-ơng của Nguyễn Nhợc Pháp, kể về câu chuyện của cô gái đi làm chùa Hh-ơng qua năm
chặng:
Chặng một: Chuẩn bị đi chùa, vấn tóc, trang điểm
Chặng hai: Kể chuyện đi thuyền trên bến Đục
Chặng ba: Miêu tả cảnh thiên nhiên chuyện nàng lên chùa và chàng lên theo sau Chặng bốn: Mai mới vào chùa trong
Chặng năm: Đi vào chùa trong
Mặt khác, thơ cũng ảnh hởng đến văn xuôi và kịch Điều này đã đợc kiểm chứng trong thực tế Sự xuất hiện của dòng truyện ngắn trữ tình 1932 - 1945 với những tên tuổi Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Xuân Diệu cùng những vở kịch Mơ hoa, Xuân tơi
của Đoàn Phú Tứ đã minh chứng cho cuộc xâm nhập giữa các thể loại văn học
Phóng sự mở đờng cho tiểu thuyết va cũng để lại dấu vết rất rõ trong tiểu thuyết Không ít tác phẩm đợc định danh là phóng sự và thực sự trong đó dù phần t liệu nguyên dạng vẫn còn giữ nguyên sự tơi mới sắc cạnh thì cũng đã thấy rõ những tổng hợp h cấu, phân tích tạo nên chất tiểu thuyết Điều này thể hiện khá rõ trong một số phóng sự của Vũ Trọng Phụng nh: Cơm thầy cơm cô, Cạm bẫy ngời
Khi tiểu thuyết phát triển chín muồi vẫn tồn tại loại tiểu thuyết đậm chất phóng sự
nh Ngoại ô, Ngõ hẻm của Nguyễn Đình Lạp.
Trong các thể văn xuôi cũng còn có thể nhận ra sự thâm nhập lẫn nhau phong phú
để hình thành những thể mới Tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Sống nhờ (Mạnh Phú Tứ) là một dạng hóa thân của hồi ký, còn cuốn tiểu thuyết Sống mòn
(Nam Cao) - một cuốn tiểu thuyết theo đúng nghĩa tiểu thuyết, hơn thế còn đứng ở đỉnh cao thể loại đậm tự truyện, đến nỗi ngời ta vẫn thờng qua đó mà đọc ra tiểu sử Nam Cao Truyện ngắn ngay từ những tác phẩm đầu đã có t thế xác định nh một thể văn xuôi độc lập, nhng quá trình phát triển của nó gắn bó chặt chẽ với tiểu thuyết, tiếp nhận rất nhiều ở thể này khả năng khái quát và phơng thức t duy tổng hợp Những truyện ngắn thuộc loại
đặc sắc của Thạch Lam, Nguyên Hồng, Nam Cao nh: Cô hàng xén, Ngời đàn bà tàu, Một
Trang 20buổi chiều xám, Chí Phèo có khá nhiều chất tiểu thuyết đợc dồn nén trong khuôn khổ
truyện ngắn
Nh vậy, giữa các thể loại có sự thâm nhập lẫn nhau tạo thành hiện tợng cộng sinh thể loại Đây là biểu hiện của tính năng động thể loại trong văn học hiện đại Tuy vậy, mức độ và tính chất của sự thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại ở từng hiện tợng văn học, từng tác phẩm là rất khác nhau Có sự thâm nhập tạo ra thể mới nh dòng truyện ngắn trữ tình 1932 - 1945, kịch thơ, thơ văn xuôi, có sự thâm nhập chỉ mang lại một chất mới, một màu sắc mới, một ý nghĩa mới nh trờng hợp chất thơ trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu
1.2.4 Có hay không hiện tợng cộng sinh thể loại trong văn học trung đại
Văn học trung đại Việt Nam sử dụng nhiều thể loại nh: hịch, cáo, chiếu, biểu ngay tên gọi của từng thể loại cũng cho chúng ta biết đợc chức năng xã hội mà nó đảm nhận Mỗi thể loại có chức năng riêng và cuộc sống độc lập của nó
Văn học trung đại Việt Nam kéo dài trong suốt mời thế kỷ dới thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến độc lập Sáng tác thơ văn thời kỳ này mang đặc trng: Thi dĩ ngôn chí, Văn dĩ tải đạo Ngời sáng tác thông qua tác phẩm của mình để nói lên cái chí, cái đạo của bản thân Thời kỳ trung đại Việt Nam, văn chơng không đợc lu hành rộng rãi Nó chỉ bó hẹp trong phạm vi bộ phận vua chúa, quan lại, nho sỹ Họ thờng mang t tởng lớn nh tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ vào văn chơng Cho nên, cái "chí" ở đây là cái "chí" của những bậc hiền nhân quân tử Còn các sáng tác của các tầng lớp bình dân hầu nh không đợc thừa nhận là văn chơng chính đạo, chính thống
Thời kỳ này, ngời ta quan tâm nhiều hơn đến các thể văn hành chức Văn xuôi nghệ thuật cha đợc chú ý và bị đẩy xuống hàng thứ yếu Thơ ca phát triển vì phù hợp với tâm lý lúc bấy giờ là sáng tác thơ ca để ngâm vịnh Nhng thơ ca sáng tác mang tính nghiêm ngặt Dờng nh ngời sáng tác chỉ có việc lựa chọn những câu chữ cho phù hợp theo khuôn mẫu
đã định sẵn Thơ càng chuẩn, càng đúng luật thì càng đợc đánh giá cao Nếu thơ ca sáng tác không đúng luật thì bị coi là "làm loạn" trong thơ ca Có thể nói sáng tác ít phát huy đ-
ợc tính sáng tạo của nhà văn Ngời sáng tác không có những đột phá trong nghệ thuật mà nếu có thì bị coi là vợt ngoài khuôn phép, là văn học phi chuẩn và không đợc chấp nhận
Trang 21Mỗi thể loại văn học là một hệ thống khép kín, yên tĩnh Vì vậy, hiện tợng cộng sinh thể loại văn học trong văn học trung đại Việt Nam cha có điều kiện phát sinh nảy nở
Đến hết thế kỷ XVIII, sự phát triển của bộ phận văn học chữ Hán mạnh về văn xuôi hơn là thơ Cả thơ chữ Hán lẫn văn xuôi chữ Hán giai đoạn này đều tăng cờng nội dung hiện thực, chất liệu hiện thực, đều cố bám sát cuộc sống đồng thời cố gắng vơn lên mức
độ hoàn thiện về phơng diện nghệ thuật
Vậy còn hiện tợng "truyện thơ" hay còn gọi là "truyện thơ Nôm" có phải là hiện ợng cộng sinh thể loại giữa văn xuôi và thơ hay không? Thực ra, đây chỉ là hiện tợng ký sinh thể loại trong văn chơng Tâm lý của ngời xa là thích sáng tác thơ và thế mạnh của họ
t-là thơ chứ không phải t-là văn xuôi, do đó họ đã dùng hình thức thời gian để sáng tác truyện Vì vậy, đây là hiện tợng ký sinh vào thơ chứ không phải là sự thâm nhập của truyện vào trong thơ theo quy luật cộng sinh
Từ đó, có thể nói trong văn học trung đại cha có hiện tợng cộng sinh thể loại nếu xét từ quan điểm quan phơng chính thống về thể loại Còn nếu xét trong thực tế sáng tạo, thực ra cũng đã có những dự báo về hiện tợng cộng sinh thể loại qua những câu thơ cách tân táo bạo của Hồ Xuân Hơng và Tú Xơng Trong thơ Hồ Xuân Hơng ta thấy sự phá luật,
sự "nổi loạn" trong thơ ở việc cách tân thể thơ Đờng luật, đa những yếu tố tự sự vào trong thơ:
"Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hơng mới quệt rồi"
Trang 22một trong những thành tựu rực rỡ mà trong quá trình phát triển không ngừng văn học hiện
đại đã đạt đợc về thể loại
1.2.5 Sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi trong văn học hiện đại
Sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi trong văn học hiện đại đã có từ đầu thế kỷ
XX và đã đạt đợc những thành tựu qua các giai đoạn sau đó
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1932 là văn học của một giai đoạn cận đại
có tính giao thời Đầu thế kỷ XX ở Sài Gòn và ở Hà Nội những tác phẩm văn xuôi nối nhau xuất hiện: truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Tản Đà, Nguyễn Công Hoan tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách, Tản Đà, Nguyễn Trọng Thuật ở giai đoạn này chất thơ, chất trữ tình đã thâm nhập vào truyện ngắn, tiểu thuyết với quy luật: cộng sinh
Trong những năm 20, tiểu thuyết Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách) xuất hiện nh một sự
kiện làm đảo lộn những lối viết truyền thống Kết cấu cuốn tiểu thuyết này theo quy luật tâm lý, đã đi sâu vào khám phá đời sống nội tâm con ngời Văn xuôi Tố Tâm vì vậy nên
giàu chất thơ, chất trữ tình
Nói đến sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi không thể không kể đến các sáng tác của Tự lực văn đoàn đã xây dựng đợc một nền tiểu thuyết có kết cấu và cốt truyện chặt chẽ, lối kể chuyện hấp dẫn, duyên dáng, ngôn ngữ trong sáng, gợi cảm và giàu chất thơ, những trang miêu tả tâm lý tinh tế có khả năng đi sâu vào thế giới nội tâm của con ngời Chính vì vậy, có thể nói tiểu thuyết Tự lực văn đoàn mang nhiều chất thơm, chất trữ tình vào trong tác phẩm Ví dụ nh: Hồn bớm mơ tiên (Khái Hng), Nửa chừng xuân (Khái H-
ng), Đoạn tuyệt (Nhất Linh)
Hiện tợng cộng sinh thể loại cũng xuất hiện trong tác phẩm các nhà văn hiện thực phê phán Nhiều tác phẩm của họ tuy mang nội dung phản ánh hiện thực, mang những tiếng chửi căm thù vào thực dân phong kiến lúc bấy giờ nhng vẫn đậm chất trữ tình và giàu chất thơ Chẳng hạn trong tác phẩm Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng thấm đợm
màu sắc lãng mạn, trữ tình Trong tập tiểu thuyết tự truyện rất xúc động này, Nguyên Hồng đã lắng nghe đợc những âm vang sâu lắng của tâm hồn, ghi nhận đợc những cảm giác tinh tế từ bên trong, miêu tả một thiên nhiên đầy thanh sắc và tất cả đều đợc thể hiện qua màu sắc chủ quan của cái tôi trữ tình hồn nhiên, trong sáng Hay trong các sáng tác
Trang 23của Nam Cao với những trang viết miêu tả ánh trăng qua đó bộc lộ tâm trạng nhân vật hay những đoạn văn độc thoại nội tâm, thể hiện những nỗi niềm tâm sự, những vui buồn, đau
đớn, day dứt trào lên từ đáy sâu tâm hồn con ngời đều gợi cho ngời đọc cảm xúc trớc tác phẩm
Đặc biệt sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi đã tạo nên một dòng truyện ngắn trữ tình đặc sắc 1932 - 1945 Có thể nói rằng, thông qua bút pháp trữ tình và cảm xúc trữ tình của nhà văn, truyện ngắn trữ tình đã đa vào văn xuôi nghệ thuật Việt Nam một chất thơ man mác, bàng bạc rất riêng Chất thơ ấy thể hiện qua việc cái "tôi" trữ tình bày tỏ nỗi buồn và sự cô đơn trong cuộc đời, niềm hoài nhớ dĩ vãng đợc bộc lộ qua hồi tởng, trân trọng và nâng niu cái đẹp đã đánh mất, phát hiện ra thế giới đa diện và ẩn sâu của nội tâm con ngời Đồng thời chất thơ còn đợc thể hiện qua cách kết cấu truyện gần với cấu tứ của một bài thơ trữ tình, qua việc sử dụng ngôn ngữ truyện gần với ngôn ngữ nghệ thuật thơ
và tạo ra một thời gian - không gian trữ tình có sức ảm ảnh và khêu gợi sâu sắc Có thể kể
đến những tác giả nổi tiếng có dòng truyện ngắn trữ tình này nh: Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Xuân Diệu Sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi trong quy luật cộng sinh thể loại, đến đây không chỉ mang lại màu sắc hay chất thơ mới cho thể văn xuôi mà thực
sự đã sáng tạo ra thể loại thứ ba - văn xuôi trữ tình - nh là một sự kiếm tìm phơng thức thể loại mới để phản ánh một niềm hiện thực mới: Hiện thực tâm trạng
Quá trình hiện đại hóa đã mang đến một luồng gió mới cho nền văn học dân tộc Hiện tợng cộng sinh thể loại xuất hiện đặc biệt là sự thâm nhập của chất thơ vào văn xuôi
đã làm cho các tác phẩm tự sự có sự lãng mạn, bay bổng, trữ tình Ngay cả trong những sáng tác viết về đề tài chiến tranh, một đề tài tởng chừng nh không có chỗ cho chất thơ tồn tại vẫn có sự xuất hiện của chất thơ Điều này có thể đợc kiểm chứng qua các sáng tác viết
về đề tài chiến tranh của Nguyễn Minh Châu Đặc biệt từ sau đổi mới, nhà văn chuyển sang đề tài viết về đời t, thế sự với giọng phê phán, phản tỉnh, tự vấn thì chất thơ vẫn tồn tại
1.3 Nhìn chung về chất thơ trong sáng tác Nguyễn Minh Châu
1.3.1 Khái quát phong cách sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Trang 24Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu đợc hình thành và phát triển trong bối cảnh của một thời kỳ lịch sử đặc biệt Dù là một nhà văn hàng đầu của nền văn xuôi chống Mỹ nhng Nguyễn Minh Châu đã trở thành một trong những ngời nhận ra sớm nhất nhu cầu về một sự đổi mới của văn học cách mạng Với cách nhìn của mình, lặng lẽ mà ráo riết, khiêm nhờng mà dũng cảm, Nguyễn Minh Châu đã sớm dấn thân vào con đờng
đổi mới đầy chông gai và nguy hiểm
Với Nguyễn Minh Châu, đổi mới là bớc qua cách nhận diện con ngời duy nhất trong mối quan hệ với cộng đồng (con ngời xét từ khía cạnh chính trị) để đến với một con ngời đa diện, con ngời nhân cách, con ngời văn hoá, thậm chí là con ngời sinh tồn Con ngời ấy phải đợc soi chiếu trong quan hệ gia đình, bạn bè, tình yêu, mang những giá trị thuộc về cội nguồn và cả những giá trị hết sức bức xúc của thời đơng đại Ngời nghệ sỹ muốn tiếp cận đợc với con ngời đó phải trở lại chính mình, phải săn đuổi chính mình,
"phải lật hết mặt này đến mặt khác để tự nớng mình cho đến khi vàng ơm" Với cách làm
đó, con ngời và cuộc đời trong văn xuôi Nguyễn Minh Châu sau 1975 đã hiện lên chủ yếu bằng chiều sâu nhân bản, thấm đẫm những triết lý nhân sinh
Nguyễn Minh Châu là ngời viết có biệt tài xây dựng tình huống truyện Tình huống trong truyện của ông đa dạng, khi là tình huống nhận thức, khi là tình huống tơng phản, khi là tình huống thắt nút và tình huống nào cũng có sức thu hút hấp dẫn, sự chú ý của ng-
ời đọc Chẳng hạn, truyện Bức tranh là một câu chuyện xảy ra rất ngẫu nhiên, nhng ngời
họa sĩ giống nh đóng đinh vào vành móng ngựa và nhân vật không tài nào thoát khỏi tòa
án lơng tâm Không thể lẫn tránh mà phải đối diện với những khuất tất tội lỗi của mình Tình huống này tạo cho ngời đọc nhận thức sâu hơn về con ngời ở cả hai phía tốt và xấu Trong Bức tranh ngời lính hầu nh không đả động đến câu chuyện của ngày xa và hiện tại
mà ngời họa sĩ tự nhận thức Đây chính là tình huống nhận thức, tình huống truyện trong
Mùa trái cóc ở miền Nam là tình huống tơng phản Trong Phiên chợ Giát là tình huống
Trang 25nói nh là sự đối thoại của các t tởng cả trên ngôn ngữ và trong tính cách Đồng thời trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, còn một nét phong cách sáng tác độc đáo của nhà văn
đó là sự kết hợp của chất thơ trong từng truyện ngắn từ những truyện viết về thời kỳ chiến tranh đến những truyện viết về đời t, thế sự
1.3.2 Nhìn chung về chất thơ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
Nguyễn Minh Châu là nhà văn luôn có sự trăn trở, tìm tòi trong quá trình sáng tác Với tài năng của ngời nghệ sỹ, với tấm lòng nhân đạo sâu sắc và ngòi bút trữ tình đặc sắc
đã khẳng định vị trí vững chắc của nhà văn trong nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung và trong lòng độc giả nói riêng Một trong những đặc điểm sáng tác trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu đó là hầu nh tác phẩm nào cũng đều có chất thơ kể cả những sáng tác thời kỳ trớc đổi mới lẫn những sáng tác sau này
Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, ở nơi mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc, tởng chừng nh chỉ có những tác phẩm tái hiện lại hoàn cảnh anh hùng với những khốc liệt do chiến tranh gây nên, thế nhng nhà văn Nguyễn Minh Châu bên cạnh việc tái hiện lại cuộc chiến anh dũng của dân tộc ta với khí thế hào hùng trong những trận chiến, thì các tác phẩm của ông còn đợm chất trữ tình, lãng mạn bởi có sự tồn tại của chất thơ trong các sáng tác đó Chúng ta có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu của nhà văn viết về thời kỳ chiến tranh nh: Mảnh trăng cuối rừng, Cửa sông, Dấu chân ngời lính
Chiến tranh kết thúc, cũng nh những nhà văn hiện đại khác, Nguyễn Minh Châu đi vào khai thác cuộc sống, số phận của con ngời sau chiến tranh với những mảng đời t phức tạp, nhiều khi éo le và đầy trắc ẩn Tác giả đi sâu vào khai thác những nghịch lý trong cuộc đời của mỗi nhân vật Việc nhà văn đi vào khai thác cuộc sống đời t, thế sự với những vấn đề phức tạp trong cuộc sống, nhng vẫn với ngòi bút giàu suy t và mang đậm chất thơ cũng đợc coi là một trong những biểu hiện của nghịch lý trong sáng tác của nhà văn Sự tồn tại chất thơ trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu thời kỳ sau đổi mới càng khẳng định tấm lòng nhân ái cũng nh ngòi bút tài tình của nhà văn
Nh vậy, với sự tồn tại của chất thơ trong cả hai thời kỳ sáng tác của Nguyễn Minh Châu có thể coi đây chính là sự thống nhất trong cả quá trình sáng tác Việc nhà văn sử
Trang 26dụng yếu tố trữ tình (chất thơ) trong các truyện ngắn của mình góp phần làm cho các sáng tác đó thêm mợt mà, sâu lắng và để lại d âm trong lòng bạn đọc.
Chơng 2 chất thơ trong truyện ngắn viết về đời t
của Nguyễn Minh Châu 2.1 Bớc ngoặt của sáng tác
Nguyễn Minh Châu là nhà văn luôn có sự trăn trở tìm tòi trong quá trình sáng tạo của mình, gắn với mỗi thời kỳ của đất nớc, nhà văn đều có những sáng tác đáp ứng yêu cầu của thời đại
Văn chơng tái hiện lại hiện thực cuộc sống qua lăng kính chủ quan của nhà văn ở thời kỳ trớc 1975, khi đất nớc còn trong cảnh bị chia cắt làm hai miền, nhân dân ta phải tập trung cả sức và lực cho cuộc chiến đấu chống kẻ thù, không khí lúc này là kêu gọi cả
Trang 27dân tộc cùng chung sức trong cuộc chiến tranh đầy ác liệt Lúc này đây, mỗi nhà văn cũng
là một chiến sĩ, Nguyễn Minh Châu cũng không nằm ngoài yêu cầu đó Tác giả đã hớng ngòi bút của mình vào việc ca ngợi cuộc chiến đấu, ca ngợi quân và dân ta Hoàn cảnh chiến tranh đã trở thành đề tài khai thác không chỉ riêng của Nguyễn Minh Châu mà còn
là của những nhà văn khác lúc bấy giờ Nguyễn Minh Châu bằng tài năng của ngời nghệ
sĩ, cùng với cuộc sống trải nghiệm, lăn lộn với những ngời lính trong những trận chiến, nhà văn đã tìm tòi khai thác những vẻ đẹp của con ngời, của sức mạnh cộng đồng Kết quả
là nhà văn đã có một loạt các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh và ngời lính cách mạng
đáng chú ý nh: Cửa sông, Dấu chân ngời lính, Mảnh trăng cuối rừng
Hàng loạt các tác phẩm viết ở thời kỳ trớc 1975 của Nguyễn Minh Châu đã viết về một thời kỳ hào hùng của dân tộc Khuynh hớng chung của các tác phẩm thời kỳ này là khuynh hớng sử thi với giọng điệu hào hùng, ngợi ca là chủ yếu Khi hòa bình đợc lập lại,
đất nớc không còn chiến tranh thì nhà văn lại có những dằn vặt, trăn trở trớc cuộc sống đời
t của mỗi cá nhân con ngời Đi vào đời sống thực tế, tác giả thấy đợc từng mảng sáng, tối tồn tại trong mỗi cá nhân con ngời Nguyễn Minh Châu là ngời lính hành quân không mệt mỏi, luôn trăn trở, đào sâu vào những tầng vỉa mới của đời sống, phát hiện những kiểu ng-
ời mới, những giá trị mới Giọng văn của Nguyễn Minh Châu cũng có những biến đổi: ân tình, sâu sắc, nhiều lúc "đầy trắc ẩn" Sự đổi mới về cách nhìn đã đem lại cho tác phẩm của Nguyễn Minh Châu những gơng mặt lạ nh y tá Quỳ trong Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, một con ngời vừa điên rồ lại vừa tỉnh táo, vừa ảo tởng lại vừa thực tế, vừa là
một ngời đàn bà cụ thể, lại vừa có "cái phần sâu thẳm nh một thứ thiên phú riêng của tâm hồn nữ giới"
Qua những tác phẩm nh: Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam, Bức tranh, vấn đề số
phận đời t của những con ngời sau chiến tranh đợc nhà văn đề cập đến với những tình cảnh trớ trêu khác nhau Đó là số phận của Lực, một ngời lính trở về sau chiến tranh nhìn thấy ngời cha, ngời vợ của mình mà không phải dám nhận Cũng là ngời lính nhng ngời lính trong Bức tranh trở về với hoàn cảnh mẹ già bị mù mắt vì khóc thơng tởng con mình đã hi
sinh Tấm lòng nhân đạo của nhà văn còn hớng đến số phận của những ngời phụ nữ nh Thai và Phi Phi và nhà văn đã phát hiện ra những bất hạnh mà họ phải chịu Đặc biệt